Khương Tứ – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 16:25:48 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Thấy gì từ cọ xát, tranh chấp trên thực địa giữa TQ với Philippines từ đầu 2025 tới nay? https://biendong.net/2025/10/29/thay-gi-tu-co-xat-tranh-chap-tren-thuc-dia-giua-tq-voi-philippines-tu-dau-2025-toi-nay/ Wed, 29 Oct 2025 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159036 Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới.

       1. Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới. Từ đầu 2025 tới nay, theo thống kê chưa đầy đủ, dư luận thế giới, khu vực ghi nhận xảy ra 8 vụ việc cọ sát, tranh chấp, có 6 vụ việc cọ sát lớn giữa hai bên khiến dư luận khu vực hết sức quan tâm, trong đó từ tháng 8 tới nay có 3 vụ việc xảy ra liên tiếp trong các tháng 8, 9, 10.

Cụ thể: ngày 11/8/2025, tàu cảnh sát biển Trung Quốc có hành vi xua đuổi quyết liệt, nguy hiểm không ngại đâm va tàu của Philippines. Các hành vi hung hăng, cuỡng ép điên cuồng đã khiến chính các tàu công vụ của Trung Quốc đâm va với nhau khiến tàu CCG 3104 bị hư hại nặng, làm mấy binh lính Trung Quốc rơi xuống biển ở gần bãi cạn Scarborough, sự kiện chưa từng có. Tiếp theo, cũng ở khu vực Scarborough, trong các ngày 15-16/9, Trung Quốc dùng vòi rồng xua đuổi đâm va, đẩy lùi tàu Philippines làm vỡ kính tàu Philippines, một nhân viên bị thương nhẹ. Rồi mới đây nhất, ngày 12-13/10, tàu cảnh sát biển Trung Quốc cố tình đâm va tàu Philippines (BRP Datu Pagbuaya) ở gần khu vực chưa đến 2 hải lý gần Thị Tứ, khiến tàu này bị hư hại nhẹ ở phần đuôi. Trung Quốc đổ lỗi cho Philippines huy động có tổ chức, có ý đồ cho một số lượng lớn tàu thuyền khiêu khích ở các vùng biển liên quan của Trung Quốc, khẳng định đảo Thị Tứ, bãi Sandy Cay, đá Subi thuộc “cái gọi là” Nam Sa của Trung Quốc; đổ lỗi nguợc cho Philippines thực hiện các thao tác nguy hiểm gây ra va chạm. Philippines lên án hành động của Trung Quốc là bắt nạt, vi phạm các quy định về ứng xử hàng hải và tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp ngoại giao phù hợp.

        2. Từ đầu 2025 tới nay, khu vực Scarborough và Sandy Cay –  Thị Tứ chiến truờng cọ sát chính.

          Nếu như trong các năm 2023-2024, cọ sát giữa Trung Quốc và Philippines hết sức căng thẳng, nóng cả ở khu vực bãi cạn Second Thomas Shoal và hình thành điểm cọ sát mới ở khu vực bãi Sabina Shoal (xảy ra 3 vụ cọ sát vào cuối 2024 ) thì đáng chú ý, trong 2025, tình hình bãi cạn Second Thomas và Sabina có vẻ tạm lắng dịu hơn; chỉ ghi nhận một vài vụ nhỏ tàu hải cảnh Trung Quốc đến ‘giám sát tàu dân sự Philippines’ tiếp tế cho quân đồn trú trên chiếc tàu chiến cũ BRP Sierra Madre, hoặc tàu tuần duyên Philippines bị quấy nhiễu khi tiếp tế ngư dân song không xảy ra vụ việc cọ sát lớn, căng thẳng. Tuy nhiên, từ đầu 2025 tới nay, cọ sát nổi lên nhiều ở khu vực Sandy Cay đồng thời tiếp tục cọ sát gay gắt ở khu vực Scarborough vốn đã nóng lên từ cuối năm 2024. Theo thống kê sơ bộ, từ tháng 01/2025, các vụ cọ sát lớn, đáng kể của hai bên đều tập trung nhiều vào hai khu vực Sandy Cay và Scarborough, trong  8 vụ lớn, nhỏ giữa hai nuớc ở khắp khu vực Biển Đông giữa hai nuớc từ đầu 2025 tới nay, có 6 vụ khá nghiêm trọng bao gồm 3 vụ ở Sandy Cay, 3 vụ ở Scarborough.

          Căng thẳng ở bãi cạn Scarborough ngày càng gay gắt là hệ lụy tiếp diễn của các sự việc liên quan nóng lên gay gắt từ nửa cuối 2024 khi hai bên đều tìm cách khẳng định chủ quyền của mình, nhất là từ phía Bắc Kinh với những động thái pháp lý, thực địa hết sức cứng rắn, sẵn sàng chơi tới cùng với con bài vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hải cảnh đi truớc, tàu chiến theo sau. Theo Phán quyết của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016 (Phán quyết 2016), Bãi cạn Scarborough là một thực thể luôn nổi, nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 220-240 km, hoàn toàn trong vùng EEZ của nước này, song bị “đuờng luỡi bò” của Trung Quốc “liếm mất” từ 2012. Năm 2024, Trung Quốc có điều chỉnh cơ bản lập truờng pháp lý đối với khu vực này khi công bố thiết lập đuờng cơ sở đối với Scarborough, gây phản ứng mạnh mẽ của Philippines. Chưa dừng lại, tháng 9/2025, Trung Quốc “phê duyệt khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” ở Scarborough, thiết lập vùng lõi, thử nghiệm sinh thái nhằm bảo vệ cái gọi là ‘bảo vệ đa dạng sinh học”, thực chất là tiến thêm một buớc khẳng định chủ quyền, ngăn chặn tuyệt đối tàu bè Philippines vào khu vực này, củng cố thế chiếm đóng trên thực địa, triệt để đẩy Philippines khỏi khu vực này bằng cả pháp lý và trên thực địa. Còn Philippines phản ứng mạnh, cho đây là cách mà Trung Quốc hợp thức hóa và quân sự hóa tiền đồn chiếm đóng bất hợp pháp ở Scarbrough. Philippines cũng cố gắng duy trì đuợc sự hiện diện tối thiểu bằng tàu công vụ và ngư dân nhằm khẳng định chủ quyền của mình. Mỹ cũng hỗ trợ về ngoại giao và trên thực địa song sức cùng lực kiệt.

          – Bãi Sandy Cay nổi lên trở thành điểm nóng đáng chú ý. Đáng chú ý, từ đầu năm tới nay đã xảy ra 3 vụ việc cọ sát khá quyết liệt trong các tháng 1, tháng 5 và này 12-13/10 vừa qua giữa Trung Quốc với Philippines. Sandy Cay là tên tiếng Anh được dùng để chỉ 3 thực thể gần nhau gồm Đá Hoài Ân, Tri Lễ và Cái Vung, chủ yếu gồm các cồn cát nhỏ, bãi cát nổi, chìm theo thủy triều nằm sát đảo Thị Tứ, (cụm Thị Tứ). Các thực thể này nằm cách cách đảo Thị Tứ khoảng 2-3 hải lý song khác với đảo Thị Tứ về tính chất địa lý, địa vị pháp lý và tình trạng kiểm soát.  Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền đối với cụm Thị Tứ bao gồm Sandỵ Cay. Ngày 16/10, Nguời phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng lên tiếng về vụ cọ sát ngày 12/10, tỏ hết sức quan ngại, đề nghị các bên tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, kiềm chế, tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, tôn trọng quy tắc hàng hải, tạo không khí cho việc xây dựng Bộ quy tắc ứng  xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế nhất là UNCLOS.

       3. Tại sao từ khu vực Scarobough và Sandy Cay lại trở nên nóng lên liên tục từ đầu năm tới nay?

        Thứ nhất, hai khu vực này là hai bãi chiến truờng phản ánh khá toàn diện cuộc chiến tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán khó khoan nhuợng giữa Trung Quốc với Philippines, riêng khu vực Sandy Cay có liên quan đến Việt Nam. Tham vọng độc chiếm biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc là không có dư địa dung hòa với lập truờng tuân thủ Công uớc về luật biển 1982 theo chủ truơng của phía Philippines. Chắc chắn chung cuộc sẽ dẫn đến một bên phải nhuợng bộ, hoặc bị mất chủ quyền, quyền chủ quyền. Trên thực tế, nuớc lớn như Trung Quốc với dã tâm như vậy làm sao mà nhuợng bộ nuớc bé, yếu như Philippines?. Philippines cũng không thể từ bỏ chủ quyền của mình đuợc Luật pháp quốc tế công nhận, đuợc đại đa số các nuớc ủng hộ. Từ nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc sử dụng nhiều sách luợc, chiến thuật tinh vi, lắt léo, thô thiển như kiểu ‘con tằm ăn lá dâu’, ‘tuớc dần lá bắp cải’, ‘luộc ếch’ hay  “vùng xám”, đã thành công trong việc xâm chiếm, khống chế nhiều vùng biển và các thực thể của Philippines. Cả hai khu vực Scarobough và Sandy Cay nổi lên hơn như một ví dụ điển hình cho việc giành giật, thể hiện dã tâm bành truớng mới của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian gần đây của “thời đại Tập Cận Bình”. Philippines là đối tuợng dễ bị Trung Quốc xử lý nhất trong các nuớc có tranh chấp với Trung Quốc; đồng thời nó cũng làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp thực địa ở khu vực Trường Sa liên quan tới 5 nước 6 bên; đối với khu vực Thị Tứ là giữa 3 nước Việt Nam, Philippines và Trung Quốc, song cọ sát chủ yếu là giữa Philippines với Trung Quốc vì Philippines đang chiếm giữ thực tế Thị Tứ và coi Sandy Cay thuộc lãnh hải của Thị Tứ.

        Thứ hai, mấy năm gần đây, chiến luợc của Trung Quốc trên thực địa từ khống chế vùng biển chuyển sang mở rộng tăng cường thế khống chế, thế kiểm soát thực thể. Sau khi tôn tạo phi pháp trên các thực thể từ 2013-2016, từ 2017 tới nay, sau khi đã hình thành xong thế trận khống chế trên biển,  không cho các nuớc triển khai các hoạt động khai thác tài nguyên biển, mấy năm gần đây, Trung Quốc tập trung khống chế các nuớc có ‘ý đồ’ mở rộng, củng cố yêu sách đối với các thực thể, tự cho mình một ‘chủ nhân ông’ thực thi ‘quyền hành’ đối với các nuớc trên thực địa, duờng như chỉ có Trung Quốc mới có quyền tôn tạo, kiểm soát, cấm cản các hoạt động thực thi chủ quyền của các nuớc khác ở khu vực Biển Đông. Trung Quốc đang tìm cách kiểm soát, khống chế không cho các nước liên quan tiến hành kiểm soát, tôn tạo các cấu trúc ở Trường Sa, nhất là đối với các cấu trúc chưa có sự hiện diện, chiếm đóng của bên nào.

        Thứ ba, gây sức ép buộc các bên liên quan chấp nhận COC theo nguyên trạng mà Trung Quốc áp đặt phi lý, có lợi cho họ trong giai đoạn tới. Việc Trung Quốc tăng cuờng gây sức ép với Philippines có thể nhằm ngăn chặn Phi-li-pin tiến hành cải tạo Thị Tứ trong đó có hoạt động nhằm khẳng định chủ quyền trên thực địa, về pháp lý ở khu vực Sandy Cay, từ đó tạo sức ép trên thực địa, hỗ trợ buộc Philippines phải chấp nhận ký kết một COC theo ý của Trung Quốc trong thời gian tới. Về pháp lý, Philippines coi Sandy Cay là thực thể thuộc lãnh  hải Thị Tứ mà nước này đã quản lý thực tế. Thị Tứ là trung tâm hành chính và căn cứ lớn nhất của Philippines ở Truờng Sa trong khi Trung Quốc lại lập luận phi lý, coii Sandy Cay thuộc đảo nhân tạo Xu bi của họ. Subi là một trong 3 tiền đồn lớn nhất của Trng Quốc ở Truờng Sa. Đây cũng là hành động thực tế của Trung Quốc nhằm phủ định Phán quyết 2016. Theo Phán quyết 2016, Sandy Cay là  một thực thể luôn nổi trên rạn san hộ phía Tây của Thị Tứ. Bên cạnh đó, các vụ việc đối với bãi cạn lúc chìm lúc nổi The Second Thomas Shoal, Sabina cũng thể hiện ý đồ gây sức ép để các bên liên quan kết thúc đàm phán, chấp nhận một kịch bản COC kiểu Trung Quốc, kể cả việc phản đối Việt Nam tôn tạo trên Truờng Sa cũng nằm trong ý đồ này.

         Thứ tư, đối với Trung Quốc, bản thân tính chất của hai khu vực này, về chiến luợc, ý nghĩa chính trị, quan trọng phức tạp hơn so với khu vực khác. Khu vực Scarborough có vị trí chiến luợc ở Biển Đông bị Trung Quốc khống chế từ tay Philippines từ 2012, năm bắt đầu lên cầm quyền của Tập Cận Bình. Đây là “thành tựu”  bành truớng của Tập nên Trung Quốc cứng rắn, quyết tâm giữ bằng đuợc và sẵn sàng dùng vũ lực. Còn Sandy Cay có vị trí chiến lược, là “vùng đệm tự nhiên” giữa đảo Thị Tứ và đá Xu bi; ai kiểm soát được Sandy Cay có thể giám sát, uy hiếp được Thị Tứ và Xu bi. Trung Quốc có ý đồ mở rộng phạm vi kiểm soát từ Xu bi ra tới Sandy Cay nhằm tạo vùng đệm chiến luợc khống chế đảo và các tuyến đuờng biển xung quanh, kể cả các đảo của Việt Nam như Trường Sa lớn chỉ cách đó có 25 hải lý. Do vậy, Trung Quốc ra sức uy hiếp, đe dọa bất cứ sự hiện diện nào của  Philippines tại khu vực trên, không cho Philippines có ý đồ hiện diện trên Sandy Cay,  càng không để Philippines hiện thực hóa việc coi Sandy thuộc Thị Tứ.

       Thứ năm, các khu vực the Second Thomas sau một thời gian cọ sát gay gắt, hai bên duờng như đã xây dựng một “công thức” xử lý, tạm đông kết thực tế nguyên trạng mà không bên nào giành lợi thế rõ ràng nhằm tạm thời hạ nhiệt điểm nóng khu vực này. Đáng lưu ý là chưa rõ vai trò của một “thỏa thuận quân tử” duới thời của Tổng thống Dutete, một văn bản miệng nhằm giữ ‘hòa khí, tránh xung đột’ với Trung Quốc của ông này, gây nhiều mâu thuẫn, phê phán trong nội bộ Philippines. Theo đó, Trung Quốc không cản trở các chuyến tiếp tế nhân đạo nếu Philippines không vận chuyển vật liệu xây dựng hoặc sửa chữa lớn con tàu chiến cũ Sierra Madre. Còn đối với khu vực Sabina hoặc một số thực thể khác chưa có bên nào chiếm đóng thì cả Trung Quốc và Philippines đều cảnh giác lẫn nhau, sợ đối phuơng tìm cách hiện diện, chiếm đóng khi có thời cơ, song truớc mắt ít có khả năng Trung Quốc đơn phuơng chiếm đóng, còn Philippines thì không dám, do không có lực chiếm, chỉ tìm cách giữ nguyên trạng dù có ưu thế pháp lý. Trong bối cảnh hiện nay, các bên tiếp tục giữ nguyên trạng, nhất là trong bối cảnh đang huớng tới xây dựng COC vào năm 2026. Khu vực Scarborough thì tính chất có khác hơn, Trung Quốc đã nuốt chửng ngon lành từ 2012 thì nay họ không thể nhả ra. Còn Philippines thì quyết không chịu mất, song sức yếu không làm đuợc gì nhiều. Hai bên rất găng nhau vì không có dư địa lùi buớc, nhuợng bộ. Còn đối với Sandy Cay thì liên quan trực tiếp tới Thị Tứ và Subi, hai tiền đồn chính của Philippines và Trung Quốc ở rất gần nhau có tính chất chiến luợc, vai trò kiểm soát lẫn nhau quan trọng và phức tạp hơn một số khu vực khác như The Second Thomas, Sabina…ít nhất trong giai đoạn hiện nay.         Thứ sáu và cuối cùng không thể không liên quan tới bối cảnh cạnh tranh chiến luợc các nuớc lớn. Trung Quốc muốn “nhất cử đa tiện” nhân xảy ra tranh chấp thì cố gắng tìm cách trả đũa, dằn mặt việc Phi-li-pin điều chỉnh chính sách duới thời Marcos quyết tâm dựa vào Mỹ, cho Mỹ đặt thêm căn cứ quân sự, liên kết các đồng minh lôi kéo bên ngoài vào khu vực Biển Đông, quyết tâm thực thi phán quyết, pháp lý hóa các vùng biển của Phi-li-pin, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông nên Trung Quốc  càng cay cú, quyết ra tay “giết gà, dọa khỉ”. Tuy nhiên, có thể thấy, nhân tố Mỹ chỉ là nhân tố phụ, bổ sung không phải là nguyên nhân chính khiến Trung Quốc có thái độ cứng rắn đối với Philippines trong các cọ sát ở Biển Đông duới thời của Tổng thống Marcos.

]]>
Việc Trung Quốc triển khai máy bay không người lái (UAV) tại Biển Đông và những ảnh hưởng đối với an ninh khu vực https://biendong.net/2025/10/29/viec-trung-quoc-trien-khai-may-bay-khong-nguoi-lai-uav-tai-bien-dong-va-nhung-anh-huong-doi-voi-an-ninh-khu-vuc/ Wed, 29 Oct 2025 01:53:00 +0000 https://biendong.net/?p=159031 Để hiện thực hóa tham vọng bành trướng và kiểm soát Biển Đông và từng bước thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, Trung Quốc đang áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp từ chính trị, ngoại giao, kinh tế đến quân sự, gây sức ép lên các nước Đông Nam Á nhất là những nước chịu ảnh hưởng bởi yêu sách đường “đứt đoạn” và “Tứ Sa” phi pháp.

Trong lĩnh vực quân sự, ngoài việc triển khai các loại vũ khí và trang thiết bị hiện đại như tàu ngầm, tàu chiến đấu mặt nước, tàu sân bay, vệ tinh, các lực lượng không quân và hải quân,v.v…, Bắc Kinh gần đây còn chú trọng phát triển thiết bị bay không người lái (UAV) nhằm phục vụ cho hoạt động do thám, trinh sát, thu thập thông tin tình báo, cũng như sẵn sàng tấn công các mục tiêu đối phương khi cần thiết. Động thái này không chỉ làm gia tăng căng thẳng với các nước láng giềng, mà còn gây ra những lo ngại sâu sắc về an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không trong khu vực.

Chính sách triển khai và các loại UAV chủ chốt của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông trong thời gian gần đây

Trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2019, Trung Quốc đã tiến hành đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng hệ thống UAV như một phần trong quá trình hiện đại hóa quân đội, cũng như tăng cường năng lực kiểm soát tại các vùng biển tranh chấp, trong đó có Biển Đông. Sự phát triển này bao gồm việc mở rộng sản xuất, nâng cao công nghệ UAV, tập trung tích hợp, cải thiện các tính năng như tàng hình, tốc độ bay, phạm vi hoạt động, thời gian bay và khả năng mang vũ khí. Mục đích nhằm giám sát và trinh sát vùng biển rộng, tăng cường phòng thủ, khẳng định “chủ quyền” tại khu vực tranh chấp, đồng thời tận dụng lợi thế chi phí và giảm rủi ro so với máy bay có người lái. Quân đội Trung Quốc có thể thực hiện hiệu quả nhiều nhiệm vụ như tình báo, giám sát, trinh sát (ISR), tấn công mục tiêu, tiếp tế và cứu thương.

Nhờ vào tiềm lực tài chính và công nghệ quân sự, Trung Quốc đã sớm sở hữu nhiều thế hệ UAV khác nhau và triển khai sử dụng tại Biển Đông với nhiều nhiệm vụ đa dạng. Các hoạt động này đã dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, liên quan đến vấn đề chủ quyền và an ninh. Ví dụ là, vào ngày 12/9/2019, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đưa ra phản đối về việc vào ngày 10/9/2019, Cục Nam Hải thuộc Bộ Tài nguyên Trung Quốc triển khai mạng lưới UAV ở Biển Đông để giám sát các thực thể trên biển và vùng biển xa bờ mà phía Trung Quốc cho là “nằm trong phạm vi chủ quyền” của mình. Tuy nhiên, các khu vực này là những vùng biển thuộc chủ quyền hợp pháp và không thể tranh cãi của Việt Nam. Mạng lưới UAV này gồm các thiết bị được tích hợp camera có độ phân giải cao, phạm vi quan sát rộng, truyền hình ảnh chất lượng cao theo thời gian thực tới các cơ sở thu, phát tín hiệu trên mặt đất. Trả lời báo Thanh Niên (Việt Nam), tiến sỹ Koh Swee Lean Collin – chuyên gia quốc phòng tại Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam, Singapore, nhận định: “Các UAV là một phần quan trọng của mạng lưới ISR của Trung Quốc trên Biển Đông. Mạng lưới này không chỉ dựa vào nền tảng của một vài loại cảm biến đơn thuần vốn dễ bị cản trở, ví dụ như vệ tinh bị mây che phủ, mà còn có nhiều tính năng vượt trội giúp khắc phục những khoảng trống mà các phương tiện khác chưa làm được. Hơn nữa, việc thực hiện ISR bằng UAV có chi phí rẻ hơn nhiều so với triển khai máy bay có người lái”.

Giữa năm 2022, Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) đưa tin các học viện và cơ sở đào tạo của quân đội Trung Quốc đã đưa UAV và robot vào chương trình huấn luyện kỹ năng đổ bộ dành cho học viên sĩ quan; trong đó, việc sử dụng UAV được xác định là một phần quan trọng để thực hiện tác chiến ở những khu vực xa đất liền như eo biển Đài Loan và Biển Đông. Theo các nguồn tin gần đây, nhiều UAV hoạt động ở phía bắc Biển Đông khi Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự liên quan đến Đài Loan.

Hiện nay, Trung Quốc đang triển khai nhiều loại UAV với các tính năng da dạng, phục vụ chiến lược của nước này ở Biển Đông. Dưới đây là một số loại UAV nổi bật:

(1) UAV WZ-9: Đây là loại UAV giám sát tầm xa tiên tiến nhất của Trung Quốc, có thể hoạt động ở độ cao 25.000m và bay liên tục trong 35 giờ. Radar của WZ-9 có thể “nhìn” xa tới 500km. Được vận hành tại căn cứ ở Hải Nam, WZ-9 có thể giám sát các vùng biển rộng lớn trên Biển Đông.

(2) UAV siêu vượt âm MD-19: Loại UAV này xuất hiện vào cuối năm 2024. Khác với các mẫu vũ khí siêu thanh sử dụng một lần như Kinzhal hay Zircon của Nga, MD-19 là phương tiện trinh sát, được tái sử dụng nhiều lần; có thể hạ cánh ngang trên đường băng truyền thống, một kỳ tích mà ngay cả các chương trình thử nghiệm các loại UAV có tốc độ siêu vượt âm nổi tiếng của Mỹ như X-51A Waverider hay Talon-A vẫn chưa làm được. UAV MD-19 dài 2,5 – 3,5m, có hình dáng khí động học kiểu mũi nêm, cánh tam giác và đuôi thon, tốc độ bay đến Mach 5 (hơn 6.000km/h). Loại UAV này có thể giảm tốc, chuyển sang bay tốc độ dưới âm và hạ cánh như máy bay thông thường. Đây là bước tiến vượt bậc so với những phương tiện siêu thanh khác vốn cần hệ thống thu hồi chuyên biệt hoặc chỉ dùng một lần. Vì vậy, MD-19 có thể bay sâu vào khu vực tranh chấp như eo biển Đài Loan hoặc Biển Đông để trinh sát thời gian thực. Một báo cáo năm 2023 của Trung tâm Đánh giá Ngân sách và Chiến lược (CSBA) của Mỹ đã cảnh báo rằng, MD-19 có thể gây áp lực lớn lên các nhóm tác chiến tàu sân bay hoặc căn cứ tiền phương của Mỹ tại Guam và Okinawa. Theo giới chuyên gia quân sự thế giới, MD-19 đang gây “choáng” cho Quân đội Mỹ.

(3) UAV S-100: Là loại drone cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) do Áo sản xuất, được Trung Quốc mua lại vào năm 2010. Loại UAV này có trần bay 18.000 feet, thời gian hoạt động hơn 6 giờ và hơn 10 giờ nếu có thêm bình nhiên liệu ngoài, tầm hoạt động 100-200km; rất lý tưởng cho các hoạt động ISR. UAV S-100 có thể được trang bị nhiều loại cảm biến như radar khẩu độ tổng hợp (SAR), radar hàng hải, tình báo tín hiệu (SIGNIT) và tình báo liên lạc (COMINT). Mặc dù chưa có dấu hiệu Trung Quốc sẽ cải tiến loại UAV này để mang vũ khí, nhưng bản thân S-100 đã có khả năng mang được vũ khí. Nó có thể được triển khai từ các tàu khu trục Type 054/054A ở bất cứ đâu trên biển Hoa Đông và Biển Đông. Các thực thể do Trung Quốc kiểm soát ở Biển Đông cũng có thể là địa điểm hỗ trợ triển khai UAV loại này.

 (4) UAV BZK-005: Là loại UAV tầm trung, trần bay 26.247 feet (8.000m), tầm hoạt động tối đa 1.491 dặm (2.400km), thời gian hoạt động 40 giờ. Chức năng chính của BZK-005 là tiến hành hoạt động ISR, nên nó được trang bị các cảm biến quang điện, hồng ngoại, khẩu độ tổng hợp và tình báo tín hiệu, cùng với hệ thống liên lạc vệ tinh. UAV loại BZK-005 có thể bay qua Biển Đông nếu được phóng từ các đảo nhân tạo và tự nhiên do Trung Quốc kiểm soát như đá Subi, đá Vành Khăn, đá Chữ Thập…

(5) UAV GJ-1 (Wing Loong I): Đây là loại UAV tầm trung, có mô hình rất giống với loại UAV Predator của Mỹ, đã được xuất khẩu ra nước ngoài. UAV GJ-1 có tải trọng 200kg, được trang bị 8 loại vũ khí, chủ yếu là tên lửa không đối đất cùng bom đường kính cỡ nhỏ, tầm hoạt động 4.000km. Phương tiện này có tầm hoạt động bao phủ toàn bộ khu vực biển Hoa Đông nếu xuất phát từ các căn cứ thuộc Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Đông, cũng như bao phủ Biển Đông nếu xuất phát từ các căn cứ thuộc Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam của Trung Quốc. Khi được phóng từ đường băng Ling Shui trên đảo Hải Nam, GJ-1 giúp mở rộng phạm vi giám sát của Hải quân Trung Quốc tại khu vực Biển Đông.

Những ảnh hưởng đối với an ninh khu vực từ hoạt động triển khai UAV của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc ứng dụng các loại UAV tiên tiến có thể giúp Trung Quốc nâng cao năng lực giám sát, trinh sát và thu thập thông tin trên Biển Đông. Những UAV này có khả năng hoạt động trong thời gian dài, ở độ cao lớn và phạm vi rộng, qua đó liên tục cung cấp dữ liệu thời gian thực về các hoạt động biển trong khu vực. Nhờ đó, Trung Quốc nắm rõ tình hình Biển Đông một cách toàn diện, đồng thời, hỗ trợ các hoạt động thực địa nhằm khẳng định “chủ quyền” và “lợi ích quốc gia” của mình tại Biển Đông. Ngược lại, việc Trung Quốc triển khai UAV tạo ra nhiều thách thức đối với an ninh khu vực, làm dấy lên sự quan ngại của các quốc gia liên quan, cụ thể bao gồm:

Một là, do thường bay gần hoặc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước khác, hoạt động của các UAV Trung Quốc được xem là mang tính khiêu khích, đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước trong khu vực. Ví dụ, ngày 02 và 07/8/2024, một UAV WZ-10 của Trung Quốc đã cất cánh từ đảo Hải Nam, sau đó bay dọc bờ biển Việt Nam đến tận Phan Rang. Vì diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Philippines vừa kết thúc các cuộc diễn tập chung của lực lượng cảnh sát biển, các nhà phân tích nhận định đây là động thái khẳng định sự hiện diện và răn đe của Trung Quốc, vi phạm luật pháp quốc tế, gây căng thẳng, làm xói mòn lòng tin và tiềm ẩn nguy cơ xung đột trong khu vực. Hành động này đẩy các nước ASEAN vào tình thế phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo vệ không phận và vùng biển thuộc chủ quyền của mình trước sự hiện diện ngày càng tăng của các loại UAV của Trung Quốc.

Hai là, gây bất ổn và làm gia tăng căng thẳng khu vực. Sự xuất hiện của các loại UAV tiên tiến, đặc biệt là UAV tàng hình, có tốc độ siêu vượt âm của Trung Quốc hoạt động trên biển, sẽ làm thay đổi cán cân quân sự trong khu vực. Dựa trên sức mạnh của mình, Trung Quốc có thể sử dụng các UAV này để thiết lập các vùng cấm bay hoặc hạn chế hoạt động tự do hàng hải và hàng không. Tình trạng này có thể dẫn đến việc môi trường an ninh trở nên bất ổn, khiến các nước ASEAN phải gia tăng ngân sách quốc phòng và tìm kiếm các đối tác an ninh bên ngoài nhằm ứng phó. Hệ quả là Biển Đông ngày càng bị quân sự hóa, kéo theo chạy đua vũ trang và gia tăng nguy cơ xung đột.

Ba là, thách thức đối với năng lực phản ứng và quốc phòng của các nước. UAV hiện đại của Trung Quốc có khả năng tàng hình, tốc độ cao và tầm hoạt động rộng, khiến việc phát hiện, theo dõi và đánh chặn trở nên khó khăn với các nước khu vực. Do thiếu năng lực công nghệ và quân sự, nhiều quốc gia trong khu vực buộc phải gia tăng đầu tư vào phòng không, tác chiến điện tử và phát triển chiến lược đối phó, gây tốn kém nguồn lực và thời gian.

Bốn là, gây ảnh hưởng đến các nỗ lực ngoại giao và hợp tác khu vực. Việc Trung Quốc liên tục triển khai và sử dụng UAV tiến hành các hoạt động trinh sát, thu thập thông tin trong các khu vực biển có tranh chấp sẽ làm phức tạp thêm các nỗ lực ngoại giao và hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN. Nó làm suy yếu các cam kết về kiềm chế gây xung đột và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Dù Trung Quốc có biện minh kiểu gì đi chăng nữa, thì các nước có tranh chấp tại Biển Đông nhận thấy chủ quyền của mình đang bị đe dọa, mất niềm tin vào thiện chí của Trung Quốc, gây cản trở cho tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) đang diễn ra và các sáng kiến hợp tác khác nhằm duy trì hòa bình, ổn định, cùng hợp tác và cùng phát triển trong khu vực.

Có thể thấy, việc Trung Quốc nghiên cứu, phát triển và triển khai các loại UAV là một phần quan trọng trong nỗ lực quân sự hóa của nước này nhằm gia tăng khả năng kiểm soát và củng cố chủ quyền phi pháp tại Biển Đông. Với sự đa dạng về chủng loại và khả năng vượt trội về tính năng kỹ, chiến thuật, các loại UAV giúp  Trung Quốc  tạo ra lợi thế đáng kể  trong hoạt động giám sát, trinh sát và tác chiến đa tầng ở Biển Đông. Điều này đặt ra thách thức nghiêm trọng tới an ninh khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường hòa bình, ổn định ở Biển Đông, cản trở các hoạt động hợp pháp của các nước ven biển, gia tăng quân sự hóa và làm xói mòn các nỗ lực ngoại giao và hợp tác khu vực.

]]>
Ý kiến của chuyên gia về nhu cầu có một hiệp ước phòng thủ Mỹ-Nhật-Australia-Philippines để đối phó với TQ https://biendong.net/2025/10/22/y-kien-cua-chuyen-gia-ve-nhu-cau-co-mot-hiep-uoc-phong-thu-my-nhat-australia-philippines-de-doi-pho-voi-tq/ Wed, 22 Oct 2025 03:43:19 +0000 https://biendong.net/?p=159024 Bên lề Đối thoại Shangri-La 2025, ngày 31/5, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Australia Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nakatani Gen, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro, Jr. và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có cuộc họp 4 bên.

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Nakatani cho biết Trung Quốc đang tăng cường hoạt động tại các khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông; bày tỏ hy vọng các bên sẽ thảo luận toàn diện về hợp tác quốc phòng để ứng phó. Sau cuộc họp, 4 bộ trưởng đã ra tuyên bố chung tiếp tục bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng về các hành động gây mất ổn định của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép””.

Theo tuyên bố chung, các bộ trưởng quốc phòng cũng nhắc lại mối quan ngại nghiêm trọng của mình về hành vi nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông đối với Philippines và các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; kêu gọi hòa bình và ổn định trong khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò trung tâm của ASEAN và cấu trúc khu vực do ASEAN dẫn đầu trong việc đảm bảo an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các nhà lãnh đạo quốc phòng cũng tái khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác và đồng bộ hóa hoạt động của 4 nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm cả ở biển Hoa Đông và Biển Đông, để đảm bảo răn đe, hòa bình và an ninh tốt hơn; đồng thời nhất trí bàn việc lập kế hoạch cho các hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát chung nhằm cải thiện khả năng tương tác và phối hợp về nhận biế tình hình trên biển và trên không hiệu quả ở biển Hoa Đông, Biển Đông và những vùng biển xung quanh.

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản và Australia nhất trí hỗ trợ Philippines tăng cường năng lực quốc phòng như một phần của nỗ lực nhằm thiết lập khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Theo đó, các nước nhất trí xuất khẩu trang thiết bị sang Philippines để giúp nước này nâng cao khả năng quân sự. Các bên cũng có kế hoạch tiến hành các hoạt động theo dõi, giám sát, cũng như hợp tác trong thu thập tin tức.

Giới chuyên gia nhận định cuộc họp lần thứ hai giữa Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gửi “thông điệp rất quan trọng tới khu vực và thế giới”, rằng “bốn nền dân chủ cam kết tuân thủ các trật tự toàn cầu dựa trên luật lệ”. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cho rằng, việc tăng cường mối quan hệ bốn bên không chỉ nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Philippines, mà còn duy trì “các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó hướng dẫn trật tự toàn cầu theo đúng cách mà các quốc gia nên chung sống với nhau”.

Trước đó, bên lề Đối thoại Shangri-La năm 2023, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã lần đầu tiên tiến hành cuộc họp 4 bên chia sẻ tầm nhìn về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đồng thời nhất trí cùng hợp tác an ninh để đảm bảo tầm nhìn tiếp tục phát triển. Vào tháng 4/2024, bốn nước đã tổ chức cuộc tập trận hải quân chung chính thức đầu tiên ở Biển Đông. Sau đó, ngày 02/5/2024, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gặp nhau lần thứ 2 tại Hawaii, cam kết tăng cường hợp tác trong bối cảnh liên tiếp xuất hiện lo ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm các cuộc tập trận hải quân chung ở Biển Đông, nhằm tăng cường hòa bình và ổn định toàn cầu. Cũng trong ngày này, quân đội Mỹ và Philippines đã bắn hàng chục quả tên lửa về phía Biển Đông trong khuôn khổ cuộc tập trận chung thường niên Balikatan 2024. Các tên lửa được phóng tại một địa điểm gần ngôi làng ven biển Campong Ulay thuộc đảo Palawan nhìn ra Biển Đông. Chúng được phóng đi từ 2 Hệ thống tên lửa pháo binh cơ động cao (HIMARS) M142 có khả năng bắn trúng mục tiêu cách xa tới 80 km.

Trước quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ này, Cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Ely Ratner đã kêu gọi lập một hiệp ước phòng thủ tập thể Thái Bình Dương chính thức giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines, xem đó là một động thái kịp thời và cần thiết để ngăn chặn tham vọng quân sự của Trung Quốc. Ông Ratner nhận định Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines là “4 quốc gia có quan điểm nhất quán nhất về thách thức từ Trung Quốc” và hiện là “4 quốc gia có sự liên kết chặt chẽ nhất để đối phó Trung Quốc, đặc biệt là trong việc tăng cường hợp tác quân sự tập thể để ứng phó”. Tại cuộc họp lần thứ 3 giữa Bộ trưởng quốc phòng bốn nước Mỹ, Nhật Bản, Australia, Philippines hôm 31/5/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng đã nhận định: “Không có nhóm nước nào có sự liên kết chặt chẽ hơn nhóm này, không có nước nào có vị thế chiến lược hơn để thể hiện sự răn đe, mang lại hòa bình cho khu vực”.

Ông Ratner cho rằng Bắc Kinh đang tiến gần đến khả năng định hình lại châu Á bằng vũ lực và đã đến lúc Mỹ phải xây dựng một hiệp ước phòng thủ tập thể ở châu Á: trước mối đe dọa ngày càng gia tăng từ Trung Quốc, “hiệp ước này vừa khả thi, vừa cần thiết cho các bên”. Theo ông Ratner, Bắc Kinh có ý định thực hiện tầm nhìn của Chủ tịch Tập Cận Bình về “công cuộc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” – một kế hoạch bao gồm thống nhất với Đài Loan, thống trị Biển Đông và làm suy yếu các liên minh do Mỹ lãnh đạo để định hình lại trật tự khu vực. Ông nhấn mạnh rằng: “Nếu kế hoạch thành công, kết quả sẽ là một trật tự do Trung Quốc lãnh đạo, đẩy Mỹ vào tình cảnh kém thịnh vượng hơn, kém an ninh hơn và không thể tiếp cận hoặc chi phối các thị trường và công nghệ quan trọng của thế giới”.

Theo ông Ratner, hiệp ước mà ông đề xuất sẽ khác với khái niệm “NATO châu Á” do Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đưa ra hồi năm 2024 – khái niệm này không nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà lãnh đạo trong khu vực. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cũng đã bày tỏ sự hoài nghi về một liên minh phòng thủ khu vực với lập luận rằng “sự phân tách và khác biệt về lợi ích quốc gia” giữa các quốc gia Đông Nam Á khiến việc xây dựng một liên minh quân sự thống nhất trở nên khó khăn. Thay vào đó, ông thúc giục ASEAN thừa nhận rằng Trung Quốc đang “bành trướng ở Biển Đông”.

Ông Ratner đã chỉ ra 3 yếu tố mà ông tin rằng hiện nay có thể tạo nên một hiệp ước phòng thủ tập thể quy mô nhỏ hơn. Theo đó, các yếu tố này là sự đoàn kết hơn bao giờ hết giữa các đồng minh của Mỹ, sự hợp tác chưa từng có giữa các đồng minh này, và nhu cầu ngày càng tăng đối với các đồng minh của Mỹ trong việc đóng góp cho hòa bình và an ninh khu vực. Đồng thời, ông Ratner cũng cho biết đã “cố tình” tránh sử dụng thuật ngữ “NATO châu Á”.

Theo chuyên gia Don McLain Gill, nhà phân tích địa chính trị và giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học De La Salle ở Manila, dù ông Ratner không ám chỉ rằng Australia có kế hoạch nhằm kiềm chế Trung Quốc, nhưng Australia cũng đã thừa nhận rằng một Trung Quốc quyết đoán, bành trướng và hiếu chiến hơn chắc chắn sẽ đe dọa an ninh quốc gia của nước này. Đây đó có thể là lý do khiến 3 nước còn lại truyền đạt ý tưởng hiệp ước phòng thủ này đến Australia.

Tuy nhiên, các chuyên gia an ninh cảnh báo rằng ngay cả phiên bản thực dụng hơn của ông Ratner về một hiệp ước phòng thủ khu vực cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức và rào cản lớn. Ông Don McLain Gill -– cho rằng, đề xuất này có vẻ khả thi hơn khái niệm “NATO châu Á”, nhưng nó phải “thực tế hơn” trước những thách thức mà các bên phải đối mặt. Trong đó, có lẽ Australia và Philippines còn phải cân nhắc thêm những khía cạnh khác. Ông Don McLain Gill trích dẫn những bình luận trước đó của Thủ tướng Australia Anthony Albanese, trong đó nhấn mạnh nhu cầu của Canberra trong việc cân bằng giữa các mối quan ngại về an ninh và các mối quan hệ kinh tế với Bắc Kinh. Đồng thời,  ông Don McLain Gill cũng cho rằng bốn quốc gia sẽ cần phải xác định rõ phạm vi của bất kỳ thỏa thuận an ninh nào, đặc biệt là nếu nó liên quan đến Đài Loan.

Một số ý kiến khác cảnh báo rằng bất kỳ động thái nào nhằm chính thức hóa một khối phòng thủ như vậy sẽ phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ từ Trung Quốc và gây ra sự khó chịu trong số các quốc gia Đông Nam Á khác. Nhà phân tích chính trị Julio Amador ở Manila nhận định rằng đề xuất này sẽ không thành công vì khu vực này không thích các hiệp ước phòng thủ tập thể, coi đây là hành động buộc các quốc gia phải liên kết với một số cường quốc nhất định.

Đồng thời, ông Amador cũng cho rằng dù Philippines có thể hưởng lợi từ việc hợp tác chặt chẽ, sâu rộng hơn với Mỹ, đặc biệt trong việc hiện đại hóa quân đội, song Philippines nên cân nhắc kỹ lưỡng việc dấn sâu hơn vào các vấn đề an ninh khác bên cạnh Biển Đông hay không. Nếu một hiệp ước như vậy được thực hiện, Bắc Kinh có thể sẽ đáp trả và gây mất ổn định khu vực. Philippines cần đánh giá cẩn thận các chi phí và lợi ích của việc một hiệp ước quốc phòng như vậy xuất hiện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tóm lại, việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines tiến hành 3 cuộc họp trong 2 năm qua, cũng như việc bốn nước tăng cường hợp tác quân sự, triển khai tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông là những yếu tố cần thiết để hình thành một cơ chế hợp tác an ninh giữa bốn nước song là chưa đủ để tiến tới một Hiệp ước phòng thủ chung. Tuy nhiên, qua những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ở Manila, Tokyo và Singapore thì có thể khẳng định là chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa Washington, Tokyo, Canberra và Manila để duy trì, hòa bình ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

]]>
Chiến lược dài hạn của Philippines ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/22/chien-luoc-dai-han-cua-philippines-o-bien-dong/ Wed, 22 Oct 2025 03:39:43 +0000 https://biendong.net/?p=159021 Trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông không ngừng leo thang và tình hình nội bộ Philippines khá phức tạp, ông Eduardo Año – Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia và là Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines – cho biết Philippines đang xây dựng một chiến lược dài hạn để bảo vệ các yêu sách ở Biển Đông nhằm duy trì lập trường rõ ràng, nhất quán của mình cho cả thời kỳ hậu chính quyền của Tổng thống Ferdinand Marcos Jr.

Giới quan sát nhận định rằng động thái này có thể giúp Manila tránh được sự dao động theo kiểu “con lắc” khiến chính sách đối ngoại của nước này liên tục thay đổi giữa Washington và Bắc Kinh trong những năm gần đây, và thay vào đó là xây dựng một cách tiếp cận nhất quán hơn bắt nguồn từ lợi ích quốc gia.

Tại một diễn đàn an ninh hôm 6/5/2025, ông Eduardo Año nhấn mạnh rằng sáng kiến này là phản ứng trực tiếp đối với “các yêu sách lãnh thổ vô căn cứ, quá đáng, bành trướng, quân sự hóa và đối đầu của Trung Quốc với các nước láng giềng”. Ông Eduardo Año đã viện dẫn các hoạt động của Bắc Kinh tại Bãi cạn Scarborough – Philippines gọi là Bajo de Masinloc – nơi các tàu hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc đã duy trì sự hiện diện để khống chế kể từ cuộc đối đầu năm 2012.

Ông Eduardo Año nhấn mạnh sự hiện diện của Bắc Kinh “là sự tương phản rõ ràng đối với những gì chúng ta thúc đẩy trong nỗ lực chung hướng tới một trật tự trên biển ổn định, công bằng và dựa trên luật lệ. Thậm chí còn đáng lo ngại hơn, các vùng lãnh thổ hợp pháp khác của chúng ta, không chỉ Bãi cạn Scarborough, đã phải chịu những bất lợi, sự chiếm đóng hoặc kiểm soát bất hợp pháp”. Biển Đông từ lâu đã là nguồn gây căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc do các yêu sách lãnh thổ và biển chồng lấn. Manila gọi phần yêu sách của mình là Biển Tây Philippines và cáo buộc Bắc Kinh ngày càng hung hăng trong các chiến thuật vùng xám – các biện pháp gây hấn không dẫn đến xung đột quân sự – để khẳng định quyền kiểm soát đối với vùng biển này trong những năm gần đây.

Ông Eduardo Año cũng cho biết căng thẳng hiện tại giữa Philippines và Trung Quốc là “thực tế chúng ta không thể bỏ qua”. Ông nói: “Philippines thừa nhận rằng những thách thức ở Biển Đông khó có thể giảm bớt trong thời gian tới. Tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn nữa do các điểm nóng tiềm tàng trong khu vực, tiếp tục phát triển trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị và địa kinh tế gia tăng cũng như động lực an ninh toàn cầu thay đổi”.

Giới phân tích cho rằng động thái thúc đẩy chính sách dài hạn trên vấn đề Biển Đông của Manila là rất đáng hoan nghênh và cần thiết cho công cuộc đấu tranh với Bắc Kinh nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích trên biển của đất nước. Tuy nhiên, để chiến lược dài hạn đạt được hiệu quả, Philippines phải áp dụng “nghệ thuật quản lý nhà nước toàn diện” hơn, vượt ra ngoài các chiến dịch truyền thông và phản đối ngoại giao.

Ông Joshua Espeña – giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học Bách khoa Philippines – lưu ý rằng hoạt động “minh bạch quyết đoán” hiện tại của chính phủ Philippines, bao gồm ghi lại và chia sẻ công khai các hoạt động hàng hải của Trung Quốc thông qua các cuộc tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển tại các cuộc họp báo và qua các cơ quan truyền thông, trang mạng, có hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức nhưng vẫn chưa đủ. Ông Espeña cho biết: “Mặc dù những thông tin thông qua sự minh bạch quyết đoán của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines được đánh giá cao, nhưng chính phủ Philippines phải bổ sung bằng các công cụ quyền lực khác. Điều này bao gồm việc tăng cường chuỗi cung ứng của đất nước thông qua quan hệ đối tác công tư, kết nối và quản trị dựa vào cộng đồng, cũng như sự ủng hộ của quốc hội đối với ngân sách quốc phòng để phân bổ kinh phí cho chương trình hiện đại hóa Lực lượng vũ trang Philippines (AFP)”.

Ông Chester Cabalza – người sáng lập kiêm chủ tịch của tổ chức nghiên cứu Hợp tác an ninh và Phát triển quốc tế có trụ sở tại Manila – cho biết một chính sách dài hạn ở Biển Tây Philippines sẽ có nghĩa là một “chính sách nhất quán và liên tục bất kể sự thay đổi trong chính quyền sau khi Tổng thống Marcos Jr. rời nhiệm sở vào năm 2028”. Theo ông Cabalza, “đây là tuyên bố táo bạo sau khi Manila thay đổi lập trường chính sách Biển Tây Philippines, thay đổi từ Washington sang Bắc Kinh rồi lại sang Washington (một lần nữa)”.

Mặc dù Philippines từ lâu đã là đồng minh hiệp ước của Mỹ, nhưng nước này đã chuyển sang lập trường ủng hộ Bắc Kinh hơn dưới thời cựu Tổng thống Rodrigo Duterte, người đã tuyên bố “tách biệt” khỏi Mỹ vào năm 2016 trong chuyến thăm Trung Quốc. Năm 2024, ông Duterte tiết lộ rằng ông đã thực hiện một thỏa thuận bất thành văn với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình để duy trì nguyên trạng ở Biển Tây Philippines – một tiết lộ đã gây ra phản ứng dữ dội của công chúng và bị cáo buộc phản quốc.

Ông Chester Cabalza nhấn mạnh rằng, một chiến lược bền vững sẽ cần ưu tiên lợi ích của Philippines hơn hết. Ông nói: “Con lắc sẽ phải dừng lại ở giữa hoặc nên nghiêng về Manila hơn để duy trì lợi ích quốc gia của riêng mình trong bối cảnh cạnh tranh bá quyền của hai siêu cường ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Cố vấn an ninh quốc gia Eduardo Año cho rằng cách tiếp cận dài hạn đang được xây dựng này sẽ được cố định trong một “hệ thống phòng thủ mạnh mẽ, đáng tin cậy và tự lực” có khả năng ứng phó với các mối đe dọa đối với chủ quyền và quyền hàng hải của Philippines.

Ông Sherwin Ona – nghiên cứu viên quốc tế tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Đài Loan – cho biết, Manila có khả năng theo đuổi một chiến lược toàn diện kết hợp các công cụ ngoại giao, quân sự, kinh tế và truyền thông. Điều này có thể bao gồm một mạng lưới liên minh được tăng cường thông qua các thỏa thuận về lực lượng viếng thăm bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực như phòng thủ mạng, ngăn chặn thông tin sai lệch và phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Philippines có khả năng sẽ ưu tiên “các mặt hàng chủ lực” như máy bay chiến đấu đa năng, tàu ngầm và các chương trình khinh hạm, cùng với việc xây dựng các hệ thống chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) cũng như năng lực nhận thức về lĩnh vực hàng hải.

Những nhà quan sát khác cũng chia sẻ quan điểm tương tự. Ông Cabalza lưu ý rằng các thỏa thuận quốc phòng gần đây của Philippines với Úc, Nhật Bản và New Zealand đóng vai trò là “khuôn mẫu tốt” cho các hiệp ước quân sự khác đang được xem xét, bao gồm cả với Pháp và Anh. Ông Cabalza nói: “Sức hấp dẫn của Manila chắc chắn sẽ được các nước láng giềng Đông Nam Á sao chép. Nhưnhg điều mà Manila có thể mang lại một cách tự nhiên chính là tầm quan trọng về mặt địa chiến lược của nước này”. Trong khi đó, ông Joshua Espeña nói thêm rằng các quan hệ đối tác chiến lược trong tương lai nên vượt ra ngoài việc chỉ mua sắm các nền tảng và bao gồm “hỗ trợ kỹ thuật, các gói bảo trì và các hệ thống hậu cần tích hợp”.

Lý do Manila cần xây dựng một chiến lược dài hạn trên vấn đề Biển Đông được giới chuyên gia chỉ ra là:

Trước hết, cần phải nhận thức rõ mưu đồ kiểm soát, độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh là xuyên suốt, không thay đổi, vì vậy nếu không có một chiến lược dài hạn sẽ không thể đối phó với mưu đồ này của Trung Quốc. Việc thiếu một chiến lược dài hơi sẽ dẫn tới việc thiếu nhất quán trong chính sách và khiến sức mạnh quốc gia giảm sút trong việc đối phó với sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Hai là, việc có một chiến lược nhất quán tạo điều khiện cho Philippines có thể đầu tư nâng cao năng lực quốc phòng để có thể phối hợp có hiệu quả với các đồng minh, đối tác trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines trên Biển Đông, đồng thời tạo thuận lợi cho các đồng minh, đối tác trong việc hỗ trợ Manila trong việc nâng cao năng lực quốc gia.

Ba là, Philippines đã giành thắng lợi trong vụ kiện trọng tài Biển Đông và có được một phán quyết bác bỏ hầu hết các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Manila đấu tranh với Trung Quốc ở Biển Đông. Philippines là một nước nhỏ cần xây dựng một chiến lược dài hạn trên tinh thần thượng tôn pháp luật để có thể khai thác Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài, đồng thời vận động các nước khác ủng hộ việc tuân thủ Phán quyết.

Giới chuyên gia cho rằng chiến lược dài hạn của Philippines đối với Biển Đông cần thể hiên một tầm nhìn quốc gia vượt lên trên sự thay đổi chính quyền, đồng thời kết nối hiệu quả giữa an ninh quốc gia, lợi ích kinh tế biển và vai trò trong cấu trúc khu vực, cụ thể chiến lược dài hạn này cần giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần khẳng định quyết tâm bảo vệ vững chắc quyền chủ quyền và quyền tài phán dựa trên luật pháp quốc tế. Theo đó, coi Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 và Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 là nền tảng pháp lý không thể đảo ngược trong bất kỳ cuộc đàm phán nào.

Thứ hai, nâng cao năng lực quốc phòng của đất nước, trong đó tập trung tăng cường năng lực thực thi pháp luật biển, củng cố năng lực phòng thủ trên biển biển và kiểm soát không gian biển. Theo đó, cần ưu tiên xây dựng năng lực phòng thủ trên biển và bảo vệ đảo, bao gồm radar giám sát, tàu tuần tra tầm xa, máy bay không người lái và hệ thống phòng thủ ven biển; tăng cường hiện diện thường xuyên tại các điểm tiền tiêu, như Bãi Cỏ Mây, Bãi Cỏ Rong, và Bãi Cạn Scarborough; xây dựng hệ thống giám sát biển tích hợp.

Thứ ba, Philippines không thể đơn độc bảo vệ lợi ích ở Biển Đông mà cần dựa vào chiến lược liên kết nhiều tầngvới các đối tác quốc tế và khu vực. Theo đó, cần tiếp tục củng cố liên minh quân sự với Mỹ; mở rộng hợp tác an ninh biển với các đối tác khác như Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ, và EU, bao gồm viện trợ quốc phòng, huấn luyện và chia sẻ tình báo; tăng cường phối hợp chặt chẽ với các nước ven Biển Đông khác; Thúc đẩy đoàn kết ASEAN trong vấn đề Biển Đông, tạo mặt trận thống nhất trong đàm phán với Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Thứ tư, ngư dân là lực lượng tuyến đầu bảo vệ chủ quyền và sinh kế biển là nền tảng cho an ninh kinh tế biển, do vậy chính phủ cần có biện pháp bảo vệ và phát triển sinh kế biển bền vững cho người dân. Theo đó, cần củng cố hạ tầng hỗ trợ ngư dân, bao gồm trung tâm hậu cần, tàu hỗ trợ hậu cần và các điểm tránh, trú bão gần khu vực tranh chấp; thực thi chính sách bảo vệ ngư dân theo luật pháp quốc tế, kêu gọi quốc tế hỗ trợ khi ngư dân bị đe dọa trên vùng biển hợp pháp; phát triển bền vững nghề cá, ngăn ngừa khai thác quá mức, kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái biển.

Thứ năm, cần chủ động thúc đẩy tiến trình ngoại giao, pháp lý. Theo đó, kiên trì sử dụng các công cụ ngoại giao đa phương lẫn song phương; sẵn sàng triển khai các vụ kiện pháp lý mới nếu cần; đề xuất sáng kiến về bảo vệ an ninh hàng hải trong khuôn khổ ASEAN, ADMM+ và APEC, nhằm quốc tế hóa vấn đề Biển Đông một cách tích cực; sử dụng ngoại giao nhân dân, học thuật và truyền thông quốc tế để tạo sự ủng hộ rộng rãi từ cộng đồng quốc tế đối với lập trường hợp pháp của Philippines. Trên đây là những phân tích về tính cấp thiết của Philippines phải có một chiến lược dài hạn đối với Biển Đông và một số gợi ý chính về những vấn đề cần được nêu rõ trong chiến lược này để tránh sự đứt gãy chiến lược trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích trên biển của Manila dù dưới bất cứ chính quyền của Tổng thống nào.

]]>
Chính quyền Trump dùng thuế quan để buộc Indonesia hợp tác trên vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2025/10/22/chinh-quyen-trump-dung-thue-quan-de-buoc-indonesia-hop-tac-tren-van-de-bien-dong/ Wed, 22 Oct 2025 03:31:53 +0000 https://biendong.net/?p=159018 Ngày 15/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố Mỹ và Indonesia đã nhất trí về một thỏa thuận thuế quan, theo đó, Mỹ sẽ giảm thuế đối với hàng hóa của Indonesia từ 32% như đã đe dọa xuống còn 19%. Dù các thông tin chi tiết của thỏa thuận không được công bố, song có những ý kiến cho rằng Mỹ đã gắn việc giảm thuế quan với chính sách chiến lược của Indonesia ở Biển Đông.

Trước khi ông Trump đưa ra tuyên bố trên, các quan chức Indonesia đã chia sẻ riêng những lo ngại về vấn đề này với học giả Aristyo Rizka Darmawan của trường Đại học Quốc gia Australia và nhà nghiên cứu về Đông Nam Á của Viện Lowy Abdul Rahman Yaacob. Họ cho biết Washington đã gắn thuế quan với các vấn đề địa chiến lược, và tranh chấp Biển Đông là trọng tâm.

Tin tức ngày 11/7 của Hãng tin IDN Times của Indonesia củng cố thêm nhận định trên khi trích dẫn phản hồi của Jakarta đối với các đề xuất thương mại mới nhất của Trump ngày 7/7, những đề xuất là cơ sở cho thỏa thuận mà hai bên đạt được ngày 15/7. Theo đó, để tránh bị áp mức thuế quan cao, Indonesia đề nghị tăng cường hợp tác an ninh, hàm ý rõ ràng rằng Mỹ đã gắn vấn đề này với vấn đề thương mại. Cụ thể, “chính phủ Indonesia cam kết tăng cường hợp tác chiến lược với Mỹ trong các lĩnh vực hàng hải và quân sự, cũng như tăng cường giám sát biên giới tại các khu vực nhạy cảm như Biển Đông”. Indonesia cũng đề nghị “hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ về các vấn đề kinh tế và an ninh thông qua chính sách hàng hải, nhưng không bao gồm việc đẩy nhanh tiến trình phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam. Đề nghị hợp tác kinh tế và an ninh chặt chẽ hơn này chỉ bao gồm kiểm soát xuất khẩu, tăng cường hợp tác quân sự, sử dụng công nghệ truyền thông an toàn và tăng cường giám sát và kiểm soát biên giới, đặc biệt là ở Biển Đông”.

Tài liệu được hãng tin IDN Times trích dẫn cho thấy Washington nỗ lực để có được hai cam kết của Indonesia về Biển Đông trong thỏa thuận thương mại. Thứ nhất, Washington thúc đẩy Jakarta hợp tác an ninh chặt chẽ hơn, đặc biệt là tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Sự hợp tác chặt chẽ này có thể bao gồm các cuộc tập trận quân sự và tuần tra chung. Thứ hai, Mỹ muốn Indonesia đẩy nhanh việc phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam. Điều này rất quan trọng vì hiệp định phân định biển mà Indonesia và Việt Nam ký kết chồng lấn với yêu sách “đường chín đoạn”, vốn vạch ra yêu sách (mơ hồ) của Trung Quốc đối với Biển Đông. Việc phê chuẩn hiệp định sẽ tái khẳng định rằng Indonesia không công nhận bất kỳ yêu sách nào của Trung Quốc. Cam kết này cũng có thể khuyến khích Indonesia rút khỏi kế hoạch hợp tác khai thác chung vùng biển tranh chấp với Trung Quốc được công bố hồi tháng 11/2024. Mặc dù Tổng thống Prabowo Subianto đã tuyên bố Indonesia cam kết phê chuẩn hiệp định, nhưng quá trình phê chuẩn tại Quốc hội Indonesia đã bị trì hoãn hơn 1 năm.

Giới quan sát nhận định hiện Mỹ đang tích cực thúc đẩy đàm phán thương mại với nhiều quốc gia, riêng đàm phán với Indonesia có sự khác biệt so với các quốc gia khác. Trong quan hệ thương mại với nhiều quốc gia khác, chính quyền Trump chỉ tập trung vào kinh tế. Thế nhưng, trong trường hợp với Indonesia, rõ ràng Washington đang cố ép buộc chính sách Biển Đông của Indonesia phải phù hợp với lợi ích của Mỹ và làm suy yếu ảnh hưởng khu vực của Trung Quốc.

Những gì chúng ta đang thấy là việc chính quyền Trump sẵn sàng sử dụng áp lực kinh tế để điều hướng các quyết định chính sách đối ngoại của Indonesia, cụ thể là sử dụng Indonesia để thách thức vị thế của Trung Quốc ở Biển Đông. Trên thực tế, Trung Quốc cũng đã từng dùng áp lực kinh tế để “bẻ cong” chính sách của Indonesia. Kế hoạch hợp tác khai thác chung là ví dụ điển hình, bởi một tuyên bố chung của Indonesia với Trung Quốc công nhận yêu sách chồng lấn sẽ hàm ý rằng Indonesia công nhận các quyền của Trung Quốc tại khu vực đó. Đáng chú ý, đi kèm với thỏa thuận này chính là sự hấp dẫn của cam kết đầu tư 10 tỷ USD của Trung Quốc vào Indonesia.

Bắc Kinh đã đe dọa trả đũa các quốc gia ký kết các thỏa thuận thương mại với Mỹ mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc. Một quan chức Trung Quốc tuyên bố: “Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ bên nào đạt được thỏa thuận mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc… Nếu điều này xảy ra, Trung Quốc sẽ không bao giờ chấp nhận và sẽ kiên quyết thực hiện các biện pháp đối phó theo cách có đi có lại”.

Jakarta đang rơi vào tình thế khó khăn khi cố gắng đi theo đường lối không liên kết và không chọn bên trong cuộc cạnh tranh địa chính trị Mỹ-Trung ở khu vực. Mặc dù vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia chồng lấn với yêu sách “đường chín đoạn”, nhưng Jakarta vẫn luôn tự coi mình là một bên không có yêu sách ở Biển Đông. Dưới thời của cựu Tổng thống Indonesia, Jakarta đã công khai từ chối công nhận các yêu sách biển quá mức của Trung Quốc ở Biển Đông, đã nhiều lần công khai bác bỏ yêu sách “đường 9 đoạn”, thậm chí gửi công hàm lên Liên hợp quốc khẳng định quan điểm này. Tuy nhiên, sau khi lên cầm quyền, Tổng thống đương nhiệm Prabowo Subianto đã có những động thái gây tranh cãi xung quanh vấn đề này khi đồng ý đưa vào Tuyên bố chung trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 11/2024 nội dung về hợp tác khai thác chung trên biển với Trung Quốc.

Với chính sách không liên kết, Indonesia đã từ chối ủng hộ Mỹ trong việc chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Á, đồng thời cũng không ủng hộ Trung Quốc. Indonesia giờ đây có ít lý do hơn để khiêu khích Trung Quốc so với vài năm trước, có ít tàu chính phủ và tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển Indonesia xung quanh đảo Natuna hơn so với trước đây. Giới quan sát nhận định đây có thể là lý do Jakarta đang trì hoãn việc phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam để tránh làm “mất lòng” Bắc Kinh.

Việc Indonesia đồng ý tăng cường hợp tác an ninh biển với Mỹ khiến Trung Quốc lo ngại bởi từ lâu, Bắc Kinh luôn tìm cách loại trừ các cường quốc ngoài khu vực khỏi các tranh chấp ở Biển Đông. Hoạt động chung giữa Indonesia và Mỹ ở Biển Đông có thể tiếp tục trì hoãn những nỗ lực đàm phán kéo dài về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông nhằm điều chỉnh các hoạt động trong khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN.

Indonesia là nước lớn nhất trong ASEAN và có vai trò quan trọng trên các vấn đề an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông, hay nói cách khác, Indonesia có tiềm năng quyền lực rất lớn. Nước này là nơi sinh sống của 280 triệu người, không kém so với Mỹ. Đất nước vạn đảo này dồi dào tài nguyên thiên nhiên. Dân số đông và nền kinh tế đang phát triển sẽ cho phép Indonesia đóng vai trò hàng đầu ở Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Trong thời gian qua, Washington cơ bản thành công trong việc củng cố, tăng cường quan hệ đồng minh quân sự với Philippines trong việc thành lập mặt trận chống lại Trung Quốc. Giới chuyên gia nhận định với mục tiêu kiềm chế, ngăn chặn Bắc Kinh trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thì việc tăng cường hợp tác an ninh, quân sự với Jakarta nằm trong tính toán lâu dài của Washington. Chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 đang dùng thuế quan để chống lại Trung Quốc, do vậy việc Mỹ dùng vấn đề thuế quan để gây sức ép buộc Indonesia hợp tác với Mỹ trên vấn đề Biển Đông là điều dễ hiểu.

Cùng với việc công bố mức thuế cho Indonesia, Tổng thống Donald Trump cho biết: “Indonesia đã cam kết mua 15 tỷ USD năng lượng của Mỹ, 4,5 tỷ USD nông sản Mỹ và 50 máy bay Boeing, đa số là máy bay 777”. Phát biểu tại một hội nghị năng lượng ở Pennsylvania hôm 15/7, Tổng thống Trump bày tỏ sự quan tâm đến đồng của Indonesia khi nhấn mạnh “Indonesia thực sự có nguồn đồng dồi dào, rất mạnh”.

Liên quan tới thoả thuận về thuế quan với Mỹ, Tổng thống Indonesia Prabowo cho biết đây là một cuộc đàm phán khó khăn. “Nhưng cuối cùng chúng tôi đã đạt được thỏa thuận. Chúng tôi hiểu lợi ích của họ, và họ cũng hiểu lợi ích của chúng tôi”. Trong khi đó, Bộ trưởng Năng lượng Indonesia Bahlil Lahadlia cho biết nước này sẽ tiếp tục xuất khẩu tinh quặng đồng sang Mỹ thay vì quặng thô, phù hợp với chính sách hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô của Jakarta.

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 15/7 tuyên bố áp dụng mức thuế 19% đối với Indonesia mới chỉ là sự thống nhất về nguyên tắc giữa nguyên thủ 2 quốc gia, hai bên vẫn phải tiếp tục thảo luận về những nội dung cụ thể, chi tiết để tiến tới để ký kết thoả thuận và Jakarta đang tiếp tục nỗ lực đàm phán các vấn đề liên quan nhằm tối ưu hoá lợi ích của mình trong quan hệ thương mại với Mỹ. Ông Susiwijono Moegiarso, Bộ trưởng Bộ Điều phối Kinh tế Indonesia cho biết: “Danh sách các mặt hàng đang đàm phán rất dài, và chúng tôi hy vọng mức thuế sẽ là 0%”.

Ông Susiwijono Moegiarso cho biết Indonesia đặc biệt yêu cầu mức thuế 0% đối với các sản phẩm chủ chốt có nhu cầu cao tại Mỹ bao gồm dầu cọ thô, cà phê, ca cao và kền. Ông Moegiarso nói vẫn còn “cửa” để đàm phán, đồng thời trích dẫn thỏa thuận của Indonesia về mức thuế 0% đối với 99% sản phẩm mà Mỹ có thể xuất khẩu sang nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á này.

Theo ông Moegiarso, Jakarta và Washington sẽ có tuyên bố chung sau khi các cuộc đàm phán kết thúc. Hiện vẫn chưa rõ về việc liệu mức thuế 19% có áp dụng cho tất cả các sản phẩm của Indonesia hay chỉ áp dụng cho các mặt hàng chủ chốt như dầu cọ và hàng dệt may. Ngoài ra, hàng hoá của nước thứ ba xuất khẩu vào Mỹ qua Indonesia sẽ chịu mức thuế lên tới 40% như Mỹ công bố áp dụng đối với Việt Nam. Giới chuyên gia nhận định mặc dù không nói rõ hàng hoá nước thứ ba là nước nào, song rõ ràng điều khoản này là nhằm vào hàng hoá Trung Quốc muốn mượn đường các nước Đông Nam Á để vào Mỹ.

Giới phân tích nhận định Indonesia có sự phụ thuộc lớn về kinh tế với Bắc Kinh, chính quyền Tổng thống Prabowo cũng muốn tranh thủ số vốn 10 tỷ USD đầu tư mà Trung Quốc đã cam kết tháng 11/2024 để phát triển đất nước, tuy nhiên Jakarta luôn cảnh giác trước nguy cơ đến từ chủ nghĩa bá quyền của Bắc Kinh. Indonesia dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Prabowo Subianto đã tăng chi tiêu quốc phòng từ 1% GDP hiện nay lên 1,5% GDP cho lực lượng vũ trang vào năm 2029. Hiện mong muốn mạnh mẽ của Indonesia là cải tổ quân đội trước mối đe dọa từ Trung Quốc. Jakarta đặc biệt quan tâm đến việc củng cố năng lực phòng thủ của các đảo cực Bắc vốn đang nằm trong tầm ngắm trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu này, Indonesia nhận thức rõ cần tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng với Mỹ. Theo đó, Indonesia mong muốn được huấn luyện với quân đội Mỹ, mua vũ khí Mỹ và cải thiện năng lực tương tác với các lực lượng Mỹ. Đây là điều mà chính quyền Tổng thống Trump khuyến khích. Trên thực tế, Washington đã hỗ trợ Jakarta xây dựng một trung tâm huấn luyện hàng hải trên đảo Batam nhìn ra Eo biển Malacca. Vào tháng 6/2023, máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ đã có chuyến thăm đầu tiên tới Indonesia – điều không thể tưởng tượng được một thập kỷ trước đó. Mỹ là một thị trường đặc biệt quan trọng đối với các hàng hoá xuất khẩu của Indonesia. Chính quyền Trump hiểu rõ điều này nên đã dùng vấn đề thuế quan để gây sức ép kéo Jakarta hợp tác với Washington ở Biển Đông. Giới phân tích cho rằng đối mặt với áp lực kinh tế từ Washington, có lẽ Indonesia đã cam kết hợp tác an ninh chặt chẽ hơn với Mỹ để đổi lấy các nhượng bộ về thuế quan. Điều này đặt Indonesia vào thế khó xử vì đã phá vỡ cam kết lâu dài về chính sách không liên kết. Mặt khác, Indonesia có nguy cơ bị Trung Quốc trả đũa.

]]>
Đài Loan và Philippines trong chiến lược kiềm chế TQ ở Biển Đông của Mỹ https://biendong.net/2025/10/16/dai-loan-va-philippines-trong-chien-luoc-kiem-che-tq-o-bien-dong-cua-my/ Thu, 16 Oct 2025 16:22:54 +0000 https://biendong.net/?p=161795 Biển Đông có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng để Trung Quốc vươn ra biển, trở thành “cường quốc biển” trước khi trở thành “cường quốc thế giới” vào giữa thế kỷ XXI như tham vọng của giới cầm quyền nước này. Vì vậy, Bắc Kinh đã và đang quyết tâm mở thông “cánh cửa” Biển Đông để thực hiện mục tiêu trên.

Những năm gần đây, Trung Quốc liên tục gây ra các vụ việc căng thẳng trên biển với các nước láng giềng dưới chiêu bài “bảo vệ chủ quyền không thể tranh cãi” ở Biển Đông. Ngược lại, mặc dù không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng Mỹ lại có nhiều lợi ích chiến lược thiết thực ở vùng biển này, như tự do hàng hải, hàng không, bảo vệ các đồng minh, đặc biệt là ngăn chặn Trung Quốc trở thành “bá quyền khu vực”, thách thức vị thế “siêu cường” thế giới của Mỹ. Do đó, Mỹ tìm mọi cách bịt “cánh cửa” đó lại, hoặc chí ít cũng không để cho Trung Quốc tự do “vẫy vùng” ở Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu này, năm 2017, Mỹ đã ban hành Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” và nỗ lực tập hợp, lôi kéo các đồng minh, đối tác trong khu vực về phía mình, trong đó Đài Loan và Philippines được Mỹ đặc biệt quan tâm, bởi vùng lãnh thổ và quần đảo này có vị trí địa chiến lược rất thuận lợi cho Mỹ thực hiện mục tiêu trên.

Những nội dung cơ bản trong chiến lược FOIP của Mỹ

Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, gọi tắt là FOIP được chính quyền D.Trump công bố năm 2017, với mục tiêu cốt lõi là kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc – nhân tố mà Mỹ xem là mối đe dọa chính đối với vị thế “siêu cường” của Washington. Chiến lược này có ba trụ cột chính là quân sự, kinh tế và ngoại giao.  

Về quân sự, trọng tâm của trụ cột này là củng cố các mối quan hệ đồng minh và đối tác đã có, đồng thời xây dựng khuôn khổ các liên minh mới để kiềm chế Trung Quốc. Muốn vậy, Mỹ phải thắt chặt quan hệ với Đài Loan và Philippines, bởi đây là hai “mắt xích” nằm trong “chuỗi đảo thứ nhất”, kéo dài từ Nhật Bản, qua Đài Loan đến Philippines, đóng vai trò là “rào cản chiến lược tự nhiên”, có khả năng ngăn chặn Hải quân Trung Quốc tiếp cận các vùng biển sâu ở Thái Bình Dương. Chính vì thế, nên Mỹ đã tăng cường hiện diện lực lượng quân sự và thúc đẩy hợp tác với các đồng minh, đối tác trong khu vực, nhất là với Đài Loan và Philippines để vừa củng cố tuyến phòng thủ này, vừa duy trì quyền tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông theo các quy định của luật pháp quốc tế.  

