• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Về nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế ở Biển Đông hiện nay

Tranh chấp chủ quyền Biển Đông được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm và có nhiều nỗ lực tham gia. Tuy nhiên, để giải quyết được vấn đề này, đang đòi hỏi các nước và các bên liên quan phải nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp biển, đảo

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận rộng rãi trong nhiều văn kiện pháp lý song phương, đa phương, khu vực hoặc toàn cầu, trong đó, quan trọng nhất phải kể đến Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên bố ngày 24/10/1970 về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc. Đây được coi là các văn kiện điển hình có tính chất pháp lý và tầm ảnh hưởng rộng lớn đối với hành vi xử sự của các chủ thể luật quốc tế khi tham gia vào quan hệ quốc tế.Ngoài ra, có thể kể đến nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực khác cũng đề cập đến hệ nguyên tắc này như: Định ước Henxinki năm 1975 về an ninh và hợp tác giữa các nước châu Âu, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) năm 1976 (Hiệp ước Bali I); Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), Hiến chương ASEAN năm 2007; Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN năm 2004; Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN năm 2010, ...

Theo nội dung của các văn kiện pháp lý trên, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế bao gồm: (1) Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia.(2) Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.(3) Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế.(4) Nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia khác.(5) Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế.(6) Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác.(7) Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết. Tất cả các nguyên tắc này đều là kim chỉ nam, đường hướng cho vấn đề giải quyết tranh chấp quốc tế.

Đối với các tranh chấp chủ quyền trên biển như Biển Đông,các nguyên tắc trực tiếp và chủ yếu được vận dụng gồm:

Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia với giá trị thể hiện trên ba phương diện cơ bản: (1) bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ chứng minh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của mỗi bên tranh chấp. (2) bình đẳng trong lựa chọn phương thức quốc tế giải quyết tranh chấp. (3) bình đẳng trong vị thế giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế với giá trị thể hiện trên hai phương diện: (1) cấm hành vi xâm chiếm lãnh thổ biển, đảo quốc gia khác. (2) cấm hành vi sử dụng vũ lực hoặc các hành vi đe dọa dùng vũ lực để chiếm đóng hoặc khẳng định chủ quyền đối với vùng lãnh thổ. Mọi hiện trạng được tạo nên bởi kết quả của các cuộc xâm chiếm, dùng vũ lực hoặc các hành vi đe dọa, cưỡng ép đều không được thừa nhận bởi pháp luật và cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp, nguyên tắc này được vận dụng trong vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo với các khía cạnh khá đầy đủ và toàn diện của nội hàm giá trị nguyên tắc, theo đó: (1) các bên tranh chấp đều phải giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn, xung đột có liên quan trên cơ sở hòa bình; các hành vi chiến tranh hoặc sử dụng chiến tranh, vũ lực làm công cụ giải quyết tranh chấp là vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế.(2) Các bên phải sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp phát sinh.(3) Trên cơ sở pháp luật quốc tế, các bên có quyền tự do lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp.

Thứ tư, nguyên tắc tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế vận dụng trong vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo quốc gia với các giá trị về sự tuân thủ của các quốc gia - chủ thể luật quốc tế đối với điều ước quốc tế mà quốc gia đó là viên (ký kết hoặc gia nhập); việc thực thi và giải thích các quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên trong điều ước quốc tế một cách thiện chí. Các hành động cố tình giải thích sai quy định, tinh thần của điều ước đều bị coi là hành vi vi phạm quy phạm Jus cogens của luật quốc tế.

Nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp biển, đảo

Trong 4 nguyên tắc trên, nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế đang được hầu hết các nước theo đuổi, trong đó có Việt Nam. Hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế được coi là nguyên tắc cơ bản và nền tảng của pháp luật quốc tế hiện đại, cùng với nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế đã góp phần làm thay đổi về chất của luật quốc tế hiện đại. Hiến chương Liên hợp quốc 1945 tại Điều 2, khoản 3; Công ước Luật biển 1982, Điều 279 đã ghi nhận nguyên tắc này. Đây là nguyên tắc không có bất cứ ngoại lệ nào, các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế buộc phải tuân thủ triệt để. Nội dung cơ bản của nguyên tắc được thể hiện ở các điểm chính sau: (1) Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương thức (biện pháp) hòa bình, không phương hại đến hòa bình, an ninh, và công lý quốc tế. Các phương thức (biện pháp) hòa bình có thể là đàm phán, trung gian, hòa giải, trọng tài, Tòa án, hoặc các biện pháp hòa bình khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. (2) Các quốc gia trong tranh chấp có nghĩa vụ từ bỏ bất kỳ hành vi nào có thể làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại và gây nguy hiểm cho hòa bình, an ninh thế giới. (3) Các tranh chấp quốc tế được giải quyết trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, phù hợp và tự do lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp. Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và thực tiễn quốc tế thừa nhận rộng rãi gồm: đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, thông qua các cơ quan hay tổ chức quốc tế khu vực hoặc các biện pháp hoà bình khác do các bên lựa chọn. Đây cũng chính là nội dung Điều 33, khoản 1 Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận, góp phần hiện thực hóa nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế.

UNCLOS 1982 đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình giải quyết hoà bình các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. UNCLOS 1982 chứa đựng các quy phạm: (1) khẳng định sự tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trong xác lập, thực thi và giải quyết tranh chấp về chủ quyền biển, đảo (Lời nói đầu của Công ước).(2) quy định trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện một số nguyên tắc đặc thù của lĩnh vực biển, đảo mà các bên cần áp dụng trong vấn đề có liên quan (như nguyên tắc “đất thống trị biển” thể hiện qua Điều 2; nguyên tắc thỏa thuận và nguyên tắc công bằng thể hiện trong Điều 74, Điều 83).(3) quy định cụ thể cách thức, biện pháp và quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp.(4) quy định quy chế pháp lý các vùng biển, đảo và các vấn đề liên quan làm cơ sở để các bên giải quyết nội dung tranh chấp. Các Công ước Geneva năm 1958 được áp dụng trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khía cạnh: (1 đánh giá sự hợp lý trong lập luận của các bên về thực tiễn thể hiện yêu sách đơn phương các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia thông qua tính phù hợp và tương thích với các quy định của Công ước.(2) lựa chọn cơ sở pháp lý áp dụng phù hợp trong trường hợp các bên là thành viên khác nhau của Công ước Geneva năm 1958 với Công ước Luật biển 1982, bởi quy định trong nhiều vấn đề giữa hai điều ước quốc tế này có sự khác biệt (ví dụ: quy định về giá trị công bằng trong phân định biển, quy định về nội hàm khái niệm vùng thềm lục địa).

Lập trường, chính sách của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp Biển Đông hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và sự phát triển của thế giới

Giải quyết các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp vì liên quan đến nhiều nước, nhiều bên. Giữ vững chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và duy trì hoà bình ổn định ở Biển Đông là những vấn đề mang tính toàn cục. Giải quyết tranh chấp và xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ của ta với các nước.

Chủ trương của Việt Nam giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua biện pháp hoà bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982. Đối với các vấn đề liên quan đến hai nước Việt Nam - Trung Quốc (cửa Vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa) thì giải quyết song phương, vấn đề nào liên quan đến các bên khác (Trường Sa), liên quan đến tự do hàng hải thì cần có sự bàn bạc của các bên liên quan. Nếu các bên không giải quyết được bằng cơ chế đàm phán thì cần phải giải quyết bằng các phương thức khác như trung gian hòa giải hoặc bằng các cơ chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa án Quốc tế về Luật Biển và các tòa trọng tài. Trong khi chờ một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông, các bên liên quan cần nghiêm chỉnh thực hiện DOC; nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không làm phức tạp hóa tình hình, không có hành động vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải ở Biển Đông là mối quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực. Việt Nam hoan nghênh nỗ lực và đóng góp của tất cả các nước trong và ngoài khu vực vào việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Trên tinh thần đó, Việt Nam hoan nghênh và đánh giá cao việc cộng đồng quốc tế có những đóng góp xây dựng nhằm bảo vệ an ninh, an toàn hàng hải và duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông; phản đối sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử đụng vũ lực, ủng hộ việc các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, tôn trọng quyền của các quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phù hợp với luật pháp quốc tế, triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả DOC và khuyến khích các bên xây dựng COC.

Về đề nghị “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc, Việt Nam không phản đối. Việc áp dụng giải pháp tạm thời theo quy định của UNCLOS 1982 có trước khi các bên đàm phán để thống nhất được một ranh giới biển cho những vùng chồng lấn được hình thành bởi các yêu sách do các bên đưa ra theo các tiêu chuẩn của UNCLOS 1982. Tuy nhiên, Việt Nam không chấp nhận “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc là đường yêu sách để tạo thành vùng chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Do vậy, không thể “cùng phát triển” trong khu vực được tạo bởi “đường lưỡi bò” lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: