• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

TQ trong chính sách Ngoại giao Năng lượng trên biển Nam Trung Hoa (Phần 2)

Qua nhiều pháp thử nên lần này thì nhiều thứ có lẽ sẽ khác đi. Bắc Kinh muốn làm giảm bớt mối lo ngại đang lan rộng khắp nơi ở Á Châu về sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của họ. Trong bối cảnh này thì biển Nam Trung Hoa là một hòn đá thử vàng rất nhạy cảm.

Hoàn cảnh đã thay đổi

Vào tháng 10/2008, không lâu trước khi thủ tướng Việt Nam đến Bắc Kinh, thì Trung Quốc đã cấm đoàn tàu đánh cá của mình, một trong những đoàn tàu lớn nhất trên thế giới, không được hoạt động trong các vùng biển đang tranh chấp với các nước láng giềng. Những tranh chấp trong ngành đánh bắt hải sản trong những năm gần đây không những chỉ đặt Trung Quốc vào việc đối chọi với Việt Nam.

Những tranh chấp này cũng trở nên một nỗi khó chịu trong quan hệ với Nam Hàn, Nhật Bản, Phi Luật Tân và Nam Dương. Trên biển Nam Trung Hoa, nhiều ngư phủ Trung Quốc đã bị Phi Luật Tân bắt giữ, cáo buộc là đã đánh cá bất hợp pháp trong vùng biển gần quần đảo Trường Sa do Manila tuyên bố chủ quyền.

Nhiều sự kiện xảy ra tương tự cũng được tường thuật ở Việt Nam. Nội các của chính phủ Trung Hoa, Quốc vụ viện, đã phổ biến một chỉ thị cho lực lượng giang cảnh biên phòng và các cơ quan liên quan đến nghề cá phải ngăn chặn không cho các tàu đánh cá Trung Quốc đi vào “các vùng biển nhạy cảm chủ yếu”

Một nhân tố mới khác là sự sút giảm trầm trọng mới đây của giá dầu thô và khí đốt thiên nhiên, làm mất đi một vài khích lệ cho các công ty dầu khí để tiến hành việc thăm dò trong những vùng biển sâu thẳm hơn, càng xa bờ hơn nữa trên biển Nam Trung Hoa. Nói chung thì việc khoan dầu dưới lòng biển sâu vô cùng tốn kém. Nhưng khi giá dầu thô tăng qua mức 100 đô la một thùng lần đầu tiên vào đầu năm nay, và tiến đến 145 Mỹ kim vào tháng Bảy, thì chuyện tốn kém coi như hoàn toàn được chấp nhận.

Vào khoảng thời gian đó, Trung Quốc đã yêu cầu tập đoàn dầu khí khổng lồ ExxonMobil của Hoa Kỳ phải huỷ bỏ các kế hoạch dự trù với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam  để khảo sát dầu khí phía ngoài bờ biển Việt Nam, ngụ ý rằng nếu họ không làm theo thì có thể sẽ bị cấm đoán hoạt động tại Trung Quốc.

Một phát ngôn viên của bộ ngoại giao Trung Quốc nói rằng họ phản đối bất cứ hành động nào “vi phạm tới lãnh thổ, chủ quyền và quyền quản lý hành chánh của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa”.

Theo sau một cảnh cáo tương tự từ Bắc Kinh, công ty British Petroleum (BP) vào năm ngoái cũng tạm ngưng nhiều kế hoạch dự trù để thực hiện các công tác thăm dò cùng với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ở ngoài khơi về phía nam, đưa ra lý do là có nhiều căng thẳng về lãnh thổ.

Kế hoạch dự trù của BP cũng nằm trong một số các khu thăm dò được Việt Nam chấp thuận nhưng bị Trung Quốc tranh giành, nằm cách bờ biển Việt Nam khoảng 370km, ở cạnh phía ngoài Vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam, giữa Việt Nam và quần đảo Trường Sa.

Với giá dầu thô đang giảm xuống mức 60 đô la một thùng ở một thời điểm trong Tháng Mười, khi tăng trưởng kinh tế thế giới đang chậm lại theo khuôn khổ của nhu cầu, thì cuộc tranh đua để giành các nguồn tài nguyên hợp chất hữu cơ (hydrocarbon) trên biển Nam Trung Hoa đã bị mất đi một ít sức thu hút. Ðiều này giúp tạo ra một sự hoà hoãn chính trị, cho phép Trung Quốc và Việt Nam cùng tiến đến với nhiều biện pháp hoà giải hơn.

Nơi đối chọi nhau về tài nguyên năng lượng

Việc gì có thể làm xáo trộn sự cân bằng mỏng manh trên biển Nam Trung Hoa và hồi sinh lại những vấn đề gây xúc động về chủ quyền, thanh thế và niềm tự hào của đất nước? Mối hiểm nguy lớn nhất là khi kinh tế được phục hồi, mức tăng trưởng nhanh chóng và sự trỗi dậy của một nhu cầu mạnh mẽ về năng lượng tại Á Châu sẽ lại đẩy Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á vào sự tranh chấp.

Số lượng dầu và khí đốt của Trung Quốc sản xuất không đủ để bắt kịp với mức tiêu thụ đang dâng cao, và điều lo ngại là nguồn dự trữ hiện thời sẽ không còn được bao lâu nữa. Các nước sản xuất dầu khí khác ở Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam, Mã Lai Á và Nam Dương đều có chung những quan tâm này..

Hiện thời các quốc gia này là những nước chuyên xuất cảng dầu thô hoặc khí đốt hoặc cả hai, nhưng có thể nhìn thấy cái thời điểm đang đến gần khi nguồn năng lượng dự trữ của họ không còn đủ để thoả mãn cho nhu cầu trong nước. Họ muốn gia tăng tuổi thọ cho nguồn dự trữ của mình bằng cách tìm kiếm thêm dầu khí. Cũng như tại Trung Quốc, đây là một nhu cầu cấp bách cho việc tăng trưởng kinh tế cũng như bảo toàn năng lượng vì dầu hoả và khí đốt vô cùng quan trọng cho ngành giao thông vận tải và kỹ nghệ. Ðồng thời, Phi Luât Tân, một nước chuyên nhập cảng cả dầu hoả lẫn khí đốt đang cần tìm kiếm gấp thêm các nguồn năng lượng hoá thạch (fossil fuel) và xem những vùng biển ngoài khơi trên Nam Trung Hoa như một giải pháp tự lực cánh sinh lớn hơn trong tương lai.

Đối với chính phủ Trung Quốc, thì chính sách năng lượng đã trở thành một bộ phận của chính sách đối ngoại. Từ một quốc gia xuất cảng dầu vào năm 1993,  hiện nay khoảng một nửa lượng dầu cần dùng của Trung Quốc phải lệ thuộc vào các nguồn cung cấp ở nước ngoài. Trung Quốc cũng đang trở thành một quốc gia nhập cảng khí đốt quan trọng.

Vì lý do bảo toàn năng lượng, Trung Quốc đã đặt ra một ưu tiên cao cho việc lấy được càng nhiều dầu hoả và khí đốt mà họ có thể lấy được trong phạm vi lãnh thổ trên đất liền, các vùng biển ngoài khơi, hoặc càng gần nội địa càng tốt, bao gồm ở Nga Sô và miền Trung Á. Hiện tại, khoảng 75% số lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc là từ những vùng chính trị bất ổn ở Trung Đông và Phi Châu.

Họ phải vận chuyển bằng tàu thuỷ đến Trung Quốc qua nhiều hải trình xa xôi, nơi mà lực lượng vũ trang Trung Quốc chưa có nhiều khả năng để bảo vệ. Những hải trình huyết mạch của nguồn cung cấp năng lượng này có thể bị cắt đứt trong một cuộc khủng hoảng nào đó.

Trong khi đó, Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ năng lượng đứng hàng thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ, muốn gia tăng tiêu thụ khí đốt để giảm thiểu sự lệ thuộc nặng nề vào than đá, vốn gây ra nạn ô nhiễm không khí trầm trọng. Nhiều quốc gia Đông Nam Á cũng đang quay sang dùng khí đốt sạch sẽ hơn trong một tầm mức lớn để sản xuất điện năng, và cung cấp cho ngành kỹ nghệ cũng như xử dụng trong gia đình.

Việc xử dụng khí đốt thiên nhiên trong các nước Á  Châu được tiên đoán là sẽ gia tăng vào khoảng 4,5%  hàng năm cho tới năm 2025 —nhanh hơn bất cứ loại nhiên liệu nào khác—với gần như một nửa mức gia tăng này là từ Trung Quốc. Nếu tỷ lệ gia tăng này được duy trì, thì nhu cầu của Á Châu vào năm 2025 sẽ vượt qua 21 ngàn tỷ bộ khối (cubic feet), gần gấp ba mức tiêu thụ hiện thời.

Biển Nam Trung Hoa được cho là có tiềm năng về khí đốt lớn hơn tiềm năng về dầu hoả. Hầu hết các mỏ hợp chất hữu cơ (hydrocarbon) khảo sát trên các vùng biển Nam Trung Hoa thuộc Brunei, Nam Dương, Mã Lai Á, Phi Luật Tân và Việt Nam, cũng như Trung Quốc, đều chứa đựng khí đốt chứ không phải dầu hoả.

Nhiều ước lượng của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (US Geological Survey) cho biết có khoảng từ 60 tới 70 phần trăm nguồn tài nguyên hợp chất hữu cơ trong khu vực là khí đốt. Tuy thế, một phần rất đáng kể hơn 6 triệu thùng dầu thô mỗi ngày được Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á sản xuất ra từ vùng biển Nam Trung Hoa. Một phần lớn hơn là lượng khí đốt 8 tỷ bộ khối được sản xuất ra mỗi ngày từ khu vực lòng chảo biển Nam Trung Hoa, mặc dù không có con số chính xác nào được đưa ra.

Trung Quốc ước lượng toàn bộ tiềm năng dầu hoả và khí đốt trên biển Nam Trung Hoa có chiều hướng cao hơn nhiều so với những ước lượng của các nhà phân tích nước ngoài. Ước lượng lạc quan nhất của Trung Quốc cho rằng tiềm năng nguồn tài nguyên dầu hoả này cao đến 213 tỷ thùng, gần 14 lần nguồn dự trữ đã được xác nhận của Trung Quốc là 15.5 tỷ thùng vào cuối năm 2007.

Về khí đốt, thì tiềm năng của mức sản xuất được Trung Quốc ước đoán lạc quan nhất là trên 2 triệu tỷ bộ khối, mặc dù chỉ khoảng một nửa trong số này là có thể thâu hoạch được, ngay cả khi nếu các mỏ ở mức quy mô này được tìm ra. Nguồn khí đốt dự trữ đã được xác nhận của Trung Quốc vào cuối năm 2007 là 67 ngàn tỷ bộ khối.

Trung Quốc đẩy mạnh xuống phía Nam

Sự xuất hiện của Trung Quốc như một quốc gia tiêu thụ nhiều khí đốt ngày càng gia tăng và tầm quan trọng mà họ đặt ra để lấy được càng nhiều dầu hoả và khí đốt trong tương lai, từ những nơi càng gần nội địa càng tốt, có thể giúp để giải thích lý do tại sao Trung Quốc lại đánh giá quá cao tiềm năng về năng lượng trên biển Nam Trung Hoa. Những ước lượng như vậy củng cố cho các tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Trung Quốc trong khu vực. Dĩ nhiên, những ước lượng này chưa được xét nghiệm.

Phần lớn trong khu vực, nhất là ở những vùng biển sâu, vẫn chưa được thăm dò vì quá

xa xôi và đang bị tranh giành. Nhưng Trung Quốc dường như có ý định mở rộng công cuộc tìm kiếm năng lượng ngoài khơi. Cho đến cách đây một vài năm, các công ty năng lượng quốc doanh của Trung Quốc đã chán nản không muốn tranh đua và Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc, công ty sản xuất dầu lửa và khí đốt đứng hàng thứ ba ở Trung Quốc, hầu như có độc quyền trong công tác thăm dò dầu khí ngoài khơi.

Điều này đã được thay đổi và hiện nay tất cả các công ty dầu hoả và khí đốt quan trọng của Trung Quốc có thể đấu thầu các dự án trên bờ lẫn ngoài khơi, ở trong cũng như ngoài nước. Từ đầu năm 2007, cả Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc lẫn công ty sản xuất xăng dầu lớn nhất Trung Quốc, Tập đoàn Xăng dầu Quốc gia Trung Quốc (China National Petroleum Corp), hiện đang nhìn ra biển Nam Trung Hoa để tìm kiếm nguồn năng lượng bổ sung cho lượng dầu hoả sản xuất trong nội địa đang đi xuống. Cả hai tập đoàn này đang xây dựng nhiều giàn khoan dầu ở các vùng biển sâu.

Trong lúc các chính phủ Đông Nam Á và các công ty năng lượng làm việc cho họ đang lấn sâu hơn vào biển Nam Trung Hoa để lùng kiếm thêm dầu hoả và khí đốt, thì họ chỉ có thể hy vọng rằng việc Trung Quốc đẩy xuống phía nam sẽ dẫn tới sự hợp tác tốt đẹp hơn, chứ không phải để chạm trán nhau.

Trung Quốc đã cấp phát nhiều hợp đồng thăm dò hoặc giấy phép sản xuất cho hầu hết các khu vực khai thác dầu hoả và khí đốt của họ ở vùng biển sâu trên biển Nam Trung Hoa về phía nam của Hương Cảng. Các khu vực khai thác này chỉ bị Ðài Loan tranh giành. Tuy nhiên các giấy phép cuả Trung Quốc trong tương lai lại có vẻ gối đầu lên các giấy phép của các quốc gia láng giềng trong vùng Ðông Nam Á (Reuters 2/11/07). 

Không giống như hồi thập niên 1980s hoặc 1990s, Trung Quốc hiện nay có thể dùng sức mạnh quân sự để áp đặt các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình trên các đối phương trong khu vực, nếu họ quyết định làm như vậy. Nhưng ở cái giá nào cho uy tín quốc tế, cho sự ổn định nơi trọng tâm của ngành hàng hải trong vùng Đông Nam Á và cho các mối quan hệ của họ với khối ASEAN?

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới