Những động thái ngoại giao và quân sự dồn dập của Washington tại khu vực ASEAN đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Vẻ như tới thời điểm này, sau khi đã cơ bản kiểm soát được đại dịch Covid-19, chính quyền của ông Joe Binden mới bắt đầu thực sự thể hiện cho Trung Quốc biết, Mỹ dưới thời của ông Joe Biden là như thế nào trong vấn đề Biển Đông.

Phó tổng thống Mỹ, bà Kamala Harris – sắp thăm Việt Nam
Cuối tháng 7 vừa qua, chuyến thăm của bộ trưởng quốc phòng Mỹ, ông Lioyd Austin, tới Việt Nam là thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận. Chú ý vì: Thứ nhất, ông Austin là quan chức cao cấp nhất của chính quyền ông Binden thăm Việt Nam; đã thế, còn là người đứng đầu quốc phòng? Thứ hai, Việt Nam đang căng mình trong trận cuồng phong của làn sóng dịch Covid thứ 4 với màu đỏ thảm khốc mỗi ngày một loang rộng ra cả nước, mà vẫn dành thời gian mời ông Austin. Thứ ba, trọng thị của phía chủ nhà dành cho người đứng đầu Lầu Năm góc: Ngoài sự trọng thị của tân Bộ trưởng Quốc phòng – tướng Phan Văn Giang, còn là sự thịnh tình của hai vị trong hàng “tứ trụ” của Việt Nam, là Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ. Và thứ tư, những nội dung hai bên đề cập trong các cuộc tiếp xúc khiến dư luận mường tượng tới khả năng quan hệ Việt – Mỹ, từ quan hệ đối tác toàn diện, sẽ nâng lên thành quan hệ đối tác chiến lược…
Khó chịu về điều này, Thời báo Hoàn cầu – tờ báo cực tả của Trung Quốc, đã “nhắc khéo” Việt Nam bằng bài viết vừa giả vờ ca ngợi, vừa hàm ý “định hướng” người hàng xóm phía Nam, là nạn nhân lâu nay của họ, rằng: Các chuyến thăm của Mỹ sẽ không làm lung lay chính sách đối ngoại “bốn không” của Việt Nam: Không liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước khác; không đặt căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam để chống nước khác; và không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực. Thậm chí, sát sạt hơn, cũng Hoàn cầu Thời báo còn viết, đại ý: Hà Nội “cần có sự giúp đỡ của Trung Quốc để vượt qua các khó khăn về kinh tế…” (?!).
Việc nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ chưa diễn ra. Sự không thay đổi đó, là do Việt Nam nhất quán, kiên trì, chứ chẳng thể suy là “công” của Bắc Kinh, càng không thể là do Trung Nam Hải tác động. Tuy nhiên, thế thôi cũng đủ khiến Trung Nam Hải thở phào. Bởi, nếu Mỹ thành đối tác chiến lược của Việt Nam, thực dụng như Trung Quốc, họ thừa biết, ván bài Biển Đông sẽ khác nhiều, khó hơn nhiều so với những gì họ toan tính.
Tức là câu chuyện không đơn giản như Bắc Kinh nghĩ. Chuyến thăm của ông Austin vừa kết thúc, Hà Nội lại sốt sắng chuẩn bị đón một nhân vật còn quan trọng hơn ông Austin. Nhân vật đó là phó tổng thống – bà Kalama Harris. Cùng với khẳng định chính thức sự kiện quan trọng sắp diễn ra này, trong cuộc họp báo quốc tế thường kỳ ngày 5/8, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thu Hằng, ngoài hoan hỷ thông báo các cơ quan chức năng của Việt Nam và Mỹ đang phối hợp chuẩn bị cho sự kiện này (…), còn nói một câu mang tính bình luận: “chuyến thăm của nhân vật thứ hai Nhà trắng sẽ đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới”.
Chẳng cần các chuyên gia nghiên cứu quốc tế, ai cũng hiểu bà Hằng đã ý tứ đề cập khéo léo câu chuyện Biển Đông; hàm ý rằng: Khu vực này sẽ giảm nhiệt nếu Mỹ hiện diện. Tiếp theo chuyến thăm của ông Austin, sự hiện diện của bà Kalama Harris tại Hà Nội thời điểm này chứng tỏ, việc ông Austin nói Mỹ coi trọng quan hệ với Việt Nam không phải để lấy lòng, mà là câu nói thật, tất nhiên, trước hết, nó xuất phát từ lợi ích chiến lược của Mỹ trong khu vực.
Ngoại giao nên hay vòng vèo. Chứ nói trắng phớ, có thể hiểu, Việt Nam cũng thế; Indonesia – quốc gia chẳng có yêu sách chủ quyền trên Biển Đông – đang cùng Mỹ tổ chức một cuộc tập trận lớn chưa từng có giữa hai nước – cũng thế; Philippines – vừa quyết định không hủy Hiệp định về Thỏa thuận lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ – cũng thế…, không nói ra, nhưng đều hiểu nhân tố Mỹ quan trọng như thế nào. Bởi, trong bối cảnh và tương quan hiện nay, chỉ có một cường quốc quân sự như Mỹ mới đủ sức kiềm chế sự hung hăng và tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông.