• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Hành động thể hiện tham vọng bá quyền của TQ trên Biển Đông

Thời gian qua chính sách quyết đoán nhằm kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc ngày càng bộc lộ qua các hành động trên thực địa.

Để giành quyền kiểm soát Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc xác định cần phải cô lập các nước trong khu vực thông qua việc sử dụng chiến lược “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng vừa đe dọa các nước chống đối mình.

Tuy tuyên bố không mong trở thành bá quyền toàn cầu nhưng hành động của Trung Quốc vẫn thể hiệnmuốn mình là “số một”. Gầnđây Trung Quốcđã công khai chính sách “trở thành một cường quốc đi đầu trước năm 2049” (kỉ niệm 100 năm ngày thành lập của Đảng cộng sản Trung Quốc). Mục tiêu thể hiện trong các ưu tiên của Tập Cận Bình bao gồm Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), Chiến lược “Sản xuất tại Trung Quốc 2025” và Giấc mộng Trung Hoa. Vì vậy, Tập Cận Bình từ bỏ lời khuyên “giấu mình chờ thời”của Đặng Tiểu Bình.

Trung Quốc đã ngày càng thiếu kiên nhẫn và hung hăng, tuyên bố rằng giờ đây Biển Đông cũng nằm trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Trung Quốc có nhiều mối bất hòa với trật tự thế giới tự do hiện tại, điều này được thể hiện qua hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông cũng như qua sự khác biệt cơ bản giữa những quy chuẩn tự do với chính phủ độc đoán của nước này. Trung Quốc từ chối một loạt những quy ước quốc tế, bao gồm cả tự do trên biển, thường xuyên quấy rối các chủ thể dân sự và quân sự của các nước khác trên Biển Đông.

Hiện nay, Bắc Kinh đang đối mặt với hàng loạt những thách thức về xã hội, dân số và kinh tế.Để che đậy những vấn đề này, người ta thường có các hành động gây hấn đối với bên ngoài, hành xử hung hăng trên trường quốc tế.

Một số người nhìn nhận nỗ lực “dàn xếp hòa bình những tranh chấp biên giới với hầu hết các nước láng giềng thập kỷ qua” thể hiện khuynh hướng hòa bình của Trung Quốc.Tuy nhiên, điều này không áp dụng được với Ấn Độ, không áp dụng được với các tranh chấp quan trọng trên biển, và không đúng với thực tế trong thời gian gần đây. Những người cho rằng Trung Quốc sẽ không hành xử một cách hung hăng còn nhấn mạnh “Sách trắng năm 2010 nêu rằng quốc phòng vừa phụ thuộc, vừa phục vụ cho sự phát triển của đất nước và các chiến lược an ninh” và kêu gọi “Quân đội giải phóng nhân dân chuẩn bị cho các chiến dịch quân sự hơn là chiến tranh”. Tuy nhiên, hành động của Trung Quốc lại không thể hiện như vậy,lực lượng quân sự không minh bạch, liên tục được đầu tư trong hơn hai mươi năm qua.Trung Quốc sử dụng các lực lượng thực thi luật và/hoặc dân sự (như hạm đội tàu cá của Trung Quốc trên Biển Đông) như một công cụ chính sách nhà nước qua đó đe dọa cả tinh thần và cấu trúc của hệ thống dựa trên luật lệ.Theo Sách trắng Quốc phòng năm 2015, chiến lược quân sự đã có sự thay đổi, Trung Quốc coi mình như là một cường quốc biển và thúc đẩy các chiến dịch sâu rộng trên Thái Bình Dương. Các cuộc triển khai như vậy đòi hỏi Trung Quốc phải chiếm giữ được Biển Đông.

Các căn cứ tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo (SSBN) của Trung Quốc nằm ở Vịnh Yalong phía Nam đảo Hải Nam và phía Bắc của Biển Đông. Việc kiểm soát quân sự trên Biển Đông vừa giúp Trung Quốc ngăn chặn các hoạt động do thám trên biển, vừa tạo ra các điểm dễ tổn thương mới cho các nước trong khu vực và Mỹ, vừa tạo ra tiền lệ cho việc vi phạm Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982 (UNCLOS) và các quy tắc về tự do hàng hải. Điều đó mở rộng vành đai an ninh cho Trung Quốc nhưng cũng đồng thời làm giảm vùng đệm an ninh của các nước láng giềng. Hành vi đó vi phạm chuỗi đảo thứ nhất đe dọa đến vị trí chiến lược của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Việc kiểm soát trên Biển Đông củng cố vị thế của Trung Quốc với tư cách như một bá quyền khu vực.

Những động thái của Trung Quốc trên Biển Đông có tính khiêu khích, xét lại và không phù hợp với hệ thống luật pháp quốc tế.Ngày 12/7/2016, Tòa trọng tài ở Lahay đã phán quyết, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông là không có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, Trung Quốc đã phớt lờ Phán quyết,bỏ qua UNCLOS và tiếp tục thực thi yêu sách Đường chín đoạn bao trùm hơn 80% diện tích Biển Đông. Trung Quốc từ chối thảo luận song phương với các bên yêu sách khác (gồm Malaysia, Brunei, Việt Nam, Philippine, Đài Loan) về vấn đề Biển Đông.Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá mùa hè hằng năm kể từ năm 1999; vào “tháng 11/2013, tỉnh Hải Nam thông báo quy định ngư nghiệp mới yêu cầu những tàu cá không thuộc Trung Quốc phải xin giấy phép khi triển khai đánh bắt trên những vùng biển mà Trung Quốc yêu sách. Lực lượng quân sự và bán quân sự đã thi hành các lệnh cấm này.Có những dấu hiệu cho thấy rằng Trung Quốc sẽ nỗ lực thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông. Bắc Kinh đã ra sức mở rộng các đảo, rặng san hô và những thực thể khác trên Biển Đông kể từ những năm 1970, khi Trung Quốc chiếm nhóm đảo Trăng Khuyết (Crescent) ở quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam. Trung Quốc cũng dính lứu đến nhiều cuộc đụng độ với các bên yêu sách khác đối với vùng biển.

Philippine là nước luôn chịu áp lực từ phía Trung Quốc kể từ năm 2010, khi Trung Quốc hành xử một cách hung hăng ở Bãi cỏ Rong (Reed Bank), khu vực mà theo như khảo sát địa chấn năm 2011 có trữ lượng khoảng 3,5 nghìn tỉ mét khối khí gas. Trung Quốc cũng chiếm bãi cạn Scarborough năm 2012 và duy trì “các tàu thuyền trong khu vực, coi bãi cạn là lãnh thổ của mình”. Bài học rút ra dường như đã rõ ràng với Trung Quốc: sự đe dọa và vũ lực đã phát huy tác dụng. Trung Quốc thường xuyên tấn công các tàu cá bằng cách bắn vòi rồng vào thuyền, giữ tàu thuyền và bắt thủy thủ.Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn năm 1995, và tiền hành phong tỏa không cho Philippine tiếp cận tàu BRP Sierre Madre do Philippine chủ động làm mắc cạn trên bãi Cỏ Mây năm 1999, Trung Quốc đã đe dọa kéo tàu này ra khỏi rặng san hô.

Gần đây Trung Quốc đã hoàn thành việc xây dựng bảy hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa.Trên đá Chữ Thập, Trung Quốc đã xây dựng một đường băng dài khoảng hơn 3.000 m và một cảng biển có khả năng tiếp nhận “những tàu chiến cỡ lớn”. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã hoàn thành những đường băng tương tự trên hai hòn đảo nhân tạo khác. Mức độ phá hoại sinh thái từ những hoạt động này chưa từng có tiền lệ trên Biển Đông và là một sự vi phạm luật pháp quốc tế của Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) như Toà trọng tài đã phán quyết hồi tháng7/2016.

Cũng là hành vi hung hăng, cách hành xử của Trung Quốc với Philippine không thể so sánh với những va chạm với Việt Nam trên Biển Đông.

Cả Trung Quốc và Việt Nam đều tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã chiếm giữ những hòn đảo quan trọng ở Hoàng Sa năm 1974 bằng vũ lực; đảo Phú Lâm đã được bồi đắp rộng thêm và trang bị nhiều thiết bị quân sự hiện đại.Năm 1988, Trung Quốc cũng lại dùng vũ lực chiếm đóng một số bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.Mùa xuân năm 2014, dàn khoan dầu của Trung Quốc Hải Dương 981 được hạ đặt vào Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.Sau hơn hai tháng Việt Nam kiên trì sử dụng nhiều biện pháp cả chính trị và thực địa để đấu tranh,Trung Quốc buộc phải rút dàn khoan.Đây có thể coi là lần đầu tiên chiến thuật cắt lát salami của Trung Quốc thất bại.Năm 2016, dàn khoan này lại quay trở lại, nhưng lần này ở phía bên kia của đường trung tuyến khu vực tranh chấp với Việt Nam.

Malaysia cũng đã đối mặt với “sự quyết đoán” của Trung Quốc. Trung Quốc đã yêu sách Bãi ngầm James, chỉ cách khoảng 50 hải lý từ bờ biển Malaysianhưng lại hơn 930 hải lý tính từ đất liền Trung Quốc. Trung Quốc cũng đã đe dọa khai thác dầu và khí của Malaysia trên Biển Đông.Có lẽ để đối phó với mối đe dọa đó, tháng 4/2010, Mỹ đã chính thức nâng cấp quan hệ với Malaysia lên thành đối tác chiến lược.

Trên đây là những ví dụ về việc Trung Quốc can dự vào từng nước riêng rẽ, Trung Quốc luôn muốn giải quyết các tranh chấp chỉ song phương với các nước, bởi vì điều này sẽ làm cho sự phản đối của từng nước láng giềng riêng lẻ trở nên khó khăn hơn.

Về quân sự, Trung Quốc đang sở hữu một chiến lược chống tiếp cận/chống xâm nhập (A2/DA) đáp ứng đủ cả về chất lẫn lượng để ngăn không cho các lực lượng Mỹ xuất hiện gần bờ biển của mình. Hơn thế nữa, Trung Quốc đang tăng cường khả năng triển khai lực lượng trong khu vực.Những yếu tố này cộng lại có thể tạo ra một niềm tin trong nội bộ Trung Quốc (hoặc ít nhất trong một số quan chức nhất định) rằng Trung Quốc đã có thể hiện thực hoá các yêu sách của mình ngay từ bây giờ.Việc kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc giúp đẩy Mỹ ra khỏi bờ biển Trung Quốc khiến những chiến lược chống A2/D2 như Chiến lược kết hợp Không-Hải Chiến trở nên thách thức hơn đối với Mỹ. Trung Quốc dễ dàng triển khai lực lượng hơn, đặc biệt ở vùng Đông Nam Á, để bảo vệ SSBNs qua chiến lược thành luỹ. Việc kiểm soát Biển Đông có thể được coi như bước đầu trong tham vọng bá quyền khu vực.

Kinh tế cũng là lợi ích thúc đẩy các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông do đây là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên.Trung Quốc phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu để phát triển kinh tế và sự phụ thuộc này ngày càng tăng.Lãnh đạo Trung Quốc coi sự phát triển kinh tế như chìa khóa để duy trì sự ổn định và vị trí độc tôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc.Việc kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên giúp Trung Quốc ít bị tổn thương hơn. Tiếp cận các ngư trường cũng giúp Trung Quốc đáp ứng chế độ ăn uống giàu protein cho người dân nước này.

Một số người viện cớ để biện minh cho các hành động của Trung Quốc rằng do bị thúc ép bởi hành vi của các bên yêu sách, khiến Trung Quốc buộc phải đáp trả hoặc vĩnh viễn mất Biển Đông. Việc giải thích như vậy là vô lý,bởi vì, luật quốc tế hiện nay mang lại sự phân chia công bằng các vùng biển củacác quốc gia ven biển trong đó có Trung Quốc.

Từ những vụ việc xảy ra trên Biển Đông, nếu chúng ta cứ tin vào những lời nói của Trung Quốc thì sẽ không còn lâu nữa Trung Quốc sẽ làm chủ Biển Đông, đến lúc đó các nước trong khu vực, kể cả siêu cường như Mỹ cũng khó mà làm được gì.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: