Wednesday, May 25, 2022
Trang chủSự thật Trung HoaNgô Sỹ Tồn: Tình hình Biển Đông đang có dấu hiệu căng...

Ngô Sỹ Tồn: Tình hình Biển Đông đang có dấu hiệu căng thẳng trở lại

Phát biểu tại Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 9, ông Ngô Sỹ Tồn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc (21/10) tìm cách đổ lỗi cho các nước làm gia tăng cẳng thẳng ở Biển Đông và bao biện cho các hoạt động phi pháp của Trung Quốc trong khu vực.

Theo ông Ngô Sỹ Tồn, trong 3 năm qua, tình hình Biển Đông về cơ bản đã ổn định và đang có dấu hiệu “hạ nhiệt”. Tuy nhiên, thời gian gần đây Biển Đông bắt đầu có dấu hiệu căng thẳng trở lại; đồng thời nhận định có 6 vấn đề thách thức đối với tình hình an ninh ở Biển Đông.

Đầu tiên, cạnh tranh quân sự giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ở Biển Đông đã gia tăng và trở nên khốc liệt hơn, khiến nguy cơ xung đột tăng lên. Một mặt, tần suất, phạm vi và cường độ hoạt động quân sự của quân đội Mỹ ở Biển Đông đã tăng lên đáng kể. Kể từ năm 2017, chính quyền Trump tiếp tục củng cố hiện diện của quân đội Mỹ ở Biển Đông bằng cách tiến hành các hoạt động đơn phương, “cám dỗ” các lực lượng đồng minh và các lực lượng thân thiện. Hiện tại, sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Biển Đông đã hình thành nên tình trạng phối hợp giữa lực lượng không quân, hải quân và lực lượng bán quân sự. Không những vậy, Mỹ cong cử các lực lượng “bán quân sự” cao cấp tham gia thực hiện nhiệm vụ quân sự ở Biển Đông, kể từ năm 2019, các tàu Cảnh sát biển Hoa Kỳ đã vượt qua eo biển Đài Loan, tiến vào Biển Đông và tiến hành các cuộc tập trận chung với các nước xung quanh như Philippines, Indonesia và Malaysia. Trong số đó, cuộc tập trận công khai mới nhất của Cảnh sát biển Mỹ-Philippines ở Biển Đông là ở vùng biển gần đảo Hoàng Nham/Sacborough tương đối nhạy cảm giữa Trung Quốc và Philippines. Sự hiện diện và hoạt động của Cảnh sát biển Mỹ ở Biển Đông sẽ dần trở thành thông lệ. Ngoài ra, Mỹ còn thông qua việc cung cấp thiết bị quân sự cho các nước xung quanh Biển Đông và tăng cường trao đổi và hợp tác quân sự với các nước trong khu vực để can thiệp vào Biển Đông. Mỹ đã cung cấp tàu tuần tra của cảnh sát biển cho Việt Nam trong ba năm liên tiếp. Vào tháng Chín, 10 quốc gia Mỹ và ASEAN đã tổ chức cuộc tập trận chung đầu tiên của họ trong Vịnh Thái Lan, đánh dấu sự hợp tác quân sự của Mỹ và tương tác với các nước láng giềng của Trung Quốc ở Biển Đông đã được chuyển sang hình thức đa phương.

Thứ hai, các đồng minh của Mỹ học theo Washington can thiệp vào việc vấn đề Biển Đông bằng các biện pháp quân sự. Cả Vương quốc Anh và Pháp đều tuyên bố rằng họ sẽ cử các nhóm tác chiến tàu sân bay đến Biển Đông để tuần tra tự do hàng hải. Vào tháng 8/2019, Anh, Pháp và Đức đã đưa ra một tuyên bố chung về vấn đề Biển Đông, EU cũng đã ban hành một tuyên bố tương tự, khiến tình hình Biển Đông trở nên “căng thẳng”. Kể từ năm 2017, Nhật Bản đã điều động tàu sân bay trực thăng và ít nhất sáu tàu khu trục phối hợp với Mỹ, Philippines, Malaysia, Hàn Quốc, Úc và Ấn Độ tuần tra, hiện diện ở Biển Đông. Trong tháng 5/2019, các tàu chiến của Australia đã hai lần đi qua Biển Đông.

Thứ ba, một số nước yêu sách chủ quyền ở Biển Đông không ngừng tiến hành các hoạt động đơn phương ở Biển Đông, như xây dựng, cải tạo trên các rạn san hô, kiểm soát khu vực biển và thăm dò, phát triển tài nguyên. Đặc biệt, Việt Nam đã tăng cường các hoạt động “xâm phạm” dầu khí. Giữa tháng 5 năm nay, Việt Nam đã “đơn phương” triển khai hoạt động khoan dầu khí trên biển (khu vực lô 06.1 của Việt Nam). Đây là lần thứ ba kể từ năm 2017, Việt Nam nhắm vào các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí đơn phương ở vùng biển gần Bãi Vạn An (Bãi Tư Chính của Việt Nam). Ngoài ra, Việt Nam đã “theo dõi và can thiệp” hoạt động thăm dò của tàu Địa chất Hải Dương 8 ở Biển Đông.

Bên cạnh đó, theo Trung tâm Mỹ Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) vào tháng tư năm nay cho biết, Việt Nam từ năm 2017 đã được “cải tạo đất và nâng cấp cơ sở quân sự” ở quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Trong đó, Việt Nam đã cải tạo “40 hecta” ở đảo Trường Sa, đồng thời xây dựng đường băng, các nhà chứa mới để cất “máy bay trinh sát hàng hải, máy bay vận tải chiến thuật và trang thiết bị vũ khí khác”.

Thứ tư, việc xây dựng các cơ chế và quy tắc an toàn hàng hải ở Biển Đông vẫn còn khó khăn. Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã đưa ra tham vấn “Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông” năm 2013 và bắt đầu tìm hiểu cơ chế xây dựng quản lý khủng hoảng hàng hải hiệu quả hơn, thúc đẩy tin tưởng lẫn nhau về chính trị và an ninh. Năm ngoái, Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã đạt được thỏa thuận về văn bản tham vấn duy nhất của “Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông”. Năm nay, vòng đọc thứ nhất của dự thảo COC đã được hoàn thành. Tuy nhiên, những mâu thuẫn và khác biệt giữa các bên liên quan về COC sẽ khó tránh khỏi. Do đó, lấy tham vấn xây dựng COC và thiết lập cơ chế hợp tác an ninh hàng hải vẫn còn đối mặt với nhiều bất ổn và thách thức.

Thứ năm, hợp tác an ninh biển đang gặp khó khăn. Việt Nam, Philippines, Malaysia và các bên liên quan khác để tập trung vào việc tìm cách “tối đa hóa lợi ích riêng của họ”, không chỉ tiếp tục làm “trầm trọng” thêm cuộc xung đột đã cướp đi quyền tài phán trong tranh chấp giữa các vùng biển xung quanh việc phát triển nguồn tài nguyên của đất nước, mà còn làm cho quá trình hợp tác an ninh hàng hải tại phải đối mặt với khó khăn. Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết DOC, trong đó quy định rõ các bên cần thực hiện “hàng hải và an toàn giao thông”, “tìm kiếm và giải cứu”, “hợp tác chống buôn lậu”…, nhưng cho đến nay không có tiến bộ đáng kể nào được thực hiện. Ngược lại, Việt Nam, Philippines và các nước khác tích cực thực hiện chuyến thăm, giao lưu quân sự với Mỹ, Nhật Bản, Australia và các nước khác ngoài khu vực này; mở cửa các căn cứ quân sự cho các nước trên, tiến hành cuộc tập trận hàng hải chung, thúc đẩy hợp tác đào tạo cán bộ trong lĩnh vực hàng hải.

Thứ sáu, tác động tiêu cực của vụ kiện trọng tài Biển Đông của Philippines đối với tình hình an ninh hàng hải đang dần lên men. Mặc dù chính phủ Philippine Dutt Stewart đóng xuống quyết định trọng tài, nhưng các lực lượng đối lập trong nước Philippine đã luôn luôn nhấn mạnh quyết định được ràng buộc đối với Trung Quốc, yêu cầu Dutt để Walter phán quyết dựa chế biến Fei Nanhai tranh chấp. Các quốc gia sonar khác cũng đã thúc đẩy các hoạt động hàng hải đơn phương dựa trên các phán quyết của trọng tài. Việt Nam, với lý do đặc biệt là quyết định trọng tài gần đây cho đơn phương hoạt động dầu và khoan khí bào chữa của mình tại vùng biển gần Bãi biển Wanan, và hiệu ý định làm theo tấm gương của Philippines, đến Việt Nam trong tranh chấp Biển Đông phải nhờ đến tòa án hoặc trọng tài. Các hoạt động quân sự có liên quan của các quốc gia ngoài lãnh thổ ở Biển Đông trên thực tế có liên quan mật thiết đến phán quyết. Do đó, phán quyết trọng tài đang ngày càng phá hủy hòa bình, ổn định và trật tự của Biển Đông. Đây là một trong những thách thức lớn đối với tình hình an ninh hàng hải hiện nay ở Biển Đông.

RELATED ARTICLES

Tin mới

Bình luận