Chính sách của Nhật Bản đối với vấn đề Biển Đông hiện nay và tác động đối với khu vực (Kỳ II)

Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã, đang tích cực đóng góp vào việc bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và thúc đẩy giải quyết hòa bình, theo luật quốc tế các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Việc Nhật Bản tăng cường can thiệp trong vấn đề Biển Đông có tác động, ảnh hưởng nhất định đối với khu vực.

Nhật Bản duy trì sự hiện diện quân sự trong khu vực và hỗ trợ xây dựng năng lực cho các nước ven biển

Nhật Bản duy trì sự hiện diện trong khu vực thông qua hoạt động thăm viếng quân sự của tàu hải quân đến các nước kết hợp diễn tập chung nâng cao năng lực; và hỗ trợ ODA mua sắm trang thiết bị cho lực lượng chấp pháp biển của các nước ven Biển Đông. Nhật Bản coi việc hỗ trợ năng lực cho các nước ven biển là cần thiết đối với việc đảm bảo an toàn tự do hàng hải dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Hỗ trợ ODA phần cứng tập trung vào các thiết bị chính như như tàu tuần tra, máy bay tuần tra và các trang thiết bị khác. Hỗ trợ ODA phần mềm được thực hiện thông qua hình thức kết hợp đào tạo, huấn luyện và tập trận chung khi tàu hải quân Nhật thăm viếng các nước hoặc chương trình trao đổi đoàn và đào tạo, huấn luyện riêng. Hoạt động hỗ trợ năng lực quốc phòng thông qua đào tạo huấn luyện, tập trận chung đã được Nhật Bản chỉ ra tại văn bản về Bản Hướng dẫn Phòng vệ Quốc gia Nhật Bản năm 2013 đưa các hoạt động đào tạo, huấn luyện, tập trận chung này cùng song song với các hỗ trợ về ODA và các sáng kiến ngoại giao của Nhật Bản. Trong các nước ven biển được hỗ trợ xây dựng năng lực, Nhật Bản tập trung vào Việt Nam và Philippines.

Đối Với Việt Nam: (1) Tháng 3/2014, khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thăm Nhật Bản, hai nước Việt Nam và Nhật Bản đã ký Hiệp định Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng, trong đó có điều khoản Nhật Bản sẽ tăng cường hỗ trợ năng lực cho các cơ quan chấp pháp trên biển của Việt Nam. Kể từ đó cho đến nay đã có nhiều hoạt động triển khai hỗ trợ năng lực trên biển của Nhật Bản cho Việt Nam. Ngay sau đó, trong chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Nhật Bản Kishida, Nhật Bản đã tuyên bố sẽ hỗ trợ ODA không hoàn lại 6 tàu tuần tra biển cho Việt Nam. Các tàu tuần tra này có trọng tải từ 600 - 800 tấn và sẽ được Việt Nam sử dụng cho mục đích tuần tra trên biển. Nhật Bản thậm chí cũng đề nghị hỗ trợ thêm các tàu tuần tra mới cho Việt Nam. (2) Nhật Bản thực hiện nhiều hoạt động trao đổi hỗ trợ đào tạo cho cán bộ quốc phòng Việt Nam. Thông qua Quỹ hòa bình Sasakawa, kể từ năm 2014, quỹ này đã có chương trình trao đổi cán bộ quốc phòng với các nước Đông Nam Á trong đó hàng năm đều có các đoàn cán bộ quốc phòng của Việt Nam sang Nhật theo chương trình này. Nhật Bản hiện đang đề nghị hợp tác đào tạo cho cán bộ Việt Nam về các hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ nhân đạo và các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc (PKO). (3) Nhật Bản cũng thực hiện nhiều hoạt động diễn tập trung trên biển nhằm đào tạo năng lực cho lực lượng chấp pháp của Việt Nam. Tháng 2/2016, một phi đội của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản bao gồm hai máy bay tuần tra P-3C đã cùng Việt Nam thực hiện các hoạt động diễn tập trên biển. Một trong các nội dung diễn tập là máy bay P-3C của Nhật Bản sẽ cùng tàu của Việt Nam hỗ trợ cứu tàu dân sự gặp nạn trên biển. Tháng 3/2016, lần đầu tiên 2 tàu khu trục Nhật Bản đã thăm cảng Cam Ranh Việt Nam. Tháng 6/2017, hải quân của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản đã có hoạt động tập trận chung với Việt Nam tại Đà Nẵng. Tham gia tập trận là tàu Echigo của Nhật trọng tải 3100 tấn có khả năng trở trực thăng, còn Việt Nam sử dụng các tàu tuần tra đã được Nhật Bản cung cấp. Các hoạt động tập trận liên quan đến chống tàu đánh bắt cá trái phép trên biển. Trong năm 2018, Nhật Bản đã nhiều lần cử tàu chiến hiện đại thăm và giao lưu với hải quân Việt Nam.

Đối với Philippines: (1) Từ năm 2011 dưới thời cầm quyền của Tổng thống Philippines Aquino, Nhật Bản và Philippines đã có các thoả thuận về hợp tác an ninh bảo vệ đường biển, trong đó có đường biển tại Biển Đông. Theo đó, hai bên tăng cường hợp tác về hải quân và cảnh sát biển. Năm 2013, trong chuyến thăm Philippines của Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida, Ngoại trưởng Kishida đã nhấn mạnh quan hệ đối tác chiến lược với Philippines và cam kết hỗ trợ Philippines trong việc đối phó với các tranh chấp ngày càng tăng lên với Trung Quốc ở Biển Đông xoay quanh sự kiện Trung Quốc chiếm bãi Scarborough năm 2012. Tháng 7/2013, trong chuyến thăm cấp cao Philippines, Thủ tướng Nhật Abe đã cam kết hỗ trợ Philippines 10 tàu tuần tra thông qua hình thức hỗ trợ ODA nhằm củng cố năng lực cho lực lượng cảnh sát biển của Philippines. Tháng 3/2016, tại Philippines, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản đã ký hiệp định chuyển giao trang thiết bị quốc phòng với Philippines. Theo đó, Nhật Bản sẽ chuyển giao cho Philippines 05 máy bay tuần tra TC-90 đã hết hạn sử dụng ở Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản nhằm nâng cao năng lực tuần tra trên biển cho Philippines. Tại thời điểm này, các máy bay tuần tra trên biển của Philippines chỉ có bán kính hoạt động là 300km. Các máy bay tuần tra mới chuyển giao này của Nhật Bản cho Philippines sẽ có tầm hoạt động sẽ bao trùm toàn bộ quần đảo Trường Sa và có khả năng giám sát các hoạt động bằng hình ảnh. Trong cuộc gặp với Tổng thống Philippines Duterte vào tháng 9/2016, Thủ tướng Nhật Abe đã đồng ý hỗ trợ thêm cho Philippines hai tàu tuần tra cỡ lớn dài 90m. (2) Nhật Bản triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ đào tạo cho cán bộ chấp pháp/quốc phòng của Philippines. Cuối năm 2014, Nhật Bản và Mỹ cũng đã tổ chức tập trận ba bên với hải quân Philippines với sự tham gia của tàu tên lửa dẫn đường Ticonderoga của Mỹ và tàu khu trục JS Sazanami của Nhật Bản, thực hiện các hoạt động bắn đạn thật và trao đổi thông tin liên lạc. Tháng 3/2016, tàu ngầm Oyashiyo cùng với các tàu khu trục Ariake và Setogiri đã thăm cảng Subic của Philippines lần đầu tiên sau 15 năm. Tháng 5/2015, sau khi thực hiện các nhiệm vụ ở Vịnh Aden, hai tàu khu trục của Nhật Bản đã tham gia tập trận hải quân cùng Phillippines ở Biển Đông. Tháng 6/2016, Nhật Bản cùng Mỹ cũng tham gia tập trận ba bên với Philippines ở khu vực quần đảo Palawan nhằm nâng cao khả năng tương tác và phối hợp hành động của hải quân ba nước. Ngày 13/7/2016, ngay sau khi Toà Trọng tài ra phán quyết về tranh chấp trên biển giữa Philippines và Trung Quốc, Nhật Bản và Philippines đã tổ chức tập trận của cảnh sát biển hai nước ở gần Vịnh Manila. Tháng 6/2017, tàu Echigo Nhật Bản cũng tham gia tập trận chống cướp biển với Philippines bằng các tàu do Nhật Bản hỗ trợ cho Philippines tại Davao.

Đối với Indonesia: Mặc dù Indonesia không phải là một bên trong tranh chấp Biển Đông nhưng Nhật Bản nhìn nhận Indonesia là một nước lớn có tiếng nói quan trọng trong ASEAN đối với các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông và bản thân vùng biển của Indonesia cũng bị ảnh hưởng do yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc. Tháng 12/2016, Nhật Bản và Indonesia đã thoả thuận thành lập Diễn đàn Biển Nhật Bản - Indonesia. Theo đó, hai bên sẽ củng cố hợp tác hải quân hai nước và Nhật Bản sẽ giúp Indonesia phát triển các đảo xa bờ nhằm củng cố năng lực bảo vệ vùng biển cho Indonesia. Tháng 9/2017, sau cuộc gặp của cố vấn đặc biệt của Thủ tướng Nhật Abe với Bộ trưởng Nghề cá Indonesia, hai bên đã thảo luận cụ thể 6 khu vực hợp tác biển trong đó bao gồm quần đảo Natuna chồng lấn với “Đường lưỡi bò”. Các lĩnh vực Nhật Bản đồng ý trợ giúp cho Indonesia bao gồm xây dựng các cảng cá, đóng các tàu tuần tra biển, tàu đa chức năng và xây dựng hệ thống rada và vệ tinh biển nhằm phát hiện các tàu cá nước ngoài xâm phạm vùng biển của Indonesia. 

Xu hướng chính sách Biển Đông của Nhật Bản:

Trong thời gian tới, Nhật Bản sẽ tiếp tục duy trì chính sách Biển Đông như hiện nay, song sẽ có một số điều chỉnh nhỏ nhằm duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Cụ thể: (1) Tiếp tục thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông: Nhật Bản tiếp tục kêu gọi các bên tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông, ủng hộ các nước ASEAN đấu tranh chống việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo tại Trường Sa, thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông tại các diễn đang quốc tế. Đồng thời, Nhật Bản tiếp tục lên tiếng yêu cầu các nước liên quan xác định rõ quyền lợi biển của mình trên cơ sở luật pháp quốc tế, ủng hộ việc nhanh chóng xây dựng bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), phê phán hoạt động bồi lấp và xây dựng hạ tầng của Trung Quốc tại một số đảo đá ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (2) Nhật Bản sẽ thúc đẩy hỗ trợ một số nước ASEAN nâng cao năng lực tuần tra, kiểm soát trên biển. Một mặt, Nhật Bản sẽ hỗ trợ trang bị cho các nước liên quan trực tiếp tranh chấp ở Biển Đông như Việt Nam, Philippines nhằm tăng cường khả năng cảnh báo trên biển và củng cố lực lượng tiền duyên của các nước này để đối phó với Trung Quốc. Mặt khác, Nhật Bản sẽ thông qua các hình thức huấn luyện, diễn tập quân sự chung với các nước ASEAN để nâng cao khả năng quân sự của các nước này và giúp cho quân đội Nhật Bản thông thạo tình hình thực tế trong khu vực Biển Đông, nhằm thử nghiệm cho việc tuần tra, giám sát của Nhật Bản tại khu vực biển này. (3) Tiếp tục củng cố mối quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ: Nhật Bản coi quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ là khuôn khổ cơ chế hợp pháp cho việc can dự vào  Biển Đông. Chiến lược bảo đảm an ninh quốc gia của Nhật Bản chỉ rõ là những nước có mạng lưới thương mại toàn cầu phụ thuộc vào đường biển, Mỹ và Nhật Bản luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì trật tự trên biển dựa trên nền tảng luật pháp quốc tế, trong đó có quyền tự do hàng hải và hàng không. (4) Nhật Bản tiếp tục thông qua việc hỗ trợ một số nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông, để đổi lại sự ủng hộ của các nước này đối với Nhật Bản trong vấn đề Biển Hoa Đông; từng bước tạo mối liên kết giữa Nhật Bản với một số nước Đông Nam Á trong vấn đề tranh chấp trên biển nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới. (5) Nhật Bản sẽ duy trì sự hiện diện quân sự trong khu vực. Trong thời gian tới, Nhật Bản tiếp tục duy trì sự hiện diện trong khu vực thông qua hoạt động thăm viếng quân sự của tàu hải quân đến các nước kết hợp diễn tập chung nâng cao năng lực; hỗ trợ ODA mua sắm trang thiết bị cho lực lượng chấp pháp biển của các nước ven Biển Đông.

Tác động từ chính sách của Nhật Bản về vấn đề Biển Đông đối với khu vực

Đối với ASEAN, trong bối cảnh Nhật Bản tích cực can dự vào khu vực và vấn đề Biển Đông nhằm tăng cường và cạnh tranh ảnh hưởng, điều đó sẽ buộc Trung Quốc phản ứng theo nhiều hướng khác nhau, trong đó có cả việc tăng cường hợp tác trên tất cả các lĩnh vực để giữ và phát huy ảnh hưởng của mình ở khu vực. Theo đó, cả Nhật Bản và Trung Quốc sẽ đều tích cực tham gia vào các cơ chế của ASEAN, các sáng kiến đa phương, hỗ trợ về kỹ thuật và đóng góp cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia ASEAN; nâng cao năng lực trên biển cho các quốc gia từ sự hỗ trợ và hợp tác của cả hai quốc gia này. Cách tiếp cận của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông tại các diễn đàn đa phương của ASEAN là nêu vấn đề tự do hàng hải, giải quyết tranh chấp hòa bình và tuân thủ luật pháp quốc tế, đưa ra các sáng kiến về an toàn, an ninh biển. Sự tương đồng này, cùng với thái độ chủ động và tích cực của Nhật Bản, vấn đề Biển Đông sẽ được duy trì và thảo luận liên tục trong chương trình nghị sự của ASEAN, lôi kéo được sự chú ý và quan tâm từ các đối tác bên ngoài của ASEAN như Ấn Độ, Nga, Australia … Việc biến vấn đề Biển Đông thành mối quan tâm chung của cộng đồng thế giới sẽ gây được áp lực đối với Trung Quốc, kiềm chế và giảm bớt hành vi quyết đoán của Trung Quốc. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, cách tiếp cận của Nhật Bản về vấn đề Biển Đông cũng tạo ra một số thách thức đối với ASEAN. Vì quan điểm cách tiếp cận vấn đề Biển Đông và quan điểm mối quan hệ với Trung Quốc của các quốc gia ASEAN là khác nhau. Chính sự khác biệt này sẽ tạo ra sự chia rẽ trong nội khối ASEAN, cản trở sự đoàn kết nội khối.

Đối với Việt Nam: Nhật Bản đã nhiều lần lên tiếng phản đối các hành động như xây dựng và quân sự hóa các đảo trên biển ở quy mô lớn của Trung Quốc; ủng hộ phán quyết của Toà trọng tài; phản đối các hành động đơn phương của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp trên biển; đưa thông tin về vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vào vùng biển Việt Nam và các hoạt động đâm va có chủ ý của tàu Trung Quốc... Qua chính sách và các hành động trên thực tế như hiện nay của Nhật Bản, có thể dự đoán Nhật Bản sẽ tiếp tục có tiếng nói mạnh mẽ về vấn đề Biển Đông trên các diễn đàn song phương và đa phương trong thời gian tới. Nhật Bản là một nước có uy tín và vị thế lớn về kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao ngoài khu vực. Việc Nhật phối hợp với các nước lớn khác như Mỹ, Australia, Ấn Độ lên tiếng về tình hình Biển Đông sẽ có lợi cho Việt Nam trong việc ngăn chặn các hành động đơn phương không tuân theo luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ phải tính toán nhiều hơn đến phản ứng quốc tế khi muốn tiến hành các hành động gây hấn trên Biển Đông. Không những vậy, Nhật Bản là quốc gia có tiềm lực mạnh về kinh tế, năng lực biển của Nhật Bản cũng rất phát triển. Do đó, với khoảng cách chênh lệnh về sức mạnh trên biển giữa Trung Quốc với Việt Nam nói riêng và với các quốc gia ASEAN nói chung như hiện nay, Nhật Bản sẽ tăng cường hỗ trợ và xây dựng năng lực trên biển cho Việt Nam thông qua hỗ trợ cả về phần cứng (tàu tuần tra, trang thiết bị bán quân sự…) và phần mềm (huấn luyện và đào tạo…). Hợp tác trong lĩnh vực an ninh quốc phòng còn là đòn bẩy để tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực khác, góp phần tạo dựng lòng tin giữa hai quốc gia, đưa mối quan hệ hai nước phát triển cả về bề rộng và chiều sâu. Bên cạnh những nhân tố thuận lợi, chính sách chủ động và tích cực của Nhật Bản vào vấn đề Biển Đông cũng sẽ tạo ra những thách thức đối với Việt Nam: (1) Tạo nên sức ép trong quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc - Việt Nam. Việc Nhật Bản đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh sẽ tạo ra một số khó khăn cho Việt Nam trong việc xử lý quan hệ với Trung Quốc cũng như với các quốc gia ASEAN khác, đặc biệt là trong vấn đề tranh chấp biển Hoa Đông. Những vấn đề như vậy sẽ khiến cho việc bày tỏ thái độ và lập trường của Việt Nam sẽ gặp khó khăn bởi sẽ phải tính đến thái độ của cả Trung Quốc và Nhật Bản, ASEAN, ảnh hưởng đến đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam. (2) Tạo ra sự chia rẽ nội khối, gia tăng sự khác biệt và quan điểm trong mối quan hệ với Trung Quốc của các quốc gia ASEAN, từ đó gây ra khó khăn cho Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông theo hướng có lợi cho Việt Nam. Chính sách can dự của Nhật Bản, cùng với chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ đã tạo ra sự xung đột, cạnh tranh quyết liệt với chính sách Biển Đông của Trung Quốc; khoét sâu thêm sự chia rẽ trong ASEAN về vấn đề Biển Đông giữa một bên là các quốc gia có lợi ích trực tiếp như Philippines và Việt Nam với một bên là các quốc gia không có tranh chấp như Myanmar, Lào và Campuchia.

Đối với Trung Quốc: Trong xu thế vừa hợp tác vừa cạnh tranh và vừa kiềm chế lẫn nhau, quan điểm của Nhật Bản đối với Biển Đông sẽ có những tác động nhất định đối với Trung Quốc trên nhiều góc độ khác nhau. (1) Vấn đề Biển Đông là một trong những yếu tố tác động đến lòng tin chính trị giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN. Việc giải quyết vấn đề Biển Đông một cách công bằng, hợp lý sẽ trở thành mắt xích quan trọng để hai bên tăng cường lòng tin chính trị và triển khai quan hệ hợp tác an ninh trong khuôn khổ Cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc - ASEAN. Để giải quyết vấn đề Biển Đông một cách hòa bình, Trung Quốc đã đưa ra tư tưởng tiếp cận kép với nội dung: Tranh chấp cụ thể do các nước trực tiếp liên quan giải quyết hòa bình thông qua đàm phán, hiệp thương dựa trên cơ sở tôn trọng sự thực lịch sử và luật pháp quốc tế; ổn định, hòa bình Biển Đông do Trung Quốc và các nước ASEAN cùng chung sức bảo vệ. Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề Biển Đông bằng đàm phán song phương. Chính sách của Nhật Bản đã tạo ra sự tương phản với chính sách của Trung Quốc. Theo nhận xét của nhiều giới quan sát, Nhật Bản đã sử dụng thành công Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc, làm nổi bật bản chất chính sách “kẻ thắng người thua” với chiêu bài “cùng thắng” của Trung Quốc. Hiểu theo nghĩa đó, Nhật Bản đã thách thức Trung Quốc về mặt ngoại giao trên vấn đề Biển Đông. (2) Là một cường quốc về công nghệ trên thế giới và là cường quốc biển tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, sự giúp đỡ của Nhật Bản về trang bị và kỹ thuật quân sự cho các nước như Philippinesin, Việt Nam cũng như việc huấn luyện, tiến hành diễn tập quân sự chung sẽ tăng cường khả năng quân sự của các nước này, qua đó gia tăng áp lực quân sự đối với Trung Quốc. Chiến lược bảo đảm an ninh quốc gia của Nhật Bản quy định Nhật Bản sẽ đứng trên quan điểm chủ nghĩa hòa bình tích cực, thông qua trang bị phòng thủ linh hoạt, tích cực tham gia hợp tác quốc tế và đóng góp cho hòa bình khu vực, thay thế 3 nguyên tắc xuất khẩu vũ khí bằng 3 nguyên tắc chuyển giao công nghệ và trang bị phòng thủ, nâng cao sức mạnh quân sự Nhật Bản thông qua trang bị vũ khí sử dụng linh hoạt. Điều này cho phép Nhật Bản có thể chuyển giao trang bị quân sự thuận tiện hơn, không chỉ cho Philippines, Việt Nam mà còn các nước khác trong khu vực Biển Đông như Indonesia, Malaysia. Đặc biệt, khuôn khổ liên minh quân sự giữa Mỹ và Nhật Bản đã được áp dụng cho các vấn đề an ninh biển. Phương hướng chính sách và biện pháp thực hiện của Nhật Bản đối với vấn đề Biển Đông sẽ gây sức ép quân sự lớn hơn đối với Trung Quốc cả về tương quan so sánh lực lượng và sự lựa chọn sử dụng lực lượng quân sự trên biển.

Nhìn chung:

Khu vực Biển Đông là địa bàn chiến lược quan trọng trong đó các nước lớn tranh giành ảnh hưởng và kiềm chế lẫn nhau. Kiềm chế quá trình triển khai chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc là một phần trong chiến lược của Nhật Bản tại Biển Đông. Nhật Bản có lợi ích, có chính sách hỗ trợ năng lực chấp pháp biển cho các nước trong khu vực. Nhật Bản can dự vào khu vực Biển Đông là do có lợi ích trực tiếp đối với khu vực này. Để đảm bảo lợi ích của mình Nhật Bản gắn lợi ích với nguyên tắc “duy trì trật tự toàn cầu dựa trên luật lệ”, duy trì một khu vực “Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và mở”. Các nước ven biển trong ASEAN đặc biệt là các nước có yêu sách như Việt Nam và Philippines là đối tượng chính được Nhật Bản đặt trọng tâm hỗ trợ xây dựng năng lực chấp pháp biển nhằm giúp các nước này tăng cường khả năng chấp pháp trên biển.

Tin mới

Các tin khác