• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Thế cờ mới trên Biển Đông

“Hoa Kỳ đã có những động cơ ám muội khi cố tình đưa lực lượng hạng nặng vào biển Hoa Nam [Biển Đông] để tập trận quy mô lớn và giương oai, cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước trong khu vực, có thể thấy điều này rất rõ ràng”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Zhao Lijian (Triệu Lập Kiên) nhận xét hôm thứ hai 6-7. Điều gì đã và đang xảy ra? Các nước đã và đang phản ứng như thế nào?

Trước đó, hôm 30-6, tờ Global Times (Hoàn Cầu Thời Báo) đã đăng một bài đả kích “tàu chiến Mỹ tập trận làm gia tăng bất ổn trong khu vực”. Tờ báo này tố cáo: “Hai nhóm tàu sân bay tấn công Mỹ USS Nimitz và USS Ronald Reagan hôm chủ nhật đã thực hiện các cuộc tập trận quân sự ở biển Philippines… Hải quân Hoa Kỳ có vẻ đang ra sức gây sức ép quân sự ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Vài ngày trước, Washington, lần đầu tiên kể từ năm 2017, đã đồng thời triển khai 3 trong số 11 tàu sân bay hạt nhân của mình trong khu vực”.

Cán cân nghiêng ngửa

Có thể thấy qua bài báo trên của Global Times sự bực dọc rõ ràng vì tin rằng “những hoạt động quân sự này chắc chắn nhằm vào Trung Quốc”. Tâm trạng đó hoàn toàn khác với sự tự đắc độc tôn cách đó chưa lâu, như hôm 10-5, thể hiện qua bài “Những khiêu khích của Mỹ ở Nam Hải (Biển Đông) chỉ là màn bịp bợm nhằm che đậy hạm đội đang đau yếu”.

Hoàn Cầu Thời Báo nêu chi tiết: “Hàng chục tàu hải quân Mỹ đã bị virus corona triệt phá, nhưng đến cuối tháng 4, các tàu chiến Mỹ vẫn thường xuyên thể hiện cơ bắp quân sự ở Nam Hải. Hôm thứ tư, hai máy bay ném bom hạng nặng siêu thanh B-1B đã bay đến phía đông bắc đảo Đài Loan…

Từ khi công bố Sách lược quốc phòng 2017…, Lầu Năm Góc đã tăng cường đáng kể các nỗ lực khiêu khích, răn đe và kiềm chế Trung Quốc. Tuy nhiên, đại dịch chết người COVID-19 đã làm đảo lộn các triển khai của Hoa Kỳ khi nước này trở thành tâm chấn toàn cầu với số ca nhiễm bệnh cao nhất”.

Cụ thể những đảo lộn đó là: “Bốn tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân của Mỹ, trong đó có chiếc USS Theodore Roosevelt, đã buộc quay lại cảng sau khi thủy thủ đoàn nhiễm virus corona dòng mới. Sự vắng mặt của các lực lượng cốt lõi này trong hoạt động toàn cầu của Hoa Kỳ đã tạo ra “khoảng trống” khổng lồ và tức thời ở Tây Thái Bình Dương”.

Quả thực là Tây Thái Bình Dương vào đầu tháng 5 vừa rồi gần như “vườn không nhà trống” sau khi tàu sân bay USS Theodore Roosevel “trúng” COVID-19, phải ráng “lết” về đảo Guam hôm 28-3. Sự cố “chưa từng thấy” này càng trở nên nghiêm trọng với việc hạm trưởng tàu sân bay này bức xúc tung cho báo chí bức thư xin cho thủy thủ lên bờ để trốn dịch. Tình hình càng bi đát khi trong thực tế, từ đầu tháng 5 chỉ còn mỗi tàu sân bay USS Ronald Reagan thực sự trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu và tuần tiễu ở Thái Bình Dương.

Chưa hết, rút kinh nghiệm vụ chiếc USS Theodore Roosevelt trúng dịch, tất cả tàu của hải quân Mỹ trước khi ra khơi đều cách ly trong 14 ngày. Việc thông tin công khai chi tiết cách ly 14 ngày trước khi ra khơi, theo Luật tự do thông tin FOI, hẳn nhiên là tin tốt với các đối thủ của Mỹ.

Họa vô đơn chí, tin chỉ còn mỗi tàu sân bay USS Ronald Reagan khả dụng vào đầu tháng 5 cũng trùng với tin lực lượng tàu sân bay Mỹ cắt giảm từ 11 còn 9 chiếc, giảm số tàu mặt nước cỡ lớn còn 80-90 chiếc, thay vào đó tăng số tàu nhỏ và tàu không sử dụng người thêm 55-70 chiếc.

Tình hình ở Trung Quốc ngược lại, khi đội tàu chiến đã tăng mạnh và liên tục những năm qua. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là những điều chỉnh của Mỹ không phải do vấn đề ngân sách, mà là bởi định hướng chiến lược hải quân mới của Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper.

Theo đó, Mỹ sẽ giảm lực lượng tàu sân bay và tàu chiến lớn, tăng lực lượng tàu không sử dụng người, vốn “dễ hi sinh hơn” trong xung đột và cũng “dễ hoàn thành nhiệm vụ hơn” (Defense News 20-4).

Đây không phải lần đầu nước Mỹ điều chỉnh chiến lược hải quân, và họ vẫn thường quyết định rất chính xác. Một ví dụ là việc đầu tư mạnh phát triển lực lượng tàu sân bay sau Thế chiến I, tạo cơ sở cho thắng lợi của hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương trước hải quân Nhật, vốn cũng rất mạnh về tàu sân bay, song bị đánh gục sớm từ tháng 6-1942 ở trận Widway. Tàu sân bay từ đó tới nay làm nên ưu thế tuyệt đối cho hải quân Mỹ. Nhưng tình hình nay đã thay đổi.

Cũng đồng thời được điều chỉnh là chiến thuật liên quan tới việc đóng các tàu tác chiến ven biển (LCS), nay đã không còn hợp thời do hỏa lực quá mỏng để xung trận! Tờ báo cơ khí rất đại chúng mà độc giả Việt Nam đã khá quen mặt ít ra là từ những năm 1950, Popular Mechanics, hôm 12-2-2020 loan tin: “Hải quân Hoa Kỳ đã tiết lộ kế hoạch cho nghỉ hưu bốn tàu LCS đầu tiên, mà chiếc mới nhất mới hoạt động sáu năm. Chương trình LCS đã gặp vấn đề trong hơn một thập niên, với các tàu trang bị nhẹ, song lại vượt ngân sách và có vấn đề kỹ thuật”.

Chính một đồng minh của Mỹ là Ấn Độ tháng 4 vừa rồi đã đánh giá rằng: (1) Quân đội Trung Quốc đối phó với dịch COVID-19 tốt hơn, tham gia chống dịch ở tuyến đầu tại Vũ Hán mà không hề hấn gì; (2) hải quân Trung Quốc gần bờ hơn Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương, việc hải quân Mỹ quá xa hậu phương là lý do quan trọng khiến họ rất khó thay quân để đối phó dịch bệnh; (3) hậu quả là “quân đội Trung Quốc đang… nhìn thấy cơ hội thúc đẩy mạnh mẽ các yêu sách hơn ở Biển Đông, và cả… nhắm vào Đài Loan” (Observer Research Foundation 14-4).

“Ba mặt một lời”

Đúng như dự báo vào tháng 4 đó của Observer Research Foundation, bốn ngày sau khi bài viết đăng tải, tức hôm 18-4, Quốc vụ viện Trung Quốc loan báo quyết định thành lập hai quận mới, Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam), với các thủ phủ là đảo Phú Lâm (của Việt Nam) và đảo Chữ Thập (của Việt Nam).

Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải (AMTI) gọi “việc thành lập các quận Tây Sa và Nam Sa là bước đi mới nhất trong một dự án dài hạn nhằm mở rộng việc quản lý nhà nước của Trung Quốc ở Biển Đông”. Theo AMTI, việc thành lập [trái pháp luật] hai quận trên của Trung Quốc nhằm thôn tính Biển Đông thêm thuận tiện.

Từ đó, Trung Quốc giở chiêu dùng tàu thăm dò, hết chọc phá, nắn gân Malaysia suốt từ tháng 4 qua tới giữa tháng 5 với tàu Hải Dương Địa Chất 8, thách đố Việt Nam, dùng tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 4 sục sạo khu vực đá Chữ Thập, rồi di chuyển xuống phía tây nam, tiến gần hơn về bờ biển nước ta, có lúc cách đảo Phú Quý chỉ khoảng 214 hải lý, tiệm cận vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trong khi đó, tàu Hải Dương 10 sau khi di chuyển đến vị trí phía bắc đảo Phú Lâm hơn 8 hải lý hiện đang thả trôi tại vị trí này.

Tất nhiên tàu thực thi pháp luật của Việt Nam kè sát các tàu này nhằm bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam. Đặc biệt, có lúc có cả tàu chiến Mỹ cũng “canh chừng” tàu Trung Quốc. “Tàu tác chiến ven biển USS Gabrielle Giffords (LCS 10) thực hiện nhiệm vụ thông thường gần tàu Hải Dương Địa Chất 4 của Trung Quốc trên Biển Đông hôm 1-7.

Tàu USS Gabrielle Giffords đang làm nhiệm vụ thường xuyên trong khu vực do Hạm đội 7 phụ trách nhằm cải thiện khả năng phối hợp với các đối tác và đóng vai trò lực lượng sẵn sàng phản ứng”, hải quân Mỹ hôm 2-7 ra thông cáo cho biết.

Trước đó, chiếc USS Gabrielle Giffords và hai tàu huấn luyện JS Kashima, JS Shimayuki thuộc Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF) có cuộc diễn tập chung khi đi qua Biển Đông hôm 23-6. Cuộc diễn tập nhằm nhấn mạnh yêu cầu về khả năng liên lạc và điều phối trong lúc hoạt động gần nhau.

Chuẩn đô đốc Fred Kacher, chỉ huy Nhóm tấn công viễn chinh số 7 của hải quân Mỹ, nhận định các hoạt động diễn tập song phương đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hiệu quả một khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Chính chiếc USS Gabrielle Giffords này từng xuất hiện gần tàu khoan dầu West Capella của Malaysia “nhằm thể hiện cam kết của Washington với khu vực”, theo hải quân Mỹ hôm 13-5.

Những diễn biến này là sự cụ thể hóa “Sáng kiến răn đe Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” (Indo-Pacific Deterrence Initiative - IPDI), tức “Sáng kiến Thornberry”, theo tên hạ nghị sĩ Mac Thornberry (Đảng Cộng hòa, bang Texas), với kinh phí 6,09 tỉ đôla cho tài khóa 2021.

“Nỗ lực này củng cố và hỗ trợ các chính sách, cơ sở hạ tầng và nền tảng cần thiết để trấn an các đồng minh và đối tác của chúng ta trong khi ngăn chặn Trung Quốc. Sáng kiến này cũng sẽ là chuẩn mực để chúng ta có thể đánh giá những nỗ lực của mình trong khu vực”, Defense News 16-4-2020.

Có thể thấy việc tàu chiến Mỹ xuất hiện trong khu vực giờ không chỉ mang tính đối phó tay đôi với Trung Quốc nữa, mà có sự lựa chọn rõ ràng, bên cạnh các bên có tranh chấp với Trung Quốc, như một hình thức “ba mặt một lời” trên Biển Đông.

Sáng kiến IPDI còn nhằm cho phép Hoa Kỳ “tăng cường tài trợ cho tình báo, khả năng giám sát và trinh sát ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương; hỗ trợ nỗ lực để tiến hành thông tin hoạt động; duy trì việc luân chuyển lực lượng ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương; và duy trì sự hiện diện luân phiên của máy bay ném bom ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương; đầu tư cải thiện năng lực tác chiến dưới biển và phát triển các hệ thống hỏa lực chính xác tầm xa để bảo vệ các hệ thống trên toàn khu vực”.

Điều chỉnh chiến thuật 
và chiến lược

Việc các pháo đài bay B-52 “bỗng dưng” rời đảo Guam vào trung tuần tháng 4, sau đó sang tháng 5 máy bay ném bom chiến lược B-1B Lancer được điều động tới đảo Guam, rồi đầu tháng 7 này pháo đài bay B-52H lại đến Guam hẳn đều thuộc hoặc có liên quan tới Sáng kiến IPDI.

Sự dịch chuyển chiến lược không chỉ thể hiện qua các bước đi mang tính chiến thuật: Bộ tư lệnh Ấn Độ - Thái Bình Dương của hải quân Mỹ cũng đã đề xuất tăng thêm 20,1 tỉ đôla ngân sách trong giai đoạn 2021 - 2026 để tăng cường hệ thống rađa cảnh báo, tên lửa đạn đạo, tập trận với đồng minh, triển khai thêm lực lượng bổ sung, các trung tâm chia sẻ thông tin tình báo…

Sáng kiến IPDI cũng nhấn mạnh “năng lực hợp tác đa phương tập trung vào chống khủng bố; tăng độ tin cậy thông qua Chương trình hợp tác vệ binh quốc gia với các nước trong khu vực”, bao gồm cả các nhiệm vụ nhân đạo và dân sự, chuẩn bị ứng phó và cứu trợ thảm họa. Các nước trong khu vực, tùy sách lược quốc phòng và nhu cầu của mình, có thể “tham gia” từng phần đơn lẻ hoặc không tham gia IPDI.

Chính điều này có lẽ là lý do khiến Hoàn Cầu Thời Báo vừa đưa ra cáo buộc vừa như một lời đe dọa: “Bị Mỹ kích động, một số quốc gia trong khu vực thậm chí có thể làm leo thang những khác biệt với Trung Quốc thành xung đột quân sự. Điều này sẽ làm giảm an ninh khu vực, hơn nữa, gây bất lợi cho sự phát triển của Trung Quốc và tất cả các nước trong khu vực”.

Ở đây đã có sự cố tình đánh đồng nguyên nhân và hậu quả, khi việc cố tình áp đặt của một nước lớn lại đi kèm với đòi hỏi không được leo thang căng thẳng hay không được hợp tác với Mỹ! Không phải vô cớ mà tháng 12-2019, Malaysia đã khởi động cuộc chiến công hàm, rồi tới Philippines, Việt Nam và cả Indonesia (vốn trước giờ vẫn nói họ không phải là một bên tranh chấp) cùng lên tiếng bác bỏ đường chín đoạn và cái gọi là “quyền lịch sử không thể tranh cãi”, hay việc các bãi đá chìm nổi bị bồi đắp trái phép, rồi cả sự áp đặt quyền quản lý hành chính lên đó, mà cơ sở của nó đã bị Tòa The Hague bác bỏ dứt khoát vào năm 2016.

Ở Biển Đông cũng không phải chỉ có mỗi Hoa Kỳ và Trung Quốc. Hơn 40 năm qua, Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản (Japan Coast Guard, JCG) đã tích cực hoạt động nhằm bảo vệ các tuyến hàng hải thương mại của Nhật qua các nhiệm vụ cơ bản liên quan đến an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường biển và thực thi pháp luật hàng hải. Trên thực tế, nhằm tránh khơi lại quá khứ chiến tranh, Chính phủ Nhật Bản không sử dụng sách lược ngoại giao hải quân, mà là ngoại giao bảo vệ bờ biển (coast guard diplomacy), tập trung sử dụng viện trợ ODA vào việc hỗ trợ vật chất, huấn luyện cho các lực lượng phòng vệ bờ biển các nước Đông Nam Á.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: