• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Nghiên cứu Việt Nam

CÁC QUẦN ĐẢO Ở BIỂN ĐÔNG CHƯA BAO GIỜ LÀ LÃNH THỔ TRUNG QUỐC KỲ I

Kỳ I.

Để hỗ trợ cho yêu sách về lãnh thổ của Trung Quốc đối với các quần đảo ở biển Đông (biển Nam Trung Hoa), từ năm 1975 các học giả Trung Quốc đã tìm những chi tiết liên quan đến biển Đông trong những sách cổ Trung Quốc để nguỵ tạo ra luận thuyết cho rằng “các đảo Nam Hải từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc” do nhân dân Trung Quốc “phát hiện và đặt tên sớm nhất”, “khai phá và kinh doanh sớm nhất”, do Chính phủ Trung Quốc “quản hạt và hành xử chủ quyền sớm nhất”.[1] Hàng loạt sách cổ và bản đồ cổ đã được viện dẫn để hậu thuẫn cho những luận cứ nói trên.

Tuy vậy, qua nghiên cứu hàng trăm sách và bản đồ Trung Quốc cho đến cuối đời Thanh (1911) mà người ta có thể tìm thấy trong các kho lưu trữ trên thế giới đã chứng minh là các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa chưa bao giờ là lãnh thổ Trung Quốc.

Việc phát hiện sớm nhất”, “đặt tên sớm nhất”, “khai thác kinh doanh sớm nhất” là những hành động không xác lập danh nghĩa chủ quyền. Do đó, để xác định được Nhà nước Trung Quốc có xác lập chủ quyền và thực hiện chủ quyền đối với các quần đảo ở vùng biển này hay không, bài viết chỉ đi sâu phân tích những tài liệu đã được viện dẫn để chứng minh rằng Nhà nước Trung Quốc đã “quản hạt và hành xử chủ quyền sớm nhất” đối với các quần đảo ở biển Đông (Nam Trung Hoa).

Để chứng minh nhà nước Trung Quốc đã “quản hạt và hành xử chủ quyền sớm nhất” đối với các quần đảo ở biển Đông (Nam Trung Hoa), các học giả Trung Quốc đã đưa ra các “bằng chứng” sau đây :

- Các đảo Nam Hải đã được “sáp nhập” vào đảo Hải Nam năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường (789);

- Chính phủ Trung Quốc đã sai thuỷ quân đi “tuần tiễu” các đảo Nam Hải;

- Nhà Nguyên đã sai nhà thiên văn Quách Thủ Kính đến quần đảo “Tây Sa” đo đạc thiên văn;

- Chính phủ Trung Quốc kháng nghị, buộc người Đức ngừng việc quan trắc các đảo Nam Hải 1883;

- Chính quyền địa phương Trung Quốc thực hiện nghĩa vụ cứu giúp tàu thuyền nước ngoài lâm nạn ở vùng biển “Tây Sa”;

- Các đảo Nam Hải đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc.

Sau đây là sự thật về những tài liêu gọi là bằng chứng để làm chỗ dựa cho luận thuyết chính phủ Trung Quốc “đã quản hạt và hành sử chủ quyền sớm nhất” đối với các đảo Nam Hải nói trên.

1. Về việc “sát nhập” các đảo Nam Hải và đảo Hải Nam năm 789 :

Các học giải Trung Quốc viện dẫn đoạn viết về lịch sử và địa lý đảo “Hải Nam” trong Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát đời Tống để chứng minh cho luận cứ này.

Trong Hội biên sử liệu các đảo Nam Hải nước ta (1988), các tác giả trích dẫn đoạn văn liên quan trong Chư Phiên Chí để chứng minh rằng “Các đảo nam Hải từ năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường (789) đã thuộc phạm vi quản hạt của Trung Quốc” (Trang 33).

Trong bài viết đăng trên tạp chí Window (HongKong) ngày 3 tháng 9 năm 1993, tác giả đăng nguyên văn Chư Phiên Chí và quả quyết rằng: “Năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên, quần đảo Nam Sa đã được đặt dưới sự quản hạt của phủ Quỳnh Châu”. Vậy tác giả Chư Phiên Chí viết như thế nào mà các học giả Trung Quốc ngày nay lại khẳng định như thế?

Chư Phiên Chí là cuốn sách viết về nước ngoài. Trong cuốn sách, tác giả có chép về đảo Hải Nam. Mở đầu mục này, tác giả viết : “Hải Nam là Châu Nhai, Đảm Nhĩ nhà Hán. Vũ Đế (140-87 TCN) bình Nam Việt sai sứ từ Từ Văn vượt biển lấy đất đặt hai quận Châu Nhai, Đảm Nhĩ. Nguyên Đế (48-33 TCN) theo lời bàn của Giả Quyên bỏ Châu Nhai. Đời Lương (502-557), Tuỳ (581-618) lại đặt như cũ. Nhà Đường, năm đầu niên hiệu Trung Quán (627) tách làm 3 châu Nhai, Đảm, Chấn thuộc Lĩnh Nam Đạo. Năm thứ 5 tách (huyện) Quỳnh Sơn của Nhai (Châu) đặt thành quận, nâng huyện Vạn An làm châu, nay là Vạn An Quân, Đảm, Chấn nay là Cát Dương quân, Xương Hoá quân. Năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên (789) lấy Quỳnh (Sơn) làm Phủ đô đốc. Nay theo như thế. Từ Văn có Đệ Giác Trường, đối với Quỳnh (Hải Nam) cách nhau chừng hơn 360 dặm, thuận gió nửa ngày thì đến. Dòng giữa gọi là Tam Hợp Lưu (dòng nước xoáy đến từ 3 ngả) đến đây không sóng gió người đi thuyền giơ tay chúc mừng nhau. Đến Cát Dương vẫn là Biển, đất cát chẳng còn. Bên ngoài có Châu (đảo) gọi là U-ri, là Su-ji-liang.[2] Phía Nam đối diện với Chiêm Thành, phía Tây trông về Chân Lạp, phía Đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn lý Thạch Đường, mênh mông không bờ bến, trời nước một mầu, người đi thuyền qua lại chỉ lấy kim la bàn làm chuẩn, ngày đêm trông coi cẩn thận, sai sót tí chút sống chết kề bên. Bốn quận gồm 11 huyện thuộc Quảng Nam Tây Lộ” (tờ 15b-16a).

Qua đoạn văn trích dẫn trên người ta thấy tác giả viết hai ý khác nhau. Đoạn đầu, tác giả tóm lược lịch sử đảo Hải Nam. Đoạn tiếp theo tác giả mô tả vị trí địa lý đảo này. Ở đoạn viết về lịch sử, tác giả nói đến việc Quỳnh Châu[3] được đặt làm “Phủ đô đốc” vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường (789). Ở đoạn viết về vị trí đảo Hải Nam, tác giả cho biết phía Đông Hải Nam là “Thiên lý Trường Sa, Vạn lý Thạch Đường”.

Sự thật về sự kiện năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên (789) đời Đường là như vậy. Sự kiện xảy ra ở đảo Hải Nam năm 789, sử sách Trung Quốc chép rõ ràng năm đó, đô đốc nhà Đường là Lý Phục cho quân từ đại lục sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dân bản địa nổi dậy làm chủ đảo, không hề có sự sáp nhập các đảo Nam Hải và đảo Hải Nam.[4]

Còn tiếp kỳ II.



[1] Sử Lệ Tổ “Các đảo Nam Hải từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc” Quang Minh  nhật báo, 24/11/1975; Trương Hồng Tăng, “Xem xét chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ góc độ Luật pháp quốc tế”, tạp chí Hồng Kỳ số 4/1980; Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, “Hội biên sử liệu các đảo Nam Hải nước ta”, xuất bản tại Bắc Kinh, 1988; Phan Thạch Anh, “Quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc-căn cứ lịch sử  ngược dòng 2000 năm”, tạp chí Window (HongKong), 3/9/1993.

[2] Địa danh này ngờ là chỉ đảo Boóc-nê-ô hoặc đảo Gia-Va ngày nay.

[3] Quỳnh Châu một trong bốn châu nhà Đường đặt ở đảo Hải Nam, “Quỳnh Châu” ở phía Bắc. “Nhai Châu” ở phía Đông, “Đảm Châu” ở phía Tây, “Chấn Châu” ở phía Nam. Chỉ đến đầu đời Minh (thế kỷ 15) đảo Hải Nam mới được đặt Quy chế một phủ, gọi là “Phủ Quỳnh Châu”.

[4] ĐườngThư, quyển 7, tờ 7a; Thái Bình hoàn vũ ký (Tống), quyển 169, tờ 11a-11b; Dư địa kỷ thắng (1221), quyển 124, tờ 2b; Quảng Đông Thông chí (1731), quyển 5, tờ 74a-75a.

 

 

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: