• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Tám biện pháp để xây dựng lòng tin giữa các nước liên quan, nhằm ngăn chặn xung đột xảy ra trên Biển Đông

Xây dựng lòng tin giữa các quốc gia có liên quan ở Biển Đông sẽ giúp cho quan hệ giữa các nước ổn định hơn, giảm bớt hiểu lầm, không để dẫn tới xung đột, chiến tranh không đáng có trên vùng biển trù phú này.

Căng thẳng trong tranh chấp giữa các nước có liên quan đến chủ quyền ở Biển Đông những năm gần đây đang thu hút sự quan tâm, chú ý không chỉ của các nước trong khu vực mà còn của toàn thế giới. Nếu tình hình căng thẳng ở Biển Đông không được kiểm soát, sẽ dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột, và dù ở cường độ nào cũng sẽ làm cho Đông Nam Á nói riêng, khu vực Đông Á nói chung và rộng ra là cả thế giới mất ổn định. Vì vậy, các nước trong, ngoài khu vực đã và đang nỗ lực tìm mọi phương cách, giải pháp nhằm hạn chế tranh cãi, bất đồng về vấn đề chủ quyền liên quan, giảm thiểu những căng thẳng đang ngày càng gia tăng, nhằm ngăn chặn xung đột, chiến tranh xảy ra trên Biển Đông. Một trong những giải pháp được cộng đồng khu vực quan tâm là xây dựng lòng tin giữa các nước liên quan và đây là giải pháp cần được coi trọng để triển khai thực hiện có chiều sâu và thiện chí.

Vậy, xây dựng lòng tin với nhau trong vấn đề Biển Đông bao gồm những biện pháp nào để giữa các nước không dẫn đến nghi kỵ, hiểu lầm và nhất là không phải động đến “binh đao”. Đại thể có các biện pháp sau:

     Một là, hợp tác tuần tra chung trên Biển Đông. Biển Đông là một khu vực biển nửa kín với diện tích hàng triệu cây số vuông nên tại đó hàng ngày diễn ra biết bao nhiêu hoạt động cần đến bảo đảm an toàn và an ninh. Nào là hoạt động đánh bắt thủy hải sản của ngư dân các nước ven Biển Đông, nào là hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản dưới lòng đại dương của các nước trong khu vực, nào là hoạt động giao thông, hải hành trên biển của tàu, thuyền vận tải các nước, nào là những hoạt động thăm dò khí tượng, địa chất hải dương, trong khi trên Biển Đông vẫn tồn tại các loại cướp biển, các thế lực ly khai, cực đoan, khủng bố… Tất thảy những hoạt động trên đều đòi hỏi phải được đảm bảo an toàn, an ninh và nó hầu hết được thực thi bởi lực lượng hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư… của các nước. Trước đây, mối quan hệ giữa các lực lượng trên của các nước trong khu vực hầu như không được chú trọng, đề cao. Có quá ít các cuộc thảo luận ở cấp khu vực về thỏa thuận tuần tra chung, nghiên cứu khoa học biển chung và các cuộc thảo luận như vậy thường có xu hướng bị mất hiệu lực bởi việc tiến hành mang tính tự phát, không có sự hợp tác rộng rãi và đồng thuận cao giữa các quốc gia trong khu vực. Nhưng mấy năm gần đây, các nước đã nhận ra vấn đề và cùng nhau giải quyết. Nhiều cuộc hội thảo, thảo luận và ký kết về hợp tác tuần tra trên biển đã diễn ra; những hoạt động tuần tra chung giữa lực lượng hải quân, cảnh sát biển của các nước trong khu vực đã diễn ra ngày càng nhiều và được đề cao, góp phần tạo nên môi trường hòa bình, ổn định và điều đó có thể dẫn tới các biện pháp xây dựng lòng tin như: Thiết lập các thủ tục giữa các quốc gia trong khu vực để giải quyết các va chạm hải quân trên biển; tăng cường hợp tác quốc tế về kiểm soát và bảo đảm an toàn hàng hải nhằm giảm bớt xung đột tiềm tàng ở Biển Đông. Thực tế đã chứng minh, những hành động thiết thực trong hợp tác tuần tra chung của lực lượng hải quân, cảnh sát biển của các quốc gia trong khu vực trong thời gian qua cho thấy môi trường hòa bình của khu vực và an ninh, an toàn hàng hải được bảo đảm tốt hơn. Một biện pháp quan trọng xây dựng lòng tin trên biển giữa các quốc gia trong khu vực đã dần dần đi vào cuộc sống.

Hai là, giảm bớt các hoạt động quân sự đơn phương. Thực tiễn cho thấy, mỗi khi tình hình an ninh Biển Đông nóng lên, có nhiều diễn biến phức tạp, đều do những hành động đơn phương vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền diễn ra, dù các hành động đó không ở quy mô lớn, nhưng đều dẫn đến phản ứng đáp trả của đối tượng liên quan. Đặc biệt gần đây, những hành động mang tính đơn phương của Trung Quốc như hạ đặt giàn khoan, cấm đánh bắt cá, xây đảo nhân tạo… đã vi phạm quyền và chủ quyền của Việt Nam, Philippines… làm cho các quốc gia trong và ngoài khu vực quan ngại, an ninh trên biển ngày càng trở nên phức tạp hơn.

Bên cạnh đó, còn có một nguy cơ khác nữa là sự hiểu lầm đối với hoạt động trên Biển Đông do các lực lượng hải quân, cảnh sát biển của một số quốc gia trong khu vực được trang bị các tàu chiến đấu mặt nước, tàu ngầm và máy bay hiện đại tiến hành. Nguy cơ này còn cao hơn bởi sự có mặt của các tàu ngầm, tàu sân bay và các hệ thống tên lửa tầm xa. Những thiết bị hiện đại đó đòi hỏi trình độ làm việc của các chiến binh phải chính xác, hệ thống chỉ huy và điều hành phải đạt hiệu quả cao mới không mắc lỗi dẫn đến tính toán nhầm lẫn khi tiến hành các hoạt động như tập trận, diễn tập, huấn luyện bắn đạn thật… Đương nhiên, khi các hành động quân sự đơn phương diễn ra, bao giờ cũng thu hút sự chú ý, theo dõi, đề phòng hay đáp trả của các nước có liên quan. Chỉ cần một sai sót nhỏ không cố ý cũng có khi trở thành mồi lửa gây ra xung đột khu vực. Vì vậy, càng giảm bớt các hành động đơn phương hay các hành động quân sự đơn phương sẽ càng giảm sự chú ý, đề phòng, theo dõi của các nước. Nhất là giảm được những lỗi không đáng có vô tình dẫn đến xung đột, chiến tranh gây chết người.

Ba là, tăng cường khả năng hợp tác cùng phát triển trên một số lĩnh vực. Xu hướng hiện nay cho thấy, khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đang và sẽ là động lực tăng trưởng kinh tế của thế giới trong thế kỷ XXI. Biển Đông nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Gần một nửa khối lượng vận chuyển hàng hóa toàn cầu đều đi qua eo biển Malacca ở phía tây nam Biển Đông. Biển Đông chắc chắn sẽ là một phần thiết yếu trong lợi ích chung toàn cầu. Nó đặt ra nhu cầu cho các nước phải tăng cường khả năng hợp tác cùng phát triển trên Biển Đông dù rằng đây là vùng biển đang có nhiều tranh chấp chủ quyền về biển, đảo. Cần phải nhận thấy, việc thừa nhận Biển Đông vừa có vấn đề lợi ích chung, vừa có vấn đề lãnh thổ, chủ quyền đã là một sự khởi đầu tốt. Sự diễn giải khác nhau về chủ quyền của các quốc gia có liên quan là điều không thể tránh khỏi. Quan trọng là nhìn nhận thực tế về điều này chính là bước khởi đầu cần thiết để giảm bớt những căng thẳng.

          Do những thay đổi và sự phức tạp của lịch sử và luật pháp quốc tế, việc phán xét quyền sở hữu chính xác đối với các vùng lãnh hải, các thực thể đảo và các nguồn tài nguyên dưới đại dương và đáy biển là vô cùng khó khăn. Không một quốc gia hay thể chế nào có thể áp đặt giải pháp riêng rẽ mà cần phải có những giải pháp chung mang tính chia sẻ. Đây được xem là cơ sở hình thành quan điểm hợp tác cùng phát triển ở Biển Đông trên cơ sở lợi ích chung cho các quốc gia có liên quan ở vùng biển này.

Những năm gần đây, thực hiện hợp tác cùng phát triển trên biển là mô hình được nhắc tới khá nhiều từ các bên, được cho là khả thi nhất đối với các bên trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Mô hình này đặt ra giải pháp phân định biển hoặc cùng nhau khai thác nguồn tài nguyên tại Biển Đông. Hợp tác cùng phát triển không phải là ý tưởng mới trong giải quyết các tranh chấp biển trên thế giới. Về đại thể, đó là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Cơ sở của các thỏa thuận này chính là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của quốc gia theo quy định của luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, thỏa thuận về khai thác chung phải được coi là giải pháp tạm thời nhằm giảm xung đột giữa các bên tranh chấp và chỉ nhằm mục đích phát triển nguồn tài nguyên, tuyệt đối không được làm ảnh hưởng tới yêu sách về chủ quyền lãnh thổ cũng như các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.

Trên thực tế, tại khu vực Biển Đông cũng đã có nhiều hiệp định phân định biển được ký kết trên tinh thần hợp tác cùng phát triển. Việt Nam đã tiến hành phân định biển với hầu hết các nước liên quan. Trong đó có thể kể tới Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Hiệp định phân định biển giữa Việt Nam với Thái Lan trong vịnh Thái Lan, Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa Việt Nam với Campuchia, Hiệp định phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia, Thỏa thuận khai thác chung Việt Nam - Malaysia …Tuy nhiên, vấn đề phân định biển không phải ở khu vực nào cũng có thể tiến hành một cách dễ dàng vì gặp phải khó khăn trong vấn đề giải quyết chủ quyền. Vì thế, một giải pháp dễ chấp nhận hơn là các bên tranh chấp cùng hợp tác cùng phát triển vùng biển này trên cơ sở các bên cùng có lợi.

          Đã có nhiều đề nghị cho phương án hợp tác cùng phát triển trên vùng biển có tranh chấp này. Các quốc gia hữu quan nên áp dụng các biện pháp hòa bình và đưa ra tuyên bố chủ quyền về biển đảo phù hợp với những quy định của UNCLOS 1982 và các vùng biển chồng lấn cần tiến hành đàm phán để xác định rõ. Như vậy, nó sẽ góp phần làm giảm nguy cơ gây bất ổn và bảo đảm môi trường hòa bình, tự do hàng hải trên Biển Đông. Thực tiễn luật pháp quốc tế cho thấy, một khi các vùng biển chồng lấn chưa được xác định, UNCLOS yêu cầu các nước liên quan tiến hành các bước đàm phán trực tiếp để dàn xếp tạm thời, có thể bao gồm các thỏa thuận cùng nhau phát triển thủy, hải sản hoặc cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên như dầu mỏ và khí đốt.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc quy định của luật pháp quốc tế, luật biển quốc tế và các thỏa thuận khu vực. Tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông hàm chứa nhiều vấn đề, trong đó có một số vấn đề về cạnh tranh địa chiến lược và địa quân sự xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan liên quan đến nhiều nước và nó có nguy cơ để lại hệ lụy mang tính toàn cầu. Do đó, cần có những cơ chế và giải pháp mang tính toàn cầu và thời hạn thực hiện chúng dài hay ngắn tùy thuộc vào từng vấn đề cụ thể cần giải quyết.

          Tuy nhiên, những khó khăn, căng thẳng phức tạp và nguy cơ dễ dẫn đến xung đột, chiến tranh ở Biển Đông trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi các quốc gia trong khu vực trước hết phải tuân thủ nghiêm các quy định của hệ thống luật pháp quốc tế, luật Biển quốc tế và các cam kết ở khu vực như DOC, TAC... Vì bỏ qua những thể chế này, không duy trì nó thì Biển Đông chẳng khác gì một khu vực “vô chính phủ” mà ở đó “mạnh ai nấy được”, dễ xảy ra cảnh “đầu rơi, máu chảy”.

Năm là, thành lập các trung tâm lưu trữ, chia sẻ thông tin về Biển Đông. Biển Đông với vô vàn hoạt động diễn ra hàng ngày, đối với bất cứ tổ chức hay quốc gia nào cũng đều cần có thông tin liên quan đến vùng biển này khi họ khai thác, sử dụng nó cho mục đích nào đó. Vì vậy, nhu cầu thông tin liên quan đến Biển Đông là rất cần thiết và sự chia sẻ thông tin về nó lại là một trong những cầu nối khiến người ta xích lại gần nhau, hiểu biết và thông cảm cho nhau hơn. Do đó, thành lập các trung tâm lưu trữ, chia sẻ thông tin về Biển Đông để cùng nhau phối hợp xử lý có hiệu quả về các lĩnh vực an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền. Đây cũng là biện pháp góp phần làm giảm căng thẳng, củng cố lòng tin trong khu vực.

Sáu là, thành lập trung tâm kiểm soát an ninh hàng hải khu vực. Trong bối cảnh khu vực Biển Đông rơi vào tình trạng căng thẳng, phức tạp, an ninh hàng hải cũng rất dễ xảy ra các sự cố do nguyên nhân từ tự nhiên như sương mù, bão biển, sóng thần, động đất… nhưng còn có cả sự cố do nguyên nhân từ con người và kỹ thuật như va chạm tàu thuyền, hải tặc, tàu chìm, máy bay rơi…Vấn đề kiểm soát an ninh hàng hải tốt sẽ giúp các bên liên quan kịp thời nhận biết nguy cơ, nguy hiểm đang rình rập, có biện pháp ứng phó hiệu quả. Từ đó, góp phần làm giảm nguy cơ xung đột, thúc đẩy các thành phần của kinh tế biển quốc tế phát triển. Do đó, các học giả nghiên cứu và các nhà khoa học đề nghị sớm thành lập các trung tâm kiểm soát an ninh hàng hải ở khu vực. Đây được xem là biện pháp hữu hiệu để các quốc gia có cơ sở thực hiện xây dựng lòng tin và cùng nhau phối hợp hành động.

Bảy là, thành lập cơ chế kiểm soát và phòng ngừa xung đột giữa ASEAN và Trung Quốc. Nguy cơ tiềm ẩn xung đột hay chiến tranh ở Biển Đông vẫn còn hiện hữu do những bất đồng, mâu thuẫn về tranh chấp chủ quyền biển, đảo và tham vọng khai thác nguồn tài nguyên phong phú từ biển, nhất là tài nguyên năng lượng và khoáng sản. Đến nay, lại thêm những tham vọng mới về địa chính trị, địa chiến lược khu vực giữa các nước lớn, kèm theo đó là các bước đi chính trị, quân sự, ngoại giao của các nước đó. Biểu hiện rõ nhất là năm 2018 và 2019, hàng loạt tàu chiến, máy bay hiện đại của hải quân các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc… đều hiện diện ở Biển Đông. Nhiều cuộc tập trận, diễn tập quy mô lớn cấp độ đơn phương, song phương và đa phương đã diễn ra. Trong khi đó, giữa ASEAN và Trung Quốc hiện chưa có cơ chế kiểm soát và phòng ngừa xung đột. Giả sử các nước ASEAN hay Trung Quốc mắc sai lầm trong xử lý các tranh chấp và thiếu kiềm chế, mọi việc sẽ rất dễ thẳng tiến đến bờ vực của xung đột. Do đó, Trung Quốc và ASEAN nên nghiên cứu, sớm thành lập cơ chế kiểm soát và phòng ngừa xung đột trên biển.

Tám là, các bên có liên quan cam kết không quân sự hóa Biển Đông. Quân sự hóa Biển Đông là vấn đề phức tạp và dễ dẫn đến nguy cơ xung đột cũng như làm cho tình hình khu vực rơi vào bất ổn. Vì nếu một nước tiến hành quân sự hóa Biển Đông thì các nước còn lại tất không thể ngồi yên hay khoanh tay đứng nhìn. Họ tất yếu sẽ cũng phải tự trang bị vũ khí hay tìm “liên minh” quân sự. Dẫn tới diễn ra chạy đua vũ trang ở Biển Đông. Thực tế hiện nay đã bắt đầu diễn ra chạy đua vũ trang, nhưng chưa ở mức độ cao mà thôi. Chính vì vậy, các quốc gia trong và ngoài khu vực rất tích cực theo dõi những động thái quân sự của các bên hữu quan trên Biển Đông. Đặc biệt, Trung Quốc đang có biểu hiện quân sự hóa trên các đảo đá nhân tạo tại Biển Đông. Những hành động này của Trung Quốc đã làm giảm lòng tin đối với các quốc gia trong và ngoài khu vực, đồng thời cũng làm ảnh hưởng đến tiến trình hợp tác phát triển kinh tế quốc tế. Do đó, Trung Quốc và ASEAN cần sớm ký kết thỏa thuận về không quân sự hóa Biển Đông. Nếu đạt được thỏa thuận này, nguy cơ xung đột, chiến tranh ở Biển Đông sẽ được đẩy lùi một bước.

Nhìn lại lịch sử Trung Hoa thời Tam Quốc cách đây 1.800 năm cho thấy một bài học: Vua nước Thục là Lưu Bị mặc dù được Vương nước Ngô là Tôn Quyền gả em gái cho để kết tình huynh đệ, hòng xây dựng liên minh Ngô - Thục chống lại Ngụy Tào, nhưng Lưu Bị không hề tin tưởng Đông Ngô, vẫn dấy binh chinh phạt Tôn Quyền để rồi liên minh Thục - Ngô tan vỡ, cả hai nước Thục, Ngô đều suy yếu vì chiến tranh, dẫn đến cơ hội cho nước Ngụy, kế thừa là nước Tấn mạnh lên, sau này tiêu diệt cả Ngô lẫn Thục, bá chủ thiên hạ. Do đó, xây dựng lòng tin giữa các quốc gia có liên quan ở Biển Đông sẽ giúp cho quan hệ giữa các nước ổn định hơn, giảm bớt hiểu lầm, không để dẫn tới xung đột, chiến tranh không đáng có trên vùng biển trù phú này.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: