• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Về mục tiêu đóng tàu sân bay của Trung Quốc

Tháng 3/2009, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Liang Guanglie lần đầu tiên thông báo chính thức việc Trung Quốc có kế hoạch trang bị cho lực lượng Hải quân của mình (PLAN) 02 tàu sân bay không sử dụng nhiên liệu hạt nhân vào năm 2015. Một số thông tin không chính thức trên các phương tiện truyền thông còn cho rằng Trung Quốc có thể sẽ xây dựng thêm 02 tàu sân bay sử dụng nhiên liệu hạt nhân vào năm 2020.

Tuy nhiên, trước mắt có thể thấy Trung Quốc sẽ sản xuất một tàu sân bay cỡ trung bình (40.000 – 60.000 tấn) đủ khả năng giúp máy bay phản lực cất cánh và hạ cánh thông thường, hoặc như máy bay lên thẳng và sử dụng đường băng ngắn. Là cường quốc duy nhất trong Hội đồng Bảo an LHQ chưa sở hữu tàu sân bay, Trung Quốc coi việc sở hữu tàu sân bay là đòi hỏi cấp bách. Người dân Trung Quốc ví tàu sân bay như những viên ngọc quý trên chiếc vương miện của một lực lượng hải quân hùng mạnh và giúp tăng cường vị thế cường quốc [1].

          Từ những năm 1990, Trung Quốc đã bắt đầu chương trình hiện đại hóa quân đội để tăng cường khả năng chiến đấu trong “các cuộc chiến tranh khu vực với điều kiện hiện đại và sử dụng công nghệ cao”[2]. Năm 1992, Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua chương trình nghiên cứu phát triển tàu sân bay, tạo cơ sở pháp lý để PLAN mua lại 04 tàu sân bay cũ của các nước phục vụ việc nghiên cứu chế tạo, trong đó có tàu sân bay Vargav lớp Kuznetsov của Liên Xô cũ được sửa chữa lại tại cảng Đại Liên để chuyển đổi mục đích thành tàu huấn luyện. Tiến trình này được tăng tốc trước việc các tàu sân bay của Mỹ có những bước can thiệp vào cuộc xung đột giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Sau khi nghiên cứu các chiến thuật của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất và vai trò của tàu sân bay Mỹ tại eo biển Đài Loan, PLAN điều chỉnh quan điểm truyền thống trong học thuyết phát triển lực lượng hải quân từ ưu tiên lực lượng tàu ngầm chuyển sang phát triển được 01 tàu sân bay có đủ năng lực chiến đấu.

Về phạm vi triển khai tàu sân bay của Trung Quốc trong tương lai, sau khi Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào có tuyên bố năm 2004 về nhiệm vụ bổ sung của PLAN là “bảo vệ các lợi ích quốc gia mở rộng của Trung Quốc và bảo đảm hòa bình thế giới”[3], PLAN đã mở rộng phạm vi hoạt động từ chỗ không chỉ bảo vệ khu vực eo biển Đài Loan và vùng biển Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền, mà còn cả những tuyến giao thông đường biển quốc tế quan trọng. Cụ thể với các tàu sân bay, Thiếu tướng Qian Lihua, Giám đốc Văn phòng Đối ngoại Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết: “Câu hỏi không phải là liệu bạn có  tàu sân bay hay không, mà là bạn sẽ làm gì với chiếc tàu sân bay của mình?” “Các nhân viên của PLAN đang thảo luận về việc phát triển 03 hạm đội, thứ nhất là để tuần tra ở khu vực xung quanh Nhật Bản và Hàn Quốc, thứ hai là để hướng ra khu vực Tây Thái Bình Dương và thứ ba là để bảo vệ Ấn Độ Dương và eo biển Malacca”[4]. Mục đích của Trung Quốc càng thể hiện rõ hơn từ năm 2008, khi một đô đốc hải quân của Trung Quốc đã trao đổi trực tiếp với Tư lệnh Hải quân Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương Timothy Keating về khả năng Mỹ và Trung Quốc nên chia đôi quyền kiểm soát vùng biển Thái Bình Dương tính từ quần đảo Hawaii khi Trung Quốc có tàu sân bay.[5] Tuy nhiên, ý tưởng này của Trung Quốc đã nhận được câu trả lời khá rõ ràng của Mỹ. Trên cả phương diện tuyên bố và hành động, Mỹ ngày càng tỏ ra ưu tiên hơn cho lực lượng hải quân ở Thái Bình Dương và từ năm 2007, số lượng tàu của Hạm đội Thái Bình Dương (Hạm đội 7) đã lần đầu tiên vượt Hạm đội Đại Tây Dương.

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc phải cạnh tranh với Mỹ ở vùng biển Thái Bình Dương, liệu tàu sân bay của Trung Quốc có tác động tới tương quan lực lượng hải quân giữa hai nước trong khu vực hay không? Phải thấy rằng mặc dù nền công nghiệp đóng tàu của Trung Quốc sẽ vượt qua rất nhiều thách thức để tự sản xuất thì cũng chỉ chế tạo được một tàu sân bay có sức mạnh ở mức trung bình trong khoảng một thập kỷ. Để sản xuất tàu sân bay hiện đại với công nghệ cao đối trọng được với Mỹ, Trung Quốc sẽ còn mất rất nhiều thời gian. Trung Quốc phải giải quyết được bài toán về công nghệ chế tạo ở trình độ cao, cải tiến hệ thống chỉ huy và điều khiển, năng lực về khoa học hàng không, phát triển khả năng phòng thủ với đội tàu hộ tống đủ mạnh và nhất là đào tạo đội ngũ nhân lực đủ khả năng phục vụ trên tàu sân bay. Chắc chắn là trong nhiều thập kỷ tới, kể cả khi đã sở hữu từ 02 - 04 tàu sân bay, Trung Quốc vẫn chưa thể vượt qua được trình độ công nghệ vượt trội của Mỹ, cũng như chưa đủ khả năng cạnh tranh với lực lượng hải quân hùng hậu của Mỹ, cụ thể là 03 tàu sân bay của Mỹ thường xuyên duy trì sự hiện diện ở khu vực này./.



[1] Michael Hall, the Blue Water Dragon: China’s Emerging Aircraft Carrier Force and US responses, Naval War College 2008.

[2] Richard Weitz, “Enduring difficulties in China – US defense Diplomacy”, Korean Journal of Defense Analysis 21, no 4 (December 2009)

[3] Office of Naval Intelligence (ONI), The Peope’s Liberation Navy: A Modern Navy with Chinese Characteristics (Washington, DC: ONI, July 2009).

[4] “Chinese Hints at Aircraft Carrier Project””, The Financial Times, November 16, 2008.

[5] “You guys can have east part of the Pacific, Hawaii to the States. We’ll take the west part of the Pacific, from Hawaii to China”, discussed in Friedberg and Ross, report of Admiral Timothy Keating, 2008.


Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: