• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase
Error
  • JLIB_APPLICATION_ERROR_COMPONENT_NOT_LOADING
  • JLIB_APPLICATION_ERROR_COMPONENT_NOT_LOADING
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1
  • Error loading component: com_content, 1

BienDong.Net: Theo BBC, trong một báo cáo quan trọng vừa công bố, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington cho rằng từ khi trở thành lãnh đạo tối cao của Trung Quốc tháng 3/2013, ông Tập Cận Bình đã thâu tóm quyền lực vô cùng nhanh chóng, và tiến hành các sắp xếp nhân sự để bảo đảm rằng “toàn bộ các quyết định quan trọng đều phải xuất phát từ ông.

Bản báo cáo nhận xét: Các lãnh đạo Trung Quốc khi lên nắm quyền đều đề ra tư tưởng chiến lược mới. Với Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, đó là các cụm từ “Lý luận Đặng Tiểu Bình”, “Tư tưởng ba đại diện” và “Tư tưởng phát triển khoa học”.


Chủ tịch Tập Cận Bình (trái) và Thủ tướng Lý Khắc Cường

Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lại nói mục tiêu phát triển trong tương lai là thực hiện "Giấc mơ Trung Hoa", đem lại “sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa”, phấn đấu đến năm 2049, cũng là 100 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Bắc Kinh sẽ trở lại vị trí thống lĩnh khu vực.

Ông Tập đã nhắc đến khái niệm "Giấc mơ Trung Hoa" lần đầu tiên vào tháng 11/2012 khi được đề cử làm tổng bí thư. Thuật ngữ này được nhắc lại trong bài diễn văn với tư cách nguyên thủ quốc gia, giải thích rõ: "Để thực hiện giấc mơ Trung Hoa, chúng ta phải cổ súy tinh thần Trung Hoa, vốn lấy sự kết hợp tinh thần dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần của thời đại với cải cách và sự sáng tạo làm gốc".

Đó là một thông điệp đã gây được tiếng vang sâu sắc với công chúng. Theo khảo sát của Công ty Millward Brown, khoảng 70% người TQ nói nhận ra giấc mơ là quan trọng với họ. Sự nhấn mạnh về vinh quang quốc gia, chứ không phải là thành tích hoàn toàn cá nhân, là cốt lõi trong chủ thuyết mà Tập Cận Bình muốn dẫn dắt người dân nước này theo đuổi.

Một nhà phân tích tại China Market Research Group nhận xét: "Giấc mơ Trung Hoa khiến người dân đại lục tự hào hơn về những thành tựu quốc gia, một TQ đang vươn lên trở thành cường quốc, tham gia vào những quyết định quan trọng của thế giới".

Tuy nhiên, giấc mơ Trung Hoa được định nghĩa quá mơ hồ và vì thế có thể đại diện cho bất cứ cái gì. Nhiều nhà quan sát phương Tây xem đây là chiến dịch tuyên truyền của giới lãnh đạo mới nhằm chiếm được cảm tình của công chúng và bình ổn xã hội đang có nhiều rối ren. Rõ ràng điều này diễn ra trong lúc khó khăn ngày càng chồng chất đối với tầng lớp lãnh đạo: kinh tế sụt giảm, tham nhũng tràn lan, mâu thuẫn trong xã hội dâng cao...

Cuốn sách "Giấc mơ Trung Hoa: Tư duy đại cường trong thời đại hậu Mỹ” chỉ rõ giấc mơ mà Tập Cận Bình xây dựng là một quốc gia hùng mạnh hơn với quân đội hùng mạnh, nếu lạm dụng sẽ trở thành sự cổ suý cho chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy.

Theo đuổi giấc mơ này, TQ đang thiết lập lại chính sách "ngoại giao nước lớn" mà ngoại trưởng nước này không giấu giếm tuyên bố vào tháng 3/2014, trong đó TQ sẵn sàng "phá vỡ mô hình lịch sử của xung đột và đối đầu giữa các nước lớn" để khẳng định vị trí cường quốc của mình.

Trong khuôn khổ chiến lược mới do Tập Cận Bình khởi xướng, Bắc Kinh tiếp tục coi quan hệ ổn định với Mỹ là “mục tiêu đối ngoạI chủ chốt”. Tuy vậy, người tai vẫn không rõ các điều kiện của Trung Quốc đặt ra là gì để có “sự ổn định” này.

Có ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ coi quan hệ Mỹ - Trung hơi giống giai đoạn hòa hoãn giữa Mỹ và Liên Xô trước đây, nghĩa là tránh xảy ra xung đột trực tiếp.

Tuy nhiên, cũng có đánh giá bi quan hơn cho rằng Trung Quốc muốn Mỹ phải chấp nhận định nghĩa “lợi ích cốt lõi” của Bắc Kinh.

Trong tuyên bố của ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị hồi tháng 3/2014, ông này định nghĩa tôn trọng nhau là tôn trọng “chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống xã hội và con đường phát triển, và các lợi ích cốt lõi và quan ngại”.

 

Ông Tập Cận Bình tăng cường quan hệ với Nga

Theo CSIS, hai cách tiếp cận trái ngược này cùng hiện rõ trong hành vi của Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình. Một mặt, quân đội Mỹ - Trung đã cải thiện quan hệ, thậm chí “có dấu hiệu” Trung Quốc sẽ khó cắt đứt toàn bộ quan hệ quân sự nếu Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Tuy nhiên, trong những tháng gần đây, đã có những bằng chứng “đen tối hơn”. Hồi tháng 4/2014, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn, khi họp báo với người tương nhiệm Mỹ Chuck Hagel, kêu gọi Mỹ phải giữ Nhật Bản “trong vòng kiềm chế, không dễ dãi và ủng hộ”. Ông này cũng vu cáo đồng minh Philippines của Mỹ là “giả vờ làm nạn nhân” khi nộp đơn kiện Trung Quốc vì biển đảo. Nó cũng giống như các bình luận của quan chức và học giả Trung Quốc cho rằng quan hệ Mỹ - Trung bị xấu đi vì Mỹ ủng hộ các nước có mâu thuẫn với Trung Quốc.

Ngoại giao nước lớn

BBC dẫn báo cáo của CSIS cho rằng một điểm quan trọng trong chính sách ngoại giao thời Tập Cận Bình là việc nhắc lại quan niệm “ngoại giao nước lớn”, vốn được đề cập lần đầu tiên dưới thời Giang Trạch Dân.

Trước đây Chủ tịch Giang thừa nhận Trung Quốc vẫn phải chịu các hạn chế do Mỹ áp đặt, nhưng hiện nay, ngoại giao Trung Quốc đã đặt mối quan hệ với Mỹ ở trạng thái bình đẳng hơn.

Theo báo cáo, đương nhiên ông Tập muốn có quan hệ tốt và ổn định với Mỹ. Nhưng khác với các lãnh đạo Trung Quốc trước đây, ông Tập dường như muốn gửi tín hiệu cho Washington rằng “chúng tôi còn nhiều lựa chọn”. Nó thể hiện qua mối quan tâm của ông Tập dành cho Nga trong hợp tác an ninh, chính trị, và Châu Âu trong quan hệ thương mại.

Đối với Nhật Bản, Trung Quốc cho rằng họ cần hành xử như một đại cường, điều này dẫn đến hệ quả TQ đòi Nhật phải đứng thấp hơn trong quan hệ song phương và trong địa chính trị khu vực. Việc Trung Quốc thiết lập khu vực nhận diện phòng không trên Biển Hoa Đông là một trong những biện pháp nhằm tạo sức ép liên tục và gây cảm giác cô lập cho Nhật.

Tương tự, trong quan hệ với Bắc Triều Tiên, ông Tập muốn nói với Bình Nhưỡng rằng “quan hệ đặc biệt” trong quá khứ đã không còn, thay vào đó là quan hệ “bình thường” giữa nhà nước với nhau.

Quan hệ với ASEAN

Ông Tập Cận Bình gọi quan hệ với các nước Đông Nam Á “như môi với răng”. Ông hứa hẹn sẵn sàng cùng với các nước ASEAN bàn thảo việc ký kết Hiệp ước Láng giềng hữu nghị và Hợp tác. Chủ tịch Trung Quốc cũng hy vọng đến năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và ASEAN sẽ lên tới một nghìn tỷ đôla Mỹ.

Tuy vậy, báo cáo cho rằng không chắc Tập Cận Bình có thể thành công trong tuyên bố quan hệ hữu hảo với các nước Đông Nam Á. Mặc dù Bắc Kinh đã tăng mạnh đầu tư để “xây dựng kết nối”, vẫn có nghi ngờ ở nhiều nước ASEAN về nguy cơ phụ thuộc vào Trung Quốc, cũng như mối nghi ngờ rằng hợp tác kinh tế chủ yếu đem lại lợi ích cho Trung Quốc. Sự hung hăng hơn của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông cũng làm gia tăng mối lo ngại.

Theo báo cáo của CSIS, các lãnh đạo ASEAN nói chung có những nhận định như sau về chính sách ngoại giao dưới thời Tập Cận Bình:

Ông Tập là chủ soái: ASEAN cho rằng Tập Cận Bình đã thâu tóm quyền lực nhanh và hiệu quả hơn mọi lãnh đạo khác từ thời Đặng Tiểu Bình.

Dân tộc chủ nghĩa: ASEAN tin rằng ông Tập đặt lợi ích của Trung Quốc, gồm cả vấn đề chủ quyền, lên cao hơn mọi tính toán. Mặc dù Bắc Kinh nhấn mạnh quan hệ “đại gia đình” với Asean, Trung Quốc cũng quyết tâm giành ưu thế trong tranh chấp Biển Đông.

Ông Tập là cơ hội: Một lập luận trong khối ASEAN cho rằng chính sách ngoại giao của Tập Cận Bình sẽ nhấn mạnh hợp tác, chứ không thách thức hay kiểm soát các láng giềng. Tuy nhiên, quan điểm này dường như bị bác bỏ qua các hành động như vụ giàn khoan Hải Dương 981 gây rạn nứt quan hệ với Việt Nam.

Ông Tập là mối đe dọa: Một lập luận ngược lại cho rằng Trung Quốc sẽ có chính sách ngoại giao hung hăng hơn, đặc biệt nếu Bắc Kinh cho rằng Washington yếu thế và giảm bớt quan tâm đến khu vực.

Một nhận định khác từ báo cáo là ông Tập có vẻ muốn duy trì ấn tượng khủng hoảng để biện minh cho quyền lực to lớn của cá nhân ông ta, cũng như sự táo bạo và quy mô cải tổ mà ông xúc tiến ở trong nước.

Theo báo cáo của CSIS, ông Tập phải “tô vẽ một số lựa chọn khó khăn của đảng theo ngôn ngữ sống chết”. Một ví dụ là sự nhấn mạnh vấn đề biển đảo. Mô tả của ông Tập đối với các thách thức trên biển tỏ ra cứng rắn hơn và mang tính chất chiến lược. Họp với Bộ Chính trị tháng Bảy năm ngoái, ông Tập nói “đại dương và biển ngày càng có vị trí chiến lược quan trọng trong cuộc cạnh tranh toàn cầu trên các lĩnh vực chính trị, phát triển kinh tế, quân sự, và công nghệ”.

Ông Tập cũng ngụ ý rằng mặc dù Trung Quốc đang có cơ hội phát triển, nước này cũng đối diện đe dọa gia tăng. Ông nhấn mạnh xây dựng tư tưởng quân đội "phải biết đánh trận và đánh thắng, mở rộng chí tiến thủ, cải cách sáng tạo”.

Đánh giá về Tập Cận bình, báo cáo của CSIS nói cần xem xét hệ quả khi đối phó với một nhà lãnh đạo mà dường như nghĩ rằng rất cần duy trì “mức độ căng thẳng nhất định”, cả trong và ngoài nước, để đạt được các mục tiêu chính sách của ông.

BDN

Switch mode views: