Wednesday, May 18, 2022
Trang chủSự thật Trung HoaTQ xuyên tạc lịch sử trong âm mưu chiếm đoạt Hoàng Sa...

TQ xuyên tạc lịch sử trong âm mưu chiếm đoạt Hoàng Sa và Trường Sa

Trong những năm gần đây, tham vọng áp đặt chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên hầu hết Biển Đông đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với nguồn tài liệu chính sử của họ. Từ lâu, Trung Quốc đã không từ bỏ việc làm mà tất cả các học giả chân chính đều lên án là cố tình bịa đặt và xuyên tạc lịch sử. Hành động này đã được Trung Quốc toan tính lâu dài và tổ chức thực hiện công phu để có thể xuyên tạc lịch sử hàng ngàn năm từ cổ chí kim trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trung Quốc xuyên tạc lịch sử

Các Sách Trắng về chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, cũng như một số tài liệu nghiên cứu của các học giả Trung Quốc mà tiêu biểu là ông Hàn Chấn Hoa với cuốn “Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải của nước ta” (Trung Quốc) đã đưa ra nhiều kết luận “hùng hồn” rằng có rất nhiều “sự thật lịch sử”, trong đó có sự hiện diện của các di chỉ khảo cổ, “chứng tỏ đầy đủ rằng” Trung Quốc là người đã phát hiện, kinh doanh, khai thác và thực hiện việc cai quản đầu tiên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) từ “hàng nghìn năm nay”. Thế nhưng, đáng tiếc là các sử gia Trung Quốc thời cổ xưa lại chính là những nhà chép sử có lòng tự trọng và nghiêm túc với chức trách. Các bộ Sử ký của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đã ghi lại hầu hết các sự kiện quan trọng với nhiều chi tiết rõ ràng, nên khi đi vào từng vấn đề cụ thể, lập luận của Trung Quốc ngày nay về chủ quyền của họ trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cũng đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với bản thân các tài liệu chính sử.

Về mặt địa lý, Trung Quốc trích dẫn từ một số sách địa lý cổ xưa của họ có những ghi nhận và mô tả về các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để cho rằng họ phát hiện và xác lập chủ quyền tại hai quần đảo này từ hàng ngàn năm qua. Chẳng hạn như cuốn Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn (thời Tam Quốc 220-265) viết dưới thời Hán Vũ Đế, có mô tả về các đảo đá và cát trên Biển Đông, có đoạn mô tả chỗ nước nông và có đá nam châm khiến cho tàu thuyền qua lại nguy hiểm, dễ bị chìm. Dị Vật Chí của Dương Phù (đời Đông Hán, 25-220 sau CN) nói về những điều lạ của xứ nước ngoài mô tả địa danh Trướng Hải như sau: “Tại Trướng Hải Kỳ Đầu nước cạn nhưng nhiều đá nam châm, thuyền lớn đi ngoài cõi, dưới thuyền gắn lá sắt sẽ bị nhổ ra”. Chỉ có vậy, thế nhưng các tài liệu gần đây của Trung Quốc lại “áp đặt” sự mô tả này về Trướng Hải Kỳ Đầu cùng truyền thuyết về đá nam châm hút đinh sắt của các thuyền có liên quan tới các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông. Cũng cần nhấn mạnh rằng, phần lớn các thư tịch cổ của Trung Quốc khi nói về đảo và các bãi đá ngầm trên Biển Đông đều chép với rất nhiều tên gọi khác nhau. Chẳng hạn như trong cuốn Đông Tây Dương Khảo của Trương Nhiếp (1618), có nói đến các đảo nằm cách huyện Văn Xương 100 dặm (khoảng 50km), điều này không thể phù hợp về mặt địa lý với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) nằm cách Hải Nam về phía nam đến hơn 250km. Tên của các đảo này cũng được chép rất khác nhau tùy theo sự tưởng tượng của tác giả như: Cửu Nhũ Loa Châu, Vạn Lý Thạch Đường, Thiên Lý Thạch Đường, Thất Châu Dương, Thất Châu Sơn… Thật là khó có thể chấp nhận quan điểm của Trung Quốc khi họ cứ khăng khăng cho rằng những đảo đó chính là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hoặc có lẽ là Trường Sa (Spratleys). Đôi khi, sự khẳng định của họ không khỏi gây ra sự sửng sốt. Trong tài liệu “Các biên giới của Trung Quốc” của Chu Kiện (1991), tác giả khẳng định “năm 1873, Quách Tông Đào, Đại sứ đầu tiên của Trung Quốc được cử sang phương Tây, trong nhật ký hành trình đã nhắc đến Nam Sa (Spratleys) thuộc về Trung Quốc”. Thế nhưng đoạn văn này lại được minh hoạ thêm bởi chú thích đề cập tới Hoàng Sa (Paracels) và ghi chú đảo nằm ở vĩ độ 17 Bắc. Đây quả là sự lẫn lộn nghiêm trọng và càng cho thấy sự cố tình gán ghép các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vốn nằm phía nam vĩ tuyến 17 vào lãnh thổ Trung Quốc.

Các tham vọng của Trung Quốc còn mâu thuẫn bởi chính các nguồn tư liệu khác của họ. Nhiều tài liệu địa lý cổ mô tả và phân định rõ lãnh thổ của đế chế Trung Hoa khá trùng hợp nhau, các mô tả này đều định rõ lãnh thổ Trung Hoa có điểm tận cùng ở phía nam là đảo Hải Nam. Theo hướng này, trong số các cuốn sách ở thế kỷ XII, rồi thế kỷ XVII và XVIII, trong đó các cuốn Địa chí phủ Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) cũng như cuốn Địa chí tỉnh Quảng Đông năm 1731, cuốn sách dâng nộp vua Thanh năm thứ 9 đời Văn Chính (1731), bản đồ tỉnh Quảng Đông không nói gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó vào năm 1754, các dân binh hải đội Hoàng Sa của Việt Nam bị đắm thuyền khi công tác trên quần đảo Hoàng Sa trôi dạt tới bờ biển Trung Quốc, nhà chức trách Trung Quốc sau khi thẩm tra xong đã đưa họ về quê hương mà không có sự phản kháng nào của Trung Quốc, chứng tỏ hoạt động của hải đội Hoàng Sa được Trung Quốc thời đó ghi nhận là việc bình thường thực thi chủ quyền của Việt Nam tại vùng biển này. Trong tất cả các tài liệu Trung Quốc đều nhắc lại rằng các ngư dân Trung Quốc đã đến các đảo trên Biển Đông vào mọi thời kỳ. Nhưng, các tài liệu mà họ đưa ra chỉ cho thấy đó là những hành vi cá nhân, không mang tính nhà nước, không phù hợp với một sự chiếm hữu cũng như với ý định khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia bởi vì việc chiếm cứ “do các tư nhân không hành động nhân danh chính phủ của họ mà thực hiện vì một lợi ích cá nhân không tạo thành một sự chiếm hữu”, theo luật pháp quốc tế đương thời.

Hơn nữa, cũng trong những thời kỳ này, chính các quần đảo đó thường được các ngư dân Việt Nam lui tới. Trên thực tế, đã không có một chút dấu vết gì chứng tỏ là Trung Quốc đã từng phản kháng lại sự khẳng định chủ quyền của Hoàng đế Gia Long và các người kế nhiệm ông trong suốt cả thế kỷ XVIII cũng như thế kỷ XIX, khi các chúa Nguyễn của Việt Nam tổ chức việc khai thác các đảo nằm dưới quyền tài phán của họ một cách mạnh mẽ và liên tục. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn tập lịch sử Trung Quốc những lời xác nhận sự không tồn tại tham vọng về các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc trong lịch sử. Như vậy, có thể thấy rằng Trung Quốc chưa bao giờ có việc thực thi chủ quyền mang tính nhà nước đối với các quần đảo này suốt lịch sử cho tới đầu thế kỷ XX. Sự thờ ơ của Trung Quốc đối với các quần đảo trên Biển Đông đã được hai tài liệu xác nhận: bản đồ Trung Hoa của đế chế thống nhất Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ, phát hành vào năm 1894, lãnh thổ Trung Quốc trong đó chỉ mở rộng tới đảo Hải Nam. Ngoài ra, quyển “Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư”, phát hành năm 1906 nêu ở trang 241 rằng “điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, ở vĩ tuyến 18°13′ Bắc”.

Sự chính xác và rõ ràng của các luận chứng khẳng định chủ quyền lâu đời, liên tục của Việt Nam bằng những hành động cụ thể của người Việt theo lệnh của triều đình từ thế kỷ XVIII, khiến Trung Quốc phải phản bác lại là các vua chúa Việt Nam luôn chỉ hoạt động nhằm phục vụ Hoàng đế Trung Hoa. Điều này lại càng phi lý. Vương quốc Việt Nam (Đại Cồ Việt) được thành lập vào thế kỷ XI bằng việc thiết lập một quyền lực chính trị và một nền cai trị độc lập đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời công nhận một cách khéo léo quyền bá chủ của Trung Quốc. Mối quan hệ chư hầu này khó xác định theo một quan điểm pháp lý bởi vì nội dung của nó mơ hồ và tăng giảm tùy theo các thời kỳ. Trong lịch sử bang giao Đại Việt – Trung Hoa, các triều đại Việt Nam cần lễ thụ phong của Trung Quốc để được công nhận, giống như mọi quốc gia hiện đại muốn đứng vững thì không thể bỏ qua sự công nhận quốc tế. Đối với Trung Quốc, cống nạp thể hiện sự phụ thuộc tối đa mà họ hy vọng. Ngược lại, đối với Đại Việt, cống nạp thể hiện sự độc lập tối đa mà vương quốc này có thể đạt tới mà không gây nên phản ứng đế quốc từ phía Trung Quốc. Chế độ chư hầu được Việt Nam chấp nhận trên danh nghĩa, dưới hình thức triều cống danh dự. Nhưng nghĩa vụ tôn kính của triều đình Việt Nam đối với “Thiên triều” là hoàn toàn hình thức. Lịch sử các quan hệ Trung-Việt từ khi thành lập nước Việt Nam, thoát ra khỏi sự chi phối của Trung Quốc, đã được đánh dấu bằng nhiều mưu toan quân sự của Trung Quốc chống lại Việt Nam. Sau khi đã chiến thắng, các vua Việt Nam không bao giờ quên việc tìm cách xoa dịu người láng giềng khổng lồ của mình bằng một sự thần phục tượng trưng. Từ đó cho thấy lập luận của Trung Quốc đưa ra từ quan hệ chư hầu để mập mờ đòi hỏi yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam là không hề có giá trị pháp lý.

Trung Quốc cũng sử dụng một số báo cáo về khảo cổ học để cho rằng họ có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, không có một kiểm chứng khoa học khách quan nào cho thấy những di vật cổ xưa nói là được tìm thấy trên các quần đảo này là của người Trung Quốc. Hơn nữa, theo giới chuyên môn, giả sử “các di chỉ khảo cổ” mà Trung Quốc cho là phát hiện tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đúng là của người Trung Quốc đi chăng nữa, thì theo luật pháp quốc tế, cũng không có ý nghĩa trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ tại đây. Là một ngành khoa học, khảo cổ học và những di chỉ khảo cổ không có vai trò quyết định trong việc công nhận hay bác bỏ chủ quyền của một quốc gia trên một vùng lãnh thổ nơi các di chỉ khảo cổ hiện diện. Việc Trung Quốc coi các “di chỉ khảo cổ” nói là tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để kết luận “hàng loạt tư liệu văn vật này chứng minh một cách hùng hồn rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ cổ xưa là lãnh thổ của Trung Quốc” là một kết luận mang tính suy diễn, không có cơ sở khoa học, lịch sử và pháp lý quốc tế. Cái gọi là những “di chỉ khảo cổ” của Trung Quốc chỉ là sự bịa đặt cố ý nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị, không làm thay đổi được thực tế là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời và người Việt Nam đã thực thi quyền chủ quyền của mình liên tục trên hai quần đảo này cho tới nay.

Chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam

Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa lần đầu tiên được thiết lập vào khoảng giữa thế kỷ thứ 15 và 18; các hoàng đế Gia Long và Minh Mạng đã tổ chức các nghi lễ tôn giáo ở đâ vào thế kỷ thứ 19; sau đó nằm dưới sự quản lý tạm thời của người Pháp vào khoảng nửa cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20; và sau cùng thì tiếp tục được quản lý một cách công khai, hoà bình và bình thường bởi nước Việt Nam độc lập. Các hoạt động trong đó bao gồm: (1) Phê duyệt các hợp đồng thương mại quốc tế đối với các hoạt động kinh tế của quần đảo; (2) tiến hành các hoạt động thực thi pháp luật đối với việc xâm nhập phi pháp của người dân Trung Quốc và ngăn chặn buôn lậu vũ khí và thuốc phiện; (3) thực hiện khai thác có hệ thống các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đảo; (4) tổ chức các hoạt động bảo trợ cho các quốc gia khác; (5) đặt quân đội đồn trú và chính quyền dân sự trên đảo; (6) đấu tranh chống lại các cuộc xâm lược của Trung Quốc và Nhật Bản; (7) xây dựng miếu thờ và đền thờ; (8) thu thuế; (9) tổ chức và thực hiện các cuộc khảo sát và nghiên cứu khoa học ở quần đảo này; (10) tổ chức và thực hiện khảo sát thuỷ văn đối với các tuyến đường biển và trồng câ trên các đảo để tăng cường an toàn giao thông hàng hải; (11) triển khai các hoạt động cứu trợ tàu bè nước ngoài gặp nạn trên biển; và (12) đảm bảo an toàn cho các tuyến đường giao thông trên biển.

Việt Nam khẳng định rằng Pháp, là quốc gia đại diện cho Việt Nam, đã tiến hành rất nhiều các hoạt động khác nhau để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, điển hình như năm 1933, Pháp đã chính thức sáp nhập và chiếm đóng một số thực thể ở quần đảo này nhân danh Việt Nam. Vào thời điểm đó, việc sáp nhập các đảo hoàn toàn tuân thủ đúng theo luật pháp quốc tế hiện hành và thực tiễn quốc gia. Mặc dù, Nhật Bản giành được quyền kiểm soát quần đảo từ Pháp đến năm 1951, tuy nhiên sau Hội Nghị Hoà bình San Francisco diễn ra năm 1951 thì Nhật Bản đã buộc phải từ bỏ quyền kiểm soát của mình và chủ quyền đối với quần đảo được trao trả lại cho Pháp. Thời gian sau đó, các hoạt động của người Pháp và Việt Nam, cả trước và sau chiến tranh, rõ ràng đã cho thấy sự hiện diện thực tế và được duy trì liên tục , cũng như việc thực thi chủ quyền một cách hoà bình đối với quần đảo Trường Sa.

Từ góc độ lịch sử, những tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được xác định dựa trên rất nhiều tài liệu lịch sử và bản đồ có từ thế kỷ thứ 15. Ngoài ra, có nhiều chứng cứ thu thập từ các nguồn tư liệu bên ngoài ủng hộ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa ngay từ khoảng đầu thế kỷ 17. Bản đồ của Bồ Đào Nha và Hà Lan vào đầu thế kỷ 17 đã công khai xác nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ Việt Nam. Những tấm bản đồ này giống với bản ghi chép của một nhà truyền giáo phương Tây năm 1701, trên con tàu Pháp, có tên là Amphitrite, trong đó chỉ ra rằng quần đảo Hoàng Sa là của Vương quốc An Nam. Ngay cả trong văn bản của Trung Quốc (Hai Lu’s Hai Quoc Do Chi) cùng thời kỳ đó (1730) cũng đã xác nhận chủ quyền quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Bên cạnh đó, bản đồ Trung Quốc ở tỉnh Quảng Đông và bản đồ của thủ phủ Quảng Châu xuất bản vào năm 1731 cũng không hề đề cập tới cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tài liệu của phương Tây thế kỷ 19 cũng ủng hộ yêu sách lịch sử của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa trên cơ sở chiếm đóng và kiểm soát. Cuốn sách xuất bản năm 1837 bởi một nhà truyền giáo người Pháp Monseigneur Jean-Louis Taberd có tên Ghi chép về địa lý Nam Kỳ đã viết rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc Nam Kỳ. Cuốn sách thứ 2 được Monseigneur xuất bản vào năm sau đó (1838) – có tên Lịch sử và Mô tả về Tôn giáo, Tập tục và Chuẩn mực của các dân tộc – tương tự cũng ghi chép rằng quần đảo này thuộc Nam Kỳ trong suốt 3 năm. Thêm vào đó bản đồ mà Taberd xuất bản năm 1838 có tên An Nam Dai Quoc Hoa Do (Tabula geographica imperia Anamtici – Bản đồ của nhà nước phong kiến An Nam) cũng đã mô tả quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Những ghi chép của nhà thám hiểm người Pháp Jean-Baptiste Chaigneau (Memoires sur la Cochinchina) cũng đề cập tới việc Hoàng đế Gia Long sáp nhập quần đảo Hoàng Sa năm 1816. Một dẫn chứng nữa chứng minh quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam có thể tìm thấy trong cuốn sách Japon, Indo‐Chine, Empire Birman (ou Ava), Siam, Annam (ou Cochinchine), Pèninsule Malaise, etc., Ceylan bởi nhà thám hiểm người Pháp và tác giả Adolphe Philibert Dubois de Jancigny. Một chứng cứ khác đó là tài liệu địa lý của (The Italian Compendium of Geography) Aldriano Balbi người Italy xuất bản năm (1850) cũng chỉ ra rằng quần đảo Hoàng Sa, Hà Tiên (Pirate) và Côn Sơn (Puolo Condor) là thuộc Vương quốc An Nam. Ngay cả bản đồ của Trung Quốc năm 1890 (Hoàng triều nhất thống Dư địa tổng đồ) cũng mô tả lãnh thổ của Trung Quốc chỉ kéo dài tới đảo Hải Nam , do đó, tấm bản đồ này đã   xác nhận tính chính xác của các tài liệu phương Tây.

Có nhiều chứng cứ thuyết phục rằng Việt Nam đã chiếm hữu và quản lý hữu hiệu quần đảo Hoàng Sa kể từ năm 1802, trong đó rõ ràng nhất là việc chính thức sáp nhập quần đảo nà dưới thời vua Gia Long năm 1816. Năm 1946, các chuyên gia luật pháp Bộ Ngoại giao Pháp đã nêu rằng việc sáp nhập và nghi lễ thượng cờ được tiến hành phù hợp với luật pháp quốc tế thời bấy giờ và khẳng định rằng “việc sáp nhập này đã trao quyền quản lý quần đảo hợp pháp cho An Nam”.

Sự kiện sáp nhập và nghi lễ thượng cờ năm 1816 đã được ghi chép trong tài liệu của đức giám mục Jean-Louis Taberd năm 1837 có tên là Ghi chép địa lý Nam Kỳ (Note on Geograph of Coch nna) được in trong tạp chí Journal of Royal Asiatic Society of Bengal, India). Một ghi chép tương tự cũng được tìm thấy trong tài liệu của Jean- Baptiste Chaigneau có tên là Notice sur la Cochinchina. Tấm bản đồ đầu tiên được triều đình lúc bấy giờ xuất bản (năm 1830), có bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa (và được cho là gồm cả quần đảo Trường Sa) thuộc lãnh thổ của Việt Nam. Dịch vụ tìm kiếm và cứu nạn thời bấy giờ cũng đã được triển khai cho các tàu nước ngoài gặp nạn gần quần đảo Hoàng Sa (ví dụ như sự kiện con tàu buôn của Pháp năm 1830 và tàu của Anh năm 1836).

Năm 1833, triều đình Minh Mạng đã thực thi chủ quyền và quản lý hành chính của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa bằng việc ban lệnh trồng câ trên đảo để giúp nâng cao an toàn hàng hải ở các vùng biển nguy hiểm xung quanh quần đảo. Trong năm sau đó, một bản đồ về hải trình của quần đảo nà đã được vẽ bởi một đội thuỷ quân và tới năm 1835, binh lính thủ quân đã được điều tới quần đảo Hoàng Sa để xây dựng ngôi đền trên hòn đảo Bạch Sa (White-sand). Bên cạnh đó, vào năm 1836, triều đình cũng đã hoàn thành một bản kế hoạch khảo sát và thăm dò một cách có hệ thống trên quần đảo. Cũng trong năm đó, Hoàng đế Minh Mạng đã ra chỉ dụ cho một đội thuỷ quân đi thăm dò và vẽ bản đồ toàn bộ quần đảo và dựng cột mốc đánh dấu chủ quyền tại một số quần đảo. Những thông tin thu thập được từ cuộc khảo sát nà được dùng để vẽ Bản đồ chi tiết nước Đại Nam (1838), trong đó chỉ ra rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Những năm sau đó, cứ mỗi mùa xuân đến, triều đình lại cử một đội quân tới quần đảo Hoàng Sa để nghiên cứu các tuyến đường biển quanh quần đảo và để thu thuế từ các ngư dân đánh bắt cá tại khu vực này. Các bản tấu trình cũng được chuẩn bị định kỳ bởi Bộ Công (Ministry of Interior), báo cáo về các chuyến đi và các hoạt động thăm dò của Hải đội Hoàng Sa ở quần đảo Hoàng Sa.

Những hành động khẳng định chủ quyền này được các Hoàng đế nhà Nguyễn thực hiện công khai và hoà bình, không gặp phải bất cứ phản đối nào từ Trung Quốc. Việc Trung Quốc không có hành động thực thi chủ quyền ở quần đảo này, và với việc không đưa ra phản đối nào, có nghĩa rằng họ đã công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Việc chiếm đóng và kiểm soát hữu hiệu các quần đảo ở Biển Đông tiếp tục được triển khai dưới thời Pháp thuộc cho đến khi Việt Nam giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ II. Năm 1898, một thoả thuận của Bộ thuộc địa Pháp gửi Chính quyền toàn Đông Dương đã đề cập đến việc xây dựng ngọn hải đăng ở quần đảo Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền của Pháp tại đây. Các nghiên cứu khoa học về quần đảo nà cũng đã được triển khai, và tàu chiến Pháp đã được giao nhiệm vụ bảo vệ các tuyến đường giao thông trên biển và triển khai các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn đối với các con tàu gặp nạn. Vào năm 1920, cơ quan hải quan Pháp ở Đông Dương bắt đầu triển khai hoạt động thường kỳ tới khu vực quần đảo nà để chống buôn lậu vũ khí, đạn dược, và thuốc phiện.

Các hoạt động của Pháp tại quần đảo Hoàng Sa tiếp tục một cách xuyên suốt và liên tục trong suốt thời kỳ những năm 1920 và 1930. Chế độ thực dân Pháp đã thực hiện một loạt các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ở quần đảo này từ năm 1925, sau khi các nhà khoa học từ Viện nghiên cứu Hải dương học ở Nha Trang, trên con tàu Pháp có tên là De Lanessan, xác nhận tồn tại một trữ lượng phốt phát lớn ở quần đảo này. Trái lại, trong suốt khoảng thời gian này Pháp kịch liệt phản đối những hành động xâm nhập đầy toan tính của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Pháp (1931) đã phản đối qua kênh ngoại giao đối với một tuyên bố của Trung Quốc khi nước này có ý định mời thầu các công ty nước ngoài để khai thác phốt phát ở Hoàng Sa. Pháp tiếp tục đưa ra phản đối vào ngày 24/4/1932 sau khi Trung Quốc công khai mời thầu, bằng việc viện dẫn rằng Việt Nam đã có đầ đủ cơ sở pháp lý về chủ quyền của quần đảo này.

Sau khi Trung Quốc khước từ đề nghị của Pháp để giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa thông qua trọng tài quốc tế, thì Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định đặt Hoàng Sa là đơn vị hành chính trực thuộc Tỉnh Thừa Thiên (Huế) vào ngày 15/6/1932 (Theo Nghị định số 156-SC). Vào năm 1937, tổng phụ trách công sự người Pháp đã được chính quyền thực dân Pháp đưa ra Hoàng Sa để đánh giá khả năng xây dựng các cơ sở phục vụ giao thông đường không và đường biển trên quần đảo, cũng như xây dựng hải đăng trên Đảo Hoàng Sa. Cũng vào năm này, Trung Quốc cũng đã khước từ nỗ lực lần thứ 2 của Pháp để giải quyết những tranh chấp thông qua trọng tài quốc tế. Sau đó, binh lính người Việt Nam dưới sự chỉ huy của quan chức Pháp đã tổ chức chiếm đóng và dựng cột đánh dấu chủ quyền đối với một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa. Sau đó thì một ngọn hải đăng, trạm khí tượng, và trạm phát thanh đã được xây dựng ở Đảo Hoàng Sa.

Trong năm sau đó, vào tháng 3/1938, Hoàng đế Bảo Đại đã xác nhận Nghị định số 156-SC của Pháp trong pháp lệnh triều đình Việt Nam. Sau đó, ngà 5/9/1939, Toàn quyền Đông dương đã chia quần đảo Hoàng Sa thành hai quận – nhóm An Vĩnh (Amphitrite) và Trăng Khuyết (Crescent). Sau sự kiện phân chia này, thì lực lượng cảnh vệ Pháp và Việt Nam đã duy trì sự hiện diện thường xuyên trên Đảo Hoàng Sa (nhóm Trăng Khuyết) và trên Đảo Phú Lâm (nhóm An Vĩnh).

Lực lượng quân sự Pháp/Việt duy trì ở Hoàng Sa cho đến năm 1956, và có một vài năm gián đoạn trong thời trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng uần đảo trong giai đoạn Thế Chiến thứ II. Tháng 2/1946, cả Pháp và Trung Quốc đã nhất trí việc binh lính Pháp sẽ thay thế binh lính Trung Quốc đóng quân tại bắc Đông Dương Vĩ tuyến 16 (bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trước ngày 31/3/1946. Theo đó, binh lính Pháp đã được điều ra để tái kiểm soát quần đảo Hoàng Sa vào tháng 6/1946. Mặc dù sau đó 3 tháng, lực lượng này đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa do chiến tranh đang diễn ra giữa người Pháp và Việt Minh, tuy nhiên thì Bộ trưởng Quốc phòng Pháp tướng Alphonse Pierre Juin đã thúc giục Chủ tịch Uỷ ban về Đông Dương phải quay trở lại đóng quân tại quần đảo Hoàng Sa vào tháng 10/1946 để củng cố cơ sở pháp lý của Pháp trước Trung Quốc. Thêm vào đó, yêu cầu tất cả tàu tiếp cận quần đảo Hoàng Sa phải xin phép Cao ủy Pháp tại Sài Gòn.

Sau khi Pháp biết tin Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã triển khai lực lượng tới Hoàng Sa để tiếp nhận sự đầu hàng của binh lính Nhật Bản đang đóng uân bất hợp pháp tại đây sau khi lực lượng Đồng Minh rút quân khỏi Đông Dương năm 1946, thì Pháp đã chính thức trao công hàm phản đối tới Trung Quốc vào ngày 13/1/1947. Ngay sau đó ngày 13/7/1947 tàu chiến Pháp có tên Le Tonkinois đã được điều tới khu vực để trục xuất bính lính Quốc Dân Đảng khỏi Đảo Phú Lâm (Woody). Tuy nhiên, sau khi phát hiện ra rằng Quốc Dân Đảng đang triển khai một số lượng lớn binh lính trên đảo này thì lực lượng Pháp-Việt đã rút về Đảo Hoàng Sa. Năm 1953, tàu khảo sát thuỷ văn có tên Ingenieur en chef Girod đã được điều ra quần đảo Hoàng Sa làm nhiệm vụ nghiên cứu hải dương học, địa lý, địa chất, và sinh thái học.

Bên cạnh các hoạt động ở quần đảo Hoàng Sa, Pháp cũng đã thực thi các hoạt động nhằm củng cố chủ quyền của họ ở quần đảo Trường Sa. Năm 1927, tàu De Lanessan lần đầu tiên triển khai hoạt động khảo sát khoa học tại quần đảo này. Vào năm sau đó, tháng 11/1928, công ty có tên Công ty Phốt phát Bắc Kỳ đã nộp đơn tới Toàn quyền Đông Dương xin khai thác phốt phát ở quần đảo Trường Sa. Và sau đó năm 1930, đội khảo sát người Pháp trên con tàu La Malicieuse đã tiến hành khảo sát lần thứ 2 ở quần đảo Trường Sa và thượng cờ Pháp ở quần đảo này – đây là chứng cứ đầu tiên được ghi chép về việc ghi dấu chủ quyền đối với các hòn đảo này ở Trường Sa. Sau đó, ngày 23/9/1930, Pháp đã thông báo cho các cường quốc khác biết rằng nước này đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa trên thực địa, trên cơ sở Trường Sa là vùng đất vô chủ (terra nullius).

Sau đó đến năm 1933 Pháp đã điều các tàu Alerte, Astrobale và Delanessan tới quần đảo Trường Sa để chính thức kiểm soát thực tế quần đảo này. Ba tháng sau đó, Bộ Ngoại giao Pháp đã đưa ra công báo trên tạp chí French Journal Officiel (26/7/1933, trang 7837) thông báo với cộng đồng quốc tế rằng đơn vị hải quân Pháp đã chiếm đóng trên thực tế quần đảo Trường Sa (với các đảo nhỏ lân cận), Đảo An Bang – Islet caye of Amboine (với các đảo nhỏ lân cận), Đảo Ba Bình – Itu Aba (với các đảo nhỏ lân cận), Đảo Song Tử Đ ng – North East Cay và Đảo Shira (với các đảo nhỏ lân cận), Đảo Loại Ta – Loaita (và các đảo nhỏ lân cận) và Đảo Thị Tứ – Thi Tu (với các đảo nhỏ lân cận). Các thông báo riêng cũng đã được gửi cho Trung Quốc, Anh, Nhật Bản, Hà Lan và Mỹ. Với việc yêu sách đối với cả các thực thể lân cận “thuộc” các đảo, rõ ràng là Pháp có mục đích yêu sách chủ quyền đối với toàn quần đảo Trường Sa. Sau sự kiện công khai sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tháng 7/1933, Pháp đã thiết lập cơ quan quản lý hành chính và đội quân bảo vệ quần đảo trên Đảo Ba Bình. Tháng 12/1933, Toàn quyền Pas uier đã ký Nghị định số 4762-CP (ngày 21/12/1933), quyết định quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa (Đông Dương). Sau đó Cơ quan Nghiên cứu Thuỷ văn Đông Dương đã cho xâ dựng trạm phát thanh và trạm khí tượng trên Đảo Ba Bình vào năm 1938 – và trong danh sách của Tổ chức Nghiên cứu Thuỷ văn Thế giới, dữ liệu từ trạm khí tượng này được ghi xuất xứ là từ Nam Kỳ. Sau đó Pháp cũng triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học tại quần đảo này.

Năm 1939, Pháp đã tái khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa, khẳng định quần đảo này là thuộc nước An Nam, sau khi Nhật Bản tuyên bố đặt quần đảo nà dưới quyền kiểm soát hành chính của Đài Loan. Sau đó thì đội dân quân An Nam đã được triển khai thêm tới doanh trại đang đóng ở Trường Sa để chống lại việc Nhật Bản triển khai quân lực lượng dân quân Formosa (Đà Loan), và một tàu chiến Pháp làm nhiệm vụ tuần tra ở Biển Đông cũng đã cập bến ở Trường Sa. Tuy nhiên lúc đó thì Trung Quốc không hề phản đối tuyên bố của Nhật Bản, cũng như việc triển khai lực lượng dân quân của An Nam và Đài Loan ở đây.

Tháng 10/1946, tàu chiến Pháp có tên Chevreud được điều ra Trường Sa để khẳng định lợi ích của Pháp ở quần đảo này và đội thuỷ thủ đã đặt bia khẳng định chủ quyền trên Đảo Ba Bình. Khi Pháp biết được việc hải quân Trung Quốc đánh chiếm Đảo Ba Bình vào tháng 11/1946, thì quan chức Pháp đã phản đối hành động này và yêu cầu quân đội Quốc Dân Đảng phải rút ngay khỏi quần đảo.

Sau khi Pháp chính thức chuyển giao quyền bảo vệ quần đảo Hoàng Sa cho quân đội của Việt Nam. Thủ tướng Trần Văn Hữu tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với uần đảo Trường Sa và Hoàng Sa tại Hội nghị Hòa Bình San Francisco. Không một quốc gia nào trong số 51 quốc gia tham dự Hội nghị phản đối tuyên bố này, ngoài ra cũng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấ Trung Hoa Dân Quốc đã từng phản đối tuyên bố trên. Vào thời điểm đó, Trung Hoa Dân quốc là đại diện của Trung quốc tại Liên Hợp quốc.

Hải quân Việt Nam đã đảm trách nhiệm vụ phòng thủ các quần đảo vào tháng 8/1965, và quân đội miền Nam Việt Nam đã chốt giữ Đảo Hoàng Sa (Pattle) và đảo Hữu Nhật (Robert) lần lượt vào tháng và tháng 7 năm 1956. Cùng năm đó, Bộ Khai khoáng, Công nghệ và Công nghiệp Nhẹ đã tiến hành khảo sát trên các Đảo Hoàng Sa (Pattle), Đảo Quang Ánh (Mone ), Đảo Hữu Nhật (Robert) và Đảo Duy Mộng (Drumond) thuộc quần đảo Hoàng Sa. Sau đó, Thủ quân lục chiến Việt Nam Cộng   Hòa tiếp tục nhiệm vụ phòng vệ các đảo này.

Việc Trung Quốc liên tục có hành động xâm phạm quần đảo Hoàng Sa những năm 1970 đã khiến miền Nam Việt Nam tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa trong tuyên bố ngày 15/7/1979797. Tháng 5 năm đó, quân đội Việt Nam tiến hành khảo sát tại quần đảo Tri Tôn. Một tuyên bố dài đã được công bố buộc tội cộng sản Trung Quốc đã xâm lược Hoàng Sa vào ngày 21/1/1974. Một Công hàm ngoại giao cũng được gửi tới các bên tham gia ký kết Hiệp định Hòa bình Paris 1973, kêu gọi tổ chức một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Bảo an. Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam cũng bà tỏ quan ngại của mình, mặc dù có chừng mực, về hành động xâm phạm củaTrung Quốc. Cũng trong năm 1974, miền Nam Việt Nam tái khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa trong cuộc họp của Ủ ban Kinh tế về Vùng Viễn Đông vào tháng Ba và cuộc họp của Hội nghị Liên Hợp quốc về Luật Biển lần thứ 3 vào tháng 7.

Sau khi Pháp rút uân ra khỏi Đông Dương vào năm 1956, miền Nam Việt Nam cũng bắt đầu thi hành chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa với tư cách là nước kế thừa yêu sách chủ quyền của Pháp, chiểu theo các tuyên bố của Pháp trước đó. Vào 1/6/1956, Việt Nam Cộng hòa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa sau khi Tomas Cloma thiết lập cái ng gọi là “Vùng Đất Tự Do” (Freedomland) ở phần phía Đông của quần đảo này. Sau đó vào giữa tháng 6, Bộ trưởng Ngoại giao miền Nam Việt Nam tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với chuỗi đảo trên. Vào tháng 10, tỉnh Phước Tu được giao quyền quản lý quần đảo Trường Sa theo Nghị định số 143/NV ngày 22/10/1956. Hải quân miền Nam Việt Nam đã triển khai hàng loạt hoạt động để tái khẳng định quyền kiểm soát đối với quần đảo Trường Sa trước việc Trung Quốc và Philippines tăng cường xâm nhập Trường Sa (Đảo Ba Bình (Itu Aba) và Vùng đất tự do (Freedomland)). Tháng 8/1956, các thủ thủ của tàu tuần dương Tụ Động được giao nhiệm vụ dựng bia chủ quyền và kéo cờ Việt Nam trên nhiều đảo ở quần đảo Trường Sa. Năm 1961, thủy thủ đoàn của tàu Vạn Kiếp và Vân Đồn đã đổ bộ lên đảo Song Tử Tây, Đảo Thị Tứ và đảo Loại ta và đảo An Bang dựng bia chủ quyền và treo cờ Việt Nam. Thủ thủ của tàu Tụ Động và Tây Kết cũng thực hiện hành động tương tự vào năm 1962 ở đảo Trường Sa và đảo Nam Yết. Vào năm 1963, thủ thủ đoàn của các tàu Hải quân: Hương Giang, Chi Lăng, và Kỳ Hoa đã dựng lại bia chủ quyền tại tất cả các đảo chính ở quần đảo Trường Sa (Đảo Trường Sa 19/5/1963; Đảo An Bang 20/5/1963; Đảo Thị Tứ và Loại ta 22/5/1963; Song Tử Đông và Song Tử Tây 2/5/1963). Hoạt động tuần tra hải quân thường xuyên diễn ra tại các đảo này trong suốt năm 1960, mặc dù hoạt động tuần tra thường xuyên nà đã giảm đi đáng kể sau 1963 do các xung đột đang diễn ra với miền Bắc Việt Nam. Các đơn vị của hải quân Việt Nam cũng tiến hành một số khảo sát và chuyến thám hiểm để vẽ bản đồ tại khu vực nà từ 1960 đến 1967.

Trước sự phản đối liên tục từ các bên yêu sách khác ở quần đảo Trường Sa trong suốt những năm 1970, chính quyền Sài Gòn đã có những phản ứng đanh thép hơn. Vào 20/4/1971, Bộ Ngoại giao gửi công hàm ngoại giao cho chính phủ Malaysia thể hiện lập trường của Việt Nam về những yêu sách chủ quyền đối với quần đảo này. Ba tháng sau, trong một tuyên bố ngày 15/7/1971, Bộ Ngoại giao tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với uần đảo Trường Sa. Vào tháng 5/1973, Việt Nam tiến hành các khảo sát ở Đảo Thị Tứ (Pagasa), Đảo Loại Ta, Đảo Song Tử Đông và vào tháng 7, Việt Nam đã chiếm giữ Đảo Nam Yết ở quần đảo Trường Sa. Cũng trong tháng 7, Bộ phát triển Nông nghiệp và Viện Nghiên cứu Nông nghiệp đã tiến hành một khảo sát tại Đảo Nam Yết. Sau đó, vào 6/9/1973, quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tu (Nghị định số 420 – BNV/HCDP/26). Các công hàm ngoại giao cũng được gửi tới Đài Loan (29/1/1973) và Philippines (12/2/1973) phản đối các yêu sách về căn cứ của Đài Bắc và Manila đối với quần đảo Trường Sa.

Từ những vấn đề trên cho thấy, Việt Nam là nước duy nhất có đầy đủ chứng cứ lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền hợp pháp ở Biển Đông, và tiến trình xác lập chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông được đông đảo cộng đồng quốc tế ủng hộ, thừa nhận.

RELATED ARTICLES

Tin mới

Bình luận