Về kinh tế, trụ cột này đặt trọng tâm vào thúc đẩy các sáng kiến, điển hình là sáng kiến “Clean EDGE” (Tăng cường phát triển và tăng trưởng thông qua năng lượng) nhằm tạo ra một mạng lưới kinh tế không chỉ phát triển bền vững, mà còn đóng vai trò như một công cụ để giúp các quốc gia là đồng minh, đối tác của Mỹ trong khu vực giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.   

Về chính trị – ngoại giao, đây là trụ cột được Mỹ tập trung vào cam kết hỗ trợ các xã hội mở, các thể chế dân chủ và tự do báo chí để giúp chính phủ các nước trong khu vực có thể đưa ra các lựa chọn độc lập, củng cố nền tảng chính trị, giúp các liên minh quân sự và kinh tế của Mỹ trong khu vực phát triển, cùng chia sẻ các giá trị chung và tăng thêm sức mạnh đoàn kết, ý chí chính trị mạnh mẽ hơn trong việc chống lại mọi sự áp đặt và đe dọa từ Trung Quốc.

Ba trụ cột trên của FOIP không đứng độc lập, riêng rẽ với nhau, mà có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, trong đó trụ cột quân sự là công cụ cứng rắn để hỗ trợ và bảo vệ các trụ cột kinh tế, chính trị – ngoại giao của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng.  

Dưới thời chính quyền Tổng thống J. Biden, chiến lược FOIP được bổ sung, cụ thể hóa thêm với năm nhiệm vụ chính gồm: (i) Đảm bảo tự do hàng hải, hàng không và các quyền tự do khác được quy định trong luật pháp quốc tế, như được phản ánh tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) nhằm chống lại các hành vi cưỡng ép và bảo vệ chủ quyền của các quốc gia trong khu vực. (ii) Củng cố quan hệ đồng minh, đối tác đã có, đồng thời xây dựng các khuôn khổ hợp tác mới, như Cơ chế Bộ tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ; AUKUS gồm Mỹ, Anh và Úc. (iii) Thúc đẩy hợp tác về kinh tế, đầu tư, thương mại và cơ sở hạ tầng, bao gồm các sáng kiến kinh tế, ví dụ như Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) để gia tăng ảnh hưởng và cạnh tranh với các chiến lược, sáng kiến của Trung Quốc trong khu vực. (iv) Tăng cường an ninh khu vực thông qua nâng cao năng lực phòng thủ và an ninh cho các đối tác nhằm đối phó với các mối đe dọa chung, như khủng bố, cướp biển và các thách thức an ninh phi truyền thống. (v) Tăng cường phối hợp đa phương và toàn diện hơn giữa Mỹ với các đối tác để giải quyết các thách thức xuyên quốc gia, như biến đổi khí hậu, an ninh y tế, an ninh mạng và chống tội phạm.

Gần đây, nhiều quan chức cấp cao của chính quyền D. Trump nhiệm kỳ 2 đã tuyên bố, Mỹ đã trở lại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời đã có những động thái cụ thể, mạnh mẽ hơn theo quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” đối với FOIP. 

Vai trò của Đài Loan và Philippines trong chiến lược FOIP của Mỹ

Tuy cả Đài Loan và Philippines đều cách xa Mỹ về địa lý, nhưng xuất phát từ vị trí địa chiến lược và an ninh hiếm có của hai đối tác này, nên Mỹ coi cả hai là những “đối tác chiến lược then chốt”, đóng vai trò vô cùng quan trọng để Mỹ triển khai chiến lược FOIP.

Với Đài Loan: Vùng lãnh thổ này từ lâu được ví như một “tàu sân bay không chìm” ở Thái Bình Dương, giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc rất hiệu quả ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng vì một số lý do cơ bản sau. Thứ nhất, về vị trí chiến lược, Đài Loan chỉ nằm cách Trung Hoa đại lục, nơi gần nhất qua eo biển Đài Loan chỉ khoảng 130km, một số đảo nhỏ nằm sát bờ biển Trung Quốc, như đảo Kim Môn chỉ cách bờ biển tỉnh Phúc Kiến/Trung Quốc khoảng 2km, một số đảo khác thuộc quần đảo Mã Tổ cách bờ biển Trung Quốc khoảng 9km. Hơn nữa, Đài Loan lại nằm vào điểm giữa của “chuỗi đảo thứ nhất” ở Tây Thái Bình Dương – một “hàng rào địa lý” quanh co, hiểm hóc nhưng rất quan trọng mà Trung Quốc bắt buộc phải vượt qua nếu muốn tiếp cận Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nếu Trung Quốc kiểm soát được Đài Loan, thì từ đây có thể tự do triển khai lực lượng hải quân và không quân ở Tây Thái Bình Dương để kiểm soát các tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng đi qua Biển Đông. Chính vì thế, việc giữ nguyên hiện trạng Đài Loan như lâu nay là mục tiêu tối quan trọng đối với Mỹ. Thứ hai, do Đài Loan có lợi thế là nằm gần kề Trung Quốc, nên Mỹ đã hỗ trợ và cung cấp cho Đài Loan các hệ thống trinh sát tiên tiến nhất, hiện đại nhất và biến hòn đảo này thành “mắt thần” để theo dõi, nắm bắt và chia sẻ mọi thông tin tình báo về các hoạt động quân sự của Trung Quốc, qua đó giúp Mỹ và các nước đồng minh có cái nhìn toàn diện hơn về các động thái của Quân đội Trung Quốc trên thế giới nói chung và trong khu vực nói riêng. Thứ ba, Đài Loan vốn là một phần lãnh thổ của Trung Quốc trước đây, nằm án ngữ trên con đường vươn ra Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương của Trung Quốc, nên Bắc Kinh có tham vọng nhất quyết phải thu hồi Đài Loan, kể cả bằng vũ lực. Mỹ nắm rõ ý đồ này của Bắc Kinh, nên mặc dù không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, Mỹ vẫn ký “Đạo luật quan hệ với Đài Loan” để cung cấp vũ khí giúp Đài Loan có năng lực phòng thủ trước khả năng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thống nhất đất nước. Thứ tư, trong chiến lược FOIP, Mỹ đặc biệt nhấn mạnh việc bảo vệ các “đối tác dân chủ” trong khu vực, trong đó, Đài Loan chiếm vị trí hàng đầu. Vì thế, ủng hộ vùng lãnh thổ này chính là một phần trong nỗ lực của Mỹ nhằm củng cố các liên minh và đối tác, tạo thành một mạng lưới “sát sườn” hơn để đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc. Thứ năm, ngoài vị trí địa chiến lược, Đài Loan còn là một “lá chắn silicon” đối với nền kinh tế toàn cầu. Hiện nay Đài Loan là nơi sản xuất hơn 90% con chíp tiên tiến vào loại bậc nhất thế giới, giữ vai trò là “mắt xích quan trọng nhất” trong chuỗi cung ứng sản phẩm công nghệ bán dẫn toàn cầu. Vì thế, bất kỳ một cuộc tấn công nào vào hòn đảo này cũng sẽ gây ra một thảm họa kinh tế đối với toàn thế giới. Giá trị to lớn của loại công nghệ bán dẫn này đã tạo ra một “lá chắn răn đe” phi quân sự rất mạnh mẽ, khiến Trung Quốc không thể hành động mạo hiểm. Đương nhiên, Mỹ cũng có lợi ích gắn bó rất lớn đối với công nghệ và sản phẩm này của Đài Loan, do đó, khó có thể để cho Trung Quốc dễ dàng tấn công Đài Loan. Ngày 29/8/2025, Thượng nghị sĩ, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, ông Roger Wicker và Thượng nghị sĩ Deb Fischer đã đến thăm Đài Loan nhằm “củng cố mối quan hệ đối tác tuyệt vời mà Mỹ và Đài Loan đã có và sẽ có trong tương lai”. 

Như vậy, việc duy trì “tàu sân bay không chìm” về quân sự và “lá chắn silicon” về kinh tế chính là bảo đảm cho sự hiện diện và tồn tại cũng như khả năng phòng thủ đối của Đài Loan. Điều này sẽ giúp Mỹ có được lợi thế địa chiến lược quan trọng để kiềm chế Trung Quốc, không chỉ ở eo biển Đài Loan, mà còn đối với toàn bộ khu vực Biển Đông và hơn thế nữa.

Với Philippines: Quần đảo này đóng vai trò trọng yếu trong chiến lược của Mỹ nhằm kiểm soát Biển Đông và kiềm chế Trung Quốc ở khu vực và trên Biển Đông. Thứ nhất, về vị trí địa chiến lược, Philippines là “cửa ngõ” ra vào Biển Đông, cho phép Mỹ duy trì sự hiện diện quân sự và thực hiện các hoạt động tuần tra tự do hàng hải, hàng không, kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng, huyết mạch của thế giới đi qua vùng biển này. Chính sự hiện diện và kiểm soát gần 70% lượng hàng hóa thương mại của thế giới lưu thông qua Biển Đông của Mỹ mới là biểu hiện sinh động và chân thực nhất cho quyền lực và vai trò “siêu cường” của Mỹ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, rộng ra là tại Châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời, quần đảo này còn có thể giúp Mỹ nhanh chóng triển khai lực lượng để đối phó với một cuộc xung đột cả ở Biển Đông và eo biển Đài Loan nếu điều đó xảy ra. Thứ hai, Philippines là đồng minh hiệp ước lâu đời của Mỹ, mối quan hệ này thường xuyên được củng cố và nâng cấp thông qua các cuộc tập trận chung, các hoạt động hỗ trợ quân sự, đồng thời lại được gắn kết bởi các hiệp ước, thỏa thuận chung giữa hai nước như Hiệp ước Phòng thủ chung (MDT) ký năm 1951, Thỏa thuận Các lực lượng thăm viếng (VFA) ký năm 1998 và Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA) ký năm 2014. Đây là cơ sở pháp lý cho phép Mỹ tiếp cận các căn cứ quân sự chiến lược trên lãnh thổ Philippines, nhất là các căn cứ nằm ở phía bắc Luzon, hòn đảo lớn nhất của Philippines, nằm gần eo biển Đài Loan. Thứ ba, Philippines là quốc gia có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, quan hệ giữa hai nước thường xuyên căng thẳng, thậm chí không ít lần rơi vào nguy cơ xảy ra xung đột quân sự. Vì thế, Mỹ có thể dựa vào MDT, VFA, EDCA để phối hợp với Philippines nhằm đối phó, ngăn chặn các hành động gây hấn và bành trướng của Trung Quốc, đồng thời duy trì trật tự, đảm bảo tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông trên cơ sở các quy định của luật pháp quốc tế.

Đài Loan và Philippines tương hỗ, phối hợp với nhau, tạo thành “lá chắn kép” trong chiến lược của Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông

Cả Philippines và Đài Loan đều là những đồng minh quan trọng và lâu năm của Mỹ. Thực tế những năm qua, nếu hai thực thể này không có sự hỗ trợ và giúp đỡ mạnh mẽ của Mỹ thì chưa chắc đã “đứng vững” ở khu vực, chứ đừng nói là phát huy vai trò quan trọng trong chiến lược của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông. Thế nhưng, ngoài sự hỗ trợ, giúp đỡ của Mỹ ra, hai thực thể này cũng thường không đứng độc lập, mà luôn có sự gắn kết, quan hệ tương hỗ và bổ sung cho nhau, tạo thành một sự liên kết rất chặt chẽ để Mỹ thực hiện chiến lược trên, kể cả khi có xảy ra xung đột ở Đài Loan hay Biển Đông. Theo đó, đối với Philippines, xét về mặt quân sự, các căn cứ nằm ở phía bắc đảo Luzon, nơi Mỹ được quyền tiếp cận, sẽ cho phép Mỹ nhanh chóng triển khai các lực lượng tác chiến trên không, trên biển, cũng như hỗ trợ hậu cần và các trang, thiết bị khác, giúp Mỹ kịp thời đưa ra phản ứng nếu xảy ra một kịch bản khẩn cấp ở eo biển Đài Loan. Nếu không có các căn cứ quân sự này của Philippines, thì khả năng hỗ trợ Đài Loan của Mỹ trong tình huống xảy ra xung đột sẽ bị suy giảm đáng kể, khiến cả hai đều dễ bị tổn thương hơn. Mặt khác, hiện nay đang có khoảng 150.000 công dân Philippines đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan bằng quân sự, sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo và kinh tế lớn đối với Philippines. Do đó Manila không thể thờ ơ mà phải tìm cách phối hợp với Washington và Đài Bắc để bảo vệ Đài Loan, qua đó bảo vệ lợi ích của chính mình.  

Về phía Đài Loan, nếu xảy ra xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, thì Đài Loan sẽ đóng vai trò như một tiền đồn hoặc căn cứ hậu cần cho các lực lượng của Mỹ. Bởi việc Mỹ được phép sử dụng các căn cứ hoặc cơ sở hạ tầng ở Đài Loan sẽ giúp tăng cường khả năng hoạt động và tiếp tế của họ trong khu vực một cách nhanh nhất. Mặt khác, khi xảy ra xung đột ở Biển Đông, thì bằng việc duy trì cảnh giác cao độ và tăng cường khả năng phòng thủ của mình, Đài Loan có thể buộc Trung Quốc phải phân tán lực lượng quân sự giữa hai mặt trận: Biển Đông và eo biển Đài Loan, qua đó làm giảm áp lực quân sự lên Philippines. Hơn nữa, Đài Loan còn có thể sẽ chia sẻ với Mỹ và Philippines thông tin tình báo và giám sát về các hoạt động trong thời gian thực của Trung Quốc ở Biển Đông, giúp hai nước này có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình để kịp thời đưa ra các quyết sách chiến lược hiệu quả. Có thể nói, chiến lược FOIP của Mỹ có rất nhiều nội dung quan trọng và có tác dụng đáng nể trong đảm bảo vai trò, vị thế và lợi ích của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nhưng phải nói trong đó, Mỹ đã đánh giá cao và sử dụng hiệu quả cả Đài Loan và Philippines cho chiến lược của mình. Philippines giống như chiếc “mỏ neo” cắm ở Biển Đông, chẳng những là một “lá chắn” vững chắc giúp Mỹ duy trì sự hiện diện sức mạnh quân sự ở vùng biển nhạy cảm và phức tạp nhất thế giới này, mà còn góp phần giúp Mỹ khuyếch trương vai trò, vị thế “siêu cường” tại khu vực. Trong khi đó, Đài Loan không những là một “hàng rào” tự nhiên trước Trung Quốc, mà còn là “lá chắn kinh tế” rất hiệu quả, khiến Mỹ không thể sao nhãng, mà ngược lại, cần phải tăng cường củng cố hơn nữa. Sự kết hợp giữa khả năng phòng thủ của Đài Loan với các căn cứ tiền tiêu của Philippines sẽ là một lợi thế lớn để Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông, kể cả khi Bắc Kinh phát động một cuộc chiến ở Biển Đông hoặc eo biển Đài Loan.

]]>
Quan hệ Nhật – Philippines tác động tới Biển Đông kể từ khi Tổng thống Marcos Jr cầm quyền ở Philippines               https://biendong.net/2025/10/15/quan-he-nhat-philippines-tac-dong-toi-bien-dong-ke-tu-khi-tong-thong-marcos-jr-cam-quyen-o-philippines/ Wed, 15 Oct 2025 03:18:00 +0000 https://biendong.net/?p=161792 Sau khi lên nắm quyền Tổng thống ở Philippines vào tháng 6/2022, ông Ferdinand Marcos Jr đã nhanh chóng xây dựng được mối quan hệ nồng ấm với Nhật Bản, đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng – an ninh.

Sự gắn kết giữa hai nước, vốn cùng là đồng minh của Mỹ đã mang lại nhiều lợi ích cho cả Manila lẫn Tokyo, nhưng có điều, nó không chỉ bó hẹp trong quan hệ song phương mà còn tác động tới khu vực và nhiều quốc gia liên quan khác, nhất là tác động đối với an ninh khu vực Biển Đông cả trên bình diện tích cực cũng như tiêu cực.

Động lực cơ bản thúc đẩy ông Marcos Jr nhanh chóng nâng cấp quan hệ với Nhật Bản

Dưới thời Tổng thống Duterte, chính sách đối ngoại của Philippines chủ yếu đi theo hướng “xa Mỹ, gần Trung”, đồng thời duy trì một lập trường tương đối “độc lập” với các nước đồng minh của Mỹ, trong đó có Nhật Bản. Tuy vậy thời kỳ này, Nhật Bản vẫn là đối tác cung cấp nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Philippines, nhưng sự hợp tác này ít được thể chế hóa trong một chiến lược an ninh rộng lớn hơn.

Ngay sau khi nhậm chức Tổng thống Philippines, ông Marcos Jr đã nhanh chóng đưa ra một chính sách đối ngoại rộng lớn hơn, nhấn mạnh sự cần thiết của việc củng cố các mối quan hệ chính trị – ngoại giao, quốc phòng – an ninh với các cường quốc trong khu vực, nhất là với Nhật Bản. Tháng 2/2023, ông đã có chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên tới Nhật Bản, đánh dấu sự ưu tiên cao của Manila đối với Tokyo. Sự thay đổi này có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu xuất phát từ hai động lực cơ bản sau.

Trước hết là về kinh tế, Nhật Bản vốn là đối tác thương mại và là nhà đầu tư lớn nhất của Philippines, nên việc nâng cấp quan hệ với Nhật Bản sẽ giúp Philippines tiếp cận tốt hơn nguồn vốn, công nghệ và thị trường của nước này. Mặt khác, Biển Đông có vị trí rất quan trọng đối với an ninh kinh tế và năng lượng của Nhật Bản. Hơn 42% khối lượng hàng hóa thương mại của Nhật Bản được vận chuyển đi qua đây, do đó Tokyo rất cần phối hợp với Philippines để can dự nhiều hơn vào vùng biển này nhằm bảo đảm các lợi ích kinh tế của mình.

Tiếp theo là về quốc phòng – an ninh, cả Philippines và Nhật Bản đều có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển với Trung Quốc, và cũng đều rất lo ngại về các hành động quân sự ngày càng “hung hăng” của Trung Quốc trong khu vực, nhất là tại Biển Đông. Trước thời điểm ông Marcos Jr nhậm chức, cũng như thời gian sau đó, Trung Quốc liên tục gia tăng các hành động quyết đoán và hung hăng ở Biển Đông bằng “chiến thuật vùng xám”, đặc biệt là đối với các khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines. Những hành động này đã làm leo thang căng thẳng giữa hai nước, buộc Philippines phải tăng cường quan hệ quốc phòng với các đối tác đồng minh như Nhật Bản và Mỹ, đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế, nhằm qua đó có thêm sức mạnh để hiện đại hóa quân đội và cơ sở hạ tầng, bảo đảm an ninh cho đất nước.

Những kết quả hợp tác nổi bật giữa Nhật Bản và Philippines khi Tổng thống Ferdinand Marcos Jr lên cầm quyền đến nay

Một là, trên lĩnh vực kinh tế, sau chuyến thăm Nhật Bản của ông Marcos Jr, quan hệ kinh tế Nhật – Philippines đã có nhiều bước phát triển mới, tiêu biểu như:

  • Về nguồn vốn ODA, Nhật Bản tiếp tục duy trì vị thế là nhà cung cấp vốn ODA lớn nhất cho Philippines. Các khoản đầu tư của Nhật Bản vào Philippines chủ yếu tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính sống còn đối với nền kinh tế Philippines. Điển hình là dự án tàu điện ngầm đầu tiên ở Manila, được mệnh danh là “công trình của thế kỷ”, trị giá 8,8 tỉ USD, trong đó nguồn tài trợ bằng khoản vay từ Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) là 2,7 tỉ USD. Điều đáng nói, nếu như dưới thời cựu Tổng thống Duterte, Trung Quốc đã đầu tư rất mạnh vào các dự án hạ tầng ở Philippines, nhưng nhiều dự án trong số đó đã không đạt hiệu quả kinh tế hoặc bị đình trệ, thì nay Philippines đã hủy bỏ và tìm đến các nhà đầu tư Nhật Bản. Ví dụ, dự án đường sắt lớn (SCMB) do Trung Quốc tài trợ đã phải “đắp chiếu” hơn 4 năm, nay đã được khởi động lại với sự hậu thuẫn của Mỹ và Nhật Bản.Đáng nói hơn, các khoản đầu tư của Nhật Bản không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn đóng vai trò như một “công cụ địa chính trị”. Bởi vì các khoản đầu tư của Nhật Bản là một “sự thay thế đáng tin cậy” cho các dự án kém hiệu quả của Trung Quốc. Hơn nữa, nguồn vốn này sẽ gắn kết Philippines chặt chẽ hơn vào chuỗi giá trị và cơ sở hạ tầng do Nhật Bản – đối tác “cùng chí hướng” tài trợ. Ai cũng biết, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, nên khi đã có sự gắn kết về kinh tế thì đương nhiên, mối quan hệ về chính trị giữa hai nước cũng trở nên mật thiết hơn. Hiện nay, ngoài các dự án đã tài trợ, JICA đang triển khai 15 dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm khác, trong đó có các dự án đường sắt lớn, với tổng giá trị khoảng 20 tỷ USD. Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục tăng cường hỗ trợ vốn ODA trên lĩnh vực an ninh nhằm nâng cao khả năng phòng thủ hàng hải cho Philippines; tiếp tục duy trì chính sách lãi suất ưu đãi để giúp Manila có thêm nguồn vốn phục vụ cho việc phục hồi kinh tế đất nước sau đại dịch COVID-19.

(ii) Sáng kiến “Hành lang kinh tế Luzon”: Đây là dự án hạ tầng trọng điểm, được ký kết tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Nhật – Philippines hồi tháng 4/2024, tại Mỹ, nhằm tăng cường kết nối chuỗi cung ứng và nâng cấp hạ tầng chiến lược tại Luzon, hòn đảo lớn nhất và quan trọng nhất của Philippines. Sáng kiến này đánh dấu một bước tiến quan trọng mới, từ hợp tác song phương sang một chiến lược phát triển kinh tế lớn hơn, có sự phối hợp của ba nước. Nó không chỉ là dự án phát triển đơn lẻ, mà còn mang giá trị là một đối trọng chiến lược “nặng ký” đối với sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc. Việc Nhật Bản phối hợp với Mỹ sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để xây dựng hành lang kinh tế quan trọng trên cho thấy hai nước đang tạo ra một “chuỗi cung ứng chiến lược” nhằm củng cố, thắt chặt mối quan hệ với Philippines, qua đó giúp Manila giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế. Hoạt động này chứng tỏ, Philippines đã bước lên “cỗ xe” chiến lược địa chính trị của Mỹ và Nhật Bản đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm đối phó với Trung Quốc.

Hai là, trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh, quan hệ hai nước có bước phát triển rất mạnh mẽ, từ viện trợ bình thường đã vươn lên thành “liên kết chiến lược” rộng lớn hơn, với những trụ cột cơ bản sau:

(i) Hai bên đã pháp lý hóa hoạt động quốc phòng – an ninh bằng việc ký kết Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA) ngày 08/7/2024. Đây là một thỏa thuận quốc phòng mang tính đột phá, cho phép lực lượng quân sự của hai nước dễ dàng triển khai trên lãnh thổ của nhau để thực hiện các hoạt động huấn luyện và tác chiến chung. Thỏa thuận này đánh dấu lần đầu tiên, Nhật Bản ký RAA với một quốc gia Đông Nam Á. Việc này cho thấy mức độ tin cậy và sự liên kết chiến lược giữa hai nước đã đạt đến đỉnh điểm. Trước đây, sự tham gia của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản vào các hoạt động quân sự tại Philippines bị giới hạn ở các hoạt động cứu trợ nhân đạo và hỗ trợ thảm họa. Nhưng bây giờ, RAA ra đời thì phạm vi hợp tác sẽ được mở rộng hơn sang các cuộc tập trận chung lớn hơn, giúp nâng cao đáng kể khả năng tương tác giữa quân đội hai nước. Sự đồng thuận và nhanh chóng ký kết RAA cho thấy, cả hai bên đều có chung nhận thức về tình hình an ninh khu vực, nhất là các hành vi cưỡng ép ở Biển Đông đã trở thành một mối đe dọa chung, từ đó đòi hỏi hai nước phải có sự phối hợp phản ứng mạnh mẽ hơn. RAA ra đời đã đưa mối quan hệ đối tác “hữu nghị truyền thống” Nhật – Philippines trở thành một “liên kết chiến lược” quốc phòng – an ninh thực sự, được thể chế hóa bằng một khuôn khổ pháp lý vững chắc.

(ii) Nhật Bản đã chọn Philippines là quốc gia đầu tiên nhận nguồn viện trợ quốc phòng theo khuôn khổ của chương trình Hỗ trợ An ninh chính thức (OSA) mới của Nhật Bản. Khác với ODA, OSA tập trung vào việc nâng cao năng lực an ninh cho các quốc gia đối tác. Khoản viện trợ đầu tiên trị giá 1,6 tỉ yên (khoảng 10,65 triệu USD) mà Tokyo giành cho Manila nhằm cung cấp các thiết bị như thuyền cao su, hệ thống radar ven biển và thiết bị hỗ trợ radar giám sát trên không cho Hải quân và Không quân Philippines. Bên cạnh đó, các khoản vay từ Nhật Bản cũng giúp Philippines đóng mới 13 tàu tuần duyên cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển. Nhật Bản cũng đã phê duyệt một khoản vay 500 triệu USD để Philippines đóng thêm nhiều tàu tuần tra lớn hơn, đồng thời có khả năng sẽ chuyển giao 6 tàu khu trục cũ và máy bay tuần tra hàng hải cho Hải quân Philippines vào năm 2027. Trong bối cảnh Tokyo bị hạn chế hành động quân sự bởi Hiến pháp hòa bình, nhưng lại có lượng hàng hóa đi qua Biển Đông rất lớn, nên vùng biển này trở thành khu vực có lợi ích thiết thân rất lớn với Nhật Bản. Chính vì vậy, nâng cao năng lực hàng hải cho các đối tác ở tuyến đầu của vùng biển này như Philippines không chỉ giúp Manila bảo vệ chủ quyền, mà còn gián tiếp bảo vệ các tuyến đường biển quan trọng của Nhật Bản, vốn được coi là “huyết mạch chính” trong chuỗi cung ứng của đất nước.

(iii) Phối hợp tăng cường các hoạt động huấn luyện và tuần tra hàng hải chung. Các hoạt động này không chỉ giới hạn ở các cuộc tập trận song phương, mà còn mở rộng thành các cuộc tập trận ba bên với Mỹ, thậm chí bốn bên với Úc (điển hình như cuộc tập trận Balikantan 2025), tập trung vào việc tăng cường khả năng tương tác giữa các lực lượng. Những hoạt động này có ý nghĩa chính trị – ngoại giao rất lớn, là thông điệp răn đe rõ ràng đối với các hành vi cưỡng ép và đơn phương nhằm làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông.

Ba là, trên lĩnh vực chính trị – ngoại giao, ngoài kinh tế, quốc phòng – an ninh, Philippines còn tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương trong khu vực, nổi bật là:

(i) Tham gia và hình thành cơ chế phối hợp ba bên chính thức với Mỹ và Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, từ quốc phòng – an ninh đến kinh tế, công nghệ, chuỗi cung ứng năng lượng sạch, hợp tác về chống biến đổi khí hậu… Theo ông Marcos Jr, cơ chế này sẽ làm “thay đổi thế cục mà chúng ta thấy trong khu vực”; là thông điệp cảnh báo mạnh mẽ rằng, các hành vi cưỡng ép ở Biển Đông không chỉ phải đối mặt với phản ứng của một quốc gia, mà còn phải đối mặt với một “liên minh tiểu đa phương” đang nổi lên.

(ii) Bên cạnh việc cùng Mỹ tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ba bên Mỹ – Nhật – Philippines, Nhật Bản và Philippines còn tham gia vào nhiều khuôn khổ hợp tác khác. Các nhà lãnh đạo của ba nước thường xuyên gặp gỡ nhau bên lề các hội nghị quốc tế, như Hội nghị cấp cao ASEAN ở Indonesia, tháng 5/2023. Ngoài ra, các cuộc tuần tra hàng hải ba bên và bốn bên (với Úc) cũng thường xuyên diễn ra, nhằm tăng cường khả năng tương tác và gửi đi thông điệp chung về cam kết duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông. Sự đa dạng của các khuôn khổ hợp tác này cho thấy tính linh hoạt và khả năng mở rộng của mô hình an ninh khu vực mới, cho phép Nhật Bản và Philippines điều chỉnh mức độ cam kết và phạm vi hợp tác tùy theo tình hình cụ thể.

Những tác động của quan hệ Nhật – Philippines đối với an ninh Biển Đông

Rõ ràng, Biển Đông là yếu tố quan trọng thúc đẩy hai nước Nhật – Philippines tăng cường quan hệ, đồng thời đã đưa lại những lợi ích thiết thực cho hai nước. Ngược lại, quan hệ giữa hai nước sẽ có những ảnh hưởng và tác động đối với an ninh khu vực Biển Đông cả về mặt tích cực và tiêu cực.

Ảnh hưởng và tác động tích cực được thể hiện ở mấy khía cạnh cụ thể sau.

Thứ nhất, thông qua việc Nhật Bản giúp Philippines nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, qua đó đã gián tiếp giúp ổn định tình hình an ninh khu vực. Bởi vì, bằng việc hỗ trợ Philippines các trang thiết bị như tàu tuần tra, hệ thống radar giám sát và tổ chức huấn luyện trực tiếp, Nhật Bản đã và đang giúp Lực lượng tuần duyên Philippines có thêm phương tiện và kỹ năng cần thiết để nâng cao năng lực hàng hải, giám sát, bảo vệ EEZ của mình hiệu quả hơn. An ninh vùng biển thuộc chủ quyền Philippines ổn định sẽ góp phần vào ổn định an ninh chung của Biển Đông.

Thứ hai, liên minh Nhật – Philippines về tăng cường an ninh biển thúc đẩy trật tự khu vực dựa trên luật lệ. Mặc dù không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông, nhưng Nhật Bản có lợi ích sống còn trong việc đảm bảo tự do hàng hải và hàng không ở vùng biển này. Do đó, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhật – Philippines, đặc biệt là việc ký kết RAA, đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về việc duy trì một trật tự quốc tế tự do và rộng mở dựa trên luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Thứ ba, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhật – Philippines thúc đẩy hình thành cơ chế hợp tác đa phương mới trong khu vực. Quan hệ Nhật – Philippines là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới hợp tác an ninh rộng lớn hơn tại khu vực, bao gồm cả Mỹ và những nước khác. Các cuộc gặp ba bên Mỹ – Nhật – Philippines có thể còn mở ra cho các bên khác tham gia và khả năng Nhật Bản tham gia sâu hơn vào các cuộc tập trận chung như Balikatan sẽ tạo ra một cơ chế phối hợp rộng rãi, linh hoạt, góp phần răn đe các hành vi đơn phương, cưỡng ép trên Biển Đông.

Bên cạnh đó, các ảnh hưởng và tác động tiêu cực có thể xảy ra các tình huống cụ thể sau.

Thứ nhất, sự tăng cường liên minh Nhật – Philippines làm gia tăng căng thẳng và nguy cơ đối đầu tại khu vực. Bởi, việc Nhật Bản và Philippines – hai đồng minh thân cận của Mỹ ở khu vực tăng cường hợp tác quân sự sẽ bị Trung Quốc xem là một nỗ lực nhằm kiềm chế và bao vây họ. Trên thực tế, Bắc Kinh đã không ít lần chỉ trích các động thái này, cho rằng đây là biểu hiện của “tư duy Chiến tranh lạnh”, có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang, làm phức tạp thêm tình hình và gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm hoặc va chạm trên biển.

Thứ hai, liên minh Nhật – Philippines làm gây phức tạp hóa quan hệ trong khu vực. Sự xích lại gần nhau của Nhật Bản và Philippines có thể tạo ra những áp lực nhất định trong quan hệ của hai nước này với Trung Quốc, đối tác thương mại lớn của cả hai nước. Ngoài ra, nó cũng có thể gây ra sự chia rẽ nhất định trong nội bộ ASEAN khi các quốc gia thành viên trong khối có những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề Biển Đông và sự cạnh tranh của các nước lớn.

Thứ ba, Nhật Bản có thể bị lôi kéo sâu hơn vào các tranh chấp. Mặc dù Tokyo không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng việc ký kết RAA và tăng cường hiện diện quân sự, dù chỉ để tập trận thôi, cũng có thể khiến Nhật Bản bị lôi kéo trực tiếp hơn vào các sự cố hoặc xung đột tiềm tàng giữa Philippines và Trung Quốc. Điều này có thể tạo ra một thế đối đầu song song, khi Trung Quốc cũng đang gia tăng áp lực lên Nhật Bản trong tranh chấp ở biển Hoa Đông.

Như vậy có thể thấy, quan hệ Nhật – Philippines dưới thời Tổng thống Marcos Jr đã có sự thay đổi mang tính chiến lược, trên cả lĩnh vực kinh tế lẫn quốc phòng – an ninh. Bằng việc ký kết RAA, triển khai chương trình OSA và củng cố cơ chế hợp tác ba bên với Mỹ, hai nước không chỉ củng cố, thúc đẩy quan hệ song phương, mà còn bắt đầu hình thành một cấu trúc an ninh mới ở khu vực. Mối quan hệ trên vừa giúp ổn định an ninh, trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông, vừa giúp Philippines bảo vệ chủ quyền hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng cạnh tranh địa chính trị và căng thẳng trong khu vực Biển Đông, đặt ra bài toán ứng xử đối với các nước khác trong khu vực này./.

]]>
Tăng cường hợp tác quốc phòng Indonesia – Nhật Bản và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-indonesia-nhat-ban-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 03:16:06 +0000 https://biendong.net/?p=158985 Indonesia là một trong hai nước Đông Nam Á được Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru chọn để thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tháng 10/2024.

Trong cuộc hội đàm tại Jakarta tháng 1/2025 Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto chia sẻ quan điểm về điều cần thiết phải củng cố trật tự quốc tế tự do và rộng mở dựa trên luật lệ. Bên cạnh nhiều dự án hợp tác được công bố, điểm nhấn quan trọng trong chuyến thăm là thoả thuận về việc tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng giữa hai nước, theo đó hai bên nhất trí khôi phục các cuộc họp giữa Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao hai nước (2+2); nhất trí thiết lập các cuộc tham vấn quốc phòng cấp làm việc về an ninh hàng hải, bao gồm cả hợp tác kỹ thuật về trang bị quốc phòng; Nhật Bản cung cấp cho Indonesia tàu tuần tra cao tốc thông qua Hỗ trợ An ninh Chính thức.

Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru (trái) và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto sau cuộc gặp tại dinh tổng thống ở Bogor, Tây Java (Indonesia) ngày 11.1. Ảnh: AFP

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani đã có chuyến thăm Jakarta vào đầu tháng 1, trao đổi với người đồng cấp Indonesia về việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước. Sau những thoả thuận ở cấp cao nhất, các công việc liên quan đang được tích cực triển khai.

Theo Đại sứ Indonesia tại Tokyo – ông Heri Akhmadi, các cuộc đàm phán giữa Tokyo và Jakarta về tiềm năng phát triển và sản xuất chung các khinh hạm tiên tiến cho Hải quân Indonesia vẫn đang được tiến hành ở cấp cao nhất, khi hai nước tìm cách tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng. Chủ đề này nằm trong chương trình nghị sự khi Tham mưu trưởng Yoshihide Yoshida – người đứng đầu Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) – tới thăm Indonesia vào cuối tháng 4/2025.

Đại sứ Heri Akhmadi cho biết những nỗ lực mua sắm và sản xuất chung một biến thể của tàu khu trục lớp Mogami của Nhật Bản – loại tàu mà Tokyo cũng hy vọng sẽ xuất khẩu sang Australia – vẫn là ưu tiên hàng đầu trong chính quyền của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto. Ông Prabowo Subianto, người dự kiến sẽ thăm Nhật Bản vào cuối năm nay, lần đầu tiên bày tỏ sự quan tâm đến việc hợp tác với Nhật Bản về việc đóng tàu chiến khi ông đến nước này với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng hồi năm 2021 để ký một Biên bản ghi nhớ về hợp tác chuyển giao công nghệ và thiết bị quốc phòng.

Dự án đề xuất của Tokyo, được cho là có giá trị 300 tỷ Yên, sẽ bao gồm việc đóng 4 khinh hạm tại Nhật Bản, và một số lượng tương đương sẽ được đóng tại Indonesia bởi Công ty PT PAL Indonesia để đáp ứng các yêu cầu của hải quân. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã bị đình trệ do đại dịch COVID-19 và những hạn chế về tài chính liên quan đến dự án đầy tham vọng của Indonesia về việc di dời thủ đô.

Trong khi Tokyo được cho là đã đề nghị cho vay, vấn đề tài trợ vẫn chưa được giải quyết vì quy định của Indonesia yêu cầu Chính phủ phải cung cấp trước 10 – 20% số tiền. Tuy nhiên, Đại sứ Akhmadi chỉ ra động lực ngày càng tăng trong các cuộc đàm phán về dự án đóng tàu khu trục nói trên dưới thời Tổng thống Prabowo, đặc biệt là khi Nhật Bản nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu quốc phòng nghiêm ngặt trong những năm gần đây.

Đại sứ Akhmadi cho biết một khía cạnh quan trọng khác của các cuộc đàm phán xoay quanh việc chuyển giao công nghệ quốc phòng. Jakarta không chỉ quan tâm đến việc cùng phát triển và sản xuất các tàu, mà còn muốn tiếp cận các công nghệ Nhật Bản được sử dụng trong một số hệ thống trên các tàu lớp Mogami, vốn là một trong những hệ thống tiên tiến nhất của JSDF. Ông Akhmadi nói thêm: “Do mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Nhật Bản, chúng tôi (Indonesia) cũng muốn hợp tác chặt chẽ hơn về các hệ thống như vậy thông qua chuyển giao công nghệ”. Lấy một ví dụ về sự hợp tác như vậy, ông Akhmadi đã trích dẫn thỏa thuận của Ấn Độ với Tokyo vào năm 2024 để cùng phát triển một hệ thống radar cho tàu chiến của Hải quân Ấn Độ. Hệ thống radar tiên tiến này đang được lắp đặt trên một số khinh hạm lớp Mogami.

Theo giới chuyên gia quân sự, hợp tác này sẽ hỗ trợ nỗ lực của Nhật Bản nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng trong nước thông qua xuất khẩu toàn cầu. Đồng thời, nó cũng sẽ phù hợp với các chính sách và mục tiêu dài hạn của Indonesia là xây dựng ngành quốc phòng của riêng mình, khi Jakarta tìm cách giảm sự phụ thuộc vào thiết bị quân sự do nước ngoài sản xuất. Tuy nhiên, quyết định của Indonesia cũng sẽ phụ thuộc vào khả năng tương tác và các yếu tố về lực lượng lao động, đặc biệt là khi nước này đã đặt hàng một số tài sản hải quân khác từ các đối tác châu Âu.

Trên thực tế, mối quan hệ an ninh ngày càng phát triển giữa hai nước đã vượt xa phạm vi hợp tác tiềm năng về việc sản xuất chung các khinh hạm. Giới quan sát nhận định rằng việc Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba lựa chọn Malaysia và Indonesia để thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị Thủ tướng và tiếp đó là chuyến thăm tới Việt Nam, Philippines hồi đầu tháng 5/2025 thể hiện rõ sự coi trọng khu vực Đông Nam Á trong chính sách của Thủ tướng Ishiba. Trong khi các quốc gia này từ lâu theo đuổi chính sách đối ngoại dựa trên nguyên tắc không liên kết, các chuyến thăm của Thủ tướng Ishiba báo hiệu cam kết liên tục của Tokyo đối với khu vực có tầm quan trọng chiến lược khi Nhật Bản tìm cách phòng ngừa nguy cơ biến động kinh tế toàn cầu ngày càng gia tăng và tạo ra môi trường an ninh thuận lợi hơn.

Mặc dù Indonesia không phải là một trong những quốc gia có yêu sách trong các tranh chấp lâu dài ở Biển Đông, nhưng nước này đã có những vụ va chạm với các tàu Trung Quốc ở vùng biển giàu tài nguyên xung quanh quần đảo Natuna. Tokyo đã giúp Jakarta cải thiện năng lực tuần tra hàng hải thông qua huấn luyện chung và cung cấp tàu, bao gồm 2 tàu tuần tra cao tốc mới sẽ được chuyển giao cho Hải quân Indonesia theo chương trình Hỗ trợ an ninh nước ngoài (OSA) mới của Nhật Bản.

Hai nước cũng đã tăng cường các cuộc tập trận quân sự chung, với việc Đại sứ Akhmadi lưu ý rằng cuộc tập trận đa quốc gia “Siêu lá chắn Garuda” (Super Garuda Shield) năm nay sẽ chứng kiến Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) có sự đóng góp lớn nhất từ trước đến nay, với hơn 250 quân nhân và một tàu chiến. Tokyo và Jakarta cũng đã nhất trí tổ chức vòng đàm phán “2+2” lần thứ 3 giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng vào cuối năm nay. Cùng với đó, tăng cường hợp tác kinh tế với Đông Nam Á vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Nhật Bản trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng với Trung Quốc. Tháng 1/2025, ông Ishiba đã nhấn mạnh vai trò trung tâm của Indonesia trong nỗ lực này.

Đại sứ Akhmadi nhấn mạnh: “An ninh năng lượng và kinh tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ hai nước”. Jakarta đã đồng ý tiếp tục cung cấp khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) cho Nhật Bản trong khi Tokyo sẽ tiếp tục hỗ trợ phát triển dự án khí đốt Abadi của Indonesia, dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất vào khoảng năm 2029 hoặc 2030 với sự hỗ trợ của Inpex, công ty thăm dò dầu khí lớn nhất Nhật Bản. Jakarta và Tokyo cũng đang trong giai đoạn đàm phán cuối cùng về một thỏa thuận khoáng sản quan trọng, dự kiến sẽ bao gồm việc thăm dò, phát triển, sản xuất, tinh chế và chế biến tại Indonesia các khoáng sản thiết yếu như niken, nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất pin và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Trao đổi với tờ “Japan Times”, Đại sứ Akhmadi cho biết: “Với việc Trung Quốc kiểm soát phần lớn hoạt động chế biến lithium trên toàn thế giới, chúng tôi (Indonesia) muốn thấy nhiều khoản đầu tư hơn từ Nhật Bản vào việc sản xuất các khoáng sản quan trọng tại Indonesia”. Ông nói thêm rằng thỏa thuận này dự kiến sẽ được ký kết “trong tương lai gần” và sẽ toàn diện hơn thỏa thuận được ký kết giữa Nhật Bản và Canada vào năm 2023.

Theo Đại sứ Akhmadi, mối quan hệ ngày càng phát triển giữa Jakarta và Tokyo phản ánh chính sách không liên kết của nước này khi muốn mở rộng quan hệ đối tác và tránh đứng về bên nào trong cuộc cạnh tranh ngày càng leo thang giữa Trung Quốc và Mỹ. Ông lưu ý: “Indonesia đặc biệt muốn hợp tác chặt chẽ hơn với các cường quốc tầm trung như Nhật Bản và Ấn Độ vì hợp tác với các siêu cường có nghĩa là có thể có ít đòn bẩy hơn trong các cuộc đàm phán, nhưng với các cường quốc tầm trung thì sẽ có sự bình đẳng hơn và chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa để duy trì sự ổn định trong khu vực và tăng cường sự thịnh vượng của mình”.

Giới phân tích cho rằng việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nói chung và việc mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước nói riêng không chỉ có lợi cho 2 nước mà còn có những tác động tích cực tới vấn đề an ninh khu vực, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược giữa các siêu cường ở Biển Đông và khu vực ngày càng gay gắt, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Indonesia và Nhật Bản là những nước tầm trung có vai trò quan trọng đối với Biển Đông và an ninh khu vực. Cả hai nước này đều có môi quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia. Việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nhất là trong lĩnh vực an ninh hàng hải, công nghệ quốc phòng tạo yếu tố quan trọng để đối trọng với một Trung Quốc ngày càng hung hăng ở Biển Đông.

Giới phân tích nhận định Nhật Bản đang ngày càng mở rộng quan hệ an ninh trong khu vực (bao gồm Biển Đông), với sự khuyến khích từ đồng minh lâu năm là Mỹ. Tokyo chính là “cánh tay nối dài” của Washington ở Biển Đông khi Nhật Bản tăng cường hợp tác an ninh hàng hải và quốc phòng với Indonesia hay các nước ven Biển Đông khác. Thủ tướng Nhật Bản Ishiba nhấn mạnh rằng: “Nhật Bản và Mỹ hợp tác vì hòa bình và ổn định của khu vực này sẽ đóng góp đáng kể vào hòa bình và ổn định của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và toàn thế giới”.

Thứ hai, mặc dù không liên quan trực tiếp tới các tranh chấp Biển Đông, song Indonesia đã nhiều lần phải đối đầu với hoạt động hung hăng của các tàu Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo Natuna. Trong khi đó, Nhật Bản thường xuyên lên án mạnh mẽ các hành vi cưỡng ép, bắt nạt láng giềng của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời luôn ý thức rằng an ninh ở Biển Đông gắn liền với an ninh của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, hỗ trợ các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với Trung Quốc chính là để ngăn chặn các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông. Tháng 12/2024, Ngoại trưởng Nhật Bản Takeshi Iwaya đã bày tỏ “quan ngại nghiêm trọng” với người đồng cấp Trung Quốc về các hoạt động quân sự gia tăng của Bắc Kinh, đồng thời nhấn mạnh mối lo ngại về “tình hình tại Biển Hoa Đông, bao gồm cả khu vực xung quanh quần đảo Senkaku,” chuỗi đảo không có người ở do Nhật Bản kiểm soát nhưng bị Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền. Giới chuyên gia đều nhận định động thái tăng cường hợp tác quốc phòng giữa Jakarta và Tokyo cũng là nhằm chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Thứ ba, cả Indonesia và Nhật Bản đều đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong các hoạt động trên biển. Jakarta đã nhiều lần lên tiếng công khai phản đối yêu sách “đường chín đoạn” của Bắc Kinh ở Biển Đông, kể cả gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Năm 2021, Tokyo cũng đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông; ủng hộ phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông, kêu gọi các bên tuân thủ và thực thi phán quyết. Việc mở rộng hợp tác an ninh, quốc phòng giữa Indonesia và Nhật Bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông. Indonesia là nước có vai trò quan trọng trong ASEAN, Nhật Bản là đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN và có quan hệ chặt chẽ với tất cả các nước thành viên ASEAN. Việc tăng cường hợp tác giữa Jakarta và Tokyo sẽ tác động tích cực đối với việc củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong ASEAN trên vấn đề Biển Đông và các vấn đề an ninh khu vực, đồng thời góp phần thúc đẩy tiến trình ngoại giao, pháp lý ở Biển Đông mà các nước ASEAN đã nhất trí.

]]>
Hành động leo thang nguy hiểm mới của TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/hanh-dong-leo-thang-nguy-hiem-moi-cua-tq-o-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 01:24:00 +0000 https://biendong.net/?p=158988 Ngày 09/9/2025, Quốc vụ viện Trung Quốc nhất trí với đề xuất của Bộ Tài nguyên thiên nhiên nước này về việc thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Đảo Hoàng Nham (Bãi cạn Scarborough). Điều này làm dấy lên nhiều lo ngại với cộng đồng quốc tế bởi hành động này sẽ dẫn đến nguy cơ căng thẳng sẽ gia tăng ở mức cao hơn trong quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines trong vấn đề Biển Đông vốn đã rất phức tạp trong thời gian gần đây.

Bãi cạn Scarborough được tạo thành từ một chuỗi rạn san hô và đá có hình tam giác với chu vi 55 km và tổng diện tích (gồm cả vùng đầm phá) khoảng 150 km². Đầm phá nông có diện tích 130 km² và độ sâu 15 m. Bãi cạn nhô lên từ đồng bằng biển thẳm sâu 3.500 m. Một vài hòn đá, trong đó có đá mà Trung Quốc gọi là Nam nham, cao từ 0,5 đến 3 m; nhiều rạn đá ngầm chìm dưới nước khi thủy triều lên. Gần cửa vào của đầm phá có một phế tích của tháp sắt cao 8,3 m do Hải quân Philippines dựng lên vào năm 1965.

Về vị trí địa lý, Bãi cạn Scarborough nằm cách Hải Nam của Trung Quốc khoảng 530 hải lý; nằm giữa bãi Macclesfield (Trung Quốc gọi là Trung Sa) và đảo Luzon của Philippines ở Biển Đông, cách Vịnh Subic 123 hải lý (198 km) và đảo Luzon 137 hải lý (220 km) về phía Tây, nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Philippines. Theo Phán quyết của Tòa trọng tài Vụ kiện Biển Đông năm 2016 giữa Philippines và Trung Quốc, Bãi Scarborough được xác định là cấu trúc nổikhông có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng (tức là chỉ có 12 hải lý lãnh hải) và ngư dân từ Philippines, cũng như Trung Quốc và các nước khác, đã đánh cá tại bãi Scarborough có quyền đánh cá truyền thống tại khu vực này.

 Một số diễn biến chính liên quan đến bãi cạn Scarborough

Cũng như đối với các thực thể khác ở Biển Đông, Trung Quốc nêu yêu sách chủ quyền với Bãi cạn này, gọi tên là Hoàng Nham. Nếu như trước đây Trung Quốc yêu sách Bãi cạn này với tính chất là một thực thể thì từ 2019, Trung Quốc coi Hoàng Nham là một bộ phận của Trung Sa (Macclesfield). Nhận xét về yêu sách này, học giả người Anh của Viện Chatham, Bill Hayton chỉ ra rằng “những hiểu lầm về bản đồ và tên gọi trong những năm 1930 đã khiến Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố rằng “Bãi Macclesfield”, một loạt các thực thể dưới nước ở trung tâm Biển Đông, là các đảo. Trung Quốc vẫn giữ nguyên tuyên bố này cho đến ngày nay, mặc dù những hòn đảo này không tồn tại.”

Tháng 4/2012, Hải quân Philippines phát hiện 08 tàu cá của Trung Quốc hoạt động đánh bắt trong khu vực này. Philippines điều tàu chiến BRP Gregorio del Pilar đến để kiểm tra và phát hiện các tàu cá Trung Quốc tiến hành khai thác san hô, sò tai tượng và cá mập bất hợp pháp. Phía Trung Quốc điều tàu hải giám đến cản trở việc bắt giữ tàu cá và căng thẳng gia tăng. Cả 2 bên đều điều thêm tàu quân sự và dân sự đến khu vực. Sau 2 tháng căng thẳng trên biển, dưới sự trung gian của Mỹ về việc 2 bên rút tàu của mình ra khỏi khu vực. Philippines tuân thủ và tiến hành rút tàu, tuy nhiên, Trung Quốc đã không rút tàu và tiến hành kiểm soát trên thực tế thực thể ngầm này thông qua việc xua đuổi, dựng rào nổi/phao chắn cản trở tàu của Philippines tiến hành tiếp cận thực thể này cũng khu vực lòng hồ của thực thể để đánh cá nhưng không tiến hành đồn trú hoặc xây dựng công trình phục vụ việc đồn trú trên cấu trúc này. Việc Trung Quốc chiếm giữ và quản lý trên thực tế là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc Philippines khởi kiện Trung Quốc năm 2013.

Sau khi Chính quyền Duterte nắm quyền và “tạm gác” Phán quyết sang một bên để cải thiện quan hệ với Trung Quốc, Trung Quốc đã “tạo thuận lợi” để ngư dân Philippines được đánh cá ở lòng hồ phía trong Bãi cạn cũng như khu vực có xung quanh. Tuy nhiên, sau này, mỗi khi quan hệ giữa hai nước căng thẳng, Trung Quốc thường hạn chế ngư dân Philippines đánh bắt ở khu vực này. Đồng thời, Trung Quốc duy trì liên tục tàu Cảnh sát biển giám sát khu vực này (năm 2024 là 313/365 ngày).

Năm 2022-2024, Trung Quốc thả phao để ngăn toàn bộ các lối vào Bãi cạn. Philippines cho lực lượng Cảnh sát biển cắt một số đoạn phao và cộng đồng quốc tế cũng đã chứng kiến rất nhiều vụ việc các lực lượng chấp pháp Trung Quốc phun vòi rồng, truy đuổi, đâm va, đánh đập ngư dân Philippines khi họ đánh cá tại khu vực này. Tháng 11/2024, Trung Quốc cho công bố đường cơ sở của Bãi Scarborough và ngày 11/8 vừa qua, trong quá trình xua đuổi tàu cảnh sát biển của Philippines tại đây, tàu khu trục của Trung Quốc đã va chạm với tàu Cảnh sát biển củaTrung Quốc khiến tàu Cảnh sát biển Trung Quốc hư hỏng nặng. Ngay sau đó 3 hôm, tàu chiến Mỹ thực hiện FONOP tại khu vực này.

Theo thông báo của phía Trung Quốc, Quốc vụ viện Trung Quốc đồng ý thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Đảo Hoàng Nham. Việc thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Đảo Hoàng Nham là biện pháp bảo đảm quan trọng nhằm duy trì tính đa dạng, ổn định và bền vững của hệ sinh thái tự nhiên Đảo Hoàng Nham. Các sở, ban, ngành và địa phương liên quan phải nghiêm túc thực hiện “Quy định của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Khu Bảo tồn Thiên nhiên” và các quy định khác về xây dựng và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, nghiêm túc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường và sinh thái, tăng cường lãnh đạo và phối hợp tổ chức, hoàn thiện thể chế quản lý, tăng cường giám sát và thực thi pháp luật đối với mọi hoạt động bất hợp pháp và trái phép liên quan đến khu bảo tồn thiên nhiên, đảm bảo thực hiện đầy đủ các biện pháp quản lý và không ngừng cải thiện việc xây dựng và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia.

Khu vực Trung Quốc thiết lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên có diện tích khoảng 3523,67 ha (3,5 km2), ở phía Đông Bắc của Bãi cạn Scarborough và án ngữ cửa chính mà tàu thuyền lớn có thể ra vào Bãi cạn[M1]  (sơ đồ kèm theo), trong đó khu vực lõi là 1.242,55 ha và diện tích thực nghiệm là 2.281,12 ha. Đối tượng bảo vệ chính là hệ sinh thái rạn san hô.

Phản ứng của các nước:

Ngày 11/9/2025, Bộ Ngoại giao Philippines ra thông cáo phản đối một cách mạnh mẽ” việc phía Trung Quốc thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên đảo Huangyan”, đồng thời khẳng định Bãi cạn Scarborough là “một phần từ lâu đời và không thể tách rời của Philippines”. Thông cáo cũng khẳng định phía Philippines sẽ có công hàm phản đối hành động “phi lý và trái phép của Trung Quốc”, kêu gọi Trung Quốc tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của Philippines đối với thực thể này, tuân thủ Công ước Liên hơp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), Phán quyết Tòa trọng tài quốc tế 2016 và Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) 2002. Cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Eduardo Año cáo buộc hành động của Trung Quốc đi ngược lại Công ước Luật biển 1982, Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế 2016 về vấn đề Biển Đông và DOC 2002. Ông Año nhấn mạnh hành động của Trung Quốc giống như một bước chuẩn bị để chiếm đóng hơn là bảo vệ môi trường và nhấn mạnh: “Việc bảo vệ Bãi cạn Scarborough một cách thực sự cần có sự hợp tác, minh bạch và tôn trọng luật pháp quốc tế, không phải tuyên bố đơn phương nhằm hạn chế quyền ra vào bãi cạn đối với ngư dân Philippines dưới cái mác bảo tồn”. Dư luận Philippines phản đối mạnh mẽ việc làm nêu trên của Trung Quốc.

Ngày 12/9/2025, Ngoại trưởng Mỹ ra tuyên bố khẳng định “Mỹ ủng hộ đồng minh Philippines của chúng tôi trong việc bác bỏ kế hoạch gây bất ổn của Trung Quốc nhằm thành lập một “khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại Bãi cạn Scarborough. Việc Bắc Kinh tuyên bố Bãi cạn Scarborough là khu bảo tồn thiên nhiên là một nỗ lực cưỡng ép khác nhằm thúc đẩy các yêu sách lãnh thổ và hàng hải sâu rộng ở Biển Đông, gây bất lợi cho các nước láng giềng, bao gồm cả việc ngăn cản ngư dân Philippines tiếp cận các ngư trường truyền thống này. Hành động của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough tiếp tục làm suy yếu sự ổn định khu vực. 

Mỹ kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết nhất trí của Tòa trọng tài năm 2016 rằng Trung Quốc đã ngăn cản bất hợp pháp ngư dân Philippines tham gia hoạt động đánh bắt cá truyền thống tại Rạn san hô Scarborough, đây là phán quyết cuối cùng và có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với cả hai Bên.” Cùng với đó, Canada, Úc, Nhật Bản cũng có nội dung lên án việc làm này của Trung Quốc.

Hành động leo thang nguy hiểm mới ở Biển Đông

Việc bảo vệ môi trường nói chung, trong đó có môi trường biển là trách nhiệm của các quốc gia được quy định trong Công ước Luật biển 1982. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc căn bản của Công ước Luật Biển 1982 là việc các quốc gia trong mọi hoạt động trên biển phải tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của quốc gia ven biển. Đồng thời, trong khu vực Biển Đông, ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí thông qua DOC, trong đó yêu cầu các quốc gia không có hành động làm phức tạp an ninh, hòa bình, ổn định trong khu vực. Việc Trung Quốc lấy cớ thiết lập Khu bảo tồn để “bảo vệ môi trường, bảo vệ rạn san hô” rõ ràng đi ngược lại các nguyên tắc, nội dung và tinh thần của các văn kiện nêu trên.

Không chỉ thế, các quốc gia trong và ngoài khu vực đều đã chứng kiến các hành động lặp đi lặp lại trong một thời gian dài của Trung Quốc trong việc sử dụng các hoạt động trên thực địa để củng cố cái gọi là “chủ quyền và các lợi ích biển chính đáng của mình”. Có lẽ phải nhắc lại, chính Trung Quốc là người đã tạo cớ và chiếm giữ thực tế Bãi cạn Scarborough từ Philippines năm 2012. Với việc thiết lập khu bảo tồn, chắc chắn Trung Quốc sẽ thi hành các biện pháp mạnh tay trên thực địa để “bảo vệ” Khu bảo tồn. Năm 2021, khi thông qua Luật Cảnh sát biển, Trung Quốc đã trao cho lực lượng Cảnh sát biển của nước này trên 10 nhiệm vụ, thẩm quyền, trong đó có quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế để bảo vệ môi trường biển trong phạm vi “quyền tài phán” của nước này ở Biển Đông.

Gần đây, mức độ sử dụng vũ lực của các lực lượng chấp pháp của Trung Quốc đối với Philippines gia tăng một cách đáng kể. Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng vòi rồng để cản trở Philippines tiếp tế cho lực lượng đồn trú ở Cỏ Mây và ngày 11/8/2025 vừa qua, đã tiến hành truy đuổi tàu Cảnh sát biển Philippines ở khu vực Scarborough dẫn đến việc chính hai tàu chiến và Cảnh sát biển của Trung Quốc va chạm với nhau, gây thiệt hại nặng cho tàu Cảnh sát biển Trung Quốc. Với việc sử dụng vũ lực thường xuyên như vậy, việc Trung Quốc gia tăng lực lượng để bảo vệ Khu vực bảo tồn này là điều có thể dự đoán được.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đang có nhiều diễn biến phức tạp, xu thế đơn phương sử dụng vũ lực gia tăng, việc Trung Quốc thiết lập Khu bảo tồn ở Scarborough là bước đi nguy hiểm, tạo ra nhiều hệ lụy lâu dài, có thể tác động tiêu cực đến tình hình khu vực Biển Đông. Các quốc gia ven biển và cộng đồng quốc tế cần cảnh giác cao độ./.


 [M1]Cửa vào ở phía Tây Nam bãi cạn, nên khu bảo tồn k thể nói là án ngữ cửa chính.

]]>
Canada tăng cường hiện diện ở khuc vực, thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/canada-tang-cuong-hien-dien-o-khuc-vuc-that-chat-quan-he-quoc-phong-voi-philippines-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 01:10:00 +0000 https://biendong.net/?p=158982 Nhằm thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương được thông qua năm 2022, thời gian gần đây Canada tăng cường sự hiện diện tại khu vực này và thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines để làm bàn đạp can dự sâu hơn vào khu vực.

Từ đầu năm 2025, Hải quân Canada điều tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa thực hiện nhiệm vụ “thúc đẩy hòa bình, ổn định và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vốn được biết đến với tên gọi “Chiến dịch Horizon” của các lực lượng vũ trang Canada. Tháng 1/2025, tàu này đã tiến hành cuộc tập trận chung với Hải quân Mỹ ở Biển Đông và đi gần bãi cạn Scarborough, một điểm nóng căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines. Tàu khu trục HMCS Ottawa cũng tham gia tập trận La Perouse 25 – một cuộc tập trận đa quốc gia do Pháp dẫn đầu – tại vùng biển gần quần đảo Indonesia.

Tàu hải quân Canada

Tàu HMCS Ottawa bắt đầu năm 2025 bằng cuộc tập trận chung với tàu chiến Mỹ ở Biển Đông. Bộ tư lệnh tác chiến chung Canada ra thông báo trên trang X cho biết từ ngày 8-11/1/2025, tàu hải quân Canada HMCS Ottawa đã hoàn thành cuộc tập trận chung với tàu khu trục USS Higgins của Hải quân Mỹ trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông, cuộc tập trận có mật danh là “Noble Wolverine”. Theo thông báo, cả hai tàu đều “di chuyển qua vùng biển quốc tế của Biển Đông trong khi tiến hành các cuộc tập trận liên lạc, hoạt động bay và huấn luyện tác chiến chống tàu ngầm”.

Tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa cũng đã di chuyển gần bãi cạn Scarborough, nơi hải cảnh Trung Quốc và lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã tham gia vào trò chơi mèo vờn chuột trong nhiều tuần. Chuỗi rạn san hô đang tranh chấp nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines nhưng nằm dưới sự kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc từ năm 2012. Bắc Kinh đã triển khai tàu Hải cảnh lớn nhất của mình, được gọi là “Quái vật” vì kích thước khổng lồ của nó, đến khu vực này kể từ đầu năm, mà Manila coi là “một hành động đe dọa, cưỡng ép và xâm lược”.

Theo tuyên bố của Hạm đội 7 Mỹ, “Noble Wolverine” chứng minh “cam kết chung của hai nước Mỹ và (Canada) đối với một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, đồng thời nói thêm rằng các hoạt động song phương như vậy mang lại “cơ hội có giá trị để huấn luyện, thực hành và phát triển khả năng tương tác chiến thuật” giữa các lực lượng hải quân đồng minh và đối tác trong khu vực.

Từ ngày 1 đến 4/2/2025, tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa của Hải quân Canada, với 240 thủy thủ đoàn, đã cập Cảng tự trị Sihanoukville thực hiện chuyến thăm đầu tiên tới Campuchia. Adriano Lozer, Chỉ huy trưởng tàu HMCS Ottawa, đánh giá cao chuyến thăm này và coi đây là minh chứng cho sự can dự ngày càng tăng của Canada vào khu vực khi nhấn mạnh: “Chuyến thăm này cho phép chúng tôi chứng minh rõ ràng cam kết quốc phòng lâu dài đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và tăng cường vai trò của Canada như một đối tác quốc tế đáng tin cậy”.

Thong Mengdavid, nhà phân tích địa chính trị và Giáo sư tại Viện Quan hệ quốc tế và Nghiên cứu chính sách công thuộc Đại học Hoàng gia Phnom Penh cho rằng: “Chuyến thăm đánh dấu một cử chỉ thiện chí và nỗ lực tăng cường quan hệ song phương giữa Campuchia và Canada. Mặc dù Campuchia trước nay vẫn cẩn thận duy trì sự cân bằng trong các hoạt động quân sự với các cường quốc nước ngoài, nhưng những chuyến thăm như vậy có thể thúc đẩy nhận thức tích cực về hợp tác quân sự quốc tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực như an ninh hàng hải, hỗ trợ nhân đạo và xây dựng năng lực”. Ông Thong Mengdavid nói thêm rằng chuyến thăm này phù hợp với mục tiêu rộng lớn hơn của Canada là tăng cường sự hiện diện của mình tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, như đã nêu trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Bằng cách hợp tác với Campuchia, Canada thể hiện cam kết của mình đối với an ninh khu vực, hợp tác đa phương và tăng cường quan hệ ngoại giao.

Chỉ huy tàu Adriano Lozer nhấn mạnh: “Là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Campuchia đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định khu vực. Chuyến thăm của HMCS Ottawa giúp củng cố quan hệ của chúng tôi và đẩy mạnh cam kết chung của chúng tôi đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Là một quốc gia Thái Bình Dương, củng cố quan hệ mạnh mẽ với các đối tác khu vực là một ưu tiên, và chúng tôi đặc biệt sốt sắng hợp tác với Campuchia trong tương lai”.

Tàu HMCS Ottawa tham gia cuộc tập trận đa quốc gia La Perouse 25 – cuộc tập trận hàng hải có sự tham gia của 9 quốc gia do Hải quân Pháp dẫn đầu vào ngày 24/1/2025. Cuộc tập trận diễn ra tại Eo biển Malacca, Sunda và Lombok, nơi nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Có 13 tàu từ các nước Australia, Canada, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, Anh, Mỹ và nhóm tác chiến tàu sân bay Charles De Gaulle của Pháp đã tham gia cuộc tập trận, trong đó tập trung vào nội dung huấn luyện an toàn hàng hải. Sau khi kết thúc cuộc tập trận La Perouse 25, tàu HMCS Ottawa đã ghé thăm Indonesia trước khi thăm Campuchia.

Cùng với việc điều tàu chiến tới hoạt động dài ngày ở khu vực, Canada còn tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines. Theo thông báo của Bộ Quốc phòng Philippines và Bộ các vấn đề toàn cầu Canada, Manila và Ottawa đã kết thúc các cuộc đàm phán liên quan tới thỏa thuận về Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) giữa hai bên vào tháng 3/2025, cho phép lực lượng hai nước tiến hành các cuộc tập trận chung và tăng cường hợp tác. Các cuộc đàm phán này được tổ chức sau khi hai nước đã ký bản ghi nhớ Hợp tác quốc phòng hồi tháng 1/2024.

Việc Canada và Philippines cùng phối hợp về SOVFA nói trên sẽ cho phép mỗi bên cùng hợp tác trong các lĩnh vực chung có lợi cho pháp quyền, hợp tác quốc phòng và an ninh, cũng như hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Canada Bill Blair, việc hoàn tất thỏa thuận này là dấu mốc quan trọng đối với mối quan hệ song phương Canada-Philippines khi hai nước kỷ niệm 75 năm quan hệ ngoại giao trong năm 2024.

Theo Bộ Quốc phòng Philippines, thỏa thuận với Canada “sẽ thiết lập một khuôn khổ hợp tác gia tăng, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quốc phòng và quân sự, nâng cao khả năng tương tác giữa các lực lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tập trận chung hiệu quả hơn cũng như các hoạt động nâng cao năng lực”. Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro cho biết Philippines sẽ tiếp tục xây dựng các liên minh an ninh nhằm ngăn chặn sự gây hấn của Trung Quốc. Ông Teodoro nhấn mạnh các hành động thù địch của Bắc Kinh có thể dẫn đến việc hạn chế hoạt động trên Biển Đông, một tuyến đường thương mại quan trọng đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong số các lĩnh vực mà biên bản ghi nhớ về Hợp tác quốc phòng đề cập tới có giáo dục quân sự, trao đổi đào tạo, chia sẻ thông tin, hoạt động gìn giữ hòa bình và ứng phó thảm họa. Văn bản này là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy Canada sẵn sàng hợp tác với Philippines và nó tiếp nối một thỏa thuận khác được ký năm 2023, mở rộng quyền truy cập Hệ thống phát hiện tàu ẩn (Dark Vessel Detection System) của Canada cho Trung tâm giám sát bờ biển quốc gia Philippines. Theo đó, Canada cung cấp cho Philippines quyền truy cập vào Hệ thống phát hiện tàu ẩn, sử dụng công nghệ vệ tinh để theo dõi các tàu bất hợp pháp ngay cả khi chúng vô hiệu hóa thiết bị phát tín hiệu định vị. Do vậy, lực lượng tuần duyên Philippines đã sử dụng công nghệ của Canada để theo dõi các tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu đánh cá trên Biển Đông.

 Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) là yêu cầu pháp lý để Philippines hợp tác với quân đội Canada trong các cuộc tập trận quân sự chung và các sự kiện liên quan đến quân sự khác mà không vi phạm hiến pháp. Theo khoản 25, Điều 18, Hiến pháp Philippines không công nhận sự hiện diện của quân đội hay căn cứ nước ngoài trừ khi có một hiệp ước được cả Thượng viện và Hạ viện nước này chính thức phê chuẩn. Giới chuyên gia nhận định việc hoàn tất SOVFA giữa Philippines và Canada tạo điều kiện cho Hải quân Canada tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông nhằm thúc đảy trật tự dựa trên luật lệ.

Việc phê chuẩn SOVFA do đó cho phép lực lượng vũ trang Philippines có cơ hội huấn luyện và phối hợp cùng với các đối tác của họ trong lực lượng vũ trang Canada. Ngoài ra, nó còn cho phép Philippines có cơ hội đa dạng hóa các đối tác an ninh của họ và giảm sự phụ thuộc vào Mỹ trong bối cảnh căng thẳng hàng hải đang diễn ra trên Biển Đông. Vào tháng 8/2024, lực lượng Hải quân và Không quân Canada và Philippines đã tham gia cùng Australia và Mỹ trong các cuộc diễn tập không quân và hải quân nhằm đảm bảo hoạt động đi lại không bị cản trở trên vùng biển quốc tế thuộc Biển Đông và thúc đẩy khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở.

Đây không phải là động thái duy nhất mà Manila thực hiện để tìm kiếm quyền tự chủ chiến lược lớn hơn. Philippines và Nhật Bản đã ký thỏa thuận Tiếp cận Đối ứng (RAA) vào tháng 7/2024 và Thượng viện Philippines đã phê chuẩn văn kiện này ngày 16/12/2024 (nhưng Quốc hội Nhật Bản hiện vẫn chưa thông qua). Ngoài ra, Philippines và New Zealand đã hoàn tất đàm phán SOVFA giữa hai nước hôm 20/1/2025 và đã ký kết hiệp định này vào tháng 4/2025. Philippines cũng đang thảo luận về một thỏa thuận tương tự với Pháp. Bộ trưởng Quốc phòng Teodoro cho biết Philippines có thể tìm kiếm các SOVFA với các quốc gia khác như Đức, Ấn Độ và Singapore.

Canada sẽ được hưởng lợi khi có được một đồng minh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, qua đó hoàn thành một trong những mục tiêu của Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của mình, trong đó kêu gọi xây dựng các mối quan hệ hợp tác mới dựa trên an ninh. Đối với Philippines, Canada được coi là đối tác an ninh đáng tin cậy và là một đồng minh sẵn sàng ủng hộ Philippines qua các kênh ngoại giao trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông.

Việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực cũng như nâng cấp quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, giới phân tích nhận định với việc hoàn tất SOVFA giữa Manila và Ottawa, Philippines được coi là mắt xích quan trọng để Canada can dự sâu hơn vào Biển Đông. Việc thắt chặt quan hệ quốc phòng giữa Philippines và Canada trở thành yếu tố quan trọng để Manila đối phó với những hành vi hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, góp phần thúc đẩy trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Thứ hai, thêm một đồng minh quan trọng của Mỹ tham gia sâu vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra cục diện đa phương trong việc ngăn chặn sự mở rộng bành trướng của Bắc Kinh. Mỹ không chỉ một mình cùng đồng minh Philippines trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông mà sẽ có sự tham gia của nhiều đồng minh tới. Với việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Philippines, Canada sẽ tham gia nhiều hơn vào các cuộc tuần tra, tập trận song phương và đa phương ở Biển Đông để kiềm chế Trung Quốc.

Thứ ba, việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực và ký với Philippines SOVFA sẽ khích lệ các đồng minh khác của Mỹ ở châu Âu như Anh, Đức, Ý, Hà Lan… tham gia vào “mặt trận” chống bành trướng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng. Canada và các đồng minh châu Âu khác của Mỹ cũng có thể mở rộng hợp tác quốc phòng với các đối tác khác ven Biển Đông, góp phần quốc tế hoá, đa phương hoá các tranh chấp ở Biển Đông.

]]>