• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Những bước tiến của Trung Quốc xuống biển Đông dưới ảnh sáng của luật pháp quốc tế

Năm 1956, khi quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc cho quân ra đánh chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, tức nhóm đảo Amphitrite (Nhóm Đông), lúc đó đang thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn. Trong khi phần phía Tây, nhóm đảo Crescent (Lưỡi Liềm), vẫn do quân đội Sài Gòn quản lý. Tháng 1 năm 1974, lợi dụng tình hình phức tạp thời kỳ bấy giờ, Trung Quốc đã huy động các lực lượng hải, lục, không quân đánh chiếm nốt phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa, hoàn thành việc xâm chiếm toàn bộ quần đảo này. Năm 1988, Trung Quốc dùng hải quân đánh chiếm một số bãi, đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đây là những hành động xâm lược lãnh thổ bất chấp luật pháp quốc tế.

Ngày nay theo luật quốc tế, chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ phải được thể hiện qua việc chiếm hữu hoà bình thực sự và hành xử liên tục chủ quyền trên lãnh thổ đó. Điều này có nghĩa là quốc gia chiếm hữu phải có sự hiện diện thường trực trên lãnh thổ được chiếm hữu, và phải có những hoạt động hoặc những hành vi có tính quốc gia đối với lãnh thổ đó. Do đó, hành động sử dụng vũ lực nói trên không giúp cho Trung Quốc xác lập chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi vì,trước khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa  (năm 1956 và năm 1974) và một số bãi, đá ở quần đảo Trường Sa (năm 1988) của Việt Nam thì hai quần đảo này đã có chủ. Trước đó vài thế kỷ, Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền của mình  một cách thật sự, liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo. Ngay từ đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn cử các Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải  ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng, để khai thác các nguồn lợi, tài nguyên của đảo và những hoá vật từ những tàu đắm. Năm 1835, Vua Minh Mạng đã cho xây đền, đặt bia đá trên hai quần đảo.  Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được giao thêm cả nhiệm vụ tuần tiễu, thu thuế trên đảo, bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi Pháp vào thống trị Đông Dương. Sau khi vào Hội An, Pháp tiếp tục thay mặt nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo. Năm 1932, Pháp khẳng định An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa và sáp nhập quần đảo này vào tỉnh Thừa Thiên. Năm 1933, Pháp sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco về ký hoà ước với Nhật. khi đại biểu một nước lớn đã đề nghị bổ sung Dự thảo Hòa ước nhằm mục đích giao 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc thì Hội nghị đã bác bỏ đề nghị đó với tuyệt đại đa số phiếu 46/51.  Tại Hội nghị, khi Nhật tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Đại diện chính phủ Bảo Đại là Thủ  tướng Trần Văn Hữu đã chính thức tuyên bố và khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối. Sau đó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã triển khai đóng quân trên hai quần đảo, quản lý hai Quần đảo theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954; đồng thời luôn khẳng định và thực thi chủ quyền một cách hoà bình và liên tục đối với hai quần đảo. Năm 1961, Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Quảng Nam. Năm 1973, quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy.

Thực tế là, vào đầu thế kỷ 20, “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” (xuất bản năm 1905, tái bản năm 1910), đã thể hiện rất rõ ràng điểm cực nam của Trung Quốc chỉ là đảo Hải Nam và “Trung Quốc địa lý học giáo khoa thử” (xuất bản năm 1906) ghi rõ điểm mút ở phía nam Trung Quốc là Châu Nhai, Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18013' bắc. Đó chính là lý do vì sao cho đến giữa thế kỷ 20, Trung Quốc không có chỗ đứng nào ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tất cả các bước tiến xuống Biển Đông của Trung Quốc đều phải sử dụng đến vũ lực để chiếm đoạt.

Như vậy, việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (vào năm 1956 và năm 1974) và một số bãi, đá thuộc quần đảo Trường Sa (năm 1988) đã chà đạp nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo và vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản nhất của luật pháp quốc tế, cụ thể là :

1. Vi phạm nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền quốc gia, theo đó, các quốc gia có nghĩa vụ phải tôn trọng chủ quyền, bình đẳng chủ quyền và  toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác.

2. Vi phạm nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, theo đó, các quốc gia bị cấm không được tiến hành một số hành vi, trong đó có việc cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ của quốc gia khác; và cấm các hành vi đe doạ, trấn áp bằng vũ lực.

Điều 2 và điều 4 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định rõ : “Các thành viên của Liên hợp quốc phải từ bỏ đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, cũng như sử dụng bất kỳ cách thức nào trái với các mục đích của Liên hợp quốc.”

Trung Quốc không thể sử dụng quy định trong điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc về ngoại lệ đối với nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế để bào chữa cho hành động chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa và một số bãi, đá ở quần đảo Trường Sa. Theo điều 51 của Hiến chương thì quốc gia thành viên của Liên hợp quốc chỉ có quyền sử dụng vũ lực để tự vệ chính đáng trong trường hợp bị xâm lược.

3. Vi phạm nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế đã được trịnh trọng ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong Công ước luật biển 1982 của Liên hợp quốc. Điều 2 khoản 3 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định rõ:  “Tất cả các thành viên Liên hợp quốc phải giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình.” Điều 279 của Công ước luật biển 1982 cũng quy định là các quốc gia thành viên có “nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hòa bình” theo đúng Điều 2 khoản 3 của Hiến chương Liên hợp quốc.”

4. Vi phạm những quy định cơ bản nhất của luật nhân đạo quốc tế. Năm 1988, khi đánh chiếm một số bãi, đá ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã chặn không cho tàu của Hội Chữ thập đỏ đến cứu một số tàu vận tải của Việt Nam bị Trung Quốc đánh chìm. 

Tóm lại, chiếu theo các quy định của luật pháp quốc tế, có thể nói rằng hành động của Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số bãi, đá ở quần đảo Trường Sa là hành động trắng trợn vi phạm nguyên tắc “cấm việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” và thực chất là “hành động xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực”.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: