• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Nhìn lại kế hoạch “điện hạt nhân nổi trên biển” của TQ: Liều Lĩnh và nguy hiểm

Bắc Kinh đang tìm mọi cách độc chiếm Biển Đông và âm mưu xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển sẽ là một trong những công cụ đắc lực, giúp Trung Quốc hiện thực hóa ý đồ nguy hiểm này.

Từ âm mưu cho đến hành động

Chính phủ Trung Quốc đã thúc đẩy việc nghiên cứu, chế tạo trạm điện hạt nhân nổi trên biển (FNPP) từ những năm đầu của Thế kỷ 21. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, chế tạo gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc thu nhỏ và làm chủ công nghệ hạt nhân của Bắc Kinh còn hạn chế. Vì vậy, Trung Quốc đã tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nga - đối tác chiến lược quan trọng của Bắc Kinh và cũng là cường quốc đi đầu về hạt nhân trên thế giới. Tháng 5/2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga V.Putin đã chứng kiến lễ ký biên bản ghi giữa Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc gia Trung Quốc và Tập đoàn năng lượng nguyên tử Nga về việc hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển. Đến cuối tháng 7/2014, Tập đoàn Hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC) quyết định ký Ý định thư về việc hợp tác phát triển các nhà máy điện hạt nhân nổi với Công ty Rusatom Overseas của Nga - một trong những công ty tiên phong hàng đầu trên thế giới về chế tạo trạm điện hạt nhân nổi trên biển. Cũng trong năm 2014, Cục năng lượng quốc gia Trung Quốc thành lập Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật năng lượng hạt nhân để tập trung nghiên cứu chuyên sâu về trạm điện hạt nhân trên biển. Đồng thời, Bộ Khoa học kỹ thuật quốc gia Trung Quốc cũng thành lập “Hạng mục 863” nhằm nghiên cứu tính an toàn và kỹ thuật liên quan tàu động lực hạt nhân và hạng mục nắm bắt kỹ thuật “mô phạm ứng dụng và kỹ thuật sử dụng lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ để phát điện”.

Quá trình triển khai các hoạt động nghiên cứu, chế tạo của Trung Quốc được đẩy mạnh từ đầu năm 2015. Tại triển lãm “Phát triển thành quả ứng dụng công nghệ kỹ thuật khoa học quốc phòng quân dụng và dân dụng”, Trung Quốc lần đầu tiên trưng bày mô hình điện hạt nhân trên biển do Bắc Kinh tự nghiên cứu. Theo quảng cáo của Bắc Kinh, mô hình trên do Viện 719 nghiên cứu và đưa ra 02 phương án kỹ thuật dành cho nhà máy điện hạt nhân trên biển. Phương án đầu là trạm điện di động, lắp đặt lò phản ứng điện hạt nhân nổi trên biển. Phương án hai là vừa đáp ứng được các yêu cầu về trạm điện hạt nhân nổi, vừa có khả năng lặn xuống biển trong trường hợp thời tiết khắc nghiệt hoặc “yêu cầu công việc”. Tại lần triển lãm này, Trung Quốc đã giới thiệu lò phản ứng cỡ nhỏ ACP100 do Tập đoàn Hạt nhân Trung Quốc tự nghiên cứu, hạng mục này đã được Cục Năng lượng quốc gia phê duyệt năm 2011. Trong cả hai phương án trên, các lò phản ứng hạt nhân sẽ được đặt trên tàu chuyên dụng có chiều dài 140m, rộng 30m và lượng giãn nước vào khoảng 21.500 tấn. Đến tháng 5/2015, Viện 719 thông báo đã thử nghiệm thành công phương án tàu trở lò phản ứng hạt nhân trên biển tại bể thử nghiệm của Đại học Công nghiệp Đại Liên và Phòng thử nghiệm công trình gần bờ trọng điểm quốc gia. Phía Trung Quốc tuyên truyền cho rằng trong 150 ngày thử nghiệm liên tục, tàu trên đã hoàn thành 300 hạng mục thử nghiệm khác nhau. Kết quả cho thấy phương án tàu trở lò phản ứng điện hạt nhân trên biển đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thiết kế và có thể chịu được thời tiết khắc nghiệt.

Từ đầu năm 2016, Trung Quốc gấp rút hoàn thiện hành lang pháp lý và triển khai các hoạt động phản biện khoa học, đánh giá về nhà máy điện hạt nhân trên biển: Ủy ban cải cách phát triển quốc gia Trung Quốc đã có văn bản chính thức đồng ý đưa Nhà máy điện hạt nhân nổi di động ACP100S (biến thể trên biển của loại nhà máy ACP100) vào Quy hoạch năng lượng thuộc Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (giai đoạn 2016 - 2020). Được biết, ACP100S là loại lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ trên biển, có công suất khoảng 200MW do Tập đoàn Trung Hạch tự nghiên cứu, thiết kế, phù hợp với tiêu chuẩn an toàn của loại nhà máy điện hạt nhân thế hệ thứ 3, có thể đáp ứng được nhu cầu về điện, lọc nước biển thành nước ngọt, kho lạnh cho các dàn khoan dầu, các đảo trên biển. Đầu tháng 2/2016, Cục trưởng Cục Công nghiệp kỹ thuật quốc phòng quốc gia Trung Quốc Hứa Triết Đạt từng cho biết, trong Sách Trắng “Ứng phó khẩn cấp vấn đề hạt nhâ của Trung Quốc” đã đề cập vấn đề ứng phó đối với nhà máy điện hạt nhân trên biển khi xảy ra sự cố và rằng Trung Quốc đang quy hoạch, nghiên cứu, chế tạo nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển đầu tiên. Cuối tháng 2/2016, Ủy ban Phát triển cải cách Trung Quốc, Cục An toàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc và Cục Công nghệ khoa học quốc phòng Trung Quốc cho biết Viện 719 đã nhận được bằng sáng chế “Công trình mô phạm nhà máy điện hạt nhân trên biển” do Cục Năng lượng quốc gia cấp, đây được coi là “giấy thông hành”, văn bản chấp thuận ban đầu của Ủy ban phát triển cải cách quốc gia về việc triển khai công trình nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển. Trong tháng 4/2016, Trung Quốc tuyên truyền cho rằng Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế - IAEA đã thông qua thiết kế nhà máy điện hạt nhân trên biển ACP100 do Tập đoàn Hạt nhân Trung Quốc đề trình và đang xem xét, đánh giá về báo cáo phân tích sơ bộ liên quan vấn đề an toàn của nhà máy điện hạt nhân trên. Trong cùng năm 2016, một số quan chức điện hạt nhân Trung Quốc tiết lộ tiến độ thi công nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển. Theo đó, năm 2016 Trung Quốc hoàn thành thiết kế ban đầu và bắt đầu thi công công trình nhà máy điện hạt nhân nổi ACP100S; năm 2017 hoàn thiện thiết kế thi công hệ thống chủ lực và hạ thủy; năm 2018 hoàn thiện lắp đặt trạm điện hạt nhân; năm 2019 hoàn thành việc chạy thử và đưa vào sử dụng nhà máy điện hạt nhân nổi. Dự kiến Trung Quốc sẽ chế tạo khoảng 20 nhà máy điện trên. Theo Chủ tịch CNNC Tôn Cần, tổng giá thành cho một nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển vào khoảng 3 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 461 triệu USD).

Trong năm 2017, hầu như các thông tin về kế hoạch xây dựng trạm điện hạt nhân nổi trên biển của Trung Quốc bị “chìm xuồng”, Trung Quốc hầu như không đề cập bất cứ thông tin, hình ảnh liên quan. Song, Công ty Điện hạt nhân quốc gia Trung Quốc (8/2017) thông báo góp vốn cùng Tập đoàn Quốc Thịnh Thượng Hải, Tập đoàn Đóng tàu Giang Nam, Công ty Điện khí Thượng Hải và Công ty Điện Triết năng Triết Giang thành lập “Công ty TNHH phát triển năng lượng hạt nhân trên biển”. Công ty trên có vốn điều lệ vào 1 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 150 triệu USD), hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, chế tạo, kinh doanh và quản lý trang bị năng lượng hạt nhân biển. Đây có thể là bước đệm để các công ty Trung Quốc thúc đẩy chế tạo các nhà máy điện hạt nhân nổi. Trung Quốc hiện đã tuyên bố, sau khi thử nghiệm thành công mẫu FNPP đầu tiên ở vùng biển Bột Hải, họ sẽ tính tới việc xây dựng và đưa tới 20 FNPP ra khu vực Biển Đông.

Âm mưu của Trung Quốc

Về mặt chính thống, Trung Quốc cho rằng chế tạo nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển để cung cấp điện cho các vùng duyên hải, vùng biên giới, vùng đảo xa bờ và các giàn khoan dầu khí gặp khó khăn về nguồn điện năng. Trung Quốc cũng biện minh cho rằng hành động của mình chỉ đơn thuần phục vụ mục đích phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người dân, cũng như cung cấp điện để khử mặn - lọc nước biển thành nước ngọt, làm đá phục vụ ngư dân ướp hải sản đánh bắt trên biển.

Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Quốc tìm mọi cách phát triển điện hạt nhân trên biển nhằm cung ứng điện cho các hoạt động quân sự mà Trung Quốc mới triển khai trên các đảo ở Biển Đông, nhất là điện năng dành cho hệ thống radar tối tân của Bắc Kinh. Patrick Cronin, Giám đôc Chương trình An ninh châu Á - Thái Bình Dương, tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới từng nhận định, “các nhà máy điện hạt nhân trên biển sẽ giúp quân đội Trung Quốc có nguồn năng lượng bền vững để thực hiện đầy đủ các hoạt động, từ cảnh báo sớm trên không tới các hệ thống điều khiển vũ khí tấn công và phòng thủ, hay chống ngầm”. Theo nhận định của giới chuyên gia, nếu Trung Quốc triển khai một trạm điện hạt nhân ở đảo Phú Lâm sẽ khiến Bắc Kinh giải quyết được nhu cầu điện cho “thành phố Tam Sa”, tạo điều kiện để nước này có thể triển khai được các loại hình radar, tên lửa hiện đại và nâng cao năng lực tác chiến cho hải quân Trung Quốc. Giáo sư Carlyle Thayer, Học viện Quốc phòng Australia cũng từng cảnh báo sau khi Trung Quốc triển khai các nhà máy điện hạt nhân trên biển, Bắc Kinh sẽ viện cớ thực thi các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho những trạm điện trên để tăng cường hiện diện quân sự khiến tình hình khu vực trở nên căng thẳng, mất kiểm soát.

Nguy cơ rủi ro từ các FNPP của Trung Quốc

 Nhìn chung, nếu các NPP trên đất liền có một số hạn chế cố hữu như đòi hỏi phải có địa điểm với điều kiện địa chất tốt và diện tích lớn, yêu cầu cao về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhất là về kết nối với lưới điện, và phải có nguồn nước làm mát liên tục với khối lượng lớn thì các FNPP thường sử dụng các lò phản ứng cỡ vừa và nhỏ với công suất điện nhỏ hơn 300 MW, đồng thời có thể di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác bằng tàu kéo. Từ lâu, công nghệ này đã được coi là giải pháp cung cấp điện năng, nhiệt năng, và khử muối nước biển cho các đảo nhỏ hoặc các thành phố nằm ở những vùng duyên hải hẻo lánh4. Bởi vậy, giới chức Trung Quốc có lý khi nói rằng trong tương lai ở Biển Đông, các FNPP sẽ hỗ trợ Trung Quốc khai thác dầu và khí, đảm bảo cho người Trung Quốc có thể sống dài ngày tại các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, và thúc đẩy quá trình xây dựng đảo nhân tạo và bồi lấp các đảo do Trung Quốc quản lý. Ngoài các rủi ro về an toàn, việc Trung Quốc đưa FNPP ra khu vực biển tranh chấp còn tiểm ẩn nguy cơ về an ninh và pháp lý chưa từng có tiền lệ trong lịch sử phát triển của điện hạt nhân thế giới kể từ sau Thế chiến thứ hai cho tới nay.

 Tuy nhiên, thực tế cho thấy các hòn đảo do Trung Quốc quản lý đều có diện tích rất nhỏ và rất thưa cư dân, vì vậy việc Trung Quốc đưa tới 20 FNPP ra Biển Đông không có mục đích nào khác ngoài mục đích quân sự. Trước hết, nguồn điện và nước do các FNPP cung cấp sẽ giúp Trung Quốc tăng khả năng phòng thủ ở các hòn đảo họ đang kiểm soát, từ đó tăng cái giá phải trả về mặt chính trị, kinh tế, và quân sự cho bất cứ quốc gia hay tổ chức nào muốn tấn công vào các hòn đảo có FNPP neo đậu. Khía cạnh quân sự của chương trình phát triển FNPP Trung Quốc trở nên rất rõ ràng khi quân đội Trung Quốc tài trợ thiết kế ít nhất một FNPP. Nếu được đưa ra Biển Đông một cách ồ ạt, các FNPP của Trung Quốc sẽ gây ra rất nhiều nguy cơ đối với hệ sinh thái biển cũng như sự an toàn, an ninh của các quốc gia trong khu vực, cụ thể là trong điều kiện vận hành khắc nghiệt nhiều bão nhiệt đới của Biển Đông, lại thiếu các hàng rào che chắn tự nhiên (như núi, đồi), có thể xảy ra khả năng rò rỉ chất phóng xạ từ các FNPP của Trung Quốc ra Biển Đông, nhất là khi các nhà máy này thường được thiết kế để lưu giữ nhiên liệu đã qua sử dụng và chất thải phóng xạ ngay trên khoang trong nhiều năm như trường hợp của Akademik Lomonosov. Mật độ tàu thuyền đi lại dày đặc trên Biển Đông cũng làm tăng nguy cơ va chạm giữa các FNPP – vốn thường được neo đậu cố định gần các đảo, đá hay dàn khoan và vì vậy rất khó có thể lèo lái để tránh va chạm.

 Một nguy cơ khác liên quan tới an toàn hạt nhân của các FNPP của Trung Quốc trong tương lai là năng lực kiểm soát an toàn của cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc. Cho đến thời điểm này, ngành công nghiệp điện hạt nhân còn tương đối non trẻ của Trung Quốc vẫn chưa phải chứng kiến một tai nạn hạt nhân tầm cỡ Chernobyl hay Fukushima nhưng việc phát triển với tốc độ quá nhanh, lại sử dụng rất nhiều công nghệ khác nhau khiến nhiều người phải đặt dấu hỏi về hiệu quả kiểm soát an toàn của cơ quan an toàn hạt nhân Trung Quốc7. Gần đây nhất, việc giới chức Trung Quốc bị phát hiện đã để lọt nhiều nhà máy vẫn thải khí CFC-11 (loại khí đã bị cấm trên toàn thế giới vì tác động rất xấu tới tầng ozone của Trái đất) trong nhiều năm lại càng cho thấy các nước láng giềng phải luôn dè chừng trước năng lực giám sát an toàn của các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc. Ngoài các rủi ro về an toàn, việc Trung Quốc đưa FNPP ra khu vực biển tranh chấp còn tiểm ẩn nguy cơ về an ninh và pháp lý chưa từng có tiền lệ trong lịch sử phát triển của điện hạt nhân thế giới kể từ sau Thế chiến thứ hai cho tới nay.

Phản ứng của cộng đồng quốc tế

Người phát ngôn của Tổng thống Philippines Harry Roque (23/8/2018) đã bày tỏ lo ngại về chương trình hạt nhân của Trung Quốc ở Biển Đông, cho biết Philippines lo ngại về việc đưa bất kỳ loại vũ khí hạt nhân nào vào lãnh thổ của Philippines vì ​​Hiến pháp Philippines đã quy định rõ rằng Philippines là một khu vực phi hạt nhân. Cùng quan điểm trên, Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Trà cho biết, Việt Nam cho rằng duy trì hòa bình ổn định an ninh an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông là lợi ích chung và cũng là nghĩa vụ của các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy tất cả các bên đều có nghĩa vụ đóng góp cho mục tiêu này.

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tìm cách biện minh cho hành động của mình ở Biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc (18/8) đã bác bỏ báo cáo này của Bộ Quốc phòng Mỹ, cho rằng Washington đang đưa ra những lời bình luận vô trách nhiệm về sự phát triển quốc phòng của Bắc Kinh, khẳng định Trung Quốc vẫn kiên trì theo đuổi con đường phát triển hòa bình và chính sách quốc phòng mang bản chất phòng vệ; ngang ngược cho rằng “mọi hành động của Trung Quốc trên biển Đông "là hợp pháp và không thể tranh cãi”. Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngô Khiêm (17/8) ngang nhiên cho rằng Trung Quốc “kiên quyết phản đối báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ về các hoạt động quân sự và an ninh của Trung Quốc”, “cho rằng báo cáo này đã giải thích sai lệch về mục tiêu chiến lược của Trung Quốc và thổi phồng cái gọi là “mối đe dọa quân sự Trung Quốc”. Ngoài ra, ông Ngô Khiêm cũng khẳng định, Trung Quốc, “với tư cách là một nhân tố thúc đẩy hòa bình thế giới, đóng góp cho sự phát triển toàn cầu và duy trì trật tự quốc tế, kiên trì theo đuổi con đường phát triển hòa bình và chính sách quốc phòng mang bản chất phòng vệ”. Đồng thời, ông cũng nhấn mạnh rằng “những nỗ lực của Trung Quốc nhằm đẩy mạnh hiện đại hóa quân sự là nhằm bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển, cũng như bảo vệ hòa bình, ổn định và thịnh vượng; các hoạt động xây dựng hòa bình của Trung Quốc trên các đảo, đá ở Biển Đông là nhằm bảo vệ lãnh thổ quốc gia, đáp ứng yêu cầu của người dân, hoàn thành tốt hơn những nghĩa vụ quốc tế của mình”. Mặt khác, ông Ngô Khiêm chỉ trích Mỹ “là mối đe dọa thực sự đối với hòa bình và ổn định khu vực” khi “thường xuyên đưa các tàu chiến và máy bay tới Biển Đông dưới danh nghĩa “tự do hàng hải” và “gây căng thẳng”.

Tương lai của hạm đội điện hạt nhân nổi

Trong vòng một năm qua, chính quyền Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump áp đặt những chính sách cực kì cứng rắn trên mặt trận kinh tế nhằm buộc Trung Quốc phải thiết lập một sân chơi công bằng và minh bạch hơn về thương mại mậu dịch, bản quyền sở hữu trí tuệ đối với các công nghệ tiên tiến. Những tuyên bố tăng thuế liên tiếp của Tổng thống Trump đối với hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc, hay các động thái pháp lý nhắm vào các tập đoàn lớn của đất nước đông dân nhất thế giới như Hoa Vi (Huawei) khiến nền kinh tế Trung Quốc bước đầu vấp phải một số khó khăn. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thậm chí đã nhắc đến một cuộc “Vạn lý trường chinh” mới mà Trung Quốc rất có thể sẽ phải trải qua trong cuộc chiến tranh thương mại lâu dài với Hoa Kỳ bởi dù Tổng thống Trump có đắc cử nhiệm kỳ thứ hai, hay một gương mặt mới của Đảng Dân chủ sẽ là người chiến thắng sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2020, rất nhiều khả năng các chính sách cứng rắn của Tổng thống Donald Trump nhắm vào Trung Quốc vẫn sẽ được tiếp tục.

Giới nghiên cứu và hoạch định chính sách của Trung Quốc có lẽ cũng chưa lường trước hết được ảnh hưởng trước mắt và lâu dài của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung lên nền kinh tế và xã hội của Trung Quốc. Một trong những nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến chính là tham vọng bá chủ đại dương của Trung Quốc thông qua việc xây dựng một hạm đội viễn dương sánh ngang được với uy lực của Hải quân Hoa Kỳ. Hiện Hải quân Trung Quốc bắt đầu phải tính đến việc tiết kiệm chi phí và tăng cường tự chủ công nghệ để phòng ngừa trường hợp kinh tế bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thương mại và việc nhập khẩu các công nghệ lõi gặp phải lực cản từ chính quyền Hoa Kỳ. Tình hình mới này chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc phải xem xét lại chiến lược bành trướng trên biển thông qua hạm đội FNPP theo ba kịch bản sau đây.

Thứ nhất, Trung Quốc có thể sẽ cắt giảm đầu tư cho dự án đầy tham vọng và tốn kém này (để tham khảo, Nga đã phải tiêu tốn tới 700 triệu USD, gấp 3 lần giá thành dự kiến, cho việc đóng Akademik Lomonosov với công suất 70 MW điện) để dành nguồn vốn cho những dự án kinh tế - xã hội cấp thiết hơn, hoặc là để cho chính những dự án đóng tàu được coi là có giá trị chiến lược lớn hơn như các tàu sân bay lớp 002 và 003. Việc cắt giảm đầu tư chắc chắn sẽ khiến quy mô của hạm đội điện hạt nhân nổi Trung Quốc phải thu gọn hoặc kéo dài thời gian hoàn thành các tàu của dự án này.

Thứ hai, Trung Quốc sẽ giữ nguyên quy mô và tiến độ triển khai các FNPP trên Biển Đông vì chủ đầu tư trực tiếp của các nhà máy này hiện đang là các công ty công nghệ hạt nhân Trung Quốc vốn tương đối tự chủ về mặt tài chính và kế hoạch phát triển ngắn và trung hạn, và chỉ chịu quản lý trực tiếp từ chính quyền trung ương chủ yếu về mặt an toàn và chiến lược phát triển dài hạn.

Cuối cùng, Trung Quốc có thể mở rộng quy mô và rút ngắn thời gian triển khai hạm đội điện hạt nhân nổi ra Biển Đông. Về mặt công nghệ, việc này hoàn toàn khả thi vì các công nghệ lõi cho FNPP chủ yếu do Trung Quốc tự nghiên cứu phát triển, hoặc có thể dễ dàng nhập từ Nga - quốc gia gần như chắc chắn sẽ không nhượng bộ chính quyền Tổng thống Trump trong chính sách phong tỏa về mặt công nghệ của Hoa Kỳ nhằm vào Trung Quốc. Đồng thời, những kinh nghiệm từ việc hoàn thiện công nghệ và vận hành các FNPP hết sức cần thiết nếu Trung Quốc muốn đóng thành công tàu sân bay chạy bằng lực đẩy hạt nhân, hoặc hoàn thiện công nghệ tàu phá băng trong bối cảnh nước này đang muốn mở rộng ảnh hưởng lên cả Bắc Băng Dương, điểm nóng địa-chiến lược của thế giới trong giai đoạn tới. Cũng về mặt chiến lược, việc củng cố vị trí và ảnh hưởng trên Biển Đông và khu vực xung quanh eo biển Đài Loan thông qua việc gia tăng số lượng tàu cả quân sự - như tàu sân bay, và dân sự – như FNPP sẽ giúp Trung Quốc có thêm công cụ để “mặc cả” với Hoa Kỳ trên bàn đàm phán kinh tế, cũng như trấn an dư luận trong nước về vị thế của Trung Quốc tại khu vực và trên thế giới.

Trong khi đó, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và căn cứ pháp lý khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng phi pháp các đảo, đá, bãi cạn của Việt Nam là vi phạm luật pháp quốc tế và cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc ở Biển Đông hoàn toàn không được luật pháp cũng như cộng đồng quốc tế thừa nhận. Do đó, nếu Trung Quốc triển khai phi pháp các trạm điện hạt nhân nổi trên biển ở vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông là đi ngược lại các quy định của luật quốc tế, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Từ những khía cạnh trên cho thấy, việc Trung Quốc nghiên cứu, chế tạo và dự định đưa vào sử dụng trạm điện hạt nhân ở Biển Đông không nằm ngoài âm mưu độc chiếm và kiểm soát khu vực này. Hành động của Trung Quốc giống như treo quả bom nguyên tử trên đầu mỗi chúng ta. Vì vậy, cộng đồng quốc tế cần theo dõi chặt chẽ những động thái liên quan của Trung Quốc để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, đừng để xảy ra tình trạng “sự đã rồi” và chúng ta phải gánh chịu hậu quả thảm khốc do ô nhiễm, rò rỉ hạt nhân của Trung Quốc gây ra.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: