• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Văn bản pháp lý quốc tế

CÁC VÙNG BIỂN VÀ ĐÁY BIỂN QUỐC TẾ THEO LUẬT BIỂN QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

Theo pháp luật quốc tế hiện đại, cụ thể là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, toàn bộ đại dương trên thế giới được chia thành 2 bộ phận. Bộ phận thứ nhất là các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước ven biển (phần cột nước chia thành nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Còn phần dưới cột nước gọi là thềm lục địa). Bộ phận thứ 2 là các vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế. Điểm chung của bộ phận thứ 2 này là không thuộc bất cứ nước nào. Nhưng lại có chỗ khác nhau ở chỗ: vùng biển quốc tế thì tự do khai thác, còn đáy biển quốc tế thì không được tự do khai thác.

Vùng biển quốc tế (hay còn gọi là biển cả) theo luật biển quốc tế trước đây thì vùng biển quốc tế rất rộng, tức là toàn bộ các khu vực biển nằm ngoài lãnh hải 3 hải lý của các nước ven biển. Với sự ra đời của vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thuộc quyền chủ quyền của các nước ven biển, phạm vi vùng biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể. Theo Công ước Luật Biển năm 1982, vùng biển quốc tế là vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước ven biển.

 

CÁC CƠ CHẾ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN, ĐẢO

Ngày 18-6-2012, một số báo trong nước có đăng bài báo của tác giả Nguyễn Thanh Chương nói về các cơ chế quốc tế để giải quyết các tranh chấp biển, đảo hiện nay ở trên thế giới. Bài báo cung cấp thông tin khá đầy đủ về Tòa án quốc tế La Hay (ICJ), Tòa án quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Trọng tài chung theo Phụ lục VI và Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VII của Công ước Luật Biển năm 1982. Ban Biên tập mạng BienDong.net hân hạnh giới thiệu với đọc giả bài báo nói trên.

Giới Thiệu Quy Chế Pháp Lý Một Số Vùng Biển VN Phù Hợp với Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển

h1

1. Giới thiệu sơ lược về hàng hải (maritime)

Như chúng ta đã biết, công nghiệp hàng hải là ngành công nghiệp liên quan tới vận tải hàng hóa bằng đường biển (shipping). Nghiệp vụ chủ yếu của một công ty vận tải biển (shipping company) là chuyên chở hàng hóa từ cảng A đến cảng B bằng đường biển, lợi nhuận của họ là cước phí vận tải (freight).

Một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của ngành hàng hải là nghiệp vụ dẫn đường (navigation). Để dẫn tàu an toàn (safe navigation), người sĩ quan hành hải (navigation officer) cần phải tích lũy một số kiến thức nhất định, trong đó các kiến thức về qui tắc phòng ngừa va chạm tàu thuyền trên biển[1] (regulations for preventing collision at sea) và luật biển[2] (the law of the sea) cũng rất cần thiết.

QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO VÀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG: QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM

I. Quy chế pháp lý của đảo theo quy định của Công ước Luật biển 1982

Quy chế pháp lý của đảo được quy định tại điều 121 của Công ước Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc (CƯ 1982) như sau:

1. Đảo là vùng đất hình thành tự nhiên, bao bọc bởi nước và nằm cao hơn nước khi thuỷ triều lên.

2. Trừ những trường hợp được quy định tại khoản 3, các vùng lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa như đất liền.

3. Đá (rocks), nơi không có khả năng cho việc cư trú (sinh sống) của con người và đời sống kinh tế riêng của nó, không được phép có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa…”[2]

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển hay cũng được những người chống đối nó gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm 1994. Công ước Luật biển là một bộ các quy định về sử dụng các đại dương của thế giới, chiếm 70% diện tích bề mặt Trái Đất.

Switch mode views: