Biển Đông – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 06 Feb 2026 18:21:47 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai (P2) https://biendong.net/2026/02/07/hoang-sa-va-truong-sa-sau-chien-tranh-the-gioi-thu-hai-p2/ Sat, 07 Feb 2026 04:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=163291
  • Pháp trở lại kiểm soát Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tháng 5/1945. Trung Quốc chiếm đảo Ba Bình tháng 1/1946 và Phú Lâm tháng 12/1946
  • Trong thời gian từ ngày 20/5 đến ngày 27/5/1945, Ðô đốc D’Argenlieu (người sau đó làm Cao ủy Ðông Dương từ tháng 8/1945), đã phái tốc hạm L’Escamouche và chiến hạm Savorgnan de Brazza ra nắm tình hình và tuần tra Quần đảo Hoàng Sa. Một phân đội lính Pháp đã đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza lên đảo Hoàng Sa và trấn giữ Nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây Quần đảo Hoàng Sa. Riêng Nhóm đảo An Vĩnh ở phía đông vẫn do Nhật đóng quân chờ giải giáp.

    Suốt thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp chưa bao giờ tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Vương quốc An Nam ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nước Pháp có trách nhiệm bảo hộ. Mặc dù trong giai đoạn này bắt đầu có một số nước lên tiếng đòi hỏi chủ quyền vô lý ở một số đảo, nhưng tất cả đều bị chính quyền Pháp kiên quyết phản đối. Những tư liệu lịch sử nói trên cho thấy, người Pháp cũng như người Việt trong suốt lịch sử và tại thời điểm này chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Cho đến khi thua trận rút khỏi Ðông Dương, Chính phủ Pháp cũng đã bàn giao quyền quản lý vùng biển này lại cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam.

    Trung Quốc chiếm đảo Ba Bình (tháng 1/1946)

    Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Ðế quốc Nhật Bản chiếm một số đảo thuộc Nhóm An Vĩnh của Quần đảo Hoàng Sa, và sử dụng đảo Ba Bình ở Quần đảo Trường Sa làm căn cứ tàu ngầm cho các chiến dịch ở Ðông Nam Á. Sau cuộc chiến, Pháp tái khẳng định chủ quyền đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Tháng 1/1946, Trung Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) lấy cớ giải giáp quân đội Nhật đã cho hai tàu chiến đổ bộ dựng bia trên đảo Ba Bình (Quần đảo Trường Sa), và gọi là đảo Thái Bình (Tai Ping Dao). Trước đó chính quyền Pháp đã dựng bia chủ quyền tại đây. Pháp phản đối kịch liệt, trong năm 1946 cho tàu liên tục tuần tra kiểm soát Quần đảo Trường Sa, nhưng không chạm trán với Trung Hoa trên đảo Ba Bình.

    · Tình huống phức tạp ở Ðông Dương 1945 – 1946

    Cần thiết phải đề cập đôi nét về tình hình không đơn giản của những năm 1945 – 1946 quy định lịch sử vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

    Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9/3/1945, Pháp mất quyền cai trị Ðông Dương. Khi Nhật đầu hàng Ðồng minh, chớp thời cơ, Cách mạng tháng Tám đã thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập; Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Ðình ngày 2/9/1945. Nên lưu ý rằng, toàn bộ những hoạt động của chính quyền Cách mạng non trẻ Việt Nam lúc đó đều có sự hợp tác và nhận được sự ủng hộ tương đối nhiệt thành của Mỹ và lực lượng Ðồng minh[1].

    Theo thỏa thuận của Ðồng minh thì quân Anh sẽ vào miền Nam và 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch sẽ giải giáp quân Nhật ở miền Bắc. Tuy Việt Nam đã giành chính quyền và tuyên ngôn độc lập, nhưng Pháp vẫn muốn tái lập quyền cai trị Ðông Dương, nên tháng 9/1945 Pháp đã dựa vào Anh ở miền Nam và Trung Quốc ở miền Bắc hòng cướp lại chính quyền từ phía Cách mạng. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp có nguyên nhân từ đây và bắt đầu hình thành.

    Mặc dù Trung Hoa Dân Quốc vẫn công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng lại bắt tay với Pháp để đưa quân Pháp tái xâm nhập miền Bắc theo chân Ðồng minh. Do vậy, ngày 28/2/1946, Hiệp ước Trùng Khánh (Còn gọi là Hiệp ước Hoa – Pháp) giữa Pháp và Trung Quốc được ký kết.

    Nhiệm vụ giải giới quân Nhật của quân Trung Hoa Dân Quốc do Ðại tướng Lư Hán chỉ huy diễn ra từ khi quân Trung Hoa Dân Quốc kéo vào Bắc Ðông Dương từ ngày 20/8/1945.

    Ðến ngày 28/2/1946, Cao ủy D’Argenlieu đã ký với Ðại tướng Hà Ứng Khâm Hiệp ước Trùng Khánh, theo đó, quân Trung Hoa Dân Quốc chấp nhận rút quân về nước, bàn giao cho Pháp tiếp quản Lào và Việt Nam ở Bắc vĩ tuyến 16 trong khi chờ có nghị quyết mới của Liên hợp quốc.

    Với Hiệp ước này, Pháp trả lại cho Trung Quốc các tô giới của Pháp trên đất Trung Hoa là Hán Khẩu, Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Ðông, Quảng Châu Loan, Sa Diện và nhượng lại quyền khai thác và sở hữu tuyến đường sắt Hải Phòng – Côn Minh cũng như từ bỏ quyền lãnh sự tài phán đối với công dân Pháp sống tại Trung Quốc. Trung Quốc còn được quyền khai thác kinh tế tại đặc khu Hải Phòng. Ðổi lại, Trung Hoa Dân Quốc đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 31/3/1946. (Tuy nhiên, trên thực tế, quân Trung Hoa Dân Quốc vẫn đồn trú tại miền Bắc Việt Nam đến ngày 15/6/1946).

    Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28/2/1946 đặt Việt Nam vào tình thế phải lựa chọn, hoặc là ngay lập tức cầm vũ khí chống Pháp trở lại miền Bắc, hoặc là phải hòa hoãn với Pháp để đuổi 20 vạn quân Tưởng để giành thời gian chuẩn bị lực lượng đối phó với tình hình. Ðúng lúc này, Jean Sainteny, đại diện Pháp ở Hà Nội, do hiểu được khả năng không thể khuất phục tinh thần dân tộc Việt Nam bằng quân sự, hơn nữa với thực lực mới chỉ kiểm soát được khu vực ngoại vi các thành phố và các quốc lộ lớn ở Nam Bộ, nên Pháp đã ký một thỏa ước với Chính phủ Hồ Chí Minh – Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 [2].

    Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 trên thực tế là một nước cờ chính trị lợi hại của Chính phủ Hồ Chí Minh, và cũng một phần của phía Pháp: Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc giải giáp quân Nhật. Pháp sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, đồng ý trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ để tái thống nhất đất nước. Hai bên ngừng bắn, giữ nguyên hiện trạng quân đội để đàm phán về tương lai của Ðông Dương, quan hệ quốc tế và quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Về phía Pháp, quân đội Pháp được đưa ra miền Bắc, mà không bị sự cản trở từ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ phía Trung Hoa Dân Quốc.

    Theo Hiệp định ngày 6/3/1946 việc giải giáp quân Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 trở ra giao cho Liên quân Việt – Pháp.

    Trong thời gian quân Trung Quốc đang ở Việt Nam, ngày 18/3/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cử một phái đoàn sang Trùng Khánh gặp gỡ Trung Quốc. Cuộc gặp gỡ ở Trùng Khánh cùng với chủ trương “Hoa – Việt thân thiện” – khôn khéo sử dựng những sách lược linh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian đó, đã góp phần đẩy được 20 vạn quân Tưởng ra khỏi đất nước và mở ra những cục diện có lợi cho Việt Nam về sau.

    Mặc dù đã ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng ba năm sau đó Tổng thống Pháp vẫn tiếp tục ký Hiệp ước Elysee ngày 8/3/1949 với Bảo Ðại, một Cựu vương đã thoái vị tháng 8/1945, lập ra một thực thể chính trị mới là “Quốc gia Việt Nam”, đôi khi còn được gọi là “Ðế quốc Việt Nam” tồn tại trong giai đoạn 1949 – 1956.

    Hiệp ước Elysee (Accords de l’Elysée) được ký kết ngày 8/3/1949 giữa Cựu vương Bảo Ðại và Vincent Auriol, Tổng thống Cộng hòa Pháp kiêm Chủ tịch Khối Liên hiệp Pháp dưới hình thức trao đổi thư. Hiệp ước Elysee ngày 8/3/1949 công nhận “Quốc gia Việt Nam” là một quốc gia độc lập nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Bảo Ðại là quốc trưởng. Pháp chuyển giao cho Việt Nam những quyền và nghĩa vụ quốc tế với tư cách là quốc gia thừa kế của Pháp. Ngày 16/6/1949 Bảo Ðại về nước và ngày 1/7/1949 trở thành Quốc trưởng kiêm Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam”. Ngày 29/6/1950, Pháp chính thức công nhận “Quốc gia Việt Nam” là chính phủ của Việt Nam thành viên thuộc Khối Liên hiệp Pháp. Những năm sau đó, “Quốc gia Việt Nam” đã gia nhập một số tổ chức quốc tế như ILO – 6/1950, FAO – 11/1950, UNESCO- 6/1951…

    Ðiều đáng chú ý là, đại diện Việt Nam tham dự Hội nghị San Francisco năm 1951 là “Quốc gia Việt Nam”, trong khi cả Trung Quốc đại lục và Ðài Loan không được tham dự Hội nghị hậu chiến lịch sử quan trọng này. Những năm 50 (thế kỷ XX), phần lớn các nước phương Tây, khi không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thừa nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Quốc gia Việt Nam. Cuối năm 1955, Ngô Ðình Diệm – với tư cách là Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam” đã lên làm Tổng thống sau cuộc “Trưng cầu dân ý” ngày 23/10/1955. Từ năm 1956, Quốc gia Việt Nam theo Hiến Pháp ngày 26/10/1956 trở thành chính thể Việt Nam Cộng hòa.

    Về Bảo Ðại và Chính phủ “Quốc gia Việt Nam”, Bách khoa thư về các nguyên thủ và các chính phủ 1900 – 1945, một cuốn bách khoa được giới học thuật đánh giá là có uy tín và có thái độ khách quan, viết:

    “Ngày 25/8/1945, ông đã hợp tác một thời gian ngắn với Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập (Bắc Việt Nam). Ông sống lưu vong ở Hồng Kông vào tháng 7/1946. Người Pháp đã cố gắng thiết lập lại chính quyền thuộc địa Ðông Dương và tham dự vào cuộc chiến tranh với Việt Minh. Pháp đã tham gia đàm phán với Bảo Ðại, và Nhà nước Liên hiệp tự trị Việt Nam (The Autonomous Associated State of Vietnam – “Quốc gia Việt Nam”) được thành lập vào tháng 3/1949. Bảo Ðại trở thành người đứng đầu Chính phủ và nhậm chức tại Sài Gòn vào ngày 14/6/1949. Người Pháp tiếp tục chiến đấu với quân đội Hồ Chí Minh cho đến khi chịu những thất bại lớn tại Ðiện Biên Phủ vào tháng 7/1954. Một Hiệp ước đã được ký kết tại Geneva thành lập hai quốc gia riêng biệt được phân chia bởi vĩ tuyến 17. Bảo Ðại vẫn là nguyên thủ quốc gia của miền Nam Việt Nam. Thủ tướng của ông, Ngô Ðình Diệm đã tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý vào năm 1955 nhằm xác định hình thức chính phủ cho Việt Nam. Cuộc Trưng cầu dân ý đã ủng hộ áp đảo một nền Cộng hòa, và Ngô Ðình Diệm được bầu chọn làm Tổng thống ngày 26/10/1955” [3].

    Sau Hiệp ước Elysee ngày 8/3/1949, mặc dù quân đội Pháp vẫn đồn trú một số đảo thuộc Quần đảo Hoàng Sa cho đến năm 1956, nhưng ngày 14/10/1950, Pháp đã chính thức chuyển giao quyền bảo vệ và quản lý quần đảo này cho Việt Nam. Tướng Phan Văn Giáo, lúc đó là Toàn quyền miền Trung, đã đích thân ra đảo Hoàng Sa để chủ trì buổi lễ chuyển giao.

    Ðến ngày 31/3/1946, việc rút quân Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi Bắc Ðông Dương căn bản kết thúc. Ngày 10/4/1946, quân Pháp hoàn tất việc rải quân trấn đóng khắp các vị trí quan trọng ở Bắc Ðông Dương, bước đầu sự trở lại của Pháp ở thuộc địa cũ.

    · Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm (tháng 12/1946)

    Ðầu tháng 6/1946, Cao ủy D’Argenlieu lại cử chiến hạm Savorgnan de Brazza ra tăng cường cho Quần đảo Hoàng Sa.

    Ngày 26/6/1946, 4 tàu chiến của Trung Hoa Dân Quốc kéo ra Quần đảo Hoàng Sa nhưng bị tàu Pháp ngăn chặn và xua đuổi nên phải rút lui.

    Vì cuộc kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Ðông Dương) bùng nổ dữ đội ở Nam Bộ và Trung Bộ, trong khi tình hình Bắc Bộ cũng rất căng thẳng, nên tháng 9/1946, chiến hạm Savorgnan de Brazza phải rút vào Ðà Nẵng. Nhưng Pháp vẫn để quân trấn giữ nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây Quần đảo Hoàng Sa.

    Ngày 11/10/1946, Ủy ban liên bộ thuộc Chính phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định chủ quyền của Pháp đối với Quần đảo Hoàng Sa và thể hiện điều đó bằng việc khôi phục lại hoạt động trạm khí tượng tại Hoàng Sa. Hành động này cho thấy người Pháp lúc đó đã ý thức rất rõ Hoàng Sa – Trường Sa có giá trị như thế nào.

    Cho đến tháng 12/1946, tại đảo Phú Lâm (nhóm An Vĩnh phía đông Quần đảo Hoàng Sa) vẫn còn một trung đội lính Nhật chiếm đóng với hai tàu chiến cũ hoàn toàn hư hỏng và hết nhiên liệu. Quân Nhật tại đây liên lạc với một tàu buôn Hồng Kông đi ngang qua yêu cầu đất liền hỗ trợ. Tháng 12/1946, Ðại tướng Hà Ứng Khâm cho ba tàu chiến đổ bộ lên chiếm đảo Phú Lâm và cho quân Nhật về nước, trong khi nhiệm vụ giải giới quân Nhật đã kết thúc từ tháng 3/1946.

    Ngày 7/1/1947, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố họ đã chiếm giữ Quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) nhưng thực ra chỉ chiếm được một đảo Phú Lâm, mà phía Trung Quốc gọi là đảo Vĩnh Hưng, ở phía đông Quần đảo Hoàng Sa.

    Ngày 17/1/1947, Cao ủy D’Argenlieu cử pháo hạm Le Tonkinois ra nhóm đảo An Vĩnh để đòi quân Trung Hoa rút khỏi đây. Khi yêu cầu này bị từ chối, quân Pháp cho 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân Việt Nam tăng cường trấn giữ đảo Hoàng Sa (Pattle Island, một hòn đảo lớn thuộc Quần đảo Hoàng Sa), cùng với một số ca nô tuần tra nhóm đảo Nguyệt Thiềm ở phía tây Quần đảo Hoàng Sa.

    Ngày 4/7/1947, Bộ Ngoại giao Pháp đề nghị với Trung Hoa Dân Quốc đàm phán hữu nghị hoặc đưa vấn đề ra Tòa án trọng tài quốc tế. Phía Trung Quốc khước từ. Nhưng do bị thua trận trong lục địa, tháng 10/1947, quân Trung Hoa Dân Quốc phải rút khỏi đảo Phú Lâm. Pháp lại kiểm soát toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa.

    Khi hệ thống thuộc địa của Pháp bắt đầu tan rã, nước Pháp cũng ngừng tuần tra Quần đảo Trường Sa vào năm 1948 và chuyển giao nhiệm vụ này cho một hải đội hải quân của Việt Nam.

    1. Việt Nam thu hồi toàn vẹn Hoàng Sa – Trường Sa ngày 14/10/1950 và tuyên bố chủ quyền không tranh chấp tại Hội nghị San Francisco ngày 8/9/1951

    Tháng 4/1949 tại Sài Gòn, Hoàng thân Nguyễn Phước Bửu Lộc, Chánh văn phòng Quốc trưởng Bảo Ðại của “Quốc gia Việt Nam”, tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa.

    Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển trả cho Chính phủ “Quốc gia Việt Nam” toàn vẹn chủ quyền Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giáo (thuộc Chính phủ Bảo Ðại) thay mặt Việt Nam đã chủ tọa buổi lễ thu hồi chủ quyền này.

    Mặc dù “Quốc gia Việt Nam” chỉ là thực thể chính trị có vị thế không tường minh và thiếu thực lực chính trị thực tế, nhưng việc tiếp nhận từ Chính phủ Pháp toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa lại là hành động lịch sử có ý nghĩa vô cùng giá trị đối với chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này. Chính phủ Cộng hòa Pháp sau gần100 năm thiết lập chế độ thực dân ở Việt Nam, đã chính thức trả cho Việt Nam chủ quyền toàn vẹn hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng một nghi thức long trọng và chuẩn mực theo công pháp quốc tế.

    Về sự kiện này, Sách Trắng Việt Nam Cộng hòa năm 1975 viết: “Tướng Phan Văn Giáo, lúc đó là Thủ hiến Trung phần, đã đích thân ra đảo Hoàng Sa để chủ trì buổi lễ. Vị tướng thực hiện chuyến đi đến hòn đảo xa xôi và cách trở này vì ông đã báo cáo với Thủ tướng Trần Văn Hữu ở Sài Gòn: “Tôi tin rằng sự hiện diện của tôi trong tổ chức Việt Binh Ðoàn (Regional Guard Unit) sẽ có tác dụng an ủi về tinh thần trong ngày đơn vị nhận trọng trách nặng nề”. Không còn nghi ngờ gì nữa, Thủ tướng Trần Văn Hữu hài lòng với sáng kiến của ngài Thủ hiến, vì vào năm sau (1951) chính ông sẽ tham dự Hội nghị Hòa bình San Franciso với Nhật Bản trước khi ông tái khẳng định một cách long trọng và dứt khoát các quyền của đất nước mình đối với cả Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Sau thất bại năm 1945, Nhật Bản đã từ bỏ mọi yêu sách đối với những hòn đảo mà lực lượng của họ đã chiếm đóng”[4].

    · Philippines tuyên bố về Trường Sa ngày 17/5/1951

    Ngày 17/5/1951, Tổng thống Philippines Elpidio Quirino tuyên bố với báo chí: “Về phương diện địa dư, Quần đảo Spratly ở sát liền Quần đảo Philippines nên phải thuộc về Philippines”, và thừa nhận có các trạm khí tượng do Pháp xây dựng ở Quần đảo Hoàng Sa (trạm Phú Lâm 48859, trạm Hoàng Sa 48860) và ở Quần đảo Trường Sa (trạm Ba Bình 489189). Việc Tổng thống Philippines Quirino tuyên bố với giới báo chí rằng Quần đảo Spratly thuộc về Philippines, nhưng lại thừa nhận rằng trên những đảo đó người Pháp từ lâu đã thực thi sự quản lý và có các trạm khí tượng, thì chính Tổng thống Quirino lại cùng với những người phát ngôn của Chính phủ Philippines lúc đó đã tự bác bỏ mình[5].

    Tại Hội nghị San Francisco ngày 7/9/1951, phái đoàn Philippines do Bộ trưởng Ngoại giao Carlos Romulo đứng đầu đã không có phản ứng gì khi Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam“ Trần Văn Hữu khẳng định hai Quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) thuộc lãnh thổ Việt Nam.

    Ngày 24/8/1951, Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn quốc gia của Trung Quốc, lên tiếng tranh cãi về chủ quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines, đồng thời tuyên bố khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo mà họ gọi là Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

    · Hiệp ước San Francisco ngày 8/9/1951

    Sau tối hậu thư Potsdam tháng 7/1945, Nhật chấp nhận thất bại, đồng ý thỏa mãn các yêu sách Cairo năm 1943 và Potsdam năm 1945. Ngày 2/9/1945 Nhật ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện trên chiến hạm của Mỹ neo đậu tại vịnh Tokyo với Tướng Douglas MacArthur, đại diện của phe Ðồng minh cùng sự ký nhận chứng kiến của 9 quốc gia gồm Mỹ, Anh, Trung Hoa, Liên Xô, Úc, Canada, Hà Lan, New Zealand và Pháp. Việc mở hướng cho thể chế nước Nhật thời hậu chiến, tạo lập trật tự quan hệ quốc tế mới, cũng như việc giải quyết vấn đề phần lãnh thổ do Nhật chiếm đóng, cần được phân định bằng một hiệp ước quốc tế để tránh phát sinh những xung đột mới. Từ ngày 4/9 đến ngày 8/9/1951, Hội nghị San Francisco được tổ chức để bàn về việc ký hòa ước với Nhật Bản. Trong hội nghị này, vấn đề chính là thảo luận dự thảo “Hiệp ước Hòa bình giữa các nước trong phe Ðồng minh với Nhật Bản” do Anh và Mỹ đưa ra ngày 12/7/1951, nhằm chính thức kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Á – Thái Bình Dương.

    Tham dự Hội nghị với Nhật Bản có đại biểu của 50 quốc gia, gồm: Ai Cập, Anh, Argentina, Ba Lan, Bỉ, Bolivia, Brasil, Cambodia, Cannada, Ceylon, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Dominica, Ecuador, Ethiopia, Hy Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Hà Lan, Indonesia, Iran, Iraq, Lào, Lebanon, Liberia, Liên Xô, Luxembourg, Mexico, Mỹ, Na Uy, Nam Phi, Nicaragoa, Pakistan, Panama, Paraguay, Peru, Pháp, Philippines, Salvador, Saudi Arabia, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc, Uruguay, Australia, Venezuela, Việt Nam. Ðại biểu thứ 51 là Trung Hoa không được mời tham dự, vì có sự bất đồng giữa hai đồng chủ tịch Hội nghị là Mỹ và Liên Xô trong việc chọn Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) hay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc đại lục mới ra đời năm 1949).

    Trong phiên họp ngày 5/9/1951, việc đòi hỏi cho quyền lợi của Trung Quốc đối với Quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Quần đảo Spratly (Trường Sa) đã được phái đoàn Liên Xô nêu ra. Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Andrey A. Gromyko đã đưa ra đề nghị gồm 13 khoản tu chính để chuẩn bị cho việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc: “Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Paracel (đảo Hoàng Sa) và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam”. Nhưng với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận (Ba Lan, Liên Xô, Tiệp Khắc), Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này của Liên Xô. Như vậy, cái gọi là “danh nghĩa chủ quyền Trung Hoa” đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Ðông Nam Á đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế [6].

    Ðoàn Chính phủ “Quốc gia Việt Nam” do Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu làm trưởng đoàn. Ngày 7/9/1951 tại Hội nghị, có sự tham dự đầy đủ của phái đoàn 51 quốc gia, Trần Văn Hữu đã đọc bài tuyên bố (bằng tiếng Pháp) như sau:

    Thật là nghiêm trọng và cảm kích cho Việt Nam đưọc đến San Francisco tham dự công việc của Hội nghị Hòa bình với Nhật Bản. Sở dĩ chúng tôi được hiện diện tại đây là nhờ các tử sĩ của chúng tôi và lòng hy sinh vô bờ bến của dân tộc chúng tôi, một dân tộc đã chịu dựng biết bao đau khổ để được sống còn và giành sự trường tồn cho một nòi giống đã có hơn bốn ngàn năm lịch sử.

    Nếu mỗi dân tộc đã thống khổ do sự chiếm đóng của Nhật Bản, có quyền tham dự Hội nghị này, như tất cả diễn giả liên tiếp hai ngày nay đã đồng thanh nhìn nhận, mặc dù thuộc ý thức hệ nào đi nữa cũng vậy, thì cái quyền Việt Nam lên tiếng về Hòa ước Hòa bình với Nhật Bản lại càng dĩ nhiên hơn lúc nào hết, vì không ai không biết rằng, trong tất cả các quốc gia Á châu, Việt Nam là một nước chịu nhiều đau khổ nhứt về tài sản cũng như về tính mạng người dân. Và tôi thiếu sót phận sự tối thiểu đối với dồng bào quá vãng nếu giờ phút này, tôi không hưóng một ý nghĩ thành kính đến số một triệu dân Việt mà do hoàn cảnh bi thảm của sự chiếm đóng đã đưa đến cái chết đau thương. Những hư hại vật chất mà đất nước chúng tôi gánh chịu không phải là ít, và toàn bộ nền kinh tế của chúng tôi bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Cầu cống và đường sá bị cắt đứt, làng xã bị triệt hạ hoàn toàn, nhà thương và trường học bị thiệt hại, bến tàu và đường sá bị đội bom, tất cả đều phải làm lại, đều cần thiết phải làm lại, nhưng than ôi cần có nguồn tài nguyên quá cao so với khả năng hiện hữu của chúng tôi.

    Cho nên, trong lúc khen ngợi sự rộng lưọng của những tác giả dự án thỏa hiệp này, chúng tôi cũng trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận.

    Là những người Á châu, chúng tôi thành thật hân hoan trước những viễn tưởng mới mẻ mở rộng ra cho một quốc gia Á Ðông sau khi kết thúc thỏa hiệp hòa bình này. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng góp phần vào sự phục hưng của một dân tộc Á Ðông bình dị và cần mẫn như nước Nhật Bản đây. Chúng tôi tin chắc rằng những người dân châu Á phải là những người phát khởi thịnh vưọng chung của mình. Họ cũng trông cậy nơi chính mình để xa lánh mọi chế độ đế quốc và trong việc thiết lập một trạng thái quốc tế mới, một sự liên đới Á châu cũng cần thiết như một sự liên đới Âu châu vậy.

    Ðiều này không có ý muốn nói là sẽ có một ngày nào đó hai sự đoàn kết này sẽ chống đối lẫn nhau. Ðiều này chỉ muốn nói một cách giản dị là các dân tộc châu Á một khi đã được các quốc gia Tây phương hoàn thành việc giúp đỡ họ xây dựng hòa bình, tôi nói rằng một khi mà hòa bình đã vãn hồi, các dân tộc Á châu không thể sẽ là gánh nặng cho kẻ khác, mà trái lại họ phái nhớ nằm lòng, là họ phải tự bảo vệ mạng sống của họ bằng những phương tiện riêng của họ. Ðiều đó, ít nhất cũng là nguyện vọng của Việt Nam và dù cho có phái chịu nhiều thăng trầm cực nhọc, họ vẫn tự hào là không lúc nào để nhụt chí. Nhưng một dân tộc độc lập phải là một dân tộc tự hào, và cũng bởi sự tự hào, theo chúng tôi, có cái giá, giá đó tuy không thể nào bằng sự tự hào của Nhật Bản, mà chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của Hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào.

    Tuy nhiên, nếu dự thảo hiệp ước này đòi hỏi thắng thắn cái quyền đền bồi lại tất cả những thiệt hại mà chính Nhật Bản hoặc là tác giả, hoặc ngẫu nhiên đã gây ra, những đền bù được dự liệu bằng các cung cấp dịch vụ, trong trường hợp của Việt Nam mà không được đền bồi bằng những nguyên liệu, thì chắc chắn sẽ chẳng có kết quả gì cả. Tất cả mọi thứ Việt Nam, cũng cần như Nhật Bản, một số trợ giúp quan trọng để tái tạo nền kinh tế của mình. Từ đó, nếu nhận những đền bù chánh yếu bằng những cung cấp dịch vụ thì chẳng khác nào như là đi tín nhiệm mọi thứ tiền không thể lưu hành ở xứ mình.

    Do vậy, chúng tôi sẽ phải đòi hỏi nghiên cứu lại các phương thức bồi hoàn hữu hiệu hơn và nhất là chúng tôi phải tính, ngoại trừ những phương tiện tạm thời, tới một sự bồi thường chính thức vào cái ngày mà chúng tôi ước mong là sẽ rất gần, cái ngày mà nền kinh tế của Nhật Bản sẽ được phục hưng để họ có thể đương đầu với tất cả mọi bắt buộc. Việt Nam rất hào hứng ký nhận trước nhất cho công cuộc xây dựng hòa bình này.

    Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội nhằm dập tắt những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam[7].

    Tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam đã được toàn thể cử tọa vỗ tay rất lâu, không hề có một phản ứng chống đối, yêu sách bảo lưu, hoặc yêu sách nào khác của 50 quốc gia còn lại tham dự Hội nghị [8].

    Như vậy, hầu hết các quốc gia (48/51), đều phủ nhận đòi hỏi của Trung Quốc về chủ quyền các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng lá phiếu phủ quyết đề nghị của đại diện Liên Xô về 13 khoản tu chính nêu tại Hội nghị. Ðồng thời cũng hầu hết các nước (48/51) tham dự Hội nghị không phản đối, nghĩa là chấp nhận việc ghi vào biên bản lời phát biểu của Thủ tướng Trần Văn Hữu xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hồ sơ toàn thể Hội nghị cùng lời phát biểu của Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam” Trần Văn Hữu được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ấn hành ngay sau Hội nghị (U.S. Department of State (1951), Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace with Japan, San Francisco, California, Sep., 4-8, 1951: record of proceedings, Pub.: Washington, D.C.: Department of State, 1951), gửi cho tất cả các nước, cũng không bị nước nào phản đối, trừ Trung Quốc.

    Ngày 8/9/1951, trừ Ba Lan, Liên Xô và Tiệp Khắc do bất đồng nên không ký, còn lại đại biểu 48 quốc gia đã ký Hiệp ước Hòa bình San Francisco, chính thức chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai ở Viễn Ðông cũng như đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Thủ tướng Nhật Yoshida Shigeru đọc bài phát biểu “hòa giải” tại Nhà hát Opera San Francisco, sau đó thay mặt Chính phủ Nhật Bản ký Hiệp ước. Hiệp ước San Francisco bắt đầu có hiệu lục từ ngày 28/4/1952.

    Nội dung Hòa ước, tại Ðiều 2 (Chương II) gồm 6 nội dung, trong đó tại nội dung “f” về Hoàng Sa, Trường sa” ghi rõ “Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” (Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands). Toàn văn Ðiều 2 như sau [9]:

    a. Nhật Bản, trong khi công nhận nền độc lập của Triều Tiên, từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Triều Tiên, kể cá các Quần đảo Quelpart Port Hamilton và Dagelet.

    b. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với vùng Formosa (Ðài Loan) và Pessadores (Bành Hồ).

    c. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Kurile, đảo Skhalin và quần đảo nằm sát nước Nhật Bản, mà ở đó Nhật Bản đã giành được chủ quyền theo Hiệp ước Portsmouth ngày 5/9/1905.

    d. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi liên quan tới chế độ ủy trị của Hội Quốc liên và chấp nhận quyết định ngày 2/4/1947 của Hội đồng Báo an Liên hợp quốc gia hạn chế độ ủy trị đối với các đảo Thái Bình Dương trước đây dưói quyền ủy trị của Nhật Bản.

    e. Nhật Bản từ bỏ tất cả các đòi hỏi muốn có bất kỳ quyền, hoặc danh nghĩa, hoặc lợi ích nào liên quan tới bất cứ phần nào của vùng Nam Cực, dù đó là các hoạt động của các công dân Nhật Bản hoặc các hình thức khác.

    f. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

    ARTICLE 2

    a. Japan, recognising the independence of Korea, renounces all right, title and claim to Korea, including the islands of Quelpart, Port Hamilton and Dagelet.

    b. Japan renounces all right, title and claim to Formosa and the Pescadores.

    c. Japan renounces all right, title and claim to the Kurile Islands, and to that portion of Sakhalin and the islands adjacent to it over which Japan acquired sovereignty as a consequence of the Treaty of Portsmouth of September 5th, 1905.

    d. Japan renounces all right, title and claim in connection with the League of Nations Mandate System, and accepts the action of the UN Security Council of April 2nd, 1947, extending the trusteeship system to the Pacific islands formerly under mandate to Japan.

    e. Japan renounces all claim to any right or title to or interest in connection with any part of the Antarctic area, whether deriving from the activities of Japanese nationals or otherwise.

    f. Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.

    Ðiều 2 của Hiệp ước đã tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia bị quân Nhật chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong các vùng lãnh thổ mà Nhật phải từ bỏ, chỉ duy nhất có nêu các đảo sẽ trả cho Triều Tiên, trong khi các lãnh thổ còn lại không được nói sẽ trả cho ai. Bởi vì người chủ của các lãnh thổ này đã quá rõ ràng trước khi bị Nhật cưỡng chiếm. Do đó, việc Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa cũng có nghĩa là Nhật Bản trả lại chủ quyền của hai quần đảo mà nước này chiếm đóng trong giai đoạn 1939 – 1946 cho Việt Nam, đúng theo lời khẳng định chủ quyền của Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam“ Trần Văn Hữu. Chủ quyền đối với hai quần đảo này do vậy, hiển nhiên thuộc về Việt Nam. Mà trong thực tế, từ trước và sau Hội nghị San Francisco, toàn bộ hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do lực lượng đồn trú của Quốc gia Việt Nam trấn giữ.

    Như vậy, các vùng lãnh thổ mà Nhật Bản chiếm đóng được Tuyên bố Caio năm 1943, Tuyên ngôn Postdam năm 1945 xác nhận và Hòa ước San Francisco khẳng định lại, đã không công nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ðồng thời, tuyên bố của Việt Nam tại Hội nghị về chủ quyền của mình đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

    Về phía Trung Quốc, khi thấy bị gạt ra khỏi Hội nghị, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phản ứng bằng cách ra một số bản tuyên bố chính thức, đồng thời cho đăng các bài báo để lên án Mỹ về việc không mời Trung Quốc tham dự Hội nghị để trình bày quan điểm của họ. Một trong những quan điểm này là đòi hỏi chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy tuyên bố Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là lãnh thổ của Trung Hoa, nhưng vào lúc đó Trung Quốc lại không đưa ra được một chi tiết nào để chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo này. Và cho đến tận ngày nay, sau khi chứng cứ về Trịnh Hòa và Lý Chuẩn không đủ sức thuyết phục, Trung Quốc vẫn chỉ có một lập luận là họ có chủ quyền ngay từ thời Cổ đại.

    Trước khi Hòa ước San Francisco được ký kết ngày 8/9/1951, Trung Quốc khi nghiên cứu Dự thảo do Anh/Mỹ soạn thảo và được Mỹ gửi cho các quốc gia được mời tham dự Hội nghị, thấy Ðiều 2 của dự thảo Hòa ước không quy định hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản phải từ bỏ sẽ được trao cho quốc gia nào, ngày 15/8/1951, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vội vã tuyên bố:

    Dự thảo Hiệp ước quy định là Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với Quần đảo Nam Uy (Spratly, Trường Sa) và Quần đảo Tây Sa (Paracel, Hoàng Sa), nhưng lại cố tình không đề cập tới vấn đề khôi phục chủ quyền trên hai quần đảo này. Thực ra, cũng như các quần đảo Nam Sa, Trung Sa và Ðông Sa, Quần đảo Tây Sa (Paracel, Hoàng Sa) và Quần đảo Nam Uy (Spratly, Trường Sa) lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung Quốc [10].

    Vấn đề là ở chỗ, tuyên bố ngày 15/8/1951 đã cố tình đi ngược lại tinh thần tuyên bố ngày 4/12/1950 của chính Chu Ân Lai là yêu cầu Hội nghị San Francisco phải thực hiện Tuyên bố Cairo, Hòa ước Yalta và Tuyên ngôn Potsdam. Một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc chống lại Hòa ước San Francisco là vì nước này không được tham dự. Thực ra, tại Hội nghị San Francisco, Liên Xô đã tích cực vận động cho chủ quyền của Trung Quốc tại “đảo Paracel và các hòn đảo xa hơn về phía Nam”, nhưng hầu hết các quốc gia đều không công nhận. Vì điều này trái với công pháp quốc tế và với những thực tế đã diễn ra trên hai quần đảo này, mà các quốc gia đồng minh tham chiến vừa mới chứng kiến. Tại Hội nghị San Francisco, tất cả các nước tham dự đều biết rõ Nhật Bản đã chiếm hai quần đảo này từ tay người Pháp. Lẽ phải và sự thật lịch sử ấy đã được tôn trọng, cho dù Trung Quốc có tham dự Hội nghị San Francisco hay không.

    Nghiên cứu Hiệp ước San Francisco có thể thấy, tuy không nêu cự thể, nhưng các vùng lãnh thổ liên quan đến quốc gia nào thì đều được thể hiện trong cùng một khoản, ví như: các Quần đảo Quelpart Port Hmilton và Dagelet liên quan đến Triều Tiên (khoản a); Quần đảo Kurile và đảo Sakhalin liên quan đến Nga (khoản c). Trong khi đó, Ðài Loan, Bành Hồ (liên quan đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) và hai Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được sắp xếp ở hai khoản tách biệt nhau (b và f). Ðiều này, tự nó đã bao hàm ý nghĩa: quốc tế không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Hơn thế nữa, trong phiên họp toàn thể ngày 5/9/1951 Hội nghị đã bác bỏ chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với “đảo Hoàng Sa cùng những đảo xa hơn nữa ở phía Nam”.

    Ngày 16/3/1974, tức là chỉ hơn một tháng sau ngày Trung Quốc cưỡng chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa, tại nhà riêng của mình ở Paris, cựu Thủ tướng Chính phủ “Quốc gia Việt Nam“ Trần Văn Hữu đã trả lời phỏng vấn: “Chủ quyền Việt Nam trên Quần đảo Hoàng Sa đã được công khai tuyên bố nơi Hội nghị Hòa bình với Nhật năm 1951 vào tháng 9 dương lịch tại San Francisco. Lúc ấy là lần đầu tiên mà Việt Nam vào hàng 50 cường quốc có quyền định đoạt vấn đề quốc tế (…). Với tánh cách Chủ tịch phái đoàn đại diện cho toàn cõi Việt Nam, trong một bài diễn văn đọc ngày bế mạc hội nghị, tôi long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 50 phái đoàn cường quốc im lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam (…) hoàn toàn công nhận, không gặp một quốc gia nào phản đối” [11].

    Về những sự kiện liên quan đến hoạt động của Trần Văn Hữu đại diện cho Việt Nam với tính cách là Thủ tướng của chính quyền “Quốc gia Việt Nam” mà Bảo Ðại là Quốc trưởng tại Hội nghị San Francisco, “Sách Trắng” của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 viết: “Năm 1950, Pháp chính thức giao quyền quản lý hai quần đảo cho chính quyền Việt Nam. Năm 1951 tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng của chính quyền Bảo Ðại lúc đó là Trần Văn Hữu đã ra tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, lời tuyên bố này đã không vấp phải bất kỳ một sự phản đối nào từ hội nghị” [12].

    Xung quanh những vấn đề có liên quan đến thái độ của Trung Quốc và Liên Xô trong việc trả lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam ở Hội nghị San Francisco năm 1951, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, viết: “Cho dù chỉ là một chính phủ bù nhìn được Pháp dựng lên, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Ðại Trần Văn Hữu đã là đại diện duy nhất của Việt Nam được mời tham dự hội nghị… Trung Quốc đại lục và Ðài Loan không được mời tham dự Hội nghị San Francisco do Mỹ – Xô không thống nhất được địa vị pháp lý chính thức của hai nước này. Dù bị gạt ra khỏi hội nghị, Trung Quốc vẫn phản ứng bằng cách ra một số tuyên bố chính thức, trong đó có nêu quan điểm đòi hỏi chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với ý nghĩa bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa, Liên Xô đã ủng hộ quan điểm của Trung Quốc và không thừa nhận Hiệp ước San Francisco năm 1951. Chính sách đối ngoại không mấy quan tâm tới các quốc gia thuộc địa nhỏ ở châu Á vẫn tiếp tục trong giai đoạn Stalin nắm quyền và mối nghi ngờ về ý đồ trung lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tồn tại, tiếp tục ngăn cản Liên Xô có sự hỗ trợ cho cuộc chiến kháng Pháp của Việt Minh. Chính sách này vẫn không có nhiều biến chuyển sau khi Stalin qua đời năm 1953.

    Chúng tôi nghĩ rằng, thái độ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện trong Sách Trắng cùng nhận xét của một nhà tình báo chiến lược vừa nêu, đã thể hiện đủ rõ những sự thật lịch sử cần được tôn trọng

    T.P

    ]]>
    Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai (P1) https://biendong.net/2026/01/28/hoang-sa-va-truong-sa-sau-chien-tranh-the-gioi-thu-hai-p1/ Wed, 28 Jan 2026 00:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=162789 “Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội nhằm dập tắt những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam”

    1. Nhật Bản chiếm đóng Hoàng Sa năm 1938 và Trường Sa năm 1939

    Chiến tranh thế giới lần thứ hai được xem là bắt đầu tại châu Âu khi Phát xít Ðức xâm lược Ba Lan vào ngày 1/9/1939 và Pháp, Anh tuyên chiến với Ðức hai ngày sau đó. Ở phương Ðông, nhiều học giả coi thời điểm Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào ngày 7/7/1937 là ngày khởi đầu cuộc chiến. Ðối với những hòn đảo ở Biển Ðông, mặc dù có tham vọng và thỉnh thoảng vẫn tuyên bố, nhưng trước năm 1938, Nhật Bản “chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực nào nhằm chiếm hữu các đảo” (But Japan had never made any attempt toward taking possession of these islands)[2].

    Với ý đồ thiết lập một đầu cầu quân sự xâm chiếm Ðông Nam Á, năm 1938 hải quân Nhật chiếm đóng Hoàng Sa và đổi tên quần đảo thành Hirata Gunto. Thực ra, Nhật Bản chỉ chiếm đảo Phú Lâm (Boisé, Woody Island), đảo lớn nhất trong Quần đảo Hoàng Sa, biến đảo này thành một căn cứ tàu ngầm và dựa vào cứ điểm này hòng kiểm soát vùng phía bắc Biển Ðông. Hành động này tất nhiên bị chính quyền Ðông Dương lên tiếng phản đối[3].

    Ngày 31/3/1939, chính phủ quân phiệt Nhật Bản gửi thông báo tới đại sứ Pháp tại Tokyo, với giọng điệu cứng rắn tuyên bố rằng vào ngày 30/3/1939 Nhật đã chiếm đóng Trường Sa. “Ðặt Quần đảo Trường Sa hoặc Tempest ngoài khơi bờ biển Ðông Dương dưới quyền tài phán của Nhật Bản” (Place the Spratly or Tempest islands off the coast of Indochina under Japanese jurisdiction). Về chủ quyền, Nhật Bản cũng tuyên bố ở Quần đảo Trường Sa không có một quyền lục hành chính địa phương nào và Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm Trường Sa vào năm 1917. Về mặt danh nghĩa, Nhật Bản gọi Quần đảo Trường Sa bằng tên gọi mới “Shinnan Shoto” (Quần đảo phía Nam mới) đặt dưới sự cai quản của Toàn quyền Nhật ở Cao Hùng, Ðài Loan (thời bấy giờ Ðài Loan thuộc Nhật và thường được thế giới gọi tên là Formosa).

    Quyết định của Nhật Bản quân phiệt ban đầu chỉ xuất hiện trên giấy tờ, nhưng hai năm sau đó, năm 1941 hải quân Nhật đổ bộ cưỡng chiếm đảo Itu Aba (đảo Ba Bình), là đảo lớn nhất trong Quần đảo Trường Sa (từ tháng 5/1956 đến nay do Ðài Loan chiếm giữ). Ðảo này, trong Chiến tranh thế giới thứ hai có vị thế quân sự đặc biệt quan trọng đối với Biển Ðông. Nhật Bản đã lập căn cứ quân sự cho thuỷ phi cơ, tàu chiến và tàu ngầm ở đây, nhằm từ đây kiểm soát toàn bộ Quần đảo Trường Sa. Từ các căn cứ hải quân ở Ba Bình và Phú Lâm, đầu năm 1942 hải quân Nhật đã tiến đánh các nước Ðông Nam Á và cũng đã thu được những kết quả làm rúng động khu vực [4].

    Ngày 4/4/1939, Bộ Ngoại giao Pháp gửi công hàm phản đối hành động của Nhật và khẳng định bảo lưu chủ quyền của Pháp tại Quần đảo Hoàng Sa và cả Quần đảo Trường Sa. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh luận ngày 5/4/1939 tại Hạ nghị viện. Theo đó, đại diện Bộ Ngoại giao Anh đã khẳng định “Pháp đã thực thi đầy đủ chủ quyền của mình đối với Quần đảo Trường Sa và mọi vấn đề liên quan đến quần đảo này chủ yếu là mối quan tâm của Pháp” [5].

    Dưới áp lục chiến tranh của chủ nghĩa Phát xít – Ðức ở trên đất Pháp và Nhật ở Ðông Dương, ngày 5/5/1939, Toàn quyền Ðông Dương Jules Brévié ký Nghị định số 3282, để sửa đổi Nghị định số 156/SC ngày 15/6/1932, nhằm tách Hoàng Sa thành hai đơn vị hành chính độc lập giữa đông Hoàng Sa và tây Hoàng Sa. Ðơn vị hành chính ở phía tây Quần đảo Hoàng Sa là “Nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Croissant) và các đảo phụ cận” và ở phía đông là “Nhómđảo An Vĩnh (Amphytrite) và các đảo phụ cận”. Về mặt hành chính và pháp lý, Pháp vẫn quản lý toàn bộ Hoàng Sa và đồn trú trụ sở tại đảo Pastle (Hoàng Sa) đại diện của Nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây, nhưng lúc đó hầu như Pháp không dám có động thái gì. Ðiều này phản ánh thế và lục của nước Pháp trước sự hung hăng của chủ nghĩa Phát xít, trước khi quân Ðồng minh đổ bộ vào các bãi biển Normandie năm 1944.

    Nhóm đảo An Vĩnh với trụ sở tại đảo Phú Lâm, lúc đó do Nhật kiểm soát. Cả quân Pháp và Nhật đều có xây dựng cơ sở phòng thủ ở các đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nên trong Chiến tranh thế giới thứ hai, một số đảo ở đây cũng thường bị máy bay quân Ðồng minh ném bom[6].

    Ngày 22/6/1940, Pháp ký thỏa thuận ngừng bắn với Ðức Quốc xã, chính phủ Vichy được thành lập, thừa kế cai trị Ðông Dương gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa, nơi Nhật đang chiếm đóng và đang có chiến tranh. (Chính phủ Vichy 1940 – 1944, do Thống chế Philippe Pétain đứng đầu, hợp tác với phe Trục, bị Tướng lưu vong Charles de Gaulle phủ nhận). Trong đất liền, Nhật Bản ép chính phủ Vichy đóng cửa tuyến đường sắt Hải Phòng – Vân Nam để ngăn chặn viện trợ cho Trung Quốc từ khối Ðồng minh (lúc bấy giờ Trung Hoa Dân Quốc thuộc khối Ðồng minh). Tháng 9/1940 Nhật đã tràn qua biên giới vào Việt Nam và chiếm đóng Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng… trước sự bất lục của Pháp.

    Ðến đầu năm 1942, hải quân Nhật Bản gồm cả tàu sân bay đã giành nhiều thắng lợi trên Biển Ðông, Biển Java và Ấn Ðộ Dương.

    Cùng với đồng minh Thái Lan, Nhật Bản đã chinh phục gần như toàn bộ Miến Ðiện, Malaysia, Singapore, Papua New Guinea và Philippines gây tổn thất nặng nề cho quân Ðồng minh. Tuy nhiên, từ giữa năm 1942, sau khi giải được các mật mã của hải quân Nhật, trong trận Midway ở giữa Thái Bình Dương, quân đội Mỹ đã bắt đầu giành chiến thắng với hải quân Nhật. Ðầu năm 1943, quân Nhật bị đánh bại ở New Guinea và buộc phải rút khỏi đảo này. Trên lục địa châu Á, sau khi tiến sâu vào các thuộc địa của Anh, Nhật gặp phải sự kháng cự mãnh liệt tại Miến Ðiện.

    Ngày 9/3/1945 khi Nhật đảo chính Pháp ở Ðông Dương, quân Nhật ở Phú Lâm cũng tràn sang tước khí giới trung đội quân Pháp đồn trú ở đảo Pastle (Hoàng Sa) và bắt nhiều lính Lê dương làm tù binh. Các công chức đài khí tượng ở đảo Hoàng Sa được thả tự tìm cách về đất liền.

    Cục diện chiến tranh ở châu Âu và châu Á đã khiến các nước Ðồng minh quyết định gặp gỡ thảo luận về vị thế của khối Ðồng minh trong mặt trận chống Nhật Bản và dự thảo những quyết định về châu Á khi cuộc chiến kết thúc.

    1. Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943 và Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945

    · Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943

    Ðể chuẩn bị một lập trường chung cho Hội nghị Teheran về vấn đề lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm tại châu Á, năm 1943, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, đã họp hội nghị tại Cairo, Ai Cập từ ngày 22 đến ngày 27/11/1943. Tuyên bố Cairo (Cairo Communiqué), được soạn thảo và được Hoa Kỳ sửa chữa, đã được Hội nghị chấp thuận và sau đó vào ngày 1/12/1943, được công bố trên radio cho toàn thế giới. Chính sách hậu chiến của Phe Ðồng minh đối với Nhật Bản trong Tuyên bố Cairo đã được thừa nhận với tính cách là chính sách cơ bản thể hiện quyền lục của phe Ðồng minh.

    Bản Tuyên bố Cairo đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Stalin nhất trí ngày 30/11/1943 và được khẳng định lại một lần nữa trong Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945.

    Nội dung chính của Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943, hiện được công bố Online tại Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Nga, Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ (NARA) và tại Kho lưu trữ của Thư viện Quốc hội Nhật Bản[7].

    Những nội dung đáng chú ý của Tuyên bố Cairo năm 1943 được lưu giữ tại Thư viện Quốc hội Nhật Bản (Japan National Diet Library), như sau[8]:

    “Giữ bí mật, đến thời điểm quy định mới được công bố. Xin hãy bảo vệ tài liệu này tránh khỏi việc bị công bố sớm.

    Bản Tuyên bố sau đây sẽ được tự động công bố vào lúc 7 giờ 30 phút tối, giờ Eastern War, thứ tư ngày 1 tháng 12 năm 1943.

    Phải áp dụng các biện pháp đề phòng đặc biệt để giữ bản Tuyên bố này hoàn toàn bí mật cho đến lúc tự động công bố. Trước thời điểm công bố, không được phép tiết lộ nội dung tài liệu; bất cứ người nào nhận được tài liệu cũng không được suy đoán hoặc bàn luận về nội dung của nó. Các bình luận viên radio và phát thanh viên đưa tin được đặc biệt khuyến cáo không được phỏng đoán nội dung trước giờ công bố tài liệu.

    STEPHEN EARLY, Thư ký Tổng thống”.

    (Please safeguard against premature release or publication. The following communique is for automatic release at 7:30 p.m., e.w.t., on Wednesday, December 1, 1943.

    Extraordinary precautions must be taken to hold this communication absolutely confidential and secret until the hour set for automatic release.

    No intimation can be given its contents nor shall its contents be the subject of speculation or discussion on the part of anybody receiving it, prior to the hour of release.

    Radio commentators and news broadcasters are particularly cautioned not to make the communication the subject of speculation before the hour of release for publication

    STEPHEN EARLY. Secretary to the President)

    “Tổng thống Roosevelt, Thống chế Tưởng Giới Thạch và Thủ tướng Churchill, cùng các cố vấn ngoại giao và quân sự của họ, đã hoàn tất một Hội nghị ở Bắc Phi. Tuyên bố chung sau đây đã được ban hành:

    Các phái đoàn quân sự đã đồng ý tiến hành các chiến dịch quân sự trong tương lai nhằm chống lại Nhật Bản. Ba Ðồng minh vĩ đại bày tỏ quyết tâm gây áp lục quân sự liên tục lên kẻ thù hung bạo ở trên biển, trên đất liền và trên không. Áp lực này đã bắt đầu gia tăng.

    “Ba Ðồng minh vĩ đại đang chiến đấu để ngăn cản và trừng phạt cuộc xâm lăng của Nhật Bản. Họ không ham muốn lợi ích gì cho bản thân và không nghĩ đến việc bành trướng lãnh thổ. Mục tiêu của họ là hất cẳng Nhật Bản ra khỏi tất cả các hòn đảo thuộc Thái Bình Dương mà nước này đã cưỡng chiếm hoặc chiếm đóng từ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu vào năm 1914, và tất cả các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm đoạt từ người Trung Quốc như Mãn Châu, Ðài Loan và quần đảo Bành Hồ (Manchuria, Formosa and the Pescadores) phải được trao trả cho Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ mà nước này đã chiếm được bằng vũ lục và lòng tham. Nhận thức được ách nô lệ mà nhân dân Triều Tiên đang phải chịu đựng, ba cường quốc trên đây kiên định rằng Triều Tiên phải được tự do và độc lập”.

    Hướng tới các mục tiêu trên, phù hợp với những mục tiêu của Liên hiệp các quốc gia đang chiến đấu chống Nhật Bản, ba Ðồng minh sẽ tiếp tục kiên trì tiến hành các chiến dịch nghiêm túc và kéo dài cần thiết để giành được một sự đầu hàng vô điều kiện từ Nhật Bản”.

    (President Roosevelt, Generalissimo Chiang Kai-shek and Prime Minister Churchill, together with their respective military and diplomatic advisers, have completed a conference in North Africa. The following general statement was issued:

    The several military missions have agreed upon future military operations against Japan. The Three Great Allies expressed their resolve to bring unrelenting pressure against their brutal enemies by sea, land, and air. This pressure is already rising.

    “The Three Great Allies are fighting this war to restrain and punish the aggression of Japan. They covet no gain for themselves and have no thought of territorial expansion. It is their purpose that Japan shall be stripped of all the islands in the Pacific which she has seized or occupied since the beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and The Pescadores, shall be restored to the Republic of China. Japan will also be expelled from all other territories which she has taken by violence and greed. The aforesaid three great powers, mindful of the enslavement of the people of Korea, are determined that in due course Korea shall become free and independent”.

    With these objects in view the three Allies, in harmony with those of the United Nations at war with Japan, will continue to persevere in the serious and prolonged operations necessary to procure the unconditional surrender of Japan).

    Hoàng Sa và Trường Sa dĩ nhiên không phải thuộc chủ quyền Trung Quốc.

    Tại Hội nghị Cano năm 1943, chính Tưởng Giới Thạch là người có mặt với cương vị Tổng thống – đại diện cao nhất của Trung Quốc – đã ký vào văn bản Tuyên bố. Chắc chắn ông hiểu rõ, Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền Trung Hoa.

    · Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945

    Hội nghị Potsdam được tổ chức ở Potsdam, Ðức, từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 gồm đại diện ba nước: Mỹ (Tổng thống Harry Truman), Liên Xô (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Joseph Stalin) và Anh (Thủ tướng Winston Churchil, sau đó được thay bởi tân Thủ tướng Clement Attlee). Ngày 26/7/1945, Churchil, Truman cùng với Thống chế Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc cùng đưa ra Tuyên ngôn Potsdam, vạch rõ ra những điều kiện bắt buộc Nhật Bản phải đầu hàng[9].

    Tưởng Giới Thạch sau đó khẳng định các điều khoản của Tuyên ngôn Cairo sẽ được thực hiện. Tuyên bố Potsdam về “các điều kiện cho sự đầu hàng của Nhật” tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật Bản.

    Thực ra liên quan đến việc Nhật phải từ bỏ chủ quyền và trả lại lãnh thổ đã chiếm đóng trong chiến tranh liên quan trực tiếp đến Biển Ðông chỉ được nói tại Ðiều 8 của Tuyên ngôn Mỹ – Anh – Trung ngày 26/7/1945 tại Potsdam. Như nhiều nhà nghiên cứu lịch sử sau này phân tích thì, lúc đó Trung Quốc đã thỏa mãn với một khẳng định không có Hoàng Sa và Trường Sa trong phần thưởng hậu chiến. Dưới đây là các Ðiều 1, 7, 8 và 13 của Tuyên ngôn[10]:

    Tuyên ngôn xác định các điều khoản cho đầu hàng của Nhật Bản. Potsdam, ngày 26 tháng 7 năm 1945:

    “1. Chúng tôi, Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc và Thủ tướng Ðại Anh, đại diện cho hàng trăm triệu công dân của chúng tôi, đã thảo luận và đồng ý rằng Nhật Bản sẽ được trao một cơ hội cuối cùng để kết thúc cuộc chiến tranh này.

    1. Ðến khi một trật tự mới được thiết lập và đến khi có bằng chứng thuyết phục rằng sức mạnh chiến tranh của Nhật Bản đã bị tiêu hủy, những địa điểm trong lãnh thổ Nhật Bản sẽ bị chiếm đóng theo chỉ định của các nước Ðồng minh để bảo đảm đạt được các mục tiêu cơ bản mà chúng tôi đang thiết lập ở đây.
    2. Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật Bản được giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các đảo nhỏ do chúng tôi xác định.
    3. Chúng tôi kêu gọi Chính phủ Nhật Bản ra tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngay lập tức đối với toàn bộ lực lượng võ trang Nhật Bản, và đưa ra sự đảm bảo thích đáng và đầy đủ đối với thiện chí của họ trong hành động như vậy. Sự lựa chọn khác cho Nhật Bản là bị hủy diệt ngay lập tức và toàn bộ”.

    (1. We-the President of the United States, the President of the National Government of the Republic of China, and the Prime Minister of Great Britain, representing the hundreds of millions of our countrymen, have conferred and agree that Japan shall be given an opportunity to end this war.

    1. Until such a new order is established and until there is convincing proof that Japan’s war-making power is destroyed, points in Japanese territory to be designated by the Allies shall be occupied to secure the achievement of the basic objectives we are here setting forth.
    2. The terms of the Cairo Declaration shall be carried out and Japanese sovereignty shall be limited to the islands of Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku and such minor islands as we determine.
    3. We call upon the government of Japan to proclaim now the unconditional surrender of all Japanese armed forces, and to provide proper and adequate assurances of their good faith in such action. The alternative for Japan is prompt and utter destruction).

    Như thỏa thuận đã ghi trong Tuyên bố Cairo năm 1943, sau chiến tranh các lãnh thổ từng bị Nhật chiếm là Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Trung Hoa. Khoản 8 của Tuyên bố Cairo năm 1943 được trích lại rõ ở Tuyên ngôn Potsdam. Ðiều đó cho thấy tính pháp lý quốc tế của Tuyên bố Cairo: Không có dòng chữ nào nói thêm rằng các Quần đáo Paracel, Spratly sẽ đưọc giao cho Trung Quốc như gần đây Trung Quốc giải thích. Trung Hoa Dân Quốc là một thành viên nòng cốt tham gia Hội nghị Cairo nhưng cũng không hề có bất cứ một bảo lưu hoặc một tuyên bố hay yêu sách riêng rẽ nào về phần lãnh thổ được trả lại. Có thể coi Tuyên bố cairo năm 1943 và Tuyên ngôn Potsdam năm 1945 là sự khẳng định gián tiếp rằng, các Quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa), từ xưa đến nay đều không phải là lãnh thổ của Trung Hoa.

    Tại Hội nghị Potsdam, Mỹ, Liên Xô và Anh còn thỏa thuận chia Ðông Dương làm hai khu vực giải giáp quân đội Nhật Bản với vĩ tuyến 160 làm giới tuyến: khu vực phía Bắc giao cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc, khu vực phía Nam giao cho Liên quân Anh – Ấn[11].

    · Quyết định việc giải giới quân Nhật ngày 15/8/1945 và lãnh thổ thu hồi từ quân phiệt Nhật sẽ được trả lại cho chủ cũ

    Tại Hội nghị Potsdam từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945, Tham mưu trưởng Liên quân Ðồng minh đã quyết định phân vùng tạm thời tại Việt Nam, với mục đích tạo thuận tiện cho hoạt động. Các bên đã đồng ý rằng các lực lượng Anh sẽ giải giới quân đội Nhật Bản ở Sài Gòn và nửa phía nam Ðông Dương. Còn nửa phía bắc, các lực lượng Nhật Bản sẽ do Trung Quốc giải giới[12].

    Trong ngày 15/8/1945, Bộ Tư lệnh tối cao Mỹ/Anh dựa theo nghị quyết quân sự Hội nghị Potsdam, hạ mệnh lệnh số 1 cho Ðại tướng Mc Arthur, Tư lệnh chiến trường Thái Bình Dương:

    “Ðiều 1A: Các tư lệnh cấp cao Nhật Bản và tất cả các lực lượng hải quân, lục quân, không quân và các lực lượng phụ thuộc trong phạm vi Trung Hoa (trừ Mãn Châu), Ðài Loan và Ðông Dương thuộc Pháp ở Bắc vĩ tuyến 16 sẽ đầu hàng Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch.

    Ðiều 1C: Các tư lệnh cấp cao Nhật Bản và tất cả các lực lượng hải quân, lục quân, không quân và các lực lượng phụ thuộc trong phạm vi Andamnus, Nicobars, Miến Ðiện, Thái Lan, Ðông Dương thuộc Pháp ở Nam vĩ tuyến 16, Malaysia, Bornéo và các đảo nhỏ trên Thái Bình Dương sẽ đầu hàng Ðô đốc Maubetton/Bộ chỉ huy Ðông Nam Á (SEAC), trừ Indonesia sẽ đầu hàng Tư lệnh tối cao Ðồng minh ở Thái Bình Dương, Ðại tướng Mc Arthur”.

    Hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm hoàn toàn ở phía Nam vĩ tuyến 16 nên ngoài phạm vi trách nhiệm của Trung Hoa Dân Quốc. Theo tinh thần thỏa thuận của Lực lượng Ðồng minh và Hiến chương Liên hợp quốc, những lãnh thổ thu hồi từ quân phiệt Nhật sẽ được trả lại cho chủ cũ từng bị Nhật xâm chiếm. Nghĩa là, Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa sẽ phải được trả lại cho Pháp và Việt Nam.

    Ngày 9/10/1945, Cao ủy Pháp tại Ðông Dương D’Argenlieu và Ðại tướng Douglas David Gracey ký biên bản thỏa thuận việc Anh bàn giao cho Pháp nhiệm vụ thay mặt Ðồng minh chiếm đóng toàn bộ miền Nam Ðông Dương phía Nam vĩ tuyến 16.

    Trong tối hậu thư Potsdam mà Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gửi cho Nhật Bản ngày 26/7/1945, không đề cập ai sẽ cai trị Ðông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới. Ðây là tình huống đã tạo ra khoảng trống chính trị. Pháp không bỏ lỡ cơ hội này để thương thảo với Anh và Trung Quốc tái chiếm Việt Nam. Việc trao trả lãnh thổ vùng Tô giới Quảng Châu Loan thuộc Bắc Bộ mà chúng tôi có nói tới trong Chương 2, đã phản ánh một phần tình hình. Tuy vậy, đơn vị đầu tiên trong phái bộ quân sự Anh đến Sài Gòn ngày 6/9/1945, nghĩa là sau ngày Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập bằng Bản Tuyên ngôn lịch sử ngày 2/9/1945 ở Hà Nội.

    T.P

    ]]>
    Biến đổi khí hậu và khai thác quá mức đe dọa kinh tế biển Việt Nam https://biendong.net/2026/01/24/bien-doi-khi-hau-va-khai-thac-qua-muc-de-doa-kinh-te-bien-viet-nam-2/ Sat, 24 Jan 2026 11:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=162600 Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhận định Việt Nam có lợi thế to lớn để phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, thành quả kinh tế có thể bị xóa sổ nếu không có biện pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và khai thác quá mức.

    Tiềm năng khổng lồ của kinh tế biển Việt Nam
    Kinh tế biển bao gồm các ngành và lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến biển, như thủy hải sản, vận tải biển, du lịch và năng lượng ngoài khơi.

    Theo World Bank, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rõ ràng về phát triển kinh tế biển.

    Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260km, diện tích bề mặt biển hơn 1 triệu km vuông, gấp ba lần đất liền với trên 3.000 hòn đảo. Đường bờ biển giàu tài nguyên và cảnh đẹp đem lại cơ hội kinh tế trực tiếp cho khoảng hơn 50 triệu người dân của Việt Nam.

    Các hoạt động kinh tế biển và ven biển đóng vai trò thiết yếu, có thể đem lại tăng trưởng vững chắc cho Việt Nam. Một số ngành kinh tế chủ chốt có thể kể đến như thủy hải sản, du lịch và điện gió ngoài khơi.

    Trong thập kỷ qua, các ngành/lĩnh vực kinh tế biển đã tăng trưởng gần 9% mỗi năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.

    Hiện nay, đóng góp của kinh tế biến cho nền kinh tế tổng thể của Việt Nam ước tính rơi vào khoảng từ 5,04% đến 5,83%. Kinh tế biển cũng đóng góp 8-9% cho tổng lực lượng lao động.

    Dự báo đến năm 2030, giá trị kinh tế biển của Việt Nam có thể tăng gấp 3 lần so với năm 2020.

    Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đạt được những tiến triển đáng kể trong 6 ngành/lĩnh vực kinh tế biển, đem lại đóng góp quan trọng ở mức 10% GDP. Các lĩnh vực đó được sắp xếp theo ưu tiên: 1) du lịch biển và các dịch vụ liên quan, 2) kinh tế hàng hải, 3) khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác, 4) đánh bắt và nuôi trồng thủy sản biển, 5) công nghiệp ven biển, và 6) năng lượng tái tạo.

    Theo đó, sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản được dự báo tăng từ 3 triệu tấn năm 2020 lên 9,8 triệu tấn vào năm 2030. Chỉ tiêu về sản lượng dầu khí đến năm 2030 rơi vào khoảng 175–195 triệu tấn dầu tương đương, tăng đáng kể so với 68 triệu TOE ghi nhận cho năm 2020.

    Công suất điện gió ngoài khơi dự kiến đạt 3.557MW vào năm 2030 từ mức 200MW của năm 2020. Vận tải đường thủy dự kiến vận tải hàng hóa từ 0,88 triệu tấn năm 2020 lên 1,14–1,42 triệu tấn vào năm 2030.

    Biến đổi khí hậu, khai thác quá mức đe dọa thành quả
    Tuy nhiều tiềm năng, nhưng kinh tế biển Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Theo World Bank, biến đổi khí hậu, tình trạng khai thác quá mức và năng lực quản lý còn hạn chế đang đặt kinh tế biển Việt Nam trước nguy cơ phát triển thiếu bền vững.

    Nước biển dâng cao, cường độ bão mạnh, nhiệt độ biển gia tăng và sự thay đổi của các dòng hải lưu ảnh hưởng đến các ngành đánh bắt cá, nuôi trồng hải sản và du lịch ven biển. Trong khi đó, tình trạng bờ biển xói mòn và xâm nhập mặn đe dọa môi trường sống, cơ sở hạ tầng, làm ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu người.

    Theo thống kê, khoảng 11,8 triệu người dân ở các tỉnh duyên hải đang có nguy cơ ngập lụt gia tăng và trên 35% các khu định cư đang sinh sống ở các bờ biển bị xói mòn. Nguy cơ dễ tổn thương còn trầm trọng hơn bởi khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của nhiều vùng ven biển còn hạn chế.

    Quá trình công nghiệp hóa vùng duyên hải của Việt Nam đã và đang đem lại tăng trưởng kinh tế, nhưng gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường. Việt Nam gần đây được cho là một trong 5 quốc gia gây ô nhiễm đại dương hàng đầu, ước tính thải hơn 0,28 – 0,73 triệu tấn rác thải nhựa ra đại dương mỗi năm.

    Sự phát triển nhanh chóng của cảng biển, nhà máy và các dự án năng lượng dẫn đến ô nhiễm biển trên diện rộng như các sự cố tràn dầu và xâm nhập mặn, đe dọa cả về sinh kế của người dân ven biển và hệ sinh thái. Mặc dù Việt Nam đã thắt chặt các quy định về môi trường, nhưng công tác thực thi còn chưa đồng đều do những khó khăn nhằm bắt nhịp với tốc độ phát triển công nghiệp

    Các sự cố ô nhiễm công nghiệp và tràn dầu vẫn là quan ngại lớn, khi các nhà máy thường xả thải hóa chất chưa xử lý, kim loại nặng và rác thải nhựa ra các dòng sông và vùng nước ven biển. Điển hình là vụ việc Formosa Hà Tĩnh vào năm 2016, khi xi-a-nua và phê-non bị xả thải ra đại dương của tỉnh, làm chết hàng triệu hải sản, khiến cho nghề cá bị lụi bại, thu nhập của địa phương giảm đến 46%.

    Trong khi đó sự cố tràn dầu đang trở thành khủng hoảng lặp đi lặp lại, đưa Việt Nam trở thành một trong số năm quốc gia dễ bị ảnh hưởng nhiều nhất trong ba thập kỷ qua. Sự cố chìm 1.000 tấn dầu diesel tại vùng biển Diêm Điền, tỉnh Thái Bình năm 2022 đã phá hủy một vùng nuôi trồng thủy sản, xóa sổ nhiều héc ta trang trại nuôi ngao và làm gián đoạn sinh kế của gần 100 hộ gia đình.

    Tình trạng khai thác quá mức khiến nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng suy giảm. Trong khi đó, nước ngầm bị khai thác quá mức để sử dụng trong nông nghiệp và công nghiệp làm gia tăng xâm mặn, làm ô nhiễm các nguồn nước ngọt quan trọng để dùng cho sinh hoạt và canh tác lúa.

    Làm sao để phát triển bền vững?
    Theo World Bank, với tốc độ tăng trưởng kinh tế biển nhanh chóng, yêu cầu cấp thiết là phải đảm bảo gìn giữ môi trường và công bằng xã hội.

    Tại Việt Nam, các thông lệ bền vững trong kinh tế biển vẫn là khái niệm mới. Nếu không hành động kịp thời sẽ dẫn đến nguy cơ các hoạt động liên quan đến biển sau này sẽ đi theo con đường không bền vững.

    Lộ trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam đòi hỏi cách tiếp cận đa chiều, toàn diện.

    Chính phủ đã thông qua các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế biển, đồng thời Ủy ban Chỉ đạo Quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đã được thành lập, đánh dấu bước phát triển quan trọng hướng tới triển khai Nghị quyết số 36.

    Tuy nhiên, điều quan trọng là cần có sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ ngành và địa phương, cũng như cải cách thể chế để huy động sự tham gia của các bên ngoài Nhà nước, nhằm thúc đẩy kinh tế biển tăng trưởng bền vững.

    Một điều quan trọng nữa là các văn bản pháp luật hiện hành phải được thực thi hiệu lực chặt chẽ – thông qua theo dõi ô nhiễm theo thời gian thực và chế tài nghiêm ngặt đối với trường hợp vi phạm.

    Đồng thời, đầu tư vào công nghệ xử lý nước thải tiên tiến và năng lượng tái tạo sẽ giúp giảm phụ thuộc vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm. Bên cạnh đó, tăng cường tiếng nói của cộng đồng trong hoạch định chính sách sẽ đảm bảo các nhóm yếu thế, như ngư dân và nông dân, không bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

    T.P

    ]]>
    AMTI: TQ tăng cường năng lực thu thập tình báo ở Biển Đông https://biendong.net/2025/12/07/amti-tq-tang-cuong-nang-luc-thu-thap-tinh-bao-o-bien-dong/ Sun, 07 Dec 2025 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=161075 Những hình ảnh vệ tinh do Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) phân tích cho thấy Trung Quốc đã tiến hành nâng cấp nhiều thiết bị ở Trường Sa.

    Một cặp mái vòm radar được hoàn thành ở 2 phía đối diện của đá Xu Bi vào đầu năm 2025.

    Tờ South China Morning Post ngày 3.12 dẫn báo cáo của Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS-Mỹ) cho rằng Trung Quốc đã nâng cấp toàn diện các hệ thống giám sát và chiến tranh điện tử tại các căn cứ ở quần đảo Trường Sa nhằm cải thiện khả năng thu thập tình báo ở Biển Đông.

    Hình ảnh vệ tinh cho thấy các địa điểm radar mới và được nâng cấp, các khu vực ăng ten và các công trình chiến tranh điện tử được củng cố khác tại các khu vực đá Vành Khăn, đá Xu Bi (còn gọi là đá Subi) và đá Chữ Thập.

    Bộ Ngoại giao Việt Nam trước nay luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở Biển Đông.

    “Những nâng cấp này nhấn mạnh thực tế rằng một chức năng chính của các căn cứ Trung Quốc là cung cấp khả năng tình báo, giám sát và trinh sát chưa từng có ở biển Đông, hỗ trợ hoạt động của Hải cảnh và Hải quân Trung Quốc trong thời bình”, báo cáo cho biết và nhận định rằng điều đó cũng có thể cho phép “Bắc Kinh cạnh tranh việc sử dụng phổ điện từ của các bên khác trong trường hợp xảy ra xung đột”.

    Theo báo cáo của AMTI, các mảng ăng ten lát bê tông mới và các đơn vị xe phối hợp mang thiết bị gây nhiễu và cảm biến đã được triển khai, cùng với những mạng cột đơn cố định, bố trí định hướng và các nền tảng chiến tranh điện tử cơ động khác.

    Ngoài ra, Bắc Kinh được cho là đang đầu tư vào các cơ sở hỗ trợ cho “những thiết bị có tiềm năng tác động động năng lớn hơn”. Các vị trí pháo được gia cố tại đá Vành Khăn, nhiều vị trí vẫn còn trống, có thể được sử dụng để bố trí bệ phóng rốc két cơ động hoặc các hệ thống tấn công khác, theo báo cáo.

    T.P

    ]]>
    Biến đổi khí hậu và khai thác quá mức đe dọa kinh tế biển Việt Nam https://biendong.net/2025/12/04/bien-doi-khi-hau-va-khai-thac-qua-muc-de-doa-kinh-te-bien-viet-nam/ Thu, 04 Dec 2025 13:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=160972 Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhận định Việt Nam có lợi thế to lớn để phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, thành quả kinh tế có thể bị xóa sổ nếu không có biện pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và khai thác quá mức.

    Tiềm năng khổng lồ của kinh tế biển Việt Nam
    Kinh tế biển bao gồm các ngành và lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến biển, như thủy hải sản, vận tải biển, du lịch và năng lượng ngoài khơi.

    Theo World Bank, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rõ ràng về phát triển kinh tế biển.

    Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260km, diện tích bề mặt biển hơn 1 triệu km vuông, gấp ba lần đất liền với trên 3.000 hòn đảo. Đường bờ biển giàu tài nguyên và cảnh đẹp đem lại cơ hội kinh tế trực tiếp cho khoảng hơn 50 triệu người dân của Việt Nam.

    Các hoạt động kinh tế biển và ven biển đóng vai trò thiết yếu, có thể đem lại tăng trưởng vững chắc cho Việt Nam. Một số ngành kinh tế chủ chốt có thể kể đến như thủy hải sản, du lịch và điện gió ngoài khơi.

    Trong thập kỷ qua, các ngành/lĩnh vực kinh tế biển đã tăng trưởng gần 9% mỗi năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.

    Hiện nay, đóng góp của kinh tế biến cho nền kinh tế tổng thể của Việt Nam ước tính rơi vào khoảng từ 5,04% đến 5,83%. Kinh tế biển cũng đóng góp 8-9% cho tổng lực lượng lao động.

    Dự báo đến năm 2030, giá trị kinh tế biển của Việt Nam có thể tăng gấp 3 lần so với năm 2020.

    Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đạt được những tiến triển đáng kể trong 6 ngành/lĩnh vực kinh tế biển, đem lại đóng góp quan trọng ở mức 10% GDP. Các lĩnh vực đó được sắp xếp theo ưu tiên: 1) du lịch biển và các dịch vụ liên quan, 2) kinh tế hàng hải, 3) khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác, 4) đánh bắt và nuôi trồng thủy sản biển, 5) công nghiệp ven biển, và 6) năng lượng tái tạo.

    Theo đó, sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản được dự báo tăng từ 3 triệu tấn năm 2020 lên 9,8 triệu tấn vào năm 2030. Chỉ tiêu về sản lượng dầu khí đến năm 2030 rơi vào khoảng 175–195 triệu tấn dầu tương đương, tăng đáng kể so với 68 triệu TOE ghi nhận cho năm 2020.

    Công suất điện gió ngoài khơi dự kiến đạt 3.557MW vào năm 2030 từ mức 200MW của năm 2020. Vận tải đường thủy dự kiến vận tải hàng hóa từ 0,88 triệu tấn năm 2020 lên 1,14–1,42 triệu tấn vào năm 2030.

    Biến đổi khí hậu, khai thác quá mức đe dọa thành quả
    Tuy nhiều tiềm năng, nhưng kinh tế biển Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Theo World Bank, biến đổi khí hậu, tình trạng khai thác quá mức và năng lực quản lý còn hạn chế đang đặt kinh tế biển Việt Nam trước nguy cơ phát triển thiếu bền vững.

    Nước biển dâng cao, cường độ bão mạnh, nhiệt độ biển gia tăng và sự thay đổi của các dòng hải lưu ảnh hưởng đến các ngành đánh bắt cá, nuôi trồng hải sản và du lịch ven biển. Trong khi đó, tình trạng bờ biển xói mòn và xâm nhập mặn đe dọa môi trường sống, cơ sở hạ tầng, làm ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu người.

    Theo thống kê, khoảng 11,8 triệu người dân ở các tỉnh duyên hải đang có nguy cơ ngập lụt gia tăng và trên 35% các khu định cư đang sinh sống ở các bờ biển bị xói mòn. Nguy cơ dễ tổn thương còn trầm trọng hơn bởi khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của nhiều vùng ven biển còn hạn chế.

    Quá trình công nghiệp hóa vùng duyên hải của Việt Nam đã và đang đem lại tăng trưởng kinh tế, nhưng gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường. Việt Nam gần đây được cho là một trong 5 quốc gia gây ô nhiễm đại dương hàng đầu, ước tính thải hơn 0,28 – 0,73 triệu tấn rác thải nhựa ra đại dương mỗi năm.

    Sự phát triển nhanh chóng của cảng biển, nhà máy và các dự án năng lượng dẫn đến ô nhiễm biển trên diện rộng như các sự cố tràn dầu và xâm nhập mặn, đe dọa cả về sinh kế của người dân ven biển và hệ sinh thái. Mặc dù Việt Nam đã thắt chặt các quy định về môi trường, nhưng công tác thực thi còn chưa đồng đều do những khó khăn nhằm bắt nhịp với tốc độ phát triển công nghiệp

    Các sự cố ô nhiễm công nghiệp và tràn dầu vẫn là quan ngại lớn, khi các nhà máy thường xả thải hóa chất chưa xử lý, kim loại nặng và rác thải nhựa ra các dòng sông và vùng nước ven biển. Điển hình là vụ việc Formosa Hà Tĩnh vào năm 2016, khi xi-a-nua và phê-non bị xả thải ra đại dương của tỉnh, làm chết hàng triệu hải sản, khiến cho nghề cá bị lụi bại, thu nhập của địa phương giảm đến 46%.

    Trong khi đó sự cố tràn dầu đang trở thành khủng hoảng lặp đi lặp lại, đưa Việt Nam trở thành một trong số năm quốc gia dễ bị ảnh hưởng nhiều nhất trong ba thập kỷ qua. Sự cố chìm 1.000 tấn dầu diesel tại vùng biển Diêm Điền, tỉnh Thái Bình năm 2022 đã phá hủy một vùng nuôi trồng thủy sản, xóa sổ nhiều héc ta trang trại nuôi ngao và làm gián đoạn sinh kế của gần 100 hộ gia đình.

    Tình trạng khai thác quá mức khiến nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng suy giảm. Trong khi đó, nước ngầm bị khai thác quá mức để sử dụng trong nông nghiệp và công nghiệp làm gia tăng xâm mặn, làm ô nhiễm các nguồn nước ngọt quan trọng để dùng cho sinh hoạt và canh tác lúa.

    Làm sao để phát triển bền vững?
    Theo World Bank, với tốc độ tăng trưởng kinh tế biển nhanh chóng, yêu cầu cấp thiết là phải đảm bảo gìn giữ môi trường và công bằng xã hội.

    Tại Việt Nam, các thông lệ bền vững trong kinh tế biển vẫn là khái niệm mới. Nếu không hành động kịp thời sẽ dẫn đến nguy cơ các hoạt động liên quan đến biển sau này sẽ đi theo con đường không bền vững.

    Lộ trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam đòi hỏi cách tiếp cận đa chiều, toàn diện.

    Chính phủ đã thông qua các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế biển, đồng thời Ủy ban Chỉ đạo Quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đã được thành lập, đánh dấu bước phát triển quan trọng hướng tới triển khai Nghị quyết số 36.

    Tuy nhiên, điều quan trọng là cần có sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ ngành và địa phương, cũng như cải cách thể chế để huy động sự tham gia của các bên ngoài Nhà nước, nhằm thúc đẩy kinh tế biển tăng trưởng bền vững.

    Một điều quan trọng nữa là các văn bản pháp luật hiện hành phải được thực thi hiệu lực chặt chẽ – thông qua theo dõi ô nhiễm theo thời gian thực và chế tài nghiêm ngặt đối với trường hợp vi phạm.

    Đồng thời, đầu tư vào công nghệ xử lý nước thải tiên tiến và năng lượng tái tạo sẽ giúp giảm phụ thuộc vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm. Bên cạnh đó, tăng cường tiếng nói của cộng đồng trong hoạch định chính sách sẽ đảm bảo các nhóm yếu thế, như ngư dân và nông dân, không bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

    T.P

    ]]>
    Tàu 015-Trần Hưng Đạo bắt đầu thăm, giao lưu với Hải quân TQ https://biendong.net/2025/12/04/tau-015-tran-hung-dao-bat-dau-tham-giao-luu-voi-hai-quan-tq/ Thu, 04 Dec 2025 09:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=160976 Sáng 1/12, Tàu 015-Trần Hưng Đạo thuộc Lữ đoàn 162, Vùng 4 Hải quân cùng đoàn công tác Hải quân nhân dân Việt Nam, do Đại tá Nguyễn Vĩnh Nam – Phó Tư lệnh Vùng 4 làm trưởng đoàn, đã cập cảng Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc), chính thức bắt đầu chuyến thăm, giao lưu với Hải quân Trung Quốc.

    Tàu 015 – Trần Hưng Đạo chuẩn bị cập cảng thành phố Thanh Đảo.


    Đây là điểm đến đầu tiên trong khuôn khổ chuyến thăm xã giao 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Lễ đón diễn ra trọng thể tại cầu cảng Thanh Đảo do đại diện Bộ Tham mưu Hạm đội Bắc Hải chủ trì, thể hiện sự coi trọng và hợp tác giữa hải quân hai nước.

    Sau lễ đón, sĩ quan hai bên đã lên thăm tàu của nhau, mở đầu chuỗi hoạt động giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và tăng cường hiểu biết lẫn nhau.

    Trong thời gian thăm Trung Quốc, đoàn công tác và cán bộ, thủy thủ Tàu 015 sẽ chào xã giao lãnh đạo Hạm đội Bắc Hải, chính quyền thành phố Thanh Đảo; tham gia giao lưu quân-dân và luyện tập chung trên biển với Hải quân Trung Quốc. Đây là hoạt động đối ngoại quốc phòng quan trọng, góp phần củng cố lòng tin, thúc đẩy hợp tác giữa Hải quân nhân dân Việt Nam và Hải quân Trung Quốc.

    Trước đó, trên hành trình từ Quân cảng Cam Ranh đến Thanh Đảo, trong điều kiện sóng to gió lớn, cán bộ, chiến sĩ Tàu 015 vẫn bảo đảm an toàn tuyệt đối, duy trì kỷ luật hành quân và chuẩn bị tốt cho các hoạt động đối ngoại của chuyến công tác.

    T.P

    ]]>
    TP.HCM ‘số hóa’ quản lý tàu cá, quyết tâm gỡ thẻ vàng IUU https://biendong.net/2025/11/11/tp-hcm-so-hoa-quan-ly-tau-ca-quyet-tam-go-the-vang-iuu/ Tue, 11 Nov 2025 15:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159677 Quyết tâm gỡ “thẻ vàng” IUU, TP.HCM đang quyết liệt chuyển đổi số để quản lý tàu cá. Đây được xem là giải pháp đột phá, giúp giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, chung tay cùng cả nước.

    Các xã, phường ven biển của TPHCM đẩy mạnh chuyển đổi số để quản lý tàu cá


    Kết nối để có trách nhiệm
    Nhiều ngư dân ven biển ở các phường Vũng Tàu, Long Hải… TP.HCM (trước đây thuộc địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) chia sẻ, hiện cơ quan quản lý về thủy sản đã thúc đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý, giám sát hoạt động khai thác thủy sản đối với chủ tàu cá, đội ngũ cán bộ quản lý ngành, cảng cá và Hội Thủy sản.

    Ông Võ Ngọc Đời, ngư dân phường Vũng Tàu cho biết, hơn 40 năm hành nghề đánh bắt xa bờ chưa bao giờ công tác quản lý tàu cá, thuyền viên, nguồn gốc thủy sản… lại quyết liệt như hiện nay.

    Cụ thể, tàu cá muốn xuất bến hành nghề ngoài việc phải đảm bảo các điều kiện về đăng ký, đăng kiểm, giấy phép khai thác, bảo hiểm thân tàu, thuyền viên… thì việc trang bị các thiết bị như: máy định vị, giám sát hành trình cũng phải đầy đủ và không được mất kết nối.

    Cũng theo ông Đời, khi hoạt động trên biển thì việc kết nối giữa chính quyền địa phương với chủ tàu, chủ tàu với thuyền trưởng… luôn được thông suốt qua ứng dụng Zalo, máy thông tin đường dài. Còn khi về bờ thì việc kết nối với cảng cá cũng được thông qua phần mềm ứng dụng truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT VN) và nhật ký khai thác:

    “Bây giờ ngư dân đi biển không trốn tránh được các quy định pháp luật, của nhà nước. Phải có giấy đăng kiểm tàu cá, giấy khai thác, giám sát hành trình, định vị tàu cá, thông tin đường dài… phải đảm bảo thông suốt. Bây giờ ngư dân đánh bắt phải có trách nhiệm, phải trang bị đầy đủ các thiết bị cũng như kiến thức chứ không như thời bao cấp trước đây”, ông Đời chia sẻ.

    Còn ông Nguyễn Văn Nhỏ, xã Long Hải thì cho biết, tại các địa bàn dân cư hay tổ đánh bắt xa bờ, việc kết nối giữa các chủ tàu với chính quyền địa phương, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát Biển, Kiểm ngư… được cụ thể hóa thông qua các nhóm Zalo, mạng xã hội, các buổi cà phê sáng….

    Nhờ hình thành các nhóm này, các văn bản của chính quyền hay cơ quan chức năng, các thông tin tàu cá trên biển luôn được cập nhật thường xuyên và kịp thời.

    Ông Nhỏ cho biết thêm, khi có văn bản mới về quy định chống khai thác IUU bà con thường nhắc nhở nhau để nắm thông tin và thực hiện.

    “Chúng tôi luôn cập nhật tin tức hàng ngày và nhắc nhở bà con quan tâm đến nhóm, mỗi khi có thông tin, văn bản mới thì vào xem. Khi cập nhật kịp thời thì bà con biết được nội dung văn bản, tuyên truyền nội dung gì và mang lại lợi ích gì cho bà con ngư dân. Việc này nhằm mục đích để ngư dân an tâm vươn khơi bám biển và chấp hành pháp luật”, ông Nhỏ nhấn mạnh.

    Số hoá để quản lý
    Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện TP.HCM có 4.663 tàu cá, trong đó có 2.317 tàu tham gia đánh bắt xa bờ; hiện thành phố còn 404 tàu chưa đăng ký, chưa cấp giấy phép khai thác và chưa lắp đặt thiết bị giám sát hành trình.

    Đến nay, thành phố đã xoá đăng ký 1.474 tàu cá do bị phá huỷ, phá dỡ, chìm đắm không thể trục vớt; mất tích sau 1 năm kể từ ngày thông báo, bán ra ngoài thành phố và đề nghị của chủ tàu xóa đăng ký mua bán trong thành phố.

    Để cùng cả nước gỡ thẻ vàng cảnh báo của EC, trong thời gian tới Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục chủ trì, phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Công an và UBND các xã, phường và đặc khu của thành phố đẩy mạnh quản lý số tàu cá chưa đủ điều kiện đi khai thác, chưa lắp thiết bị giám sát hành trình, tuyệt đối không cho tàu ra khơi khi không đủ điều kiện và xóa đăng ký tàu cá theo quy định.

    Còn UBND Vũng Tàu cho biết, đến nay trên địa bàn còn 655 tàu cá, trong đó có 549 tàu khai thác xa bờ. Toàn bộ tàu cá đã được định danh thông qua căn cước công dân, số điện thoại, địa chỉ … của chủ tàu cá và gắn với dữ liệu về dân cư.

    Bà Lê Hải Vân, Phó phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị, phường Vũng Tàu cho biết, hiện trên địa bàn có 43 tàu cá xa bờ không đủ điều kiện ra khơi.

    Để quản lý số phương tiện này, định kỳ hàng tuần UBND phường đã chỉ đạo Tổ rà soát và xử lý thông tin về tàu cá tiến hành khảo sát, xác định vị trí, chụp hình toàn bộ số tàu cá để chủ tàu, khu phố, ngành thủy sản nắm bắt thông tin.

    Đồng thời, địa phương thường xuyên tổ chức tiếp xúc, vận động chủ tàu cá hoàn thiện các thủ tục gia hạn như: giấy phép khai thác thủy sản, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm, đăng kiểm lại tàu cá…

    Bà Vân cho biết, để thuận tiện quản lý số tàu không đủ điều kiện khai thác, nằm bờ… UBND phường đã số hoá toàn bộ thông tin tàu cá trên Google.

    “Hệ thống quản lý tàu cá nằm bờ do UBND phường và Chi cục Thuỷ sản và Kiểm ngư tạo ra và có đường link trên Google. Thường các tàu nằm bờ chủ yếu là tàu mục nát hay chủ tàu đã bán đi nơi khác, tuy nhiên các tàu này thường có thiết bị giám sát hành trình nhưng không hoạt động, chúng tôi quản lý nhóm tàu này bằng cách số hoá trên Google”, bà Vân cho biết thêm.

    Chuyển đổi số trong công tác quản lý tàu cá đang được các địa phương ven biển và Ngành Thuỷ sản TP.HCM triển khai quyết liệt. Đây là giải pháp công nghệ được kỳ vọng góp phần vào việc quản lý, giám sát, tra cứu hồ sơ, truy xuất nguồn gốc thủy sản và lịch sử vi phạm. Việc này cũng giúp quản lý chặt chẽ hoạt động của tàu cá, phục vụ công tác kiểm soát tàu thuyền, từ đó đưa ra cảnh báo bảo đảm an ninh, an toàn và nâng cao hiệu quả phòng chống khai thác IUU.

    T.P

    ]]>
    Việt Nam triển khai nhiều biện pháp chống, ngăn chặn hoạt động khai thác IUU https://biendong.net/2025/11/09/viet-nam-trien-khai-nhieu-bien-phap-chong-ngan-chan-hoat-dong-khai-thac-iuu/ Sun, 09 Nov 2025 10:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159461 Việt Nam chủ trương phát triển bền vững kinh tế biển, duy trì phát triển bền vững ngành khai thác thủy sản với cơ cấu tàu, nghề phù hợp với khả năng cho phép khai thác của nguồn lợi thủy sản; tuân thủ đầy đủ các quy định về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU).

    Ngư dân Ninh Bình hướng tới mục tiêu gỡ “thẻ vàng” IUU và phát triển ngành thủy sản bền vững.

    Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết những nỗ lực của Việt Nam trong việc chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, tại họp báo thường kỳ chiều 6/11, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: Quan điểm của Việt Nam về vấn đề chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) là nhất quán và đã được nêu rõ nhiều lần.

    Việt Nam chủ trương phát triển bền vững kinh tế biển, duy trì phát triển bền vững ngành khai thác thủy sản với cơ cấu tàu, nghề phù hợp với khả năng cho phép khai thác của nguồn lợi thủy sản; tuân thủ đầy đủ các quy định về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định.

    Trong thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủy sản bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, đồng thời triển khai nhiều biện pháp chống, ngăn chặn hoạt động khai thác IUU, kiên quyết xử lý nghiêm và công khai, minh bạch các hành vi vi phạm.

    Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành “Kế hoạch hành động tháng cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam”.

    Các cơ quan chức năng và địa phương Việt Nam đã, đang và sẽ thường xuyên quản lý, tuyên truyền, giáo dục và triển khai nhiều biện pháp cụ thể để ngư dân tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng các vùng biển của các nước được xác lập phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và các Công ước/Thỏa thuận quốc tế có liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc là thành viên.

    Là thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn sẵn sàng cùng các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm trong chống khai thác IUU, thúc đẩy quản lý nghề cá hiệu quả, bền vững, phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế

    T.P

    ]]>
    Ngăn ‘vùng xám’ ở Biển Đông chuyển đỏ https://biendong.net/2025/11/07/ngan-vung-xam-o%cc%89-bien-dong-chuyen-do/ Fri, 07 Nov 2025 12:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159335 Sáng 3-11, Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 17 do Học viện Ngoại giao tổ chức với chủ đề “Đoàn kết trong bất định” chính thức khai mạc tại Đà Nẵng.

    Các học giả trao đổi trong phiên thảo luận sáng 3-11 tại Đà Nẵng

    Trao đổi tại phiên thảo luận “Tình hình, diễn biến trên Biển Đông”, TS Đỗ Thanh Hải, Viện phó Viện Biển Đông (Học viện Ngoại giao), nhận định về các xu hướng trong năm qua: “Tóm lại, Biển Đông đang đối mặt với thời khắc then chốt, đòi hỏi sự đổi mới táo bạo và hành động quyết đoán”.

    Không có năng lực phòng thủ đủ mạnh, các quốc gia sẽ ở vị thế yếu, mời gọi sự xâm phạm. Nhưng nếu chỉ tập trung răn đe mà thiếu đối thoại, khu vực sẽ sa vào thế lưỡng nan an ninh. – TS Đỗ Thanh Hải (Viện phó Viện Biển Đông)

    “Vùng xám” mở rộng
    Trong phiên thảo luận, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước chia sẻ nhận định rằng tình hình Biển Đông đang ngày một nóng hơn trong năm qua, trong bối cảnh Trung Quốc liên tục đẩy mạnh và mở rộng “chiến thuật vùng xám” nhằm tăng cường kiểm soát mà không cần xung đột trực tiếp.

    TS Bec Strating, Giám đốc Trung tâm La Trobe Asia (Đại học La Trobe, Úc), nhấn mạnh vai trò then chốt của cuộc cạnh tranh thông tin giữa các quốc gia. Bà chỉ rõ rằng qua cách kể chuyện, hình ảnh, bản đồ và ngôn từ, các bên có thể định hình nhận thức về tính chính danh: ai thực sự kiểm soát khu vực nào, ai đặt ra luật chơi và hành động của bên nào bị coi là hợp pháp hay gây hấn.

    Bà Strating phân tích: “Trong bối cảnh hàng hải Đông Á, cuộc cạnh tranh này đã tạo nên một “vùng xám thông tin” – nơi ranh giới giữa sự thật và hư cấu bị xóa nhòa, tính chính danh bị thách thức gay gắt. Tại đây, thông tin trở thành vũ khí chính trị sắc nhọn thao túng nhận thức và làm suy yếu trật tự hàng hải quốc tế. Đây chính là cuộc chiến định hình cách nhìn nhận thực tế”.

    Cũng theo bà, ở Biển Đông, một chiến thuật tinh vi đang được áp dụng là “doppelganger” (song trùng). Bên thực hiện chiến thuật song trùng tạo lập các tài sản trực tuyến xác thực như trang web hay tài khoản mạng xã hội của đối phương, sau đó đăng tải những câu chuyện ngụy tạo nhưng bề ngoài hợp lý để xây dựng góc nhìn sai lệch.

    “Chiến thuật này xóa mờ ranh giới giữa sự thật và hư cấu, định hình lại nhận thức của người tiếp nhận và thao túng quan điểm về tính chính danh. Những “thế giới song song” này khiến thông tin giả khó bị phát hiện hơn, vì chúng trông uy tín và quen thuộc”, chuyên gia Úc cảnh báo.

    Đồng tình với quan điểm này, TS Đỗ Thanh Hải khẳng định trong năm qua các hoạt động “vùng xám” tiếp tục diễn ra với cường độ và quy mô leo thang đáng báo động. Đặc biệt, số lượng sự cố giữa Trung Quốc và Philippines – từ sử dụng vòi rồng, đâm va đến tạt sườn – đang tăng theo chiều hướng nghiêm trọng.

    Theo ông Hải, những diễn biến trong năm nay cho thấy tình hình đang vượt khỏi “vùng xám” truyền thống, tiến sát “vùng đỏ” của xung đột thực sự. Điều này thể hiện qua sự hiện diện dày đặc tài sản quân sự hạng nặng như tàu chiến, máy bay chiến đấu; sự leo thang các vụ đụng độ và việc tăng cường quân bị, triển khai tên lửa cùng hệ thống phòng thủ mới.

    Trước tình thế này, ông Ray Powell, nhà sáng lập kiêm Giám đốc Dự án Sealight (ĐH Stanford, Mỹ), kêu gọi các bên phải tư duy lại và xây dựng chiến lược riêng biệt dành riêng cho “vùng xám”.

    Đáng chú ý, ông Powell cảnh báo các nước cần loại bỏ tư duy cũ kỹ, vốn phân biệt rạch ròi giữa các cặp dân sự – quân sự, hòa bình – chiến tranh và hợp pháp – bất hợp pháp.

    “Thực tiễn cho thấy Trung Quốc đang tiếp cận vấn đề theo cách thức hoàn toàn phi truyền thống. Để nắm bắt chính xác bản chất hành động của họ, chúng ta cần một phương thức tư duy liên ngành, xuyên ngành”, chuyên gia Mỹ nhấn mạnh.

    Không dừng lại ở đó, ông Powell cũng chỉ rõ một “vùng xám” mới đáng chú ý là những hoạt động bán quân sự đang được triển khai trên Biển Đông.

    “Khi Hải cảnh Trung Quốc thiết lập vành đai quanh Bãi cạn Scarborough, lực lượng này không chỉ thực thi pháp luật đơn thuần. Kết hợp với dân quân biển, họ hoạt động như một lực lượng bán quân sự thực thụ”, ông Powell khẳng định.

    Chuyên gia Mỹ nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã thành công trong việc mở rộng kiểm soát hàng hải quy mô lớn nhờ lực lượng bán quân sự – mô hình mà ít quốc gia khác sở hữu. Điều này đòi hỏi các nước liên quan phải đề ra chiến lược đối phó quyết liệt với lực lượng này.

    Bảo vệ luật pháp quốc tế
    Trước những thách thức mới mẻ này, các chuyên gia đồng loạt khẳng định tầm quan trọng của hợp tác quốc tế dựa trên nền tảng luật pháp quốc tế.

    Bà Strating kêu gọi: “Vùng xám thông tin không chỉ là thông tin sai lệch. Đó là cuộc chiến về tính chính danh và trật tự. Bằng cách hợp tác qua ngoại giao công chúng quốc tế tập thể, các quốc gia có thể bảo vệ sự toàn vẹn của luật pháp quốc tế, củng cố tính phổ quát của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), và đảm bảo khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được quản trị bởi các nguyên tắc, chứ không phải những ngoại lệ”.

    Chuyên gia Úc nhấn mạnh rằng UNCLOS chính là hiến pháp toàn cầu của đại dương. Nếu bị suy yếu ở một khu vực, tính phổ quát của nó sẽ tan vỡ. “Những gì xảy ra ở Biển Đông không phải vấn đề cục bộ. Nó mang ý nghĩa quyết định đối với trật tự hàng hải toàn cầu”, bà Strating cảnh báo.

    Đề đốc Jay Tarriela, người phát ngôn Lực lượng Cảnh sát biển Philippines, cũng khẳng định tại hội thảo rằng Manila sẽ tiếp tục ứng phó chuyên nghiệp với hành động của Trung Quốc mà không cần quân sự hóa sự hiện diện ở Biển Tây Philippines (cách Manila gọi Biển Đông).

    “Tương tự, tôi cũng tự tin rằng các láng giềng như Việt Nam, Malaysia và Indonesia sẽ kiên trì triển khai tàu dân sự và “tàu thân trắng” (tàu cảnh sát biển) để quản lý căng thẳng mà không leo thang hay nhượng bộ, đồng thời neo giữ vị thế trên luật pháp quốc tế”, Đề đốc Tarriela chia sẻ.

    Dựa trên bối cảnh hiện tại, TS Đỗ Thanh Hải đề xuất kế hoạch hành động gồm bảy điểm then chốt để quản lý khủng hoảng và ổn định Biển Đông bao gồm: đóng băng hoạt động và giảm leo thang, thiết lập quy tắc ứng xử cho lực lượng cảnh sát biển, tái cam kết với Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC)…

    Đặc biệt, ông Hải nhấn mạnh cần cân bằng khéo léo giữa răn đe và đối thoại. Nếu không, các nước sẽ rơi vào “lưỡng nan an ninh” (security dilemma), khi việc tăng cường vũ trang phòng vệ của một bên bị bên kia coi là hành động gây hấn, kéo theo vòng xoáy leo thang không lối thoát.

    T.P

    ]]>
    Úc cảnh báo rủi ro gia tăng trên tuyến hàng hải qua Biển Đông https://biendong.net/2025/11/06/uc-canh-bao-rui-ro-gia-tang-tren-tuyen-hang-hai-qua-bien-dong-2/ Thu, 06 Nov 2025 12:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159316 Hôm nay 4.11, Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles cho rằng công tác bảo vệ các tuyến hàng hải thương mại của nước này, bao gồm tuyến đi qua Biển Đông, đang ngày càng trở nên rủi ro hơn vì Trung Quốc.

    Quân đội Trung Quốc công bố video cho thấy tiêm kích J-16 phóng pháo sáng nhằm chặn đường một máy bay P-8 Poseidon của Úc trên vùng biển quốc tế hồi năm 2022

    Phát biểu khai mạc một hội nghị hải quân ở Sydney hôm nay 4.11, Bộ trưởng Quốc phòng Úc nhấn mạnh các tuyến hàng hải tự do, bao gồm những tuyến thương mại đi qua Biển Đông và Hoa Đông, là một phần cốt lõi trong lợi ích quốc gia của Úc, theo Reuters.

    Theo ông, việc bảo vệ các tuyến hàng hải này là một thách thức, và trên thực tế đang ngày càng rủi ro hơn trước. Nguyên nhân mà ông đưa ra là Trung Quốc đang xây dựng quân sự lớn nhất thế giới hiện nay.

    “Việc này diễn ra mà không có sự bảo đảm chiến lược, có nghĩa là Úc và rất nhiều nước khác cần phải có phản ứng”, theo ông Marles.

    Trước tình thế trên, Bộ trưởng Marles cho biết Úc đang tăng cường chi tiêu quốc phòng để xây dựng một “hải quân mạnh mẽ hơn, nâng cao uy lực tấn công, và tầm bắn xa”.

    Để thực thi kế hoạch trên, Úc mua các tàu hộ vệ từ Nhật Bản, phát triển tàu ngầm không người lái với công ty Anduril của Mỹ và mở rộng các xưởng đóng tàu quân sự gần Ấn Độ Dương.

    Trung Quốc chưa bình luận về phát biểu mới trên của ông Marles.

    Tháng trước, Úc đã bày tỏ quan ngại với Trung Quốc sau khi một máy bay chiến đấu của Trung Quốc thả pháo sáng gần một máy bay tuần tra hải quân của Úc đang thực hiện nhiệm vụ thường lệ trên vùng biển quốc tế ở Biển Đông. Đây là vụ gần nhất trong chuỗi các vụ việc tương tự mà Úc gọi là “không an toàn và thiếu chuyên nghiệp” do phía Trung Quốc gây ra.

    Bắc Kinh cho hay đây là phản ứng của phía quân đội nhằm ngăn chặn hành vi xâm nhập phi pháp của máy bay quân sự Úc vào không phận Trung Quốc.

    Về hội nghị hải quân ở Sydney, hàng chục tư lệnh hải quân và lãnh đạo cảnh sát biển, bao gồm từ Mỹ, Nhật Bản, Philippines, Singapore và các đảo quốc Thái Bình Dương, đã tham dự hội nghị.

    Hội nghị được tổ chức trong lúc Úc đang chuẩn bị xây dựng đội tàu ngầm hạt nhân với sự hợp tác của Mỹ và Anh thông qua cơ chế AUKUS.

    T.P

    ]]>