• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Chống tiếp cận, chống xâm nhập - chiến lược phòng thủ, răn đe đối với TQ

Việc Trung Quốc ngày càng hung hăng thực hiện giấc mơ Trung Hoa, bành trướng trên Biển Đông là một trong những bài toán hóc búa nhất. Bài toán đau đầu này không chỉ đặt ra đối với giới hoạch định chính sách ở Mỹ mà còn thách thức nhiều quốc gia khác trong khoảng mười năm trở lại đây.

GS. Michael Beckley – một trong những học giả trẻ hàng đầu về quan hệ Mỹ-Trung- cho rằng: Mỹ nên tập trung giúp các nước láng giềng của Trung Quốc chống tiếp cận, chống xâm nhập để ngăn không cho Trung Quốc chiếm Đài Loan, hay kiểm soát các vùng biển ở khu vực Đông Á. Tuy nâng cao năng lực chống tiếp cận, chống xâm nhập là một cách tiếp cận không tồi, nhưng chiến lược này sẽ rất dễ bị hoá giải nếu Trung Quốc vận dụng chiến thuật “lát cắt salami” để từng bước mở rộng sự kiểm soát ở Đông Á.

GS Beckley phân tích một cách chi tiết trong một bài viết, nếu Trung Nam Hải có ý đồ phát động chiến tranh để chiếm Đài Loan, dựa vào bao vây cấm vận hay ném bom chiến lược để khuất phục hòn đảo này, hoặc triển khai một chiến dịch quân sự lớn để mở rộng tầm kiểm soát của mình ở Biển Đông hay Hoa Đông thì nhiều khả năng chống tiếp cận, chống xâm nhập sẽ ngăn chặn được bước tiến của Trung Quốc.

Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, một đạo quân tấn công muốn nắm chắc phần thắng thì thường phải đảm bảo được ít nhất tỉ lệ quân lực 3-1, tức cứ mỗi lính phòng thủ cần phải có đến ba lính tấn công. Khả năng tấn công gần như bao giờ cũng khó hơn và hao người tốn của hơn so với phòng thủ.

Khi mà tên lửa tầm xa ngày càng chính xác hơn bao giờ hết và tàu ngầm vẫn là “sát thủ tàng hình” dưới lòng đại dương mênh mông thì việc tiến quân ra chiếm đảo sẽ là một hành động quá rủi ro để triển khai, trừ những trường hợp cấp bách và tuyệt vọng nhất. Vì vậy, chống tiếp cận, xâm nhập sẽ là vũ khí răn đe đủ đáng gờm đối với hải quân Trung Quốc.

Vẫn biết chống tiếp cận, chống xâm nhập không phải là lá bùa vạn năng giúp các nước chiếm lại được những phần lãnh thổ mà Trung Quốc đang chiếm đóng. Tuy nhiên đây không hẳn là “giới hạn” chống tiếp cận, xâm nhập, vì bản chất của nó là một chiến lược phòng thủ, răn đe chứ không phải là một chiến lược tấn công.

Vấn đề của chống tiếp cận, xâm nhập nằm ở chỗ nó vận hành dựa trên giả thiết ngầm rằng quân địch sẽ tiến hành một chiến dịch quân sự lớn. Nếu Trung Quốc thật sự phát động một cuộc tấn công xâm lược Đài Loan, quân đội Đài Loan ắt sẽ chiến đấu. Hoặc giả định bất ngờ hải quân Trung Quốc nổ súng và chiếm hết các đảo của Philippines ở Biển Đông thì kể cả một tổng thống thân Trung Quốc như Duterte cũng không dễ đầu hàng. Khi đã không còn gì để mất, những nước này sẽ sẵn lòng sử dụng tên lửa, tàu ngầm và bất kỳ loại vũ khí gì họ có để chống trả đội quân xâm lược.

Bắc Kinh thừa hiểu rằng, nếu họ xâm lược Đài Loan một cách vô cớ thì Mỹ sẽ can thiệp. Nếu họ mang hạm đội Nam Hải ra chiếm hết các đảo của Việt Nam ở Trường Sa thì họ sẽ bị cả thế giới lên án và cô lập, Việt Nam sẽ càng tiến gần về phía Mỹ. Sử dụng vũ lực một cách lộ liễu ở quy mô quá lớn ắt sẽ vấp phải sự phản đối quyết liệt từ cộng đồng quốc tế. Trung Quốc dù mạnh đến mấy cũng không thể “xưng bá” nếu không thu phục được nhân tâm và họ sẽ không thể nào thu phục được nhân tâm nếu sử dụng vũ lực một cách bừa bãi.

Vì vậy Trung Quốc chắc chắn sẽ không chọn giải pháp tiến quân ồ ạt. Họ có thể chiếm lấy một hòn đảo, một bãi đá trong chớp nhoáng như cách mà Nga đã chiếm đóng bán đảo Crimea. Bạn đọc thử hình dung, nếu Trung Quốc chỉ chiếm một hòn đảo, nếu đó là một hòn đảo hoang sơ không người sinh sống, lại không có giá trị nhiều về mặt kinh tế, an ninh thì liệu nước bị mất lãnh thổ có sẵn sàng đánh trả để chiếm lại hay không? Nhìn vào Crimea, nhìn vào bãi cạn Scarborough thì câu trả lời đã rõ: Không! Không có nhà lãnh đạo nào muốn nhìn thấy lãnh thổ của mình bị xâm phạm, nhưng trước khi ra quyết định phản công, họ sẽ phải tự hỏi mình: điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta tấn công đội quân xâm lược, đặc biệt khi họ mạnh hơn ta?

Từ lâu, thay vì phát động chiến tranh tổng lực để đánh một cách trực diện, Trung Quốc tìm cách tạo ra tình huống “sự đã rồi”, với mục đích vừa mở rộng lãnh thổ, vừa kiểm soát rủi ro leo thang xung đột. Bằng cách tạo ra nhiều tình huống trong một khoảng thời gian dài, họ sẽ từng bước mở rộng được lãnh thổ, sức ảnh hưởng và quyền kiểm soát của mình mà vẫn hạn chế được sự chống trả từ đối phương.

Rõ ràng chống tiếp cận, chống xâm nhập không phải là một ý tưởng tồi. Về mặt lôgic, không thể loại trừ khả năng Trung Quốc sẵn sàng chủ động sử dụng vũ lực ở quy mô lớn để giải quyết tranh chấp và chiếm lãnh thổ của các nước láng giềng. Do đó, việc duy trì kho vũ khí cần thiết để ngăn không cho Trung Quốc chiếm đóng và khống chế những vùng biển ở Đông Á là hết sức cần thiết.

Tuy nhiên như đã phân tích, mối đe doạ trực tiếp ở trước mắt nhiều khả năng sẽ đến từ việc Trung Quốc bất ngờ tạo ra “sự đã rồi”, từ đó đặt đối phương vào thế bị động và không sẵn sàng sử dụng vũ lực để đáp trả, “gót chân Achilles” của các đối tác của Mỹ ở Đông Á không nằm ở vũ khí mà nằm ở ý chí. Việt Nam, Philippines, Nhật Bản hoàn toàn có khả năng tấn công trả đũa Trung Quốc nhưng họ có sẵn sàng làm điều đó không lại là chuyện khác.

Ưu tiên lớn nhất hiện nay của Mỹ không phải là củng cố sức mạnh quân sự của những nước này, mà là duy trì cam kết của mình đối với an ninh của khu vực và giúp những nước đối tác giảm sự lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Nếu như những nước láng giềng của Trung Quốc cảm thấy đối mặt với trừng phạt kinh tế của Trung Quốc là cái giá có thể chấp nhận được để bảo vệ lãnh thổ của mình, thì khi đó chống tiếp cận, chống xâm nhập sẽ phát huy được hiệu quả tối đa.

Xét cho cùng, dù xoay trục hay không xoay trục, dù CPTPP có thể không có lợi quá nhiều cho Mỹ xét trên khía cạnh kinh tế – thương mại đơn thuần, thì về mặt chiến lược lâu dài phải chăng Mỹ vẫn nên là một phần của hiệp định này?

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới