• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Mỹ chỉ trích TQ ngăn chặn phát triển năng lượng trên Biển Đông

Phát biểu tại hội nghị năng lượng CERAWeek diễn ra ở Houston, Texas, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo (12/3) đã chỉ trích Trung Quốc vì “ngăn chặn sự phát triển năng lượng ở Biển Đông thông qua các biện pháp cưỡng ép”.

Ngoại trưởng Mỹ Pompeo nhấn mạnh hoạt động xây dựng đảo trái phép của Trung Quốc trên Biển Đông đã ảnh hưởng tới các nước ASEAN trong việc tiếp cận nguồn năng lượng này;cho rằng hành động này của Trung Quốc sẽ ngăn cản các nước ASEAN tiếp cận nguồn năng lượng có thể khai thác được tại Biển Đông có trị giá lên tới hơn 2.500 tỷ USD; đồng thời chỉ trích “hành động bồi đắp đảo trái phép của Trung Quốc tại vùng biển quốc tế”, nhấn mạnh rằng “đây không đơn giản là vấn đề về mặt an ninh”; cho rằng đối ngược với Bắc Kinh, chính phủ Mỹ ủng hộ an ninh năng lượng tại các nước Đông Nam Á, khẳng định Mỹ muốn các quốc gia trong khu vực có quyền tiếp cận với nguồn năng lượng mà họ sở hữu.

Được biết, Biển Đông là một trong những khu vực có trữ lượng dầu mỏ phong phú lớn trên thế giới. Nằm ở phía Đông của Việt Nam, phía Nam Trung Quốc và phía Tây Phillippines, phía bắc Indonesia, tây bắc Malaysia, Brunei, đông bắc Singapore, Biển Đông được xem như “trái tim hàng hải” của Đông Nam Á. Đồng thời, nhờ vị trí chiến lược, trải dài từ eo biển Malacca ở phía đông đến eo Đài Loan ở phía Bắc, Biển Đông cũng là một trong những tuyến đường thương mại quan trọng và sôi động nhất thế giới. Theo Cục Quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA), trữ lượng dầu khí tiềm năng ở Biển Đông vượt xa so với những dự đoán trước đây và và thậm chí còn nhiều hơn các nguồn tài nguyên chưa được khai thác của cả châu Âu. EIA dự đoán Biển Đông nắm giữ trữ lượng khoảng 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ feet khối khí đã được chứng minh và ở dạng tiềm năng. Theo EIA, khu vực này bao gồm hàng trăm hòn đảo nhỏ, đá và san hô, phần lớn thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó, khu vực quanh quần đảo Trường Sa hầu như chưa được kiểm chứng là có dầu và hầu hết các nguồn tài nguyên hydrocarbon được dự đoán nằm ở Bãi Cỏ Rong ở cuối phía Đông bắc của quần đảo Trường Sa. Vùng đất thuộc quần đảo Hoàng Sa hiện không có phát hiện dầu khí nào đáng kể và dự báo tiềm năng cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, con số này vẫn ít hơn so với trữ lượng 14,8 tỷ thùng dầu đã được chứng minh của Trung Quốc và bằng khoảng một nửa trữ lượng dầu đã được chứng minh của Mỹ (20,6 tỷ thùng). Trong khi đó, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) từng ước tính khu vực này nắm giữ khoảng 125 tỷ thùng dầu và 500 nghìn tỷ m3 khí tự nhiên chưa được khám phá.

Hiện nay, xét về mặt tiêu thụ năng lượng, Trung Quốc đang đứng thứ 2 thế giới, sau Mỹ. Nhưng xét về lượng nhập khẩu dầu thô thì Trung Quốc đã vươn lên thành nước đứng đầu thế giới. Để bảo đảm nguồn cung ứng năng lượng ổn định với giá cả hợp lý, Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chiến lược năng lượng quốc gia và chính sách an ninh năng lượng với các mục đích và biện pháp thực hiện cụ thể, ráo riết tìm kiếm các nguồn năng lượng trên phạm vi toàn cầu cũng như khu vực Đông Nam Á.

Sau giai đoạn đơn phương tìm kiếm nguồn năng lượng (2001-2005), từ năm 2006, Trung Quốc tích cực tham gia một số cơ chế hợp tác đa phương về lĩnh vực này, đã thành lập cơ chế đối thoại năng lượng song phương và đa phương với các tập đoàn dầu lửa lớn của Mỹ, Anh, Nga, Nhật Bản. Một trong những mục tiêu của Trung Quốc trong thời gian tới là gia nhập Tổ chức Năng lượng quốc tế. Từ nay đến khoảng năm 2020, Trung Quốc thực hiện chiến lược phát triển biển ở khu vực ven biển miền Đông; tức chiến lược phát triển biển khu vực dưới sự chỉ đạo vĩ mô của Nhà nước, lấy các tỉnh (thành phố trực thuộc, khu tự trị) làm chủ thể, lấy tài nguyên biển làm đối tượng khai thác, lấy sáng tạo thể chế chế độ làm trọng điểm. Giai đoạn này vừa là giai đoạn thực hiện bước đầu chiến lược phát triển biển quốc gia, cũng là giai đoạn chuẩn bị thực hiện toàn diện chiến lược phát triển biển. Từ năm 2020 đến giữa thế kỷ, thực hiện toàn diện chiến lược phát triển biển, khai thác với quy mô lớn tài nguyên và năng lượng biển, xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế biển.

Trong chính sách ngoại giao năng lượng, từ năm 1990, Trung Quốc bắt đầu khởi động ngoại giao tài nguyên với ASEAN. Đó là một mốc lịch sử khi sự chuyển đổi nhận thức của ASEAN từ “Trung Quốc là một mối đe dọa” sang “Trung Quốc là một cơ hội” diễn ra trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Trong cuộc khủng hoảng này, Trung Quốc kiên quyết cam kết không hạ giá đồng tiền của mình và cung cấp viện trợ kịp thời và rộng rãi cho các nước ASEAN. Nước này tích cực điều chỉnh các chính sách ASEAN của mình. Trong số các nước lớn trong khu vực, Trung Quốc là nước đầu tiên ký kết Hiệp ước thân thiện và hợp tác với ASEAN; nước đầu tiên đề xuất và ký kết một thỏa thuận để thiết lập một Khu vực thương mại tự do (FTA) với ASEAN; nước đầu tiên tạo dựng Quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng với ASEAN; nước đầu tiên hứa hẹn tham gia nghị định thư về Hiệp ước khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á; và là nước đầu tiên ký kết một “quan hệ đối tác chiến lược” với ASEAN vào tháng 10/2003 tại Hội nghị thượng đỉnh Bali. Năm 2008, Trung Quốc đã công bố thành lập Quỹ hợp tác đầu tư Trung Quốc-ASEAN và cung cấp các khoản vay cho các nước ASEAN lên đến 15 tỷ USD. Tại cuộc họp APEC ở Bali vào tháng 10/2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đề xuất thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) do Trung Quốc dẫn dắt để tài trợ và đi đầu phát triển cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế khu vực. Trung Quốc cũng đã tận dụng khuôn khổ Chương trình hợp tác kinh tế tiểu vùng Mekong, được Ngân hàng phát triển châu Á tạo điều kiện, để cải thiện liên kết tự nhiên giữa khu vực Mekong và Tỉnh Vân Nam và Khu tự trị người Choang Quảng Tây. Ngoại giao của Trung Quốc với ASEAN hóa ra là câu chuyện thành công nhất về chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh.

Hiện nay, xét về mặt tiêu thụ năng lượng, Trung Quốc đang đứng thứ 2 thế giới, sau Mỹ. Nhưng xét về lượng nhập khẩu dầu thô thì Trung Quốc đã vươn lên thành nước đứng đầu thế giới. Để bảo đảm nguồn cung ứng năng lượng, từng bước độc chiếm nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông và ngăn chặn các nước ASEAN tiếp cận nguồn tài nguyên này, Trung Quốc thường dùng một số chiêu trò sau:

Thứ nhất, Trung Quốc liên tục tiến hành các hoạt động đơn phương, ngăn chặn các nước ven Biển Đông thăm dò, khai thác dầu khí. Trung Quốc thường cáo buộc các nước ASEAN có yêu sách đã xâm phạm vào vùng biển của họ và cho rằng Trung Quốc có quyền thực thi các yêu sách chống lại các nước này. Chẳng hạn vào ngày 26 tháng 5 năm 2011, hai tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò dầu khí của một tàu khảo sát đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách bờ biển phía nam Việt Nam khoảng 120 km. Vào ngày 9 tháng 6, một tàu cá Trung Quốc cũng đã đâm ngang cáp khảo sát của một con tàu khảo sát khác của Việt Nam. Năm 2011, Philipines đã báo cáo 7 sự cố liên quan đến sự quấy rối của Trung Quốc. Trong một trường hợp, vào ngày 2 tháng 3, hai tàu tuần tra của Trung Quốc đã quấy rối một tàu thăm dò dầu khí trong khu vực mà Philippines yêu sách nằm cách bờ biển Palawan 250 km về phía Tây.

Thứ hai, Trung Quốc cũng đơn phương kêu gọi, mời thầu thăm dò, khai thác dầu khí ở trong vùng biển của Việt Nam. Tổng công ty dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã công bố mời thầu 9 lô dầu khí hợp tác thăm dò khai thác trong năm 2012 với các công ty nước ngoài, tổng diện tích của khu vực này là 160.129,38 km2. Qua kiểm tra tọa độ do phía Trung Quốc công bố, các lô này nằm sâu vào thềm lục địa của Việt Nam, chồng lên các lô từ 128 đến 132 và từ 145 đến 156 mà Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam đã và đang tiến hành các hoạt động dầu khí từ lâu nay. Năm 2014, CNOCC loan báo sẽ phát thông báo mời các tập đoàn nước ngoài dự cuộc đấu thầu 33 lô dầu khí, trong đó có 25 lô ở Biển Đông, tổng diện tích của khu vực này là 126.000 km2. Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam khẳng định, CNOOC đã thông báo chào thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. Năm 2016, CNOOC tiếp tục ra thông cáo mời thầu 18 lô dầu khí với tổng diện tích khoảng 52.257 km2, bao gồm 14 lô ở Biển Đông, 3 lô tại biển Bột Hải, 1 lô tại Biển Hoa Đông. Trong các lô dầu khí ở Biển Đông năm 2016 này có một số lô nằm gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 2017, CNOOC lại mời các công ty nước ngoài tranh thầu thăm dò tìm kiếm nhiên liệu hóa thạch tại 22 lô ở vùng biển phía Nam Trung Quốc. Các lô này trải dài trên một vùng biển rộng 47.270 km2, bao gồm vùng biển của Việt Nam.

Thứ ba, Trung Quốc lợi dụng sức ảnh hưởng và tiềm lực kinh tế, quốc phòng để tìm cách ngăn chặn các nước ven Biển Đông hợp tác thăm dò, khai thác dầu khi với nước ngoài. Trung Quốc (7/2014) chỉ trích việc Bộ Năng lượng Philippines đã gia hạn thêm một năm cho Forum Energy, một công ty dầu khí của Anh, tiến hành các hoạt động dầu khí ở khu vực Bãi Cỏ Rong (tên quốc tế là Reed Bank) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc và Philippines cũng tuyên bố chủ quyền với bãi đá này. Trong khi đó, Bắc Kinh cũng dùng ảnh hưởng và sức mạnh của mình để gây sức ép khiến PetroVietnam buộc phải dừng khoan thăm dò với các đối tác nước ngoài ở các lô 07.03 và 136.03 hồi tháng 3/2018 và 7/2017. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nhiều lần ngang ngược tuyên bố: “Không có sự cho phép của Trung Quốc, việc khai thác dầu khí của bất kỳ công ty nước ngoài nào trong vùng biển dưới quyền thực thi pháp lý của Trung Quốc là phi pháp và không có giá trị”; tiếp tục nhắc lại lập luận ngang ngược rằng Trung Quốc “có chủ quyền không tranh cãi” đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam và các vùng biển lân cận. Tuy nhiên, bất chấp phản đối từ phía Trung Quốc, cả Việt Nam và Philipines đều có kế hoạch xúc tiến các dự án thăm dò khí đốt hợp tác với các công ty nước ngoài. Trong đó có nhiều đối tác đến từ Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Ấn Độ, Tây Ban Nha…

Thứ tư, Chính phủ Trung Quốc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách ủng hộ đối với các hoạt động phi pháp của doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động trên Biển Đông, như hỗ trợ trên các phương tiện chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, đưa ra chính sách ưu đãi khác thác như vốn đăng ký, thu thuế, thuế quan và tài chính, thiết lập quỹ khai thác rủi ro Biển Đông, đưa ra các chính sách phát triển ngành nghề hỗ trợ cần thiết để đẩy nhanh việc khai thác phi pháp ở Biển Đông.

Được biết, hội nghị CERAWeek năm 2019 quy tụ hàng nghìn những nhân vật cấp cao đến từ từ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC, cũng như Bộ trưởng Bộ Năng lượng nhiều quốc gia quan trọng. Hội nghị năm nay được tổ chức để đánh giá những xu thế và hướng phát triển, cũng như thế giới mới của những đối thủ. Nhiều nhà phân tích cho rằng các đối thủ ở đây là Mỹ, Nga và Saudi Arabia. Trong đó, Mỹ được cho là nhân tố đáng chú ý nhất vì sản lượng kỉ lục đáng kinh ngạc gần đây của ngành khai thác khí đá phiến. Ngoài vai trò quan trọng của khí đốt tự nhiên, Hội nghị CERAWeek năm nay cũng nhìn nhận xu thế xe điện như một yếu tố lớn sẽ thay đổi thị trường năng lượng trong 5 năm tới như xe ô tô, xe bus chạy bằng điện. Đây sẽ là một tín hiệu rất quan trọng đối với ngành năng lượng truyền thống. Ngoài ra, Cơ quan năng lượng quốc tế IEA đã ước tính rằng thế giới cần đầu tư 580 tỷ USD/năm để giữ cho dầu khí toàn cầu tăng trưởng nhằm đáp ứng nhu cầu và bù đắp sản lượng giảm.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: