BienDong.Net: Việt Nam là quốc gia vừa có sông vừa có biển. Biển liên quan đến cuộc sống của toàn dân tộc. Để góp phần làm sáng tỏ vai trò của Biển đối với Việt Nam và những vấn đề liên quan đến Biển, BienDong.Net xin giới thiệu ý kiến của của GS Nguyễn Lân Dũng, nhà khoa học, và ông Huỳnh Bửu Sơn, một chuyên gia kinh tế hàng đầu ở Việt Nam, đăng trên các báo quốc nội.
Tiềm năng biển Việt Nam rất lớn
Ông Huỳnh Bửu Sơn: Việt Nam có một quá khứ biển. Tổ tiên của chúng ta, những người con của vua Rồng, bốn ngàn năm trước đã theo cha đi về biển. Nền văn minh Văn Lang gắn liền với biển và tục vẽ mình của tổ tiên ta là bằng chứng cho thấy hoạt động kinh tế chủ yếu của dân tộc ta thời ấy là khai thác sông nước, khai thác biển. Sông, biển không những là không gian sinh tồn quý giá đã nuôi dưỡng giống nòi Việt qua bao đời nay, sông, biển còn là lá chắn của độc lập dân tộc. Trong suốt lịch sử giữ nước, sức mạnh thủy quân Việt Nam, biểu lộ qua những chiến công chói lọi mang tên Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Hàm Tử, Rạch Gầm... luôn luôn là yếu tố rất quyết định trong việc đánh bại ngoại xâm, bảo vệ toàn vẹn đất nước.

Ông Huỳnh Bửu Sơn ( Ảnh Internet )
Ngày nay dân tộc Việt có một dải đất đẹp đẽ rộng trên 330 ngàn cây số vuông nằm ven bờ Biển Đông. Việt Nam có biển, có một thềm lục địa rộng trên 2 triệu cây số vuông, gấp bảy lần diện tích của đất liền, có một vùng đặc quyền kinh tế biển rộng trên 1 triệu cây số vuông, chúng ta có trên 4.000 đảo lớn nhỏ, trong đó Phú Quốc có diện tích xấp xỉ Singapore, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giàu khoáng sản, dầu lửa, khí đốt.
Có một lúc nào đó, chúng ta chỉ biết cố sức chắt từng giọt sữa từ đất mẹ. Nhưng với 90 triệu dân, chúng ta chỉ có được 7,7 triệu hécta đất canh tác, bình quân mỗi đầu người dân Việt chỉ có 0,085 hécta, mỗi nông dân có 0,2 hécta, thấp xa so với tiêu chuẩn đất canh tác tối thiểu quy định bởi Liên Hiệp Quốc là 0,4 hécta. Hiện nay, chúng ta có thể tự hào là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới với 7 triệu tấn gạo xuất khẩu trên tổng sản lượng gạo thu hoạch là 30 triệu tấn trong năm 2011. Tỷ lệ gạo xuất khẩu chiếm 25% trên tổng sản lượng gạo, nhưng so tổng sản lượng lương thực quy thóc thì chỉ chiếm 10% và tỷ lệ này chắc chắn là một tỷ lệ khó vượt.
Với diện tích canh tác giới hạn và có xu hướng thu hẹp do phát triển công nghiệp, do biến đổi khí hậu..., sản lượng gạo thặng dư để xuất khẩu có thể giảm dần theo thời gian khi dân số tăng lên. Nếu chỉ dựa vào đất, ai biết được rằng trong bao nhiêu năm nữa, sự gia tăng dân số sẽ "ngốn" hết phần gạo thặng dư sản xuất được để rồi sau đó, mọi nỗ lực của chúng ta sẽ chỉ nhằm tự túc lương thực như những nước đông dân khác đã gặp phải trên bước đường công nghiệp hóa, cho dù cơ cấu bữa ăn có thay đổi?
Tuy nhiên, điều may mắn là chúng ta còn có biển. Biển không những cho chúng ta nguồn dự trữ lương thực bổ sung dồi dào, biển còn cho chúng ta nguồn tài nguyên và năng lượng quý giá thiết yếu cho tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Dầu khí là bằng chứng cho thấy sự giàu có của thềm lục địa Việt Nam. Theo tài liệu của Tổng công ty Dầu khí, tổng trữ lượng dự báo địa chất của thềm lục địa Việt Nam là khoảng 10 tỉ tấn dầu, trữ lượng khai thác khoảng 4-5 tỉ tấn, trữ lượng khí đồng hành khoảng 200-300 tỉ m3. Đó chính là chỗ dựa của tương lai công nghiệp Việt Nam, buộc chúng ta phải có nhận thức rõ ràng hơn về mối quan hệ gắn bó của biển với lợi ích sinh tử lâu dài của Tổ quốc.
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng: Với bờ biển trải dài tới hơn 3260 km, các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ven biển chiếm diện tích đến 208 560 km2 (51% so với diện tích cả nước) với số dân lên tới 41,2 triệu người (gần bằng một nửa dân số cả nước). Ven biển nước ta có tới gần 6 triệu ha đất nông nghiệp, khoảng 1,8 triệu ha đất lâm nghiệp. Diện tích rừng ngập mặn rộng tới 250.000 ha, ngoài ra còn có tới 290.000 ha bãi triều và hàng vạn ha vùng cát dọc ven biển miền Trung. Tính đến hết năm 2008 chúng ta có đến trên 30.000 cơ sở nuôi trồng thủy sản ven biển và thu về một nguồn lợi rất lớn , vừa để phục vụ nhu cầu trong nước, vừa để xuất khẩu. Khai thác hải sản đã góp tới 3 tỷ USD trong tổng giá trị xuất khẩu (2008) và tạo việc làm cho tới hơn 1 triệu lao động.

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng
Không có biển thì không có muối để ăn, không có các loại hải sản để vừa ăn vừa xuất khẩu, không có nguồn dầu lửa và khí thiên nhiên…Những lợi ích hiển nhiên ấy ai cũng biết. Nhưng nguồn lợi từ biển không chỉ có vậy. Biển liên quan đến giao lưu hàng hải với thế giới. Bây giờ chúng ta giao lưu với tất cả các nước thì đường hàng hải thuận tiện rất nhiều. Biển Đông rộng đến 3,4 triệu km2, là con đường giao lưu thương mại quốc tế nối liền Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và nhiều vùng biển khác. Thử hình dung nếu không có đường giao thương hàng hải thì công việc xuất khẩu nông sản phẩm, hải sản, hàng may mặc, da giầy, khoáng sản.. sẽ khó khăn biết bao. Bờ biển còn là nơi nhiều gió. Ven biển trong tương lai sẽ là nguồn phát triển năng lượng tái tạo nhờ gió (phong điện). Rồi còn nguồn năng lượng mặt trời (quang điện) và còn có thể phát huy cả năng lượng thủy triều nữa.
Xây dựng một Biển Đông hòa bình cũng chính là xây dựng một Biển Đông thịnh vượng
Ông Huỳnh Bửu Sơn: Ngày nay, trong tình hình mới, chúng ta vừa khai thác biển vừa phải bảo vệ biển. Tình hình mới đặt ra những yêu cầu mới. Chúng ta không chỉ cần công nghệ cao hơn, phương tiện hiện đại tối tân hơn, con người được trang bị kiến thức kỹ năng cao hơn mà còn cần đến ý chí kiên định của toàn thể cộng đồng dân tộc trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh hải, thềm lục địa, bảo vệ an toàn cho ngư dân, cho những người khai thác khoáng sản và dầu mỏ trên thềm lục địa của chúng ta.

Tự hào Biển Trời Tổ Quốc Việt Nam ( Ảnh BienDong.Net )
Gần hai mươi năm trước, ông Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới hải đảo của Chính phủ đã đề xuất rằng thế đi lên của nước ta là phải dựa trên hai chân: đất liền và biển. Ông kêu gọi "cần có một kế hoạch hoàn chỉnh phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh đất nước, vạch chiến lược biển cũng như vạch một chiến lược cho đất liền.
Một chiến lược biển lâu dài, đó là điều hết sức sinh tử cho sự cường thịnh của tổ quốc, nhưng để hoàn thành được các mục tiêu chiến lược cho từng giai đoạn lịch sử, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng, ngay từ hôm nay, nguồn tài chính cộng đồng cho chiến lược biển. Chúng ta cần có một Quỹ Biển Đông.
Thử hình dung mỗi người dân Việt mỗi ngày dành dụm đóng góp vào Quỹ Biển Đông chỉ một ngàn đồng, sau năm năm, Quỹ Biển Đông sẽ có được một số tiền không nhỏ là trên 150 ngàn tỉ đồng. Với số tiền này, cùng với Nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam, chắc chắn Quỹ Biển Đông sẽ chung sức làm được nhiều việc: huấn luyện ngư dân và đào tạo đội ngũ khai thác tài nguyên biển, trang bị máy móc, thiết bị hiện đại cho đánh bắt và khai thác tài nguyên trên biển và trong thềm lục địa, tổ chức nghiên cứu biển, thềm lục địa, xây dựng một đội thương thuyền Việt Nam xứng đáng với tầm cỡ một quốc gia biển, phát triển lực lượng hải quân, không quân cùng hệ thống phòng thủ và bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải trên các hải đảo và ven biển, bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học biển... Nhưng điều quan trọng của Quỹ Biển Đông không chỉ là nguồn tài chính. Sự ra đời của Quỹ Biển Đông khẳng định sự đoàn kết, thống nhất ý chí của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt cả trong nước lẫn ngoài nước trong quyết tâm bảo vệ và phát triển đất nước, tiến đến một tương lai cường thịnh.
Những sự tranh chấp gần đây ở Biển Đông cho thấy tham vọng về lãnh thổ - thực chất là tham vọng về nguồn năng lượng dầu hỏa - và chính sách pháo hạm của Trung Quốc đang đe dọa thổi bùng lò lửa chiến tranh ở Biển Đông. Chiến tranh chắc hẳn là một điều chẳng lành và không ai muốn, nhưng hòa bình ở Biển Đông cũng chắc chắn không thể có được bằng sự nhượng bộ đơn phương của một bên yếu hơn. Một sự lùi bước như thế về lâu về dài sẽ trở thành điều kiện dẫn đến chiến tranh sau này, khi mọi sự tức nước vỡ bờ. Mỗi nước trong vùng cũng cần có ý chí và hành động kiên quyết bảo vệ từng tấc đất, từng hòn đảo thuộc lãnh thổ, lãnh hải của mình, cũng là góp phần bảo vệ luật pháp, công ước quốc tế về Biển Đông. Cuộc tranh chấp trên Biển Đông hiện nay phảng phất mô hình chiến lược đối kháng Liên Hoành - Hợp Tung thời Chiến quốc giữa Tần và sáu nước Tề, Ngụy, Triệu, Hàn, Yên, Sở mà thành công của Hợp Tung phải dựa vào sự đồng tâm hiệp lực và đoàn kết nhất trí của các nước nhỏ hơn liên kết lại. ASEAN và mỗi quốc gia Biển Đông trong ASEAN có thể sẽ cùng nhau bảo vệ được hòa bình và chủ quyền lãnh thổ lãnh hải của mình nếu học được kinh nghiệm đáng giá đó.
Xây dựng một Biển Đông hòa bình cũng chính là xây dựng một Biển Đông thịnh vượng ở đó các công ước và luật quốc tế cần được tôn trọng và thực thi, chủ quyền và quyền chủ quyền hợp pháp chính đáng của mỗi nước cần được các nước khác tôn trọng căn cứ vào lịch sử, đạo lý chứ không phải dựa trên sức mạnh. Cuối cùng, các quốc gia có lợi ích trong khu vực sẽ cùng nhận thức một cách đúng đắn rằng nguồn năng lượng mà họ cần sẽ có được dễ dàng hơn, hiệu quả hơn và phù hợp với đạo lý hơn với tư cách một người bạn hàng, một đối tác chứ không phải một kẻ xâm lược. Tiến hành chiến tranh để chiếm đoạt nguồn năng lượng của người khác chắn chắn sẽ tốn kém hơn rất nhiều lần chi phí mua nó một cách sòng phẳng và công bằng.
Chương Dương ( tổng hợp theo ĐĐK và DNSG )
- 18/09/2012 10:12 - Nhật Bản với Biển Đông: Từ “đứng ngoài quan sát” đ…
- 17/09/2012 04:41 - Việt Nam lập khu bảo tồn biển Nam Yết ở Trường Sa
- 10/09/2012 09:13 - Chỉ một thông điệp về Biển Đông và Hoa Đông
- 14/08/2012 06:50 - Tàu Trung Quốc càn quét cá trên các đại dương
- 08/08/2012 06:52 - Bản đồ thềm lục địa Việt Nam phục vụ quản lý tài n…
- 06/08/2012 09:47 - Mỹ lo ngại hành động của Trung Quốc ở Biển Đông
- 01/08/2012 08:44 - Hoàng Sa và Trường Sa chưa từng được ghi nhận tron…
- 01/08/2012 02:05 - 'Bản đồ cổ đã đập tan những luận điệu của Trung Qu…
- 30/07/2012 10:52 - Trung Quốc đưa tin về bản đồ nhà Thanh không có Ho…
- 30/07/2012 10:47 - Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb: 'Trung Quốc vi phạm lu…
















(VNĐ)