• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Tài nguyên biển

Việt Nam từng có hệ sinh thái cỏ biển vô cùng phong phú

BienDong.Net: Việt Nam là một quốc gia có đường bờ biển dài, những công việc nghiên cứu về cỏ biển trước năm 1959 do người nước ngoài thực hiện. Từ năm 1960 trở lại đây, việc nghiên cứu cỏ biển do các nhà khoa học trong nước thực hiện.

Ðặc biệt, trong những năm 1996 - 1999 đề tài nghiên cứu cỏ biển trong phạm vi cả nước do Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia đã thu được khá nhiều tư liệu một cách có hệ thống về cỏ biển Việt Nam.

Lần đầu tiên cỏ biển được ghi nhận ở Việt Nam vào năm 1885 khi Balansa phát hiện ra loài cỏ Halophila ovalis và H. beccarii cửa sông Hồng ra biển tại tỉnh Quảng Ninh (theo Văn Tiến, 2008).

Có 14 loài cỏ biển được ghi nhận tại Việt Nam (Cymodocea rotundata, Cymodocea serrulata, Enhalus acoroides, Halodule pinifolia, Halodule uninervis, Halophila beccarii, Halophila decipiens, Halophila nhỏ, Halophila ovalis, Ruppia maritima, Syringodium isoetifolium, Thalassia hemprichii, ciliatum Thalassodendron và Zostera japonica).

alt 

Ở Việt Nam có cả các loài cỏ biển ôn đới và nhiệt đới, như loài Zostera japonica intertidally, Ruppia maritima ở phía bắc và Halophila ovalis ở phía bắc và miền Trung và Halodule pinifolia đặc biệt phổ biến các vùng biển phía nam.

Các khu vực cỏ biển được phân bố dọc bờ biển từ biên giới phía Bắc của Việt Nam với Trung Quốc, đến tận biên giới Tây Nam với Campuchia, nhưng chủ yếu là các khu vực miền nam. Tình trạng hiện tại của các vùng cỏ biển Việt Nam chưa có đánh giá chính xác, nhưng nói chung, các vùng ven biển Việt Nam đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi những trầm tích và ô nhiễm trong nguồn nước và do nông nghiệp.

So với các nước trong khu vực, Việt Nam đứng thứ 3 về đa dạng loài cỏ biển chỉ sau Ôx - trây - lia thứ nhất (20 loài) và Philipin đứng thứ hai (16 loài) (UNEP, 2004). Vùng biển Tây Nam Trung Bộ có đa dạng loài cao nhất (Côn Đảo: 10 loài; đảo Phú Quốc: 9 loài; Khánh Hòa: 9 loài; Bình Thuận: 8 loài; Phú Quí: 7 loài (Nguyễn Văn Tiến và cs, 2006), sau đó là Tam Giang – Cầu Hai và Lập An thuộc miền trung có 6 loài, vùng biển có thành phần loài cũng diện tích phân bố thấp là phía Bắc (Hạ Long, Cát Bà: 5 loài).

Các chuyên gia cho biết, nếu như trước 1995 diện tích các băi cỏ biển Việt Nam là 10.770 ha, đến năm 2003 chỉ còn hơn 4000 ha, nghĩa là mất đi 60%. Nhiều bãi cỏ biển ở Vịnh Hạ Long trước năm 1970 phát triển khá tốt với 5 loài cỏ biển, nhưng cho đến nay diện tích một số bãi cỏ đã bị suy giảm hoặc bị mất hoàn toàn. Trước khi xây cảng phục vụ du lịch ở Gia Luận (Cát Bà) có 4 loài cỏ biển (Halophila ovalis, H. beccarii, H. decipiens và Zostera japonica), sau khi xây dựng cảng, cỏ biển đã chết hoàn toàn. Cùng với sự suy thoái của các rạn san hô và rừng ngập mặn, sự suy giảm nghiêm trọng của thảm cỏ biển cảnh báo về nhiễu loạn nghiêm trọng chức năng sinh thái vùng bờ.

Khánh Hòa vốn có các thảm cỏ biển rất phong phú kể cả về phương diện loài (9 loài/15 loài của cả nước), mật độ cỏ khá dày và diện tích phân bố khá rộng. Trong những năm gần đây, cỏ biển bị giảm sút nghiêm trọng. Các bãi cỏ rộng hàng trăm hecta ở vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong với ưu thế của cỏ lá dừa đến nay đã bị thu hẹp chỉ còn 29 - 30%, có nơi chỉ còn 10%.

Các nhà nghiên cứu Từ Thị Lan Hương và Nguyễn Văn Tiến ghi nhận rằng tình trạng mất cỏ biển dẫn đến mất các chức năng và dịch vụ đi kèm của vùng ven biển. Thảm cỏ biển mất làm thay đổi lưới thức ăn và mất nguồn lợi biển. Sự suy giảm chất lượng nước biển và phá hủy nơi sinh cư tự nhiên đã làm giảm đáng kể nguồn lợi sinh vật biển. Khoảng 85 loài được liệt kê là những loài đang bị đe dọa trong đó hơn 70 loài có trong sách Đỏ Việt Nam. Trữ lượng nguồn lợi biển, năng suất và kích thước cá biển đang giảm sút; ví dụ năm 1984 đến 1994 trữ lượng cá giảm 30%. Theo ngư dân ở Bãi Thơm (đảo Phú Quốc) cho biết khi các thảm cỏ biển ở đây mất đi thì trữ lượng hải sản cũng suy giảm rõ rệt. Sự suy giảm của các thảm cỏ biển cũng làm giảm nguồn lợi cá ngựa 200 – 250 kg/ha (năm 1980) xuống còn 70 - 80 kg/ha. Trong hiện tại và tương lai, sự suy giảm này còn tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống của người dân và thế hệ mai sau. Mặc dù, tỷ lệ đói nghèo của cộng đồng dân cư ven biển thấp hơn các vùng khác, nhưng sự gia tăng dân số cùng với các phương thức đánh bắt hủy diệt và phát triển không bền vững sẽ sớm tác động đến nền kinh tế.

Thực tế, các mối đe dọa đối với các thảm cỏ biển tại Việt Nam bao gồm cả tự nhiên và con người gây ra. Các mối đe dọa thiên nhiên bao gồm bão, độ đục và lắng đọng trầm tích (nước sông bị ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và phát triển đô thị) và dòng chảy nước ngọt (đặc biệt trong mùa mưa). Mối đe dọa từ con người là các phương pháp đánh bắt hủy diệt (như chất nổ, lưới rê, lưới đáy, lưới chăn, điện đánh cá, sử dụng xyanua...), nuôi trồng thủy sản (xây dựng ao sát biển sử dụng thủy triều), các công trình xây dựng ven biển (như đường giao thông, cầu cống, nhà cửa, bến cảng, nạo vét kênh...), ô nhiễm (như xả nước thải bao gồm các kim loại nặng, cặn lơ lửng, chất dinh dưỡng, và các loại dầu), và cải tạo bãi triều cho các mục đích nông nghiệp. Các nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái cỏ biển là từ nhận thức thấp và điều kiện kinh tế không ổn định.

alt 

Bò biển - Dugong dugon ở vùng biển Phú Quốc sống nhờ cỏ biển

Cỏ biển ở Việt Nam rất quan trọng đối với cuộc sống trực tiếp của ngư dân và là môi trường sống cho động vật biển. Đa số các thảm cỏ biển được người dân khai thác (đặc biệt Zostera và Ruppia) để sử dụng làm thức ăn cho gia súc và phân bón. Tuy nhiên, tầm quan trọng chính của cỏ biển lại liên quan đến sinh vật biển, như tảo (Gracilaria spp có giá trị thương mại cao), cua bể (Portunus pelagicus và P. sanguinolentus), dưa chuột biển (loài Holothuria scabra và Halodeima atra), cá (ít nhất 34 loài cá có giá trị thương mại cao), và cá ngựa (đặc biệt là Hippocampus kuda). Cỏ biển còn là thức ăn cho loài bò biển (Dugong dugon) và rùa xanh (Chelonia mydas).

Hiện nay, số lượng bò biển tại Việt Nam còn lại rất ít, chỉ có ở khu vực Vườn Quốc gia Côn Đảo, một số đảo nhỏ của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Phú Quốc. Mối đe dọa lớn nhất đối với bò biển là việc săn bắn, lưới rê và thiếu thức ăn do sự phá hủy môi trường sống của chúng, đặc biệt là thảm cỏ biển.

Trước tình trạng suy giảm hệ sinh thái cỏ biển, hiện nay, kỹ thuật di trồng cỏ biển đã được đặt ra và đạt được thành công ở một số nước phát triển. Tuy nhiên, di trồng cỏ biển trên phạm vi rộng sẽ rất tốn kém. Thêm vào đó, khi lấy cỏ giống từ bãi cỏ này đem trồng ở nơi khác thì cũng đã tác động tiêu cực lên quần thể đó, điều này làm giảm đi giá trị của việc di trồng, chưa kể nguy cơ du nhập loài cỏ ngoại lai có hại cho môi trường. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng trong điều kiện nước ta vấn đề bảo vệ cỏ biển nên triển khai theo hướng an toàn, ít tốn kém và lấy nhiệm vụ bảo vệ môi trường và bảo tồn là ưu tiên hàng đầu.

BDN (Tổng hợp)

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: