• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Một thập kỷ đầy rẫy bất ổn ở Biển Đông (Phần 2)

Ngày 07/5/2019 đánh dấu tròn 10 năm ngày Trung Quốc chính thức công khai yêu sách phi lý theo “đường chín đoạn” ở Biển Đông, biến khu vực vốn đã có nhiều “sóng gió” do các tranh chấp biển đảo trở thành một trong những điểm nóng của thế giới, đưa đến hàng loạt bất ổn mới và nguy cơ xung đột vũ trang hiện hữu không chỉ giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực mà cả với các nước ngoài khu vực. Nhìn lại tình hình khu vực Biển Đông 10 năm qua để thấy rõ các tác động tiêu cực to lớn đối với an ninh khu vực do tham vọng bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông thông qua yêu sách phi lý “đường chín đoạn”.

Về chính sách, trong báo cáo chính trị trình Đại hội đảng 18, Trung Quốc đã xác định chiến lược “xây dựng cường quốc biển” và coi nhiệm vụ này là một thành tố không thể thiếu trong đại chiến lược “phục hưng Trung Hoa” của Trung Quốc. Nhiều thành tố của chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc đã được cụ thể hóa trong chương về biển (chương 41) của kế hoạch năm năm lần thứ 13 (2016 - 2020), trong đó liên quan đến vấn đề Biển Đông, nhiều dự án tài nguyên và môi trường do Trung Quốc đề xuất liên quan trực tiếp đến khu vực Biển Đông như dự án “khôi phục các đảo và đá sinh thái”, xây dựng hải đăng ở đá Xu Bi để “cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cho hoạt động hàng hải ở Biển Đông”[1]. Theo các học giả Trung Quốc và quốc tế, mục tiêu chiến lược biển của Trung Quốc gồm các mục tiêu kinh tế, an ninh chiến lược và chính trị đối ngoại. Trong đó, đáng lưu ý nhất là việc phấn đấu đưa GDP kinh tế biển từ mức 10% hiện nay lên mức 20-30% vào năm 2050, trong đó chú trọng đến việc khai thác các nguồn tài nguyên biển, kể cả ở khu vực Biển Đông.Về mục tiêu an ninh, chiến lược và đối ngoại, một trong những điểm đáng báo động là việc “giai đoạn 2021 - 2040, Trung Quốc sẽ sử dụng sức mạnh tổng hợp của quốc gia để tìm cách giải quyết các vấn đề quan trọng như vấn đề Biển Đông. Cụ thể, Trung Quốc sẽ từng bước chiếm lĩnh và khai thác những hòn đảo và bãi san hô mà bị các nước khác chiếm đóng với sách lược tự mình khai thác là chính còn hợp tác khai thác hoặc cùng khai thác chỉ là phụ. Giai đoạn 2040-2050, trùng với giai đoạn kỷ niệm 100 năm thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quản lý không có trở ngại đối với vùng biển trên 3 triệu km2 bao gồm toàn bộ Biển Hoa Đông và “toàn bộ đường chín đoạn ở Biển Đông”, sử dụng tự do thích hợp biển quốc tế và nguồn tài nguyên”[2]. Cùng với đó, liên tiếp trong các kỳ họp của Quốc hội Trung Quốc, vấn đề “sẽ làm lớn mạnh kinh tế biển, kiên quyết bảo vệ quyền và lợi ích biển”, “tăng cường hệ thống phòng thủ biên giới, trên biển và trên không hiện đại, lớn mạnh, vững chắc” đã được Trung Quốc khẳng định và kéo theo đó là sự gia tăng ngân sách quốc phòng ở mức gần 10%/năm, đặc biệt cho lực lượng hải quân Trung Quốc.

Về pháp lý, Trung Quốc tiếp tục ban hành nhiều văn kiện pháp lý nhằm “cụ thể hóa”, “tái khẳng định” và “củng cố” yêu sách phi lý “đường chín đoạn” của mình như Tuyên bố của Chính phủ; Tuyên bố của Bộ Ngoại giao; Tuyên bố của Ủy ban Đối ngoại Quốc hội và Sách trắng của Chính phủ (ban hành ngay sau khi Tòa trọng tài vụ kiện Philippines - Trung Quốc ở Biển Đông ra phán quyết ngày 12/7/2016); gần đây “phát hiện” ra tài liệu từ năm 1951 khẳng định “đường chín đoạn” là đường nét liền (một đường), công bố tài liệu “Phê phán Phán quyết Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông” (2018)[3] để tiếp tục củng cố cơ sở lịch sử, pháp lý cho yêu sách “đường chín đoạn”, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc và có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng; đẩy mạnh việc phủ nhận và làm mất giá trị của Phán quyết ngày 12/7/2016[4]. Đồng thời, Trung Quốc cũng đẩy mạnh vận động, mua chuộc các nước và tích cực khai thác, sử dụng các nội dung, thủ tục theo luật pháp quốc tế có lợi cho mình trong vấn đề Biển Đông tại các diễn đàn Liên hợp quốc, Không liên kết[5].

Có thể nói rằng, với các lợi thế giành được trên Biển Đông trong những năm qua như việc mở rộng khu vực chiếm đóng, biến các công trình xây dựng, cải tạo trái phép thành các công trình lưỡng dụng, đẩy mạnh quân sự hóa, Trung Quốc đã có thêm nhiều cơ sở quan trọng và điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục bành trướng, tiến hành trên quy mô lớn với tần suất thường xuyên hơn các hoạt động trên thực địa như tuần tra, diễn tập; hỗ trợ cho các hoạt động vi phạm tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước ven biển và mở rộng tầm hoạt động xuống phía Nam Biển Đông cả trên không và trên biển, đe dọa an ninh, chủ quyền biển đảo không chỉ của các nước trong khu vực Biển Đông mà còn thách thức toàn bộ các hoạt động tự do, chính đáng khác ở khu vực Biển Đông của các nước ngoài khu vực, kể cả các nước lớn. Tất cả các bước đi và hành động nêu trên, Trung Quốc đã tiến thêm một bước đáng kể trong việc hiện thực hóa âm mưu độc chiếm Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình, điều mà học giả Marwyn Samuels đã dự đoán từ năm 1982 trong cuốn sách với tiêu đề “Cuộc chiến giành Biển Đông” (Contest for the South China Sea).

Phản ứng của các nước

Rõ ràng, chính sách và hành động đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông đã khiến các quốc gia trong khu vực Biển Đông thực sự lo lắng và phải tìm cách đối phó để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng trên biển của mình. Đầu tiên đó là việc gia tăng chi tiêu quốc phòng nhằm nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ biển của mình trước các thách thức mới ngày càng phức tạp và hiện hữu hơn, nhất là khả năng xảy ra các xung đột trên biển với Trung Quốc. Số liệu cho thấy, trong vòng 10 năm qua, ngân sách quốc phòng của các quốc gia trong khu vực đã gia tăng một cách đáng kể, trong đó ngân sách giành cho hải quân và các lực lượng chấp pháp trên biển chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi tiêu quốc phòng[6]. Song song với việc gia tăng mua sắm, đóng mới các loại trang thiết bị vũ khí như tàu ngầm, tàu chiến, hệ thống tên lửa, việc cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của các lực lượng trên biển cũng có bước phát triển mới, trong đó vai trò của lực lượng hải quân và bảo vệ bờ biển (Coast guard) không ngừng được đề cao.

Bên cạnh việc gia tăng chi tiêu quốc phòng, các nước trong khu vực đều có sự điều chỉnh chính sách đối với vấn đề Biển Đông theo hướng chủ động, tích cực và cứng rắn hơn. Điều này thể hiện ở các mặt sau: i) các quốc gia trong khu vực đều nhấn mạnh và đề cao vai trò của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển 1982, coi đây là nền tảng để các quốc gia trong và ngoài khu vực tiến hành các hoạt động liên quan đến biển cũng như là ‘thước đo” để đánh giá sự phù hợp của các hành động của các bên liên quan. Điều này được thể hiện rõ trong toàn bộ các tuyên bố chính sách của các nước trong khu vực, trên cả bình diện đơn phương, song phương và đa phương;[7]ii) Các quốc gia trong khu vực đã thúc đẩy mạnh việc hình thành các cơ chế đối thoại, hợp tác góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực như là thông qua Quy tắc hướng dẫn thi hành Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc (tháng 7/2011)[8] và chính thức đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) [9], Diễn đàn biển ASEAN và Diễn đàn biển ASEAN mở rộng…; iii) Chủ động đưa ra các sáng kiến như xây dựng Biển Đông thành khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác do Philippines đưa ra tháng 9/2011, thiết lập đường dây nóng giữa các quan chức cấp cao ASEAN - Trung Quốc để giải quyết trường hợp khẩn cấp trên biển và Tuyên bố chung về áp dụng các quy định tránh va chạm trên biển ASEAN - Trung Quốc (2016); iv) Thông qua các chính sách, chiến lược biển như Chiến lược Biển Việt Nam (2009), Chiến lược “Trục biển toàn cầu” của Indonesia (2016) hoặc đưa nội dung về bảo vệ quyền lợi biển thành một bộ phận quan trọng của Chiến lược Quốc phòng (Malaysia; Singapore…).

Đối với các nước ngoài khu vực, các hành động đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông đã đưa đến các thách thức nghiêm trọng đối với khả năng tiếp cận và tính ổn định của khu vực[10]. Nói một cách khác, quyền tự do hàng không, hàng hải và trật tự pháp lý trên biển ở khu vực Biển Đông đã bị đe dọa và phá hoại bởi các hoạt động của Trung Quốc, cùng với đó là các hành vi cưỡng ép của Trung Quốc đối với các nước trong khu vực trong các vấn đề trên biển, trong đó có các nước đồng minh của Mỹ. Điều này đã buộc các nước, đặc biệt là Mỹ và các nước đồng minh điều chỉnh chính sách theo hướng phản ứng cứng rắn và quyết liệu hơn trước việc Trung Quốc làm gia tăng căng thẳng, phá vỡ nguyên trạng và “quân sự hóa” Biển Đông. Nếu như trước đây, đối với chính sách và hành vi trên Biển Đông của Trung Quốc, Mỹ chỉ tập trung vào việc phát biểu chỉ trích, gia tăng can dự và cố gắng định hình hành vi cư xử của Trung Quốc thông qua các biện pháp “mềm” thì từ 2015 cho đến nay đã có bước chuyển mạnh. Minh chứng rõ ràng nhất là sau nhiều năm, nhất là kể từ 2015 đến nay, Mỹ đã gia tăng mạnh các hoạt động quân sự mang tính “thách thức” Trung Quốc như trên thực địa như đã tiến hành 17 chiến dịch tự do hàng hải ở Biển Đông (năm 2015: 01; 2016: 03; 2017: 04; 2018: 06 và 5 tháng đầu năm 2019: 03), cho máy bay ném bom chiến lược B52 nhiều lần bay quanh các đảo Trung Quốc chiếm đóng trái phép; khẳng định coi Trung Quốc là đối thủ và thách thức số 1 của Mỹ về địa chiến lược[11] và lên án trực diện hành động quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông và nhấn mạnh Trung Quốc sẽ phải đối diện với các “hậu quả nặng nề” do hành động này và coi Trung Quốc đã “nuốt lời hứa” về việc này, chỉ trích toàn diện các chính sách của Trung Quốc[12]

Bên cạnh Mỹ và các nước đồng minh trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương như Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, các nước lớn khác trong và ngoài khu vực như Ấn Độ, Anh, Pháp, Nga cũng gia tăng hoạt động của tàu thuyền quân sự, phương tiện bay và sự hiện diện quân sự ở khu vực Biển Đông. Nhiều chiến dịch tự do hàng hải, tập trận quân sự ở Biển Đông đã được Anh, Pháp, Úc, Nhật tự tiến hành. Một quốc gia vốn khá “cẩn trọng” trong cả lời nói và hành động trong mối quan hệ với Trung Quốc là Hàn Quốc cũng đã tự tiến hành các hoạt động tự do hàng hải của tàu quân sự ở Biển Đông.

Có thể nhận thấy, với sự can dự ở mức độ cao của các nước trong và ngoài khu vực trong vấn đề Biển Đông, sự gia tăng hiện diện của các phương tiện và lực lượng quân sự trong khu vực, nguy cơ cọ sát, xung đột quân sự ngày càng hiện hữu với những hệ quả khôn lường cho cả các quốc gia trong và ngoài khu vực.

(còn nữa)


[1] Liza Tobin, Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh, Học viện Hải chiến Mỹ, số mùa xuân 2018

[2] Liu Cigiu, “Striving to Realize the Historical Leap”, Chen Minyi “China Must Be Built into a Maritime Power”.

[3] Đây là tài liệu được Hội Luật quốc tế của Trung Quốc phát hành, song theo đánh giá của các học giả quốc tế thì đây là một công trình được sự bảo trợ của Chính phủ Trung Quốc với mục tiêu chính là bác bỏ thẩm quyền của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc; khai thác một số nội dung còn có quan điểm khác nhau trong Phán quyết để phủ nhận giá trị của Phán quyết.

[4] Công bố tài liệu “Phê phán Phán quyết Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông” với nội dung chủ yếu là khẳng định quyền lịch sử của Trung Quốc; Trường Sa “có đường cơ sở thẳng” bao quanh và có vùng đặc quyền kinh tế tính từ đường cơ sở này; UNCLOS 1982 không điều chỉnh vấn đề này mà là luật tập quán quốc tế; bác bỏ thẩm quyền của Tòa trọng tài; khai thác một số nội dung còn có quan điểm khác nhau trong Phán quyết để phủ nhận giá trị của Phán quyết.

[5] Không chấp nhận các thành tố như “tiến trình ngoại giao và pháp lý”, “cải tạo đất” và “quân sự hóa” đưa vào nội dung văn kiện Hội nghị Không liên kết; sử dụng ngay chính lời nói đầu của UNCLOS 1982 để khẳng định yêu sách lịch sử của mình...

[6] Asia defense spending: New arms race in the South China Sea, CNBC.com, 21 May 2015; The Arms Race in the South China Sea, Forbes.com, 20 December2017.

[7] Trong các văn kiện, tuyên bố chung giữa các nước trong khu vực; giữa các nước trong khu vực với các đối tác bên ngoài cũng như tại các diễn đàn đa phương, vấn đề tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, tôn trọng tiến trình ngoại giao pháp lý luôn được đề cấp một cách nhất quán.

[8] Quy tắc này được ASEAN và Trung Quốc bắt đầu đàm phán từ 2004

[9] ASEAN và Trung Quốc chính thức đàm phán COC từ năm 2018.

[10] M. Taylor Fravel, U.S. Policy Towards the Dispute in the South China Sea Since 1995.

[11] Chiến lược An ninh quốc gia của Mỹ được thông qua tháng 12/2017 và Chiến lược Quốc phòng được thông qua tháng 1/2018.

[12] Phát biểu của Phó Tổng thống Mike Pennce tại Viện Hudson, tháng 10/2018.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới