Xung đột trên biển – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 31 Oct 2025 04:05:19 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Thấy gì từ cọ xát, tranh chấp trên thực địa giữa TQ với Philippines từ đầu 2025 tới nay? https://biendong.net/2025/10/29/thay-gi-tu-co-xat-tranh-chap-tren-thuc-dia-giua-tq-voi-philippines-tu-dau-2025-toi-nay/ Wed, 29 Oct 2025 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159036 Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới.

       1. Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới. Từ đầu 2025 tới nay, theo thống kê chưa đầy đủ, dư luận thế giới, khu vực ghi nhận xảy ra 8 vụ việc cọ sát, tranh chấp, có 6 vụ việc cọ sát lớn giữa hai bên khiến dư luận khu vực hết sức quan tâm, trong đó từ tháng 8 tới nay có 3 vụ việc xảy ra liên tiếp trong các tháng 8, 9, 10.

Cụ thể: ngày 11/8/2025, tàu cảnh sát biển Trung Quốc có hành vi xua đuổi quyết liệt, nguy hiểm không ngại đâm va tàu của Philippines. Các hành vi hung hăng, cuỡng ép điên cuồng đã khiến chính các tàu công vụ của Trung Quốc đâm va với nhau khiến tàu CCG 3104 bị hư hại nặng, làm mấy binh lính Trung Quốc rơi xuống biển ở gần bãi cạn Scarborough, sự kiện chưa từng có. Tiếp theo, cũng ở khu vực Scarborough, trong các ngày 15-16/9, Trung Quốc dùng vòi rồng xua đuổi đâm va, đẩy lùi tàu Philippines làm vỡ kính tàu Philippines, một nhân viên bị thương nhẹ. Rồi mới đây nhất, ngày 12-13/10, tàu cảnh sát biển Trung Quốc cố tình đâm va tàu Philippines (BRP Datu Pagbuaya) ở gần khu vực chưa đến 2 hải lý gần Thị Tứ, khiến tàu này bị hư hại nhẹ ở phần đuôi. Trung Quốc đổ lỗi cho Philippines huy động có tổ chức, có ý đồ cho một số lượng lớn tàu thuyền khiêu khích ở các vùng biển liên quan của Trung Quốc, khẳng định đảo Thị Tứ, bãi Sandy Cay, đá Subi thuộc “cái gọi là” Nam Sa của Trung Quốc; đổ lỗi nguợc cho Philippines thực hiện các thao tác nguy hiểm gây ra va chạm. Philippines lên án hành động của Trung Quốc là bắt nạt, vi phạm các quy định về ứng xử hàng hải và tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp ngoại giao phù hợp.

        2. Từ đầu 2025 tới nay, khu vực Scarborough và Sandy Cay –  Thị Tứ chiến truờng cọ sát chính.

          Nếu như trong các năm 2023-2024, cọ sát giữa Trung Quốc và Philippines hết sức căng thẳng, nóng cả ở khu vực bãi cạn Second Thomas Shoal và hình thành điểm cọ sát mới ở khu vực bãi Sabina Shoal (xảy ra 3 vụ cọ sát vào cuối 2024 ) thì đáng chú ý, trong 2025, tình hình bãi cạn Second Thomas và Sabina có vẻ tạm lắng dịu hơn; chỉ ghi nhận một vài vụ nhỏ tàu hải cảnh Trung Quốc đến ‘giám sát tàu dân sự Philippines’ tiếp tế cho quân đồn trú trên chiếc tàu chiến cũ BRP Sierra Madre, hoặc tàu tuần duyên Philippines bị quấy nhiễu khi tiếp tế ngư dân song không xảy ra vụ việc cọ sát lớn, căng thẳng. Tuy nhiên, từ đầu 2025 tới nay, cọ sát nổi lên nhiều ở khu vực Sandy Cay đồng thời tiếp tục cọ sát gay gắt ở khu vực Scarborough vốn đã nóng lên từ cuối năm 2024. Theo thống kê sơ bộ, từ tháng 01/2025, các vụ cọ sát lớn, đáng kể của hai bên đều tập trung nhiều vào hai khu vực Sandy Cay và Scarborough, trong  8 vụ lớn, nhỏ giữa hai nuớc ở khắp khu vực Biển Đông giữa hai nuớc từ đầu 2025 tới nay, có 6 vụ khá nghiêm trọng bao gồm 3 vụ ở Sandy Cay, 3 vụ ở Scarborough.

          Căng thẳng ở bãi cạn Scarborough ngày càng gay gắt là hệ lụy tiếp diễn của các sự việc liên quan nóng lên gay gắt từ nửa cuối 2024 khi hai bên đều tìm cách khẳng định chủ quyền của mình, nhất là từ phía Bắc Kinh với những động thái pháp lý, thực địa hết sức cứng rắn, sẵn sàng chơi tới cùng với con bài vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hải cảnh đi truớc, tàu chiến theo sau. Theo Phán quyết của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016 (Phán quyết 2016), Bãi cạn Scarborough là một thực thể luôn nổi, nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 220-240 km, hoàn toàn trong vùng EEZ của nước này, song bị “đuờng luỡi bò” của Trung Quốc “liếm mất” từ 2012. Năm 2024, Trung Quốc có điều chỉnh cơ bản lập truờng pháp lý đối với khu vực này khi công bố thiết lập đuờng cơ sở đối với Scarborough, gây phản ứng mạnh mẽ của Philippines. Chưa dừng lại, tháng 9/2025, Trung Quốc “phê duyệt khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” ở Scarborough, thiết lập vùng lõi, thử nghiệm sinh thái nhằm bảo vệ cái gọi là ‘bảo vệ đa dạng sinh học”, thực chất là tiến thêm một buớc khẳng định chủ quyền, ngăn chặn tuyệt đối tàu bè Philippines vào khu vực này, củng cố thế chiếm đóng trên thực địa, triệt để đẩy Philippines khỏi khu vực này bằng cả pháp lý và trên thực địa. Còn Philippines phản ứng mạnh, cho đây là cách mà Trung Quốc hợp thức hóa và quân sự hóa tiền đồn chiếm đóng bất hợp pháp ở Scarbrough. Philippines cũng cố gắng duy trì đuợc sự hiện diện tối thiểu bằng tàu công vụ và ngư dân nhằm khẳng định chủ quyền của mình. Mỹ cũng hỗ trợ về ngoại giao và trên thực địa song sức cùng lực kiệt.

          – Bãi Sandy Cay nổi lên trở thành điểm nóng đáng chú ý. Đáng chú ý, từ đầu năm tới nay đã xảy ra 3 vụ việc cọ sát khá quyết liệt trong các tháng 1, tháng 5 và này 12-13/10 vừa qua giữa Trung Quốc với Philippines. Sandy Cay là tên tiếng Anh được dùng để chỉ 3 thực thể gần nhau gồm Đá Hoài Ân, Tri Lễ và Cái Vung, chủ yếu gồm các cồn cát nhỏ, bãi cát nổi, chìm theo thủy triều nằm sát đảo Thị Tứ, (cụm Thị Tứ). Các thực thể này nằm cách cách đảo Thị Tứ khoảng 2-3 hải lý song khác với đảo Thị Tứ về tính chất địa lý, địa vị pháp lý và tình trạng kiểm soát.  Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền đối với cụm Thị Tứ bao gồm Sandỵ Cay. Ngày 16/10, Nguời phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng lên tiếng về vụ cọ sát ngày 12/10, tỏ hết sức quan ngại, đề nghị các bên tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, kiềm chế, tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, tôn trọng quy tắc hàng hải, tạo không khí cho việc xây dựng Bộ quy tắc ứng  xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế nhất là UNCLOS.

       3. Tại sao từ khu vực Scarobough và Sandy Cay lại trở nên nóng lên liên tục từ đầu năm tới nay?

        Thứ nhất, hai khu vực này là hai bãi chiến truờng phản ánh khá toàn diện cuộc chiến tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán khó khoan nhuợng giữa Trung Quốc với Philippines, riêng khu vực Sandy Cay có liên quan đến Việt Nam. Tham vọng độc chiếm biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc là không có dư địa dung hòa với lập truờng tuân thủ Công uớc về luật biển 1982 theo chủ truơng của phía Philippines. Chắc chắn chung cuộc sẽ dẫn đến một bên phải nhuợng bộ, hoặc bị mất chủ quyền, quyền chủ quyền. Trên thực tế, nuớc lớn như Trung Quốc với dã tâm như vậy làm sao mà nhuợng bộ nuớc bé, yếu như Philippines?. Philippines cũng không thể từ bỏ chủ quyền của mình đuợc Luật pháp quốc tế công nhận, đuợc đại đa số các nuớc ủng hộ. Từ nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc sử dụng nhiều sách luợc, chiến thuật tinh vi, lắt léo, thô thiển như kiểu ‘con tằm ăn lá dâu’, ‘tuớc dần lá bắp cải’, ‘luộc ếch’ hay  “vùng xám”, đã thành công trong việc xâm chiếm, khống chế nhiều vùng biển và các thực thể của Philippines. Cả hai khu vực Scarobough và Sandy Cay nổi lên hơn như một ví dụ điển hình cho việc giành giật, thể hiện dã tâm bành truớng mới của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian gần đây của “thời đại Tập Cận Bình”. Philippines là đối tuợng dễ bị Trung Quốc xử lý nhất trong các nuớc có tranh chấp với Trung Quốc; đồng thời nó cũng làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp thực địa ở khu vực Trường Sa liên quan tới 5 nước 6 bên; đối với khu vực Thị Tứ là giữa 3 nước Việt Nam, Philippines và Trung Quốc, song cọ sát chủ yếu là giữa Philippines với Trung Quốc vì Philippines đang chiếm giữ thực tế Thị Tứ và coi Sandy Cay thuộc lãnh hải của Thị Tứ.

        Thứ hai, mấy năm gần đây, chiến luợc của Trung Quốc trên thực địa từ khống chế vùng biển chuyển sang mở rộng tăng cường thế khống chế, thế kiểm soát thực thể. Sau khi tôn tạo phi pháp trên các thực thể từ 2013-2016, từ 2017 tới nay, sau khi đã hình thành xong thế trận khống chế trên biển,  không cho các nuớc triển khai các hoạt động khai thác tài nguyên biển, mấy năm gần đây, Trung Quốc tập trung khống chế các nuớc có ‘ý đồ’ mở rộng, củng cố yêu sách đối với các thực thể, tự cho mình một ‘chủ nhân ông’ thực thi ‘quyền hành’ đối với các nuớc trên thực địa, duờng như chỉ có Trung Quốc mới có quyền tôn tạo, kiểm soát, cấm cản các hoạt động thực thi chủ quyền của các nuớc khác ở khu vực Biển Đông. Trung Quốc đang tìm cách kiểm soát, khống chế không cho các nước liên quan tiến hành kiểm soát, tôn tạo các cấu trúc ở Trường Sa, nhất là đối với các cấu trúc chưa có sự hiện diện, chiếm đóng của bên nào.

        Thứ ba, gây sức ép buộc các bên liên quan chấp nhận COC theo nguyên trạng mà Trung Quốc áp đặt phi lý, có lợi cho họ trong giai đoạn tới. Việc Trung Quốc tăng cuờng gây sức ép với Philippines có thể nhằm ngăn chặn Phi-li-pin tiến hành cải tạo Thị Tứ trong đó có hoạt động nhằm khẳng định chủ quyền trên thực địa, về pháp lý ở khu vực Sandy Cay, từ đó tạo sức ép trên thực địa, hỗ trợ buộc Philippines phải chấp nhận ký kết một COC theo ý của Trung Quốc trong thời gian tới. Về pháp lý, Philippines coi Sandy Cay là thực thể thuộc lãnh  hải Thị Tứ mà nước này đã quản lý thực tế. Thị Tứ là trung tâm hành chính và căn cứ lớn nhất của Philippines ở Truờng Sa trong khi Trung Quốc lại lập luận phi lý, coii Sandy Cay thuộc đảo nhân tạo Xu bi của họ. Subi là một trong 3 tiền đồn lớn nhất của Trng Quốc ở Truờng Sa. Đây cũng là hành động thực tế của Trung Quốc nhằm phủ định Phán quyết 2016. Theo Phán quyết 2016, Sandy Cay là  một thực thể luôn nổi trên rạn san hộ phía Tây của Thị Tứ. Bên cạnh đó, các vụ việc đối với bãi cạn lúc chìm lúc nổi The Second Thomas Shoal, Sabina cũng thể hiện ý đồ gây sức ép để các bên liên quan kết thúc đàm phán, chấp nhận một kịch bản COC kiểu Trung Quốc, kể cả việc phản đối Việt Nam tôn tạo trên Truờng Sa cũng nằm trong ý đồ này.

         Thứ tư, đối với Trung Quốc, bản thân tính chất của hai khu vực này, về chiến luợc, ý nghĩa chính trị, quan trọng phức tạp hơn so với khu vực khác. Khu vực Scarborough có vị trí chiến luợc ở Biển Đông bị Trung Quốc khống chế từ tay Philippines từ 2012, năm bắt đầu lên cầm quyền của Tập Cận Bình. Đây là “thành tựu”  bành truớng của Tập nên Trung Quốc cứng rắn, quyết tâm giữ bằng đuợc và sẵn sàng dùng vũ lực. Còn Sandy Cay có vị trí chiến lược, là “vùng đệm tự nhiên” giữa đảo Thị Tứ và đá Xu bi; ai kiểm soát được Sandy Cay có thể giám sát, uy hiếp được Thị Tứ và Xu bi. Trung Quốc có ý đồ mở rộng phạm vi kiểm soát từ Xu bi ra tới Sandy Cay nhằm tạo vùng đệm chiến luợc khống chế đảo và các tuyến đuờng biển xung quanh, kể cả các đảo của Việt Nam như Trường Sa lớn chỉ cách đó có 25 hải lý. Do vậy, Trung Quốc ra sức uy hiếp, đe dọa bất cứ sự hiện diện nào của  Philippines tại khu vực trên, không cho Philippines có ý đồ hiện diện trên Sandy Cay,  càng không để Philippines hiện thực hóa việc coi Sandy thuộc Thị Tứ.

       Thứ năm, các khu vực the Second Thomas sau một thời gian cọ sát gay gắt, hai bên duờng như đã xây dựng một “công thức” xử lý, tạm đông kết thực tế nguyên trạng mà không bên nào giành lợi thế rõ ràng nhằm tạm thời hạ nhiệt điểm nóng khu vực này. Đáng lưu ý là chưa rõ vai trò của một “thỏa thuận quân tử” duới thời của Tổng thống Dutete, một văn bản miệng nhằm giữ ‘hòa khí, tránh xung đột’ với Trung Quốc của ông này, gây nhiều mâu thuẫn, phê phán trong nội bộ Philippines. Theo đó, Trung Quốc không cản trở các chuyến tiếp tế nhân đạo nếu Philippines không vận chuyển vật liệu xây dựng hoặc sửa chữa lớn con tàu chiến cũ Sierra Madre. Còn đối với khu vực Sabina hoặc một số thực thể khác chưa có bên nào chiếm đóng thì cả Trung Quốc và Philippines đều cảnh giác lẫn nhau, sợ đối phuơng tìm cách hiện diện, chiếm đóng khi có thời cơ, song truớc mắt ít có khả năng Trung Quốc đơn phuơng chiếm đóng, còn Philippines thì không dám, do không có lực chiếm, chỉ tìm cách giữ nguyên trạng dù có ưu thế pháp lý. Trong bối cảnh hiện nay, các bên tiếp tục giữ nguyên trạng, nhất là trong bối cảnh đang huớng tới xây dựng COC vào năm 2026. Khu vực Scarborough thì tính chất có khác hơn, Trung Quốc đã nuốt chửng ngon lành từ 2012 thì nay họ không thể nhả ra. Còn Philippines thì quyết không chịu mất, song sức yếu không làm đuợc gì nhiều. Hai bên rất găng nhau vì không có dư địa lùi buớc, nhuợng bộ. Còn đối với Sandy Cay thì liên quan trực tiếp tới Thị Tứ và Subi, hai tiền đồn chính của Philippines và Trung Quốc ở rất gần nhau có tính chất chiến luợc, vai trò kiểm soát lẫn nhau quan trọng và phức tạp hơn một số khu vực khác như The Second Thomas, Sabina…ít nhất trong giai đoạn hiện nay.         Thứ sáu và cuối cùng không thể không liên quan tới bối cảnh cạnh tranh chiến luợc các nuớc lớn. Trung Quốc muốn “nhất cử đa tiện” nhân xảy ra tranh chấp thì cố gắng tìm cách trả đũa, dằn mặt việc Phi-li-pin điều chỉnh chính sách duới thời Marcos quyết tâm dựa vào Mỹ, cho Mỹ đặt thêm căn cứ quân sự, liên kết các đồng minh lôi kéo bên ngoài vào khu vực Biển Đông, quyết tâm thực thi phán quyết, pháp lý hóa các vùng biển của Phi-li-pin, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông nên Trung Quốc  càng cay cú, quyết ra tay “giết gà, dọa khỉ”. Tuy nhiên, có thể thấy, nhân tố Mỹ chỉ là nhân tố phụ, bổ sung không phải là nguyên nhân chính khiến Trung Quốc có thái độ cứng rắn đối với Philippines trong các cọ sát ở Biển Đông duới thời của Tổng thống Marcos.

]]>
Không ai thắng trong xung đột ở Biển Đông https://biendong.net/2025/07/09/khong-ai-thang-trong-xung-dot-o-bien-dong/ Wed, 09 Jul 2025 01:44:00 +0000 https://biendong.net/?p=155029 Biển Đông, với vị trí chiến lược quan trọng và trữ lượng tài nguyên phong phú, từ lâu đã trở thành điểm nóng địa chính trị trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cạnh tranh địa chiến lược Mỹ-Trung ở Biển Đông và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng căng thẳng. Trung Quốc tăng các hoạt động áp lực lên Philippines – một đồng minh lâu đời của Mỹ, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ xung đột quân sự Mỹ-Trung. Câu hỏi đặt ra: Liệu sẽ có bên thắng cuộc nếu chiến tranh xảy ra?

Các chuyên gia nhận định quân đội Trung Quốc sở hữu nhiều thiết bị hiện đại và tàu chiến hơn Mỹ, nhưng thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Nếu xảy ra xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc ở Đài Loan hoặc Biển Đông, cả hai bên sẽ chịu tổn thất lớn, có thể bao gồm cả thiệt hại về máy bay, tàu chiến. Song nhiều phân tích cũng chỉ ra, Mỹ có khả năng giành chiến thắng nhờ lực lượng được đào tạo, chỉ huy tốt và giàu kinh nghiệm, bù đắp cho sự thua kém về số lượng.

Mỹ có kinh nghiệm lâu năm trong các hoạt động liên quan đến cuộc chiến chống khủng bố và lực lượng quân đội đã tham gia nhiều chiến dịch trong nhiều thập kỷ, hiện đang duy trì trạng thái sẵn sàng tại Đông Á. Trong khi đó, Trung Quốc thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận quy mô lớn, tuy nhiên chưa có nhiều kinh nghiệm thực chiến. Các báo cáo cho biết Trung Quốc sở hữu nhiều trang thiết bị quân sự tiên tiến như tàu sân bay, máy bay, tên lửa và xe tăng. Tuy vậy, chất lượng thực tế của các khí tài này so với Mỹ vẫn còn là vấn đề cần xem xét thêm.

Các chuyên gia quân sự nhận định nếu Mỹ-Trung xảy ra chiến tranh trên biển, Mỹ có thể nhanh chóng đánh bại nhiều tàu chiến Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải đề nghị hòa giải trong vòng một tuần.

Giới phân tích chiến lược quân sự cũng cho rằng trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa hai siêu cường, Không quân và Hải quân Mỹ sẽ bắt đầu bằng một chiến dịch gây sốc và kinh hoàng bằng tên lửa hành trình Tomahawk phóng từ tàu ngầm để tiêu diệt tên lửa chống hạm của Trung Quốc ở trên bờ. Máy bay chiến đấu tàng hình và máy bay ném bom của Không quân Mỹ sẽ xuyên thủng hệ thống phòng không của Trung Quốc và phá hủy radar, các cơ sở chỉ huy và kiểm soát, cũng như tên lửa đất đối không, khiến Trung Quốc mất ưu thế trên không.

Một cuộc tấn công hải quân tăng cường sẽ được triển khai ngay sau đó. Các tàu sân bay trong khu vực sẽ điều động F-35C Lightning II và F/A-18 E/F Super Hornet để tấn công các tàu sân bay Trung Quốc. Tàu ngầm Mỹ sẽ phá hủy các tàu này bằng ngư lôi hạng nặng.

Với tên lửa chống hạm của mình, Trung Quốc có thể sẽ tấn công, tuy nhiên, các nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ sẽ chủ yếu nằm ngoài tầm bắn. Hệ thống chiến đấu Aegis sẽ trở thành một hàng rào chắn để bảo vệ đội tàu trong các nhóm tác chiến. Có khả năng một số ít tên lửa chống hạm của Trung Quốc phóng từ máy bay sẽ đánh chìm một số tàu Mỹ, thậm chí bao gồm cả tàu sân bay. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ phải trả một cái giá đắt đỏ.

Các chuyên gia cho rằng nếu Mỹ và Trung Quốc giao tranh, xung đột sẽ chỉ kéo dài dưới một tuần. Tình huống có thể bắt đầu bằng việc tấn công Đài Loan, khiến Mỹ can thiệp, dẫn đến các cuộc xung đột bằng tên lửa và ngư lôi.

Có khả năng xảy ra các sự cố như va chạm trên không giữa máy bay hoặc va chạm giữa tàu Trung Quốc và tàu Mỹ. Cả hai phía có thể quy trách nhiệm cho nhau và nguy cơ xảy ra các cuộc tấn công bằng tên lửa qua lại là điều có thể xảy ra. Tuy nhiên, chưa thể xác định liệu những sự kiện này có dẫn đến một cuộc xung đột quy mô lớn hay không. Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn chưa đưa ra chiến lược quân sự rõ ràng đối với khu vực Đông Á, ngoại trừ tuyên bố rằng Mỹ sẽ “hủy diệt” mạnh mẽ hơn.

Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách chính sách, Elbridge Colby, đang xây dựng một chiến lược đối phó với Trung Quốc, dự kiến sẽ công bố trong năm nay. Ngày 2/5/2025, người phát ngôn Lầu Năm Góc Sean Parnell cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã yêu cầu xây dựng một chiến lược quốc phòng mới trong năm 2025, tập trung vào việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia và răn đe Trung Quốc tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Chiến lược này cũng sẽ tập trung vào việc tăng cường chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh và đối tác toàn cầu, qua đó củng cố quan hệ với các đối tác cũng như đồng minh, và tạo điều kiện cho hòa bình lâu dài. Theo yêu cầu của Bộ trưởng Hegseth, bản dự thảo cuối cùng chiến lược quốc phòng mới dự kiến sẽ được đệ trình muộn nhất vào ngày 31/8/2025. Như vậy có thể thấy trong mọi kịch bản chiến tranh xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc sẽ đều có sự tham gia của các đồng minh Mỹ với cách thức khác nhau.

Một trong những vấn đề được quan tâm đối với Trung Quốc trong trường hợp xảy ra xung đột kéo dài là mức độ độc lập về năng lượng. Hiện tại, Trung Quốc vẫn nhập khẩu một lượng lớn năng lượng, chủ yếu là dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, từ các nguồn như Trung Đông và Australia. Trong tình huống có xung đột liên quan đến Đài Loan, nguy cơ bị phong tỏa hoặc trừng phạt có thể ảnh hưởng đến các hoạt động nhập khẩu này. Mỹ và các đồng minh có thể áp dụng các biện pháp hạn chế tiếp cận nguồn cung năng lượng của Trung Quốc, ví dụ như kiểm soát các tuyến hải quân quan trọng tại Eo biển Malacca và Biển Đông.

Các chuyên gia quân sự đã phân tích về chiến lược chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của Trung Quốc. Chiến lược này nhằm hạn chế sự hiện diện của quân đội Mỹ trong khu vực. Mặt khác, Mỹ cũng có thể áp dụng chiến lược A2/AD của riêng mình trong trường hợp Trung Quốc tiến hành phong tỏa hoặc cô lập Đài Loan. Khi đó, Mỹ có thể thực hiện các biện pháp kiểm soát tại Eo biển Malacca giữa Malaysia và Indonesia, một điểm vận chuyển quan trọng đối với nguồn cung dầu tới Trung Quốc. Việc này sẽ ảnh hưởng đến khả năng duy trì hoạt động lâu dài của Trung Quốc nếu nguồn cung nhiên liệu bị hạn chế.

Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc hiện đại hóa lực lượng quân đội và trang bị đa dạng các loại vũ khí hiện đại. Dù vậy, một số ý kiến cho rằng Trung Quốc đang thể hiện sự tự tin cao trong lĩnh vực này. Về phía Mỹ, nước này cho biết đã chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống có thể dẫn đến xung đột. Lực lượng tàu ngầm, tàu sân bay của Mỹ cũng như trình độ đào tạo và kinh nghiệm thực chiến của binh sĩ đều được đánh giá cao qua nhiều nhiệm vụ thực tế.

Trung Quốc hiện sở hữu nhiều khí tài quân sự hiện đại, dù hiệu quả thực tế trong chiến đấu của các loại vũ khí này vẫn chưa được kiểm chứng. Yếu tố con người tiếp tục giữ vai trò quan trọng bên cạnh công nghệ. Trung Quốc sở hữu tên lửa chống hạm, máy bay chiến đấu tàng hình và một lực lượng tàu chiến đáng kể có thể gây ảnh hưởng tới Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, khả năng của Hải quân và Không quân Mỹ cũng duy trì ở mức sẵn sàng tác chiến cao. Các phân tích lưu ý rằng không nên xem nhẹ bất cứ bên nào trong trường hợp xảy ra xung đột. Trong khi đó, chính quyền Mỹ dưới nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump đã đề ra các biện pháp nhằm tăng cường khả năng răn đe đối với Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh ưu tiên chiến lược “Nước Mỹ trước tiên”. Washington thể hiện mong muốn tránh các cuộc xung đột trực tiếp với Trung Quốc tại Biển Đông hoặc những khu vực có thể ảnh hưởng tới định hướng chiến lược này.

Thực tế cho thấy, một cuộc chiến giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông không chỉ gây tổn thất nghiêm trọng về sinh mạng, tài sản mà còn để lại những hậu quả lâu dài đối với an ninh khu vực và toàn cầu. Cả Mỹ và Trung Quốc đều sở hữu lực lượng quân sự hùng mạnh, hệ thống vũ khí hiện đại và khả năng tấn công lẫn phòng thủ vượt trội. Tuy nhiên, sự đụng độ giữa hai cường quốc này sẽ không chỉ giới hạn ở Biển Đông mà còn kéo theo sự can dự của các quốc gia đồng minh, từ đó biến xung đột khu vực thành một cuộc chiến toàn diện.

Thứ nhất, về mặt quân sự, cả hai bên đều có khả năng triển khai sức mạnh đáng kể. Mỹ với hệ thống căn cứ quân sự trải rộng từ Nhật Bản, Hàn Quốc đến Philippines, cùng lực lượng hải quân hiện đại và các tàu sân bay hạt nhân. Trong khi đó, Trung Quốc đã tăng cường hiện diện quân sự tại Biển Đông thông qua việc xây dựng và củng cố các đảo nhân tạo, triển khai các hệ thống phòng thủ tên lửa và tăng cường lực lượng hải cảnh. Tuy nhiên, ngay cả khi một bên giành được ưu thế quân sự trong thời gian ngắn, tổn thất về sinh mạng và cơ sở hạ tầng sẽ là vô cùng to lớn và khó có thể bù đắp.

Thứ hai, về mặt kinh tế, một cuộc chiến tại Biển Đông sẽ gây gián đoạn nghiêm trọng đến các tuyến đường hàng hải quốc tế. Đây là tuyến đường vận chuyển chiếm hơn 30% lưu lượng hàng hải toàn cầu và là huyết mạch kinh tế quan trọng đối với các nền kinh tế châu Á và thế giới. Việc phong tỏa hoặc tấn công vào các tàu hàng có thể gây ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đẩy giá dầu mỏ và các hàng hóa thiết yếu lên cao và làm tê liệt chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ ba, về mặt chính trị – ngoại giao, xung đột tại Biển Đông sẽ làm gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng thời làm phức tạp thêm tình hình trong quan hệ quốc tế. Các nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia, sẽ phải đối mặt với áp lực lớn trong việc chọn phe hoặc duy trì lập trường trung lập. Sự can dự của các cường quốc ngoài khu vực như Nga, Nhật Bản và Ấn Độ cũng sẽ khiến tình hình càng trở nên phức tạp hơn.

Cuối cùng, về mặt môi trường, một cuộc chiến tranh tại Biển Đông sẽ gây ra những thiệt hại không thể đảo ngược đối với hệ sinh thái biển. Sự cố tràn dầu từ các tàu chiến, vụ nổ từ các loại vũ khí hạng nặng và tác động của các hoạt động quân sự sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến các rạn san hô, nguồn cá và các loài sinh vật biển, từ đó ảnh hưởng đến đời sống của hàng triệu ngư dân và cộng đồng ven biển. Tóm lại, dù Mỹ hay Trung Quốc có thể tuyên bố giành chiến thắng về mặt quân sự trong một cuộc chiến tại Biển Đông, nhưng cái giá phải trả sẽ vô cùng đắt đỏ và không bên nào thực sự được hưởng lợi. Thay vì theo đuổi các chính sách đối đầu, cả hai cường quốc cần tìm kiếm các giải pháp hòa bình và xây dựng các cơ chế quản lý xung đột hiệu quả để đảm bảo an ninh, ổn định và phát triển bền vững cho khu vực và thế giới.

]]>
Biển Đông đối mặt “cơn sóng lớn” trong năm 2025 https://biendong.net/2025/04/05/bien-dong-doi-mat-con-song-lon-trong-nam-2025/ Sat, 05 Apr 2025 13:13:46 +0000 https://biendong.net/?p=148486 Đánh giá về tình hình Biển Đông trong năm 2024, giới chuyên gia cho rằng Trung Quốc đã leo thang gây hấn ở Biển Đông khiến cuộc đấu tranh về các quyền hàng hải, chủ quyền và an ninh ngày càng gay gắt.

Đánh giá về tình hình Biển Đông trong năm 2024, giới chuyên gia cho rằng Trung Quốc đã leo thang gây hấn ở Biển Đông khiến cuộc đấu tranh về các quyền hàng hải, chủ quyền và an ninh ngày càng gay gắt.

Năm 2024, Trung Quốc tăng cường đe dọa, quấy rối và áp bức các lực lượng hải quân, cảnh sát biển cũng như các tàu và máy bay dân sự hoạt động hợp pháp của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Trung Quốc đã triển khai một số lượng lớn tàu của Hải quân thuộc Quân Giải phóng Nhân dân (PLAN), Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc (CCG) và Lực lượng Dân quân Hàng hải thuộc Lực lượng Vũ trang Nhân dân (PAFMM) vào vùng đặc quyền kinh tế của Philippines ở Biển Đông (Manila gọi là Biển Tây Philippines).

Trung Quốc cũng đã thông qua Quy định về Thủ tục Thực thi Hành chính đối với các Cơ quan Cảnh sát biển vào tháng 6/2024 và ban hành tọa độ cho các đường cơ sở xung quanh Bãi cạn Scarborough vào tháng 11/2024 để cung cấp vỏ bọc pháp lý bề ngoài cho hành động cưỡng bức của nước này đối với Philippines. Tuy nhiên, Tư lệnh Lực lượng Vũ trang Philippines – Tướng Romeo Brawner – đã mô tả chiến thuật vùng xám của Trung Quốc là bất hợp pháp, cưỡng bức, hung hăng và lừa đảo.

Từ tháng 2 đến tháng 6/2024, các tàu của Hải cảnh Lực lượng Dân quân Hàng hải và Lực lượng Dân quân Hàng hải Trung Quốc liên tục đối đầu và cản trở các nhiệm vụ luân chuyển và cung cấp vũ khí (hay nói đơn giản là các hoạt động tiếp tế) của Philippines tới tàu BRP Sierra Madre tại Bãi Cỏ Mây. Các hành động của Trung Quốc vô cùng nguy hiểm, ví dụ như cố tình đâm vào tàu Philippines và sử dụng vòi rồng công suất lớn.

Ngày 17/6/2024, các tàu Trung Quốc đã tiến hành cuộc đối đầu bạo lực nhất với các tàu tiếp tế của Philippines. Các thủy thủ có vũ trang của Trung Quốc đã tấn công một chiếc thuyền bơm hơi thân cứng của Philippines và tấn công thủy quân lục chiến Philippines, đập vỡ thiết bị liên lạc, tịch thu vũ khí và làm thủng thân tàu. Sự cố ngày 17/6 đánh dấu một bước ngoặt. Sau hàng loạt cuộc thảo luận, hai bên đã công bố thỏa thuận tạm thời nhằm ngăn chặn những sự cố tương tự vào ngày 21/7. Các nhiệm vụ tiếp tế của Philippines đã được thực hiện mà không xảy ra sự cố nào trong thời gian còn lại của năm. Tuy nhiên, thỏa thuận không bao gồm Bãi Sa Bin và Bãi cạn Scarborough.

Tháng 4/2024, sau khi phát hiện san hô bị nghiền nát ở Bãi Sa Bin, Philippines đã triển khai tàu Cảnh sát biển BRP Teresa Magbanua để ngăn chặn công trình xây dựng của Trung Quốc, dẫn đến hàng loạt cuộc đối đầu với tàu Trung Quốc. Ngày 19/8/2024, 40 tàu Trung Quốc đã chặn tiếp tế và đâm vào thân tàu BRP Teresa Magbanua 3 lần. Đến ngày 12/9/2024, khi BRP Teresa Magbanua rút lui do nhu cầu lương thực, y tế và sửa chữa tàu, Trung Quốc đã điều 207 tàu đến Bãi Sa Bin.

Các cuộc đối đầu cũng leo thang ở Bãi cạn Scarborough. Tháng 8/2024, máy bay quân sự của Hải cảnh Trung Quốc đã bắn pháo sáng vào đường bay của lực lượng không quân Philippines. Tiếp đến, vào tháng 12/2024, Trung Quốc đã cử lực lượng không quân và hải quân “tuần tra sẵn sàng chiến đấu” xung quanh Bãi cạn Scarborough. Trong khi đó, tàu CCG-5901 của Hải cảnh Trung Quốc nhiều lần xâm nhập vùng biển của Philippines, thậm chí tiến sát bờ biển của Philippines. Tàu CCG-5901 là con tàu tuần duyên lớn nhất thế giới, được Philippines gọi là “quái vật” bởi con tàu này có lượng giãn nước 12.000 tấn và chiều dài gần 165 m.

Trước những hành động xâm lấn thô bạo của Trung Quóc, các lực lượng liên quan của Philippines đã không chùn bước mà kiên quyết đấu tranh, thậm chí có những cuộc đối đầu quyết liệt. Để đối phó với sự leo thang xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines đã công bố Khái niệm phòng thủ quần đảo toàn diện toàn chính phủ vào tháng 1/2024. Khái niệm này thúc đẩy khả năng tương tác cao hơn giữa 3 quân chủng và các cơ quan dân sự để tiến hành các hoạt động phòng không và hàng hải kết hợp. Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr cũng phê duyệt chương trình Re-Horizon 3 trị giá 35 tỷ USD để hiện đại hóa Lực lượng vũ trang Philippines, nâng cao khả năng phòng thủ của đất nước.

Tháng 11/2024, Marcos Jr đã ký thành luật Đạo luật vùng biển Philippines và Đạo luật các tuyến đường biển quần đảo Philippines để củng cố quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước này ở Biển Tây Philippines. Philippines cũng tham gia các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương trên bộ, trên biển và trên không với Mỹ, Australia, Nhật Bản và các đối tác an ninh khác.

 Mặc dù Mỹ đề nghị hỗ trợ tiếp tế tại Bãi Cỏ Mây, song Philippines từ chối, tuyên bố rằng họ “sẽ dùng mọi biện pháp trước khi tìm kiếm sự can thiệp của nước ngoài”. Tuy nhiên, Philippines đã cho phép triển khai Hệ thống tên lửa chiến lược tầm trung Typhon của Mỹ vào tháng 4/2024 trong cuộc tập trận Salaknib. Trung Quốc đã phản đối kịch liệt, tuyên bố quan hệ với Philippines đang ở “ngã ba đường” và yêu cầu rút hệ thống Typhon ra khỏi Philippines, tuy nhiên Philippines cho biết chưa có kế hoạch rút, thậm chí Manila lên kế hoạch có thể mua hệ thống tên lửa này. Tháng 11/2024, có thông tin tiết lộ rằng một lực lượng đặc nhiệm quân sự của Mỹ đã được triển khai tới đảo Palawan để hỗ trợ Philippines về hậu cần và nâng cao nhận thức về lĩnh vực hàng hải. Tháng 12/2024, Manila công khai tuyên bố ý định mua hệ thống tên lửa tầm trung Typhon, khiến Bắc Kinh phẫn nộ.

Trong ASEAN, tiến trình đàm phán hướng tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông vẫn bị đình trệ. Trong bối cảnh Trung Quốc chĩa mũi nhọn các hoạt động hung hăng gây hấn vào Philippines, song ASEAN không lên tiếng phản đối các hành vi hung hãn của Trung Quốc, hậu thuẫn cho thành viên Philippines. Tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN thường niên ngày 25/7/2024, có thông tin cho rằng Campuchia và Lào, Chủ tịch ASEAN 2024, đã chặn đề xuất của Philippines đề cập đến sự cố ngày 17/6/2024. Vào cuối năm, nhiều nhà ngoại giao ASEAN đã chia sẻ rằng có rất ít tiến triển trong lần đọc thứ ba về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông do sự chia rẽ trong nội bộ ASEAN.

Biển Đông tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức lớn hơn và cạnh tranh địa chiến lược Mỹ-Trung ở Biển Đông và khu vực sẽ tiếp tục là những vấn đề nổi trội trong năm 2025. Cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Philippines về các yêu sách chồng lấn ở Biển Đông là một “điểm bùng phát” tiềm tàng. Trước sự hung hăng của Trung Quốc trong năm 2024, Manila đang theo đuổi hợp tác quốc phòng với nhiều đối tác và tăng cường hiện đại hóa quân đội.

Hướng tới năm 2025, Trung Quốc sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với các thực thể trên Biển Đông và vùng biển lân cận; cố gắng tận dụng sự bất ổn trên thế giới và sự chưa rõ ràng cũng như yếu tố thất thường trong chính sách của chính quyền Tổng thống Donald Trump để hành động hung hăng hơn, táo tợn hơn. Philippines sẽ tăng gấp đôi các biện pháp tự vệ và tìm kiếm sự trấn an từ Mỹ rằng cam kết liên minh của nước này là chắc chắn.

Một yếu tố mới có thể tác động nhiều tới tình hình Biển Đông trong năm 2025 là việc ông Donald Trump nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ 2 hôm 20/1/2025. Giới chuyên gia nhận định sự khó đoán định trong tính cách của Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể tạo ra những thách thức đối với tình hình Biển Đông trong 4 năm dưới thời của Tổng thống Donald Trump. Ở Trump, có một điều khiến nhiều người lo ngại là tính cách theo “chủ nghĩa giao dịch” của ông cùng sự thiếu mạch lạc về mặt chiến lược và tính khí thất thường khó đoán. Tuy nhiên, đây là điều mà hầu hết các đồng minh châu Á của Mỹ cho rằng họ đã khéo léo xử lý được trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump tại Nhà Trắng. Tuy nhiên, các đồng minh hàng đầu của Mỹ như Philippines đang phải đối mặt với một viễn cảnh đáng lo ngại hơn, cụ thể là sự nổi lên của các nhân vật theo chủ nghĩa biệt lập – những người đã công khai ủng hộ một chiến lược mới, nếu không muốn nói là một “cuộc mặc cả lớn” với Bắc Kinh. Như thể điều đó vẫn chưa đủ rắc rối, bản thân Trump đã nhiều lần chìa “cành ô liu” cho các đối thủ chính và công khai hoan nghênh một mối quan hệ chung “G2” tiềm năng với Trung Quốc.

Mặc dù trong chính quyền mới của ông Trump hầu hết là những nhân vật có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc, từ Phó Tổng thống tới Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng hay Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ đều là những nhân vật “diều hâu” trong quan hệ với Trung Quốc, nhưng mọi quyết sách đều do ông Donald Trump quyết định. Trong gần 2 tháng cầm quyền, Tổng thống Donald Trump đang thi hành một chính sách cứng rắn với Bắc Kinh khi 2 lần tuyên bố áp dụng mức thuế 10% (tổng cộng là 20%) với hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc, song chưa đưa ra một biện pháp an ninh chính trị nào đối với Trung Quốc. Do vậy, các chuyên gia đều có chung một mối lo ngại về sự bất định trong chính sách của Trump. Bắc Kinh sẽ triệt để tận dụng “lỗ hổng” mà Washington tạo ra để lấn tới ở Biển Đông. Ngay sau khi đắc cử Tổng thống trong cuộc bầu cử năm ngoái, tại cuộc họp báo ở Mar-a-Lago, ông Donald Trump tuyên bố: “Trung Quốc và Mỹ có thể cùng nhau giải quyết mọi vấn đề của thế giới”. Vậy câu hỏi đặt ra là liệu chính quyền Trump có bắt tay với Bắc Kinh trên lưng các nước nhỏ ven Biển Đông hay không?

Tranh chấp Biển Đông rất phức tạp, liên quan đến nhiều bên có lợi ích khác nhau. Đặc biệt, cuộc đối đầu của Philippines với Trung Quốc có thể đan xen với sự cạnh tranh Mỹ-Trung và căng thẳng ở Eo biển Đài Loan. Với tư cách là Chủ tịch ASEAN và có mối quan hệ nồng ấm với Trung Quốc, Malaysia có thể là cầu nối giữa Trung Quốc và các bên tranh chấp khác trong ASEAN để đảm bảo xung đột không leo thang hơn nữa. Tuy nhiên với thiên hướng tránh đối đầu với Trung Quốc, Malaysia khó có thể đứng ra hậu thuẫn cho Philippines để củng cố đoàn kết ASEAN trên vấn đề Biển Đông. Trên thực tế, chính quyền Kuala Lumpur đã từng chỉ trích sự cứng rắn của chính quyền Tổng thống Philippines Marcos ở Biển Đông. Về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông, các cuộc đàm phán COC sẽ tiếp tục diễn ra mà không có nhiều tiến triển, chủ yếu là do thiếu sự tin tưởng từ các bên khác nhau. Trung Quốc sẽ tiếp tục chơi trò hai mặt trong đàm phán với ASEAN bằng cách vừa ra vẻ thúc ép việc sớm kết thúc đàm phán như một mưu đồ ngoại giao, vừa cố tình để cho các cuộc đàm phán dây dưa, kéo dài vì cả hai lựa chọn đều ngăn cản sự tham gia trực tiếp của Mỹ. Xem ra Biển Đông sẽ tiếp tục phải đối mặt với những “cơn sóng lớn” trong năm 2025 này.

]]>
Căng thẳng trên Biển Đông giữa TQ và Philippines tiếp tục leo thang https://biendong.net/2025/03/02/cang-thang-tren-bien-dong-giua-tq-va-philippines-tiep-tuc-leo-thang/ Sun, 02 Mar 2025 03:41:00 +0000 https://biendong.net/?p=149032 Bước vào năm 2025, Philippines và Trung Quốc đã sớm tiến hành Hội nghị tham vấn lần thứ 10 về Biển Đông hôm 16/1 tại Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến nhằm tìm kiếm biện pháp giảm căng thẳng trong năm 2025 – năm đánh dấu kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Philippines.

Bước vào năm 2025, Philippines và Trung Quốc đã sớm tiến hành Hội nghị tham vấn lần thứ 10 về Biển Đông hôm 16/1 tại Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến nhằm tìm kiếm biện pháp giảm căng thẳng trong năm 2025 – năm đánh dấu kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Philippines.

Tàu Trung Quốc và Philippines trong một lần đối đầu tại Biển Đông. (Nguồn: AP)

Ngày 24/1/2025, hai tàu đánh cá của Philippines đang trên đường đi thu thập mẫu cát từ bãi Sandy Cay gần đảo Thị Tứ do Philippines chiếm đóng, đã gặp phải “các thao tác hung hăng” từ các tàu của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc, Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines (PCG) cho biết trong một phát biểu vào ngày 25/1. Theo đó, Trung Quốc đã triển khai bốn tàu nhỏ từ các tàu hải cảnh lớn hơn của mình để “quấy nhiễu” hai tàu bơm hơi thân cứng do Cục thủy sản Philippines (cơ quan hỗ trợ chuyến khảo sát khoa học này) triển khai để đưa nhân viên đến Sandy Cay. Một máy bay trực thăng của hải quân Trung Quốc cũng bay lơ lửng ở “độ cao không an toàn” bên trên tàu Philippines. Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines (PCG) cho biết các hoạt động khảo sát đã bị đình chỉ “do hành vi quấy nhiễu liên tục này và sự coi thường an toàn của lực lượng hàng hải Trung Quốc”.

Trong khi đó, Hải cảnh Trung Quốc nói Trung Quốc có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với quần đảo Trường Sa, bao gồm cả Sandy Cay (mà Trung Quốc gọi là “Đá Thiết Tuyến”) và rằng họ đã chặn hai tàu của Philippines và “đuổi đi theo luật pháp”. Hải cảnh Trung Quốc cáo buộc các tàu của Philippines đã xâm nhập vùng biển gần “Đá Thiết Tuyến” mà không được cho phép và tìm cách đổ bộ lên bãi san hô “bất hợp pháp” để thu thập mẫu cát.

Ngày 18/2/2025, Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines (PCG) cáo buộc hải quân Trung Quốc có hành động nguy hiểm khi bay gần một máy bay của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản Philippines (BFAR) đang tuần tra ở khu vực bãi cạn Scarborough trên Biển Đông, một cáo buộc mà Bắc Kinh phản đối. Một phóng viên của AFP có mặt trên chuyến bay cho biết đã chứng kiến cảnh trực thăng của Trung Quốc bám theo máy bay của Philippines, sau đó lại gần cánh trái của máy bay này, đến mức có thể nhìn thấy người trên trực thăng đang quay phim.

Thông cáo của PCG nêu rõ: “Vào khoảng 8h39 sáng ngày 18/2, một trực thăng của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã thực hiện các thao tác bay nguy hiểm hướng về máy bay của BFAR. Hành động liều lĩnh này đã gây ra mối nguy hiểm nghiêm trọng đến an toàn của các phi công và hành khách trên chuyến bay”. Trực thăng của Trung Quố đã bay rất gần và chỉ cách 3m so với máy bay của Philippines. PCG khẳng định hành động này “vi phạm rõ ràng và coi thường quy định an toàn hàng không”. Máy bay Philippines khi đó đang bay cách mặt nước khoảng 213m, thực hiện nhiệm vụ quan sát các tàu thuyền của Trung Quốc trong khu vực. Trong khoảng 30 phút chạm trán, phi công máy bay Philippines đã cảnh báo trực thăng Trung Quốc: “Bạn đang bay quá gần, bạn rất nguy hiểm và đang gây nguy hiểm đến tính mạng của phi hành đoàn và hành khách của chúng tôi”.

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ “Financial Times” hôm 18/2, Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo đã bày tỏ “vô cùng lo lắng” về vụ chạm trán này. Ông Enrique Manalo lên án quân đội Trung Quốc “liều lĩnh” và “thiếu chuyên nghiệp” trong vụ việc này. Trong khi đó, Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam của quân đội Trung Quốc đưa ra tuyên bố nói rằng máy bay của Philippines “xâm phạm trái phép” vào không phận của Trung Quốc và cáo buộc Philippines “lan truyền những câu chuyện sai sự thật”. Quân đội Trung Quốc đã triển khai lực lượng hải quân và không quân để theo dõi, cảnh báo và xua đuổi máy bay; đồng thời vu cáo Philippines “vi phạm nghiêm trọng” chủ quyền của Trung Quốc.

Đã có nhiều cuộc đối đầu trong những năm gần đây liên quan đến Bãi cạn Scarborough và Bãi Cỏ Mây, nơi Hải cảnh Trung Quốc đã ngăn cản các nhiệm vụ tiếp tế của Philippines cho lính thủy đánh bộ đồn trú trên một con tàu bỏ hoang. Được đặt theo tên một con tàu của Anh bị mắc cạn trên rạn san hô gần 3 thế kỷ trước, Bãi cạn Scarborough là một trong những thực thể hàng hải gây tranh chấp nhiều nhất ở Biển Đông, nơi Bắc Kinh và Manila đã nhiều lần đụng độ. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, một tuyến đường thủy quan trọng với hơn 3 nghìn tỷ USD thương mại hàng năm, khiến nước này bất đồng với Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam. Phán quyết trọng tài năm 2016 đã bác bỏ yêu sách mở rộng của Trung Quốc nhưng Bắc Kinh không công nhận phán quyết này.

Sự cố hôm 18/2 làm nổi bật sự căng thẳng liên tục giữa Bắc Kinh và Manila trên vùng biển tranh chấp của họ, mặc dù các cuộc đụng độ xung quanh Bãi Cỏ Mây đã lắng xuống sau khi hai bên đạt được thỏa thuận không chính thức về việc tiếp tế cho lính thủy đánh bộ. Ngoại trưởng Manalo nhấn mạnh: “Chúng tôi chỉ yêu cầu Trung Quốc vui lòng tuân thủ luật pháp quốc tế và các thủ tục hàng hải quốc tế”. Các nhà phân tích nhận định chiến dịch gây sức ép, đã gia tăng trong những ngày gần đây, là một phần trong nỗ lực của Bắc Kinh nhằm thử thách cam kết hỗ trợ Philippines của Mỹ sau lễ nhậm chức của Trump. Theo ông Ja Ian Chong, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Quốc gia Singapore, “Họ muốn xem họ có thể thúc đẩy Philippines đi xa đến đâu dưới chính quyền mới của Mỹ”. Ông Richard Heydarian thuộc Đại học Philippines nói: “Trung Quốc liên tục thúc đẩy các động thái để thử thách quyết tâm của Manila cũng như các cam kết hiệp ước của Mỹ”.

Ray Powell, giám đốc SeaLight – một dự án minh bạch hàng hải tại Trung tâm Đổi mới An ninh Quốc gia Gordian Knot của Đại học Stanford, Mỹ phân tích: “Trung Quốc thấy rằng chính quyền Trump đang tập trung vào các chiến trường khác và tính toán rằng đây là thời điểm để tăng cường áp lực ở Đông Á trong khi Mỹ đang bị phân tâm ở nơi khác”. Ông Ray Powell nhấn mạnh: “Bắc Kinh đang tuân theo một mô hình leo thang dần dần quen thuộc. Mục tiêu của họ là bình thường hóa các hành động xâm lược của họ ở mức độ ngày càng lớn hơn, để theo thời gian chúng được chấp nhận và coi là ‘chi phí’ bình thường của việc kinh doanh ở các khu vực tranh chấp”.

Đại sứ Mỹ tại Philippines hôm 19/2 đã lên án hành động “nguy hiểm” của trực thăng Trung Quốc uy hiếp sự an toàn của một máy bay thuộc chính phủ Philippines đang tuần tra một bãi cạn trong vòng tranh chấp ở Biển Đông. Trong một bài đăng trên nền tảng X, Đại sứ MaryKay Carlson kêu gọi Trung Quốc “kiềm chế các hành động chèn ép và giải quyết các tranh chấp một cách ôn hòa theo luật pháp quốc tế”.

Sự cố hôm 18/2 diễn ra sau một vụ việc khác trước đó 1 tuần (vào ngày 11/2) trên Biển Đông giữa máy bay trinh sát quân sự P-8A Poseidon của Australia và máy bay chiến đấu PLA, trong đó Australia cho biết máy bay chiến đấu J-16 Trung Quốc đã bắn pháo sáng cách máy bay của họ trong phạm vi 100 feet (30 mét). Các nhà phân tích cho biết nếu pháo sáng lọt vào động cơ phản lực của P-8A Poseidon, chúng có thể gây ra thiệt hại thảm khốc. Ngày 13/02/2025, Canberra đã gửi công hàm phản đối Bắc Kinh; ngày 14/2, Phó Thủ tướng Australia Richard Marles bình luận về vụ việc: “Chúng có thể đã va vào máy bay P-8A Poseidon của chúng tôi và nếu điều đó xảy ra, nó sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho máy bay của chúng tôi và điều đó rõ ràng gây nguy hiểm đến tính mạng của nhân viên của chúng tôi”. Giống như sự cố hôm 18/2 với Philippines, quân đội Trung Quốc cho biết họ đã trục xuất một máy bay nước ngoài xâm phạm không phận Trung Quốc, trong trường hợp này là trên quần đảo “Tây Sa” (cách Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa).

Các sự cố tiềm ẩn nguy hiểm giữa máy bay Trung Quốc và máy bay nước ngoài trên Biển Đông không phải là điều mới mẻ, trong vài năm qua đã có nhiều vụ việc không chỉ liên quan tới máy bay của Australia và Philippines mà còn là cả của Mỹ và Canada, tất cả đều nói rằng họ hoạt động trong không phận quốc tế. Nhưng hai sự cố mới nhất trong vòng chưa đầy một tuần qua đang làm dấy lên lo ngại rằng Bắc Kinh có thể trở nên quyết đoán hơn trong việc thực thi các yêu sách tranh chấp của mình trong khi sự chú ý của Mỹ – một đồng minh hiệp ước quốc phòng của Philippines, Australia và Canada – đang tập trung vào cuộc chiến ở Ukraine và căng thẳng ở Trung Đông.

Trong một đông thái khác, khi phát biểu tại Viện Chatham House ở London ngày 18/2, Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo lên án các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông tranh chấp đang “cản trở” các công ty Philippines thăm dò tài nguyên thiên nhiên trong khu vực. Khi thảo luận về những áp lực mà Philippines phải đối mặt từ Trung Quốc trong khu vực, ông Manalo nhấn mạnh: “Khả năng của các công ty chúng tôi, ví dụ như việc phát triển tài nguyên thiên nhiên, thăm dò dầu khí, cũng đang bị cản trở bởi nhu cầu cần phải có một quốc gia khác tham gia vào các hoạt động đó”.

Căng thẳng giữa Manila và Bắc Kinh nóng thêm khi hai bên tiếp tục đấu khẩu về việc Mỹ triển khai hệ thống tên lửa “Typhon” tại Philippines. Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 14/2 cho biết Trung Quốc đã thúc giục Philippines rút tên lửa tầm trung “Typhon” của Mỹ, cáo buộc quốc gia Đông Nam Á này đã phá vỡ “lời hứa” của mình khi triển khai hệ thống tên lửa này. Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Trung Quốc Trương Hiểu Cương chỉ trích Philippines không chỉ “từ bỏ an ninh và quốc phòng của mình cho những nước khác mà còn đưa những rủi ro về xung đột địa chính trị và chạy đua vũ trang vào khu vực”. Ông Trương cho rằng hệ thống tên lửa này là “vũ khí tấn công chiến lược” và phía Philippines đã “nhiều lần phá vỡ lời hứa và chiều theo phía Hoa Kỳ khi triển khai hệ thống này”.

Trong khi đó, Người phát ngôn của Hội đồng An ninh Quốc gia Philippines Jonathan Malaya nêu rõ tại một cuộc họp báo rằng tên lửa Typhon chỉ dùng cho mục đích phòng thủ và Philippines chưa bao giờ hứa sẽ rút tên lửa Typhon. Ông Malaya nhấn mạnh Philippines “tuân thủ hiến pháp hòa bình của mình, trong đó từ bỏ chiến tranh như một công cụ của chính sách quốc gia”. Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo nhắc lại tuyên bố của Bộ Quốc phòng Philippines rằng bệ phóng “Typhon” sẽ vẫn được giữ nguyên “trong thời điểm hiện tại”, đồng thời khẳng định rằng chúng không “nhắm vào bất kỳ quốc gia cụ thể nào”.

Trong bối cảnh căng thẳng giữa Manila và Bắc Kinh tiếp tục gia tăng, Philippines đang tích cực mở rộng hợp tác quốc tế của mình để đối phó với sự hung hãn của Trung Quốc. Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo cho biết Philippines đang tìm kiếm sự hợp tác chặt chẽ hơn với các quốc gia khác đang bị kẹt giữa căng thẳng Mỹ-Trung, một chiến lược được gọi là “liên kết đa phương”. Ông Manalo nhấn mạnh: “Là một cường quốc tầm trung, sự cạnh tranh theo một cách nào đó tạo ra động lực để tiếp cận các quốc gia có hoàn cảnh tương tự và hợp tác với họ, đó là những gì chúng tôi đã và đang làm”, ông Manalo cho biết, đồng thời cho biết Manila sẽ tổ chức một hội nghị với khoảng 14 quốc gia như vậy trong khu vực vào tháng 4 tới.

]]>
Cảnh giác với mưu đồ của Bắc Kinh xây dựng radar do thám trên đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa https://biendong.net/2024/11/03/canh-giac-voi-muu-do-cua-bac-kinh-xay-dung-radar-do-tham-tren-dao-tri-ton-thuoc-hoang-sa/ Sun, 03 Nov 2024 02:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=140574 Thông qua các hình ảnh vệ tinh do hãng Maxar Technologies của Mỹ thu thập, các nhà nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House) đã phát hiện việc xây dựng một hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, được gọi là hệ thống radar khẩu độ xung lực tổng hợp (SIAR).

Điềm nổi bật của SIAR là có thể phát hiện được máy bay và các thiết bị tàng hình. Điểm radar mới này sẽ góp mặt vào mạng lưới giám sát rộng lớn hơn vốn đã bao phủ phần lớn Biển Đông, biến đảo Tri Tôn thành một căn cứ gián điệp trọng yếu ở Biển Đông. 

Giới phân tích nhận định việc xây dựng hệ thống radar trên đảo Tri Tôn nằm trong kế hoạch lâu dài độc chiếm Biển Đông, trước đó Trung Quốc đã có nhiều radar trên các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông. Vào năm 2018, một bài viết của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) cho biết Trung Quốc đã tập trung vào việc xây dựng hạ tầng quân sự trên các đảo mới được bồi đắp trên Biển Đông. Các cơ sở hạ tầng bao gồm đường băng, cảng và công sự. Trung Quốc cũng tăng cường sức mạnh do thám và tình báo với các mạng lưới radar có hình dạng và kích cỡ khác nhau. Riêng tại quần đảo Trường Sa vào năm 2018, đã có hơn 40 cơ sở radar trên 7 điểm đảo khác nhau.

Hệ thống radar chống tàng hình trên đảo Tri Tôn có cấu trúc hình bát giác, giống hệ thống SIAR cũng do Trung Quốc xây trên Đá Subi ở quần đảo Trường Sa hồi năm 2017. Một khi được hoàn thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ góp mặt để hình thành một mạng lưới gồm ít nhất 3 hệ thống radar chống tàng hình trên Biển Đông mà Trung Quốc đã thiết lập trong thập kỷ qua, bao gồm đảo Hải Nam và Đá Subi ở Trường Sa.

Đảo Tri Tôn là một thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa và nằm gần Việt Nam nhất. Hòn đảo này chỉ cách đất liền của Việt Nam khoảng 136 hải lý và cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 121 hải lý. Năm 1974, tranh thủ lúc chính quyền Việt Nam Cộng hoà gặp khó khăn, Bắc Kinh đã dùng vũ lực gây ra cuộc hải chiến đẫm máu với quân đội Việt Nam Cộng hoà để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và cuộc cạnh tranh giành quyền tiếp cận vùng biển này đã gia tăng kể từ khi phát hiện ra trữ lượng dầu khí gần đây. Đảo Tri Tôn được Trung Quốc sử dụng làm điểm cơ sở để vẽ ra đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa để tiếp tục yêu sách những vùng biển xung quanh.

Trong những năm qua, Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, bao gồm các sân bay và cầu cảng lớn, biến một số đảo thành căn cứ quân sự . Hồi tháng 8/2023, các hình ảnh vệ tinh cho thấy dường như Trung Quốc đã tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Tri Tôn. Giới chuyên gia nhận định đây có thể là đường băng dài hơn 600 mét, đủ cho các máy bay cánh quạt và drone cất-hạ cánh, không phải dành cho những máy bay chiến đấu hoặc máy bay ném bom.

Hình ảnh vệ tinh còn tiết lộ các dự án xây dựng khác trên đảo Tri Tôn gồm: một tòa tháp đang hoàn thiện một nửa cũng nằm gần radar SIAR trên đảo Tri Tôn, nơi có khả năng là trung tâm điều khiển; một bệ phóng lớn ở cuối mạng lưới đường bộ, có thể sẽ được sử dụng làm điểm phóng cho một hệ thống tên lửa chống hạm di động. Tòa nhà ở đầu phía Đông Bắc của con đường có thể là một tòa nhà lưu trữ các phương tiện vận chuyển tên lửa.

Trong khu vực quần đảo Hoàng Sa đã nhiều lần xảy ra các vụ việc lực lượng hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc đã nhiều lần có các hành động hung hăng gây hấn với tàu cá, ngư dân Việt Nam như truy đuổi, phun vòi rồng, tấn công, đâm va khiến một số tàu cá của Việt Nam bị chìm. Mới đây nhất (cuối tháng 9/2024), lực lượng chấp pháp Trung Quốc đã tấn công đánh đập rã man ngư dân Việt Nam khiến nhiều người bị thương. Một vụ đụng độ lớn đã xảy ra cách đảo Tri Tôn về phía Tây khoảng 17 hải lý khi Trung Quốc cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế miến Trung Việt Nam. Vụ việc đã gây phẫn nộ đối với người dân Việt Nam khiến tâm lý “bài Hoa” lên cao, làm dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ của người dân Việt Nam cả ở trong và ngoài nước.

Nhằm thách thức các yêu sách phi lý và ngăn chặn hành vi hung hăng của lực lượng chấp pháp Trung Quốc, trong thập kỷ qua, lực lượng hải quân Mỹ, Anh và Australia đã tuần tra vùng biển này để duy trì trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông. Tháng 1/2016, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường của Hải quân Mỹ USS Curtis Wilbur đã đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn. Lầu Năm Góc tuyên bố việc di chuyển này là bác bỏ đường cơ sở thẳng của Trung Quốc, thách thức trước những tuyên bố hạn chế quyền tự do tiếp cận trên Biển Đông của Bắc Kinh. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lúc bấy giờ cáo buộc Mỹ vi phạm luật pháp Trung Quốc “khi đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc mà không được cho phép trước”.

Ý đồ của Bắc Kinh khi lắp đặt hệ thống rada SIAR trên đảo Tri Tôn là gì đã được giới chuyên gia phân tích, trong khuôn khổ bài viết xin nêu một số điểm sau:

Trước hết, mục tiêu lâu dài không thay đổi của Bắc Kinh là khống chế, kiểm soát tiến tới thống trị Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu đó, Bắc Kinh cần tăng cường các hoạt động do thám để nắm rõ các hoạt động của đối thủ ở Biển Đông. Đảo Tri Tôn nằm rìa phía Tây của yêu sách “Đường lưỡi bò”. Sau khi hoàn thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ tăng đáng kể khả năng chặn thu tín hiệu và tác chiến điện tử của Trung Quốc trên khắp quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp và bổ sung vào mạng lưới giám sát rộng hơn trải dài trên phần lớn Biển Đông, nhất là dọc phía Tây của “Đường lưỡi bò”.

Đảo Hải Nam cách Đá Subi khoảng 1.100 km, còn đảo Tri Tôn nằm ở giữa, cách đảo Hải Nam chừng 350 km và cách Đá Subi chừng 850 km, tạo thành một tam giác giám sát, thu thập thông tin tình báo trên biển Đông, trong đó trạm radar trên đảo Tri Tôn thu thập các thông tin dọc theo phía Tây Biển Đông. Ông J. Michael Dahm, nhà nghiên cứu cấp cao về hàng không vũ trụ và Trung Quốc tại Viện Mitchell, phân tích: “Các radar SIAR bị giới hạn tầm nhìn do độ cong của vỏ Trái Đất. Điều này có nghĩa là có một khoảng trống do thám không phận giữa Đá Subi và đảo Hải Nam. Hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ giúp lấp khoảng trống này”. Ông Michael Dahm cho rằng mục đích xây dựng radar mới trên đảo Tri Tôn là cung cấp cho Trung Quốc phạm vi phủ sóng radar chống tàng hình liên tục trên Biển Đông.

Đánh giá về hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn, nhà nghiên cứu Gregory B Poling, Giám đốc chương trình Đông Nam Á từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, nhận định: “Hạ tầng do thám trên đảo Tri Tôn cũng giống như những gì Trung Quốc đã làm ở Biển Đông và cho thấy họ đang ngày càng áp đảo về năng lực radar trên tuyến hàng hải này. Trung Quốc là quốc gia duy nhất có thể giám sát hầu hết những chuyển động trên biển hoặc trên không ở Biển Đông và có thể đáp trả theo cách mà mình muốn”.

Thứ hai, việc Bắc Kinh xây dựng hệ thống radar SIAR trên đảo Tri Tôn có thể giúp Trung Quốc giành ưu thế trong hoạt động do thám ở phía Tây Bắc Biển Đông. Điều này có thể tác động rất lớn tới các đối thủ cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu. Hệ thống radar mới và cơ sở vật chất được Trung Quốc xây dựng trên đảo Tri Tôn có khả năng sẽ tạo ra thách thức đối với các nước tranh chấp khác và đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh địa chiến lược ở Biển Đông.

Việc phát triển một hệ thống radar chống tàng hình mới và các cấu trúc chặn tín hiệu bị nghi ngờ khác trên đảo Tri Tôn cho thấy khả năng tình báo của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa đã tăng lên đáng kể. Trung Quốc che dấu mục đích của công trình xây dựng trên đảo Tri Tôn, nhưng theo Bill Hayton – nghiên cứu viên liên kết tại Chương trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, tham vọng tăng cường kiểm soát toàn bộ Biển Đông đã thúc đẩy Trung Quốc củng cố cơ sở hạ tầng trên đảo Tri Tôn.

Cơ sở này cũng có thể cản trở nỗ lực của hải quân Mỹ, Anh và Australia nhằm thách thức yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Theo ông Hayton, các cơ sở mới trên đảo Tri Tôn có thể là nỗ lực của Trung Quốc khiến các hoạt động như vậy trở nên khó khăn hơn trong tương lai. Ở cấp độ chiến lược, việc mở rộng mạng lưới radar chống tàng hình của Bắc Kinh trên khắp Hoàng Sa sẽ góp phần làm xói mòn ưu thế về công nghệ mà các lực lượng quân sự của Mỹ và đồng minh có được ở khu vực trong 3 thập kỷ qua.

Tiến sĩ Benjamin J. Sacks, nhà nghiên cứu từ Rand Corporation,”Hệ thống SIAR có khả năng tích hợp với các hệ thống điện từ khác để tạo ra một mạng lưới răn đe đa miền linh hoạt. Hệ thống này có thể cho phép Trung Quốc tạo một hàng rào bao bọc ranh giới yêu sách đường 10 đoạn trên Biển Đông, một yêu sách rộng lớn điên rồ và thiếu căn cứ, xâm phạm UNCLOS và các luật quốc tế liên quan.”

Thứ ba, việc Trung Quốc xây dựng hệ thống radar SIAR và các công trình trên đảo Tri Tôn ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh của Việt Nam. Theo đánh giá của Chatham House, việc Trung Quốc xây dựng các công trình do thám trên đảo Tri Tôn sẽ làm “giảm đáng kể khả năng hoạt động bí mật” của Việt Nam trong khu vực. Viện nghiên cứu Chatham House cho rằng hệ thống radar hiện hữu trên đảo Tri Tôn đã có khả năng theo dõi tàu bè trên biển. Sắp tới, với hệ thống radar mới, Trung Quốc sẽ có khả năng theo dõi các di chuyển trên không, phát hiện sớm nhất cử nhất động của Việt Nam trong khu vực này, bao gồm hoạt động tiếp cận các mỏ dầu khí trong khu vực. Điều này có thể tạo ra những khó khăn cho Việt Nam triển khai dự án Cá Voi Xanh khai thác khí trong vùng đặc quyền kinh tế miền Trung.

Ông Bill Hayton, nhà nghiên cứu chương trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, cho rằng việc Trung Quốc tăng cường hạ tầng trên đảo Tri Tôn cho thấy mưu đồ của Bắc Kinh gia tăng kiểm soát những nguồn tài nguyên này. Ông Bill Hayton nhận định: “Những diễn biến này có thể là lời cảnh báo cho thấy Trung Quốc đang lên kế hoạch tiến hành một đợt thăm dò dầu khí nữa”. Đây là điều mà Hà Nội cần hết sức cảnh giác.

Với hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn, Bắc Kinh không chỉ có thể kiểm soát các hoạt động trong vùng biển miền Trung Việt Nam mà còn có thể giám sát các hoạt động trên đất liền khu vực miền Trung Việt Nam. Giáo sư Alexander L Vuving từ Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá: “Tác động lớn nhất sẽ là việc Trung Quốc có khả năng phát hiện các động thái của Việt Nam trong một phạm vi rộng lớn hơn, bao trùm toàn bộ miền Trung của Việt Nam. Trước đây, trạm radar của Việt Nam ở bán đảo Sơn Trà cho Việt Nam một lợi thế về thông tin và quan sát tại khu vực giữa Biển Đông. Nay với trạm radar của Trung Quốc trên đảo Tri Tôn, lợi thế đó đã chuyển sang Trung Quốc”.

Tiến sĩ Benjamin J. Sacks, nhà nghiên cứu từ Rand Corporation, cho rằng hệ thống SIAR trên đảo Tri Tôn sẽ tạo một “chướng ngại đa miền” đáng kể giữa Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa. Ông Benjamin J. Sacks cảnh báo: “Trung Quốc sẽ gia tăng khả năng giám sát đối với tất cả các tàu bè ra vào hoặc hiện diện tại Cảng Đà Nẵng, một cảng nước sâu chiến lược của Việt Nam và các tàu thuyền Việt Nam di chuyển giữa thành phố Hải Phòng ở miền Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh ở miền Nam”. Tóm lại, việc Trung Quốc thiết lập hệ thống SIAR trên đảo Tri Tôn đe doạ nghiêm trọng an ninh của Việt Nam mà chính quyền Hà Nội cần tìm cách ứng phó.







































Tóm lại, việc Trung
Quốc thiết lập hệ thống
SIAR trên đảo Tri Tôn đe
doạ nghiêm trọng an ninh của Việt Nam mà chính quyền Hà Nội cần tìm cách ứng
phó.

Giới phân tích nhận định việc xây dựng hệ
thống radar trên đảo Tri Tôn nằm trong kế hoạch lâu dài độc chiếm Biển Đông, trước
đó Trung Quốc đã có nhiều radar trên các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông.
Vào năm 2018, một bài viết của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) cho biết
Trung Quốc đã tập trung vào việc xây dựng hạ tầng quân sự trên các đảo mới được
bồi đắp trên Biển Đông. Các cơ sở hạ tầng bao gồm đường băng, cảng và công sự.
Trung Quốc cũng tăng cường sức mạnh do thám và tình báo với các mạng lưới radar
có hình dạng và kích cỡ khác nhau. Riêng tại quần đảo Trường Sa vào năm 2018,
đã có hơn 40 cơ sở radar trên 7 điểm đảo khác nhau.
Hệ
thống radar chống tàng hình trên đảo Tri Tôn có cấu trúc hình bát giác, giống
hệ thống SIAR cũng do Trung Quốc xây trên Đá Subi ở quần đảo Trường Sa hồi năm
2017. Một khi được hoàn thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ góp mặt để
hình thành một mạng lưới gồm ít nhất 3 hệ thống radar chống tàng hình trên Biển
Đông mà Trung Quốc đã thiết lập trong thập kỷ qua, bao gồm đảo Hải Nam và Đá
Subi ở Trường Sa.Đảo
Tri Tôn là một thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa và nằm gần Việt Nam nhất. Hòn
đảo này chỉ cách đất liền của Việt Nam khoảng 136 hải lý và cách đảo Lý Sơn
(tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 121 hải lý. Năm 1974, tranh thủ lúc chính quyền Việt
Nam Cộng hoà gặp khó khăn, Bắc Kinh đã dùng vũ lực gây ra cuộc hải chiến đẫm
máu với quân đội Việt Nam Cộng hoà để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và cuộc
cạnh tranh giành quyền tiếp cận vùng biển này đã gia tăng kể từ khi phát hiện
ra trữ lượng dầu khí gần đây. Đảo Tri Tôn được Trung Quốc sử dụng làm điểm cơ
sở để vẽ ra đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa để tiếp tục yêu sách
những vùng biển xung quanh.Trong
những năm qua, Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình quân sự trên quần đảo
Hoàng Sa, bao gồm các sân bay và cầu cảng lớn, biến một số đảo thành căn cứ
quân sự . Hồi tháng 8/2023, các hình ảnh vệ tinh cho thấy dường như Trung Quốc
đã tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Tri Tôn. Giới chuyên gia nhận
định đây có thể là đường băng dài hơn 600 mét, đủ cho các máy bay cánh quạt và
drone cất-hạ cánh, không phải dành cho những máy bay chiến đấu hoặc máy bay ném
bom.Hình
ảnh vệ tinh còn tiết lộ các dự án xây dựng khác trên đảo Tri Tôn gồm: một tòa
tháp đang hoàn thiện một nửa cũng nằm gần radar SIAR trên đảo Tri Tôn, nơi có
khả năng là trung tâm điều khiển; một bệ phóng lớn ở cuối mạng lưới đường bộ,
có thể sẽ được sử dụng làm điểm phóng cho một hệ thống tên lửa chống hạm di
động. Tòa nhà ở đầu phía Đông Bắc của con đường có thể là một tòa nhà lưu trữ
các phương tiện vận chuyển tên lửa.Trong
khu vực quần đảo Hoàng Sa đã nhiều lần xảy ra các vụ việc lực lượng hải cảnh và
dân quân biển Trung Quốc đã nhiều lần có các hành động hung hăng gây hấn với
tàu cá, ngư dân Việt Nam như truy đuổi, phun vòi rồng, tấn công, đâm va khiến
một số tàu cá của Việt Nam bị chìm. Mới đây nhất (cuối tháng 9/2024), lực lượng
chấp pháp Trung Quốc đã tấn công đánh đập rã man ngư dân Việt Nam khiến nhiều
người bị thương. Một vụ đụng độ lớn đã xảy ra cách đảo Tri Tôn về phía Tây
khoảng 17 hải lý khi Trung Quốc cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng
đặc quyền kinh tế miến Trung Việt Nam. Vụ việc đã gây phẫn nộ đối với người dân
Việt Nam khiến tâm lý “bài Hoa” lên cao,
làm dấy lên một
làn sóng phản đối mạnh mẽ
 của người dân Việt Nam cả ở
trong và ngoài nước.
Nhằm
thách thức các yêu sách phi lý và ngăn chặn hành vi hung hăng của lực lượng
chấp pháp Trung Quốc, trong thập kỷ qua, lực lượng hải quân Mỹ, Anh và
Australia đã tuần tra vùng biển này để duy trì trật tự dựa trên pháp luật ở
Biển Đông. Tháng 1/2016, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường của Hải quân
Mỹ USS Curtis Wilbur đã đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn. Lầu
Năm Góc tuyên bố việc di chuyển này là bác bỏ đường cơ sở thẳng của Trung Quốc,
thách thức trước những tuyên bố hạn chế quyền tự do tiếp cận trên Biển Đông của
Bắc Kinh. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lúc bấy giờ cáo buộc Mỹ vi phạm luật pháp
Trung Quốc “khi đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc mà không được cho phép
trước”. Ý
đồ của Bắc Kinh khi lắp đặt hệ thống rada SIAR trên đảo Tri Tôn là gì đã được
giới chuyên gia phân tích, trong khuôn khổ bài viết xin nêu một số điểm sau:
Trước hết, mục tiêu lâu dài không thay đổi của Bắc Kinh là khống chế,
kiểm soát tiến tới thống trị Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu đó, Bắc Kinh cần
tăng cường các hoạt động do thám để nắm rõ các hoạt động của đối thủ ở Biển
Đông. Đảo Tri Tôn nằm rìa phía Tây của yêu sách “Đường lưỡi bò”. Sau khi hoàn
thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ tăng đáng kể khả năng chặn thu tín
hiệu và tác chiến điện tử của Trung Quốc trên khắp quần đảo Hoàng Sa đang có
tranh chấp và bổ sung vào mạng lưới giám sát rộng hơn trải dài trên phần lớn
Biển Đông, nhất là dọc phía Tây của “Đường lưỡi bò”.
Đảo
Hải Nam cách Đá Subi khoảng 1.100 km, còn đảo Tri Tôn nằm ở giữa, cách đảo Hải
Nam chừng 350 km và cách Đá Subi chừng 850 km, tạo thành một tam giác giám sát,
thu thập thông tin tình báo trên biển Đông, trong đó trạm radar trên đảo Tri
Tôn thu thập các thông tin dọc theo phía Tây Biển Đông. Ông J. Michael Dahm,
nhà nghiên cứu cấp cao về hàng không vũ trụ và Trung Quốc tại Viện Mitchell,
phân tích: “Các radar SIAR bị giới hạn tầm nhìn do độ cong của vỏ Trái
Đất. Điều này có nghĩa là có một khoảng trống do thám không phận giữa Đá Subi và
đảo Hải Nam. Hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ giúp lấp khoảng trống
này”. Ông Michael Dahm cho rằng mục đích xây dựng radar mới trên đảo Tri
Tôn là cung cấp cho Trung Quốc phạm vi phủ sóng radar chống tàng hình liên tục
trên Biển Đông.
Đánh giá về hệ thống radar mới trên đảo
Tri Tôn, nhà nghiên cứu Gregory B Poling, Giám đốc chương trình Đông Nam Á từ
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, nhận định: “Hạ tầng
do thám trên đảo Tri Tôn cũng giống như những gì Trung Quốc đã làm ở Biển Đông
và cho thấy họ đang ngày càng áp đảo về năng lực radar trên tuyến hàng hải này.
Trung Quốc là quốc gia duy nhất có thể giám sát hầu hết những chuyển động trên
biển hoặc trên không ở Biển Đông và có thể đáp trả theo cách mà mình muốn”.
Thứ hai, việc Bắc Kinh xây dựng hệ thống radar SIAR trên đảo Tri Tôn
có thể giúp Trung Quốc giành ưu thế trong hoạt động do thám ở phía Tây Bắc Biển
Đông. Điều này có thể tác động rất lớn tới các đối thủ cạnh tranh trong khu vực
và toàn cầu. Hệ thống radar mới và cơ sở vật chất được Trung Quốc xây dựng trên
đảo Tri Tôn có khả năng sẽ tạo ra thách thức đối với các nước tranh chấp khác
và đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh địa chiến lược ở
Biển Đông.
Việc
phát triển một hệ thống radar chống tàng hình mới và các cấu trúc chặn tín hiệu
bị nghi ngờ khác trên đảo Tri Tôn cho thấy khả năng tình báo của Trung Quốc tại
quần đảo Hoàng Sa đã tăng lên đáng kể. Trung Quốc che dấu mục đích của công
trình xây dựng trên đảo Tri Tôn, nhưng theo Bill Hayton – nghiên cứu viên liên
kết tại Chương trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, tham vọng tăng
cường kiểm soát toàn bộ Biển Đông đã thúc đẩy Trung Quốc củng cố cơ sở hạ tầng
trên đảo Tri Tôn. Cơ
sở này cũng có thể cản trở nỗ lực của hải quân Mỹ, Anh và Australia nhằm thách
thức yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Theo ông Hayton, các cơ sở mới
trên đảo Tri Tôn có thể là nỗ lực của Trung Quốc khiến các hoạt động như vậy
trở nên khó khăn hơn trong tương lai. Ở cấp độ chiến lược, việc mở rộng mạng
lưới radar chống tàng hình của Bắc Kinh trên khắp Hoàng Sa sẽ góp phần làm xói
mòn ưu thế về công nghệ mà các lực lượng quân sự của Mỹ và đồng minh có được ở
khu vực trong 3 thập kỷ qua.
Tiến sĩ Benjamin J. Sacks, nhà nghiên cứu
từ Rand Corporation,”Hệ thống SIAR có khả năng tích hợp với các hệ thống
điện từ khác để tạo ra một mạng lưới răn đe đa miền linh hoạt. Hệ thống này có
thể cho phép Trung Quốc tạo một hàng rào bao bọc ranh giới yêu sách đường 10 đoạn
trên Biển Đông, một yêu sách rộng lớn điên rồ và thiếu căn cứ, xâm phạm UNCLOS
và các luật quốc tế liên quan.”
Thứ
ba,
việc Trung Quốc xây dựng hệ thống
radar SIAR và các công trình trên đảo Tri Tôn ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh
của Việt Nam.
Theo đánh giá của Chatham House, việc Trung Quốc xây dựng
các công trình do thám trên đảo Tri Tôn sẽ làm “giảm đáng kể khả năng hoạt
động bí mật” của Việt Nam trong khu vực. Viện nghiên cứu Chatham House cho
rằng hệ thống radar hiện hữu trên đảo Tri Tôn đã có khả năng theo dõi tàu bè
trên biển. Sắp tới, với hệ thống radar mới, Trung Quốc sẽ có khả năng theo dõi
các di chuyển trên không, phát hiện sớm nhất cử nhất động của Việt Nam trong
khu vực này, bao gồm hoạt động tiếp cận các mỏ dầu khí trong khu vực. Điều này
có thể tạo ra những khó khăn cho Việt Nam triển khai dự án Cá Voi Xanh khai
thác khí trong vùng đặc quyền kinh tế miền Trung.
Ông Bill Hayton, nhà nghiên cứu chương
trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, cho rằng việc Trung Quốc tăng
cường hạ tầng trên đảo Tri Tôn cho thấy mưu đồ của Bắc Kinh gia tăng kiểm soát những
nguồn tài nguyên này. Ông Bill Hayton nhận định: “Những diễn biến này có
thể là lời cảnh báo cho thấy Trung Quốc đang lên kế hoạch tiến hành một đợt
thăm dò dầu khí nữa”. Đây là điều mà Hà Nội cần hết sức cảnh giác. Với hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn,
Bắc Kinh không chỉ có thể kiểm soát các hoạt động trong vùng biển miền Trung Việt
Nam mà còn có thể giám sát các hoạt động trên đất liền khu vực miền Trung Việt
Nam. Giáo sư Alexander L Vuving từ Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á-Thái
Bình Dương Daniel K. Inouye thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá: “Tác động lớn
nhất sẽ là việc Trung Quốc có khả năng phát hiện các động thái của Việt Nam
trong một phạm vi rộng lớn hơn, bao trùm toàn bộ miền Trung của Việt Nam. Trước
đây, trạm radar của Việt Nam ở bán đảo Sơn Trà cho Việt Nam một lợi thế về
thông tin và quan sát tại khu vực giữa Biển Đông. Nay với trạm radar của Trung
Quốc trên đảo Tri Tôn, lợi thế đó đã chuyển sang Trung Quốc”.Tiến sĩ Benjamin J. Sacks,
nhà nghiên cứu từ Rand Corporation, cho
rằng hệ thống SIAR trên đảo Tri Tôn sẽ tạo một “chướng ngại đa miền”
đáng kể giữa Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa. Ông Benjamin J. Sacks cảnh báo:
“Trung Quốc sẽ gia tăng khả năng giám sát đối với tất cả các tàu bè ra vào
hoặc hiện diện tại Cảng Đà Nẵng, một cảng nước sâu chiến lược của Việt Nam và
các tàu thuyền Việt Nam di chuyển giữa thành phố Hải Phòng ở miền Bắc và Thành
phố Hồ Chí Minh ở miền Nam”.

]]>
Philippines thể hiện quyết tâm duy trì hiện diện ở bãi cạn Sa Bin https://biendong.net/2024/10/05/philippines-the-hien-quyet-tam-duy-tri-hien-dien-o-bai-can-sa-bin/ Sat, 05 Oct 2024 01:55:00 +0000 https://biendong.net/?p=140153 Ngày 15/09/2024, tàu BRP Teresa Magbanua của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines đã rút khỏi bãi cạn Sa Bin ở Biển Đông. Con tàu này đã thả neo tại đây trong suốt hơn 5 tháng kể từ tháng 4/2024 để xác quyết chủ quyền của Manila và ngăn Bắc Kinh chiếm quyền kiểm soát.

Tàu BRP Teresa Magbanua ở bãi cạn Sa Bin, điểm nóng mới nổi lên ở Biển Đông với 3 vụ va chạm liên tiếp giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu Philippines chỉ trong vòng chưa đầy 2 tuần lễ cuối tháng 8 vừa qua.

Hội đồng Hàng hải Quốc gia Philippines ra thông báo nêu rõ: “Sau hơn 5 tháng ở biển, tàu BRP Teresa Magbanua đã hoàn thành nhiệm vụ hoa tiêu và trở về cảng neo đậu. Nhiệm vụ đã hoàn thành”. Thông báo này được đưa ra chỉ vài ngày sau các cuộc thảo luận giữa đại diện của Philippines và Trung Quốc về tranh chấp hàng hải tổ chức hôm 11/9/2024. Tại cuộc gặp, Bắc Kinh đã nhắc lại yêu cầu “rút ngay lập tức” con tàu của Philippines khỏi bãi cạn Sa Bin. Khi đó, Manila đã không công bố phản hồi về yêu cầu này.

Động thái rút tàu của Philippines vào thời điểm này gây hoài nghi trong giới chuyên gia về sự quyết tâm của Philippines duy trì sự hiện diện tại bãi cạn Sa Bin. So sánh tình hình tại bãi cạn Sa Bin với bãi cạn Scarborough bị Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát năm 2012 sau nhiều tháng đối đầu, thậm chí có ý kiến lo ngại bãi cạn Sa Bin sẽ trở thành bãi cạn Scaborough thứ 2 ở Biển Đông lại bị Bắc Kinh khống chế, kiểm soát. Một vài nhà quan sát còn cho rằng có thể do chịu sức ép từ Bắc Kinh trong cuộc họp song phương hôm 11/9 mà Manila phải rút tàu BRP Teresa Magbanua.

Ngay sau khi tàu của Philippines rút khỏi bãi cạn Sa Bin, ngày 15/09, Trung Quốc tái khẳng định “chủ quyền không thể chối cãi đối với Xianbin Jiao (tên Trung Quốc gọi bãi cạn Sa Bin) và các vùng biển lân cận” mặc dù Sa Bin nằm cách đảo Palawan của Philippines 140 km (hoàn toàn thuộc thềm lục địa của Philippines theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982) và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1.200 km. Giới chuyên gia Trung Quốc hùa theo truyền thông của Bắc Kinh nhận định Philippines đã thất bại khi cho tàu rút khỏi bãi cạn Sa Bin. Trang “Thời báo Hoàn Cầu” của chính phủ Trung Quốc trích dẫn ý kiến một số chuyên gia Trung Quốc, cho rằng sự việc này «cho thấy Trung Quốc đã quản lý đúng tình hình, nhưng cần cảnh giác trước những hành động khiêu khích trong tương lai».

Tàu BRP Teresa Magbanua được neo ở bãi cạn Sa Bin từ tháng 04. Nhiều vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu Philippines đã xảy ra trong thời gian này. Đoạn video được Người phát ngôn Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines Jay Tarriela công bố ngày 31/08 cho thấy tàu 5205 của hải cảnh Trung Quốc «đã cố tình trực tiếp đâm vào tàu Philippines» khiến tàu BRP Teresa Magbanua bị hỏng nhưng không có người bị thương. Đây mới chính là lý do tàu BRP Teresa Magbanua phải trở về cảng để tu sửa.

Trước những ý kiến hoài nghi của một số nhà quan sát và để dáp trả lại các ý kiến của Bắc Kinh, ngày 16/09/2024, chỉ một ngày sau thông báo rút tàu BRP Teresa Magbanua khỏi bãi cạn Sa Bin, Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines khẳng định «chỉ tái bối trí con tàu» và sẽ tiếp tục «hiện diện» trong khu vực nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, bất chấp các yêu sách và hành động khiêu khích của Trung Quốc.

Người phát ngôn Lực lượng Tuần duyên, Chuẩn đô đốc Jay Tarriela nhấn mạnh «Chúng tôi không thất bại». Ông cũng khẳng định Manila «không từ bỏ gì» vì «bãi Escoda (tên Philippines gọi bãi cạn Sa Bin) nằm trong vùng đặc quyền kinh tế» của Philippines. Chuẩn đô đốc Tarriela, cho biết mặc dù tàu tuần tra PCG Teresa Magbanua của Philippines, sau khi bị tàu hải cảnh Trung Quốc làm hư hại, đã rút khỏi bãi cạn Sa Bin, nhưng Manila vẫn sẽ duy trì sự hiện diện ở vùng biển có tranh chấp và không quan tâm đến những đòi hỏi của Bắc Kinh.

Vẫn theo ông Jay Tarriela, dù tàu BRP Teresa Magbanua trở về cảng neo đậu nhưng “chúng tôi có những tàu tuần duyên khác, mà vào lúc chúng ta đang nói có thể đang đến hoặc đã tới bãi cạn Escoda». Ông không nêu chi tiết vì lý do an ninh nhưng khẳng định «Lực lượng Tuần duyên sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần thiết để đảm bảo rằng Trung Quốc không thể chiếm đóng và thậm chí đòi lại bãi cạn Escoda (Sa Bin)”. Ông Tarriela nhấn mạnh việc PCG Teresa Magbanua rút đi và trở về cảng không phải vì Philippines làm theo yêu cầu của Trung Quốc, mà là để sửa chữa con tàu và đáp ứng nhu cầu y tế của thủy thủ đoàn.

Những phát biểu cứng rắn của Lực lượng Tuần duyên Philippines nhận được sự hậu thuẫn từ Đức, khi lần đầu tiên sau hơn 20 năm, hôm 16/09 hai tàu chiến của Hải quân Đức đã cập cảng Manila trong chuyến thăm 3 ngày tới quốc gia Đông Nam Á này. Berlin cho biết hành động này nhằm tái khẳng định cam kết của Đức về một khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và cởi mở, đồng thời minh chứng cho sự hợp tác quốc phòng ngày càng phát triển giữa Đức và Philippines. Trước đó, trong cuộc họp giữa phái đoàn quân sự Mỹ với Trung Quốc tại Bắc Kinh, sau khi tham dự Diễn đàn Hương Sơn, phía Mỹ đã phê phán mạnh mẽ những hành vi hung hăng của hải cảnh Trung Quốc nhằm vào tàu Philippines ở Biển Đông

Giới phân tích cho rằng việc Manila điều tàu tuần duyên mới tới bãi cạn Sa Bin thay thế cho tàu PCG Teresa Magbanua là lẽ đương nhiên bởi Trung Quốc vẫn duy trì một số lượng lớn các tàu hải quân, hải cảnh và dân quân biển ở quanh khu vực bãi cạn Sa Bin. Trả lời báo giới hôm 17/09/2024, Người phát ngôn của Hải quân Philippines, Chuẩn đô đốc Roy Vincent Trinidad, cho biết Trung Quốc duy trì tổng cộng 65 tàu tại khu vực bãi Sa Bin.

Theo số liệu của Hải quân Philippines, được báo chí nước này đưa tin hôm 17/9, số tàu thuyền của Trung Quốc tại các khu vực tranh chấp với Philippines ở Biển Đông (như đảo Thị Tứ, bãi cạn Scarbourgough, bãi cạn Ayungin, tức bãi Cỏ Mây…) trong tuần qua là 157, giảm khoảng một phần tư so với mức cao kỷ lục 207 tàu thuyền trong tuần lễ trước đó. Mặc dù tổng số tàu thuyền Trung Quốc (bao gồm tàu hải quân, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển) giảm, nhưng số lượng tàu hải cảnh ngược lại tăng từ 18 lên 26 và tập trung tại ba khu vực, bãi cạn Sa Bin với 9 tàu, bãi Cỏ Mây 10 tàu và bãi cạn Scarbourgough, với 6 tàu.

Về bãi cạn Sa Bin, Người phát ngôn của Hải quân Philippines nhấn mạnh: bất chấp lực lượng đông đảo, phía Trung Quốc chưa thể kiểm soát được khu vực này, và các lực lượng Philippines vẫn đang tiếp tục thực thi phận sự, ngăn chặn ‘‘sự hiện diện bất hợp pháp’’ của Trung Quốc. Chuẩn đô đốc Roy Vincent Trinidad, nói rõ là Manila ‘‘đã chuẩn bị và có các kế hoạch dự phòng’’, nếu Trung Quốc có hành động lấn lướt nhằm kiểm soát bãi cạn Sa Bin, như điều đã xảy ra với bãi cạn Scarbourgough hồi 2012. Điều này thể hiện rõ quyết tâm của Manila trong việc duy trì hiện diện ở bãi cạn Sa Bin trong thời gian tới.

Trang tin tức “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” hôm 17/09/2024, dẫn lời Sherwin Ona, Giáo sư chính trị học tại Đại học De ​​La Salle của Philippines cho biết Manila có thể chấp nhận đề nghị của Washington về việc yêu cầu lực lượng Mỹ hộ tống các đoàn tiếp tế của Philippines tiếp tế cho các tàu thuyền ở những khu vực “tiền đồn” tại Biển Đông. Giới chuyên gia cho rằng nếu điều này xảy ra, đồng nghĩa với việc Mỹ bị kéo trực tiếp tham gia vào tranh chấp Biển Đông và điều này chắc chắn là bất lợi cho Trung Quốc. Qua những diễn biến trên thực địa và phát biểu của cả Philippines lẫn Trung Quốc gần đây cho thấy cuộc găp song phương giữa quan chức Philippines và Trung Quốc hôm 11/9 đã không đạt được kết quả mong muốn do quan điểm lập trường của hai bên liên quan tới căng thẳng ở bãi cạn Sa Bin quá khác nhau. Sau cuộc họp, hai bên không đưa ra điểm chung nào có thể giúp giảm căng thẳng. Tình hình tại khu vực bãi cạn Sa Bin sẽ còn tiếp tục diến biến phức tạp trong những ngày tới. Không chỉ Philippines mà ngay cả Mỹ đã rút ra bài học từ vụ việc tại bãi cạn Scarborough cách đây 12 năm để cùng phối hợp ngăn chặn tham vọng kiểm soát bãi cạn Sa Bin của Trung Quốc.

]]>
Liệu căng thẳng ở bãi cạn Sa Bin có dẫn tới xung đột ở Biển Đông hay không? https://biendong.net/2024/10/03/lieu-cang-thang-o-bai-can-sa-bin-co-dan-toi-xung-dot-o-bien-dong-hay-khong/ Thu, 03 Oct 2024 01:39:00 +0000 https://biendong.net/?p=140143 Trong thời gian gần đây, căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc với những vụ đối đầu liên tiếp ở khu vực Bãi cạn Sa Bin đang thu hút sự quan tâm của quốc tế. Nhiều người lo ngại đây sẽ là điểm có nguy cơ đụng độ bùng phát thành xung đột vũ trang.

Những cuộc va chạm liên tiếp giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu tuần duyên Philippines cuối tháng 8 vừa qua đã khiến Manila và Bắc Kinh phải nhanh chóng tổ chức cuộc họp Cơ chế Tham vấn Song phương nhằm quản lý sự khác biệt giữa hai nước. Phát biểu với báo giới hôm 04/9, Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo đã thông báo về cuộc họp giữa Manila và Bắc Kinh. Tuy nhiên, giới quan sát nhận định cuộc họp khó giải quyết được những căng thẳng xung quanh Bãi cạn Sa Bin bởi khu vực này có ý nghĩa mang tính chiến lược đối với cả Philippines và Trung Quốc mà cả hai bên không thể từ bỏ. Ông Ray Powell, Giám đốc SeaLight, một dự án về minh bạch hàng hải tại Đại học Stanford đánh gia: “Cả hai nước đều có nhiều thứ để mất nếu họ từ bỏ Bãi cạn Sa Bin, một phần vì cả hai đều đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ”.

Với Philippines, Bãi Sa Bin mang ý nghĩa chiến lược như ‘‘một trạm trung chuyển’’ của các hoạt động tiếp tế cho đơn vị quân đội đồn trú trên con tàu BRP Sierra Madre ở Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), được coi là một tiền tiêu của Philippines trong thế phòng ngự chống lại các tham vọng bành trướng của Trung Quốc ở phía nam Biển Đông. Bãi cạn Sa Bin, Philippines gọi là bãi Escoda, Trung Quốc gọi là Xianbin (Tiên Tân Tiêu), nằm cách đảo Palawan khoảng 146 km về phía Tây. Từ đây để đến được Bãi Cỏ Mây, phía Tây quần đảo Trường Sa, còn khoảng 65 km.

Theo chuyên gia Collin Koh, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, Bãi cạn Sa Bin thường được dùng làm nơi trú ẩn cho các chuyến tàu tiếp tế của Philippines: “Nếu gặp thời tiết xấu, (tàu thuyền) có thể trú ẩn một thời gian tại đây, trước khi tiếp tục chuyến đi đến Bãi Cỏ Mây, thay vì phải quay ngược lại đảo (Palawan)’’, cách đó rất xa (hơn gấp đôi đường). Chuyên gia Collin Koh còn cho rằng làm chủ Bãi cạn Sa Bin cũng cho phép ngăn chặn tàu thuyền đến đảo Thị Tứ, một hòn đảo lớn do Philippines kiểm soát ở Biển Đông, nơi có khoảng 400 thường dân sinh sống. 

Chuyên gia Trung Quốc Ding Duo, Phó giám đốc Viện Luật và Chính sách Hàng hải tại Viện Nghiên cứu Nam Hải (tức Biển Đông) ở Hải Nam, cũng dự báo ‘‘rất có khả năng sẽ xảy ra nhiều cuộc đối đầu trên biển gay gắt và dữ dội hơn giữa hai lực lượng hải cảnh Trung Quốc và tuần duyên Philippines gần vùng biển ngoài khơi Bãi cạn Sa Bin, do giá trị chiến lược của bãi cạn này đối với hoạt động tiếp tế của Manila cho Bãi Cỏ Mây’’. 

Theo nhiều chuyên gia, Bãi cạn Sa Bin cũng được coi là rất quan trọng đối với an ninh năng lượng của Philippines vì nằm gần Reed Bank, một khu vực cách Palawan khoảng 85 hải lý được cho là có trữ lượng dầu khí đáng kể. Hồi tháng 4/2024, cựu thẩm phán của Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio cho biết trữ lượng khí đốt tại Reed Bank có khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng của Philippines đến 75 năm, do vậy cần kiểm soát Bãi cạn Sa Bin để bảo vệ các hoạt động dầu khí ở Reed Bank trong tương lai.

Điểm trung chuyển của các hoạt động tiếp tế cho vị trí tiền tiêu Bãi Cỏ Mây của Philippnes, và nguồn năng lượng dồi dào là hai trong số các lý do chính khiến Manila coi Bãi cạn Sa Bin là một khu vực có ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, lý do trực tiếp khiến Manila quyết định khẩn cấp tăng cường sự hiện diện tại khu vực này là để ngăn ngừa viễn cảnh Bắc Kinh chiếm lĩnh bãi cạn, biến nơi đây thành một căn cứ quân sự như tại 7 thực thể địa lý khác thuộc quần đảo Trường Sa. Giới phân tích nhận định nếu để Bắc Kinh kiểm soát, khống chế Bãi cạn Sa Bin như họ đã làm với Bãi cạn Scarborough hồi năm 2012 thì sẽ là cơn ‘‘ác mộng’’ với Manila.

Với Trung Quốc, khống chế Bãi can Sa Bin không chỉ ngăn chặn được các hoạt động tiếp tế của Philippines cho binh sĩ trên Bãi Cỏ Mây mà còn giúp Bắc Kinh kiểm soát tuyến đường hàng hải quan trọng trên Biển Đông. Chính vì vậy, Trung Quốc từ lâu đã có mưu toan chiếm đoạt Bãi cạn Sa Bin. Bắc Kinh đã từng có các hoạt động chuẩn bị cho việc cải tạo Bãi cạn Sa Bin nhưng bị Philippines phát hiện.

Các nhà phân tích chiến lược đánh gia trong mưu đồ thôn tính Biển Đông, Bắc Kinh coi Bãi cạn Sa là điều không thể nhân nhượng. Theo chuyên gia Collin Koh, Singapore, ‘‘đối với đảng Cộng Sản Trung Quốc, đối với Tập Cận Bình, điều đó rõ ràng là không khả thi vì dẫn đến những tổn thất chính trị rất lớn’’. Giới lãnh đạo Trung Quốc cũng không muốn bị hạ nhục nếu phải chấp nhận lui bước trước ‘‘một đối thủ nhỏ hơn và yếu hơn nhiều’’ ở khu vực Bãi cạn Sa Bin.

Tháng 5/2024, Manila bắt đầu lên án các hoạt động “cải tạo” của Trung Quốc tại Bãi cạn Sa Bin. Người phát ngôn của Tuần duyên Philippines, chuẩn tướng Jay Tarriela, cho biết lực lượng tuần duyên của nước này đã phát hiện ra nhiều đống san hô chết và bị nghiền nát, được đổ lên các bãi cát của bãi cạn. Bắc Kinh đã phủ nhận các cáo buộc của Manila về mưu toan xây dựng đảo nhân tạo ở Sa Bin. Trước đó, từ tháng 4/2024, Philippines đã triển khai tàu BRP Teresa Magbanua, một trong những tàu tuần duyên tối tân nhất đến khu vực Sa Bin. Trong khi đó, Trung Quốc điều động nhiều tàu lớn, kể cả tàu CCG-5901, với tải trọng 12.000 tấn, được coi là ‘‘tàu tuần duyên lớn nhất thế giới’’. Liên tục trong những ngày cuối tháng 8/2024, Manila đã cáo buộc tàu Trung Quốc đâm và phun vòi rồng vào tàu Philippines, bắn pháo sáng vào máy bay Philippines.

Trong bối cảnh đó, truyền thông nhà nước Trung Quốc loan tin Philippines đang cố gắng sử dụng tàu BRP Teresa Magbuana để tạo ra một ‘‘căn cứ quân sự bán chính thức’’ Bại bãi cạn Sa Bin, tương tự như với con tàu BRP Sierra Madre, chiếc tàu rỉ sét thời Thế chiến thứ hai, đã được Philippines cố tình cho mắc cạn tại Bãi Cỏ Mây hồi 1999 để khẳng định chủ quyền. Bắc Kinh một mặt liên tục yêu cầu, thúc ép Philippines rút tàu BRP Teresa Magbuana, mặt khác bắn tiếng Trung Quốc đang xem xét khả năng kéo tàu BRP Teresa Magbanua của Philippines ra khỏi Bãi cạn Sa Bin.

Đáp trả lại những lời đe doạ của Bắc Kinh, hôm 09/9/2024 Đại tá Xerxes Trinidad, người phụ trách truyền thông của quân đội Philippines, cảnh cáo Trung Quốc không được phép dùng vũ lực để di dời tàu thuyền của Philippines. Giới quan sát nhận định với tuyên bố của Đại tá Xerxes Trinidad xem như một lằn ranh đỏ trong các tranh chấp ở Biển Đông giữa Philipppines và Trung Quốc đã được vạch rõ. Bãi cạn Sa Bin, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippnines, cách lãnh thổ Trung Quốc hơn nghìn cây số, có tầm quan trọng mang tính biểu tượng rất lớn với chính quyền Manila. Tổng thống Ferdinand Marcos Jr đã từng nhiều lần khẳng định cam kết không nhượng bộ ‘‘một milimet chủ quyền trên biển’’. Xem ra, Bãi cạn Sa Bin dường như đang trở thành điểm đối đầu không thể khoan nhượng giữa Manila và Bắc Kinh.

Ngày 11/9/2024 các quan chức Philippines và Trung Quốc đã tổ chức cuộc họp trong khuôn khổ Cơ chế Tham vấn Song phương tại Bắc Kinh. Tại cuộc họp phía Trung Quốc đã một lần nữa khẳng định chủ quyền của họ tại Bãi cạn Sa Bin và nhắc lại yêu cầu Manila rút ngay lập tức tàu tuần duyên của Philippines neo đậu tại bãi cạn này từ tháng 4 đến nay. Đáp lại yêu cầu đó, trên mạng xã hội X, Thứ trưởng Ngoại giao Philippines, bà Theresa Lazaro đã tái khẳng định lập trường “kiên định” của Manila về Bãi cạn Sa Bin, nhưng cho biết Philippines đang tìm phương cách để làm giảm căng thẳng trong khu vực này. Kèm theo những dòng chữ đó là bức ảnh chụp bà bắt tay Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trần Hiểu Đông (Chen Xiaodong). 

Thứ trưởng Lazaro nói thêm: “Chúng tôi đồng ý sẽ tiếp tục thảo luận về các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là về đường dây nóng, hợp tác tuần duyên, và hợp tác công nghệ, nghiên cứu khoa học”. Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Philippines, trong cuộc họp tại Bắc Kinh, hai bên đã có những cuộc trao đổi rất “thẳng thắn”. Giới quan sát nhận định với tiềm lực kinh tế quân sự kém xa Trung Quốc, đương nhiên Philippines không muốn căng thẳng ở khu vực Bãi cạn Sa Bin leo thang tới mức xung đột nên mặc dù kiên quyết bảo vệ chủ quyền và các lợi ích trên biển, Manila sẽ nỗ lực cao nhất để giảm căng thẳng với Bắc Kinh ở khu vực Bãi cạn Sa Bin.

Nhưng tình hình tại Bãi cạn Sa Bin không dễ gì nhanh chóng trở lại yên ắng, nhất là sau khi tại Diễn Đàn An Ninh Hương Sơn Bắc Kinh, Trung tướng Hà Lôi của Trung Quốc đã dọa sẽ “đập tan” mọi hành động xâm phạm “chủ quyền” của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo nhật báo Philippines Inquirer, đáp lại lời đe dọa đó, hôm nay, Người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Philippines Jonathan Malaya tuyên bố Manila sẽ tiếp tục “bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình ở Biển Tây Philippines (cách Philippines gọi Biển Đông)”.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ – Trung ở Biển Đông và trong khu vực ngày càng gay gắt, diễn biến ở khu vực Bãi cạn Sa Bin nói riêng và Biển Đông nói chung còn phụ thuộc vào phản ứng và cách tiếp cận của Mỹ – đồng minh theo Hiệp ước của Philippines. Nhiều chuyên gia cho rằng Trung Quốc đang lợi dụng việc Washington đang phải chia sẻ lực lượng trên nhiều ‘‘mặt trận’’ (Mỹ phải bận tậm vào cuộc chiến ở Ukraine và xung đột ở Trung Đông) và nước Mỹ đang bước vào giai đoạn cuối cùng chuẩn bị cho cuộc bầu cử vào 05/11 tới để gia tăng các hoạt động hung hăng nhằm vào Philippines ở Biển Đông.

Trước những vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu tuần duyên Philippines ở Bãi cạn Sa Bin, Mỹ nhanh chóng lên án  hành vi hung hăng của Bắc Kinh và khẳng định cam kết bảo vệ đồng minh theo Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951. Vào cuối tháng 8 vừa qua, Tướng Romeo Brawner, Tổng tham mưu trưởng quân đội Philippines, cho biết Washington đã đề nghị là các tàu của Mỹ hộ tống các tàu tiếp liệu của Philippines đến các vùng tranh chấp trên Biển Đông, sau khi khi Bắc Kinh nhiều lần ngăn chận các chuyến tàu tiếp liệu này. Tuy nhiên, hiện Manila chưa cần đến sự hộ tống của tàu Mỹ, trừ phi họ không còn có thể tiếp tế lương thực để cứu đói cho binh lính Philippines trú đóng ở những thực thể trên Biển Đông. 

Giới phân tích nhận định với tư cách là đồng minh theo Hiệp ước phòng thủ chung của Philippines, song trên thực tế Mỹ hoàn toàn không muốn các vụ va chạm giữa tàu Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông leo thang đến mức họ bị kéo vào một cuộc xung đột với Trung Quốc. Bắc Kinh đã nhiều lần công khai yêu cầu Washington không được quyền can thiệp vào tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông. Giọng điệu hù dọa của Trung tướng Hà Lôi bên lề Diễn Đàn An Ninh Hương Sơn Bắc Kinh cũng là nhằm vào Mỹ khi ngạo mạn nói rằng: “Nếu như ở hậu trường Mỹ sử dụng những quân cờ, đẩy một số quốc gia lên tuyến đầu hay tự họ bước lên tuyến đầu thì quân đội Trung Quốc sẽ không ngần ngại đáp trả đích đáng, quyết tâm của Trung Quốc mạnh mẽ, không có gì lay chuyển được”, nhất là giờ đây Bắc Kinh “đã có những khả năng vững chắc, những phương tiện hiệu quả” để bảo vệ chủ quyền trên bộ và trên biển.

Một bài toán khó đặt ra cho Washington hiện nay là làm sao vẫn hỗ trợ được cho đồng minh Manila bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích trên Biển Đông, trong đó có Bãi cạn Sa Binh theo UNCLOS mà không để xảy ra xung đột quân sự. Để thể hiện rõ quan điểm của mình trên vấn đề Biển Đông, tại cuộc thảo luận phối hợp chính sách quốc phòng Mỹ – Trung Quốc được tổ chức bên lề Diễn Đàn An Ninh Hương Sơn Bắc Kinh, hôm 12/9/2024, phái đoàn Bộ Quốc phòng Mỹ đã một lần nữa nêu lên quan ngại của Washington trước những hành động của Trung Quốc đối với Philippines ở Biển Đông.  Diễn biến tại khu vực Bãi cạn Sa Bin nói riêng và Biển Đông nói chung trong thời gian tới sẽ còn phức tạp, khó lường. Chính quyền Philippines sẽ hết sức kiềm chế song sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp Mỹ và các đồng minh của Mỹ để đối phó hiệu quả với Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ theo dõi sát thái độ của Mỹ và các đồng minh trong việc hậu thuẫn cho Philippines để cân nhắc hành động của mình vì trên thực tế Trung Quốc không muốn xảy ra một cuộc đối đầu quân sự, nhất là giữa lúc kinh tế Trung Quốc đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

]]>
TQ liệu có đang thử thách những cam kết của Mỹ ở Biển Đông? https://biendong.net/2024/10/01/tq-lieu-co-dang-thu-thach-nhung-cam-ket-cua-my-o-bien-dong/ Tue, 01 Oct 2024 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=140114 Khi mà căng thẳng ở khu vực Bãi Cỏ Mây vừa tạm thời lắng xuống khi Trung Quốc và Philippines đạt được một “thoả thuận tạm thời” hôm 21/7/2024 thì trong những ngày cuối tháng 8 vừa qua lại liên tiếp xảy ra 3 vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu công vụ Philippines ở khu vực Bãi cạn Sa Bin, cũng trong 8 tháng còn xảy ra 3 vụ va chạm giữa máy bay Trung Quốc và Philippines.

Ngoài ra, Bắc Kinh còn cho tàu xâm nhập vùng biển của Nhật Bản và máy bay quân sự xâm phạm vùng trời của Nhật Bản, mặt khác Trung Quốc tiếp tục tiến hành tập trận và cho máy bay uy hiếp xung quanh Đài Loan. Đáng chú ý là những hành động hung hăng của Bắc Kinh diễn ra giữa lúc Washington đang chuẩn bị bầu cử.

Nếu như hôm 25/8 và 31/8 các tàu hải cảnh Trung Quốc và Philippines đã liên tiếp đâm vào tàu của Philippines gần Bãi cạn Sa Bin nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines ở Biển Đông. Trong khi đó, Bắc Kinh nói rằng rạn san hô chìm một phần này (cách đảo Hải Nam tới trên 1.000 km) là một phần lãnh thổ của họ. Các video do cả đài truyền hình nhà nước Trung Quốc CCTV và lực lượng cảnh sát biển Philippines công bố đều cho thấy một tàu hải cảnh Trung Quốc đâm vào tàu Philippines.

Trong khi đó, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết một máy bay quân sự Trung Quốc đã vi phạm không phận của nước này lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 8 và một tàu khảo sát của Trung Quốc đã xâm phạm vào vùng biển lãnh thổ phía tây nam của Nhật Bản vào ngày 31/8. Tokyo đã chính thức gửi công hàm phản đối tới Đại sứ Trung Quốc tại Nhật Bản, mô tả loạt xâm phạm này là “không thể chấp nhận được”, nhưng Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh cho biết trong một cuộc họp báo thường kỳ vào ngày 2/9/2024 rằng hoạt động của tàu khảo sát Trung Quốc là “hoàn toàn hợp pháp và chính đáng”.

Ngoài các khu vực gần Philippines và Nhật Bản, Trung Quốc đã triển khai ít nhất 172 máy bay quân sự và 87 tàu hải quân đến các khu vực xung quanh Đài Loan kể từ ngày 26/8. Một số nhà quan sát cho rằng các hoạt động hung hăng của Bắc Kinh ở 3 địa điểm này có sự phối kết hợp với nhau nhằm biểu dương sức mạnh quân sự của Trung Quốc, sẵn sàng triển khai cùng lúc các hoạt động quân sự ở nhiều khu vực với mục tiêu “trừng phạt những kẻ thù lớn tiếng nhất” ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Giới phân tích nhận định các hoạt động hung hăng trên biển và trên không của Trung Quốc đối với Philippines, Nhật Bản, Đài Loan thời gian gần đây là một phần trong nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đánh giá cam kết của Mỹ trong việc hỗ trợ các đồng minh ở khu vực và Biển Đông. Ông Stephen Nagy, chuyên gia an ninh khu vực tại Đại học Cơ đốc Quốc tế ở Nhật Bản cho rằng: “Trung Quốc nhìn thấy cơ hội để thử thách cam kết của Mỹ đối với khu vực rộng lớn hơn. Vì vậy, Bắc Kinh đang gửi tín hiệu tới Washington rằng nếu họ (Mỹ) cố gắng đầu tư nhiều hơn vào Philippines và các mối quan hệ khác ở Biển Đông, Bắc Kinh sẽ cố gắng làm phức tạp cấu trúc an ninh của họ và khả năng quản lý nhiều vấn đề cùng một lúc”.

Ông Ray Powell, Giám đốc Trung tâm Đổi mới An ninh Quốc gia Gordian Knot thuộc Đại học Stanford nhận định: “Có vẻ như Trung Quốc tin rằng họ có một lượng sức mạnh áp đảo và sự thống trị leo thang nhất định, vì vậy họ đang cố gắng lấy một số quốc gia từ chối chấp nhận sự thống trị của Trung Quốc ở nước ngoài gần họ làm ví dụ”.

Mỹ và các đồng minh của Mỹ, bao gồm Nhật Bản, Úc và Liên hiệp Châu Âu, đã nhanh chóng đưa ra tuyên bố lên án hành vi hung hăng trên biển của Trung Quốc. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng hành vi xâm lược dai dẳng của Bắc Kinh ở Biển Đông cho thấy những lên án và cảnh báo này là không đủ để buộc Trung Quốc phải mềm mỏng hơn. Ông Collin Koh, chuyên gia an ninh hàng hải tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam của Singapore nhấn mạnh: “Trong năm qua, Trung Quốc đã phớt lờ mọi cảnh báo từ Mỹ và các đồng minh và tiếp tục làm những gì họ đã làm ở Biển Đông”.

Giới chuyên gia cho rằng Mỹ và các đồng minh cần triển khai nhiều biện pháp mạnh mẽ hơn nữa để chống lại hành động xâm lược hàng hải dai dẳng của Trung Quốc trên khắp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Theo các chuyên gia, những biện pháp này bao gồm tiến hành nhiều chuyến đi qua vùng biển khu vực hơn, tăng cường sự hiện diện của các tàu hải quân trong khu vực và khởi xướng tham vấn về hiệp ước phòng thủ chung giữa Mỹ và Philippines.

Chuyên gia Stephen Nagy cho rằng: “Nhiều quốc gia cần tiến hành các chuyến đi quốc tế qua Eo biển Đài Loan và Biển Đông, điều chỉnh sự hiện diện của các tàu hải quân của mình ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, tăng tần suất huấn luyện chung giữa các nước Đông Nam Á và các đồng minh khác, và cân nhắc áp đặt lệnh trừng phạt đối với Trung Quốc”.

Nhằm đáp trả phép thử và những thách thức của Bắc Kinh ở Biển Đông và trong khu vực, gần đây Washington đã tái khẳng định thiện chí sẵn sàng hỗ trợ các nhiệm vụ tiếp tế của Philippines tới các rạn san hô đang tranh chấp ở Biển Đông, đồng thời triển khai các phi đạn không đối không tầm cực xa tới Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có việc đưa hệ thống tên lửa Typhon tới đảo Luzon vào tháng 4/2024 để tham gia cuộc tập trận trên biển với Philippines. Các chuyên gia cho rằng đây là những tính toán rất cụ thể của Lầu Năm Góc nhằm thể xóa bỏ lợi thế về tầm bắn trên không của Trung Quốc.

Trên thực tế, năm 2024 Mỹ đã nhiều lần cùng các đồng minh như Nhật Bản, Úc, Canada tiến hành tuần tra và diễn tập quân sự cùng với Philippines ở Biển Đông. Mặt khác, trong 2023 Mỹ đã nhiều lần điều tàu chiến đi qua Eo biển Đài Loan. Kể từ đầu năm 2024, các tàu hải quân Mỹ đã thực hiện ít nhất bốn lần đi qua vùng biển quốc tế ở Eo biển Đài Loan, vùng biển rộng 180 km nằm giữa Đài Loan và tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Các tàu hải quân từ Canada và Hà Lan cũng đã cùng với tàu Mỹ đi qua eo biển này trong năm nay. Mới đây nhất, ngày 13/9/2024 hai tàu chiến Đức (gồm khinh hạm Baden-Württemberg và tàu tiếp tế Frankfurt am Main) đi qua eo biển Đài Loan, bất chấp cảnh cáo của Trung Quốc. Hai tàu chiến Đức đi qua eo biển Đài Loan trên hành trình từ cảng Incheon ở Hàn Quốc đến thủ đô Manila của Philippines. Như vậy, Mỹ không chỉ đơn phương can dự sâu vào Biển Đông mà còn vận động các đồng minh cùng tham gia vào mặt trận ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực.

Trong khi Trung Quốc đang cố gắng thử thách quyết tâm của Washington ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và gia tăng các hoạt động quân sự ở Tây Thái Bình Dương, một số nhà phân tích đặt câu hỏi không rõ Bắc Kinh có thể duy trì cường độ hoạt động hàng hải của mình trong bao lâu? Và Bắc Kinh cần phải nhận thức rằng các hành vi hung hăng, bắt nạt các nước láng giềng chỉ đẩy ra xa Trung Quốc và tìm kiếm sự hợp tác từ bên ngoài và chỉ có lợi cho Mỹ.

Ông Ian Chong, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Quốc gia Singapore nhận định mặc dù Trung Quốc “vẫn có thể chi nhiều tiền hơn cho quốc phòng và thúc đẩy các yêu sách hàng hải của mình, nhưng họ có thể làm được bao nhiêu trong tương lai vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải khi nền kinh tế của họ trưởng thành và nhân khẩu học của họ gây sức ép nhiều hơn đến tăng trưởng”.

Một cuộc nghiên cứu được lực lượng vũ trang Đài Loan thực hiện đã đưa đã báo cáo ước tính rằng Trung Quốc đã chi khoảng 15,3 tỷ đô la, tương đương 7% ngân sách quốc phòng, cho cho các hoạt động quân sự ở vùng biển ngoài khơi bờ biển phía bắc và Eo biển Đài Loan, Biển Đông và Tây Thái Bình Dương. Với việc cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đang bước vào những tuần cuối cùng, ông Powell tại Stanford dự báo Trung Quốc sẽ duy trì mức độ hung hăng trên biển tương tự ở Biển Đông và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong những tháng tới.

Nhằm kêu gọi Mỹ và các đồng minh can dự sâu hơn vào Biển Đông để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc, Tổng thống Philippine Ferdinand Marcos Jr. gần đây nhấn mạnh vai trò của Biển Đông đối với thế giới, đồng thời cảnh báo đây “không còn là vấn đề khu vực nữa” khi nhấn mạnh: “Biển Đông là tuyến đường phục vụ một nửa khối lượng thương mại của thế giới và do đó hòa bình, ổn định cũng như tự do hàng hải ở Biển Đông là một vấn đề toàn cầu”; Mặt khác cảnh báo về những hệ lụy nghiêm trọng nếu bất kỳ công dân Philippines nào thiệt mạng trong những cuộc đối đầu mà Trung Quốc gây ra.

Giới quan sát nhận xét mỗi khi Philippines có bất kỳ phản ứng nào, Trung Quốc lại tăng cường độ gây hấn. Bắc Kinh thương dùng số lượng tàu áp đảo để uy hiếp, gây sức ép đối với Manila. Khi Philippines bổ sung thêm 01 tàu cảnh sát biển, Trung Quốc sẽ tăng thêm 3-4 tàu hải cảnh.

Ông Dean Karalekas, tác giả cuốn sách “Quan hệ dân sự – quân sự ở Đài Loan: Bản chất và sự biến đổi”, nhận định gia tăng các hành động hung hăng, gây hấn cả về cường độ lẫn mức độ hay phạm vi thực hiện có thể là cách Trung Quốc thử thách “lằn ranh đỏ” của Mỹ. Ông Dean Karalekas cho rằng: “Trung Quốc muốn biết liệu Mỹ có sẵn lòng tham gia vào một cuộc xung đột trên Biển Đông hay không”, và căng thẳng giữa Manila và Bắc Kinh hiện tại rõ ràng là một phép thử tốt. Karalekas lưu ý Trung Quốc cũng có thể “đánh giá thời gian phản ứng của Mỹ, quan sát chiến thuật của Mỹ và thu được kinh nghiệm vô giá khi chiến đấu với hải quân Mỹ, trong một cuộc xung đột ít rủi ro mà họ hoàn toàn có khả năng dễ dàng rút lui mà không bị mất mặt”.

Các chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc đều có chung một nhận định rằng cách làm của giới cầm quyền ở Bắc Kinh là thường tranh thủ lúc chuyển giao quyền lực chính quyền ở các nước láng giềng, gia tăng các hành động hung hăng của mình để vừa gửi thông điệp cảnh cáo tới chính quyền mới, vừa thăm dò giới hạn phản ứng thực sự của chính quyền mới. Trong trường hợp với Mỹ, giới lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng thời điểm Washington đang tập trung cho cuộc bầu cử và phải quan tâm nhiều tới cuộc chiến ở Ukraine cũng như xung đột ở Trung Đông là cơ hội để Bắc Kinh gia tăng hoạt động hung hăng nhằm tạo ra tiền lệ, đồng thời thử thách cam kết của Mỹ đối với Biển Đông nói riêng và khu vực nói chung.  Giới phân tích cho rằng Washington đã nhiều lần tuyên bố Trung Quốc là thách thức lớn nhất đối với vị thế siêu cường của Mỹ và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là trọng tâm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ nên việc Bắc Kinh thử thách các cam kết của Mỹ bằng những hành vi gây hấn dù là ở Biển Đông, biển Hoa Đông hay Eo biển Đài Loan chỉ khiến Mỹ có cớ để tăng cường sự hiện diện quân sự ở khu vực, can dự sâu hơn vào các vấn đề an ninh khu vực. Mặt khác, hành vi hung hăng, hà hiếp các nước láng giềng của Trung Quốc chỉ khiến các nước này nhận thức rõ hơn về mưu đồ bành trướng của Bắc Kinh, tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên ngoài, trong đó có Mỹ bởi chỉ có sự hiện diện của Mỹ mới có thể là nhân tố để kiềm chế sự hung hăng của Trung Quốc. Biển Đông được coi là tâm điểm cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ở khu vực nên chắc chắn phép thử của Trung Quốc chỉ tạo thêm điều kiện để Mỹ can thiệp ngày càng sâu hơn vào Biển Đông. Philippines là một ví dụ rất điển hình về sự xích lại gần Mỹ để đối phó với sự hung hãn của Bắc Kinh.

]]>
Những diễn biến căng thẳng mới giữa Philippines và TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2024/09/11/nhung-dien-bien-cang-thang-moi-giua-philippines-va-tq-o-bien-dong/ Wed, 11 Sep 2024 01:52:00 +0000 https://biendong.net/?p=141869 Sau khi Bắc Kinh và Manila đạt được thoả thuận về “dàn xếp tạm thời” tránh leo thang căng thẳng ở khu vực Bãi Cỏ Mây hôm 21/7/2024, dư luận đều hy vọng tình hình Biển Đông sẽ dịu xuống, song trên thực tế những va chạm giữa Trung Quốc và Philippines lại liên tiếp xảy ra trên những mặt trận mới trong những ngày tháng 8 vừa qua. Thậm chí, chính quyền Manila còn tuyên bố có thể xem xét lại “thoả thuận tạm thời” với Bắc Kinh.

Ngày 8/8/2024, máy bay phản lực không quân Trung Quốc đã có hành động thù địch của đối với máy bay vận tải hạng nhẹ NC- 212i của quân đội Philippines trên bãi cạn Scarborough khi máy bay phản lực của Trung Quốc bay rất gần và bắn một loạt pháo sáng trên đường bay của máy bay Philippines. Đây là cuộc chạm trán trên không đầu tiên giữa Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông. Ngày 13/8, chính phủ Philippines cho biết đã gửi công hàm phản đối ngoại giao tới Bắc Kinh.

Tiếp đó, ngày 19/8 một máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã nhiều lần bắn pháo sáng từ khoảng cách gần, nhắm vào một máy bay tuần tra dân sự của Philippines tại một khu vực gần bãi cạn Scarborough. Ba ngày sau đó, hôm 22/8 chiếc máy bay này của Philippines một lần nữa bị Trung Quốc bắn pháo sáng khi đang tuần tra tại bãi đá Xubi (Subi reef), thuộc cụm đảo Thị Tứ, quần đảo Trường Sa. Máy bay của Manila, thuộc Cục Thủy sản và Tài nguyên biển (BFAR), phối hợp với lực lượng bảo vệ bờ biển, được giao nhiệm vụ theo dõi và chặn tàu thuyền đánh bắt trộm xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Lực lượng đặc nhiệm nói rằng “Hành động của máy bay Trung Quốc cho thấy ý định gây nguy hiểm cho sự an toàn của nhân viên trên máy bay Philippines”.

Giới chuyên gia nhận định hoạt động của máy bay Philippines tuần tra trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình trên Biển Đông là phù hợp với luật pháp quốc tế. Hành vi gây bắn pháo sáng gây nguy hiểm cho các máy bay Philippines là sai trái và hết sức ngang ngược, thể hiện mức độ hung hăng ngày càng leo thang của giới cầm quyền ở Bắc Kinh, khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại.

Mỹ lên án hành vi của Trung Quốc bắn pháo sáng vào máy bay của Philippines, Đại sứ Mỹ tại Manila MaryKay Carlson đăng trên nền tảng X: “Với Philippines, chúng tôi kêu gọi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngừng các hành động khiêu khích và nguy hiểm làm suy yếu một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Mỹ, Úc và Canada đã từng báo cáo về các hành động nguy hiểm tương tự của máy bay không quân Trung Quốc trong thời gian qua ở Biển Đông, nơi các quốc gia này đã triển khai lực lượng để thúc đẩy tự do hàng hải và hàng không.

Như vậy, chỉ trong vòng 2 tuần lễ đã xảy ra 3 vụ việc Trung Quốc gây nguy hiểm đối với máy bay tuần tra của Philippines ở Biển Đông. Giới quan sát nhận định Trung Quốc đang mở ra một mặt trận mới, uy hiếp các máy bay của Philippines ở Biển Đông nhằm gây sức ép buộc Philippines phải khuất phục. Hôm 23/8, Manila kêu gọi Trung Quốc chấm dứt “các hành động khiêu khích và nguy hiểm” đe dọa an ninh của các tàu và máy bay Philippines, và cho rằng “những hành động như vậy đe dọa hòa bình và an ninh khu vực, đồng thời làm xấu thêm hình ảnh của Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế”.

Trên biển, rạng sáng ngày 19/8 đã xảy ra va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu của Philippines tại khu vực bãi cạn Sabina, nằm cách đảo Palawan của Philippines 140 km về phía Tây. Chuẩn đô đốc Jay Tarriela, Phát ngôn viên lực lượng tuần duyên Philippines, cho biết tàu Trung Quốc đâm 2 lần vào tàu Philippines: cú va chạm đầu tiên đã gây ra một lỗ thủng trên thân tàu BRP Bagacay của Philippines. Cú va chạm thứ hai đã làm móp méo thân tàu và hư hỏng lan can bảo vệ của tàu. Manila đã công bố những hình ảnh tàu Philippines bị hư hại. Tuần duyên Philippines cũng cho biết thêm là một tàu khác của Philippines cũng bị va chạm thủng một lỗ rộng 1,1m ở thân tàu, ống xả của tàu cũng bị hỏng. Một đoạn phim chiếu trên đài truyền hình Nhà nước Trung Quốc cũng cho thấy tàu Trung Quốc đâm vào phía sau tàu Philippines.

Manila nhận định đây là hành động thù địch đầu tiên của Bắc Kinh tại khu vực này, nơi cả Trung Quốc và Philipines đều triển khai tàu tuần duyên từ vài tháng nay. Philippines lo ngại Trung Quốc chuẩn bị xây đảo nhân tạo tại bãi cạn Sabina. Trong khi đó, Phát ngôn viên hải cảnh Trung Quốc đổ lỗi cho Philippines khi nói rằng: “Bất chấp nhiều cảnh báo từ phía Trung Quốc, tàu 4410 của Philippines đã cố tình đâm vào tàu 21551 của Trung Quốc”; cáo buộc tàu Philippines hành động “thiếu chuyên nghiệp và nguy hiểm” và “hải cảnh Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp kiểm soát tàu Philippines theo đúng luật pháp”.

Bộ Ngoại giao Mỹ, hôm 19/08/2024, đã lên án mạnh mẽ “những hành động nguy hiểm” của Trung Quốc đối với các tàu Philippines ở Biển Đông, sau vụ va chạm giữa tuần duyên nước này và hải cảnh Trung Quốc gần khu vực bãi cạn Sabin. Tuyên bố của Washington khẳng định Mỹ sát cánh cùng đồng minh Philippines và lên án những hành động nguy hiểm của Trung Quốc khi “thực hiện các hành động liều lĩnh, cố tình va chạm với hai tàu tuần duyên Philippines khiến những tàu này bị hư hỏng cấu trúc và gây nguy hiểm cho thủy thủ đoàn trên tàu”.

Washington kêu gọi Bắc Kinh tuân thủ luật pháp quốc tế và chấm dứt hành vi nguy hiểm và gây bất ổn; đồng thời, tái khẳng định Điều IV của Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines, ký kết vào năm 1951, sẽ được kích hoạt khi lực lượng vũ trang hay các thiết bị quân sự của Philippines, bao gồm cả lực lượng tuần duyên nước này, bị tấn công ở bất kỳ đâu trên Biển Đông.

Chính quyền Manila, hôm 20/08, đã chỉ trích lực lượng hải cảnh Trung Quốc không thiện chí trong việc xây dựng lòng tin ở Biển Đông. Phó đô đốc hải quân Philippines Alexander Lopez bày tỏ “mối quan ngại sâu sắc về hành vi cố ý quấy rối và xâm phạm của Trung Quốc” đối với chủ quyền và quyền chủ quyền của Philippines ở Biển Đông và kêu gọi Bắc Kinh kiềm chế các hành động gây hấn và tuân thủ luật pháp quốc tế.

Ngày 25/08/2024, thêm một vụ va chạm đã xảy ra giữa một tàu hải cảnh Trung Quốc và một tàu của Cục thủy sản và tài nguyên Philippines tại bãi cạn Sabina ở Biển Đông. Philippines tố cáo hành động nguy hiểm của hải cảnh Trung Quốc, dùng vòi rồng tấn công họ. Bắc Kinh thì khẳng định hải cảnh nước này đã thực hiện những biện pháp kiểm soát đối với tàu của Philippines đi vào “lãnh hải của nước này một cách bất hợp pháp”.

Theo thông báo của chính quyền Manila, tàu BRP Datu Sanday (của Cục Thủy sản và Tài nguyên nước của Philippines – BFAR), đã chạm trán với 8 tàu ​​Trung Quốc khi đang trên đường từ bãi cạn Hasa-Hasa đến bãi cạn Sabina. Cuộc đụng độ xảy ra cách bãi cạn Sabina khoảng 10 hải lý vào lúc 14h11 hôm 25/8. Phía Philippines cáo buộc Trung Quốc đã cố tình đâm vào tàu của Philippines, và phun vòi rồng vào tàu của Philippines khi tàu đang tiến gần đến bãi cạn Sabina và cho rằng tàu của Trung Quốc muốn ngăn chặn tàu của BFAR cung cấp cho ngư dân Philippines các nhu yếu phẩm như dầu diesel, thực phẩm và viện trợ y tế.

Chính phủ Philippines lên án hành động “hung hăng và nguy hiểm” của hải cảnh Trung Quốc đã làm hỏng động cơ tàu Philippines, khiến tàu không hoàn thành được nhiệm vụ “nhân đạo”. Trong khi đó, hải cảnh Trung Quốc khẳng định rằng sự cố này xảy ra là do tàu của Philippines từ chối tuân thủ quy định kiểm soát của Bắc Kinh khi đi vào “lãnh hải của nước này một cách bất hợp pháp”. Trung Quốc còn cảnh báo Philippines phải ngay lập tức “chấm dứt các hành động xâm phạm”, nếu không “sẽ phải gánh chịu mọi hậu quả phát sinh từ tình huống này”. 

Sau nhiều sự vụ va chạm trên không và trên biển giữa hai nước ở những khu vực đang có tranh chấp chủ quyền, chính phủ Philippines hôm 26/08/2024, đã lên án Trung Quốc về những hành động “hung hăng, không chuyên nghiệp và bất hợp pháp” trên Biển Đông. Theo Hội đồng Hàng hải Quốc gia của Philippines, phi cơ Trung Quốc đã có những thao tác “nguy hiểm” đối với một tàu tuần tra dân sự của Philippines gần bãi cạn Scarborough và Đá Subi. Cơ quan này cũng tố cáo các tàu của Trung Quốc hôm qua 25/08 đã “chặn, đâm hoặc bắn vòi rồng” vào tàu của lực lượng tuần duyên Philippines đang làm nhiệm vụ tiếp tế lương thực, thuốc men và nhiên liệu cho các ngư dân Philippines ở bãi cạn Sabin.

Trong tuyên bố, Hội đồng Hàng Hải Quốc gia Philippines nhấn mạnh đó là những hành động “đáng báo động”, khiến người ta nghi ngờ về cam kết của Bắc Kinh “làm giảm căng thẳng trong khu vực và tạo một môi trường thuận lợi cho đối thoại và tham vấn”. Cũng trong ngày 26/8, Bộ trưởng Quốc Phòng Philippines Gilberto Teodoro hôm nay xem những hành động của Trung Quốc trong vụ va chạm tàu ở khu vực Bãi Sabin hôm 25/8 là hoàn toàn “bất hợp pháp”; đồng thời, tuyên bố Philippines sẽ tập trung tăng cường lực lượng quân sự để chống trả các cuộc tấn công vũ trang. Mặt khác, Manila tuyên bố sẽ tiếp tục theo đuổi con đường ngoại giao để quản lý các vấn đề trên biển và kêu gọi Trung Quốc “trở lại con đường đối thoại xây dựng” về các vấn đề trên Biển Đông.

Những vụ va chạm giữa máy bay Philippines và giữa tàu hải cảnh Trung Quốc với tàu công vụ Philippines trên Biển Đông liên tiếp xảy ra trong tháng 8 vừa qua khi mới đây ( ngày 21/7) hai nước đã nhất trí “khôi phục lòng tin” và “xây dựng lại lòng tin” để quản lý tốt hơn các tranh chấp trên biển là dấu hiệu đáng lo ngại. Điều này cho thấy căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc chưa hề lắng dịu, thậm chí còn mở rộng cả về phạm vi lẫn hình thức: lần đầu tiên máy bay Trung Quốc uy hiếp gây nguy hiểm đối với các máy bay Philippines ở Biển Đông; lần đầu tiên tàu hải cảnh Trung Quốc đâm vào tàu công vụ của Philippines ở khu vực bãi cạn Sabin.

Giới chuyên gia nhận định việc Trung Quốc sử dụng máy bay kết hợp với tàu hải cảnh trong chiến lược “vùng xám” đang tạo ra nguy cơ lớn đối với các nước ven Biển Đông, bởi những va trạm trên Biển Đông trong thời gian tới không chỉ là giữa tàu hải cảnh Trung Quốc với tàu công vụ của các nước ven Biển Đông mà còn sẽ là giữa không quân Trung Quốc với lực lượng không quân còn có phần hạn chế của các nước ven Biển Đông. Đáng chú ý, đầu tháng 8 vừa qua Trung Quốc cũng đã công khai cho máy bay không người lái UAV bay dọc theo bờ biển Việt Nam khiến giới chuyên gia hết sức lo ngại. Trong bối cảnh đó, giới chuyên gia khuyến nghị, các nước ven Biển Đông cần theo dõi sát tình hình và có kế hoạch xây dựng phương án đối phó phù hợp, đồng thời các nước ven Biển Đông cần tăng cường hợp tác an ninh trên biển với nhau và với các nước ngoài khu vực để tạo sức mạnh trong việc đối đầu với sự hung hăng của Bắc Kinh. Các nước khu vực, nhất là các nước ven Biển Đông cần đưa nội dung an toàn hàng không, cấm những hành vi nguy hiểm đến hoạt động bay trên bầu trời Biển Đông vào nội dung chương trình nghị sự các cuộc họp của ASEAN, đồng thời đưa nội dung này vào Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong đàm phán với Trung Quốc.

]]>
Mỹ nên làm gì để tránh xung đột quân sự ở Biển Đông https://biendong.net/2024/09/05/my-nen-lam-gi-de-tranh-xung-dot-quan-su-o-bien-dong/ Thu, 05 Sep 2024 05:44:00 +0000 https://biendong.net/?p=136843 Trong suốt một năm qua, hải cảnh Trung Quốc liên tiếp có các hành động hung hăng nhằm vào các tàu tiếp tế của Philippines tại khu vực Bãi Cỏ Mây, nhiều lần gây hư hỏng nặng tàu và gây thương tích cho thuỷ thủ của Philippines. Vụ việc nghiêm trọng xảy ra hôm 17/6/2024khi tàu hải cảnh Trung Quốc đã cố tình va chạm với tàu tiếp tế của Philippines ở khu vực Bãi Cỏ Mây. Lực lượng hải cảnh Trung Quốc sử dụng rìu, dao rựa, và giáo mác tự chế. Một thủy thủ Philippines đã bị mất ngón tay trong cuộc đụng độ sau đó.

Cuối tháng 5 vừa qua, Tổng thống Philippines Ferdinand “Bongbong” Marcos, Jr., đã có bài phát biểu quan trọng tại Đối thoại Shangri-La 2024 ở Singapore, cảnh báo rằng nếu một công dân Philippines bị giết bởi một hành động cố ý, điều đó sẽ “rất, rất gần với những gì chúng tôi (Philippines) định nghĩa là hành động chiến tranh”, theo đó có thể buộc Philippines phải viện dẫn Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951 với Mỹ. Tuy nhiên, những tuyên bố cứng rắn của Tổng thống Marcos vẫn không khiến Bắc Kinh dừng cản trở Philippines tiếp tế cho binh sĩ trên tàu Sierra Madre mà còn trở nên hung hăng hơn như trong vụ việc hôm 17/6/2024.

Trong thời gian gần đây, các quan chức Mỹ đã liên tục gửi tín hiệu riêng tư và công khai tới những người đồng cấp Trung Quốc, rằng Mỹ kiên định với các cam kết liên minh Mỹ-Philippines. Mới đây nhất, Cố vấn An ninh Nhà Trắng còn phát biểu công khai tại một diễn đàn (hôm 19/7) rằng Hiệp ước phòng thủ chung với Philippines áp dụng cho tàu Sierra Madre trên Bãi Cỏ Mây. Thông điệp này nhằm mục đích cảnh báo Trung Quốc không nên vượt quá giới hạn của Mỹ bằng các nỗ lực cản trở tiếp cận Bãi Cỏ Mây, một rạn san hô chìm ở Biển Đông, nơi tàu Sierra Madre của Philippines đang đóng vai trò là tiền đồn cho binh lính Philippines.

Những diễn biến trên cho thấy Bãi Cỏ Mây có sức nặng biểu tượng lớn đối với cả Philippines, Trung Quốc và Mỹ. Hiện tại, rất khó có hy vọng về sự thỏa hiệp. Đối với Philippines, Bãi Cỏ Mây đã trở thành biểu tượng quốc gia về quyết tâm của nước này nhằm chống lại các hành động bắt nạt của Trung Quốc và tuân thủ luật pháp quốc tế. Năm 2016, Tòa Trọng tài được thành lập theo phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển đã ra phán quyết rằng Trung Quốc không thể tuyên bố chủ quyền đối với Bãi Cỏ Mây và quyền chủ quyền đối với bãi cạn này được trao cho Philippines. Chính quyền Manila kiên quyết duy trì tàu Sierra Madre trên Bãi Cỏ Mây nhằm khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của mình.

Về phía Trung Quốc, nhằm thực hiện tham vọng khống chế, độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh luôn tìm cách đẩy con tàu Sierra Madre ra khỏi Bãi Cỏ Mây (một vị trí quan trọng trên tuyến đường hang hải ở Biển Đông) để kiểm soát khu vực này như họ đã là với bãi cạn Scarborough năm 2012. Bắc Kinh cáo buộc Manila đã từ bỏ “thoả thuận không được nuốt lời” với chính quyền Rodrigo Duterte về các giới hạn đối với nỗ lực tiếp tế, nhưng chính phủ đương nhiệm của Tổng thống Marcos đã đáp trả rằng không có thỏa thuận nào như vậy tồn tại. Trung Quốc còn cáo buộc Mỹ xúi giục và hậu thuẫn cho Philippines đối đầu với Trung Quốc ở Bãi Cỏ Mây.

Đối với Mỹ, mặc dù không phải là bên liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song Washington xem cuộc tranh chấp ở Bãi Cỏ Mây là mối đe dọa đến uy tín của các cam kết an ninh trong quan hệ giữa Mỹ với đồng minh, vốn củng cố vị thế của Mỹ ở châu Á và trên toàn thế giới. Vì thế, nếu Washington không kiên định bảo vệ Philippines, thì các đồng minh và đối tác an ninh khác sẽ đặt câu hỏi về mức độ đáng tin cậy của Mỹ và buộc phải xây dựng chiến lược phòng bị nước đôi.

Giới chuyên gia cho rằng xét đến những ưu tiên mâu thuẫn của ba bên liên quan tới Bãi Cỏ Mây, Mỹ sẽ cần phải tìm cách cân bằng. Mỹ không thể để mình bị xem là thụ động trước áp lực của Trung Quốc chống lại đồng minh hiệp ước. Mặt khác, Washington phải duy trì vị thế là người bảo vệ hiện trạng, qua đó làm tăng thêm sự tương phản với những nỗ lực kiểu xét lại của Trung Quốc nhằm thay đổi tình hình tại Bãi Cỏ Mây.

Dù không phải là một bên tranh chấp, song Mỹ có thể đóng vai trò quan trọng để giúp các bên “xuống thang” giảm căng thẳng. Cần xác định rõ mục tiêu của mình là gì? Đối với Washington, thành công là duy trì được độ tin cậy của các cam kết liên minh, tránh xung đột với Trung Quốc, và ngăn chặn việc Trung Quốc chiếm đóng Bãi Cỏ Mây. Để đạt được những kết quả này đòi hỏi Washington phải cân nhắc mọi quyết định chính sách xem liệu chúng có ngăn chặn hay sẽ kích động một cuộc khủng hoảng. Bãi Cỏ Mây là một thách thức chiến lược mang yếu tố quân sự, chứ không phải là một vấn đề quân sự với giải pháp quân sự. Vì vậy, Washington phải chống lại sức ép để xem vấn đề này là một cuộc thử thách ý chí quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc, thay vào đó, cần tận dụng hành động bắt nạt của Bắc Kinh tại Bãi Cỏ Mây để củng cố các quan hệ trong khu vực. Để tránh xảy ra xung đột quân sự, Mỹ cần làm gì?

Thứ nhất, Washington nên sử dụng mọi kênh ngoại giao sẵn có với Bắc Kinh để vạch rõ mục tiêu nhằm duy trì hiện trạng tại Bãi Cỏ Mây và yêu cầu Bắc Kinh hành động tương tự. Một sự minh bạch về ý định của hai bên sẽ giúp giảm thiểu khả năng tính toán sai lầm. Đồng thời, Washington nên nói rõ rằng nếu Trung Quốc càng gây áp lực lên Philippines, thì Mỹ sẽ càng cảm thấy có nghĩa vụ phải cung cấp hỗ trợ đối trọng cho đồng minh của mình. Trọng tâm trước mắt của Washington là hạn chế khả năng cuộc đối đầu hiện tại leo thang thành xung đột vũ trang. Washington nên thúc ép Bắc Kinh giảm bớt áp lực công khai và vũ lực lên Manila, và thay vào đó, nên can dự trực tiếp với các đối tác Philippines để giải quyết căng thẳng.

Thứ hai, Washington nên tư vấn riêng cho Manila về việc tránh các hành động đơn phương không được phối hợp, vốn có thể dẫn đến leo thang căng thẳng. Cần phải làm rõ rằng người Mỹ ủng hộ các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Manila và Bắc Kinh để xuống thang căng thẳng.

Các cuộc đàm phán thành công giữa các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông về các tranh chấp trên biển của riêng họ sẽ làm nổi bật sự tương phản giữa tinh thần trách nhiệm của họ với hành vi bắt nạt của Trung Quốc. Chẳng hạn như Mỹ cần công khai lên tiếng ủng hộ các Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa đã đạt được giữa Việt Nam-Indonesia. Washington cũng nên sớm bày tỏ sự ủng hộ đối với những nỗ lực của Việt Nam và Philippines trong việc đàm phán ranh giới trên biển mà cả hai bên đã thể hiện sự sẵn sàng khi đệ trình hồ sơ Ranh giới thềm lục địa mở rộng mới đây; đồng thời khuyến khích các bên tranh chấp khác ở Đông Nam Á hành động tương tự.

Thứ ba, Washington nên kêu gọi các quốc gia có quan ngại can thiệp riêng tư với Bắc Kinh nhằm ngăn chặn leo thang căng thẳng. Sự tham gia tích cực của nhiều chủ thể hơn, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á mà Bắc Kinh đang muốn xích lại gần, sẽ khiến tranh chấp hiện tại không còn giống như một cuộc đụng độ đơn thuần giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này cũng có thể buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tham gia tích cực hơn vào việc quản lý các hành động của nước này xung quanh Bãi Cỏ Mây, thay vì giao các quyết định quan trọng cho các nhà lãnh đạo quân sự và bán quân sự, những người có thể cảm thấy họ buộc phải hành động theo cách làm tăng nguy cơ leo thang, thay vì tìm cách làm giảm leo thang.

Thứ tư, để ngăn chặn Trung Quốc, Washington phải nói rõ với Bắc Kinh rằng họ sẽ đáp trả hành động gây hấn của Trung Quốc bằng cách tăng cường hỗ trợ cho Manila. Để đạt được mục tiêu đó, Mỹ phải duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ và bền bỉ trong khu vực. Washington cũng nên tiếp tục đầu tư vào các cơ sở quân sự ở Philippines (tổng cộng 9 căn cứ quân sự) mà Manila đã cho phép Mỹ tiếp cận theo Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường năm 2014. Mỹ cũng nên xem xét công bố thêm các kế hoạch mở rộng đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế của Philippines.

Thứ năm, Washington cũng nên sử dụng cuộc khủng hoảng này như một cơ hội để mở rộng sự hiện diện rõ ràng của mình trong khu vực. Việc tăng cường tuần tra hàng hải kết hợp với các đồng minh ở Biển Đông gần đây là một khởi đầu tốt và cần được phát huy. Các hoạt động tự do hàng hải bổ sung của Mỹ ở các khu vực khác trên Biển Đông có thể chuyển hướng sự chú ý của Bắc Kinh khỏi Bãi Cỏ Mây. Đầu tư vào năng lực của các đối tác Đông Nam Á như Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, và Việt Nam để giúp họ hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực hàng hải cũng có thể trở thành tín hiệu kịp thời cho thấy Mỹ không hài lòng trước hành động gây hấn của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Thứ sáu, có một điều Washington không nên làm đó là không nên thúc ép Manila nhượng bộ các yêu cầu của Trung Quốc tại Bãi Cỏ Mây, vì điều này có nghĩa là phục tùng mọi yêu cầu của Bắc Kinh và sẽ khiến Bắc Kinh càng thêm lần tới. Cần hiểu rằng xuống thang phải dựa trên nguyên tắc chứ không phải là “đầu hàng”. Trong tranh chấp ở Bãi Cỏ Mây, rõ ràng là lẽ phải và luật pháp đứng về phía Philippines. Nếu Washington đề nghị với Manila rằng họ nên từ bỏ hoặc giảm bớt vị thế của mình tại Bãi Cỏ Mây, thông điệp đó có thể sẽ bị rò rỉ ra truyền thông, khiến các đồng minh của Mỹ mất niềm tin về ý chí của nước này trong việc chống lại Trung Quốc, chưa kể đến thiệt hại lâu dài mà nó gây ra cho quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines.

Vụ va chạm hôm 17/6 giữa hải cảnh Trung Quốc và tàu công vụ Philippines tạo ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, gây mối lo ngại đối với cộng đồng quốc tế về nguy cơ xung đột xảy ra ở Biển Đông. Bắc Kinh và Manila buộc phải ngồi vào đàm phán để hạ nhiệt căng thẳng. Cuộc gặp giữa Thứ trưởng Ngoại giao Philippines và Trung Quốc diễn ra hôm 02/7/2024 với nhận thức chung của hai bên là cần phải giảm căng thẳng. Tiếp đó, là các cuộc họp giữa hai bên để tìm kiếm một thoả thuận tạm thời để giảm căng thẳng ở khu vực Bãi Cỏ Mây và cuối cùng Manila và Bắc Kinh đã đạt được “thoả thuận tạm thời” hôm 21/7.

Giới phân tích nhận định việc Philippines và Trung Quốc tiến hành đàm phán hôm 02/7 và việc hai bên đi tới một “thoả thuận tạm thời” là có sự “bật đèn xanh” của Mỹ thúc ép cả hai bên “xuống thang”. Mặc dù Mỹ không tham gia đàm phán, tuy nhiên, đây là kết quả của việc Washington triển khai một số điểm trong số 6 điểm mà Mỹ nên làm kể trên, chẳng hạn như: (i) chủ động khuyến khích Philippines tiến hành đàm phán với Trung Quốc; (ii) sự phối hợp chặt chẽ giữa Manila và Washington, trong đó có sự tư vấn cho Philippines về cách thức, mức độ xuống thang; (iii) sự thể hiện thái độ cương quyết của Washington trong hỗ trợ Manila bảo vệ con tàu Sierra Madre và trước đó Mỹ đã nhiều lần cùng các đồng minh và Philippines tuần tra ở Biển và từng nói rõ với Bắc Kinh về quan điểm của Mỹ đối với việc duy trì tiếp tế của Philippines cho binh sĩ ở Bãi Cỏ Mây.

Cách tiếp cận này của Mỹ là hoàn toàn phù hợp, dù là không thể giúp giải quyết tranh chấp Biển Đông vì mục tiêu và tham vọng của Trung Quốc đối với Biển Đông là không thay đổi, song ít nhất nó giúp “hạ nhiệt” căng thẳng để tránh xung đột. Tóm lại, cần nhận thức rằng việc vạch ra một con đường trung gian giữa gây hấn và nhượng bộ thúc đẩy “hoà hoãn” đòi hỏi sự tinh tế và kiên nhẫn. Nó sẽ không mang lại bất kỳ khoảnh khắc chiến thắng nào. Nhưng nó lại là hy vọng tốt nhất để hạn chế nguy cơ xảy ra xung đột trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông. Điều mà Mỹ cần làm ở Biển Đông.

]]>