Giới thiệu về biển Đông – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Wed, 12 Apr 2023 12:33:16 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Mỹ hé lộ nghi phạm vụ rò rỉ tài liệu tuyệt mật https://biendong.net/2023/04/13/my-he-lo-nghi-pham-vu-ro-ri-tai-lieu-tuyet-mat/ Thu, 13 Apr 2023 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=100892 Giới chức Mỹ cho rằng, nhiều chủ đề tiết lộ trong tài liệu mật cho thấy nghi phạm làm rò rỉ là một công dân Mỹ, chứ không phải từ một nước đồng minh.

Binh sĩ Ukraine tại Bakhmut.

Giới chức Mỹ đang ráo riết điều tra để xác định nguồn rò rỉ khoảng 100 trang tài liệu mật của Lầu Năm Góc.

Một số nhà phân tích an ninh phương Tây cũng như quan chức Mỹ tin rằng nghi phạm vụ rò rỉ có thể là một người Mỹ. Họ nói, các chủ đề bị rò rỉ gồm nhiều vấn đề khác nhau từ cuộc chiến ở Ukraine đến tình hình ở Trung Quốc, Trung Đông, châu Phi cho thấy nghi phạm là công dân Mỹ hơn là từ một quốc gia đồng minh.

“Theo trọng tâm hiện tại, đây là một vụ rò rỉ của Mỹ, vì nhiều tài liệu chỉ nằm trong tay Mỹ”, Michael Mulroy, cựu quan chức Lầu Năm Góc, nhận định với Reuters.

Cuộc điều tra của Mỹ mới ở giai đoạn đầu nhằm xác định động cơ của vụ rò rỉ. Họ đang xem xét 4 đến 5 giả thuyết, từ một nhân viên bất mãn cho đến một mối đe dọa nội bộ. Họ không loại trừ khả năng vụ rò rỉ có liên quan đến các nhân vật thân Nga. Lầu Năm Góc hôm qua nhấn mạnh, cơ quan này đang đánh giá vụ việc và đã gửi thư đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp điều tra.

Tuần trước, khoảng hơn 100 trang tài liệu mật của Lầu Năm Góc bất ngờ bị rò rỉ trên các mạng xã hội. Đây có thể coi là vụ rò rỉ tài liệu mật nghiêm trọng nhất kể từ vụ hơn 700.000 tài liệu, video và điện tín ngoại giao của Mỹ xuất hiện trên trang web WikiLeaks năm 2013.

Với sự nhạy cảm của thông tin xuất hiện trong tài liệu, diễn biến này có thể gây ra thiệt hại cho Mỹ, cũng như các thành viên trong liên minh tình báo Ngũ nhãn (Mỹ, Australia, New Zealand, Canada, Anh). Ví dụ, một tài liệu ghi ngày 23/2 được dán nhãn “Secret/NoForn”, nghĩa là nó không được phép chia sẻ với nước ngoài.

Truyền thông quốc tế chưa thể kiểm chứng độc lập về mức độ xác thực của những tài liệu bị rò rỉ. Hai quan chức Mỹ nói với Reuters rằng, họ không loại trừ khả năng một số tài liệu đã bị chỉnh sửa để đánh lừa các nhà điều tra về nguồn gốc của chúng cũng như để phát tán thông tin sai lệch nhằm gây tổn hại cho lợi ích an ninh của Mỹ.

Ông Mick Mulroy cho biết vụ rò rỉ cho thấy “hành động vi phạm an ninh nghiêm trọng” có thể cản trở kế hoạch quân sự của Ukraine. “Vì nhiều thông tin trong số này là hình ảnh nên có vẻ như đó là một vụ rò rỉ có chủ ý được thực hiện bởi một ai đó muốn gây tổn hại cho các nỗ lực của Ukraine, Mỹ và NATO”, ông nói.

Ví dụ, một trong các tài liệu đề ngày 23/2 được đánh dấu “Bí mật” đánh giá, với tốc độ tiêu thụ hiện tại, Ukraine có thể cạn kiệt tên lửa phòng không S-300 trước ngày 2/5. Thông tin như vậy có thể giúp ích cho Nga trên chiến trường.

Ngoài vấn đề Ukraine, tài liệu bị rò rỉ còn đề cập đến nhiều chủ đề khác và có thể bị coi là bằng chứng cho thấy Mỹ thu thập thông tin tình báo về các nước, kể cả Israel, một trong những đồng minh quan trọng nhất ở Trung Đông.

Một tài liệu nêu chi tiết các cuộc thảo luận nội bộ giữa lãnh đạo cấp cao của Hàn Quốc về việc Mỹ gây sức ép với Seoul để cung cấp khí tài cho Ukraine. Một quan chức Hàn Quốc hôm qua cho hay họ đã nắm được thông tin về tài liệu rò rỉ và dự kiến trao đổi vấn đề này với Washington.

T.P

]]>
Loại kẹo nổi tiếng của TQ https://biendong.net/2023/02/14/loai-keo-noi-tieng-cua-tq/ Tue, 14 Feb 2023 03:11:00 +0000 https://biendong.net/?p=96389 Đối với nhiều người, Kẹo sữa Thỏ trắng đánh vào kỷ niệm ngọt ngào, đưa họ trở về tuổi thơ.

Ký ức ấu thơ

Agung Prabowo có những kỷ niệm đẹp đẽ như vậy.

Prabowo, người đồng sáng lập quán bar Penicillin từng đoạt giải thưởng, ở quận Trung tâm của Hồng Kông, cho biết: “Vị ngọt như kem tan chảy trong miệng thật đáng nhớ”.

“Lớp giấy gói mỏng bao quanh viên kẹo cũng tan trong miệng khiến nó trở nên rất đặc biệt,” anh nói về lớp giấy trong mờ bọc bên ngoài giúp kẹo không bị dính vào giấy gói.

“Đó là món kẹo yêu thích thời thơ ấu của tôi và tôi nghĩ nhiều người Hồng Kông cũng vậy.”

Để tôn vinh loại kẹo này, Penicillin hiện có một loại cocktail lấy cảm hứng từ White Rabbit bao gồm rượu tequila, kẹo White Rabbit được chưng cất lại, nước cốt chanh tươi, váng sữa chuối và xi-rô cần tây.

Prabowo nói: “Nhấp ngụm đầu tiên sẽ đưa bạn trở về thời thơ ấu. Và trải nghiệm giác quan không kết thúc ở đó. Chúng tôi cũng sử dụng giấy gói kẹo Thỏ Trắng để trang trí.”

Những lần xuất hiện quan trọng

Nhưng không phải ai cũng biết rằng, hình ảnh chú thỏ ban đầu không phải là đại diện của loại kẹo này. Theo SCMP, điều này có thể được bắt nguồn từ Công ty ABC, được thành lập ở Thượng Hải vào năm 1943 và sau đó được bán cho chủ sở hữu hiện tại, Công ty Thực phẩm Guan Sheng Yuan.

Hình ảnh chuột Mickey nổi tiếng của Disney và là biểu tượng của chủ nghĩa tư bản Mỹ – ban đầu nằm trên giấy gói bằng sáp. Hồi đó, loại kẹo này được biết đến với cái tên ABC Mickey Mouse Sweets.

Nhưng hình ảnh Mickey được thay thế vào năm 1959 sau khi ABC trở thành sở hữu nhà nước và hình ảnh phương Tây “xấu xa” không được tán thành.

Năm 1959, kẹo Thỏ Trắng được dùng làm quà tặng nhân dịp Quốc khánh lần thứ 10 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong khi vào năm 1972, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, Richard Nixon, đã được tặng loại kẹo này trong chuyến thăm lịch sử của ông tới Trung Quốc. Thời điểm đó, ông là tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Trung Quốc.

Những thăng trầm

Ngày nay, kẹo Thỏ Trắng đã lan rộng khắp thế giới, theo chân cộng đồng người Hoa ở nước ngoài.

Lydia Kuan, người Singapore, cho biết kẹo Thỏ Trắng luôn có trong nhà khi cô còn nhỏ.

Kuan nói: “Nó được sử dụng như một thứ quà để dỗ chúng tôi nín khóc hoặc không làm phiền – và nó luôn hiệu quả. Trong dịp Tết Nguyên đán, ngay cả khi không phải là Năm con Thỏ, chúng tôi luôn có loại kẹo này.

“Singapore là một quốc gia đa chủng tộc, chúng tôi có cộng đồng người Hoa, vì vậy mọi người đều biết Thỏ Trắng. Mặt hàng này có trong tất cả các cửa hàng tạp hóa, cửa hàng tiện lợi, siêu thị”, Kuan nói thêm.

Kuan là giám đốc của Hao Productions, nhà phân phối Kem Thỏ Trắng. Năm 2022, sản phẩm kem Thỏ Trắng có mặt trên thị trường Hồng Kông. Kuan nói rằng trong khi hầu hết mọi người ưa thích hương vị kẹo Thỏ Trắng ban đầu, cô cũng vô cùng hào hứng với hàng loạt hương vị mới.

“Tết Nguyên đán, chúng tôi có rất nhiều hương vị mới bao gồm cà phê, mận, matcha và sữa chua.”

Không có gì ngạc nhiên khi Thỏ Trắng đang thay đổi để thu hút người tiêu dùng trẻ.

Vào năm 2018, thương hiệu này đã hợp tác với công ty mỹ phẩm Meijiajing ở Thượng Hải để tung ra một loại son dưỡng môi phiên bản giới hạn. Lô hàng đầu tiên gồm 920 thỏi đã được bán hết trong vài giây.

Các công ty bên ngoài Trung Quốc cũng đã tiến hành hợp tác. Vào năm 2011, hãng đồ thể thao khổng lồ của Mỹ Nike đã cho ra mắt mẫu giày Air Force 1 Supreme Low Year of the Rabbit phiên bản giới hạn lấy cảm hứng từ biểu tượng của chiếc kẹo này.

Vào năm 2022, nhà sản xuất đồ da Coach của Mỹ đã tung ra một loạt sản phẩm lấy cảm hứng từ Thỏ Trắng để hướng đến 1,4 tỷ người tiêu dùng của quốc gia này.

Nhưng không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Năm 2008, các nhà cung cấp sữa bột của Guan Sheng Yuan Food – một thành phần quan trọng trong món ngọt – đã vướng vào vụ bê bối sữa nhiễm độc ở Trung Quốc, ảnh hưởng đến sức khỏe 52.000 trẻ em sau khi tiêu thụ các sản phẩm sữa có melamine.

Kẹo Thỏ Trắng tạm thời bị đình chỉ sản xuất và bị thu hồi khỏi các kệ hàng siêu thị trên khắp thế giới.

Ngày nay thương hiệu đã trở lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Và những người hâm mộ muốn có trải nghiệm xứ sở thần tiên đầy kẹo thì nên đến Thượng Hải.

Năm ngoái, cửa hàng Flagship Store (cửa hàng hàng đầu đại diện cho một thương hiệu tại khu vực/quốc gia) đã khai trương trong thành phố, không chỉ bán kẹo với nhiều hương vị mà còn bán nhiều loại hàng hóa theo chủ đề Thỏ Trắng từ kem dưỡng da tay cho đến những chiếc ô…

T.P

]]>
Biển Đông: Địa chiến lược và Tiềm năng kinh tế https://biendong.net/2018/09/26/bien-dong-dia-chien-luoc-va-tiem-nang-kinh-te/ https://biendong.net/2018/09/26/bien-dong-dia-chien-luoc-va-tiem-nang-kinh-te/#comments Wed, 26 Sep 2018 03:00:40 +0000 http://localhost/wp/2018/09/26/bien-dong-dia-chien-luoc-va-tiem-nang-kinh-te/ Bài viết giới thiệu về điều kiện tự nhiên, vị trí địa chiến lược, các  tài nguyên kinh tế của Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Biển Đông còn gọi là biển Nam Trung Hoa theo tên tiếng Anh (The South China Sea) và tiếng Pháp Mer de Chine Méridionale, là một biển rìa Tây Thái Bình Dương.

Theo quy định của Uỷ ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng. Biển Đông nằm ở phía Nam đại lục Trung Hoa nên có tên gọi là biển Nam Trung Hoa. Tuy nhiên, địa danh biển không có ý  nghĩa về mặt chủ quyền như một số người ngộ nhận.

Vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển được xác định và giải quyết theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982. Biển Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quen như một danh từ riêng.

Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km vuông, trải rộng từ vĩ độ 3o lên đến vĩ độ 26o Bắc và từ kinh độ 100o đến 121o Đông. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia.

Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước này. Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn cả của châu Á – Thái Bình Dương và Mỹ.

Tiềm năng của Biển Đông 

Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), du lịch và là khu vực đang chịu sức ép lớn về bảo vệ môi trường sinh thái biển.

Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippin, trong đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 – 2 triệu tấn/năm), cả khu vực đánh bắt khoảng 7 – 8% tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới.

Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney – Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan … trong đó Indonesia là thành viên của OPEC.

Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác khoảng 02 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối

Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 – 20 năm tới. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam đứng vào hạng trung bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và Malaysia.

Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo.

Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông

Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, Châu Âu – Châu Á, Trung Đông – Châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực.

Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông.

Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai – Wetar). Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz).

Nạn cướp biển và khủng bố trên Biển Đông ở mức cao, đặc biệt sau vụ tấn công khủng bố tự sát vào tàu chở dầu của Pháp tháng 10 năm 2002. Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa – chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là đối với Mỹ và Nhật Bản. Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu vực khác, nhất là Trung Đông. Vì vậy, việc Biển Đông bị một nước hoặc một nhóm nước liên minh nào khống chế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nước khu vực.

Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông.

Tầm quan trọng chiến lược của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông

Các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước. Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên thế giới.

Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của Châu Á có hai điểm trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia và Malaysia). Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hoá của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. Ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do gì đó. Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hoá giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn. Điểm trọng yếu thứ hai là vùng Biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hoá của nhiều nước Châu Á. Xuất khẩu hàng hoá của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 26%, Australia 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la). Nếu khủng hoảng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua Nam Australia thì cước phí vận tải thậm chí sẽ tăng gấp năm lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè… Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông.

]]>
https://biendong.net/2018/09/26/bien-dong-dia-chien-luoc-va-tiem-nang-kinh-te/feed/ 231
Thế giới đại dương: Tìm hiểu về Rong Biển https://biendong.net/2012/06/26/th-gii-i-dng-tim-hiu-v-rong-bin/ https://biendong.net/2012/06/26/th-gii-i-dng-tim-hiu-v-rong-bin/#comments Tue, 26 Jun 2012 08:45:59 +0000 http://localhost/wp/2012/06/26/th-gii-i-dng-tim-hiu-v-rong-bin/ BienDong.Net: Rong biển hay tảo bẹ hay cỏ biển là loài thực vật sinh sống ở biển, thuộc nhóm tảo biển. Rong biển có thế sống ở cả hai môi trường nước mặn và nước lợ, chúng mọc trên các rạn san hô hoặc trên các vách đá, hoặc có thể mọc dưới tầng nước sâu với điều kiện có ánh sáng mặt trời chiếu tới để quang hợp. Từ lâu con người đã khai thác rong biển cho thực phẩm, dược phẩm và công nghiệp. Sản lượng rong biển hàng năm cuả thế giới ước tính đạt khoảng 15 triệu tấn và dự tính khoảng 22 triệu tấn vào năm 2020.

Rong biển là thức ăn rất giàu bột đường, chất xơ, đạm, sinh tố và chất khoáng. Hàm lượng sinh tố A trong rong biển cao gấp 2-3 lần so với cà rốt, hàm lượng canxi cao gấp 3 lần so với sữa bò, vitamin B2 cao gấp 4 lần trong trứng.

Thành phần Alga alkane mannitol có trong rong biển là loại đường có hàm lượng calo thấp, bổ máu, giúp tiêu hoá nhanh và loại bỏ nhanh các các chất cặn bã có trong cơ thể. Dưới góc độ y học, rong biển là một thực phẩm dưỡng sinh tốt, thường được dùng phối hợp trong thực đơn của người bị béo phì, người đái tháo đường, làm thực phẩm cho người bị tăng huyết áp nhờ khả năng chống vón tiểu cầu. Gần đây nhiều nhà khoa học Nhật Bản cho rằng rong biển có khả năng chống phóng xạ và thải độc. Rong biển ở Nhật bản được biết đến như là một thực phẩm giúp cọn người có thể trường thọ.

Ở VN có nhiều món ăn đặc sản được chế biến từ rong biển như gỏi, nộm, canh rong biển, rong biển xào tôm thịt, rong biển hầm sườn non, rong biển chiên…

Những loài rong biển thực phẩm nổi tiếng như kombu (Laminaria) của Trung Quốc, wakame (Undaria pinnatifida) của Hàn Quốc đều có giá bán rất cao, đặc biệt loại rong nori (Porphyra) của Nhật Bản có giá xấp xỉ 20.000USD một tấn.

“ Rừng “ rong Giant Kelp ( Ảnh Internet )

Theo các phương pháp cổ điển, để chuyển rong biển thành ethanol nhiên liệu cần phải qua các bước: tiền xử lý nguyên liệu, thủy phân thành đường, lên men đường thành ethanol nhiên liệu sinh học và quá trình giảm lượng nước trong ethanol nhiên liệu. Mới đây, các nhà khoa học thuộc Đại học Đông Bắc Nhật Bản và Công ty Điện lực Đông Bắc lại nghiên cứu thành công công nghệ mới có thể chiết xuất cồn sinh học Bio-ethanol với hiệu quả cao từ rong biển bằng cách nghiền nhỏ rong biển và trộn lẫn với enzyme, sau đó cho thêm một loại nấm men đặc biệt để chúng lên men. Sau khoảng hai tuần, từ mỗi kilogam rong biển có thể sản xuất được khoảng 200ml ethanol.

Theo các nhà khoa học, so với phương pháp xử lý phức tạp theo nhiều công đoạn trước kia, công nghệ mới này có thể làm cho rong biển trực tiếp lên men, hơn nữa trong quá trình xử lý không phải cho thêm các phụ gia chất độc hại.

Bio-ethanol là một loại năng lượng sạch, tuy nhiên, nguyên liệu của nó cho đến nay đa phần là các cây trồng kinh tế như ngô, mía đường.

Công nghệ mới này không chỉ có lợi cho bảo vệ môi trường, mà còn có thể trợ giúp trong ứng phó vấn đề lương thực.

Tại Hawaii, Mỹ người ta đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu loài rong Giant Kelp . Đây là thực vật có sức quang hợp lớn, phát triển vào loại nhanh nhất trong thế giới thực vật, mỗi ngày cây rong có thể tăng trưởng đến 1 mét . Do đó người Mỹ tin rằng loại rong này có thể dùng làm nguyên liệu để tạo ra nhiên liệu sinh học.

Theo các tài liệu đã công bố, rong biển Việt Nam có khoảng 800 loài. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có một số đối tượng khoảng 90 loài được người dân khai thác sử dụng làm thực phẩm, làm thuốc, còn phần lớn để cho tự phân hủy gây lãng phí tài nguyên và gây ra ô nhiễm môi trường.

Ước tính diện tích mặt nước có tiềm năng nuôi trồng và khai thác rong biển trong thời kỳ 2010-2015 là 900.000 ha với sản lượng 600-700.000 tấn khô/năm, trong đó, nhóm rong Lục có tiềm năng lớn nhất về diện tích và sản lượng nuôi trồng.

Tại Việt Nam, bên cạnh việc sử dụng rong biển làm thực phẩm, các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang đã chọn được ba loài rong biển có khả năng nuôi trồng quy mô lớn, sản lượng cao, đáp ứng nguyên liệu sản xuất cồn nhiên liệu etanol, đồng thời đã chiết xuất thành công bio-etanol từ rong biển trong phòng thí nghiệm, với tỉ lệ 7kg rong biển thu được 1kg etanol. Tiến sĩ Lê Như Hậu, trưởng phòng vật liệu hữu cơ từ tài nguyên biển, Viện Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang đánh giá, Việt Nam có vùng biển rộng lớn, thuận tiện để trồng rong biển nhằm chiết xuất etanol. “Sản xuất etanol từ rong biển vừa giải quyết vấn đề nhiên liệu, an ninh lương thực vừa giải quyết việc làm cho ngư dân ven biển, ông Hậu nói.

Tuy nhiên, nếu rong biển được khai thác ồ ạt để đưa vào sử dụng làm nguyên liệu sản xuất ethanol, thì nguồn nguyên liệu chẳng bao lâu sẽ trở nên cạn kiệt. Bên cạnh đó, còn có một số nhân tố ảnh hưởng đến sự suy giảm nguồn tài nguyên sinh vật, thậm chí có nhiều loài bị đe dọa có nguy cơ biến mất trong tương lai gần. Đó là việc phá vỡ nơi cư trú của rong biển trước hoạt động khai thác san hô làm vật liệu xây dựng, làm ao nuôi trồng thủy sản, xây dựng cảng biển, mở rộng thành phố. Cùng với đó là hành động làm xáo trộn môi trường như tăng hàm lượng dinh dưỡng, vật chất lơ lửng, các kim loại nặng từ nuôi trồng và các hoạt động thành phố đổ ra biển; khai thác quá mức. Và cuối cùng là tác động trực tiếp từ hoạt động du lịch gây tổn hại cho quần thể rong biển.

TS Lê Như Hậu giới thiệu rong mơ được nhân giống trong phòng thí nghiệm – Ảnh: Duy Thanh, Báo Tuổi Trẻ.

Các nhà khoa học Nha Trang đã nhìn thấy rõ những nguy cơ này và đã đề xuất sự cần thiết phải nghiên cứu các giải pháp nhằm khai thác bền vững nguồn nguyên liệu rong biển, trong đó ngoài việc đưa ra những qui định chặt chẽ về chế độ khai thác rong biển tự nhiên, bảo đảm môi trường sống cho rong biển, còn phải phát triển các dự án trồng rong biển ở Việt Nam theo qui mô công nghiệp.

Trên thế giới, vấn đề khai thác bền vững rong biển cũng đã được một số nước quan tâm. Về quản lý nguồn lợi rong biển, một số nước ở bờ Tây Bắc châu Mỹ đã có một số điều luật trong quản lý khai thác rong biển, ví dụ ở Alaska, rong biển chỉ được khai thác qua các công cụ sử dụng bằng tay, hạn chế chỉ một số vùng được khai thác với một số loài và theo phương pháp được chỉ định. Ở British columbia, Canada thì chỉ cho người dân trong địa phương khai thác, không khai thác quá 20% tổng sinh lượng của bãi rong, đối với rong Macrocystis integrifolia không được khai thác gốc bám, không khai thác ở độ sâu dưới 1,5m dưới mặt nước. Ở California, phí khai thác thương mại 100USD/năm, và phải đóng nghĩa vụ đối với địa phương 5 cent/tấn rong tươi. Về phương pháp khai thác, đối với loài Chondracanthus chamissoi ở Bắc Chi lê, thu hoạch vào mùa xuân nhưng phải để lại 1 kg/m2 tương đương với sinh khối nhỏ nhất trong năm và chỉ nên thu 4kg/m2…

Bên cạnh các biện pháp chế tài, một số nước cũng đã có các dự án phát triển rong biển công nghiệp. Đầu tháng 11/2008 một dự án hợp tác được ký giữa Hàn Quốc và Indonesia nhằm trồng rong ở các đảo Maluku, Belitung và Lombok để sản xuất biodiesel theo công nghệ Italia. Nhưng tham vọng hơn cả là dự án của Nhật Bản bắt đầu triển khai từ tháng 3/2007, theo đó họ sử dụng tổng cộng 10.000km2 mặt nước để trồng loài rong mơ Sargassum hondawara nhằm sản xuất mỗi năm 20 triệu mét khối bioethanol, nghĩa là tương đương với 1/3 nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu của nước này. Về phần mình, Các nhà khoa học Viện Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang đánh giá, Việt Nam có vùng biển rộng lớn, thuận tiện để trồng rong biển nhằm chiết xuất etanol. Ước tính diện tích mặt nước có tiềm năng nuôi trồng và khai thác rong biển trong thời kỳ 2010-2015 là 900.000 ha với sản lượng 600-700.000 tấn khô/năm, trong đó, nhóm rong Lục có tiềm năng lớn nhất về diện tích và sản lượng nuôi trồng.

Hoa Biển ( tổng hợp )

]]>
https://biendong.net/2012/06/26/th-gii-i-dng-tim-hiu-v-rong-bin/feed/ 1105
Trường Sa có 62 loài rong có giá trị kinh tế https://biendong.net/2012/06/26/trng-sa-co-62-loai-rong-co-gia-tr-kinh-t/ https://biendong.net/2012/06/26/trng-sa-co-62-loai-rong-co-gia-tr-kinh-t/#comments Tue, 26 Jun 2012 08:31:20 +0000 http://localhost/wp/2012/06/26/trng-sa-co-62-loai-rong-co-gia-tr-kinh-t/ BienDong.Net: Quần đảo Trường Sa, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà, bao gồm khoảng 100 hòn đảo, đá ngầm và bãi san hô. Nơi đây có nhiều loài rong biển tồn tại và phát triển, trong đó có 62 loài có giá trị kinh tế và là một nguồn tài nguyên biển quan trọng.

Từ lâu, rong biển đã được biết đến như một nguồn lợi thực phẩm có nhiều giá trị dinh dưỡng và có tác dụng chữa bệnh. Bên cạnh đó, rong biển còn làm nguyên liệu cho rất nhiều ngành công nghiệp như thực phẩm, dệt may, mỹ phẩm, dược phẩm,…. Ở Việt Nam hiện nay, rong biển đang là một trong những đối tượng có nhiều triển vọng khai thác phục vụ phát triển kinh tế xã hội, góp phần đáng kể làm thay đổi bộ mặt các vùng nông thôn nhất là vùng nông thôn ven biển và hải đảo.

Để có cơ sở khoa học, đồng thời bổ sung thêm tư liệu về nhóm nguồn lợi này, trong thời gian qua các nhà khoa học thuộc Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường Biển) đã tiến hành nghiên cứu về nguồn lợi rong biển quần đảo Trường Sa và đạt được nhiều kết quả khả quan.

Thu mẫu rong biển dải trên vùng dưới triều tại quần đảo Trường Sa (Ảnh: Đàm Đức Tiến)

Công trình nghiên cứu cho thấy tại 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa (Trường Sa lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Phan Vinh, Tốc Tan, Thuyền Chài, Đá Tây, Sinh Tồn và Đá Nam), đã xác định được 255 loài rong biển thuộc 4 ngành là khuẩn Lam (Cyanophyta), rong Đỏ (Rhodophyta), rong Nâu (Phaeophyta) và rong Lục (Chlorophyta). Trong đó, rong Đỏ chiếm ưu thế hơn cả: 136 loài chiếm 53,3%, tiếp theo là rong Lục: 69 loài chiếm 27,0%, khuẩn Lam và rong nâu có số lượng loài bằng nhau: 25 loài chiếm 9,8%.

Rong biển ở quần đảo Trường Sa có sự phân bố rất đa dạng và không đồng đều, các nghiên cứu tập trung chủ yếu theo 2 hướng là phân bố địa lý (phân bố rộng) và phân bố thẳng đứng (phân bố sâu).

Theo đó, sự phân bố địa lý (phân bố rộng) của rong biển tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa không giống nhau, số lượng loài tại các đảo dao động từ 17 loài (đảo Phan Vinh) đến 127 loài (đảo Đá Tây) và trung bình là 72,9 loài.

Sự phân bố thẳng đứng (phân bố sâu) của rong biển tại quần đảo Trường Sa chỉ nằm trong giới hạn từ vùng triều trở xuống và tập trung chủ yếu ở vùng triều thấp. Một số loài có thể phân bố sâu đến 20m dưới 0m hải đồ hoặc sâu hơn nữa.

Một số loài rong biển ở vùng dưới triều quần đảo Trường Sa (Ảnh: Đàm Đức Tiến)

Căn cứ giá trị sử dụng, các nhà khoa học đã phân loại rong biển tại quần đảo Trường Sa thành sáu nhóm làm nguyên liệu chế biến cụ thể như nhóm làm nguyên liệu chế biến kẹo Carrageenan, nhóm làm nguyên liệu chế biến thạch (agar), dược liệu, thực phẩm, phân bón và rau xanh.

Nghiên cứu nguồn lợi rong biển quần đảo Trường Sa của các nhà khoa học thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường Biển không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học, góp phần bổ sung thêm tài liệu về nguồn lợi rong biển trong nước mà còn giúp các cơ quan quản lý tại quần đảo Trường Sa có thể định hướng khai thác nguồn tài nguyên quý giá này một cách hợp lý và có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các vùng hải đảo.

Liên quan vấn đề khai thác tài nguyên rong biển, Viện KH-CN Việt Nam khuyến cáo: “Nên khai thác có hạn định, khai thác xen kẽ (để lại giống vụ sau) cho phù hợp với quy luật của khu hệ thực vật nhiệt đới, và nên khoanh vùng bảo vệ một số loài có sinh lượng nhỏ, có nguy cơ tuyệt chủng”.

Sông Hồng ( nguồn tin: TS. Đàm Đức Tiến, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển)

]]>
https://biendong.net/2012/06/26/trng-sa-co-62-loai-rong-co-gia-tr-kinh-t/feed/ 87
CÁC VÙNG BIỂN CỦA CÁC NƯỚC VEN BIỂN ĐÔNG THEO LUẬT BIỂN QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI https://biendong.net/2012/06/22/cac-vung-bin-ca-cac-nc-ven-bin-ong-theo-lut-bin-quc-t-hin-i/ Fri, 22 Jun 2012 09:56:00 +0000 http://localhost/wp/2012/06/22/cac-vung-bin-ca-cac-nc-ven-bin-ong-theo-lut-bin-quc-t-hin-i/ Biển Đông là biển nửa kín ở Thái Bình Dương và được bao bọc bởi 9 nước là Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines và Trung Quốc. Đời sống cư dân và sự tăng trưởng kinh tế của các nước này dựa rất lớn vào việc khai thác các nguồn lợi của các vùng biển.

Phần lớn các nước này đã tham gia Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc: Philippines – năm 1984, Indonesia – năm 1986, Việt Nam – năm 1994. Singapore, Trung Quốc, Malaysia và Brunei – năm 1996 và Thái Lan tham gia năm 2011. Cho đến nay, Công ước này có tổng cộng 162 thành viên từ khắp 5 châu lục.

Khu vực biển Đông (ảnh Internet)

Theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven Biển Đông có các vùng biển với các quy chế pháp lý khác nhau. Hai vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển là nội thuỷ và lãnh hải. Hai vùng biển khác thuộc quyền chủ quyền của quốc gia ven biển là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài ra, họ có một vùng biển mang tính đặc thù là vùng tiếp giáp lãnh hải. Như các quốc gia ven biển khác trên thế giới, các quốc gia ven Biển Đông có quyền ban hành các luật, lệ để xác định phạm vi cũng như quy chế pháp lý các vùng biển của mình hoặc để điều chỉnh các hoạt động trong các vùng biển. Nhưng họ không thể nào làm việc đó một cách tuỳ tiện. Họ phải tuân thủ các quy định liên quan trong Công ước Luật Biển năm 1982.

Phù hợp với Công ước, các quốc gia ven Biển Đông tính chiều rộng của các vùng biển của mình kể từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải. Điều cần lưu ý ở đây là trong số các nước ven Biển Đông có 2 quốc gia quần đảo – Indonesia và Philippines. Vì là quốc gia quần đảo nên hai nước này được phép vẽ đường cơ sở quần đảo, tức là nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất của quần đảo với nhau bằng các đoạn thẳng. Còn các quốc gia ven Biển Đông khác như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Brunei và Trung Quốc hoàn toàn không có quyền vẽ đường cơ sở quần đảo. Chính vì thế, việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) hoàn toàn phi pháp. Lẽ thứ nhất, việc làm đó đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Lẽ thứ 2 là trái với quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 về phương pháp vẽ đường cơ sở.

Nội thủy (tên tiếng Anh là Internal Waters): Theo Công ước Luật Biển năm 1982, mỗi quốc gia ven Biển Đông có vùng nội thuỷ là toàn bộ vùng biển tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở của quốc gia đó. Trong vùng nội thuỷ của mình, mỗi quốc gia ven Biển Đông có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình. Indonesia và Phillipines là các quốc gia quần đảo, nên vùng nước bên trong đường cơ sở của họ được gọi là vùng nước quần đảo. Vùng nước quần đảo cũng thuộc chủ quyền của quốc gia quần đảo. Nhưng khác với vùng nội thuỷ của các quốc gia ven Biển Đông khác, trong vùng nước quần đảo tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền đi qua không gây hại.

Lãnh hải (tên tiếng Anh là Territorial Sea): Theo Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven Biển Đông có vùng lãnh hải nằm ở bên ngoài đường cơ sở của họ. Theo luật biển quốc tế trước đây, các quốc gia ven biển chỉ có lãnh hải 3 hải lý. Người ta lấy 3 hải lý vì thời đó tầm bắn của đại bác chỉ ngần ấy. Dần đần các nước nhỏ muốn mở rộng lãnh hải của mình, nhưng các nước lớn không đồng ý. Do đó cho đến khi Liên hợp quốc ra đời thì chiều rộng lãnh hải vẫn là 3 hải lý. Tại Hội nghị Luật Biển lần thứ II của Liên hợp quốc, đã diễn ra tranh luận giữa hai trường phái: một số nước tiếp tục ủng hộ quan điểm lãnh hải 3 hải lý, nhưng một số nước khác lại yêu cầu mở rộng lãnh hải đến 12 hải lý. Kết quả là không thống nhất được về chiều rộng lãnh hải. Tại Hội nghị Luật Biển lần III do LHQ tổ chức từ năm 1967 đến năm 1982 các nước tiếp tục thương lượng về chiều rộng này. Cuối cùng trường phái ủng hộ mở rộng đã thắng thế và Công ước Luật Biển năm 1982 quy định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý.

Áp vào điều kiện của Biển Đông, các quốc gia ven Biển Đông có lãnh hải 12 hải lý kể từ đường cơ sở của mình. Họ có chủ quyền đối với lãnh hải cũng như đối với vùng trời ở trên lãnh hải, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Tuy nhiên, phù hợp với quy định của Công ước, mỗi quốc gia ven Biển Đông phải công nhận quyền của tàu thuyền của các quốc gia khác được đi qua không gây hại (tàu bay bay trên vùng trời vẫn phải xin phép). Khi thực hiện quyền đi qua đó, tàu thuyền nước ngoài không được đe doạ hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển, hoặc dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc; hoặc tuyên truyền, thu thập thông tin gây hại cho quốc phòng, an ninh của quốc gia ven Biển Đông v.v…

Mỗi quốc gia ven Biển Đông có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc đi qua trong lãnh hải của mình trong một số vấn đề (an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa, xuất, nhập cảnh, y tế) và quy định hành lang để tàu thuyền đi qua.

Vùng tiếp giáp (tên tiếng Anh là Contiguous Zone): Theo Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven Biển Đông có vùng đặc quyền của mỗi quốc gia ven Biển Đông là vùng biển đặc thù nằm ở ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia đó. Vùng này có chiều rộng 12 hải lý kể từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Trong vùng này các quốc gia ven Biển Đông có quyền thực hiện sự kiểm soát cần thiết nhằm mục đich ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm xảy ra trong lãnh hải của quốc gia đó. Ngoài khía cạnh này ra, quy chế của vùng này hoàn toàn như phần còn lại của vùng đặc quyền kinh tế.

Vùng đặc quyền kinh tế (tên tiếng Anh là Exclusive Economic Zone): Theo Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven Biển Đông có vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải với chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trước thập kỷ 60 của thế kỷ XX, hoàn toàn không có chế định pháp lý này vì theo luật biển quốc tế thời đó các quốc gia ven biển chỉ có lãnh hải 3 hải lý và toàn bộ vùng biển ngoài 3 hải lý là vùng biển quốc tế (tiếng Anh gọi là high sea). Với việc ra đời của vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng và vùng biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể.

Điều cần nhấn mạnh là các quốc gia ven Biển Đông không có chủ quyền mà chỉ có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình. Theo Công ước mỗi quốc gia ven Biển Đông có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật ở đó cũng như đối với các hoạt động khác như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió. Hiện nay tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế chính là tôm và cá. Trong trường hợp các quốc gia ven Biển Đông không đánh bắt hết sản lượng tôm, cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình thì có thể cho phép các quốc gia khác đánh bắt (nhưng các nước đánh bắt phải trả lệ phí và tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển). Theo báo chí trong nước thì ngư dân Việt Nam nhiều lần gặp ngư dân Trung Quốc vào đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam nhưng không có giáy phép. Rõ ràng việc đó trái với Công ước Luật Biển năm 1982. Quốc gia ven Biển Đông còn có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Cần thiết lưu ý một điểm là theo Công ước Luật Biển năm 1982 các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và quyền tự do bay ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven Biển Đông.

Thềm lục địa (tên tiếng Anh là Continental Shelf): Theo Công ước Luật Biển năm 1982 các quốc gia ven Biển Đông có vùng thềm lục địa của mình. Đó là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven Biển Đông. Công ước quy định chiều rộng tối thiểu của thềm lục địa là 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải. Quốc gia ven Biển Đông có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến tối đa 350 hải lý kể từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m (đường nối liền các điểm có độ sâu 2500m). Nhưng ở đây cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Để có thể mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý là quốc gia ven Biển Đông phải trình Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc báo cáo quốc gia kèm đầy đủ bằng chứng khoa học về địa chất và địa mạo của vùng đó. Thực hiện quyền này, thời gian qua các quốc gia ven Biển Đông đã trình lên Liên hợp quốc các Báo cáo quốc gia của mình. Ngày 6-5-2009, Việt Nam và Malaysia trình Liên hợp quốc Báo cáo chung của hai quốc gia về xác định ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở Nam Biển Đông. Ngày 7-5-2009, Việt Nam đã trình Báo cáo riêng của Việt Nam về xác định thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở khu vực phía Bắc. Liên hợp quốc đã nhận và sẽ xem xét các Báo cáo này.

Phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, trong thềm lục địa của mình, quốc gia ven Biển Đông có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đó. Hiện nay, các nước ven Biển Đông đang tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí trong thềm lục địa của mình. Đặc biệt, Công ước Luật Biển năm 1982 nhấn mạnh quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ nếu quốc gia ven Biển Đông không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây, nếu không được sự đồng ý của quốc gia ven biển.

Các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 về phạm vi cũng như quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển rất rõ ràng và minh bạch. Phù hợp với các quy định của Công ước, các quốc gia ven Biển Đông có các quyền hợp pháp và chính đáng đối với mỗi vùng biển của mình. Khi thực hiện các quyền đó của mình, mỗi quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng các quyền tương tự của các quốc gia ven biển khác. Điều đang tiếc là trong thực tế, thời gian qua đã xảy ra nhiều trường hợp các quyền chính đáng của Việt Nam đối với các vùng biển hợp pháp của mình đã bị Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng. Điển hình là việc Trung Quốc cho tàu cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 ngay trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam vào cuối tháng 5-2011. Những việc làm trái luật biển quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp hơn và gây lo ngại trong dư luận. Một hệ quả tất yếu mà Trung Quốc không tính hết là hiện nay không chỉ các nước ven Biển Đông bất bình và phẫn nộ, mà cả thế giới cũng lên án cách hành xử trái luật của Trung Quốc ở Biển Đông./.

An Duy

]]>
Biển Đông – nguồn sống vô tận https://biendong.net/2010/10/28/bien-dong-nguon-song-vo-tan/ Thu, 28 Oct 2010 09:39:03 +0000 http://localhost/wp/2010/10/28/bien-dong-nguon-song-vo-tan/ Trải rộng từ vĩ độ
3 lên đến vĩ độ 26 Bắc và từ kinh độ 100 đến 121 Đông, biển Đông là một biển
nửa kín. Ngoài Việt Nam, biển Đông được bao bọc bởi 8 nước khác là Trung Quốc,
Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia. Tiềm
năng của vùng biển này là nguồn sống phong phú của các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới.

Sinh vật biển đa dạng

Vị trí, địa lý và
khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự đa dạng sinh học cao so với các
nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và nguồn gen.
Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam như sự thay đổi nhiệt độ theo vĩ
tuyến, mức độ trao đổi môi trường với các vùng xung quanh, hình thái thềm lục
địa… đã tạo nên những nét đặc trưng của các hệ sinh thái giữa các vùng biển ở
Việt Nam.

Cho đến nay, trong
vùng biển này đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20
kiểu hệ sinh thái điển hình. Trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038
loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong
biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập
mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và
5 loài rùa biển.

Nguồn tài nguyên sinh
vật biển quan trọng đã mang đến những ưu thế cho đời sống và sự phát triển kinh
tế của các nước xung quanh. Trữ lượng hải sản đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu
tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao có thể khai thác được
hàng năm. Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng
đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam,
Indonesia và Philippines.

Khoáng sản phong phú

Biển Đông được coi
là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục
địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney – Saba, Sarawak, Malay,
Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Tại vùng biển
và thềm lục địa Việt Nam xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí,
trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng
dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự
báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu
quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng
1.000 tỷ m3 (theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu được kiểm
chứng ở biển Đông là 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày).
Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa
ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam.

Ngoài ra, theo các
chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài
nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang
bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu
khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi
là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần
đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo.

Tuyến giao thông huyết mạch

Biển Đông nằm trên
tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, châu
Âu – châu Á, Trung Đông – châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế
nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại
qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn,
hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có
khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế
giới là cảng Singapore và Hồng Công. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày
càng gia tăng ở khu vực.

Nhiều nước ở khu
vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết
yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông
Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại
của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển
Đông.

Lượng dầu lửa và
khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở
qua kênh đào Panama.
Khu vực biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong
16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt eo
biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới.

Hàng năm có khoảng
70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của
Nhật Bản được vận chuyển qua biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng
hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu
được vận chuyển bằng đường biển qua biển Đông.

Tiềm năng du lịch biển

Tài nguyên du lịch
biển cũng là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng khai thác tổng hợp để phát
triển mạnh. Các bãi biển của Việt Nam
phân bố trải đều từ Bắc vào Nam.
Dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du
lịch, với bãi thoải, nước trong xanh, khí hậu ôn hòa, và cảnh quan thiên nhiên
kỳ thú. Trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác. Một số địa danh du lịch
biển của Việt Nam đã được biết đến trên phạm vi toàn cầu như vịnh Hạ Long – hai
lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, đang nằm trong danh
sách đề cử kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Vịnh Nha Trang được coi là một
trong những vịnh đẹp nhất hành tinh, bãi biển Đà Nẵng được tạp chí Forbes bầu
chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh.

Theo các chuyên
gia du lịch, biển Việt Nam
rất đẹp và thích hợp cho du lịch tắm biển. Suốt từ Móng Cái (Quảng Ninh) cho
đến mũi Cà Mau vòng lên Kiên Giang có tới hàng ngàn cây số bờ biển, hấp dẫn du
khách bởi bãi biển tuyệt đẹp, cát trắng, cát vàng sạch sẽ, nước biển trong
xanh, cảnh đẹp hữu tình. Trong đó, những khu vực biển có tiềm năng lớn đã đầu
tư phát triển là Trà Cổ-vịnh Hạ Long- Hải Phòng- Cát Bà; Sầm Sơn- Cửa Lò; Nhật
Lệ- Cửa Tùng- Cửa Việt; Huế- Đà Nẵng- Quảng Nam; Quảng Ngãi- Quy Nhơn; Vân
Phong- Đại Lãnh- Nha Trang; Ninh Thuận – Phan Thiết – Mũi Né; Vũng Tàu- Long
Hải- Cần Giờ- Côn Đảo; Hà Tiên- Phú Quốc… Sự có mặt của các tập đoàn quản lý
khách sạn, khu nghỉ dưỡng lớn nổi tiếng trên thế giới tại Việt Nam như Furama, General, Accor, Starwood,
Marriot… càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch biển Việt Nam.

Đó là chưa kể đến
các hình thức du lịch mới trong điều kiện hiện nay như lướt sóng, đua thuyền
buồm, du lịch lặn biển hay việc đón các chuyến tàu du lịch quốc tế đến Huế, Nha
Trang và Đà Nẵng trong thời gian gần đây đã đem lại nhiều triển vọng cho du
lịch văn hoá biển.

Theo số liệu thống kê trong vòng 10 năm trở lại đây,
vùng ven biển là lãnh thổ thu hút hàng năm trên 73% số lượt khách du lịch quốc tế
đến các địa phương trong lãnh thổ Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình
khoảng 31%/năm. Năm 1997 số lượt khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển đạt
2.127 ngàn, năm 2002 gần 5,3 triệu lượt và năm 2008 các tỉnh ven biển đón
khoảng 9 triệu lượt khách quốc tế. Cùng với tỉ lệ cao số lượng khách du lịch,
thu nhập xã hội từ du lịch của các địa phương ven biển luôn chiếm tỉ lệ lớn
(trên 70%) trong tổng thu nhập xã hội từ du lịch của cả nước./.

]]>
Địa danh trong biển Đông https://biendong.net/2010/03/15/dia-danh-trong-bien-dong/ https://biendong.net/2010/03/15/dia-danh-trong-bien-dong/#comments Mon, 15 Mar 2010 15:33:02 +0000 http://localhost/wp/2010/03/15/dia-danh-trong-bien-dong/ Vịnh Bắc Bộ là phần biển Đông giữa miền Bắc Việt Nam với Đảo Hải Nam miền Nam Trung Quốc. Bờ phía Tây là bờ biển Việt Nam từ Thanh Hóa đến Móng Cái. Phía bắc từ Móng Cái trở sang phía Đông là 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc với bán đảo Lôi Châu. Bờ Đông là đảo Hải Nam của Trung Quốc. Trong vịnh có hàng nghìn đảo nhỏ, nổi tiếng nhất là các đảo trong vịnh Hạ Long được UNESCO xếp loại là di sản thiên nhiên thế giới. Đảo Bạch Long Vĩ thuộc Việt Nam ở giữa vịnh, có diện tích khoảng 2,5 km².

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông đã được nhiều chính quyền Việt Nam liên tục thực hiện chủ quyền từ nhiều thế kỷ qua. Quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc dùng bạo lực chiếm giữ một phần từ những năm 1950 và hoàn toàn từ năm 1974. Tranh chấp chủ quyền, một phần hay toàn bộ, cũng đã diễn ra tại quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Đài Loan.

Những lý do chính để các nước tranh chấp chủ quyền hai quần đảo trên là:

  • Diện tích lãnh hải với đặc quyền kinh tế và việc triển khai quốc phòng.
  • Biển Đông nằm trên một trong những đường giao thông hàng hải lớn trên thế giới, có nguồn thủy sản và tiềm năng dầu khí.

Hiện nay sự tranh chấp đang được các bên thương lượng đàm phán vì sự hòa bình và ổn định trong khu vực để phát triển kinh tế.

]]>
https://biendong.net/2010/03/15/dia-danh-trong-bien-dong/feed/ 1
Các nguồn tài nguyên https://biendong.net/2010/03/15/cac-nguon-tai-nguyen/ https://biendong.net/2010/03/15/cac-nguon-tai-nguyen/#comments Mon, 15 Mar 2010 15:26:41 +0000 http://localhost/wp/2010/03/15/cac-nguon-tai-nguyen/ Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng. Nó là đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hoá thương mại chuyển qua hàng năm, hơn 50% đi qua Eo biển Malacca, Eo Sunda, và Eo Lombok. Hơn 1.6 triệu m³ (10 triệu barrel) dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng ngày, nơi thường xảy ra các vụ hải tặc, nhưng hiện đã giảm nhiều so với giữa thế kỷ 20.

Vùng này đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1.2 km³ (7.7 tỷ barrel), với ước tính tổng khối lượng là 4.5 km³ (28 tỷ barrel). Trữ lượng Khí gas tự nhiên được ước tính khoảng 7.500 km³ (266 nghìn tỷ feet khối).

Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippine, vùng biển này chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái.

]]>
https://biendong.net/2010/03/15/cac-nguon-tai-nguyen/feed/ 1
Biển Đông và các tên gọi của nó https://biendong.net/2010/03/15/bien-dong-va-cac-ten-goi/ Mon, 15 Mar 2010 02:58:26 +0000 http://localhost/wp/2010/03/15/bien-dong-va-cac-ten-goi/ Biển Đông (vùng biển đông Việt Nam) là một biển rìa lục địa (marginal sea), một phần của Thái Bình Dương, bao phủ một diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích áng chừng khoảng 3.500.000 km². Đây là một hình thể biển lớn nhất sau năm đại dương. Các đảo ở Biển Đông có số lượng nhiều, tập hợp thành một số quần đảo. Vùng biển này và phần lớn các đảo không có người ở của nó là mục tiêu tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia xung quanh. Những tranh chấp đó cũng thể hiện ở số lượng tên gọi được sử dụng để chỉ vùng biển này.

South China Sea là thuật ngữ phổ biến nhất trong tiếng Anh để chỉ vùng biển này, và tên trong đa số các ngôn ngữ Châu Âu khác cũng như vậy, nhưng các nước xung quanh thì gọi nó bằng nhiều tên khác nhau, thường phản ánh chủ quyền lịch sử của họ đối với quyền bá chủ vùng biển.

Trung Quốc thường hay gọi tắt biển này là Nam Hải (南海). Trong ngành xuất bản hiện nay của Trung Quốc, nó thường được gọi là Nam Trung Quốc Hải (南中國海), và cái tên này cũng thường được dùng trong các bản đồ bằng tiếng Anh do Trung Quốc ấn hành. Philippines gọi là biển Luzón theo tên hòn đảo lớn Luzon của Philippine.

Tại Việt Nam, hầu hết lãnh thổ hướng chính ra biển là hướng đông, do đó tên tiếng Việt của biển này hàm nghĩa là vùng biển Đông Việt Nam. Ở đồng bằng sông Cửu Long có thể ra biển về hướng tây (vịnh Thái Lan) về phía các nước Campuchia và Thái Lan. Biển Đông Việt Nam còn ghi dấu ấn của mình vào văn hóa và lịch sử Việt Nam, thể hiện qua câu tục ngữ “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn; Thuận bè, thuận bạn tát cạn biển Đông”, hay thành ngữ “dã tràng xe cát biển Đông”. Người Trung Quốc ở đảo Hải Nam thì có câu “phúc như Đông hải, thọ tỉ Nam sơn”[1]. Trong các tài liệu cổ về hàng hải của Bồ Đào Nha vào thế kỉ 15-16 còn có tên là Biển Chăm Pa.

Ngoài ra còn có East China Sea (tên quốc tế của biển này) ở phía bắc so với biển Đông Việt Nam, Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải, khi tra cứu những tài liệu của Trung Quốc hoặc của nước khác tham khảo tài liệu Trung Quốc, chú ý không nhầm lẫn hai biển Đông này.

Tên gọi quốc tế của biển Đông ra đời từ nhiều thế kỷ trước, là biển Nam Trung Hoa vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có giao thương với phương Tây qua con đường tơ lụa. Tên gọi nhiều biển, đại dương vốn căn cứ vào vị trí của chúng so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu, không có ý nói về chủ quyền. Có thể kể ra các thí dụ là Ấn Độ Dương, là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở châu Á và châu Phi, không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản.

]]>