Thông tin Biển Đông – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 15:17:26 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Việc nâng cấp quan hệ Ấn Độ – Philippines và tác động đối với Biển Đông https://biendong.net/2025/10/01/viec-nang-cap-quan-he-an-do-philippines-va-tac-dong-doi-voi-bien-dong/ Wed, 01 Oct 2025 03:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=161733 Từ ngày 04 – 08/8/2025, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. thực hiện chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ, đánh dấu nỗ lực ngày càng lớn của Philippines nhằm đa dạng hóa quan hệ đối tác chiến lược, vượt ra ngoài các đồng minh truyền thống, trong bối cảnh Manila đang phải đối mặt với căng thẳng leo thang ở Biển Đông và những trở ngại kinh tế từ chính sách bảo hộ của Washington.

Kết quả nổi bật của chuyến thăm là Ấn Độ và Philippines chính thức nâng cấp quan hệ song phương lên “đối tác chiến lược”. Phát biểu trong một cuộc họp báo chung tại New Delhi hôm 5/8 Tổng thống Marcos Jr. nhấn mạnh: “Hôm nay, mối quan hệ của chúng ta bước vào một kỷ nguyên mới. Ấn Độ trở thành đối tác chiến lược thứ 5 của Philippines”.

Thủ tướng Narendra Modi và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. trong buổi Họp báo chung ở New Delhi ngày 5/8. Ảnh ANI

Trong bài phát biểu công khai bằng tiếng Anh, Thủ tướng Modi đã diễn đạt khoảnh khắc này bằng những từ ngữ bao quát: “Ấn Độ và Philippines là bạn bè do lựa chọn và là đối tác do định mệnh. Từ Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương, chúng ta gắn kết với nhau bởi những giá trị chung. Tình bạn của chúng ta không chỉ là tình bạn của quá khứ; đó là lời hứa cho tương lai”. Thủ tướng Ấn Độ khẳng định Philippines là một “đối tác quan trọng” trong Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ. Hai nước nhất trí về một số cơ chế liên quan đến quốc phòng, bao gồm việc hoàn thiện Điều khoản Tham chiếu giữa lục quân, hải quân và không quân.

Các nhà phân tích quốc phòng cho rằng mối quan hệ an ninh ngày càng mở rộng với New Delhi phản ánh sự điều chỉnh sâu rộng hơn trong chính sách đối ngoại của Manila dưới thời Tổng thống Marcos Jr., người đã tìm cách làm sâu sắc hơn mối quan hệ với các cường quốc tầm trung có chung mối quan tâm về an ninh khu vực nhưng tránh cạnh tranh quyền lực nước lớn. Tiến sĩ Aries Arugay – nghiên cứu viên cao cấp tại Viện ISEAS Yusof Ishak của Singapore – nhận xét: “Các cuộc tập trận hải quân và chuyến thăm cấp nhà nước diễn ra cùng lúc không phải là ngẫu nhiên. Nó nhằm mục đích thể hiện sự quan tâm chung của hai nước ở Biển Đông. Ấn Độ cũng đang khẳng định mình là một cường quốc không chỉ ở châu Á mà còn trên toàn cầu”.

Mối quan hệ đối tác chiến lược mới này chính thức hóa sự phối hợp đã được xây dựng âm thầm. Năm 2022, Philippines trở thành khách hàng nước ngoài đầu tiên mua tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos của Ấn Độ với giá trị hợp đồng 375 triệu USD – thương vụ xuất khẩu vũ khí lớn đầu tiên của Ấn Độ. Lô hàng đầu tiên đã được bàn giao vào năm 2024. Ấn Độ cũng đã công khai ủng hộ lập trường pháp lý của Philippines tại Biển Đông. Năm 2023, trong một động thái hiếm hoi, chính quyền New Delhi đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết năm 2016 về Biển Đông của Tòa Trọng tài được thành lập.

Nhà phân tích địa chính trị Don McLain Gill của Đại học De La Salle ở Manila lưu ý: “Ấn Độ đã trở nên nhạy cảm hơn với lợi ích an ninh của các đối tác ở Đông Nam Á, đặc biệt là Philippines. Điều này cũng cho thấy Manila sẵn sàng đưa Ấn Độ vào sâu hơn các tính toán an ninh của mình”. Ông C. Uday Bhaskar – cựu sĩ quan quân đội và hiện là Giám đốc Hiệp hội nghiên cứu chính sách (SPS) ở New Delhi – nhấn mạnh rằng theo quan điểm của New Delhi, Manila không còn chỉ là một đối tác nhỏ trong ASEAN nữa mà “Philippines rất quan trọng đối với Ấn Độ… bởi vì Philippines có vị thế hàng hải đặc biệt trong khu vực và có lập trường kiên định đối với Trung Quốc”. Việc Manila mua hệ thống BrahMos đã “tạo uy tín” cho tham vọng của Ấn Độ trở thành nhà cung cấp vũ khí.

Quan hệ đối tác dự kiến sẽ mở rộng ra ngoàisang cả  phạm vi mua sắmlĩnh vực mua sắm, trang bị quốc phòng. Các quan chức Philippines đã bày tỏ sự quan tâm đến hệ thống tên lửa đất đối không Akash của Ấn Độ, và các cuộc đàm phán đang được tiến hành để Ấn Độ nhập khẩu niken của Philippines, một loại khoáng sản quan trọng được sử dụng trong sản xuất thép và quốc phòng. Chuyên gia Don McLain Gill nói: “Ấn Độ cũng đang theo đuổi nỗ lực ‘tự lực cánh sinh’ của riêng mình và tìm cách thể hiện mình không chỉ là một đối tác bán vũ khí mà còn là một đối tác xây dựng năng lực”.

Ông P. Kumaran – Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách phương phía Đông của Bộ Ngoại giao Ấn Độ – cho biết cả hai nước đang tìm hiểu hợp tác về cơ sở hạ tầng tàu ngầm, thiết kế tàu và hiện đại hóa hải quân. Điều này phù hợp với việc cả hai nước “tự lực” thúc đẩy tư thế quốc phòng. Ấn Độ, vốn theo truyền thống không liên kết, luôn cảnh giác với Trung Quốc, đặc biệt là kể từ cuộc đụng độ biên giới chết người năm 2020 ở Ladakh, khiến quan hệ song phương bị đóng băng. Mối quan hệ đang trên đà hàn gắn nhưng sự ngờ vực vẫn còn cao. Tiến sĩ Arugay nói: “Nếu bạn để ý, Ấn Độ và Philippines đại diện cho những điểm khác nhau trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Xét về góc độ địa chính trị, việc hai quốc gia có mối quan hệ an ninh chiến lược là một vấn đề lớn”.

Trong khi quốc phòng là trọng tâm trongBên cạnh hợp tác quốc phòng, nội dung về đa dạng hóa kinh tế cũng là ưu tiên hàng đầu  trong chương trình nghị sự nhân chuyến chuyến thăm của Tổng thống Marcos Jr, thì đa dạng hóa kinh tế cũng là một vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự. Cả hai nước đều bị ảnh hưởng bởi chính sách thương mại bảo hộ của Tổng thống Mỹ Donald Trump: Philippines phải đối mặt với mức thuế 19%, trong khi ông Trump cũng đe dọa tăng thuế đối với hàng hóa Ấn Độ. New Delhi và Manila đang hướng tới một hiệp định thương mại ưu đãi song phương. Thương mại giữa Philippines và Ấn Độ đã vượt quá 3,3 tỷ USD vào năm 2024 nhưng vẫn còn khiêm tốn. Thứ trưởng Kumaran đã đề cập đến tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực nuôi trồng rong biển, nghiên cứu lúa gạo, nhiên liệu sinh học và năng lượng tái tạo. Ông Kumaran cũng cho biết Ấn Độ đã đề nghị hỗ trợ tư vấn về dầu khí, lưu ý đến hóa đơn nhập khẩu dầu có độ tinh khiết cao của Philippines.

Ngoài quốc phòng và thương mại, hai nhà lãnh đạo đã ký kết các thỏa thuận bao gồm khoa học và công nghệ, hỗ trợ pháp lý lẫn nhau, công nghệ số, không gian vũ trụ, trao đổi văn hóa và du lịch. Cả hai bên đã nhất trí miễn thị thực nhập cảnh cho khách du lịch, với các chuyến bay thẳng giữa Manila và New Delhi dự kiến sẽ được nối lại vào cuối năm nay. Tiến sĩ Arugay nói: “Những thỏa thuận quyền lực mềm này là cách để củng cố hợp tác, vì vậy nó sẽ không chỉ dừng lại ở mức độ cam kết. Những trao đổi văn hóa-xã hội, giao lưu nhân dân này luôn có giá trị bổ sung cho các thỏa thuận quốc phòng và kinh tế”.

Hai nước cũng cam kết đối thoại an ninh hàng hải thường xuyên, luân phiên giữa New Delhi và Manila – tương tự như các thỏa thuận của cả hai nước với Australia và Nhật Bản. Ngày 5/8, khi tiếp nguyên thủ Philippines tại New Delhi, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi khẳng định hai nước ủng hộ “tự do lưu thông hàng hải”. Trong khi Tổng thống Marcos Jr. nhấn mạnh chuyến đi của ông nhằm mục đích tăng cường hợp tác an ninh hàng hải.

Trong số 14 thoả thuận được ký kết trong chuyến thăm có 3 thoả thuận về hợp tác quốc phòng tạo thiết lập cơ chế hợp tác cả 3của các lực lượng không quân, hải quân và không quân, gồm Điều khoản tham chiếu giữa Không quân Ấn Độ và Không quân Philippines về các cuộc đàm phán tham mưu không quân; Điều khoản tham chiếu giữa Lục quân Ấn Độ và Lục quân Philippines về các cuộc đàm phán giữa các tham mưu Lục quân; Điều khoản tham chiếu giữa Hải quân Ấn Độ và Hải quân Philippines về các cuộc đàm phán giữa Hải quân  hai nướcvới Hải quân.

Trả lời báo chí tối 5/8, ông Periasamy Thứ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Kumaran, Thứ trưởng phụ trách phương Đông của Bộ Ngoại giao Ấn Độ giải thích các thỏa thuận này sẽ bao gồm “xây dựng năng lực, các hoạt động hàng hải chung, trao đổi chương trình đào tạo sĩ quan”. Ông cũng nhấn mạnh đến lập trường của New Delhi về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là “dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)” vì “Ấn Độ có lợi ích lâu dài đối với hòa bình và ổn định trong khu vực”. Trước khi lên đường sang Ấn Độ, Tổng thống Marcos Jr. nhấn mạnh rằng hai quốc gia gắn kết với nhau bởi “những giá trị chung” và “sự kiên định trong việc duy trì luật pháp quốc tế về hàng hải”.

Chuyến thăm của ông Marcos Jr. là dấu hiệu của một chiến lược phòng ngừa rủi ro rộng hơn. Với sự bất ổn về thuế quan của Mỹ trong tương lai và áp lực của Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines đang định vị mình trong một thế giới mà sự cạnh tranh giữa các cường quốc diễn ra không ổn định và không đáng tin cậy. Tiến sĩ Aries Arugay lưu ý: “Cuối cùng, chính quyền Marcos Jr. đã học được từ quá khứ rằng họ không thể quá phụ thuộc vào Mỹ cho mọi nhu cầu an ninh và quốc phòng của mình. Và rất khó để có được sự ủng hộ từ Ấn Độ. Vì vậy, đây là một thành tựu lớn”. Phát biểu tại tiệc chiêu đãi do Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu chủ trì tại Phủ Tổng thống, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. mô tả đây là một trong những chuyến thăm “hiệu quả và mang tính xây dựng” nhất mà ông từng thực hiện và cho rằng thành công này là nhờ mối quan hệ gần gũi bền chặt giữa hai nước.

Giới phân tích nhận định việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược giữa Ấn Độ và Philippines cũng như việc tăng cường quan hệ hợp tác quốc phòng giữa hai nước có tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, cụ thể là:

Thứ nhất, việc Ấn Độ thông qua Philippines để can dự sâu hơn vào Biển Đông tạo thêm một yếu tố quan trong hậu thuẫn cho Philippines và các nước ven Biển Đông khác đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông. Đáng chú ý là Ấn Độ lâu nay có quan hệ mật thiết với các nước khác như Việt Nam, Malaysia hay Indonesia và hiện là đối tác chiến lược của ASEAN. Do vậy, những động thái mới trong quan hệ giữa Philippines với Ấn Độ sẽ góp phần thúc đẩy sự đoàn kết hơn trong ASEAN trên vấn đề Biển Đông.

Đáng chú ý, trong thời gian chuyến thăm cả Ấn Độ và Philippines đều đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, kết quả chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng khẳng định giá trị phán quyết năm 2016 về Biển Đông của Toà Trọng tài Thường trực; duy trì trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông; góp phần thúc đẩy tiến trình pháp lý trong giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng quốc tế hoá, đa phương hoá vấn đề Biển Đông. Việc hải quân Ấn Độ và Philippines lần đầu tiên tiến hành tập trận chung ở Biển Đông, mở ra khả năng thúc đẩy các hoạt động tuần tra, diễn tập chung giữa Philippines với Nhóm Bộ tứ ở Biển Đông, bởi trước đó đã có các cuộc tập trận và tuần tra chung đa phương giữa 3 thành viên Nhóm Bộ tứ Mỹ, Australia, Nhật Bản với Philippines. Mặt khác, Ngoại trưởng các nước Nhóm Bộ từ đã nhất trí tăng cường hợp tác về an ninh hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm các hoạt động hàng hải chung để ngăn chặn Trung Quốc mở rộng bành trướng. Những động thái mới trong quan hệ Ấn Độ – Philippines có thể là dấu hiệu về việc thiết lậpvằ tăng cường cơ chế hợp tác hàng hải chung giữa Philippines và Nhóm Bộ tứ trong thời gian tới.

Thứ ba, lâu nay các công ty dầu khí của Ấn Độ đã có các dự án hợp tác dầu khí với Việt Nam ở Biển Đông. Trong chuyến thăm Ấn Độ của Tổng thống Philippines Marcos Jr., bên cạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế, hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, mở ra khả năng hợp tác giữa Ấn Độ và Philippines trong các dự án khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa của Philippines. Nếu điều này xảy ra sẽ tạo sự gắn kết chặt chẽ về lợi ích kinh tế của Ấn Độ với Việt Nam và Philippines. Đây sẽ là yếu tố quan trọng để ngăn chặn các hành động xâm lấn của Trung Quốc.

]]>
Tình hình an ninh Biển Đông năm 2025 “nóng” hay “lạnh”, yếu tố nào chi phối?               https://biendong.net/2025/04/17/tinh-hinh-an-ninh-bien-dong-nam-2025-nong-hay-lanh-yeu-to-nao-chi-phoi/ Thu, 17 Apr 2025 01:57:00 +0000 https://biendong.net/?p=148503 Trong năm 2024, cạnh tranh địa chính trị và các tranh chấp liên quan đến Biển Đông tiếp tục là chủ đề “nóng” trong các vấn đề an ninh chính tại châu Á – Thái Bình Dương. Các quốc gia có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông vẫn có nhiều hành động nhằm củng cố lợi ích cả hiện tại và tương lai.

ASEAN đã có nhiều nỗ lực để duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, nhưng phải đối mặt với nhiều thách thức và trở ngại do các hoạt động “bảo vệ lợi ích hợp pháp” của Trung Quốc ở vùng biển này. Các nước ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Australia… tăng cường hiện diện quân sự và xây dựng các cơ chế an ninh đa phương nhằm kiềm chế Trung Quốc. Tuy có thời điểm xảy ra các sự kiện rất “nóng” trên biển, trong đó chủ yếu là giữa hai nước Trung Quốc và Philippines, nhưng nhìn tổng thể, diễn biến tình hình an ninh Biển Đông năm 2024 vẫn nằm trong tầm kiểm soát.

Bước sang năm 2025, thế giới có nhiều diễn biến rất phức tạp và nhanh chóng, khó lường. Do đó, đã có nhiều dự báo về tình hình an ninh Biển Đông và khu vực được đưa ra. Phần lớn các dự báo đó đều thống nhất cho rằng, trong năm 2025, an ninh Biển Đông vẫn sôi động và vẫn “nóng”, nhưng khó bùng nổ xung đột, bởi xuất phát từ những yếu tố “thúc đẩy” và “kìm hãm” sau đây.  

Các yếu tố gây “nóng” về an ninh ở Biển Đông trong năm 2025

Trước hết là yếu tố tranh chấp trong vấn đề chủ quyền ở Biển Đông. Đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất, được các bên liên quan sẽ thúc đẩy dưới nhiều cách thức hoạt động khác nhau nhằm củng cố yêu sách chủ quyền của mình. Trong đó, đáng chú ý nhất vẫn là yêu sách “đường chín khúc” của Trung Quốc được Bắc Kinh nhiều lần nhắc tới và đưa vào nhóm “lợi ích cốt lõi” của quốc gia, cần phải giành lấy. Thậm chí, nhiệm vụ, mục tiêu thu hồi hòn đảo Đài Loan hay giành quyền kiểm soát hoàn toàn Biển Đông đã được xác định là những vấn đề “thiêng liêng của dân tộc”, nhất thiết và phải cố gắng đạt được, làm “món quà” có giá trị “cao quý nhất” để chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước CHND Trung Hoa. Thời gian từ nay đến đó không nhiều, trong khi việc sử dụng giải pháp quân sự để đạt mục tiêu trên là không khả thi. Vì vậy, Trung Quốc sẽ tiếp tục sử dụng chiến thuật “gặm nhấm” để lấn chiếm Biển Đông, nhưng sẽ có sự “tăng tốc” hơn. Theo đó, về mặt pháp lý, Bắc Kinh sẽ có sự “biến tấu” trong giọng điệu, sẽ diễn đạt khác đi về mặt hình thức đối với yêu sách “đường chín khúc”, nhưng bản chất thì không thay đổi, vẫn nhằm thực hiện tham vọng “chủ quyền” này. Họ sẽ tiếp tục đưa ra các “nội luật” hay các văn bản tương tự “có tính pháp lý” theo kiểu của Trung Quốc để làm cơ sở xử lý các hoạt động của các nước khác có tranh chấp trong vùng biển thuộc phạm vi “đường chín khúc”, qua đó khẳng định “chủ quyền” của mình. Việc Trung Quốc ngày 10/11/2024 vừa qua, công bố đường cơ sở lãnh hải xung quanh bãi cạn Scarborough mà họ gọi là Hoàng Nham, là ví dụ mới nhất thể hiện cách làm trên. Bãi cạn Scarborough và vùng biển xung quanh là khu vực thuộc chủ quyền hợp pháp của Philippines chiểu theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) và phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) năm 2016. Thế nhưng, Bắc Kinh lại cho rằng, việc thiết lập đường cơ sở tại đây là “bước đi rất tự nhiên” và hoàn toàn “phù hợp” với luật pháp quốc tế để tăng cường quản lý Biển Đông. Hành động này không chỉ làm gia tăng căng thẳng quan hệ giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực, đặc biệt là với Philippines, mà còn thể hiện sự coi thường luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982 của Trung Quốc; đồng thời cho thấy Bắc Kinh ngày càng rốt ráo và quyết liệt hơn trong ý đồ “độc chiếm” Biển Đông. Ngoài ra, trong năm 2025, ngoài việc tiếp tục sử dụng “chiến thuật vùng xám” trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, Trung Quốc sẽ chú trọng hơn việc sử dụng “con bài” kinh tế và chính trị để tác động, gây ảnh hưởng hoặc gây sức ép đến các nước có tranh chấp ở Biển Đông; tiếp tục tìm cách chia rẽ ASEAN trong xử lý, giải quyết vấn đề Biển Đông. Đáng chú ý, Bắc Kinh sẽ gia tăng triển khai đưa các công nghệ tiên tiến, hiện đại vào trong các hoạt động khẳng định chủ quyền và tranh chấp chủ quyền với các nước, kể cả trong các hoạt động của “chiến thuật vùng xám”, nhất là ứng dụng thành tựu của trí tuệ nhân tạo (AI), cùng các yếu tố phi truyền thống khác. Vì thế, sức mạnh răn đe và sức ép trên biển của họ với đối phương có thể sẽ lớn hơn và đa dạng hơn. Sức mạnh răn đe và sức ép đó không chỉ diễn ra trên mặt biển, mà nhiều khả năng sẽ còn mở rộng tới cả các hoạt động ở dưới nước và đáy biển, trên không trung và không gian mạng. Do đó, các “sự cố” như từng đã xảy ra ở bãi Cỏ Mây, Scarborough, Sa Bin trong năm 2024, hay các hoạt động xâm nhập bất hợp pháp vào vùng thềm lục địa thuộc chủ quyền của nước khác, nhưng lại nằm trong cái gọi là “đường chín khúc” có thể sẽ được thực hiện với tần suất dày đặc hơn trong năm nay.

Bên cạnh hoạt động của Trung Quốc, cũng phải kể đến hoạt động của Philippines. Ngoài việc đẩy mạnh các hoạt động để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, Chính quyền của Tổng thống Marcos cũng sẽ lấy vấn đề này làm “công cụ” chính để giành được sự tín nhiệm của cử tri, áp chế các gia tộc chính trị và đối thủ cạnh tranh trong nước, cũng như giành được sự quan tâm, ủng hộ nhiều hơn từ Mỹ. Với việc ban hành hai đạo luật mới là Đạo luật Vùng biển và Đạo luật Đường biển của quần đảo vào tháng 11/2024, Philippines chắc chắn sẽ gia tăng các hành động tại các khu vực như bãi Cỏ Mây, Sa Bin, Đá Khúc Giác và sẽ không dễ dàng từ bỏ chủ quyền ở bãi cạn Scarborough. Ngoài ra, không loại trừ khả năng Manila sẽ khởi xướng một vụ kiện khác đối với Trung Quốc về Biển Đông.

Hai là, quan hệ Mỹ – Trung và cạnh tranh ảnh hưởng giữa hai cường quốc này trong năm 2025, vẫn là yếu tố gây ra “điểm nóng” ở Biển Đông. Xét về thực chất, suy cho cùng, hiện tại cũng như tương lai, tình hình Biển Đông “nóng” hay “lạnh” chủ yếu là do sự chi phối của hai nước Trung – Mỹ, vì đây là hai quốc gia có tiềm lực mạnh, đang cạnh tranh nhau gay gắt trên nhiều lĩnh vực, địa bàn, trong đó có Biển Đông. Trung Quốc đang tìm mọi cách mở “cánh cửa” Biển Đông để “đi ra bên ngoài”, vươn lên trở thành cường quốc thế giới. Trong khi đó, Mỹ lại ra sức tìm cách “bịt” cánh cửa này lại, ngăn không để Trung Quốc đủ sức vươn ra thế giới, thách thức vai trò, vị thế “siêu cường” của Mỹ. Giá trị địa chiến lược của Biển Đông đối với Trung Quốc và Mỹ chính là nằm ở chỗ đó.

Ba là, yếu tố hoạt động kinh tế trên biển là điều khó tránh. Biển Đông là tuyến hàng hải quan trọng, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Việc các nước xung quanh Biển Đông tiến hành khai thác tài nguyên trên biển, đặc biệt là thăm dò, khai thác dầu khí và các nguồn năng lượng tiềm năng khác, sẽ rất dễ là nguồn cơn của các tranh chấp.

Bốn là, việc Trung Quốc thực hiện “chiến thuật vùng xám” trong hoạt động khẳng định, tranh chấp chủ quyền với các nước là yếu tố gây “nhức nhối” cho ổn định khu vực. Trung Quốc áp dụng chiến thuật này phục vụ cho ý đồ “độc chiếm” Biển Đông, nhưng tránh để xảy ra chiến tranh. Mỹ cũng muốn giành lợi thế trước Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng cũng không muốn chiến tranh nổ ra, bởi chiến tranh nổ ra ở khu vực, sẽ là “bi kịch” cho tất cả các bên. Vì thế, dựa trên sức mạnh của mình, những năm qua, “chiến thuật vùng xám” mà nội hàm của nó là những hoạt động nằm dưới ngưỡng chiến tranh vẫn là cách thức chính được Trung Quốc sử dụng để “thôn tính” dần Biển Đông. Chiến thuật này sẽ vẫn được Trung Quốc sử dụng, có nghĩa là các hoạt động như quấy rối tàu thuyền, xây dựng đảo nhân tạo và các hành động gây hấn theo hướng răn đe, gây sức ép với đối phương sẽ vẫn diễn ra. Những hoạt động này chẳng những gây khó khăn cho việc duy trì ổn định và trật tự trên Biển Đông, mà rất có thể làm bùng nổ xung đột nếu các bên thiếu tỉnh táo, kiềm chế, nhất là ở cấp thực thi trực tiếp.

Xem xét kỹ từng yếu tố nói trên ở từng thời điểm cụ thể khác nhau, có thể sự tác động của chúng đến tình hình an ninh Biển Đông không đủ để giới nghiên cứu khu vực lo ngại. Nhưng nếu đặt tất cả các yếu tố trên trong tổng thể bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực và nhất là sự tương tác, kết hợp của các yếu tố đó với nhau thì có thể dự báo, tình hình an ninh Biển Đông năm 2025 sẽ vẫn “nóng” chứ không “lạnh”. Còn “nóng” ở mức độ nào thì phụ thuộc vào cách thức và cường độ triển khai của các bên tạo ra yếu tố.

Các yếu tố góp phần kiềm chế bùng nổ xung đột ở Biển Đông

Tuy tình hình an ninh Biển Đông vẫn là một trong những “điểm nóng” tại khu vực, thu hút sự quan tâm của thế giới. Nhưng năm 2025, Biển Đông khó có thể bùng nổ xung đột. Lý do có khá nhiều, nhưng có thể kể đến mấy yếu tố cơ bản sau:

Trước hết là sách lược kiềm chế của tất cả các bên có liên quan. Sách lược này được thể hiện ở chỗ: 1/ Dù tất cả các bên có liên quan ở Biển Đông đều có ý đồ, chiến lược riêng của mình, nhất là chiến lược của hai nước Mỹ – Trung. Các bên đều có sự đầu tư cho quốc phòng để sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự khi cần thiết. Thế nhưng, các bên cũng đều nhận thức được hậu quả nghiêm trọng nếu như xung đột quân sự xảy ra, do đó đều có sự kiềm chế. Việc Trung Quốc và Philippines đạt được “Thỏa thuận tạm thời” hồi tháng 7/2024 để “hạ nhiệt” căng thẳng ở Biển Đông có lẽ một phần cũng xuất phát từ nhận thức này. 2/ Các cơ chế đối thoại, hợp tác đã có như ASEAN, ADMM+, Đối thoại Shangri-La… dù hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế, nhưng sẽ tiếp tục được duy trì, góp phần làm ổn định tình hình. 3/ Các cách thức ứng xử trên Biển Đông đã có và đang được bàn thảo, như Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), hay Bộ qui tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) dù chưa phát huy hết hiệu quả, chưa hoàn thiện, nhưng vẫn là những nỗ lực nhằm giảm thiểu rủi ro. Trong cuộc họp báo bên lề kì họp “Lưỡng hội” của Trung Quốc ngày 09/3/2025, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho biết, vòng đọc thứ 3 của COC đã hoàn tất. Ông khẳng định: Trung Quốc sẵn sàng tăng cường đối thoại với các quốc gia ASEAN để hóa giải bất đồng, đạt được tiếng nói chung, sớm đạt được COC. Nếu Trung Quốc chân thành và thực tâm với lời hứa này, thì đây là tin tức tốt lành, sẽ làm tình hình Biển Đông ổn định hơn.

Hai là, về cân bằng lực lượng. Trung Quốc thường xuyên đổ lỗi cho Mỹ là nhân tố bên ngoài chủ yếu gây rắc rối và bất ổn ở Biển Đông. Thế nhưng, không thể phủ nhận, sự hiện diện của Mỹ và các đồng minh tại khu vực phần nào đó đã góp phần tạo ra sự cân bằng lực lượng nhất định, ngăn chặn hành động quân sự đơn phương thái quá của Trung Quốc ở Biển Đông. Thử hỏi, nếu Philippines không phải là đồng minh hiệp ước của Mỹ, không có “chiếc ô an ninh” từ Mỹ, không có sự ủng hộ của các nước đồng minh của Mỹ thì liệu Trung Quốc có để cho Manila “yên ổn”. Hơn nữa, trong bối cảnh sức ép cạnh tranh Mỹ – Trung ngày càng lớn, với quan điểm “không chọn bên”, các nước ASEAN cũng đang tăng cường năng lực quốc phòng để tự bảo vệ mình, trước khi “nhờ thiên hạ cứu”. Điều này cũng góp phần vào sự cân bằng lực lượng ở khu vực.

Ba là, về áp lực kinh tế. Thế giới ngày nay là thế giới phẳng, sự đan xen phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, các khu vực ngày càng lớn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ. Vì vậy, nếu xung đột xảy ra ở Biển Đông, sẽ gây tổn hại nặng nề cho kinh tế khu vực, ảnh hưởng đến lợi ích của tất cả các bên. Hiện nay, quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ với các nước ASEAN có sự phụ thuộc lẫn nhau rất lớn về kinh tế, nhất là về thương mại, đầu tư. Đây chính là yếu tố để hai bên có sự kiềm chế, tránh để xảy ra xung đột trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế.

Bốn là, tuy là địa bàn “trọng điểm” trong cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhưng tình hình hiện tại chưa cho phép Mỹ và Trung Quốc đẩy “nóng” vấn đề Biển Đông, từ đó có thể dẫn tới bùng nổ xung đột. Về phía Trung Quốc, sau khi ông D.Trump quay trở lại Nhà Trắng, cùng với Mexico và Canada, Trung Quốc đã “dính đòn” thuế quan đầu tiên của Mỹ giành cho các nước, và Mỹ sẽ còn tiếp tục “ra đòn” mạnh hơn thế nữa. Đương nhiên, Trung Quốc không chịu “ngồi yên” và đã có hành động đáp trả. Tại Biển Đông, do Tổng thống D.Trump chưa có một kế hoạch cụ thể nào, nên Trung Quốc ắt phải “nghe ngóng” đã, rồi mới tính đến các bước đi tiếp theo, tránh “chọc giận” và cùng lúc đối đầu với Mỹ trên nhiều lĩnh vực, mặt trận. Lúc này. Trung Quốc có làm gì ở Biển Đông cũng chủ yếu là để thăm dò phản ứng của chính quyền mới ở Mỹ, vì thế mọi hành động cũng phải có “chừng mực”. Về phía Mỹ, dù chưa có kế hoạch cụ thể ở Biển Đông, nhưng “hòa bình dựa trên sức mạnh” là phương châm chính sách đối ngoại của Chính quyền D.Trump 2.0, nên rất có thể đây là tín hiệu mà Mỹ muốn gửi đến Trung Quốc rằng, bất kỳ hành động “quá giới hạn” nào ở Biển Đông, như gây sức ép và cưỡng bức bằng sức mạnh quân sự với các đồng minh, đối tác của Mỹ ở vùng biển này, thì Bắc Kinh sẽ nhận lấy sự đáp trả mạnh hơn từ Mỹ, nhất là việc ra các “đòn” đánh thuế nặng vào các mặt hàng chủ lực của Trung Quốc. Có lẽ xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nên đến nay, vẫn chưa xuất hiện “tín hiệu” nào cho thấy Biển Đông sẽ là ưu tiên số 1 của ông D.Trump trong năm 2025. Hiện, ông D.Trump và đội ngũ của mình đang phải tập trung xử lý các vấn đề khác bức thiết hơn như thương mại, thuế quan, nhập cư, cuộc xung đột quân sự Nga – Ucraina, các vấn đề trong nội bộ nước Mỹ… Với tình hình như vậy nên trong năm 2025, cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ở Biển Đông vẫn tiếp tục diễn ra như chính sách hiện tại của hai nước. Vùng biển này vẫn “nóng” và không loại trừ một số rủi ro có thể xảy ra, nhưng hai bên sẽ có sự kiềm chế, tránh để bùng nổ xung đột. Tóm lại, Biển Đông năm 2025 vẫn là “điểm nóng” ở khu vực với các hoạt động chính là tranh chấp chủ quyền, cạnh tranh giữa các nước, nhất là Mỹ – Trung, hoạt động “chiến thuật vùng xám” của Trung Quốc, những thách thức về pháp lý, ngoại giao… Song, khả năng xảy ra bùng nổ xung đột lớn là thấp. Tuy không bùng nổ xung đột, nhưng rủi ro và thách thức vẫn tiềm ẩn. Nguyên nhân ở đây có thể do tính toán sai lầm; sự thay đổi lãnh đạo và chính sách ở các nước lớn có thể làm thay đổi cục diện Biển Đông; sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan; sự khó đoán định của cả Trung Quốc và Mỹ… Trong bối cảnh như vậy, để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển ở Biển Đông, thì việc tăng cường đối thoại, hợp tác và tuân thủ luật pháp quốc tế là rất quan trọng đối với tất cả các bên liên quan.

]]>
Chiến lược chống TQ ở khu vực của Trump và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/04/07/chien-luoc-chong-tq-o-khu-vuc-cua-trump-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Mon, 07 Apr 2025 13:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=148490 Sau Lễ nhậm chức hôm 20/1/2025, Tổng thống Mỹ Donald Trump đang nhanh chóng tìm cách định hướng lại chính sách đối ngoại trong nhiệm kỳ 2, chuyển trọng tâm chiến lược của Mỹ từ châu Âu và Trung Đông sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – khu vực ngày càng quan trọng trong việc định hình trật tự toàn cầu.

Tổng thống Trump đã tiếp đón các Thủ tướng Ấn Độ và Nhật Bản, đồng thời khởi xướng các nỗ lực chấm dứt chiến tranh Ukraine – một cuộc xung đột đã chuyển hướng sự chú ý của Mỹ khỏi các thách thức cấp bách ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, khiến Trung Quốc nhanh chóng lấp đầy khoảng trống.

Trong ngày đầu nhậm chức, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã tổ chức cuộc họp với các ngoại trưởng Nhóm Bộ Tứ – một liên minh chiến lược của các nền dân chủ hàng đầu Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà Trump đã hồi sinh trong nhiệm kỳ đầu của mình với tuyên bố tại Diễn đàn cấp cao APEC tại Đà Nẵng, Việt Nam vào năm 2017 sau một thập kỷ “đóng băng”. Trong khi đó, Mỹ có kế hoạch rút dần khỏi châu Âu. Ngày 12/2/2025 vừa qua tại Brussels, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã cảnh báo châu Âu rằng “Mỹ sẽ không còn dung thứ cho một mối quan hệ mất cân bằng khi quá phụ thuộc vào Mỹ và châu Âu phải chịu trách nhiệm về an ninh của chính mình”. Trong khi đó, tại Hội nghị An ninh Munich, Phó Tổng thống Mỹ JD Vance tiếp lời cảnh báo của Hegseth khi nhấn mạnh rằng “châu Âu cần thay đổi trước khi 100.000 binh sĩ Mỹ bắt đầu rút đi”.

Quan hệ đối tác chiến lược Mỹ-Ấn là nền tảng trong chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Washington từ nhiệm kỳ đầu của Trump – một tầm nhìn ban đầu được cố Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hình thành cho một “trật tự tự do dựa trên luật lệ”. “Quan hệ đối tác không giới hạn Nga-Trung” phát triển trong nhiệm kỳ của Tổng thống Joe Biden chỉ làm tăng thêm sứ mệnh chiến lược của Mỹ trong việc tạo ra một liên minh “mềm” với một cường quốc hạt nhân khác là Ấn Độ. Trong bối cảnh đó, cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Modi tại Washington ngày 12/2/2025 đã nhấn mạnh cam kết của cả hai nhà lãnh đạo trong việc khôi phục mối quan hệ Mỹ – Ấn.

Các đời tổng thống Mỹ kể từ thời Bill Clinton đã để lại mối quan hệ song phương với Ấn Độ mạnh mẽ hơn những gì họ thừa hưởng. Tuy nhiên, dưới thời Joe Biden, động lực đã chững lại khi những khác biệt nảy sinh, bao gồm cả sự miễn cưỡng của New Delhi trong việc chọn phe trong cuộc chiến Ukraine cũng như chính sách của Mỹ đối với các nước láng giềng của Ấn Độ, bao gồm Bangladesh, Myanmar và Pakistan. Kết quả chuyến thăm Nhà Trắng của Thủ tướng Ấn Độ Modi cho thấy sự khởi đầu tốt đẹp, hướng tới việc xây dựng lại lòng tin. Trump và Modi – duy trì mối quan hệ cá nhân nồng ấm mà họ đã phát triển trong nhiệm kỳ đầu – đã trao nhau cái ôm thắm thiết và thể hiện sự nhất trí cao tại cuộc họp báo chung. Đáng chú ý, họ đã tránh bất hòa về các vấn đề nóng của Trump như thương mại và nhập cư.

Giống như cuộc gặp với Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba hôm 7/2, Trump đã ca ngợi mối quan hệ song phương mạnh mẽ, đồng thời yêu cầu Modi thực hiện thương mại “công bằng” và cân bằng hơn, bao gồm cả việc Ấn Độ tăng cường nhập khẩu dầu và vũ khí của Mỹ. Theo phong cách quen thuộc, kết hợp giữa lời khen công khai và chiến thuật đàm phán cứng rắn, Trump ca ngợi Modi là “nhà đàm phán giỏi và cứng rắn hơn tôi nhiều”, giống như cách ông ca ngợi Ishiba là “một người rất mạnh mẽ, tôi ước gì ông ấy không mạnh mẽ đến vậy”.

Theo kế hoạch, Tổng thống Trump sẽ cùng với các Thủ tướng Nhật Bản và Australia đến Ấn Độ vào mùa Thu này để tham dự Hội nghị thượng đỉnh Bộ tứ. Trước khi đến đó, Trump hy vọng các nhà đàm phán sẽ đạt được tiến triển đáng kể về thỏa thuận thương mại Mỹ – Ấn Độ mà Modi đã cam kết tại Washington. Chiến lược này phản ánh cách tiếp cận trước đây của Trump trong việc tận dụng thuế quan để đảm bảo một hiệp định thương mại với Nhật Bản vào năm 2019.

Khi Mỹ chuyển trọng tâm sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, việc tăng cường quan hệ với Ấn Độ và Nhật Bản (hai đối thủ chiến lược của Trung Quốc) sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Cán cân quyền lực trong khu vực này sẽ phần lớn được định hình bởi những diễn biến tại Đông Á và Ấn Độ Dương. Nhật Bản – nơi có hơn 80 cơ sở quân sự của Mỹ và nhiều binh sĩ Mỹ đồn trú tại đây hơn bất kỳ đồng minh nào khác – sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ Đài Loan. Nếu Trung Quốc sáp nhập thành công Đài Loan sẽ chấm dứt sự thống trị toàn cầu của Mỹ. Trong khi đó, Ấn Độ – vốn bị kẹt trong thế bế tắc quân sự dai dẳng với Trung Quốc – đã tích cực thách thức quyền lực và năng lực của Bắc Kinh theo cách mà không quốc gia nào khác làm được trong thế kỷ này.

Thực ra từ năm 2011, Tổng thống Barack Obama khi đó đã công bố chiến lược “xoay trục sang châu Á” nhưng chủ yếu vẫn mang tính hùng biện, thiếu các sáng kiến chiến lược thực chất. Đến khi Trump nhậm chức Tổng thống đầu năm 2017, ông đã thay thế sự xoay trục mang tính biểu tượng của Obama bằng một chiến lược toàn diện hướng tới một “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” vào cuối năm 2017. Trump cũng đã định nghĩa lại cơ bản chính sách của Mỹ đối với Bắc Kinh, đảo ngược cách tiếp cận kéo dài 4 thập kỷ của Mỹ là hỗ trợ sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc bằng cách coi quốc gia này là “đối thủ chính và mối đe dọa chiến lược”. Biden duy trì cách tiếp cận này, tiếp tục thúc đẩy chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, trong đó Bộ tứ là trụ cột chính, đồng thời thừa nhận Trung Quốc là “đối thủ chính của Mỹ đang muốn thống trị thế giới”. Tuy nhiên, sự can dự của chính quyền Biden trong các cuộc xung đột ở Ukraine và Trung Đông đã để lại ít không gian cho sự chuyển hướng thực sự sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 đang ưu tiên giải quyết các xung đột Ukraine và Trung Đông để tập trung vào Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nơi quyền tối cao toàn cầu của Mỹ đang bị đe dọa. Việc chấm dứt can dự vào các cuộc xung đột sẽ giải phóng các nguồn lực quân sự cho Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là từ châu Âu. Giáo sư Alejandro Rayran Cortés thuộc Đại học Externado của Colombia nhấn mạnh sự thay đổi trong thiện chí đàm phán với Nga của Mỹ thể hiện chiến lược tách Moskva khỏi Bắc Kinh của Nhà Trắng. Biện pháp này phản ánh ý định của Washington đối với việc tập trung nguồn lực để cạnh tranh với Trung Quốc và cắt giảm các cam kết tài chính khác.

Giới phân tích nhận định, chiến lược của Mỹ từ lâu là tập trung vào việc gây chia rẽ giữa Moskva và Bắc Kinh – một chiến lược giúp phương Tây giành chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh mà không cần đối đầu quân sự trực tiếp. Tuy nhiên, những chính sách của Mỹ dưới thời Biden đã “vô tình” trở thành “cầu nối gắn kết Nga-Trung”. Việc chấm dứt chiến tranh Ukraine có thể tạo cơ hội cho Washington tách Moskva khỏi Bắc Kinh hoặc làm suy yếu quan hệ đối tác Nga – Trung để cô lập Trung Quốc. Quan trọng hơn, điều đó sẽ cho phép Mỹ tập trung ngăn chặn thách thức từ một Trung Quốc đang trỗi dậy trên toàn cầu, với sự hỗ trợ từ các đồng minh như Nhật Bản hay các đối tác chiến lược như Ấn Độ – quốc gia đang trỗi dậy như một cường quốc độc lập phù hợp với thái độ của chính quyền Trump.

Sự chuyển hướng trọng tâm chiến lược của Tổng thống Mỹ Donald Trump từ châu Âu sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, tập trung nhằm vào Trung Quốc đem lại những tác động tích cực tới cục diện Biển Đông thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, chiến lược này của Washington giúp xoá đi mối lo ngại về việc chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 có thể “bỏ rơi” các đồng minh ở châu Á và Biển Đông. Hiện khi chính quyền Trump 2.0 chưa có những biện pháp cụ thể ở khu vực này khiến Bắc Kinh đang ráo riết tận dụng để “lộng hành”, việc Bắc Kinh liên tiếp tiến hành tập trận bắn đạn thật ở Vịnh Bắc Bộ, xung quanh Đài Loan và ở Biển Tasman trong 1 tuần cuối tháng 2 vừa qua, đồng thời tiếp tục các hoạt động gây hấn với Philippines ở Biển Đông là một minh chứng. Tuy nhiên, một khi Mỹ tập trung nhiều hơn vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong thời gian tới sẽ khiến Trung Quốc phải lo ứng phó chứ không còn rảnh tay để bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông.

Thứ hai, với việc chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nhóm Bộ tứ sẽ được củng cố tăng cường (như nêu trên) để bao vây Trung Quốc. Ngoài ra, Mỹ có thể sử dụng các thoả thuận song phương với các đồng minh khu vực như Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand và Philippines để ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc. Giới chuyên gia nhận định Mỹ sẽ tìm mọi cách để kiểm soát không để Trung Quốc vượt qua chuỗi đảo thứ nhất đe doạ vai trò, vị thế độc tôn của Mỹ ở khu vực. Nói cách khác Mỹ sẽ tăng cường hoạt động của hải quân và không quân Mỹ ở Biển Đông, bao gồm FONOP, tuần tra và tập trận chung để quốc tế hoá vấn đề Biển Đông.

Thứ ba, Philippines – một đồng minh lâu năm của Mỹ ở khu vực – được coi là nhân tố quan trọng để Mỹ triển khai chiến lược ở khu vực, và như vậy Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines năm 1951 sẽ tiếp tục được củng cố, đồng thời quân đội Mỹ sẽ tích cực sử dụng quyền tiếp cận các căn cứ quân sự của Philippines để khống chế Trung Quốc. Điều này không chỉ là chỗ dựa cho Philippines và hỗ trợ các nước ven Biển Đông khác trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông.

Mặt khác, Mỹ sẽ khuyến khích Philippines tự nâng cao năng lực quốc phòng với sự hỗ trợ của Mỹ, kể cả việc trang bị hệ thống tên lửa tầm trung Typhon như các quan chức Philippines đã đề cập. Rõ ràng điều này tạo đối trọng lớn đối với Trung Quốc ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan.

Thứ tư, chuyển hướng vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Washington sẽ đề cao tinh thần thượng tôn pháp luât, điều mà Bắc Kinh đang tìm cách thoái thác để phá vỡ nguyên trạng. Điều này là có lợi cho các nước nhỏ ven Biển Đông để đối phó với Trung Quốc. Có thể nhận thấy rõ, chính dưới thời nhiệm kỳ đầu của Trump, Washington đã lần đầu tiên đưa ra quan điểm pháp lý chính thức trên vấn đề Biển Đông qua Công hàm gửi lên Liên hợp quốc thang 6/2020 và Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ tháng 7/2020.

Việc làm này của Mỹ đã kéo theo nhiều đồng minh khác như Australia, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, New Zealand gửi công hàm lên Liên hợp quốc thể hiện rõ quan điểm pháp lý trên các vấn đề Biển Đông, trong đó bác bỏ yêu sách “đường chin đoạn” của Trung Quốc. Với chiến lược chống Trung Quốc ở khu vực, bên cạnh việc, tiếp tục cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, gia tăng sức mạnh quân sự của Mỹ ở khu vực, chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, kể cả qua các hoạt động FONOP. Vi phạm luật pháp quốc tế là điểm yếu của Bắc Kinh mà các nước ven Biển Đông có thể đồng hành cùng Mỹ để thách thức Trung Quốc. Tóm lại, với việc chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhằm chống lại Trung Quốc sẽ tác động tích cực tới cục diện Biển Đông và góp phần duy trì trật tự dựa trên pháp luật, bảo đảm tự do, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông.

]]>
Cải thiện quan hệ với Mỹ, Campuchi có thể phát huy vai trò đối với an ninh Biển Đông https://biendong.net/2025/03/01/cai-thien-quan-he-voi-my-campuchi-co-the-phat-huy-vai-tro-doi-voi-an-ninh-bien-dong/ Sat, 01 Mar 2025 02:52:20 +0000 https://biendong.net/?p=149007 Từ ngày 16-20/12/2024, chiến hạm USS Savannah của Mỹ đã cập cảng Preah Sihanouk, dấu hiệu của sự tái khởi đầu quan hệ Hải quân Mỹ-Campuchia sau 8 năm gián đoạn. Giới phân tích và quan sát nhận định những diễn biến mới nhất này cho thấy đây là nỗ lực của Chính phủ Campuchia nhằm thích ứng với bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa Mỹ và Trung Quốc và việc cải thiện quan hệ với Mỹ có thể khiến Campuchia phát huy vai trò trong việc duy trì an ninh ở Biển Đông.

Ear Sophal, Phó trưởng khoa, trợ giảng tại Trường Quản lý Toàn cầu Thunderbird thuộc Đại học bang Arizona (Mỹ), nhận định sự trở lại của chiến hạm USS Savannah cho thấy chuyển biến đáng ghi nhận trong quan hệ Campuchia-Mỹ, tượng trưng cho nỗ lực tăng cường quan hệ song phương sau nhiều năm trắc trở. Ear Sophal đánh giá: “Chuyến thăm này rất quan trọng, nó phát đi tín hiệu cho thấy Mỹ sẵn sàng nối lại quan hệ với Campuchia ở cấp độ chiến lược. Và sự cởi mở của Campuchia có vẻ như hướng tới mục tiêu cân bằng quan hệ địa chính trị của nước này, trong bối cảnh không còn các khoản vay của Trung Quốc. Trong năm 2024 này, không ghi nhận dòng tiền từ Trung Quốc đổ sang Campuchia nữa”.

Đứng trước chiến hạm USS Savannah tại cảng Preah Sihanouk hôm 16/12, Đô đốc Samuel J. Paparo, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nhấn mạnh: “Campuchia là quốc gia có biển và Campuchia có lãnh hải riêng. Campuchia có vùng đặc quyền kinh tế với các quyền độc lập. Xuất phát từ hiện thực đó, Campuchia có vai trò trong an ninh hàng hải, cũng như ở Biển Đông, tương tự các quốc gia ven biển khác”. Ông Paparo cho rằng: “Campuchia là thành viên của ASEAN. Chính sách của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN, thể hiện sự tôn trọng đối với ASEAN trên danh nghĩa một tổ chức quốc tế. Do đó, tất nhiên, câu chuyện ở đâu Mỹ có thể hợp tác được, chính là thông qua chủ quyền của Campuchia, theo góc nhìn phổ quát, góp phần duy trì an ninh hàng hải vì lợi ích chung của thế giới, cũng như ở Biển Đông”.

Trong thời gian ở Campuchia, Đô đốc Samuel J. Paparo đã có các cuộc gặp, thảo luận với các nhà lãnh đạo quân sự Campuchia, trong đó có Tướng Vong Pisen – Tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia Campuchia và Thủ tướng Campuchia Hun Manet. Tại cuộc họp báo hôm 17/12, Đô đốc Samuel J. Paparo cũng cho biết Mỹ tiếp tục chờ xem thái độ ứng xử của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tại căn cứ hải quân Ream của Campuchia. Tuy nhiên, ông cho biết Mỹ tôn trọng quyết định hợp tác với Trung Quốc của Campuchia và vào thời điểm thích hợp, Mỹ có thể đến thăm Ream, để tìm hiểu kĩ hơn về các hoạt động của Trung Quốc ở nơi đó.

Theo Đô đốc Samuel J. Paparo, mọi chuyến thăm và hoạt động quân sự của Mỹ với Campuchia đều không nhằm đáp trả bất kỳ bên nào khác, chỉ là hoạt động giao thiệp thuần túy với người bạn có chủ quyền là Campuchia, nước đã tiếp nhận 27 tàu chiến của Mỹ kể từ năm 2007. Ông Paparo cho biết trong các cuộc gặp, hai bên đã trao đổi nội dung mở rộng hợp tác và nhận thức về các khu vực trên biển, cam kết tìm giải pháp trao đổi thông tin về các vùng biển và việc mở rộng các chương trình diễn tập quân sự, cũng như khả năng tái khởi động các cuộc tập trận quân sự chung từng tiến hành trước đây, đặc biệt là hoạt động tập trận quân sự trên không và cuộc diễn tập quân sự “Người gác đền Angkor”.

Tại cuộc gặp với Đô đốc Samuel J. Paparo, Tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia Campuchia – Tướng Vong Pisen đã đề nghị Mỹ xem xét khả năng nối lại các cuộc tập trận chung “Người gác đề Angkor” và “Thiên thần Thái Bình Dương” (Pacific Angel), cùng các phần việc khác như trao đổi thông tin phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tiếp tục tìm kiếm hài cốt của người Mỹ mất tích trên lãnh thổ Campuchia trong chiến tranh.

Trong một diễn biến khác, ngày 17/12/2024, sau cuộc gặp với bà Bridgette Walker, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Mỹ tại Phnom Penh, Chủ tịch Thượng viện Hun Sen cho biết với sự trở lại của chính phủ Mỹ dưới thời Donald Trump, hy vọng trong thời gian tới, các lĩnh vực hợp tác giữa Campuchia và Mỹ sẽ được tăng cường và mở rộng hơn nữa. Những bài học cũ là kinh nghiệm để xác định quan hệ tương lai của hai quốc gia, đặc biệt là vấn đề xây dựng lòng tin Campuchia-Mỹ bằng cách xem xét nhiều ưu tiên hợp tác khác nhau, trong đó có lĩnh vực kinh tế và đầu tư. Sự hiện diện của chiến hạm USS Savannah tại Campuchia cũng thể hiện mối quan hệ tốt đẹp trong lĩnh vực quốc phòng và quân đội, bên cạnh các lĩnh vực hợp tác hiện có.

Việc tàu USS Savannah đến thăm Campuchia là kết quả của chuyến thăm Campuchia của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin hồi đầu tháng 6/2024. Trong chuyến thăm, Bộ trưởng Lloyd Austin trao đổi với Thủ tướng Hun Manet các lãnh đạo Campuchia về vấn đề hợp tác quốc phòng. Ông Lloyd Austin tuyên bố Mỹ sẽ nối lại việc đón sinh viên Campuchia theo học tại Học viện Quân sự West Point, trao đổi các chương trình trong lĩnh vực quân sự như các cuộc diễn tập chung về cứu hộ thảm họa, tiếp tục huấn luyện rà phá bom mìn, đối thoại về chính sách quốc phòng… Đây được xem là bước đi đầu tiên để giải quyết những khác biệt nhằm xây dựng lòng tin mạnh mẽ hơn giữa hai nước trên tinh thần đôi bên cùng có lợi.

Giới chuyên gia cho rằng sự trở lại của tàu chiến Mỹ là nỗ lực không thể phủ nhận của Campuchia nhằm khôi phục quan hệ Campuchia-Mỹ. Động thái này thể hiện sự điều chỉnh trong chính sách ngoại giao của Campuchia. Trong nhiều năm qua, giới quan sát nhận thấy Campuchia phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ từ chính phủ Trung Quốc, vốn đã tuyên bố chung xây dựng cộng đồng chung vận mệnh với người dân Campuchia. Những diễn biến mới nhất trong quan hệ Campuchia-Mỹ là một phần trong nỗ lực của quốc gia Đông Nam Á này nhằm thể hiện rõ cách tiếp cận cân bằng hơn trong chính sách đối ngoại. Trong khi Campuchia vẫn là đồng minh sâu sắc với Trung Quốc về mặt kinh tế và chính trị, chuyến thăm của chiến hạm vào lúc này giúp thể hiện hình ảnh về tính trung lập trong mối quan hệ với các cường quốc khác. Thông qua việc chào đón chiến hạm USS Savannah, Campuchia đang phát đi tín hiệu với thế giới rằng họ không muốn bị coi là nằm dưới ảnh hưởng của mỗi Trung Quốc. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh leo thang căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc.

Ông Ear Sophal, Phó trưởng khoa thuộc Đại học bang Arizona (Mỹ), chỉ ra 3 yếu tố khiến Campuchia thay đổi lập trường chính sách đối ngoại đối với Mỹ: một là, việc Campuchia phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc đã dẫn tới rủi ro cho nền kinh tế và chính trị, trong đó nguồn đầu tư từ Trung Quốc đang sụt giảm, cụ thể là việc đình chỉ các khoản vay trong năm 2024 này; hai là, sự quan tâm của quốc tế đối với căn cứ hải quân Ream đã làm dấy lên lo ngại về sự hiện diện quân sự của Trung Quốc, có thể buộc Campuchia phải triển khai thực hiện nhiều giải pháp để tái cam kết với Mỹ và các quốc gia láng giềng Đông Nam Á về tính trung lập của mình; ba là, có khả năng chính phủ mới của Hun Manet đang muốn thể hiện mình thông qua những quyết sách dựa trên bối cảnh tình hình thực tế, đồng thời tỏ ra cởi mở hơn trong mối quan hệ với phương Tây nhằm củng cố vị thế của Campuchia trên trường quốc tế.

Giới phân tích nhận việc cải thiện quan hệ Campuchia-Mỹ không chỉ có lợi cho Phnom Penh mà có những tác động tích cực đối với an ninh Biển Đông và khu vực. Đây là điều không chỉ là mong muốn của các nước trong khu vực mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với Mỹ và các đồng minh cũng như cả cộng đồng quốc tế, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Campuchia nằm ở một vị trí địa chính trị rất quan trọng đối với an ninh khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nhất là đối với Biển Đông trong bối cảnh Mỹ đang tìm cách bảo vệ vai trò vốn có của mình ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trước sự nổi lên của siêu cường Trung Quốc. Việc Campuchia cải thiện quan hệ với Mỹ giúp nước này giảm đi sự phụ thuộc vào Trung Quốc. Đây là yếu tố quan trọng giảm nhẹ ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực bởi lâu nay Campuchia được coi là , có thể góp phần giảm căng thẳng ở Biển Đông.

Chuyên gia địa chính trị Seng Vanly nhận định: “Do nằm trong khu vực xung đột, như Biển Đông, Campuchia như một khu vực ‘béo bở’ đối với Trung Quốc để giúp nước này mở rộng ảnh hưởng quân sự. Vì vậy, Mỹ nhận thấy Campuchia đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực nếu như Campuchia có thể cân bằng mối quan hệ an ninh và quân sự, không phụ thuộc quá nhiều vào an ninh và quân sự của Trung Quốc. Nếu Campuchia phụ thuộc vào hợp tác an ninh và quân sự, hoặc thậm chí tiến tới cung cấp các căn cứ quân sự cho Trung Quốc, điều đó sẽ làm lung lay sự ổn định và an ninh trong khu vực”.

Thứ hai, lâu nay, Campuchia được cho là “cánh tay nối dài” của Trung Quốc trong ASEAN. Điều này ảnh hưởng nhiều đến sự đồng thuận thống nhất trong ASEAN, nhất là trên vấn đề Biển Đông. Do quá lệ thuộc vào Trung Quốc, Campuchia đã nhiều lần tiếp tay cho Bắc Kinh cản trở việc chỉ trích các hành vi hung hăng của Trung Quốc nhắm vào các nước ven Biển Đông trong ASEAN. Tiêu biểu là năm 2012 với vai trò Chủ tịch ASEAN, dưới áp lực của Bắc Kinh, Phnom Penh đã ngăn cản việc đưa nội dung liên quan tới Biển Đông vào Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao để lần đầu tiên không ra được Thông cáo chung….

Việc Campuchia cải thiện quan hệ với Mỹ, giảm sự lệ thuộc vào Trung Quốc khiến Phnom Penh có thể thể hiện công bằng, khách quan hơn trên hồ sơ Biển Đông. Điều này khiến ASEAN có thể phát huy vai trò quan trọng đối với an ninh ở Biển Đông. Một số chuyên gia cho rằng vai trò trung tâm của ASEAN cũng có thể bị ảnh hưởng nếu Campuchia không cân bằng được mối quan hệ quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ. Washington đã nhiều lần lưu ý các quốc gia thành viên ASEAN rằng Mỹ có vai trò trong việc duy trì sự thịnh vượng của ASEAN cũng như vai trò trung tâm của khối, và nếu bất kỳ quốc gia nào đi chệch khỏi nguyên tắc đó, sự ổn định và an ninh trong khối ASEAN có thể gặp rủi ro.

Thứ ba, một vấn đề được dư luận quốc tế quan tâm thời gian qua là quân cảng Ream ở Sihanoukvill, Campuchia liệu có thể trở thành căn cứ quân sự của Trung Quốc sau khi Bắc Kinh đầu tư nhiều tiền bạc để nâng cấp quân cảng này hay không. Nhiều chuyên gia, học giả quốc tế đã có những bài viết cho rằng nếu quân cảng Ream trở thành căn cứ quân sự của Trung Quốc sẽ tác động nhiều mặt tới an ninh khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói chung và hoà bình, ổn định ở Biển Đông nói riêng. Một số chuyên gia còn cảnh báo nếu quân cảng Ream trở thành căn cứ quân sự của Trung Quốc, nó sẽ được sử dụng để tạo ưu thế trong một cuộc xung đột xảy ra ở Biển Đông, thậm chí cả đối với một cuộc chiến ở Eo biển Đài Loan. Việc Campuchia cải thiện quan hệ với Mỹ, trong đó có quan hệ quốc phòng có thể trở thành yếu tố quan trọng ngăn cản Bắc Kinh lập căn cứ quân sự ở quân cảng Ream. Đây là điều có lợi cho an ninh Biển Đông và khu vực. Giới chuyên gia nhận định với tư cách là một quốc gia có biển và là thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật biển từ năm 2019, Campuchia hoàn toàn có thể phát huy vai trò trong việc duy trì an ninh ở Biển Đông nếu nước này giữ được sự cân bằng trong quan hệ với 2 cường quốc Mỹ và Trung Quốc và có lập trường khách quan, công tâm trên vấn đề Biển Đông, tránh sức ép từ Bắc Kinh.

]]>
Hàn Quốc can dự sâu hơn vào Biển Đông https://biendong.net/2024/12/01/han-quoc-can-du-sau-hon-vao-bien-dong/ Sun, 01 Dec 2024 01:18:00 +0000 https://biendong.net/?p=141781 Trong bối cảnh những thách thức an ninh ngày càng gia tăng trong khu vực, Trung Quốc gia tăng các hoạt động hung hăng, gây hấn nhằm vào Philippines ở Biển Đông, ngày 7/10/2024, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol và người đồng cấp Philippines Ferdinand Marcos Jr đã nhất trí thúc đẩy hợp tác quốc phòng khi hai nước nâng cấp mối quan hệ lên thành quan hệ đối tác chiến lược.

Trong cuộc hội đàm tại Phủ tổng thống Philippines, hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về một loạt vấn đề, từ tranh chấp Biển Đông đến tình hình Bán đảo Triều Tiên, sau đó chứng kiến lễ ký thỏa thuận hợp tác về tuần tra trên biển và năng lượng hạt nhân.

Phát biểu tại cuộc họp báo chung, Tổng thống Yoon Suk Yeol nói: “Tổng thống Marcos và tôi đã mở ra một chương mới trong quan hệ đối tác giữa hai nước bằng việc nâng mối quan hệ lên đối tác chiến lược”. Tổng thống Yoon nhấn mạnh ông và người đồng cấp Philippines đã nhất trí quan điểm duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật pháp, bao gồm bảo đảm an toàn hàng hải trên Biển Đông. Ông nói: “Chúng tôi chia sẻ sự hiểu biết chung về tầm quan trọng của hòa bình, ổn định và an toàn ở Biển Đông. Hai nước chúng ta sẽ tiếp tục hợp tác với nhau để thiết lập một trật tự hàng hải dựa trên luật lệ và vì quyền tự do hàng hải và hàng không theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế ở Biển Đông”. Tổng thống Yoon cho biết Hàn Quốc sẽ tích cực tham gia vào giai đoạn cuối cùng của chương trình hiện đại hóa lực lượng của Philippines, với mức đầu tư nhiều tỷ USD.

Giới quan sát nhận định, chuyến thăm của Tổng thống Hàn Quốc tới Philippines cho thấy tham vọng của Seoul trong việc đóng vai trò chủ động hơn với tư cách là một cường quốc tầm trung và chống lại chủ nghĩa bành trướng khu vực của Trung Quốc, cũng như ý định của Seoul thắt chặt quan hệ với các quốc gia “cùng chí hướng” như Mỹ, Nhật Bản và Australia, để đảm bảo một khu vực Tây Thái Bình Dương “tự do, rộng mở và dựa trên luật lệ”.

Tuyên bố chung được đưa ra sau cuộc hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo không đề cập trực tiếp đến Trung Quốc song nêu rõ: “Hàn Quốc và Philippines chia sẻ quan ngại về các hành động ở Biển Đông không phù hợp với trật tự quốc tế dựa trên luật pháp, làm suy yếu sự hòa bình và thịnh vượng. Hai nước phản đối việc quân sự hóa các thực thể được cải tạo, việc sử dụng nguy hiểm các tàu cảnh sát biển và dân quân biển, cũng như các hoạt động cưỡng bức”. Lực lượng bảo vệ bờ biển của Hàn Quốc và Philippines cũng đã ký thỏa thuận không ràng buộc về hợp tác an ninh hàng hải, bao gồm chống tội phạm xuyên quốc gia, chia sẻ thông tin và các hoạt động tìm kiếm cứu nạn chung. Đây là lần đầu tiên Hàn Quốc thể hiện quan điểm mạnh mẽ trên vấn đề Biển Đông với một quốc gia Đông Nam Á – nước đang chịu sức ép lớn nhất từ các hành vi hung hăng của Bắc Kinh.

Theo nhà phân tích địa chính trị Don McLain Gill, giảng viên nghiên cứu quốc tế tại Đại học De La Salle ở Manila, chuyến thăm phản ánh cam kết ngày càng tăng của Hàn Quốc trong việc đưa chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vào thực tiễn. Ông Don McLain Gill cho biết chuyến thăm là một chỉ dấu quan trọng về sự phát triển mạnh mẽ của mối quan hệ giữa Philippines-Hàn Quốc trong bối cảnh căng thẳng Philippines-Trung Quốc gia tăng ở Biển Đông và vấn đề Biển Đông đang là “mối quan tâm cấp bách” đối với Philippines. Ông nêu rõ: “Manila và Seoul nhận ra mối đe dọa từ Trung Quốc và Seoul đã trở nên quyết đoán hơn trong lập trường chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là một sự thay đổi tích cực cho thấy Seoul nhận ra rằng nước này không thể chỉ đứng ngoài cuộc”.

Ông Sherwin Ona, giáo sư khoa học chính trị thuộc Đại học De La Salle ở Manila, cho rằng sự hiện diện của Tổng thống Yoon tại Philippines đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh căng thẳng leo thang ở Biển Đông. Ông Sherwin Ona dự đoán rằng chuyến thăm sẽ dẫn đến tăng cường hợp tác an ninh, có khả năng mở đường cho việc ký kết Thỏa thuận các Lực lượng thăm viếng giữa hai nước. Năm 1999, Philippines đã ký Thỏa thuận các Lực lượng thăm viếng với Mỹ, theo đó cung cấp khuôn khổ pháp lý cho các cuộc tập trận quân sự chung quy mô lớn và triển khai tạm thời các lực lượng quân sự Mỹ tại Philippines. Trong những tháng gần đây, Philippines cũng đã tăng cường quan hệ quốc phòng với Nhật Bản. Mới đây, hai nước đã ký Thỏa thuận Tiếp cận đối ứng nhằm tạo điều kiện cho việc huấn luyện quân đội giữa hai nước và hỗ trợ lẫn nhau trong ứng phó với các thảm họa thiên nhiên, mở đường cho các cuộc tập trận quân sự lớn hơn giữa các lực lượng Philippines và Nhật Bản.

Ông Abdul Rahman Yaacob, chuyên gia về an ninh và quan hệ với các cường quốc thuộc Viện Lowy có trụ sở tại Australia, cho rằng Hàn Quốc là đối tác an ninh quan trọng của Philippines và chuyến thăm này sẽ mở rộng hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này. Theo chuyên gia Yaacob, Hàn Quốc là nhà cung cấp thiết bị quân sự quan trọng cho lực lượng vũ trang Philippines, nên trong tương lai, Philippines mua thêm nhiều thiết bị và hệ thống quân sự của Hàn Quốc vì chúng có xu hướng rẻ hơn so với các lựa chọn thay thế do Mỹ sản xuất. Ông Yaacob nhận định, xu hướng này phù hợp với mong muốn hiện đại hóa lực lượng vũ trang của Philippines, đặc biệt là khi các nền tảng của Hàn Quốc như máy bay FA-50 vừa có giá phải chăng vừa có năng lực chiến đấu.

Hàn Quốc đang nỗ lực thực hiện mục tiêu trở thành nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ 4 thế giới vào năm 2027. Cuộc xung đột Nga-Ukraine, tình hình căng thẳng ở châu Á và chiến tranh ở Trung Đông tạo cơ hội cho Seoul ký thêm những hợp đồng bán vũ khí mới. Seoul đã bán cho Manila các máy bay chiến đấu FA-50, tàu hộ tống và tàu khu trục. Trong giai đoạn thứ 3 của kế hoạch hiện đại hóa, quân đội Philippines dự kiến sẽ mua những khí tài hiện đại như máy bay chiến đấu, tàu ngầm và hệ thống tên lửa, nhằm tăng cường năng lực bảo vệ chủ quyền và bảo đảm an ninh trên biển.

Ông Kang Jun-young, giáo sư nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Ngoại ngữ Hankuk ở Seoul cho rằng, mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Hàn Quốc và Philippines có ý nghĩa quan trọng vì nó được định vị ở mức hợp tác cao nhất. Ông Kang Jun-young đánh giá: “Bằng cách hình thành quan hệ đối tác chiến lược, các vấn đề khác ngoài quan hệ song phương luôn có thể được thảo luận trong chương trình nghị sự chính thức. Hợp tác an ninh giữa Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Philippines cũng có thể được tăng cường, đặc biệt khi Mỹ theo đuổi liên minh theo mô hình “mạng lưới” và tăng cường quan hệ với Philippines về vấn đề Biển Đông”.

Theo ông Stephen Nagy, chuyên gia khách mời tại Viện Quan hệ Quốc tế Nhật Bản, Philippines đang cố gắng gửi tín hiệu tới Trung Quốc rằng “Philippines có các đồng minh mạnh mẽ”; tuy nhiên, ngay cả trong bối cảnh như vậy, Bắc Kinh vẫn có khả năng đáp trả. Ông nhận định, mặc dù Trung Quốc dự kiến sẽ “tạm thời” giảm áp lực, nhưng ngay khi những đồng minh rời khỏi vùng lân cận Philippines, Trung Quốc sẽ có xu hướng thăm dò và leo thang hành động của họ bằng cách sử dụng các chiến thuật kết hợp. Ông Nagy nhấn mạnh: “Chúng ta sẽ thấy tình trạng này tiếp tục diễn ra cho đến khi Philippines, các đối tác và đồng minh của nước này tạo ra mạng lưới hợp tác lâu dài trong khu vực để đẩy lùi hành vi quyết đoán của Trung Quốc, hoặc cho đến khi Trung Quốc thành công trong việc đảm bảo lợi ích lãnh thổ”.

Ông Collin Koh, chuyên gia kỳ cựu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (Singapore) nhận định, thỏa thuận với Philippines đánh dấu một bước ngoặt đối với Hàn Quốc trên Biển Đông. Ông Koh nói: “Trong nhiều thập kỷ, Hàn Quốc phần lớn đã bị kìm hãm bởi những lo ngại an ninh ở Bán đảo Triều Tiên. Với những ưu tiên chiến lược hiện nay, Hàn Quốc đang tăng cường hiện diện ở khu vực Biển Đông”. Ông Koh tiết lộ thêm rằng, Manila cũng muốn ký một thỏa thuận tiếp cận có đi có lại với Seoul giống như đã làm với Tokyo hồi tháng 7/2024, để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các thiết bị quân sự và quân đội Philippines đến lãnh thổ nước khác huấn luyện chiến đấu và ứng phó thảm họa.

Theo ông Gregory Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á và Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Washington), sự thất vọng của Seoul và Manila trước hành vi của Bắc Kinh đã thúc đẩy họ tăng cường liên minh. Ông Poling nhận định: “Hàn Quốc là đối tác quốc phòng hàng đầu của Philippines về mặt thương mại. Đặc biệt, các nền tảng tiên tiến nhất của cả Hải quân và Không quân Philippines đều do Hàn Quốc sản xuất. Do đó, nhiều khả năng mối quan hệ hợp tác mới được thiết lập sẽ khiến quân đội hai bên tăng cường việc chia sẻ thông tin, tập trận chung và huấn luyện”.

Một số chuyên gia nhận định quan hệ đối tác giữa Seoul và Manila không nhắm trực tiếp vào Trung Quốc mà nhằm vào các mối nguy hiểm ở Biển Đông. Đi theo định hướng chiến lược của Mỹ và để chia sẻ trách nhiệm đồng minh với Mỹ, Hàn Quốc đang thông qua Philippines để can dự sâu hơn vào Biển Đông. Tuy nhiên, Philippines có thể sẽ đối mặt với một số phản ứng từ Trung Quốc do hợp tác với đồng minh của Mỹ để thách thức sự thống trị của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Sau khi thăm Philippines, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol tới thăm Singapore và tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN mở rộng tại Lào. Ở cả Singapore và Lào, ông Yoon Suk Yeol đều khẳng định tầm quan trọng của an ninh hàng hải và thúc đẩy tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, đồng thời ủng hộ việc duy trì nguyên trạng và giải quyết những tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trong bài phát biểu tại Singapore, ông Yoon Suk Yeol nhấn mạnh: “Tôi chắc rằng mỗi người trong số các bạn ở đây đều đánh giá cao giá trị của việc không bị ép buộc, không bị đơn phương thay đổi hiện trạng, không phải chứng kiến tin tức giả mạo và thông tin sai lệch làm méo mó dư luận”. Tổng thống Yoon Suk Yeol đã tận dụng Hội nghị cấp cao ASEAN-Hàn Quốc tại Lào để khuyến khích các quốc gia bảo vệ hòa bình, ổn định, thịnh vượng và trật tự dựa trên luật lệ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; nhất trí với lãnh đạo các nước ASEAN nâng cấp quan hề Hàn Quốc-ASEAN lên đối tác chiến lược toàn diện.

Đánh giá về kết quả chuyến công du Đông Nam Á của Tổng thống Yoon Suk Yeol, hôm 15/10, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hàn Quốc cho biết các bước đi của ông Yoon trong chuyến công du phản ánh “ý chí tăng cường hợp tác với các nước ASEAN trên mọi phương diện” của Hàn Quốc, bao gồm “thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng”; nhấn mạnh Hàn Quốc sẽ tiếp tục giúp duy trì an ninh hàng hải trên cơ sở trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông trong lúc xây dựng lòng tin và tăng cường liên lạc chiến lược với Trung Quốc.

Ông Rahman Yaacob, nghiên cứu viên của chương trình Đông Nam Á tại Viện Lowy Australia nhận định Hàn Quốc “có thể đóng một vai trò thích hợp trong việc nâng cao năng lực phòng thủ của các quốc gia trong khu vực để bảo vệ vùng biển của họ trước sự xâm nhập của Trung Quốc”. Ông Yaacob cho rằng: “Các hệ thống vũ khí của Hàn Quốc rẻ hơn của Mỹ và đang được một số quốc gia NATO sử dụng. Do đó, Seoul có thể là nhà cung cấp vũ khí quan trọng cho các nước trong khu vực thay thế cho vũ khí của Mỹ”.

  Giới phân tích nhân định việc Tổng thống Yoon Suk Yeol cam kết giúp hiện đại hóa quân đội Philippines, đồng ý để Hàn Quốc tham gia tích cực vào các cuộc tập trận đa phương ở khu vực và Biển Đông là dấu hiệu cho thấy Hàn Quốc can dự sâu hơn vào Biển Đông. Ngay sau chuyến đi Đông Nam Á, ngày 15/10/2024 Hàn Quốc đã lần đầu tiên cùng với Mỹ, Philippines, Australia, Anh, Nhật Bản tham gia cuộc tập trận chung mang tên Kamandag ở Biển Đông. Đây được coi làmột phần trong kế hoạch của ông Yoon Suk Yeol nhằm biến Hàn Quốc thành một quốc gia toàn cầu quan trọng bằng cách thể hiện cam kết lớn hơn đối với việc bảo vệ trật tự thế giới dựa trên luật lệ, trong đó có tự do, an ninh hàng hải, hàng không ở Biển Đông.

]]>
Pháp tăng cường hợp tác quốc phòng với Philippines để can dự sâu hơn vào Biển Đông https://biendong.net/2024/10/31/phap-tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-voi-philippines-de-can-du-sau-hon-vao-bien-dong/ Thu, 31 Oct 2024 02:04:00 +0000 https://biendong.net/?p=140568 Pháp là nước thứ 2 cùng với Đức trong liên minh châu Âu đang chủ động tăng cường quan hệ an ninh quốc phòng với Philippines để can dự sâu hơn vào Biển Đông và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Trong mấy tháng gần đây, Pháp và Philippines đã liên tục tăng cường các hoạt động an ninh và làm sâu sắc thêm quan hệ quốc phòng, hai nước đã đang nỗ lực hướng tới một hiệp ước quốc phòng toàn diện hơn. Tháng 06/2024, chỉ vài tháng sau khi bộ trưởng Quốc Phòng Philippines Gilbert Teodoro và đồng nhiệm Pháp Sébastien Lecornu ký thỏa thuận tăng cường mối quan hệ quốc phòng song phương tại Manila, Pháp đã bổ nhiệm một tùy viên quân sự thường trú tại Manila nhằm đảm bảo nhiều hoạt động quốc phòng chung hơn giữa hai nước.

Pegase – sứ mệnh không quân thường niên ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương – chính là chìa khoá trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Pháp nhằm khẳng định hiện diện, bảo vệ không gian chủ quyền và thúc đẩy luật pháp quốc tế giữa lúc hoạt động hàng hải của Trung Quốc ngày càng gia tăng. Tướng Guillaume Thomas, người đứng đầu Bộ tư lệnh Phòng không và Điều hành của Pháp (một trong ba bộ phận của Lực lượng Không quân Vũ trụ Pháp), nhấn mạnh: “Pháp là một quốc gia của Thái Bình Dương, vì vậy chúng tôi cần bảo vệ dân chúng, các lãnh thổ hải ngoại, lợi ích của chúng tôi trong khu vực và hỗ trợ các lực lượng chủ quyền của chúng tôi tại các lãnh thổ này trong thời gian ngắn”.

Trong sứ mệnh Pegase 2024, một quân đoàn Lực lượng Không quân Vũ trụ Pháp đã dừng chân tại Philippines vào tháng 7/2024. Đội chiến đấu cơ Pháp dừng ở căn cứ không quân Clark, nằm cách thủ đô Manila về phía tây bắc khoảng 93 km. Căn cứ Clark trước đây được quân đội Mỹ khai thác cho đến năm 1991. Đây là hoạt động đầu tiên trong lịch sử quan hệ quốc phòng giữa Philippines và Pháp. Trong chuyến thăm, nhiều hoạt động song phương được tiến hành, góp phần xây dựng cơ sở cho hợp tác không quân giữa hai nước. Giới quan sát nhận định Pháp lần đầu đưa Philippines vào sứ mệnh không quân thường niên ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương  là nhằm xây dựng mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Manila, qua đó can dự sâu hơn vào Biển Đông và khu vực.

Pegase 2024 bao gồm các cuộc tập trận và dừng chân tại các đồng minh và đối tác khác như Úc, Indonesia, Nhật Bản và Mỹ để thể hiện khả năng tương tác giữa các lực lượng chung và liên hợp. Không quân Pháp đã điều hai máy bay đa năng Rafale, hai máy bay vận tải chiến thuật A400M và hai máy bay tiếp nhiên liệu và vận tải trên không A330 đến thăm căn cứ không quân Clark. Trong một loạt các hoạt động, các phi công chiến đấu Philippines đã ngồi trên máy bay chiến đấu Rafale do Pháp sản xuất và bay cùng với máy bay siêu âm của riêng họ là FA-50 do Hàn Quốc sản xuất.

Tướng Guillaume Thomas cho biết: “Thông điệp của nhiệm vụ Pegase là chúng tôi có thể gửi rất nhanh, rất xa, những máy bay tốt nhất và hiện đại nhất của mình để đảm bảo an ninh cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nơi lợi ích của Pháp được quan tâm và bị đe dọa”. Tướng Thomas nói với các phóng viên: “Chúng tôi muốn chứng minh sự mở rộng quan hệ đối tác quân sự của chúng tôi trong lĩnh vực hàng không để thể hiện sự tin tưởng và sức sống của mối quan hệ của chúng tôi và chứng minh rằng Pháp sát cánh với Philippines”.

Ông Don McLain Gill, giảng viên tại Khoa Nghiên cứu Quốc tế của Đại học De La Salle ở Manila, nhấn mạnh Paris đã mở rộng quan hệ quốc phòng với Manila trong ba năm qua. Ông nói: “Một thỏa thuận sâu rộng hơn, toàn diện hơn dường như là một bước tiến tự nhiên”. “Với lợi ích lớn của Pháp trong an ninh khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, việc tăng cường quan hệ với các nước cư trú trong khu vực là rất quan trọng. Hơn nữa, với địa chính trị đang diễn biến của Biển Đông, các cường quốc xa xôi đã quan tâm hơn đến việc đóng góp cho sự ổn định của khu vực dựa trên luật pháp quốc tế”.

Pháp và Philippines đã nhất trí tăng cường mạnh mẽ hợp tác quốc phòng kể từ khi Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Sébastien Lecornu đã tới thăm Philippines đầu tháng 12 năm 2023. Trong chuyến thăm hai bên cũng nhất trí khởi động đàm phán về một thỏa thuận an ninh chung cho phép quân đội hai nước hiện diện trên lãnh thổ của nhau. khởi động tiến trình đàm phán về một thỏa thuận an ninh chung cho phép quân đội hai nước hiện diện trên lãnh thổ của nhau. Vào tháng 4, Pháp đã triển khai tàu khu trục nhỏ FS Vendémiaire tham gia Balikatan, cuộc tập trận quân sự thường niên lớn nhất giữa Philippines và Hoa Kỳ.

Các cuộc đàm phán sơ bộ một thỏa thuận lực lượng thăm viếng song phương cho phép quân đội của mỗi nước huấn luyện và tập trận trên lãnh thổ của nhau đang được hai bên tích cực triển khai. Theo bà Marie Fontanel, Đại sứ Pháp tại Philippines, Pháp dự kiến ​​sẽ gửi dự thảo đầu tiên của thỏa thuận tới Manila vào tháng 9 năm 2024. Đại sứ Marie Fontanel khẳng định Pháp sẽ chứng minh cam kết duy trì quyền tự do hàng hải và hàng không như một việc cần thiết để đảm bảo một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cởi mở và toàn diện.

Philippines đã có các thỏa thuận lực lượng thăm viếng với Úc và Mỹ và gần đây đã ký một Thỏa thuận Thăm viếng lẫn nhau với Nhật Bản. Philippines hy vọng sẽ ký kết các thỏa thuận tương tự với Đức, Canada và New Zealand. Một số chuyên gia đặt câu hỏi Pháp có quan hệ lâu đời với nhiều nước ở Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc đã từng là thuộc địa của Pháp hơn 60 năm, nhưng tại sao Pháp lại chọn Philippines làm chỗ dựa “dấn thân” vào khu vực? Các chuyên gia đưa ra lý giải cho vấn đề này là:

Thứ nhất, Philippines là đồng minh theo hiệp ước duy nhất của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Trong 2 năm qua, chính quyền của Tổng thống Marcos đã tăng cường mạnh mẽ quan hệ quân sự với Mỹ và các đồng minh khác của Mỹ như Úc, Nhật, Đức, Canada…. Cùng là đồng minh của Mỹ, Pháp sẽ thuận lợi hơn trong việc mở rộng quan hệ an ninh quốc phòng với Philippines. Giới phân tích nhận định việc Pháp tăng cường quan hệ quân sự với Philippines chắc chắn nhận được sự cổ vũ và hậu thuẫn của Mỹ.

Các nhà quan sát đánh giá với những bước phát triển mạnh mẽ trong hợp tác quân sự giữa Mỹ và Philippines trong 2 năm qua, có thể thấy Philippines đang trở thành trụ cột trong chiến lược của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Mỹ không chỉ đẩy mạnh hợp tác quân sự với Philippines để can dự sâu hơn vào Biển Đông mà còn cho mục tiêu xa hơn là sử dụng vị trí địa lý thuận lợi của Philippines đối phó với những diễn biến căng thẳng ở eo biển Đài Loan. Việc Mỹ triển khai hệ thống tên lửa tầm trung Typhon tới Philippines dù là tạm thời cũng cho thấy Mỹ đánh giá cao vai trò của Philippines trong việc đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc ở khu vực.

Trong cuộc cạnh tranh địa chính trị với Bắc Kinh ở khu vực và Biển Đông, Washington chủ trương vận động các đồng minh và đối tác cùng tham gia vào mặt trận ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc ở khu vực. Việc Pháp tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng với Philippines cũng là cách để chia sẻ trách nhiệm với đồng minh Mỹ trong các mục tiêu chiến lược ở Biển Đông và trong khu vực.

Thứ hai, cả Philippines và Pháp cùng có nhu cầu và lợi ích song trùng trong việc mở rộng mối quan hệ quân sự. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tập trung những hoạt động hung hăng, gây hấn nhằm vào Philippines, chính quyền Tổng thống Marcos chủ trương củng cố quan hệ đồng minh với Mỹ và mở rộng hợp tác quân sự với các đồng minh của Mỹ, trong đó pháp và các nước khác như Úc, Nhật, Đức, Canada… để tạo thêm sức mạnh trong cuộc đối đầu với Bắc Kinh ở Biển Đông. Bằng cách tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh với Pháp, Philippines tìm cách nâng cao năng lực quân sự, củng cố an ninh quốc gia, đảm bảo ổn định khu vực và duy trì các nguyên tắc luật pháp quốc tế. Ông Don McLain Gill, giảng viên Đại học De La Salle ở Manila cho biết quan hệ đối tác an ninh mở rộng với Pháp có thể mở đường cho “việc xây dựng năng lực tích hợp hơn thông qua chuyển giao công nghệ và chuyển giao kiến thức để cải thiện ngành công nghiệp quốc phòng của Philippines”.

Về phía Pháp, khu vựcẤn Độ Dương-Thái Bình Dương không chỉ là nơi cạnh tranh chiến lược lớn về an ninh toàn cầu mà còn nắm giữ các lợi ích an ninh quốc gia trực tiếp đối với Pháp. Quần đảo Mayottes và Réunion ở Nam Ấn Độ Dương là lãnh thổ thuộc Pháp. Ở Thái Bình Dương, Pháp có các vùng hải ngoại New Caledonia, Wallis-et-Futuna, quần đảo Polynésie thuộc Pháp và đảo Clipperton. Với những vùng lãnh thổ đó, Pháp có gần 9 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) nằm trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, lớn thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) nên Paris kiên quyết trong bảo vệ nguyên tắc tự do hàng hải tại khu vực. Chính vì vậy, Pháp cần tăng cường sự hiện diện ở khu vực nhằm bảo vệ và bảo đảm an ninh quốc gia và vùng lãnh thổ của Pháp, kiểm soát các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Pháp, bảo vệ quyền lợi của công dân Pháp. Đây chính là nguyên nhân Pháp sẵn sàng mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng với Philippines. 

Thứ ba, là nước đã từng thay mặt chính quyền phong kiến Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền trên các quần đào Hoàng Sa và Trường Sa, Pháp muốn có những đóng góp vào các vấn đề an ninh, bảo vệ tự do, an toàn hàng hải ở Biển Đông, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực, nhất là các nước ven Biển Đông. Giới quan sát nhận định Paris coi Manila-một đồng minh của Washington là cửa ngõ để đi vào khu vực nói chung và Biển Đông nói riêng.

Ông Joshua Espena tại tổ chức nghiên cứu chính sách Hợp tác Phát triển và An ninh Quốc tế (Phillipines) đánh giá việc hợp tác với các quốc gia như Philippines sẽ cho phép Pháp tiếp cận và tăng cường ảnh hưởng trong khu vực. Ông Espena nói thêm: “Bằng cách xây dựng bức tranh riêng, Paris có thể đa dạng hóa các lựa chọn để vượt qua trong thời đại bất định này”.

Ông Don McLain Gill, giảng viên Đại học De La Salle ở Manila, nhấn mạnh: “Nhìn chung, Pháp là một bên đóng góp cũng như đối tác an ninh và phát triển thay thế được chào đón. Một mối quan hệ đối tác Pháp – Philippines thành công có thể là một chuẩn mực cho các quốc gia Đông Nam Á khác”. Những sáng kiến của Philippines nhằm tăng cường quan hệ với các đối tác ngoài Đông Nam Á, trong đó có Pháp thể hiện sự điều chỉnh chiến lược để đáp ứng các thách thức khu vực. Pháp và các đối tác khác đã nhấn mạnh cam kết tự do hàng hải và hàng không theo luật pháp quốc tế bằng cách hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình.

Pháp luôn đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, đã cùng Anh, Đức gửi công hàm lên Liên hợp quốc thể hiện rõ quan điểm pháp lý trên các vấn đề liên quan ở Biển Đông; bác bỏ yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông; đồng thời khẳng định giá trị pháp lý của phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông; kêu gọi các bên tôn trọng và thực thi pháp quyết. Đây là cơ sở quan trọng để Pháp tăng cường can dự vào Biển Đông. Mặt khác, Pháp cùng với Đức là 2 nước lớn quan trọng của Liên minh châu Âu EU và có ảnh hưởng lớn lên các nước EU khác, việc Pháp mở rộng hợp tác quân sự với Philippines, can dự sâu vào Biển Đông sẽ khích lệ các nước châu Âu khác noi theo, tham gia vào mặt trận kiềm chế, ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực.

]]>
Mỹ cùng các đồng minh chạy đua tập trận với TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2024/10/07/my-cung-cac-dong-minh-chay-dua-tap-tran-voi-tq-o-bien-dong/ Mon, 07 Oct 2024 03:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=140156 Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hăng ở Biển Đông, trong đó chĩa mũi nhọn gây hấn vào Philippines, Mỹ và các đồng minh phối hợp tập trận, tuần tra chung nhằm bảo vệ trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông.

Trong năm qua, Mỹ đã cùng các đồng minh tiến hành hàng chục cuộc tập trận, tuần tra chung song phương và đa phương ở Biển Đông. Trung Quốc cũng không chịu thua kém, họ mở rộng phạm vi và quy mô tập trận ở Biển Đông, nhiều khi Bắc Kinh tiến hành tập trận ngay vào thời điểm Mỹ và các đồng minh tập trận để đáp trả. Giới quan sát nhận định Mỹ đang cùng các đồng minh của minh chạy đua với Trung Quốc trong việc tập trận, tuần tra chung ở Biển Đông khiến tình hình Biển Đông thêm căng thẳng. Chỉ trong vòng tháng rưỡi (7 tuần lễ) đã 2 lần diễn ra các cuộc tập trận đáp trả nhau giữa một bên là Mỹ và các đồng minh và bên kia là Trung Quốc.

1. Ngày 7/8/2024, Mỹ cùng Australia, Canada và Philippines triển khai các cuộc tập trận không quân và hải quân chung được mô tả là cuộc phô trương sức mạnh nhằm thúc đẩy thượng tôn pháp luật ở khu vực Biển Đông đang tranh chấp. cuộc thao dượt kéo dài hai ngày và đây là lần đầu tiên 4 nước Mỹ, Philippines, Australia, Canada tập trận chung ở Biển Đông. Theo thông cáo của Hải quân Mỹ, cuộc tập trận chung này nhằm hỗ trợ một “khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, ngầm chỉ trích Bắc Kinh về các yêu sách chủ quyền của họ ở Biển Đông.

Đô đốc Samuel Paparo, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, cùng các chỉ huy quân sự và quốc phòng hàng đầu của Australia, Canada và Philippines cho biết trong một tuyên bố chung rằng họ “cùng nhau đối diện với những thách thức hàng hải chung và chia sẻ sự toàn tâm toàn ý trong việc duy trì luật pháp quốc tế và trật tự dựa trên luật lệ”. Tuyên bố chung cho biết họ đang tiến hành cuộc tập trận kéo dài hai ngày để duy trì sự đi lại tự do ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các chỉ huy của 4 nước tham gia cho biết “các đơn vị hải quân và không quân của các quốc gia tham gia tập trận hành quân chung, tăng cường hợp tác và khả năng tương tác và khả năng tác chiến hỗ tương giữa lực lượng vũ trang của các nước. Cuộc tập trận được tiến hành theo cách phù hợp với luật pháp quốc tế và tôn trọng sự an toàn của hoạt động hàng hải cũng như quyền và lợi ích của các quốc gia khác”. Quân đội Philippines cho biết các cuộc tập trận hôm 7/8 bao gồm các cuộc diễn tập duy trì sự đi lại không bị cản trở ở khu vực Ấn Độ dương- Thái Bình Dương và diễn tập liên lạc với trực thăng tấn công bay thấp trên các tàu hải quân ở ngoài biển. Một cuộc diễn tập tác chiến chống tàu ngầm cũng đã được lên kế hoạch. Người phát ngôn của Hải quân Philippines, Chuẩn đô đốc Roy Trinidad, cho biết các cuộc tập trận không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào mà nhằm “thể hiện sự ủng hộ tập thể đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”.

Trong một phản ứng đáp trả rõ ràng, quân đội Philippines cho biết 3 tàu hải quân Trung Quốc đã “theo dõi” cuộc tập trận của 4 quốc gia ngoài khơi bờ biển phía Tây Philippines, nhưng không cung cấp thêm thông tin chi tiết, đồng thời thông báo họ đã tiến hành các cuộc tuần tra chiến đấu trên không và trên biển vào cùng ngày 7/8. Theo đó, Trung Quốc đã tổ chức các cuộc tuần tra chiến đấu trên biển và trên không gần Bãi cạn Scarborough đang tranh chấp – một động thái rõ ràng để đáp trả các cuộc tập trận chung của Mỹ và các đồng minh. Trong khi đó, quân đội Philippines cho biết họ không phát hiện bất kỳ cuộc tuần tra chiến đấu nào của Trung Quốc tại bãi cạn vốn bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ Philippines hồi năm 2012.

Trong một tuyên bố ngắn gọn từ Chiến khu miền Nam, quân đội Trung Quốc cho biết đang “tiến hành cuộc tuần tra chiến đấu chung trên biển và trên không gần đảo Hoàng Nham (cách Trung Quốc gọi Bãi cạn Scarborough)”. Hoạt động này nhằm mục đích “thử nghiệm năng lực trinh sát và cảnh báo sớm, khả năng phản ứng nhanh và tấn công chung của các binh chủng”. Quân đội Trung Quốc nhấn mạnh mọi hoạt động quân sự gây rối ở Biển Đông” gây ra những căng thẳng đều “nằm trong tầm kiểm soát”, ám chỉ các cuộc tập trận của Philippines và các đồng minh phương Tây. Trung Quốc thường xuyên cáo buộc Mỹ, Philippines và các nước khác phá hoại hòa bình và ổn định khu vực thông qua các hoạt động quân sự của họ. Giới quan sát nhận định thời gian qua nhiều vụ đối đầu giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu tuần duyên của Philippines ở khu vực Bãi cạn Scarborough. Việc Bắc Kinh lựa chọn địa điểm tập trận ở khu vực này là nhằm gửi thông điệp cảnh cáo tới tàu thuyền Philippines “chớ có đến khu vực này”.

Theo ông Jay Batongbacal, Giám đốc Viện hàng hải và Luật biển ở Manila, khi tổ chức cuộc tập trận này, Trung Quốc muốn phô trương lực lượng nhằm “răn đe”. Trên thực tế, những cuộc tập trận chính thức kiểu như vậy hiếm khi diễn ra xung quanh Bãi cạn Scarborough. Đô đốc Paparo và các chỉ huy quân sự đồng minh gồm Đô đốc David Johnston của Lực lượng Phòng vệ Australia, Tướng Jennie Carignan của Lực lượng Vũ trang Canada và Tướng Romeo Brawner Jr. của Lực lượng Vũ trang Philippines, cho biết quốc gia của họ “bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không, các hoạt động hợp pháp khác trên biển và không phận quốc tế, cũng như tôn trọng các quyền hàng hải theo luật pháp quốc tế”.

Các chỉ huy tàu của 4 nước khẳng định ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) về các tranh chấp ở Biển Đông “như quyết định cuối cùng và có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp”. Phán quyết này vô hiệu hóa các yêu sách mở rộng của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng Bắc Kinh đã từ chối tham gia vụ kiện do Philippines khởi xướng này, bác bỏ phán quyết và tiếp tục thách thức phán quyết này.

2. Ngày 28/9 Mỹ, Philippines, Nhật Bản, Australia và New Zealand tiến hành tuần tra chung trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines ở Biển Đông. Trước đó, tàu khu trục Sazanami của Nhật Bản đã đi qua Eo biển Đài Loan vào Biển Đông tham gia một cuộc tập trận đa phương 5 nước. Việc tàu chiến Nhật Bản lấn đầu tiên đi qua Eo biển Đài Loan khiến Bắc Kinh phản ứng dữ dội. Hai tàu chiến của New Zealand và Australia cũng đi qua Eo biển Đài Loan để đến Biển Đông tham gia cuộc tập trận này.

Mỹ ra thông cáo nêu rõ các cuộc diễn tập hàng hải được thực hiện với các đồng minh nhằm thể hiện “cam kết chung trong việc tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế vì một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Về phía Australia, Bộ Quốc phòng nước này xác nhận rằng tàu khu trục HMAS Sydney và một máy bay tuần tra hàng hải P-8A Poseidon của Không quân Hoàng gia Australia tham gia cuộc tập trận nhằm “thực thi quyền tự do hàng hải và hàng không”.

Trong khi cuộc tuần tra chung của Mỹ và 4 quốc gia Philippines, Nhật Bản, Australia và New Zealand đang diễn ra tại vùng biển của Philippines trên Biển Đông, các lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc ngày 28/9 đã thực hiện nhiều cuộc tuần tra ở Biển Đông, gần Bãi cạn Scarborough, khu vực mà Trung Quốc và Philippines tranh chấp chủ quyền và những tháng gần đây đã xảy ra nhiều đụng độ giữa lực lượng tuần duyên, hải cảnh của hai nước, nơi đầu tháng 8 vừa qua Trung Quốc đã tiến hành tập trận.

Bắc Kinh cho biết các hoạt động huấn luyện xung quanh bãi cạn Scarborough bao gồm “trinh sát, cảnh báo sớm và tuần tra trên không và trên biển”. Trong khi đó, Trung Quốc lại chỉ trích việc Mỹ và đồng minh tiến hành “hoạt động hàng hải chung” ở Biển Đông. Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) ra thông cáo nhấn mạnh: “Một số quốc gia bên ngoài khu vực đang gây rắc rối ở Biển Đông, tạo ra sự bất ổn trong khu vực. Các lực lượng của chiến khu luôn duy trì cảnh giác cao độ, kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh và các quyền và lợi ích hàng hải, (và) kiên quyết duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông”. Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam của PLA cũng tái khẳng định cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi của Bắc Kinh đối với đảo Hoàng Nham (tên Trung Quốc gọi Bãi cạn Scarborough) và vùng biển xung quanh”.

Các cuộc tuần tra của hải quân và không quân Trung Quốc ở Biển Đông diễn ra vài giờ sau khi Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken có cuộc gặp bên lề Đại hội đồng Liên hợp quốc, bàn về cách tránh xung đột trong khu vực này. Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Vương Nghị nói với người đồng cấp Blinken: “Mỹ không nên luôn gây rắc rối ở Biển Đông và không nên phá hoại nỗ lực duy trì hòa bình và ổn định của các nước trong khu vực”. Trong khi đó, Ngoại trưởng Blinken đã đề cập đến “những hành động nguy hiểm và gây mất ổn định” của Bắc Kinh ở Biển Đông và thảo luận về việc cải thiện liên lạc giữa quân đội hai nước.

Những năm gần đây, Biển Đông đang là một trong những điểm nóng thu hút nhiều sự chú ý nhất của quốc tế. Trong một báo cáo công bố ngày 27/9, nhóm chuyên gia cố vấn của Sáng kiến Thăm dò Tình hình Chiến lược Biển Đông có trụ sở tại Bắc Kinh ước tính rằng tổng số ngày các tàu chiến của nhiều quốc gia hiện diện ở Biển Đông lên tới hơn 20.000 ngày mỗi năm (một ngày tàu được tính là một ngày cho mỗi tàu có mặt ở một khu vực hoặc một vùng cụ thể), và hàng năm có hơn 30.000 chuyến bay của các máy bay quân sự bay qua khu vực này. Các tàu của hải quân Mỹ đã dành khoảng 1.600 ngày trên vùng biển của khu vực, ngoài ra còn một số lượng tàu ngầm không được tiết lộ.

Cả 2 lần Trung Quốc đều triển khai tập trận ở khu vực Bãi cạn Scarborough là điều rất đáng chú ý. Bãi cạn Scarborough, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và cách Trung Quốc khoảng 900 km, là một trong những thực thể có tranh chấp gay gắt nhất ở châu Á. Năm 2012, Trung Quốc đã giành được quyền kiểm soát từ tay Philippines. Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông không xác định ai có chủ quyền đối với Bãi cạn Scarborough, nhưng kết luận ngư dân các nước ven Biển Đông, bao gồm Philippines và Việt Nam đều có quyền đánh bắt cá ở khu vực này. Tuy nhiên, Bắc Kinh luôn tìm cách ngăn cản ngư dân Philippines tiếp cận Bãi cạn Scarborough.

Theo thông tin từ các hiệp hội ngư dân Philippines, hiện Bãi cạn Scarborough ở Biển Đông dường như hoàn toàn bị Trung Quốc “bao vây”. Chủ tịch của Hiệp hội đánh cá New Masinloc của Philippines, Leonardo Cuaresma cho biết “kể từ ngày 15/06/2024, Bãi cạn Scarborough đã bị canh giữ nghiêm ngặt và không ai có thể tiếp cận”. Một nhóm ngư dân từ Subic của Philippines đã đến đánh bắt cá gần bãi cạn nhưng “đã bị ngăn chặn và đe dọa bằng vũ khí”. Ông Leonido Moralde, ngư dân Philippines, trả lời báo Inquirer, cho biết thêm: “Chúng tôi không thể đến gần, nhưng từ xa, chúng tôi có thể nhìn thấy các tàu ở đó. Chúng tôi thấy một chiếc tàu màu xám, ban đầu chúng tôi nghĩ là của Philippines, nhưng khi thấy lá cờ đỏ, chúng tôi mới nhận ra đó là của Trung Quốc”.  Giới phân tích nhận định Trung Quốc tiến hành diễn tập ở khu vực Bãi cạn Scarborough mỗi khi Mỹ và các đồng minh tiến hành diễn tập chung trong vùng đặc quyền kinh tế là nhằm khẳng định “sự kiểm soát của Bắc Kinh đối với Bãi cạn Scarborough”, ngăn tàu của các nước có thể tới gần bãi cạn này. Bắc Kinh lo ngại tàu chiến các nước tiếp cận thậm chí diễn tập ở khu vực này vì lâu nay Hải quân Mỹ luôn tuyên bố “sẽ hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép” mà theo luật pháp quốc tế, bao gồm phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài thì khu vực này là mở cho tàu thuyền của các nước. Nếu trong quá trình diễn tập ở Biển Đông tàu của Mỹ và các nước tiếp cận khu vực Bãi cạn Scarborough như tàu chiến Mỹ đã nhiều lần đi cắt ngang qua các thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa sẽ tạo ra tiền lệ xấu đối với Trung Quốc.

]]>
Phải chăng Malaysia thay đổi cách tiếp cận theo hướng cứng rắn hơn trên vấn đề Biển Đông? https://biendong.net/2024/10/04/phai-chang-malaysia-thay-doi-cach-tiep-can-theo-huong-cung-ran-hon-tren-van-de-bien-dong/ Fri, 04 Oct 2024 01:43:00 +0000 https://biendong.net/?p=140147 Malaysia tuyên bố chủ quyền một phần Biển Đông về hướng bắc của Borneo, trong đó bao gồm ít nhất là 12 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa, kể cả Đảo An Bang và Bãi Thuyền Chài mà Việt Nam đang chiếm đóng hay Đá Công Đo hiện do Philippines chiếm đóng. Trong số các bãi cạn lúc chìm lúc nổi mà Malaysia nhận chủ quyền, chỉ có ba bãi chìm hoàn toàn nằm trên thềm lục địa của họ.

Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim

Hiện Malaysia đang khiểm soát 5 thực thể gồm: Đá Hoa Lau, Đá Kỳ Vân, Bãi Kiêu Ngựa, Đá Én Ca, và Bãi Thám Hiểm. Malaysia duy trì một đường băng cho các máy bay C-130 trên Đá Hoa Lau và sự hiện diện quân sự trên 4 thực thể còn lại. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, Malaysia có trữ lượng 5 tỷ thùng dầu thô và khí thiên nhiên lỏng, 2265 tỷ mét khối khí tự nhiên dưới đáy biển. Đây là số ước tính khả dĩ đã được chứng minh cao nhất trong các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Mặc dù là một bên trong tranh chấp Biển Đông, song Malaysia duy trì một thái độ nhún nhường trước Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông, còn được giới chuyên gia gọi là “thái độ bang quang”. Lâu nay, Malaysia thường giữ im lặng trước những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, kể cả khi tàu hải cảnh Trung Quốc quấy nhiễu ngăn cản các hoạt động dầu khí của Malaysia trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), thềm lục địa của nước này, chính quyền Malaysia đều không đưa tin công khai mà âm thầm chống đỡ lại sức ép và sự quấy phá từ Trung Quốc.

Trong khi Philippines phải hứng chịu nhiều hành động gây hấn hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông thì Malaysia tỏ một thái độ bàng quang, thậm chí ngăn việc chỉ trích đích danh Trung Quốc. Tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Úc  hồi đầu tháng 3/2024, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim đã liên tục đưa ra quan điểm ôn hòa đối với Trung Quốc, thậm chí có ý bênh vực Trung Quốc.

Phát biểu hôm 07/3/2024 khi tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN-Úc tại Canberra Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cho rằng những nỗ lực ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ chỉ chọc tức thêm đất nước này và gieo rắc sự bất hòa trong khu vực. Khi phát biểu tại Đại học Quốc gia Úc ở Canberra, ông nói rằng các nước cần đặt mình vào vị trí của Trung Quốc và nhìn nhận rằng cách các nhà lãnh đạo nước này xem việc xây dựng quân đội và ảnh hưởng ngoại giao ngày càng tăng là kết quả tự nhiên của sức mạnh kinh tế và công nghệ.

Ông Anwar nói: “Trong mắt Trung Quốc, những hành động bất lợi đối với sự trỗi dậy của họ, về mặt quân sự, kinh tế và công nghệ, không gì khác hơn là một nỗ lực nhằm phủ nhận vị trí hợp pháp của họ trong lịch sử”. “Những trở ngại đặt ra đối với sự tiến bộ kinh tế và công nghệ của Trung Quốc sẽ chỉ làm tăng thêm những bất bình như vậy.”

Tuy nhiên, trong cuộc họp báo ngày 05/9/2024 tại Vladivostok khi đang thăm Nga, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim tuyên bố các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Malaysia nằm trong lãnh thổ của nước này và không nhằm mục đích khiêu khích hoặc thù địch với Trung Quốc, trong lúc hai nước có quan hệ hữu nghị. Ông Anwar nhấn mạnh: “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ phải hoạt động trong vùng biển của mình và đảm bảo lợi ích kinh tế, gồm cả việc khoan dầu, trên lãnh thổ của chúng tôi”. Nhà lãnh đạo Malaysia cho biết thêm: “Chúng tôi chưa bao giờ phủ nhận khả năng thảo luận (với Trung Quốc). Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi phải dừng hoạt động trong khu vực của mình”.

Thủ tướng Malaysia phải lên tiếng khẳng định về quyết tâm triển khai các hoạt động dầu khí ở Biển Đông bởi vụ việc rò rỉ công hàm ngoại giao mật giữa Trung Quốc và Malaysia liên quan tới Biển Đông do phia Trung Quốc tung ra. Một ngày trước đó, hôm 04/9 Bộ Ngoại giao Malaysia tuyên bố lập báo cáo cảnh sát và tiến hành điều tra nội bộ về vụ rò rỉ công hàm ngoại giao mật của Bộ ngoại giao Trung Quốc gửi cho đại sứ quán Malaysia tại Bắc Kinh.

Công hàm này được truyền thông Philippines đăng tải.Theo tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia, tờ báo Philippines The Inquirer ngày 29/8/2024 đưa tin rằng Trung Quốc đã gửi một tài liệu dài hai trang đến đại sứ quán Malaysia tại Bắc Kinh vào tháng 2, khẳng định rằng hoạt động thăm dò dầu khí của Kuala Lumpur ở Biển Đông đã xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Bộ ngoại giao Malaysia nhấn mạnh “coi việc rò rỉ tài liệu, vốn là kênh liên lạc chính thức giữa hai nước, là mối quan ngại sâu sắc”.

Trong tuyên bố hôm 4/9, Malaysia khẳng định sẽ tiếp tục bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của mình tại Biển Đông, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và hợp tác với tất cả các quốc gia liên quan, bao gồm cả Trung Quốc – quốc gia được cho là có mối quan hệ song phương chặt chẽ và tích cực với Malaysia. Tuyên bố nhấn mạnh: “Về Biển Đông, cả hai nước đều bày tỏ cam kết và quyết tâm giải quyết mọi vấn đề một cách hòa bình thông qua tham vấn và đối thoại bằng các nền tảng và kênh ngoại giao hiện có, mà không cần dùng đến tranh chấp hoặc bạo lực”

Petronas, công ty dầu khí quốc gia Malaysia, vận hành các mỏ dầu khí trong EEZ của Malaysia, nhưng trong những năm gần đây đã có một số cuộc chạm trán với tàu Trung Quốc. Năm 2023, Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) cho biết tàu hải cảnh Trung Quốc đã hoạt động gần khu vực phát triển khí đốt Kasawari của Petronas, và có thời điểm đến gần khu vực triển khai dự án với khoảng cách 2,4km. Malaysia không công khai vụ việc nhưng cử tàu hải quân Malaysia khu vực đó để bảo vệ các hoạt động dầu khí của mình.

Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cho biết Trung Quốc đã gửi “một hoặc hai” công hàm để phản đối các hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia. Ông Anwar Ibrahim giải thích: “Họ (Trung Quốc) vốn biết rõ lập trường của chúng tôi (Malaysia). Họ nói rằng chúng tôi đang xâm phạm lãnh thổ của họ. Nhưng không phải vậy. Chúng tôi nói không phải như thế, đó là lãnh thổ của chúng tôi”. Mặt khác, ông Anwar Ibrahim nhấn mạnh Chính phủ Malaysia sẽ tiếp tục giải thích với Bắc Kinh về lập trường của mình. Nhà lãnh đạo Malaysia nói thêm: “Chúng tôi đã nói rằng chúng tôi sẽ không vượt qua ranh giới của bên khác. Đó là chính sách và nguyên tắc nghiêm ngặt của chúng tôi.

Giới phân tích đánh giá việc Bắc Kinh chủ động cho rò rỉ các thông tin liên quan đến trao đổi mật với Malaysia thông qua hãng truyền thông của Philippines nhằm nhiều mục tiêu như: (i) chia rẽ các nước ven Biển Đông với nhau, tạo sự hoài nghi, ngờ vực lẫn nhau, trước hết là giữa Philippines với Malaysia; (ii) đánh vào nội bộ của cả Malaysia lẫn Philippines.

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra các thông tin thoả thuận nội bộ bí mật với những nước láng giềng ven Biển Đông liên quan tới vấn đề Biển Đông. Đầu năm 2024 này khi mà căng thẳng giữa Bắc Kinh và Manila xung quanh khu vực Bãi Cỏ Mây lên cao, Trung Quốc đã từng đưa ra cái gọi là “thoả thuận với cựu Tổng thống Philippines Duterte” nhằm gây sức ép với Philippines. Việc làm này của Trung Quốc đã nhận được đáp trả mạnh mẽ của chính quyền Tổng thống Marcos. Manila bác bỏ những nội dung mà phía Trung Quốc đưa ra và nhấn mạnh  cái gọi là “thoả thuận” giữa ông Duterte với Bắc Kinh không có bất kỳ ràng buộc gì đối với chính quyền đương nhiệm, đồng thời khẳng định quyết tâm của Manila trong việc bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích trên biển của Philippines.

Việc Bắc Kinh cho rò rỉ những thông tin về nội dung công hàm mật với Malaysia chủ yếu nêu ý kiến đơn phương của phía Trung Quốc và không có bất kỳ điều gì được coi là ràng buộc với Kuala Lumpur, song nó thể hiện sự thiếu nghiêm túc và tính 2 mặt của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Động thái này của Bắc Kinh giúp cho chính quyền của Thủ tướng Anwar Ibrahim rút ra một bài học rằng không nên có bất kỳ điều gì bí mật trao đổi với Bắc Kinh, nhất là liên quan tới vấn đề chủ quyền lãnh thổ, vùng biển và cần có sự công khai minh bạch trong các trao đổi với Trung Quốc về vấn đề trên biển.

Giơi quan sát nhận định Bắc Kinh sẵn sàng đưa ra công khai những nội dung nội bộ, bí mật với các nước khi mà những thoả thuận đó không còn có lợi cho Bắc Kinh. Mặt khác, Trung Quốc thường xuyên không thực hiện những cam kết công khai thì đối với những thoả thuận bí mật họ lại càng dễ dàng để nuốt lời hơn. Việc Bộ Ngoại giao Malaysia tuyên bố điều tra việc rò rỉ thông tin về công hàm mật của Bắc Kinh và Thủ tướng Anwar Ibrahim nhanh chóng phát biểu công khai để bác bỏ những ý kiến của Bắc Kinh và khẳng định quyền hợp pháp của Malaysia trong khai thác nguồn năng lượng trong vùng đặc quyền kinh tế của mình cho thấy Kuala Lumpur đã nhận thức rõ về bản chất lèo lá của giới cầm quyền ở Bắc Kinh.

Qua vụ việc rò rỉ công hàm mật của Bắc Kinh, giới chuyên gia cho rằng Malaysia đã “nếm mùi” bắt nạt của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhiều chuyên gia của Malaysia cũng có những bài viết vạch trần chiêu trò lắt léo của Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông và yêu cầu chính phủ của Thủ tướng Anwar Ibrahim công khai minh bạch trong việc trao đổi với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Rõ ràng cách làm này của Trung Quốc càng làm mất đi lòng tin của các nước láng giềng ven Biển Đông.

Yêu sách về “đường chín đoạn” của Trung Quốc chiếm tới 90% diện tích Biển Đông, lấn sâu vào vùng biển hợp pháp được xác định theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) của các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. năm 2016, Tòa Trọng tài thường trực được thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS đã ra phán quyết, bác bỏ cái gọi là “đường chín đoạn” của Trung Quốc và khẳng định yêu sách này là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Trong công hàm được tiết lộ, Trung Quốc nói rằng hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia ở Biển Đông đã xâm phạm lãnh thổ của họ là hoàn toàn phi lý.

Với phát biểu công khai của Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim hôm 05/9 và nội dung công hàm ngày 04/9 của Bộ Ngoại giao Malaysia, một số nhà quan sát cho rằng Kuala Lumpur đã phá vỡ “ngoại giao im lặng” trên vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng còn quá sớm để nói rằng chính quyền của Thủ tướng Anwar Ibrahim chuyển sang chính sách cứng rắn trên vấn đề Biển Đông mà họ sẽ tiếp tục một chính sách ôn hoà, thực dụng trên hồ sơ Biển Đông bởi Kuala Lumpur không muốn làm căng với Bắc Kinh mà ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế mật thiết giữa nước này với Trung Quốc.

Ngay cả trong phát biểu của ông Anwar Ibrahim hôm 05/9 lời lẽ rất nhẹ nhàng. Mặc dù khẳng định quyền khai thác trong vùng biển của mình theo UNCLOS, song ông Anwar Ibrahim vẫn bày tỏ: “Nhưng nếu họ (Trung Quốc) tiếp tục tranh chấp, thì được thôi, chúng tôi sẽ phải lắng nghe, và họ sẽ phải lắng nghe” và cho biết chính phủ Malaysia sẽ tiếp tục giải thích với Bắc Kinh về lập trường của mình. Malaysia, dưới thời Thủ tướng Anwar Ibrahim, đã đưa ra lập trường ôn hòa theo truyền thống đối với Trung Quốc, bao gồm cả vấn đề Biển Đông, bất chấp căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Trung Quốc và Philippines, gây ra lo ngại về sự leo thang nguy hiểm. Năm 2023, khi Bắc Kinh bày tỏ lo ngại về các hoạt động năng lượng của công ty nhà nước Malaysia Petronas, chính quyền của Thủ tướng Anwar đã đáp lại bằng việc chuẩn bị sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc. Điều đó cho thấy Kuala Lumpur khó có thể thay đổi được cách tiếp cận theo hướng cứng rắn hơn với Bắc Kinh trên với đề Biển Đông trong một sớm, một chiều.

]]>
Liệu quân cảng REAM có giúp TQ giành lợi thế ở nam Biển Đông? https://biendong.net/2024/09/10/lieu-quan-cang-ream-co-giup-tq-gianh-loi-the-o-nam-bien-dong/ Tue, 10 Sep 2024 01:49:00 +0000 https://biendong.net/?p=141866 Gần đây lại rộ lên các thông tin liên quan tới việc Trung Quốc sử dụng quân cảng Ream của Campuchia như một căn cứ quân sự ở Đông Nam Á.

Theo ghi nhận từ các hình ảnh vệ tinh Planet Labs, quân cảng Ream ở Campuchia đang ngày càng hoàn thiện, đủ sức cho tàu ngầm neo đậu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu về an ninh khu vực. Cùng với đó, việc Trung Quốc chào bán tàu ngầm cho Indonesia và Thái Lan cũng khiến giới quan sát nghĩ đến một bức tranh rộng hơn trong chiến lược bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Theo một số nhà phân tích quân sự, những động thái này của Trung Quốc có hàm ý địa chính trị và quân sự không chỉ ở khu vực Vịnh Thái Lan, mà cả khu vực.

Các chuyên gia cảnh báo việc Trung Quốc có thể sử dụng quân cảng Ream để phục vụ cho các mục tiêu cụ thể:

Thứ nhất là việc huấn luyện cho tàu ngầm hoạt động ở vùng nước nông. Theo đó Vịnh Thái Lan là vùng biển nông giống như địa hình khu vực Nam Biển Đông và eo Biển Đài Loan. Nhà nghiên cứu Trần Bằng, nghiên cứu sinh tiến sỹ về quân sự và an ninh tại Đại học Paris 2 Pantheon, cho rằng vùng phía Nam Biển Đông không sâu vì phù sa sông Mekong đổ ra đó. Ngay cả thời tiền sử thì có tài liệu nói vùng Indonesia ngày nay nối liền với Đông Nam Á lục địa, tức là sau này khi nước biển dâng lên thì nó vẫn là vùng biển nông. Khu vực rãnh biển giữa Biển Đông mới sâu chứ vùng phía Nam Biển Đông và Vịnh Thái Lan thì không sâu cho nên không dễ tác chiến tàu ngầm, do vậy Ream có thể sẽ được Trung Quốc sử dụng cho việc huấn luyện các hoạt động của tàu ngầm ở khu vực biển nông.

Ngoài ra, giới cầm quyền Bắc Kinh luôn tuyên bố “không loại trừ việc sử dụng vũ lực thống nhất Đài Loan” và luôn chuẩn bị sẵn sàng cho phương án này. Vấn đề đặt ra là eo biển Đài Loan có độ sâu khá nông, không thuận lợi cho tác chiến tàu ngầm. Do đó, nếu Trung Quốc muốn đưa tàu ngầm vào tác chiến trong một chiến dịch tấn công Đài Loan trong tương lai, họ cần một khu vực biển nông tương tự để cho tàu ngầm luyện tập và quân cảng Ream là nơi phù hợp cho việc huấn luyện này.

Theo giới chuyên gia, Vịnh Thái Lan là vùng vịnh có độ sâu trung bình chỉ 58 mét, chỗ sâu nhất là 85 mét, trong khi đó eo biển Đài Loan cũng khá nông, độ sâu trung bình khoảng 59 – 60 mét, tương đương với Vịnh Thái Lan. Xét về năng lực hoạt động hải quân ở vùng biển nông thì vùng eo biển Đài Loan và vùng phía nam Biển Đông là hai khu vực mà Trung Quốc cần tăng cường, củng cố. Nếu Trung Quốc huấn luyện hải quân ở vùng eo biển Đài Loan thì rất dễ bị theo dõi vì ở eo biển Đài Loan và khu vực Đông Bắc Á, hệ thống giám sát biển của Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật rất mạnh. Trong khi đó, các nước xung quanh Vịnh Thái Lan không sở hữu năng lực phát hiện tàu ngầm và chống tàu ngầm mạnh. Nên việc Trung Quốc cho xây dựng ở Ream cầu tầu để hỗ trợ việc huấn luyện tàu ngầm hoạt động ở vùng biển nông là hoàn toàn phù hợp.

Theo các hình ảnh vệ tinh do Planet Labs công bố hồi tháng 6/2024, quân cảng Ream ở Campuchia xuất hiện một âu tàu dài khoảng 140 mét, cùng đường nối vào cảng, một cầu tàu dài 270 mét ở phía nam quân cảng. Ông Thomas Shugart, một cựu sỹ quan tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ và là chuyên gia an ninh ở Trung tâm An ninh Mỹ mới (Center for New American Security), cho biết “140 mét là quá ngắn cho các tàu lớn của hải quân Trung Quốc, nhưng đúng kích thước cho tàu ngầm”. Ông Thomas Shugart đã chỉ ra rằng mục tiêu phục vụ huấn luyện cho tàu ngầm hoạt động ở vùng nước nông chính là điểm mấu chốt để hiểu vì sao Trung Quốc xây dựng một âu tàu “đúng kích thước cho tàu ngầm” ở Ream.

Mặc dù thời gian qua, có những thông tin về việc Trung Quốc chào bán tàu ngầm cho Thái Lan và Indonesia, nhưng Thái lan thì đã từ chối việc mua tàu ngầm của Trung Quốc vì vấn đề động cơ không được Đức cung cấp, còn khả năng Indonesia mua tàu ngầm của Trung Quốc là rất ít do trang thiết bị quân sự của Indonesia hiện chủ yếu vẫn là của các nước phương Tây. Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo một khả năng là có thể Trung Quốc giúp Campuchia mua tàu ngầm bằng ngay các khoản tài trợ của Trung Quốc rồi cho Trung Quốc thuê lại. Trung Quốc cứ thế sử dụng tàu ngầm với danh nghĩa tàu của Campuchia phục vụ cho công tác huấn luyện tác chiến tàu ngầm ở vùng nước nông.

Ông Trần Bằng cho rằng, nếu Trung Quốc phát triển được năng lực huấn luyện tác chiến tàu ngầm ở vùng biển nông ở Vịnh Thái Lan thì sẽ tạo cho họ giành lợi thế về tác chiến tàu ngầm ở khu vực Nam Biển Đông và eo Biển Đài Loan bởi 2 khu vực này có độ sâu tương đương với khu vực Vịnh Thái Lan. Nếu Trung Quốc lựa chọn Ream để tập huấn cho hoạt động của tàu ngầm, họ sẽ tránh được sự soi mói việc cho việc Trung Quốc tập luyện tác chiến ở Nam Biển Đông hay eo biển Đài Loan. Khả năng này rất dễ xảy ra bởi ở đây Mỹ không đặt được hệ thống theo dõi cảnh báo thường trực như ở Đài Loan, Hàn Quốc. Còn khu vực phía Nam Biển Đông là khu vực trực tiếp liên quan đến nhiều nước như Việt Nam, Malaysia, Indonesia, các nước này luôn đề cao cảnh giác trước các hoạt động của Trung Quốc.

Thứ hai, giới chuyên gia nhận định việc sử dụng quân cảng Ream cho tàu ngầm của Trung Quốc có thể nằm trong tính toán của nước này, song trước mắt nguy cơ đối với khu vực Nam Biển Đông và vịnh Thái Lan là Ream có thể trở thành nơi neo đậu của các tàu hải cảnh Trung Quốc để từ đó thực hiện chiến thuật “vùng xám” ở phía Nam Biển Đông.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương, thuộc Đại học New South Wales Sydney, Úc, cho rằng, một khi quân cảng Ream được hoàn thiện và đưa vào sử dụng, nguy cơ trước mắt chưa phải là tàu ngầm mà là sự hiện diện của lực lượng hải cảnh Trung Quốc trong khu vực Vịnh Thái Lan. Ông Nguyễn Thế Phương nói: “Về việc cái âu tàu có thể sử dụng cho tàu ngầm, ngoài điều nhà nghiên cứu Trần Bằng đã nói thì tôi muốn bổ sung một ý nữa là cái âu tàu đó bên cạnh dùng cho hải quân, nó có thể dùng cho tàu hải cảnh Trung Quốc. Trong thời điểm hiện tại, kịch bản chiến tranh tuy có nhưng hiện các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Philippines lo ngại nhiều hơn là sự hiện diện của hải cảnh, tức là lực lượng chấp pháp biển, chứ không phải hải quân. Quân cảng Ream giúp cho Trung Quốc đưa hải cảnh hiện diện nhiều hơn ở Vịnh Thái Lan và eo biển Malacca. Đối với Việt Nam hay Philippines thì hải cảnh là mối đe dọa nhãn tiền, hơn là việc tàu ngầm xuất hiện, ở thời điểm hiện tại”.

Nhà nghiên cứu Hoàng Việt giảng viên Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đồng ý với nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương về nguy cơ lực lượng chấp pháp biển của Trung Quốc sẽ hiện diện ở Vịnh Thái Lan trong tương lai, khi quân cảng Ream hoàn thiện. Mặt khác, nhà nghiên cứu Hoàng Việt còn đặt vấn đề là hải cảnh Trung Quốc không đi một mình mà phải đi theo đội hình rộng lớn hơn thì mới gây sức ép thực sự lên các quốc gia láng giềng. Theo ông Hoàng Việt: “Về vấn đề hải cảnh Trung Quốc, tôi chưa hiểu là họ xuống vùng Vịnh Thái Lan thì sẽ thế nào. Nếu Trung Quốc dùng chiến thuật vùng xám thì phải dùng ba lớp: tàu cá, hải cảnh và hải quân. Còn nếu chỉ một mình hải cảnh thì chưa phải là vấn đề”.

Ông Hoàng Việt nhấn mạnh, quân cảng Ream với quy mô xây dựng như hiện nay đã đủ để tàu hải quân, hải cảnh, tàu ngầm đóng quân. Đương nhiên, tàu cá cũng có thể ở đó hoặc ở cảng Sihanoukville gần đó. Đối với khả năng Trung Quốc triển khai cả tàu cá xuống Vịnh Thái Lan để phối hợp với tàu hải quân, hải cảnh, ông Hoàng Việt cho rằng khả năng đó là có thể xảy ra trong tương lai. Bởi vì tàu cá Trung Quốc đã đi tới tận Nam Mỹ, Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, nếu họ hiện diện ở vịnh Thái Lan thì xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của các nước trong khu vực và sẽ bị phản đối. Việt Nam, Thái Lan thậm chí Campuchia cũng sẽ không dễ gì chấp nhận lợi ích của mình bị thiệt hại.

Tóm lại, nhằm mục tiêu thực hiện chiến lược biển, đưa Trung Quốc tiến ra biển xa trước mắt là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Bắc Kinh đang tìm mọi cách khống chế kiểm soát Biển Đông để từng bước mở rộng hoạt động xuống phía Nam Biển Đông. Mặc dù Trung Quốc là đối tác kinh tế lớn của các nước Đông Nam Á, song về mặt quân sự, ảnh hưởng của Bắc Kinh còn hạn chế do các nước ven Biển Đông trong ASEAN luôn phải đối phó với các hành vi hung hăng của Bắc Kinh cần đề phòng với Bắc Kinh và đều tìm cách tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng với các nước ngoài khu vực để nâng cao năng lực phòng thủ đối phó với Trung Quốc.

Giới chuyên gia cho rằng trong bối cảnh đó, Trung Quốc đang từng bước biến quân cảng Ream thành căn cứ quân sự của mình ở khu vực, nơi có thể neo đậu tàu chiến, tàu ngầm của lực lượng hải quân Trung Quốc cũng như tàu của lực lượng hải cảnh, dân quân biển. Để các loại tàu của Trung Quốc có thể tiếp cận phía Nam Biển Đông, căn cứ Ream giúp cho hải quân và hải cảnh Trung Quốc có thể rút ngắn quãng đường hàng ngàn km so với căn cứ hải quân của Trung Quốc ở đảo Hải Nam.

Từ căn cứ Ream, tàu của các lực lượng hải quân, hải cảnh Trung Quốc có thể nhanh chóng tiếp cận vùng biển phía Nam Biển Đông, bao gồm các vùng biển xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia, nơi mà trong mấy năm gần đây các tàu Trung Quốc đã nhiều lần xâm lấn vùng biển của Indonesia; hay các vùng biển của Malaysia, Brunei, cũng như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa phía Nam của Việt Nam. Thậm chí các tàu của Trung Quốc, bao gồm tàu chiến, tàu ngầm, tàu hải cảnh… có thể nhanh chóng tiếp cận eo biển Malacca, qua đó tiến vào Ấn Độ Dương, khu vực sân sau của Ấn Độ. Trong bối cảnh, Trung Quốc đang đẩy mạnh chiến lược “vùng xám” để thúc đẩy các yêu sách chủ quyền và mở rộng ảnh hưởng ra các vùng biển ở Thái Bình Dương, các nhà phân tích đều nhận định trước mắt quân cảng Ream sẽ được Bắc Kinh tận dụng cho lực lượng hải cảnh nước này rút ngắn con đường xâm nhập vùng biển các nước ven Nam Biển Đông, gồm Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Brunei. Như vậy, cùng với các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa đã được Bắc Kinh bồi đắp, mở rộng thành các đồn điền quân sự trong một thập kỷ qua, căn cứ Ream sẽ giúp Bắc Kinh giành lợi thế ở phía Nam Biển Đông ít nhất là về mặt triển khai lực lượng nhanh chóng. Các chuyên gia quân sự nhấn mạnh những diễn biến mới ở quân cảng Ream khiến các nước ở phía Nam Biển Đông và xung quanh Vịnh Thái Lan, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá lại chiến lược an ninh nói chung cũng như bố trí quốc phòng nói riêng để có thể kịp thời đối phó với những tính toán của Bắc Kinh.

]]>
Sự thay đổi đáng lo ngại tại căn cứ hải quân REAM https://biendong.net/2024/09/07/su-thay-doi-dang-lo-ngai-tai-can-cu-hai-quan-ream/ Sat, 07 Sep 2024 04:48:00 +0000 https://biendong.net/?p=136846 Theo giới quan sát những thay đổi nhanh chóng tại căn cứ Ream của Campuchia đã làm thay đổi sự cân bằng chiến lược ở khu vực, gây lo ngại cho các nước trong khu vực. Một nhóm chuyên gia đã tiến hành phân tích quá trình phát triển và hoạt động trong khu vực căn cứ hải quân Ream trong 2 năm qua kể từ tháng 6/2022 thông qua hình ảnh vệ tinh từ công ty BlackSky và đi đến kết luận rằng trong hơn 2 năm qua, căn cứ hải quân Ream đã được mở rộng nhanh chóng.

Trước đây, Mỹ từng giúp phát triển căn cứ Ream. Tuy nhiên, do sự lôi kéo, mua chuộc của Trung Quốc, chính quyền Phnom Penh đã ngả hẳn theo Bắc Kinh. Năm 2020, Campuchia đã phá dỡ một tòa nhà an ninh hàng hải do Mỹ xây ở căn cứ này để dọn đường cho Trung Quốc xây dựng. Vào thời điểm đó, giới chức Mỹ trả lời trên báo Wall Street Journal rằng Washington đã có được một bản thảo về thỏa thuận giữa Campuchia và Trung Quốc liên quan đến việc sử dụng căn cứ Ream trong tương lai. Thỏa thuận có nội dung cho phép lực lượng Trung Quốc sử dụng một nửa phía Bắc của căn cứ Ream trong thời gian 30 năm và được tự động gia hạn sau thời gian này.

Vào ngày 8/6/2022, Campuchia đã động thổ cải tạo căn cứ Ream với sự trợ giúp từ Trung Quốc. Phát biểu tại lễ động thổ, Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Vương Văn Thiên tuyên bố dự án này là một minh chứng về sự tôn trọng lẫn nhau và tham vấn công bằng giữa Trung Quốc và Campuchia, tuân theo luật pháp của hai nước, luật pháp quốc tế và không nhằm đến bất kỳ bên thứ ba nào. Ông Vương nhấn mạnh dự án này sẽ tăng cường đáng kể mức độ hiện đại hóa và tăng cường năng lực quân sự của Campuchia để đảm bảo chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ và quân đội Trung Quốc sẽ tiếp tục hỗ trợ quân đội Campuchia và thúc đẩy hợp tác quân sự của hai phía lên các tầm cao hơn. Những động thái này càng khiến dư luận lo ngại về việc Trung Quốc biến Ream thành căn cứ quân sự của Bắc Kinh.

Khi đó (tháng 10/2022), ông Hun Sen với tư cách Thủ tướng Campuchia đã khẳng định: “Về việc tiếp cận căn cứ Ream, tôi muốn tuyên bố là chúng tôi chào đón tàu từ tất cả các nước cập cảng hoặc đến tham gia thập trận chung với Campuchia, gồm Mỹ, Pháp, Canada, Ấn Độ, Anh, Nhật Bản, Úc, chứ không riêng gì Trung Quốc. Việc cho rằng Campuchia đã trao cho Trung Quốc 50 đến 90 năm độc quyền tiếp cận căn cứ này là không có cơ sở”. Tuy nhiên, giới quan sát nhận định tình hình diễn ra tại căn cứ hải quân Ream trong hơn 2 năm qua không đúng với cam kết của ông Hun Sen. Được sự đầu tư lớn của Trung Quốc, các công trình lớn liên tiếp mọc lên ở căn cứ Ream, khiến mạo diện của căn cứ hải quân Ream thay đổi đến chóng mặt.

Theo giới quan sát, có hơn 14 tòa nhà lớn và một cầu tàu đã được xây dựng trong 2 năm qua ở khu vực căn cứ hải quân Ream. Gần như toàn bộ khu vực có diện tích 0,76 km2 hiện có nhà cửa, đường sá và các khối bê tông, chỉ còn khoảng 8% khu vực do cây cỏ bao phủ. Qua các hình ảnh vệ tinh của công ty BlackSky có thể thấy, ở tất cả các khu vực đều có những bằng chứng về sự mở rộng nhanh chóng, cụ thể là:

Ở khu vực phía Bắc, việc dọn đất đã được thực hiện. Chỉ trong khoảng 2 năm kể từ tháng 6/2022, Campuchia đã mở đường mới, xây 4 tòa nhà lớn, ít nhất 4 tòa nhà nhỏ và một số cấu trúc không rõ. Từ tháng 2/2024 đến nay, dường như Campuchia đã đập bỏ một số tòa nhà cũ ở phía ven biển để xây dựng thêm một số thứ khác (mà theo hình ảnh vệ tinh chưa thể đưa ra kết luận là công trình gì).

Ở khu vực phía Nam, việc san ủi đất đã được triển khai nhanh chóng. Vào tháng 10/2023, Campuchia đã dọn dẹp mặt bằng ở phía nam và một năm sau đã dựng lên các trụ bê tông. Một số xà lan xuất hiện ở đây, dường như đang thực hiện nạo vét tại cầu cảng mới xây. Nhà nghiên cứu Thomas cho rằng “những xà lan này có thể chở vật liệu xây dựng hay vật liệu gì đấy”. Vào tháng 6/2024, các hình ảnh vệ tinh cho thấy một cầu cảng hình chữ U. Ở phần phía Đông Nam, có tổng cộng 6 tòa nhà đã được dựng lên trên mặt bằng đã được dọn dẹp. Cùng với các tòa nhà là sự xuất hiện những con đường rõ ràng và thêm các trụ bê tông bên con đường chính.

Ở khu vực phía Đông, chỉ trong 6 tháng, từ tháng 6 đến tháng 12/2022, Campuchia đã san phẳng diện tích khoảng khoảng 9ha và bắt đầu dựng lên các trụ bê tông. Một năm sau, bốn tòa nhà lớn đã được dựng lên. Trong cùng khu vực, dường như là bốn kho chứa nhiên liệu đã được xây dựng từ tháng 8 đến tháng 12/2023, sau đó sơn phủ xanh vào cuối tháng 4/2024. Theo ông Thomas H. Shugart III, cựu sĩ quan Hải quân Mỹ, nhà nghiên cứu cấp cao từ Trung tâm An ninh Tân Hoa Kỳ hai tòa nhà bên phải có thể là doanh trại, hai tòa nhà bên trái có thể là tòa nhà hành chính và sân thể thao ở giữa. Về các kho nhiên liệu, chuyên gia Thomas đánh giá đây có thể là kho nhiên liệu cho tàu chiến hoạt động. Hai khối nhà nằm gần đó dường như là bãi đậu xe.

Ở khu vực trung tâm của căn cứ Ream, cầu cảng mới được bắt đầu xây hồi tháng 5/2023 và sau đó tăng tốc phát triển căn cứ trong khoảng từ tháng 11 đến 12/2023. Vào tháng 12/2023, các tàu chiến của Trung Quốc đã cập cầu tàu này trong ít nhất một tháng. Đến tháng 4/2024, những chiếc tàu giống như vậy lại xuất hiện. Hình ảnh từ BlacSky cho thấy những tàu chiến Trung Quốc này đã đậu tại cảng ít nhất trong 7 tháng, tính đến tháng 6/2024.

Hai tàu hộ vệ lớp Giang Đảo (Type 056) được phát hiện ở cầu tàu mới được xây trong khu vực này từ tháng 12/2023 đến tháng 6/2024, theo những hình ảnh từ công ty BlackSky. Theo các nhà quan sát, các con tàu nói trên chỉ rời Ream có ba lần trong khoảng từ ngày 1/12/2023 đến 19/5/2024 và di chuyển cùng nhau, không riêng rẽ từng tàu. “Đây là những tàu hộ vệ lớp Giang Đảo với chiều dài 90 mét và chiều rộng tối đa là 11,14 mét”.

Ông Thomas H. Shugart III, cựu sĩ quan Hải quân Mỹ, nhà nghiên cứu cấp cao từ Trung tâm An ninh Mỹ, phân tích với tốc độ và quy mô xây dựng hiện tại thì Campuchia không có đủ sức để làm. Hình ảnh vệ tinh chưa đủ bằng chứng để khẳng định về tình hình xây dựng các công trình trên thực tế ở căn cứ Ream. Mục đích xây dựng vẫn là bí mật giữa Phnom Penh – Bắc Kinh và công năng của các tòa nhà mới được xây vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp. Ông Thomas H. Shugart III đánh giá: “Tôi nghĩ rất có thể Trung Quốc đã xây bởi những tòa nhà này làm tôi liên tưởng tới những tòa nhà tôi đã thấy ở các căn cứ nước ngoài của Trung Quốc tại Djibouti và các đảo nhân tạo ở Đông Nam Á. Với quy mô xây dựng như vậy, sẽ là rất đáng ngạc nhiên nếu các công ty Campuchia thực hiện”.

Mới đây nhất, sau khi phân tích các dữ liệu vệ tinh từ Planet Labs, chuyên gia Thomas H. Shugart III còn cho biết Một ụ khô có thể được dùng để bảo hành các tàu ngầm Trung Quốc vừa được xây dựng ở căn cứ hải quân Ream của Campuchia. Theo đó, một ụ khô có kích thước khoảng 140 mét độ dài và đường vào cạnh đó; một cầu tàu dài 270 mét đi dọc mép phía nam của căn cứ Ream.

Ông Shugart cho biết: “140 mét là quá ngắn cho các tàu lớn của hải quân Trung Quốc, nhưng đúng kích thước cho tàu ngầm”. Theo một báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ, Trung Quốc hiện có khoảng 60 tàu ngầm và phần lớn các tàu này có độ dài ngắn hơn 100 mét. Tuy nhiên, các tàu khu trục, tuần dương và tàu hộ vệ mới của Trung Quốc lại có kích thước lớn hơn nhiều. Theo chuyên gia Shugart, ụ khô mới chỉ vừa đủ lớn cho tàu hộ tống Type 056 như loại đã từng có mặt ở căn cứ Ream hồi tháng 12 năm ngoái. Ông cho rằng, đây là một khoản đầu tư lớn nếu chỉ để sử dụng cho tàu hộ tống; đồng thới lưu ý rằng công trình mới ở Ream rất giống như công trình ở căn cứ tàu ngầm của Trung Quốc ở Thanh Đảo: khoảng 140 mét độ dài và đường vào cho các tàu nhỏ.

Giới phân tích nhận định việc căn cứ hải quân Ream có thể được dùng cho tàu ngầm Trung Quốc có thể làm thay đổi cân bằng quân sự ở Biển Đông và đây là tính toán mang tính chiến lược của Bắc Kinh bởi lẽ khoảng cách từ Ream đến eo Malaccca chỉ bằng một nửa khoảng cách từ căn cứ quân sự ở đảo Hải Nam, Trung Quốc tới eo Malacca – một điểm chiến lược quan trọng và khoảng cách đến đó rất quan trọng đối với các tàu ngầm không hạt nhân chậm.

Chuyên gia Thomas H. Shugart III cảnh báo trong trường hợp có đụng độ ở Biển Đông, sự hiện diện của các tàu ngầm trong Vịnh Thái Lan có thể cho hải quân Trung Quốc “một hướng tiếp cận khác”. Các chuyên gia quân sự cho rằng trong bối cảnh, các hành động gây hấn hung hăng của Trung Quốc ngày càng gia tăng ở Biển Đông khiến leo thang căng thẳng thì rõ ràng việc Bắc Kinh triển khai tàu ngầm ở căn cứ Ream của Campuchia sẽ tạo thêm một nguy cơ mới đối với các nước ven Biển Đông, nhất là đối với Việt Nam.

Một vài ý kiến nhận định đúng là cái âu tàu 140 mét quá ngắn để cho các tàu lớn của hải quân Trung Quốc, nhưng vẫn còn khả năng nó phục vụ cho các tàu nhỏ của Campuchia chẳng hạn như Campuchia có thể mua vài con tàu lớp 56 và Trung Quốc cử tàu tới để huấn luyện trước về mặt hậu cần. Tuy nhiên, hầu hết các nhà quân sự đều cho rằng khả năng quân cảng Ream cùng các cơ sở thiết bị của nó được dùng cho các mục tiêu quân sự của Trung Quốc thì cao hơn nhiều bởi những thay đổi và công trình mới được xây dựng ở quân cảng này quá lớn so với nhu cầu của hải quân Campuchia.

Chỉ nhìn vào riêng cái âu tàu thì cũng không phải là vấn đề lớn, song nếu đặt nó trong tổng thể cả quân cảng Ream thì lại là điều đáng lo ngại bởi sau 2 năm được Trung Quốc đầu tư xây dựng các chuyên gia quân sự đều thấy quân cảng này quá lớn so với nhu cầu của hải quân Campuchia. Xét năng lực hải quân của Campuchia thì kể cả trong trường hợp được đầu tư hiện đại hoá thì cũng chưa cần đến một quân cảng như vậy. Do vậy, nhiều học giả cho rằng quân cảng đó được xây dựng cho nước khác chứ không phải cho một lực lượng hải quân còn yếu như Campuchia. Và nước khác đó ở đây là Trung Quốc.

Theo một số nguồn tin thì Mỹ và Nhật Bản đã từng yêu cầu được ghé qua căn cứ hải quân Ream nhưng Campuchia từ chối. Tháng 6/2021, Đại tá Marcus M. Ferrara, Tùy viên quân sự Mỹ, đã đến căn cứ Ream. Chuyến đi này được thực hiện theo sau cuộc gặp giữa Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman với ông Hun Sen, thủ tướng của Campuchia vào thời điểm đó. Tuy nhiên, Đại sứ quán Mỹ tại Phnom Penh sau đó thông báo rằng quân đội Campuchia đã không cho Đại tá Ferrara tiếp cận đầy đủ. Lúc bấy giờ, người phát ngôn chính phủ Campuchia Phay Siphan đã trả lời rằng quân đội Campuchia có quyền không cho phép việc tiếp cận bất kỳ khu vực nào để không gây tổn hại đến an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Phay Siphan nói: “Tại các khu vực quân sự ở các quốc gia, người ta sẽ không cho phép bất kỳ ai xem xét từ đầu tới cuối như xem phim được”.

Căn cứ Ream nằm rất gần Việt Nam, chỉ cách đảo Phú Quốc khoảng 30 km Việt Nam cũng có căn cứ tàu ngầm ở Cam Ranh tại tỉnh Khánh Hoà, nơi có sáu tàu ngầm kilo của Nga. Việc tàu ngầm Trung Quốc hiện diện ở căn cứ Ream là nhằm “hoá giải” ưu thế của tàu ngầm Việt Nam ở Cam Ranh. Chuyên gia Nguyễn Thế Phương thuộc Đại học New South Wales ở Australia cảnh báo: “Việt Nam nên theo dõi sát tình hình, đặc biệt nếu Campuchia xây dựng một đường băng gần đó”. Chuyên gia này dự báo Trung Quốc sẽ tiếp tục xây dựng đường băng ở đây để biến Ream thành một căn cứ quân sự hoàn chỉnh của Bắc Kinh ở khu vực. Điều này tạo ra nguy hiểm lớn đối với cả khu vực.

]]>