Đại Hùng – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 23 Feb 2026 03:13:47 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Mỹ nhập khẩu từ Đài Loan nhiều hơn TQ https://biendong.net/2026/02/25/my-nhap-khau-tu-dai-loan-nhieu-hon-tq/ Wed, 25 Feb 2026 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163989 Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, Mỹ nhập khẩu nhiều hàng hóa từ Đài Loan hơn Trung Quốc, khi các mức thuế do Tổng thống Mỹ Donald Trump áp đặt đang định hình lại dòng chảy thương mại toàn cầu, đồng thời làn sóng bùng nổ trí tuệ nhân tạo (AI) thúc đẩy nhu cầu đối với các sản phẩm công nghệ.

Lượng hàng xuất khẩu từ Đài Loan sang Mỹ tăng hơn gấp đôi trong cùng kỳ, đạt 24,7 tỷ USD.

Theo số liệu do Bộ Thương mại Mỹ công bố ngày 20/1, nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc vào Mỹ đã giảm mạnh gần 44% trong tháng 12 so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 21,1 tỷ USD. Ngược lại, lượng hàng xuất khẩu từ Đài Loan sang Mỹ tăng hơn gấp đôi trong cùng kỳ, đạt 24,7 tỷ USD.

Sự gia tăng mạnh mẽ của hàng hóa Đài Loan phản ánh việc mở rộng quy mô cung ứng chip và máy chủ cho các công ty AI. Xu hướng này đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc thương mại của Đài Loan và đưa nền kinh tế gần 1 nghìn tỷ USD của họ trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Năm 2023, Đài Loan xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều hơn sang Mỹ hoặc bất kỳ quốc gia nào khác. Tuy nhiên, trong năm vừa qua, lượng hàng hóa vận chuyển từ hòn đảo này vượt Thái Bình Dương sang Mỹ đã tăng lên mức gấp đôi so với lượng hàng đi qua eo biển Đài Loan.

Trong khi các nhà xuất khẩu Trung Quốc ngày càng đa dạng hóa thị trường ngoài Mỹ do mức thuế cao hơn nhiều từ chính quyền Tổng thống Trump, các doanh nghiệp Đài Loan lại đi theo hướng ngược lại khi Mỹ chiếm gần 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan trong năm ngoái.

Ngay cả khi các doanh nghiệp Trung Quốc tìm cách né tránh thuế quan bằng cách mở rộng sang các thị trường khác hoặc chuyển hàng qua nước thứ ba, thương mại trực tiếp giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn chứng kiến sự sụt giảm đáng kể.

Dữ liệu mới cũng cho thấy những giới hạn trong nỗ lực cân bằng thương mại toàn cầu của Washington. Trong tháng 12, Mỹ ghi nhận thâm hụt thương mại 12,7 tỷ USD với Trung Quốc, đứng sau Liên minh châu Âu, Đài Loan và Mexico.

Tính chung cả năm, thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc giảm 93,4 tỷ USD xuống còn 202,1 tỷ USD vào năm 2025. Ngược lại, mức thâm hụt với Đài Loan tăng hơn gấp đôi, lên gần 147 tỷ USD.

Đài Bắc cho biết xuất khẩu được thúc đẩy bởi nhu cầu tăng mạnh đối với các sản phẩm công nghệ của hòn đảo. Riêng trong tháng 12, lượng xuất khẩu nhóm “sản phẩm thông tin, truyền thông và nghe nhìn” sang Mỹ đã tăng 200,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tuần trước, Đài Bắc đã ký thỏa thuận thương mại với Washington, theo đó mức thuế “có đi có lại” sẽ giảm từ 20% xuống 15%. Đồng thời, các sản phẩm bán dẫn có thể được xuất khẩu sang Mỹ mà không phải chịu thuế trong phạm vi hạn ngạch cụ thể.

Thỏa thuận thương mại mới cùng sự lạc quan xoay quanh làn sóng bùng nổ AI đã khiến cơ quan thống kê Đài Bắc nâng mạnh dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 lên 7,71%, từ mức 3,54% trước đó.

Những thay đổi nhanh chóng trong dòng chảy thương mại cho thấy sự dịch chuyển cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó nhu cầu đối với công nghệ AI và chính sách thương mại của Mỹ đang đóng vai trò quyết định, đồng thời tái định hình vị thế kinh tế của các nền kinh tế châu Á trong kỷ nguyên công nghệ mới.

T.P

]]>
Chuyện gì đây: Nga vừa có pha lách luật trừng phạt dầu khí đỉnh cao chưa từng có, Mỹ và EU cũng phải chào thua https://biendong.net/2026/02/24/chuyen-gi-day-nga-vua-co-pha-lach-luat-trung-phat-dau-khi-dinh-cao-chua-tung-co-my-va-eu-cung-phai-chao-thua/ Tue, 24 Feb 2026 14:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163988 Nga vừa thực hiện điều gì?

Lần đầu tiên, Nga được ghi nhận đã thực hiện đồng thời ba vụ chuyển tải khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) giữa các tàu (ship-to-ship – STS) tại vùng biển Bắc Cực. Động thái này cho thấy Moscow đang tăng cường hoàn thiện hệ thống hậu cần hàng hải nhằm duy trì xuất khẩu khí đốt, trong bối cảnh các lệnh trừng phạt của phương Tây vẫn tiếp tục nhắm vào lĩnh vực năng lượng.

Theo dữ liệu vận chuyển và theo dõi vệ tinh, ba hoạt động chuyển tải diễn ra tại khu vực Murmansk – trung tâm then chốt trong chuỗi xuất khẩu LNG Bắc Cực của Nga. Hai vụ được thực hiện tại đơn vị lưu trữ nổi Saam (FSU Saam), nơi LNG từ dự án Arctic LNG 2 được dỡ xuống và bốc xếp lại để tiếp tục hành trình. Vụ còn lại diễn ra gần đảo Kildin, liên quan đến nguồn hàng từ dự án Yamal LNG.

Tại FSU Saam, tàu phá băng lớp Arc7 Christophe de Margerie đã vận chuyển một lô hàng có nguồn gốc từ Arctic LNG 2. Song song, tàu chở LNG thông thường Arctic Metagaz tiếp nhận khí hóa lỏng để vận chuyển tiếp, với điểm đến được cho là cảng Beihai LNG của Trung Quốc – nơi đến nay được xác nhận là điểm nhập khẩu các lô hàng từ dự án này. Dữ liệu cho thấy một hoạt động chuyển tải kép tương tự cũng đã diễn ra tại FSU Saam vào đầu tháng 1.

Trong khi đó, tàu Arc7 Nikolay Urvantsev, vận chuyển LNG từ Yamal LNG, đã thực hiện chuyển tải tại khu neo đậu Kildin phía đông Murmansk. Lô hàng sau đó có thể được đưa tới châu Âu hoặc châu Á thông qua tàu chở LNG thông thường Phecda.

Murmansk từ lâu được xem là mắt xích quan trọng trong hệ thống logistics LNG của Nga. Các hoạt động STS tại đây cho phép kết nối đội tàu phá băng chuyên dụng – có khả năng hoạt động trong điều kiện băng giá khắc nghiệt – với đội tàu chở LNG toàn cầu, qua đó tối ưu chi phí và mở rộng điểm đến xuất khẩu.

Các dự án LNG tại Bắc Cực, đặc biệt là Novatek dẫn đầu dự án Yamal LNG, đã trở thành nguồn thu xuất khẩu quan trọng của Nga bên cạnh dầu mỏ. Kể từ khi đi vào vận hành năm 2017, Yamal LNG đã xuất khẩu hàng chục triệu tấn khí hóa lỏng. Trong khi đó, Arctic LNG 2 được thiết kế nhằm mở rộng đáng kể công suất khai thác từ các mỏ khí trên bán đảo Yamal và Gydan, phục vụ thị trường châu Âu và châu Á.

Dù Mỹ, Liên minh châu Âu và các nước đồng minh đã áp đặt nhiều vòng trừng phạt, việc hạn chế xuất khẩu LNG được đánh giá phức tạp hơn so với khí đốt qua đường ống, do phụ thuộc vào mạng lưới vận tải biển đa tầng và đội tàu chuyên dụng.

Dữ liệu thương mại cho thấy trong tháng 1/2026, châu Âu đã mua khoảng 93% sản lượng LNG của Yamal LNG – mức cao kỷ lục. Giới giao dịch nhận định xu hướng này phản ánh nỗ lực tích trữ nguồn cung trước khi lệnh cấm nhập khẩu LNG của Nga từ EU dự kiến có hiệu lực vào tháng 1/2027. Tính chung năm 2026, nhập khẩu LNG từ Yamal vào EU tăng 8% so với cùng kỳ.

Các lệnh trừng phạt cũng khiến hoạt động của Arctic LNG 2 gặp nhiều thách thức, buộc dự án phải dựa vào kho nổi, chuyển tải STS và đội tàu dự phòng. Trong năm 2024, một số tàu liên quan từng bị ghi nhận tắt hoặc làm sai lệch tín hiệu AIS. Tuy nhiên, các hoạt động gần đây diễn ra công khai hơn, cho thấy mạng lưới vận chuyển đã được thiết lập ổn định hơn.

Giới quan sát nhận định việc chưa xuất hiện thêm biện pháp trừng phạt mới từ Mỹ đối với các đầu mối tiếp nhận LNG có thể đã tạo dư địa để Nga củng cố tuyến xuất khẩu Bắc Cực. Ba vụ chuyển tải đồng thời lần này được xem là dấu hiệu cho thấy Moscow tiếp tục tìm cách duy trì dòng chảy LNG ra thị trường toàn cầu trong bối cảnh môi trường địa chính trị còn nhiều biến động.

T.P

]]>
Dùng AI soạn email, lên kế hoạch du lịch… là gây hại cho hành tinh? https://biendong.net/2026/02/24/dung-ai-soan-email-len-ke-hoach-du-lich-la-gay-hai-cho-hanh-tinh/ Tue, 24 Feb 2026 13:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163985 Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo đang làm gia tăng lượng điện tiêu thụ tới mức đáng ngại, đặt ra câu hỏi lớn về tác động khí hậu của công nghệ này.

Grok, chatbot trí tuệ nhân tạo của Elon Musk, từng ca ngợi trùm phát xít Hitler và lặp lại các thuyết âm mưu không được kiểm chứng.

Một buổi chiều tháng 5 năm ngoái tại Memphis, dưới ánh hoàng hôn, Sharon Wilson huớng ống kính camera nhiệt vào trung tâm dữ liệu của xAI, công ty trí tuệ nhân tạo thuộc sở hữu của tỉ phú Elon Musk. Hình ảnh hiện ra cho thấy các tua-bin chạy khí đốt đang xả khí thải vô hình lên bầu trời bang Tennessee (Mỹ) mà không phải chịu các quy định kiểm soát phát thải.

Với hơn 10 năm chuyên ghi nhận các vụ rò rỉ methane, bà ước tính trung tâm dữ liệu Colossus của xAI đang thải ra lượng khí làm nóng hành tinh nhiều hơn cả một nhà máy điện cỡ lớn. “Thật sự choáng váng. Lượng ô nhiễm không thể tin nổi” – bà Wilson nói.

Cùng thời điểm đó, chatbot Grok, sản phẩm chủ đạo của trung tâm Colossus, liên tục vướng vào tranh cãi vì lặp lại thuyết âm mưu và ca ngợi trùm phát xít Hitler. “Thật là lãng phí khủng khiếp. Rốt cuộc nó đang tạo ra giá trị hữu ích gì?” – bà Wilson đặt câu hỏi.

Mối lo của giới khoa học
Bà Wilson không phải người duy nhất hoài nghi trí tuệ nhân tạo (AI). Nhiều nhà khoa học đang theo dõi làn sóng AI với tâm thế bất an, vì công nghệ này vừa làm gia tăng phát thải carbon, vừa kéo theo các rủi ro trong không gian số. Một số chuyên gia lo ngại các trung tâm dữ liệu có thể làm chệch hướng tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế sạch.

Bà Hannah Daly, Giáo sư năng lượng bền vững tại Đại học College Cork ở Ireland, nói trong quá khứ, hoạt động của ô tô, chăn nuôi và sưởi ấm gia đình mới là những vấn đề chính tại Ireland, còn phát thải từ dịch vụ số khá nhỏ và ổn định.

Nhưng hiện nay, cơn khát năng lượng của các trung tâm dữ liệu đã vượt ngưỡng có thể “nhắm mắt làm ngơ”. Hiện chúng tiêu thụ khoảng 20% điện năng cả nước và được dự báo tiến gần 1/3 trong vài năm tới. Sự bùng nổ này khiến các nhà kho chứa chip mọc lên nhanh hơn khả năng đáp ứng của lưới điện, khiến chúng bị nhà nước ra quy định hạn chế kết nối từ năm 2021.

“Điều đáng lo nhất là quỹ đạo tăng trưởng khổng lồ và theo cấp số nhân. Tôi không chắc Ireland là trường hợp cá biệt hay là dấu hiệu báo trước cho tương lai nhưng rõ ràng đây là hồi chuông cảnh báo” – bà Daly nói.

Hiện các trung tâm dữ liệu chỉ tiêu thụ khoảng 1% điện năng toàn cầu nhưng tỉ lệ này được dự báo sẽ tăng mạnh. Tại Mỹ, thị phần điện của trung tâm dữ liệu có thể tăng hơn gấp đôi, lên 8,6% vào năm 2035. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng dự báo chúng sẽ chiếm ít nhất 20% mức tăng nhu cầu điện của các nước giàu tới cuối thập niên này.

Một phần nhu cầu của các trung tâm dữ liệu được đáp ứng thông qua các hợp đồng mua điện tái tạo dài hạn hoặc thỏa thuận sử dụng năng lượng hạt nhân. Tuy nhiên trong tương lai gần, nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm ưu thế. Tại Trung Quốc, các trung tâm dữ liệu tập trung ở miền Đông, nơi còn phụ thuộc nhiều vào than. Ở Mỹ, khí tự nhiên dự kiến là nguồn chính cho điện năng trung tâm dữ liệu trong thập niên tới.

Tại Ireland, việc xây dựng thêm cảng nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) cùng nhà máy điện mới để đốt LNG đã làm triệt tiêu một phần thành quả khí hậu của công tác phát triển năng lượng tái tạo, theo phân tích của bà Daly.

Các nước thu nhập thấp hơn cũng không miễn nhiễm. Ở Pakistan, điện mặt trời giá rẻ đang dần thay thế than nhưng chính phủ đã công bố dành 2 GW điện cho AI và bitcoin, dẫn đến việc các nhà máy điện hóa thạch có khả năng hoạt động trở lại.

“Tảng băng chìm” không rõ đáy
Liệu việc dùng chatbot soạn email, viết văn hay lên kế hoạch đi du lịch đang gây hại cho hành tinh?

Các công ty công nghệ từ trước tới nay luôn lần lữa công bố dữ liệu chi tiết về mức tiêu thụ năng lượng của AI, song những ước tính phổ biến cho thấy một truy vấn đơn giản tiêu tốn khoảng 0,2 đến 3 Wh, và con số này sẽ tăng lên đáng kể với các tác vụ “nghiên cứu chuyên sâu” hoặc sản xuất video.

Trong bài blog đăng tháng 7-2025, Giám đốc điều hành OpenAI Sam Altman cho biết một truy vấn ChatGPT chỉ dùng lượng điện tương đương việc bật một bóng đèn trong vài phút. Con số này phù hợp với báo cáo gần đây của Google về mức tiêu thụ trung bình cho một câu lệnh văn bản gửi tới trợ lý AI Gemini.

Những con số này là rất nhỏ nếu so với các hoạt động như đi máy bay, ăn thịt hay lái xe. Tuy vậy, các ý kiến hoài nghi vẫn lo ngại về quy mô khổng lồ của công nghệ này, vì ChatGPT tuyên bố có vài trăm triệu người dùng hằng tuần chỉ sau 3 năm ra mắt.

“Điều khiến tôi lo ngại là chúng ta đang triển khai AI theo cách mà bản thân cũng không nắm rõ mức tiêu thụ năng lượng của nó. Chúng ta cơ bản đang vận hành dựa trên giả định rằng đây không phải là vấn đề, hoặc nếu có thì nó sẽ tự được giải quyết, thay vì chủ động đi trước để kiểm soát” – Sasha Luccioni, phụ trách mảng khí hậu tại công ty AI Hugging Face, nói.

Một số nghiên cứu cho rằng AI có thể giúp cắt giảm phát thải ở các lĩnh vực khác nhiều hơn lượng khí thải công nghệ này tạo ra, thông qua các ứng dụng như tối ưu lưới điện, cải thiện pin xe điện hay phát triển nguồn protein thay thế.

Ví dụ, Google cho biết AI đã giúp hãng cắt giảm 40% nhu cầu làm mát tại các trung tâm dữ liệu. Tập đoàn Iberdrola (Tây Ban Nha) nói rằng AI đã tối ưu hóa công tác bảo trì và hiệu suất của các tua-bin gió, qua đó nâng hiệu quả vận hành thêm 25%. Tập đoàn Engie (Pháp) cho hay họ đã giảm thời gian ngừng hoạt động tại các trang trại điện mặt trời nhờ sử dụng AI để phát hiện sự cố.

“AI có thể thúc đẩy việc triển khai công nghệ sạch bằng cách đẩy nhanh quá trình đổi mới và áp dụng” – Roberta Pierfederici, đồng tác giả một nghiên cứu tại Trường Kinh tế London, nhận định.

Tuy nhiên, các ước tính này vẫn đi kèm nhiều bất định, bởi hiệu quả cao hơn có thể dẫn tới mức sử dụng lớn hơn. Trước thực tế đó, một số tổ chức và chuyên gia kêu gọi siết chặt quản lý, thậm chí tạm dừng mở rộng trung tâm dữ liệu cho tới khi có khung quy định rõ ràng hơn.

Ở chiều ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng các cuộc tranh luận đang bỏ sót những rủi ro từ các ứng dụng tiêu cực của AI.

“Chúng ta đang đi sai hướng khi tập trung vào câu chuyện so sánh giữa mức tiêu năng lượng của công nghệ AI và các trường hợp sử dụng tích cực. “Việc bỏ qua các trường hợp sử dụng AI vào mục đích xấu là rất nguy hiểm” – bà Alpine nói.

T.P

]]>
TQ thành công việc trồng cà chua trong…vũ trụ https://biendong.net/2026/02/24/tq-thanh-cong-viec-trong-ca-chua-trongvu-tru/ Tue, 24 Feb 2026 12:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163987 Vụ mùa này có ý nghĩa rất lớn đối với ngành hàng không vũ trụ của đất nước tỷ dân.

Đầu năm 2026, phi hành đoàn của sứ mệnh Shenzhou XXI trên trạm vũ trụ Thiên Cung của Trung Quốc đã nhận được một món quà đặc biệt: một vụ thu hoạch cà chua bội thu được trồng trên quỹ đạo.

“Vườn rau ngoài không gian” một lần nữa chứng minh tiềm năng duy trì sự sống của thực vật bên ngoài bầu khí quyển Trái đất.

Trong một video được Tập đoàn Truyền thông Trung Quốc (CMG) đưa tin, phi hành gia Zhang Hongzhang đã dẫn những người đồng hương trên Trái đất tham quan khu vực mà ông gọi là “góc chữa bệnh” của Thiên Cung để cho thấy những cây cà chua đang phát triển mạnh mẽ.

Thiết bị dùng để nuôi dưỡng những cây này được gọi là hệ thống canh tác khí canh, được phát triển bởi một nhóm nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phi hành gia Trung Quốc. Thiết bị hoạt động bằng cách làm bay hơi nước thành dạng sương mịn. Phương pháp này có thể cải thiện đáng kể hiệu quả sử dụng nước, ông Zhang giải thích.

“Ngoài ra, hệ thống này sử dụng quang phổ ánh sáng LED được thiết kế đặc biệt, giúp tăng cường đáng kể hiệu quả năng lượng. Kết quả là chúng ta có được khung cảnh những cây cà chua trồng trong không gian tươi tốt như trước mắt”, ông nói.

Thiết bị khí canh này đã được tàu vũ trụ chở hàng Tianzhou-9 vận chuyển lên trạm vũ trụ vào tháng 7/2025. Theo báo cáo của CMG, nhiệm vụ chính của nó là kiểm chứng các công nghệ then chốt để trồng cây hiệu quả trong môi trường không trọng lực.

Dữ liệu thu thập được sẽ cung cấp thông tin cho các sứ mệnh không gian dài ngày trong tương lai, nơi các hệ thống hỗ trợ sự sống tái tạo sinh học có thể đóng vai trò thiết yếu.

Khu vườn với những quả cà chua chín mọng là một điều thú vị đối với tất cả các phi hành gia trên tàu. “Hiện tại, chúng tôi chăm sóc chúng hàng ngày và ghi lại dữ liệu về sự phát triển của chúng. Dữ liệu quý giá về sự phát triển của cây trồng trên quỹ đạo này sẽ là tài liệu tham khảo tuyệt vời cho việc trồng trọt trong không gian trong tương lai”, ông Wu Fei cho biết.

Nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc quan sát đơn thuần. Các nhà khoa học trên Trái đất đang sử dụng cơ sở này một cách có hệ thống để nghiên cứu nhiều khía cạnh của nông nghiệp vũ trụ, bao gồm các phương pháp canh tác hiệu quả, năng suất của trái cây và rau quả, khả năng tái tạo khí quyển của thực vật và các quy trình tối ưu hóa việc chăm sóc cây trồng của phi hành đoàn.

Theo báo cáo, các kế hoạch tương lai cho “vườn không gian” Thiên Cung bao gồm thử nghiệm canh tác khí canh đối với lúa mì, cà rốt và các loài cây dược liệu, dần dần mở rộng sự đa dạng của các loại cây trồng có thể duy trì được trong môi trường quỹ đạo.

Đối với các phi hành gia, việc chăm sóc khu vườn nhỏ này mang lại sự thư giãn tinh thần giữa lịch trình bận rộn của họ.

“Được nhìn thấy một mảng màu xanh tươi rực rỡ như vậy giữa không gian bao la thật sự mang lại cảm giác thư thái,” nhà du hành vũ trụ Zhang Lu chia sẻ. “Điều này cũng giúp chúng tôi tự tin hơn để hoàn thành các nhiệm vụ thí nghiệm tiếp theo.” “Chúng tôi sẽ tiếp tục ghi lại quá trình phát triển của những cây cà chua vũ trụ này và chia sẻ thêm nhiều điều kỳ diệu của hệ sinh thái vũ trụ với mọi người,” ông nói thêm.

Được phóng vào ngày 31/10/2025, hành trình vào vũ trụ của phi hành đoàn Shenzhou XXI đã kéo dài hơn 100 ngày. Theo Cơ quan Vũ trụ Có người lái Trung Quốc, tất cả các nhiệm vụ, bao gồm các thí nghiệm khoa học, bảo trì thiết bị và quản lý sức khỏe, đều đang tiến triển thuận lợi.

T.P

]]>
Chủ nghĩa Chuyên chế Thông minh của TQ https://biendong.net/2026/02/24/chu-nghia-chuyen-che-thong-minh-cua-tq/ Tue, 24 Feb 2026 11:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163986 Đảng cộng sản đã cân bằng giữa kiểm soát và đổi mới như thế nào?

Quan niệm phổ biến từ lâu luôn cho rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ trở thành một cường quốc công nghệ. Từ cuối những năm 1970 đến đầu thế kỷ 21, bất chấp tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, nền tảng công nghệ của nước này vẫn tụt hậu hàng chục năm so với Mỹ. Nhiều nhà khoa học xã hội lỗi lạc đã nhận định rằng Trung Quốc sẽ không thể bắt kịp: họ lập luận rằng các thể chế chuyên chế của nước này đã bóp nghẹt sự đổi mới thông qua đàn áp, kiểm duyệt, và tham nhũng, theo đó ngăn cản Trung Quốc thực sự cạnh tranh với Mỹ. Vì không thể theo kịp Mỹ về công nghệ, nên Trung Quốc cũng không phải là đối thủ về kinh tế hay quân sự.

Thành công của Trung Quốc trong việc theo đuổi đổi mới đồng nghĩa với việc một siêu cường chuyên chế hiện đã có khả năng thách thức Mỹ ở Đông Á, hỗ trợ các chế độ chuyên chế trên toàn thế giới, và định hình quản trị toàn cầu để thúc đẩy lợi ích riêng của mình. Nếu Mỹ và các đồng minh muốn giải quyết thách thức ngày càng tăng từ Trung Quốc, trước hết họ phải hiểu các nhà phân tích đã sai lầm như thế nào khi đánh giá thấp nước này.

TỪ TRÌ TRỆ ĐẾN ĐỔI MỚI

Thành công của Singapore, Hàn Quốc, và Đài Loan vào cuối thế kỷ 20 cho thấy các chế độ chuyên chế có thể điều hành cái mà các nhà kinh tế gọi là tăng trưởng đuổi kịp: đưa nền kinh tế từ nghèo đói lên mức thu nhập trung bình tính theo GDP đầu người. Các nhà lãnh đạo của những quốc gia đó đã đầu tư vào giáo dục và cơ sở hạ tầng, chuyên nghiệp hóa bộ máy công chức để cải thiện chất lượng quản trị, và hướng đầu tư vào xuất khẩu hàng sản xuất để phát triển kinh tế. Sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc đã bắt đầu vào cuối những năm 1970 khi Đặng Tiểu Bình áp dụng mô hình này.

Tuy nhiên, sau khi các nền kinh tế đã bắt kịp, họ không thể cứ mãi dựa vào lao động và vốn giá rẻ để thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai. Họ cần nâng cao năng suất thông qua đổi mới sáng tạo. Nhưng nhiều học giả lập luận rằng các biện pháp kiểm soát chính trị mà các chế độ chuyên chế dựa vào để duy trì quyền lực sẽ dập tắt sự đổi mới, vì thế mang lại lợi thế phát triển kinh tế cho các nền dân chủ tự do. Chẳng hạn, Giải Nobel Kinh tế năm 2024 đã được trao cho Daron Acemoglu và James Robinson vì lý thuyết của họ cho rằng các thể chế bao trùm – những thể chế thúc đẩy sự tham gia sâu rộng vào hoạt động kinh tế và tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, như quyền sở hữu tài sản, pháp quyền, và một xã hội dân sự cởi mở, năng động – là chìa khóa cho tăng trưởng bền vững.

Các học giả này và những người khác lập luận rằng những thể chế như vậy không tương thích với chế độ chuyên chế. Các nhà cai trị chuyên chế kiểm duyệt thông tin và hạn chế công dân tham gia vào các mạng lưới giáo dục và khoa học toàn cầu. Họ thường cho phép rất ít hoặc không có xã hội dân sự độc lập, kiềm chế hoạt động của khu vực tư nhân, các trường đại học, và các tổ chức phi chính phủ. Và họ cảnh giác với việc hạn chế quyền quyết định tùy ý của mình, hoặc tham gia vào các cải cách có thể phá vỡ các quan hệ bảo trợ vốn là nền tảng quyền lực của họ.

Theo lời của nhà khoa học chính trị Samuel Huntington, các nhà lãnh đạo chuyên chế phải đối mặt với “thế lưỡng nan của nhà vua.” Họ có thể duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với xã hội, nhưng làm như vậy sẽ kìm hãm sự đổi mới và tăng trưởng. Ngược lại, họ có thể cho phép dòng chảy thông tin tự do hơn và khuyến khích sự sáng tạo và năng động, nhưng rủi ro là mở cửa xã hội cho các nguồn ảnh hưởng và quyền lực thay thế có thể đe dọa chế độ. Do đó, nhiều học giả đã kết luận rằng các chế độ chuyên chế phải đối mặt với một sự lựa chọn khắc nghiệt giữa việc duy trì kiểm soát và sở hữu nền kinh tế đổi mới.

Số phận của các chế độ Đông Á khác dường như ủng hộ những lập luận này – và gợi ý rằng sự tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc sẽ bị cản trở bởi thế lưỡng nan của nhà vua. Hàn Quốc và Đài Loan đã trở nên rất đổi mới, nhưng họ đã dân chủ hóa. Singapore chuyên chế là một ngoại lệ: đảng cầm quyền vẫn cai trị trong lúc đất nước trở nên đổi mới và giàu có. Tuy nhiên, thành công của đảo quốc nhỏ bé này có lẽ là một mô hình khó áp dụng cho một quốc gia như Trung Quốc, với nền kinh tế khổng lồ và hơn một tỷ dân.

CHỦ NGHĨA CHUYÊN CHẾ THÔNG MINH

Trung Quốc đã chứng minh rằng sự không tương thích giữa kiểm soát chính trị và đổi mới công nghệ không hề nan giải như nhiều nhà quan sát vẫn tin. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã cho thấy trường hợp của Singapore cung cấp nhiều bài học cho các quốc gia lớn nhỏ như nhau.

Theo gương các chế độ chuyên chế thông minh khác, ĐCSTQ đã học cách điều chỉnh các công cụ kiểm soát của mình cho phù hợp với nền kinh tế hiện đại. Các nhà lãnh đạo biết rằng đất nước cần lao động tay nghề cao, dòng chảy thông tin, và sự trao đổi hợp tác quốc tế – dù vẫn lo ngại những điều này có thể đe dọa chế độ. Bắc Kinh cũng nhận ra rằng họ cần xây dựng một hình ảnh thân thiện hơn và tránh bạo lực bừa bãi để không vấp phải sự phản đối của cộng đồng quốc tế, trấn an các nhà đầu tư trong nước, và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hình thức chuyên chế mềm mỏng hơn, thông minh hơn này, như các nhà khoa học chính trị Sergei Guriev và Daniel Treisman đã lập luận, là “sự thích ứng tốt hơn với thế giới của biên giới mở, truyền thông quốc tế, và nền kinh tế dựa trên tri thức.”

Bắt đầu từ những cải cách của Đặng Tiểu Bình, chính phủ Trung Quốc đã tạo ra một lực lượng lao động tay nghề cao bằng cách đầu tư mạnh vào giáo dục đại học tinh hoa. Ngày nay, Trung Quốc dẫn đầu thế giới về đào tạo kỹ sư và tiến sĩ khoa học kỹ thuật, và các trường đại học của họ chiếm tám trong số mười vị trí hàng đầu trên bảng xếp hạng toàn cầu năm 2025 của Đại học Leiden về sản lượng nghiên cứu khoa học. ĐCSTQ cũng chuyên nghiệp hóa bộ máy công chức, triển khai các kỳ thi năng lực nghiêm ngặt và ưu tiên năng lực hơn là các quan hệ. Và chính phủ đã dần cải thiện việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản và luật thương mại. Các tỉnh quảng bá hệ thống quyền sở hữu tài sản của mình để cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giúp thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Trong thời kỳ cải cách, đặc biệt là dưới sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân (1989 đến 2002), ĐCSTQ cũng cho phép mở rộng các phương tiện truyền thông thương mại, các công ty tư nhân, và các tổ chức phi lợi nhuận. Một xã hội dân sự lớn mạnh hơn không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cho phép phổ biến các ý tưởng; nó còn củng cố ĐCSTQ, như quan sát của nhà khoa học chính trị Jessica Teets, bằng cách đóng vai trò là nguồn thông tin về các vấn đề xã hội và thúc đẩy các cải cách chính sách giúp củng cố việc nắm quyền của chế độ.

Tuy nhiên, chế độ chưa bao giờ từ bỏ quyền kiểm soát đối với xã hội dân sự. Đảng sử dụng sự độc quyền quyền lực của mình để hướng các chương trình nghiên cứu vào các chủ đề hỗ trợ mục tiêu của nhà nước, hạn chế thảo luận công khai về chính trị, và sẵn sàng định trước các phán quyết tư pháp nếu cảm thấy sự ổn định xã hội hoặc uy tín của mình bị đe dọa. Họ cũng giám sát chặt chẽ các cá nhân, doanh nghiệp, và tổ chức phi chính phủ và chỉ cho phép những người tuân thủ được hoạt động. Ví dụ, vào năm 2009, cơ quan thuế và dân chính đã áp đặt một khoản tiền phạt khổng lồ và thu hồi giấy phép của Sáng kiến Hiến pháp Mở – còn gọi là Công Minh, một tổ chức tư vấn pháp lý nổi tiếng – với cáo buộc trốn thuế đáng ngờ. Trước đó, Công Minh đã công bố các báo cáo nghiên cứu về các vấn đề quản trị, bao gồm các cuộc biểu tình năm 2008 ở Tây Tạng chống lại sự cai trị của ĐCSTQ, và bảo vệ công dân trong các vụ án lợi ích công nổi bật. Nói cách khác, các tổ chức xã hội được cung cấp đủ không gian để đạt được các mục tiêu hạn hẹp phù hợp với ưu tiên của nhà nước, nhưng có nguy cơ bị đóng cửa nếu họ mạo hiểm đi vào lãnh địa đe dọa sự kiểm soát của ĐCSTQ.

ĐCSTQ cũng thích nghi với sự ra đời của truyền thông kỹ thuật số và mạng xã hội bằng cách tiên phong trong các chiến lược mới để kiểm soát thông tin. Dù đôi khi họ quay lại với biện pháp kiểm duyệt nặng tay, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tìm ra những cách mới lạ để kiểm soát không gian công cộng một cách tinh vi và hiệu quả hơn. Chẳng hạn, nhà khoa học chính trị Margaret Roberts chỉ ra cách chế độ làm cho thông tin khó tiếp cận hơn bằng cách làm chậm lưu lượng web hoặc sắp xếp sai lệch tài liệu, nhấn chìm không gian trực tuyến bằng các nội dung ủng hộ chế độ để đánh lạc hướng hoặc làm loãng sự chỉ trích, đồng thời đe dọa người dùng một cách riêng tư để ngăn họ lan truyền tài liệu nhạy cảm.

ĐCSTQ cũng chuyển từ đàn áp cường độ cao sang cường độ thấp. Cuộc đàn áp đẫm máu tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 đã đưa sự đàn áp của Đảng vào tâm điểm chú ý toàn cầu và làm nản lòng đầu tư nước ngoài vào nước này. Kể từ đó, Đảng đã áp dụng các phương pháp có mục tiêu hơn nhằm kiềm chế các đối thủ trong nước. Như nhà khoa học chính trị Rory Truex đã phát hiện, Bắc Kinh theo dõi chặt chẽ những người bất đồng chính kiến và công dân bất mãn để ngăn họ tham gia biểu tình, sử dụng một “lịch trình bất đồng chính kiến” để bắt giữ các nhà hoạt động xã hội trước các ngày kỷ niệm quan trọng, và tuyển dụng các thành viên gia đình để gây áp lực buộc người biểu tình từ bỏ. Khi chế độ cảm thấy phải dùng đến bạo lực, chẳng hạn như khi muốn cưỡng chế nông dân di dời khỏi đất đai cho các dự án phát triển, họ chọn thuê ngoài việc cưỡng chế cho “côn đồ đánh thuê,” như học giả Lynette Ong lập luận là để tạo khoảng cách với hành vi hung hăng. Và thông qua đầu tư lớn vào AI, đặc biệt là công nghệ nhận diện khuôn mặt và các cơ chế sinh trắc học khác, ĐCSTQ có thể dựa nhiều hơn vào công nghệ thay vì dùi cui để kiểm soát dân chúng.

Quan trọng là, chủ nghĩa chuyên chế thông minh không phải là một chiến lược tối đa hóa tăng trưởng. Các nhà lãnh đạo hiểu rằng với những nỗ lực để giữ quyền kiểm soát, họ đang bỏ lỡ một phần tăng trưởng kinh tế. Đúng là sự cởi mở và tự do lớn hơn có thể mang lại nhiều đổi mới và tăng trưởng nhanh hơn, nhưng nó có thể đi kèm với cái giá là mất quyền lực. Điểm cân bằng tối ưu giữa tự do và kiểm soát sẽ thay đổi tùy theo dư luận, giai đoạn phát triển của nền kinh tế, công nghệ và phương pháp kiểm soát sẵn có, cũng như các động lực tăng trưởng và đổi mới. Các nhà lãnh đạo chuyên chế thông minh phải liên tục điều chỉnh các đòn bẩy kiểm soát để mở cửa xã hội khi có thể và đóng cửa khi cần thiết. Khi họ đạt được sự cân bằng đó, đổi mới có thể thăng hoa ngay cả khi không có các thể chế bao trùm.

SIÊU CƯỜNG CÔNG NGHỆ

Chủ nghĩa chuyên chế thông minh của Trung Quốc đã mang lại những kết quả ấn tượng. Đất nước từng bị xem là kẻ sao chép giờ đây nằm trong số những nước đổi mới nhất thế giới. Năm 2025, Trung Quốc xếp trong top 10 quốc gia có công nghệ tiên tiến nhất trong Chỉ số Đổi mới Toàn cầu, vượt qua Pháp, Đức, và Nhật Bản. Chưa đầy một thập kỷ trước, người tiêu dùng trên khắp thế giới vẫn còn gặp khó khăn khi kể tên một thương hiệu Trung Quốc, nhưng giờ đây, các công ty Trung Quốc như BYD, Huawei, ByteDance, và Alibaba đã trở thành những cái tên quen thuộc của mọi nhà. Chuỗi cung ứng do Trung Quốc thống trị củng cố nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao, và nước này nắm phần lớn thị phần trong năng lực sản xuất và chế biến toàn cầu đối với pin, tấm pin mặt trời, và khoáng sản quan trọng. Các công ty Trung Quốc cũng ngày càng cạnh tranh trong các lĩnh vực do các công ty Mỹ, Nhật Bản, hoặc Châu Âu thống trị theo truyền thống, như robot công nghiệp, máy công cụ tiên tiến, và một phần của công nghệ sinh học và dược phẩm sinh học.

Sự tiến bộ của Trung Quốc đã làm thay đổi dòng chảy công nghệ toàn cầu. Suốt hàng thập kỷ, các công ty phương Tây bán sản phẩm cho Trung Quốc và xây dựng nhà máy tại nước này để tiếp cận nguồn lao động giá rẻ và thị trường rộng lớn, trong khi các công ty Trung Quốc hấp thụ sở hữu trí tuệ của phương Tây. Ngày nay, Trung Quốc đã đạt đến biên giới công nghệ toàn cầu trong các ngành công nghiệp như xe điện, pin, máy bay không người lái, và robot; các công ty phương Tây ngày càng phải mua bản quyền công nghệ Trung Quốc và hợp tác với các công ty Trung Quốc để duy trì khả năng cạnh tranh.

Bắt đầu từ năm 2022, Mỹ và các quốc gia khác đã áp đặt kiểm soát xuất khẩu đối với chip tiên tiến để làm chậm tốc độ phát triển AI của Trung Quốc. Nhưng các chính sách này lại kích thích sự đổi mới của Trung Quốc. Năm 2025, công ty AI Trung Quốc DeepSeek cho ra mắt mô hình R1, với hiệu suất hoạt động tương đương với các mô hình ngôn ngữ lớn hàng đầu của Mỹ dù chỉ được huấn luyện trên một phần nhỏ số lượng chip thường được các đối thủ sử dụng. Các công ty khởi nghiệp AI tạo sinh hàng đầu của Trung Quốc –thường được gọi là “lục hổ” (Zhipu AI, MiniMax, Baichuan, Moonshot, StepFun và 01.AI) – đang chiến đấu để giành thị phần và vị trí dẫn đầu kỹ thuật. Trong khi đó, những gã khổng lồ công nghệ như Baidu, Alibaba, Tencent và Xiaomi đang ồ ạt đổ nguồn lực vào phát triển AI. Dù Mỹ vẫn dẫn đầu trong việc sản xuất các mô hình AI nổi bật nhất thế giới, nhưng họ đã bị khóa chặt trong cuộc cạnh tranh công nghệ với quốc gia mà trước đây phải đối mặt với những bất lợi tưởng chừng không thể vượt qua.

Khả năng đổi mới thương mại của Trung Quốc cũng chuyển dịch thành những tiến bộ quân sự và hiện đại hóa Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA). PLA đã tích hợp AI vào chỉ huy, xác định mục tiêu, giám sát, và các hoạt động tự hành. Trung Quốc hiện đang thử nghiệm các bầy đàn AI gồm hàng trăm máy bay không người lái hoạt động tự chủ và đã phát triển các hệ thống quản lý chiến trường thông minh có thể xử lý lượng dữ liệu chiến trường khổng lồ nhanh hơn so với chỉ huy con người. PLA cũng mở rộng cả lực lượng hạt nhân và cải thiện các hệ thống phóng được sử dụng để triển khai chúng, chẳng hạn như các hệ thống ném bom theo quỹ đạo phân đoạn đưa vũ khí vào quỹ đạo tầm thấp của Trái Đất và có khả năng né tránh các hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Dù PLA chưa được thử lửa trong chiến đấu, nhưng đổi mới thương mại đã trang bị cho quân đội công nghệ tiên tiến có thể khiến lực lượng của họ có năng lực cao hơn những gì kinh nghiệm thực chiến gợi ý.

KHÔNG CÒN SUY NGHĨ VIỂN VÔNG

Những người hoài nghi có thể lập luận rằng Trung Quốc sẽ không đặt ra một thách thức địa chính trị nghiêm trọng vì họ đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề kinh tế sẽ chiếm hết tâm trí các nhà lãnh đạo và làm giảm năng lực quốc gia. Dù đã có những bước tiến lớn trong đổi mới, nhưng nước này vẫn còn một chặng đường dài để tạo ra đủ năng suất nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế – ngay cả ở mức độ thấp hơn nhiều – trong bối cảnh dân số già hóa, thị trường bất động sản suy yếu, và cuộc cạnh tranh giữa các công ty để giành giật lợi nhuận đang thu hẹp khốc liệt đến mức đe dọa làm suy yếu toàn bộ các lĩnh vực.

Những cơn gió ngược kinh tế của Trung Quốc là có thật, nhưng ĐCSTQ đã nhiều lần thách thức các dự đoán về thảm họa chính trị và kinh tế. Sự phẫn nộ của công chúng đối với các lệnh phong tỏa hà khắc thời COVID-19, vốn dường như báo trước một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra, đã không làm mất ổn định chế độ. Nước này cũng đạt được tiến bộ đáng kể trong việc làm sạch thiệt hại môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí, do nhiều thập kỷ tăng trưởng ít được kiểm soát gây ra. Và vào những năm 1990, ĐCSTQ đã giám sát cuộc cải cách lớn đối với khu vực nhà nước cồng kềnh, dẫn đến việc sa thải hơn 30 triệu người. Cần nhiều cải cách hơn nữa đối với khu vực nhà nước để cải thiện hiệu quả sử dụng vốn và thúc đẩy đổi mới, nhưng trong quá khứ, Đảng đã chứng tỏ mình có khả năng vượt qua những thách thức còn khó khăn hơn nhiều.

Việc tập trung quyền lực, các chính sách đàn áp, và các cuộc trấn áp các tổ chức xã hội dân sự và công ty tư nhân của Tập Cận Bình cũng đã dấy lên lo ngại rằng kỷ nguyên chủ nghĩa chuyên chế thông minh của Trung Quốc đã kết thúc, và rằng các chính sách như vậy sẽ bóp nghẹt sự năng động kinh tế của đất nước. Nhưng cần nhớ rằng các giai đoạn thắt chặt là một phần của mô hình chuyên chế thông minh và vẫn thường xuyên tái diễn trong suốt nhiều thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng của chính Trung Quốc. Thành công đáng kinh ngạc của Trung Quốc trong lĩnh vực AI – một lĩnh vực không tồn tại trước thời Tập – cho thấy các chính sách của ông đã không ngăn cản sự đổi mới. Và ông dường như cũng nhận thức rõ về sự cân bằng giữa kiểm soát và cởi mở. Sau khi khởi xướng cuộc trấn áp nghiêm ngặt đối với lĩnh vực công nghệ vào năm 2020, làm bốc hơi hơn 1 nghìn tỷ đô la giá trị thị trường của các công ty, Tập đã tập hợp các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân và công nghệ tham dự một hội nghị chuyên đề vào tháng 02/2025 để thể hiện sự ủng hộ của Đảng đối với các doanh nhân trong các lĩnh vực quan trọng. Sang tháng 12, các quan chức đã công bố thành lập một quỹ hướng dẫn đầu tư mạo hiểm do nhà nước hậu thuẫn để rót khoảng 140 tỷ đô la đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, và năng lượng hydro.

Mỹ và các đối tác nên giả định rằng Trung Quốc sẽ vẫn là một cường quốc kinh tế, công nghệ, ngoại giao, và quân sự đáng gờm. Thực vậy, thách thức do Trung Quốc đặt ra thậm chí còn khó hơn nhiều so với siêu cường trước đây là Liên Xô. Trong khi Liên Xô ở thời kỳ đỉnh cao chỉ ở khoảng 40% GDP của Mỹ (điều chỉnh theo sức mua tương đương), Trung Quốc hiện đã vượt quá 100% GDP của Mỹ theo các thước đo tương đương. Nhiều nhà quan sát mong đợi Trung Quốc sẽ lặp lại sự bất lực của Liên Xô trong việc cải cách thể chế để đáp ứng các thách thức của thời đại thông tin, nhưng Trung Quốc lại chứng tỏ mình đã thành thạo trong việc tiếp thu và làm việc với công nghệ mới.

Trung Quốc hiện cũng đặt ra một mối đe dọa quân sự nghiêm trọng đối với Đài Loan và khắp Đông Á – một khu vực mà quân đội Mỹ trước đây từng tự do đi lại không bị cản trở. ĐCSTQ đang chia sẻ các công nghệ kiểm soát của mình với các nhà cai trị chuyên chế trên khắp thế giới, bao gồm Ai Cập, Ethiopia, và Iran, đồng thời thường xuyên đào tạo các quan chức của các quốc gia đó về các phương pháp quản trị chuyên chế. Bắc Kinh cũng đang định hình chiến lược các chương trình nghị sự của các tổ chức quốc tế – và ảnh hưởng của họ đang gia tăng trong lúc chính quyền Trump rút khỏi các nhóm như vậy và Washington tìm cách giảm bớt các trách nhiệm quốc tế của mình. Thành công của chủ nghĩa chuyên chế thông minh Trung Quốc cung cấp một mô hình hấp dẫn cho các nhà lãnh đạo ở những nơi như Ả Rập Saudi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Việt Nam noi theo.

Mỹ không thể đơn giản mong đợi rằng Trung Quốc và chế độ chuyên chế của họ sẽ theo chân Liên Xô rơi vào sọt rác của lịch sử. Quả vậy, trái ngược với sự ngạo mạn của phương Tây, các nhà chuyên chế thông minh đã chứng tỏ mình có khả năng thích ứng và năng lực. Do đó, để đáp ứng thách thức của một Trung Quốc đổi mới, Mỹ phải tận dụng những thế mạnh đã biến họ thành một cường quốc công nghệ: các tổ chức giáo dục đẳng cấp thế giới (và tài năng nước ngoài mà họ thu hút), thị trường tài chính sâu rộng và được quản lý tốt, vị thế lãnh đạo tài chính toàn cầu, văn hóa khởi nghiệp mạnh mẽ, xã hội dân sự năng động, và vị trí độc tôn tại trung tâm của các mạng lưới đổi mới ở cả Châu Âu và Châu Á. Trung Quốc đã cho thấy rằng, thông qua sự thích ứng, các chế độ chuyên chế có thể đổi mới hiệu quả và sẵn sàng cạnh tranh với các nền dân chủ. Mỹ có thể đối phó hiệu quả đến mức nào với sự trỗi dậy của chủ nghĩa chuyên chế thông minh phụ thuộc vào việc chính họ có thể thích ứng hay không.

T.P

]]>
Lầm tưởng về văn hoá làm việc “996” của TQ https://biendong.net/2026/02/24/lam-tuong-ve-van-hoa-lam-viec-996-cua-tq/ Tue, 24 Feb 2026 10:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163984 Tại hầu hết các sở làm ở Trung Quốc, hình mẫu này thật xa vời với thực tế.

Thứ Ba đánh dấu sự mở màn của Tết Nguyên Đán. Hàng trăm triệu người Trung Quốc đang quây quần bên gia đình, nhiều người trong số họ phải nghe than phiền về việc tại sao vẫn chưa kết hôn bên cạnh chương trình truyền hình Gala Tết kéo dài hàng giờ.

Phần lớn mọi người đều được nghỉ làm vào thời điểm này. Nhân dịp lễ, tuần này chúng ta sẽ bàn về văn hóa làm việc của Trung Quốc cùng những lầm tưởng của phương Tây.

Văn hóa làm việc của Trung Quốc

Trong vài tháng gần đây, một số nơi ở Thung lũng Silicon trở nên cuồng “996”: làm việc từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, sáu ngày một tuần. Dẫu bắt nguồn từ ngành công nghệ Trung Quốc, nhưng thuật ngữ này vốn được đặt ra như một lời phê phán về văn hóa làm việc không lành mạnh và trái luật, chứ không phải một lý tưởng để noi theo. Xu hướng 996 không phải là lối làm việc thông thường, mà gần giống như một dạng văn hóa khởi nghiệp của Trung Quốc.

Trên lý thuyết, luật pháp Trung Quốc giới hạn tuần làm việc tối đa năm ngày và 40 giờ, mọi thời gian vượt quá phải được trả lương làm thêm giờ theo thoả thuận với công đoàn. Nhưng trên thực tế, luật lao động nghe tưởng như hay hoá ra lại là cay đắng. Các quy định hiếm khi được thực thi, nhất là với người lao động ở địa vị thấp, còn đoàn thể pháp lý duy nhất lại do nhà nước quản lý và không có thực quyền.

Trung Quốc có một lịch sử dài với những hành vi lạm dụng sức lao động. Chủ nghĩa Mao đã mượn từ phong trào thi đua năng suất cao của Liên Xô (Soviet Stakhanovism), vốn lý tưởng hoá lao động khổ sai, và đã đưa ra mô hình “đơn vị công tác” (danwei单位) có quyền chi phối xã hội. Trung Quốc chỉ chính thức hóa chế độ nghỉ hai ngày cuối tuần vào năm 1995. Ngày nay, người lao động tự do và công nhân xây dựng di cư phải chịu lịch làm việc đày đoạ với rất ít phúc lợi hoặc bảo vệ.

Dù vậy, lý tưởng 996 đã trở nên phổ biến ở phương Tây, một phần vì 996 khớp với hình mẫu cho rằng người Trung Quốc vốn cần cù và chú tâm đến công việc, và vì 996 khơi dậy nỗi lo thường trực về việc Trung Quốc đang vượt mặt phương Tây. (Trong khi năng suất lao động của Mỹ vẫn cao gấp khoảng bốn lần Trung Quốc). Xu hướng này nghe hãnh diện hơn những định kiến phân biệt chủng tộc trước đây, nhưng vẫn vô nhân tính khi đã quy 1,4 tỷ con người thành những cỗ máy làm việc không biết mệt.

Trong 15 năm làm việc tại các văn phòng ở Trung Quốc, từ các công ty tư nhân đến cơ quan truyền thông nhà nước, tôi nhận thấy thực tế muôn màu hơn nhiều – và công việc thường là thứ mà các đồng nghiệp của tôi ít bận tâm nhất. Cũng như mọi quốc gia khác, văn hóa làm việc của Trung Quốc khác nhau tùy theo từng lĩnh vực.

Ngoài 996 khét tiếng còn có một vài tuyến văn hóa dễ nhận thấy khác. Điển hình như ở khu vực công, nơi đang sử dụng khoảng 23% lực lượng lao động. Chúng ta có thể gọi văn hóa ở đây là “323”: ba giờ làm việc, hai giờ nghỉ trưa, rồi ba giờ làm việc tiếp.

Giờ nghỉ trưa hai tiếng (thậm chí ba tiếng) là bất khả xâm phạm. Bao nhiêu nỗ lực thay đổi giờ nghỉ phần lớn đều thất bại. Trong giờ nghỉ này, một số văn phòng tổ chức tập thể dục nhóm, nhưng hầu hết mọi người dùng giờ này để ngủ trưa. Đây là cú sốc văn hóa lớn nhất mà tôi trải nghiệm khi làm việc ở Trung Quốc. Ở khu vực tư nhân, các công ty thậm chí còn hạ sáng đèn văn phòng hoặc bố trí phòng ngủ riêng giúp dễ ngủ hơn.

Một điểm kỳ lạ khác ở khu vực công là sự phổ biến của công việc “ma” – những vị trí được ban phát như một dạng ưu đãi cho bạn bè, người thân và đối tác làm ăn của quan chức. Tùy mức độ bị soi xét, đó có thể là những việc “ngồi chơi” mà nhân viên xơi nước ở bàn và thường làm thêm những việc khác trên mạng; hoặc là những việc “không cần đến cơ quan”. Trong một số trường hợp, những việc làm này còn nhằm để lách các yêu cầu pháp lý, chẳng hạn như chỉ tiêu tuyển dụng người khuyết tật.

Cường độ công việc lên xuống theo bầu không khí chính trị. Trong những thời điểm yên ổn, phần lớn nhân viên nhà nước đều bằng lòng với việc trình lên những sản phẩm kém chất lượng và dồn tâm huyết vào việc tay trái hoặc thú vui riêng. Thành ra việc tương tác với họ vừa gây bực bội vừa linh động: Lúc bạn cần đóng dấu một tờ đơn thì văn phòng đóng cửa nghỉ trưa lâu; nhưng nếu nộp muộn tờ đơn đó, viên chức ấy nhiều khi sẽ châm chước.

Những yêu cầu do chỉ tiêu của nhà nước đặt ra tạo ra các chu kỳ dễ đoán. Công việc thường chậm rãi vào đầu năm, rồi bỗng nhiên cuống cuồng vào cuối năm với hy vọng chạm chỉ tiêu – đôi khi đi kèm với những thuật kế toán sáng tạo.

Khi gió chính trị đổi chiều, kỳ vọng cũng xoay theo, và nhiều đặc quyền biến mất. Giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đôi khi coi công chức như một công cụ vạn năng, nên giao cho họ những yêu cầu tùy hứng và khó nhằn. Ví dụ, vào năm 2022, giáo viên ở Quảng Đông được yêu cầu phải đăng ký cho một số lượng nhất định người cao tuổi đi tiêm vắc-xin COVID-19; nếu không, kết quả đánh giá của họ sẽ bị ảnh hưởng.

Còn phải kể đến chuyện xã giao. Đời sống công chức gắn liền với triền miên những buổi tụ họp tập thể bắt buộc – một trong số ít những hoạt động mà công đoàn viên chức tổ chức – đồng thời cũng là chất “bôi trơn” cho những mạng lưới tham nhũng ngầm. Những buổi tối có thể biến thành lễ nghi của rượu bia, của sự cung kính và sa đoạ đến mức kiệt quệ, mà ở đó quan hệ quyền lực chi phối mọi tương tác xã hội.

Khi chiến dịch chống tham nhũng đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được triển khai vào năm 2013, kiểu xã giao này tạm thời không còn được chấp nhận. Nhiều quan chức khoan khoái trước sự thay đổi đó, vì được giảm tải công việc, cho họ thêm thời gian bên gia đình và tránh khỏi những nguy cơ sức khỏe đi kèm. Tuy nhiên, kỷ cương đã chùng xuống, và những thói cũ chóng quay trở lại.

Khởi đầu năm Bính Ngọ, giới công chức Trung Quốc lại một lần nữa oằn mình để chứng tỏ giá trị trước một nhà lãnh đạo ngày càng khắt khe, người đang quyết tâm kiềm chế tham nhũng. Nếu lấy lịch sử làm tham chiếu, thì những nỗ lực cải cách lần này cũng khó lòng bền lâu hơn những lần trước.

T.P

]]>
Sau 1 năm, Mỹ lại chịu thua TQ tại thị trường hơn 80 triệu dân https://biendong.net/2026/02/24/sau-1-nam-my-lai-chiu-thua-tq-tai-thi-truong-hon-80-trieu-dan/ Tue, 24 Feb 2026 09:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163983 Chỉ sau 1 năm, Trung Quốc đã giành lại vị trí này từ tay Mỹ.

Theo số liệu do Văn phòng Thống kê Liên bang Đức (Destatis) công bố ngày 20/2, Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức.

Theo số liệu của Destatis, tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu giữa 2 nước năm ngoái đạt 251,8 tỷ euro (296,6 tỷ USS), tăng 2,1%.

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Đức từ năm 2016 đến 2023. Năm 2024, Mỹ tạm thời nắm giữ vị trí này.

Thủ tướng Đức Friedrich Merz cũng dự kiến sẽ thăm Trung Quốc vào tuần tới nhằm thảo luận về thương mại và các vấn đề khác.

Năm ngoái, Đức nhập khẩu hàng hóa trị giá 170,6 tỷ euro từ Trung Quốc, tăng 8,8% so với năm trước. Hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Đức chủ yếu là thiết bị xử lý dữ liệu, thiết bị điện và máy móc.

Trong khi đó, xuất khẩu của Đức sang Trung Quốc năm ngoái đạt 81,3 tỷ euro, giảm 9,7% so với năm trước.

Năm 2025, Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Đức, với kim ngạch song phương đạt 240,5 tỷ euro, giảm 5% so với năm trước.

Xuất khẩu của Đức sang Mỹ giảm vào năm ngoái, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ nhiều quốc gia, trong đó có Đức.

Năm ngoái, Đức đã xuất khẩu hàng hóa trị giá 146,2 tỷ euro sang Mỹ, giảm 9,4%. Trong số các lĩnh vực giảm nhiều nhất là ô tô và phụ tùng ô tô, với mức giảm 17,8%.

Đức hiện là nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, với dân số hơn 83 triệu người.

T.P

]]>
Giải mã những con số và ký hiệu bí ẩn trên thân tàu chiến Mỹ https://biendong.net/2026/02/24/giai-ma-nhung-con-so-va-ky-hieu-bi-an-tren-than-tau-chien-my/ Tue, 24 Feb 2026 08:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163982 Việc nhận diện và giải mã các ký hiệu trên thân tàu hải quân không hề đơn giản. Các ký hiệu này bao gồm hệ thống chữ cái đơn (từ “A” đến “Y”), chữ cái kép, thậm chí 3 chữ cái, kết hợp với các con số nhằm phân loại và xác định từng loại tàu trong hạm đội.

Tàu USS Abraham Lincoln và số hiệu 72.


Ngày 13/10/1775, Mỹ thành lập lực lượng Hải quân Lục địa với quy mô ban đầu chỉ có hai tàu. Sau khi Tổng thống George Washington ký ban hành Đạo luật Hải quân năm 1794, lực lượng này chính thức mang tên Hải quân Mỹ. Trong giai đoạn đầu, tàu chiến được gọi bằng tên riêng, chẳng hạn như “tàu khu trục Constitution”. Tuy nhiên, khi số lượng tàu tăng nhanh, cách đặt tên này sớm bộc lộ hạn chế và gây nhầm lẫn. Đến năm 1874, Hải quân Mỹ đã có tới năm tàu cùng mang tên Enterprise. Trước thực tế đó, từ những năm 1890, lực lượng này bắt đầu áp dụng hệ thống số hiệu thân tàu nhằm phân biệt rõ ràng giữa các tàu.

Trong hệ thống này, các chữ cái được sử dụng để chỉ định loại tàu, với số lượng ký hiệu rất đa dạng. Chẳng hạn, chữ “A” đại diện cho tàu phụ trợ (Auxiliary Ship), trong khi “Y” dùng cho các tàu xưởng hoặc tàu phục vụ tại căn cứ (Yard Craft). Danh mục các ký hiệu về loại tàu khá dài và có thể gây khó hiểu đối với người không chuyên. Ngược lại, phần con số đi kèm thường dễ nhận diện hơn, vì nó phản ánh số hiệu thân tàu cụ thể.

Tàu USS Abraham Lincoln và số hiệu 72
Chẳng hạn, số “72” trong ký hiệu của tàu USS Abraham Lincoln là số hiệu thân tàu của con tàu này. Tên gọi đầy đủ của tàu là CVN-72, trong đó “CVN” cho biết đây là tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân. USS Abraham Lincoln là tàu sân bay lớp Nimitz thứ 5 được đưa vào biên chế trong Hải quân Mỹ. Đây là một trong những lớp tàu sân bay lâu đời nhất vẫn đang hoạt động cho đến nay. Con tàu được đưa vào biên chế năm 1989, được đặt theo tên Tổng thống thứ 16 của Mỹ và là tàu thứ hai trong lịch sử Hải quân Mỹ mang tên Abraham Lincoln.

Tàu USS Abraham Lincoln (CVN-72) do tập đoàn Northrop Grumman của Mỹ đóng. Con tàu có chiều dài khoảng 305 mét, chiều rộng xấp xỉ 76 mét và lượng giãn nước vào khoảng 97.000 tấn. Tàu có thể đạt tốc độ trên 55 km/giờ (tương đương hơn 30 hải lý/giờ), mang theo khoảng 5.000 sĩ quan, thủy thủ cùng gần 90 máy bay các loại.

Tháng 4/2021, USS Abraham Lincoln hoàn thành một đợt bảo trì định kỳ. Đây là đợt kiểm tra, sửa chữa và điều chỉnh tổng thể, thường kéo dài khoảng 6 tháng, được tiến hành khi tàu được đưa vào xưởng nhằm thực hiện các hạng mục không thể triển khai trong điều kiện hoạt động trên biển.

Đợt bảo trì này do Phân đội San Diego thuộc Xưởng đóng tàu Hải quân Puget Sound và Cơ sở bảo trì trung gian (PSNS & IMF) thực hiện. Tổng khối lượng công việc lên tới hơn 2,6 triệu giờ lao động, tương đương khoảng 230.000 ngày công, với chi phí ước tính khoảng 160 triệu USD. Các hạng mục chính bao gồm cải tạo khu sinh hoạt, khu giặt là và hệ thống làm lạnh; tăng cường độ bền kết cấu; đồng thời nâng cấp hệ thống chiến đấu, trong đó có các điều chỉnh cho phép tàu vận hành máy bay chiến đấu F-35.

Thông thường, tàu hải quân giữ nguyên số hiệu thân tàu được cấp ban đầu, dù trong lịch sử từng có trường hợp tàu được đổi tên. Tuy nhiên, trong một số tình huống đặc biệt, số hiệu thân tàu có thể được thay đổi, chủ yếu do tàu được hoán cải hoặc tái cơ cấu nhiệm vụ và chức năng.

Chẳng hạn, năm 1928, tàu USS Chicago (tàu tuần dương bọc thép số 14) được đổi tên thành USS Alton và phân loại lại thành IX-5, thuộc nhóm tàu phụ trợ đa năng. Năm 1942, tàu USS Amsterdam (CL-59), một tàu tuần dương hạng nhẹ lớp Cleveland, được chuyển đổi thành tàu sân bay hạng nhẹ và tái biên chế với tên USS Independence (CVL-22). Đến năm 1963, tàu sân bay hộ tống USS Gilbert Islands (CVE-107) được cải hoán thành tàu tiếp sóng thông tin liên lạc và đổi tên thành USS Annapolis (AGMR-1).

T.P

]]>
Vũ khí để ông Trump vô hiệu hóa phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ về thuế quan https://biendong.net/2026/02/24/vu-khi-de-ong-trump-vo-hieu-hoa-phan-quyet-cua-toa-an-toi-cao-my-ve-thue-quan/ Tue, 24 Feb 2026 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163981 Dưới đây là những “vũ khí” mà Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể dựa vào để vô hiệu hóa phán quyết của Tòa án Tối cao nước này về cách thức ông Trump sử dụng thuế quan…

Tàu biển chở container.


Dẫu Tòa án Tối cao Mỹ đã phán quyết chống lại việc Tổng thống Donald Trump sử dụng thuế quan, ông vẫn có những phương pháp và quyền hạn khác có thể giúp duy trì chương trình nghị sự thương mại của mình.

Tòa án Tối cao Mỹ phán quyết rằng việc Tổng thống Mỹ Trump sử dụng Đạo luật Quyền hạn kinh tế khẩn cấp quốc tế (IEEPA) để áp thuế quan đối với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới là vi hiến. Điều này có thể là một đòn giáng mạnh vào chương trình nghị sự về thuế quan của tổng thống, vì tòa án đã làm rõ rằng quyền lực tổng thống này không thể được sử dụng để áp thuế quan vì Quốc hội không có ý định sử dụng nó theo cách này.

Theo Hội đồng Quan hệ đối ngoại (Mỹ), mặc dù phán quyết này giải quyết một vấn đề pháp lý quan trọng, nhưng cuộc chiến về thuế quan vẫn còn lâu mới kết thúc. Trong khi các doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ có thể hoan nghênh việc tòa án bác bỏ cuộc phiêu lưu thuế quan mới nhất thứ hai của ông Trump, thì quyết định của tòa án có thể chỉ là một sự tạm dừng trong cuộc thương chiến đang diễn ra của Tổng thống Trump.

Trên thực tế, Quốc hội Mỹ đã phân một số quyền hạn thương mại cho nhánh hành pháp trong những năm qua. Và ngay sau phán quyết, Tổng thống Trump tuyên bố ông sẽ sử dụng chúng để xây dựng lại bức tường thuế quan của mình.

Tuy nhiên, mỗi công cụ đều có những hạn chế cụ thể mà ông cần xem xét và ông có thể phải đối mặt với những thách thức pháp lý bổ sung. Dưới đây là phân tích chi tiết về một số thẩm quyền chính mà Trump sẽ dựa vào để duy trì thuế quan trong chương trình nghị sự thương mại của mình.

Điều 122: Thuế quan cân bằng cán cân thanh toán
Để thay thế ngay lập tức mức thuế cơ bản 10%, ông Trump tuyên bố sẽ viện dẫn Điều 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974, cho phép tổng thống giải quyết thâm hụt cán cân thanh toán “lớn và nghiêm trọng” bằng cách áp thuế quan lên đến 15% hoặc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu. Đạo luật này chỉ yêu cầu tổng thống xác định sự tồn tại của thâm hụt đó và không bắt buộc phải có quy trình liên ngành hoặc điều tra chính thức.

Bất kỳ biện pháp nào được áp dụng theo Điều 122 sẽ tự động hết hiệu lực sau 150 ngày trừ khi Quốc hội bỏ phiếu gia hạn, khiến thẩm quyền này chỉ mang tính tạm thời. Giả sử ông Trump dựa vào thẩm quyền này trong những ngày tới, điều đó có nghĩa là ông có thể áp dụng lại mức thuế cơ bản của mình cho đến cuối tháng 7. Điều quan trọng cần lưu ý là các hành động theo Điều 122 phải được áp dụng đồng nhất và không thể nhắm mục tiêu vào từng quốc gia riêng lẻ.

Trong các cuộc tranh luận miệng về thuế quan IEEPA, các nguyên đơn cho rằng Điều 122 là thẩm quyền thích hợp cho thuế quan “Ngày Giải phóng” của Tổng thống Trump, mà ông lập luận là được áp dụng để giải quyết “thâm hụt thương mại hàng hóa hàng năm lớn và dai dẳng của Mỹ”. Tuy nhiên, thẩm quyền này không thể thay thế thuế quan “buôn lậu” IEEPA đối với Canada, Mexico và Trung Quốc, được cho là áp đặt để ngăn chặn dòng chảy fentanyl từ các quốc gia đó.

Mặc dù Điều 122 chưa bao giờ được sử dụng để áp đặt các hạn chế thương mại, nhưng nó được tạo ra để đáp trả việc Tổng thống Richard Nixon sử dụng đạo luật tiền thân của IEEPA, Đạo luật Giao dịch với Kẻ thù (TWEA), vào năm 1971 để giải quyết các vấn đề về cán cân thanh toán. Do đó, nó có thể được viện dẫn để áp dụng thuế quan tạm thời, trên diện rộng như một đòn bẩy đàm phán ngắn hạn.

Khó có khả năng Quốc hội Mỹ sẽ gia hạn thẩm quyền áp thuế của Trump trong năm nay (2026), khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp diễn ra. Nhưng nếu điều đó xảy ra, nó sẽ mang lại cho tổng thống thêm vài tháng thu thuế và đòn bẩy đàm phán.

Điều 232: Thuế quan theo ngành
Ngoài ra còn có các thẩm quyền thương mại mà Tổng thống Trump đã sử dụng, và ông có thể sử dụng chúng để khôi phục một số loại thuế quan. Một trong những đạo luật đó là Điều 232 của Đạo luật Mở rộng thương mại năm 1962, cho phép tổng thống áp đặt thuế quan hoặc hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu được coi là đe dọa an ninh quốc gia My, sau khi điều tra và đưa ra khuyến nghị của Bộ trưởng Thương mại. Vì đạo luật không định nghĩa “an ninh quốc gia”, nên nó trao cho nhánh hành pháp quyền tự do rộng rãi trong cách giải thích. Ông Trump tuyên bố rằng các điều khoản 232 hiện hành sẽ vẫn “có hiệu lực đầy đủ”.

Điều quan trọng cần lưu ý là điều này không thể thay thế hoàn toàn các loại thuế quan khẩn cấp của ông Trump, vì các loại thuế quan này được áp dụng theo ngành và không áp dụng đồng loạt cho tất cả các sản phẩm nhập khẩu vào Mỹ. Tuy nhiên, không có giới hạn về mức thuế suất, vì vậy thuế quan theo Điều 232 không có giới hạn trên.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông Trump đã sử dụng thẩm quyền này để tăng thuế quan đối với thép và nhôm. Kể từ khi trở lại nắm quyền, ông đã mở rộng các mức thuế quan đó và sử dụng luật này để tăng thuế quan đối với một loạt các lĩnh vực khác, bao gồm ô tô, phụ tùng ô tô, xe tải và xe buýt hạng nặng, đồng, và gỗ xẻ và các sản phẩm từ gỗ như đồ nội thất và tủ bếp.

Các mức thuế quan này áp dụng cho hàng nhập khẩu từ mọi quốc gia, mặc dù đã có những trường hợp ngoại lệ đối với một số quốc gia và sản phẩm cụ thể. Thuế quan ban đầu cũng có thể được mở rộng vô thời hạn không chỉ về tỷ lệ thuế mà còn cả phạm vi sản phẩm, cho phép áp thuế đối với các sản phẩm phái sinh, chẳng hạn như lon bia nhôm.

Mặc dù Quốc hội Mỹ vẫn giữ khả năng bác bỏ các hành động theo Điều 232 thông qua nghị quyết phản đối, nhưng điều này hiếm khi được sử dụng. Đây là một công cụ mà ông Trump dễ dàng nắm được, và ông đã thể hiện sự sẵn sàng sử dụng nó.

Điều 301: Các hành vi thương mại không công bằng
Một đạo luật khác mà ông Trump đã sử dụng là Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, cho phép Đại diện Thương mại Mỹ, theo chỉ thị của tổng thống, phản ứng với các hành vi thương mại không công bằng của nước ngoài, bao gồm vi phạm các thỏa thuận thương mại hoặc các hành vi “không hợp lý hoặc phân biệt đối xử” và gây gánh nặng cho thương mại Mỹ. Các cuộc điều tra có thể được khởi xướng để đáp ứng các kiến ​​nghị từ các bên quan tâm hoặc do chính đại diện thương mại tự khởi xướng, một thông lệ đã gia tăng theo thời gian.

Điều 301 đưa ra một loạt các biện pháp khắc phục và không giới hạn mức thuế quan, nhưng nó yêu cầu một quy trình điều tra chính thức và các kết luận trước khi có thể thực hiện hành động. Các biện pháp phải được xem xét lại sau bốn năm, và nếu một ngành công nghiệp trong nước lập luận rằng họ được hưởng lợi từ thuế quan, đại diện thương mại có thể giữ nguyên chúng.

Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình, ông Trump đã khởi xướng 6 cuộc điều tra theo Điều 301, nhưng chỉ có một cuộc điều tra dẫn đến việc áp thuế nhắm vào Trung Quốc. Những mức thuế đó vẫn còn hiệu lực. Hơn nữa, vì phần lớn các mức thuế hiện hành đối với Trung Quốc thuộc thẩm quyền này, việc bãi bỏ các mức thuế theo IEEPA hầu như không làm giảm thuế đối với Trung Quốc.

Một khi đã được áp dụng, các hành động theo Điều 301 rất khó để đảo ngược, vì rào cản để duy trì hành động thương mại này rất thấp. Ví dụ, chính quyền Tổng thống Mỹ Biden đã xem xét và duy trì các mức thuế của ông Trump theo Điều 301 đối với Trung Quốc, bất chấp phần lớn ý kiến ​​đóng góp từ ngành công nghiệp trong nước kêu gọi bãi bỏ chúng.

Các mức thuế theo Điều 301 cũng không thể thay thế hoàn toàn các mức thuế khẩn cấp của ông Trump vì chúng mang tính đặc thù theo từng quốc gia, nhưng ông có thể khởi động một số cuộc điều tra theo Điều 301 đối với các đối tác thương mại không đạt được thỏa thuận thương mại với chính quyền của mình, nếu ông muốn mở rộng các mức thuế 301 hiện có ra bên ngoài Trung Quốc.

Điều 338: Thuế quan chống phân biệt đối xử bất hợp lý
Một điều luật mới khác là Điều 338 của Đạo luật Thuế quan năm 1930, cho phép tổng thống áp đặt thuế quan lên tới 50% giá trị hàng hóa đối với hàng nhập khẩu từ các quốc gia có hành vi phân biệt đối xử bất hợp lý với thương mại của Mỹ thông qua thuế quan, quy định hoặc các biện pháp khác. Điều luật cho phép hành động bất cứ khi nào tổng thống “xác định được sự thật” rằng hành vi phân biệt đối xử đó tồn tại, cho thấy rằng có thể không cần thiết phải tiến hành một cuộc điều tra chính thức. Tổng thống vẫn chưa cho biết liệu ông có sử dụng thẩm quyền này hay không.

Mặc dù điều luật đề cập đến một “Ủy ban”- nay là Ủy ban Thương mại quốc tế – nhưng nó không nêu rõ liệu ủy ban này phải tiến hành điều tra thực tế chính thức hay chỉ đơn giản là giám sát các hành vi phân biệt đối xử và thông báo cho tổng thống. Sự mơ hồ này tạo ra sự không chắc chắn về mặt pháp lý xung quanh việc Điều 338 sẽ được thực hiện như thế nào trong thực tế.

Điều 338 chưa bao giờ được sử dụng để áp đặt các hạn chế thương mại. Mặc dù đã có trường hợp phát hiện phân biệt đối xử vào năm 1935 đối với Đức và Australia, nhưng không có hành động nào được thực hiện sau đó. Do đó, mặc dù là một điều luật hiện hành, nhưng thẩm quyền của nó vẫn chưa được kiểm chứng. Đây không phải là sự thay thế hoàn hảo cho các mức thuế khẩn cấp của ông Trump, bởi vì Điều 338 áp dụng cho từng quốc gia cụ thể. Tuy nhiên, tổng thống có thể áp dụng các mức thuế này cho những quốc gia chưa ký kết thỏa thuận với Mỹ. Trong bất kỳ trường hợp nào, việc sử dụng Điều 338 gần như chắc chắn sẽ bị kiện tụng.

T.P

]]>
TQ lần đầu vận hành tàu container không người lái toàn quy trình https://biendong.net/2026/02/24/tq-lan-dau-van-hanh-tau-container-khong-nguoi-lai-toan-quy-trinh/ Tue, 24 Feb 2026 04:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163980 Sáng 21/2, lần đầu tiên tại Trung Quốc, một con tàu container đã tự hoàn thành toàn bộ quy trình từ hành trình, cập bến cho đến bốc xếp hàng hóa mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lĩnh vực vận tải biển thông minh.

Tàu container thông minh Zhifei hoàn thành toàn bộ quy trình cập cảng một cách tự động tại cảng Thanh Đảo, Sơn Đông, Trung Quốc.

Theo truyền thông Trung Quốc, con tàu container hành trình thông minh được đưa vào khai thác thương mại đầu tiên của Trung Quốc mang tên “Trí Phi” (Zhifei) đã tự hành và cập bến chính xác tại bến cảng tự động của cảng Thanh Đảo (Qingdao), tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc vào 7h00 sáng ngày 21/2.

Đáng chú ý, ngay sau khi con tàu vào đúng vị trí, cảng đã kích hoạt hệ thống neo buộc tự động kiểu chân không. Các cốc hút chân không với lực hút cực mạnh đã bám chặt vào thân tàu, giúp cố định tàu tại cầu cảng trong vòng chưa đầy 30 giây, không cần nhân lực thực hiện thao tác buộc dây neo như phương thức truyền thống.

Ngay sau đó, chuỗi thiết bị bốc dỡ tự động tại bến cảng đã được kích hoạt và vận hành đồng bộ, nhịp nhàng. Hai hệ thống điều khiển cốt lõi do Trung Quốc tự phát triển là Hệ thống điều hành cảng thông minh (A-TOS) và Hệ thống điều khiển thiết bị thông minh (A-ECS) đã điều phối hoạt động với tốc độ phản hồi được mô tả ở cấp độ “mili giây”, chỉ huy giàn cần cẩu tự động và xe tự hành (AGV) cùng các phương tiện hỗ trợ khác tiến hành bốc dỡ số container trên tàu một cách trơn tru, nhịp nhàng.

Được biết, tàu “Trí Phi” được trang bị hệ thống điều khiển hàng hải thông minh lõi do Trung Quốc tự nghiên cứu, phát triển trong nước, với mục đích hướng tới vận hành thương mại. Tàu có thể vận hành theo ba chế độ gồm lái thủ công, điều khiển từ xa và tự hành không người lái.

Giới quan sát Trung Quốc nhận định việc hiện thực hóa mô hình “không người lái” toàn bộ quy trình có thể mở ra hướng đi mới cho hoạt động logistics, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác cảng, giảm phụ thuộc vào nhân lực trong các khâu vận hành, đồng thời tăng tính chính xác và an toàn trong khai thác tàu container.

T.P

]]>