• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Âm mưu của TQ khi biến vùng không tranh chấp thành tranh chấp trên Biển Đông

Trong vụ nhóm tàu Hải Dương 8 vào hoạt động trái phép trong Vùng Đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam cho thấy, Trung Quốc đang tìm mọi cách gia tăng hoạt động trái phép trong vùng biển của nước khác nhằm biến vùng không tranh chấp thành có tranh chấp, tư đó gây sức ép, buộc các nước tiến hành đàm phán song phương và hợp tác khác thác chung ở Biển Đông.

Biến vùng không tranh chấp thành tranh chấp

Từ năm 1956, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép phần phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và đến năm 1974 thì chiếm toàn bộ quần đảo này. Đến năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Sau đó, Trung Quốc nhanh chóng biến cãi bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa thành những căn cứ quân sự. Từ năm 2014 đến nay, Trung Quốc ồ ạt bồi đắp 7 bãi đá họ chiếm đóng của Việt Nam thành các đảo nhân tạo với diện tích trên 13 km2 (chiếm khoảng 95% tổng diện tích các đảo đảo tự nhiên và đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa), trong đó 3 đảo có đường băng dài 3.000m. Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), có trụ sở tại Washington, đã phân tích các hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy có nhiều đường băng, chỗ đỗ máy bay, các điểm radar và bệ phóng tên lửa đất đối không nổi trên 3 thực thể - đá Subi, đá Vành khăn và đá Chữ Thập.

Từ năm 2017, Trung Quốc đưa ra khái niệm “Tứ Sa” về Biển Đông. Theo đó Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Pratas, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và bãi ngầm Macclesfield với tên gọi lần lượt là Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa. Thay vì được xem là một nhóm các thực thể tranh chấp, Trung Quốc coi mỗi nhóm đảo và đá ngầm này là một quần đảo gồm nhiều thực thể khác nhau, với ranh giới biển cụ thể, có chủ quyền và quyền được xác lập xung quanh đó một vùng đặc quyền kinh tế. Đi liền với hoạt động quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông, Trung Quốc còn ngăn cản Việt Nam với các đối tác nước ngoài thăm dò và khai thác dầu khí tại vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ ngang nhiên coi vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các quốc gia khác như của mình, mà điển hình là vụ Trung Quốc hạ đặt dàn khoan 981 trong vùng EEZ của Việt Nam hồi năm 2014.

Việc Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 vào hoạt động trái phép trở lại trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam là bước đi mới nhất nhằm áp đặt trên thực tế “Đường lưỡi bò” bất hợp pháp trên Biển Đông. Theo đó, dần dà, Trung Quốc lân la chiếm toàn bộ các đảo trong vùng biển này (bao gồm 4 quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Đông Sa, Trung Sa theo cách gọi của Trung Quốc), đồng thời mong muốn nắm chủ quyền với khoảng 80% diện tích Biển Đông và toàn bộ tài nguyên trong khu vực biển này theo “Đường chữ U”, bên cạnh đó là quyền kiểm soát với vùng trời, vùng biển và đáy biển. Những hành động trên của Trung Quốc được kể tên là những kế sách “biến không thành có”, “tằm ăn dâu”, “cây gậy và củ cà rốt”…mà nước này đang áp dụng với các nước có tranh chấp trong vấn đề Biển Đông. Tất cả những kế sách đó đều nhằm mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là “Độc chiếm Biển Đông”.

Âm mưu của Trung Quốc

Việc Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, tiến hành xâm chiếm biển đảo của Việt Nam bằng cách sử dụng vũ lực; tiến hành cải tạo đảo, đá, quân sự hóa Biển Đông; gia tăng các hoạt động khảo sát trái phép sâu trong vùng biển Việt Nam… là nhằm biến khu vực không tranh chấp thành tranh chấp, rồi từ đó gây sức ép, buộc Việt Nam phải chấp nhận đàm phán song phương và hợp tác chung với Bắc Kinh ở Biển Đông. Theo nhà nghiên cứu James Borton, Trung tâm Khoa học Ngoại giao Đại học Tufts (Hoa Kỳ), “việc Trung Quốc điều nhóm tàu Hải Dương 8 vào sâu trong lãnh hải của Việt Nam còn được cho là một hành động mang tính thách thức về mặt pháp lý đối với quyền, chủ quyền của một quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS. Sự nguy hiểm của hành động này chính là, dù Việt Nam đã khai thác khu vực thuộc chủ quyền của mình từ hàng chục năm qua, Trung Quốc vẫn tìm cách biến khu vực không tranh chấp thành khu vực tranh chấp, “đánh lận trắng thành đen” tạo sóng căng thẳng về địa- chính trị trong khu vực”. Ông James Borton cho rằng, việc Trung Quốc liên tục đưa nhóm tàu Hải Dương 8 còn một mục đích nữa đó là ngăn cản các hoạt động khai thác dầu và khí đốt của Việt Nam.

Trên thực tế, Trung Quốc đã nhiều lần đề xuất hợp tác chung với Việt Nam ở Biển Đông. Phát biểu trong chuyến thăm Việt Nam, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (1/4/2018) cho rằng Trung Quốc và Việt Nam cần tuân thủ các quy tắc căn bản trong việc giải quyết tranh chấp trên biển; cả hai bên không được áp dụng các biện pháp đơn phương làm phức tạp hóa tình hình; khẳng định Trung Quốc nhất trí rằng việc giải quyết các vấn đề trên biển là vô cùng quan trọng đối với việc phát triển tốt đẹp, lâu dài mối quan hệ song phương; đồng thời nhấn mạnh hai bên cần “tăng cường hợp tác trên biển, gồm cả việc tiến hành thảo luận về hoạt động khai thác chung”. Tại phiên họp lần thứ 11 của Ủy Ban Chỉ Ðạo Hợp Tác Song Phương Việt Nam-Trung Quốc, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (16/9/2018) lại một lần nữa đề nghị “cách tích cực nhất để quản lý và kiểm soát tranh chấp trên biển là thảo luận hợp tác dò tìm dầu khí. Và sự tưởng nhớ 10 năm kỷ niệm đánh dấu đặt trụ mốc biên giới trên bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam là thiết lập các khu vực hợc tác kinh tế xuyên biên giới thời gian sớm nhất”.

Việc Trung Quốc tìm mọi cách để gây sức ép và muốn hợp tác chung với Việt Nam ở Biển Đông là do: Đầu tiên, Việt Nam là nước có tài nguyền dầu khí phong phú. Biển Đông là biển nửa kín, nằm ở rìa lục địa và là một phần của Thái Bình Dương, trải rộng từ Singapore tới eo biển Đài Loan và bao phủ một diện tích khoảng 3.447.000 km². Đây là biển lớn thứ tư thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập. Tại đây, dầu khí là tài nguyên khoáng sản có vị thế quan trọng hàng đầu. Trữ lượng dầu mỏ của Biển Đông đã được xác định khoảng 7,7 tỷ barrel (ước tính tổng khối lượng bằng 28 tỷ barrel), trữ lượng khí gas tự nhiên được ước tính bằng khoảng 266 nghìn tỷ feet khối. Theo đánh giá của giới khoa học, Việt Nam có tài nguyên dầu khí rất phong phú, hầu hết diện tích chứa dầu khí đều nằm trên vùng thềm lục địa với độ sâu không lớn. Theo các công trình nghiên cứu thì vùng được đánh giá triển vọng nhất bao gồm các khu địa luỹ Tri Tôn - Tây của quần đảo Hoàng Sa, Bắc và Đông bắc bể Nam Côn Sơn và vùng Tư Chính. Thứ hai, Trung Quốc không có chủ quyền ở Biển Đông, song sử dụng vũ lực xâm chiếm các đảo, đá thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Hành động này của Trung Quốc không cấu thành nên chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông. Chính vì vậy, Trung Quốc muốn thúc đẩy hợp tác chung với các nước ở trong khu vực nhằm từng bước hiện thực hóa chủ trương biến vùng không tranh chấp thành có tranh chấp, biến khu vực không có chủ quyền thành có chủ quyền. Thứ ba, Trung Quốc muốn thông qua hợp tác chung với Việt Nam ở Biển Đông để tuyên truyền, định hướng dư luận và đánh bóng cho chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở Biển Đông. Hành động này của Trung Quốc cũng nhằm xoa dịu các nước Đông Nam Á đang có những tuyên bố tranh chấp về chủ quyền biển bằng các thỏa hiệp khai thác Biển Đông. Thứ tư, thông qua thúc đẩy hợp tác song phương ở Biển Đông, Trung Quốc sẽ lợi dụng để làm giảm tác động phán quyết của Tòa Trọng tài (12/7/2016) liên quan vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông. Phán quyết trên cho rằng không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong đường 9 đoạn; Trung Quốc đã gây hại nghiêm trọng với môi trường của các rặng san hô và vi phạm nghĩa vụ bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương và môi trường sống của các loài đang suy yếu, bị đe doạ và bị huỷ diệt; việc bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo trên quy mô lớn của Trung Quốc gần đây là không phù hợp với nghĩa vụ của quốc gia thành viên UNCLOS trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong chừng mực mà Trung Quốc đã gây ra những tác hại không thể sửa chữa được với môi trường biển, xây dựng một đảo nhân tạo lớn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và phá huỷ các bằng chứng về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc ở Biển Đông mà là một phần của tranh chấp giữa các Bên; Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này bằng việc (a) can thiệp vào hoạt động đánh cá và thăm dò dầu khí của Philippines, (b) xây dựng đảo nhân tạo và (c) không ngăn chặn ngư dân Trung Quốc đánh bắt ở khu vực này. Cuối cùng, thông qua hợp tác với các nước ở Biển Đông nói chung và hợp tác với Việt Nam nói riêng, Trung Quốc sẽ tìm cách củng cố vị thế, tầm ảnh hưởng trong khu vực và từng bước ngăn các nước khác tìm kiếm sự giúp đỡ từ Mỹ trong vấn đề Biển Đông.

Việt Nam kiên quyết bảo về chủ quyền biển đảo

Có thể thấy vấn đề Biển Đông đang ngày càng phức tạp và diễn biến khó lường, chủ quyền biển đảo Việt Nam đang bị thách thức nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo là hết sức quan trọng. Chủ trương nhất quán của Việt Nam là: Các vấn đề liên quan đến hai nước thì giải quyết song phương, các vấn đề liên quan đến nhiều nước thì giải quyết đa phương; bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên và lợi ích chung của khu vực. Giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn ở Biển Đông trong không khí hòa bình, với tinh thần đối tác, vì trách nhiệm cộng đồng.

Bằng nhiều cách, nhiều kênh, Việt Nam khẳng định quan điểm đàm phán song phương với Trung Quốc về Hoàng Sa và đa phương cùng Trung Quốc và các nước, các bên liên quan về Trường Sa và các vấn đề khác ở Biển Đông. Việt Nam coi Trung Quốc và ASEAN là những đối tác hợp tác quan trọng trong việc giữ gìn hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Trên các diễn đàn đa phương, Việt Nam đã nỗ lực cùng các quốc gia trong khu vực và quốc tế xây dựng và thực hiện các cơ chế hợp tác, thúc đẩy hòa bình, hòa giải, ngăn ngừa xung đột. Phương hướng đó sẽ tiếp tục được Việt Nam thực hiện khi đảm nhiệm chức Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020 - 2021. Việt Nam tuân thủ luật pháp quốc tế, đề cao sự minh bạch trong tiến trình giải quyết các tranh chấp, luôn giữ thái độ hợp tác khi xuất hiện những mâu thuẫn, kiên trì giáo dục và bảo vệ ngư dân bám biển, luôn sẵn sàng ứng cứu các nạn nhân thiên tai và biến cố môi trường không phân biệt quốc tịch, theo đúng tinh thần của DOC 2002. Việt Nam tin tưởng rằng, việc tôn trọng luật pháp quốc tế trong đàm phán sẽ giúp giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và hiệu quả.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới

Switch mode views: