Hoàng Sa, Trường Sa – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Tue, 29 Apr 2025 13:01:21 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Giải phóng Trường Sa, “cánh quân thứ sáu” trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 https://biendong.net/2025/04/29/giai-phong-truong-sa-canh-quan-thu-sau-trong-cuoc-tong-tien-cong-va-noi-day-mua-xuan-nam-1975/ Tue, 29 Apr 2025 07:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=148477 Cách đây đúng 50 năm, vào những ngày nửa cuối tháng 4/1975, cùng với năm cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn, trên hướng Biển Đông, lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã tổ chức một chiến dịch quân sự, giải phóng toàn bộ quần đảo Trường Sa và các đảo miền duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Chiến dịch tuy có quy mô không lớn như trên đất liền, nhưng được coi như là “cánh quân thứ sáu”, hòa cùng với năm cánh quân Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy hy sinh gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc ta. Thời gian đã lùi xa, nhưng ý nghĩa lịch sử của chiến dịch này vẫn chói sáng như ánh bình minh trên Biển Đông đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay cũng như trong tương lai.

Giải phóng Trường Sa – “sự kiện đặc biệt” góp phần vào thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân năm 1975

Quần đảo Trường Sa có trên 100 đảo lớn nhỏ, bãi đá và bãi san hô ngầm, với diện tích khoảng 180.000 km2 nằm ở giữa Biển Đông, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thời điểm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ 5 đảo, gồm: Nam Yết, Trường Sa, Sơn Ca, Sinh Tồn và Song Tử Tây. Đảo Nam Yết là nơi chúng đặt Sở chỉ huy trung tâm. Tổng quân số của quân đội Việt Nam Cộng hòa trên các đảo khoảng 160 người, thuộc Tiểu đoàn 371, địa phương quân Phước Tuy.

Khi cục diện chiến tranh có sự chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng, từ ngày 30/9 – 8/10/1974, Đảng ta đã triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”.

Sau Hội nghị trên, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam và một số tướng lĩnh đã đề đạt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế hoạch giải phóng Trường Sa, Đại tướng đồng ý ngay vì đây là phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước nên giải phóng miền Nam không thể không giải phóng phần lãnh thổ này.

Cuối năm 1974, đầu năm 1975, địch đã suy yếu rõ rệt trên mọi hướng chiến trường, trong đó có cả hướng biển. Đặc biệt, sau chiến thắng Ban Mê Thuật (24/3/1975), nhận thấy thời điểm thuận lợi để giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa do quân đội Việt Nam Cộng hòa đang chiếm giữ đã tới, Quân uỷ Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25/3/1975. Sau này, trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng” của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích rất sâu sắc về sự kiện này và cho biết, việc xác định chủ trương giải phóng Trường Sa là “một sự kiện đặc biệt đã diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu”.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương gửi điện cho chỉ huy, lãnh đạo Quân khu 5: “Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa”.

Sau khi Huế và Đà Nẵng được giải phóng, những điều kiện và thời cơ để tổ chức giải phóng các đảo, quần đảo trên vùng biển Việt Nam đã xuất hiện, cần phải kịp thời hành động ngay. Chiều ngày 04/4/1975, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị: “Nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhanh nhất, đánh chiếm các đảo do quân ngụy miền Nam đang chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, không cho bất cứ kẻ nào xâm chiếm các nơi đó”, nhấn mạnh: “Đây là nhiệm vụ rất quan trọng”. Cả Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lúc đó đều thống nhất: Phải khẩn trương giải phóng Trường Sa ngay vì nếu để chậm thì quân đội “nước ngoài” sẽ xâm chiếm, tình hình sẽ vô cùng phức tạp.

Trước yêu cầu gấp rút, khẩn trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, nhanh chóng tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ triển khai tổ chức chiến đấu, giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa theo phương án đánh chiếm từng đảo.

Ngày 09/4/1975, sau khi nhận được báo cáo của Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu về việc địch có biểu hiện rút quân khỏi các đảo trên Biển Đông, Quân ủy Trung ương liền điện “tối khẩn” cho lãnh đạo Quân khu 5 và Quân chủng Hải quân: “Có tin, quân ngụy chuẩn bị rút khỏi đảo Trường Sa. Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”.

Thực hiện “quân lệnh” trên, 4 giờ sáng ngày 11/4/1975, các tàu vận tải 673, 674, 675 chở lực lượng Đoàn C75 bí mật rời quân cảng Đà Nẵng ra đánh chiếm các đảo ở Trường Sa với phương châm tác chiến “bí mật, bất ngờ”.

Ngày 13/4/1975, sau khi nhận được kế hoạch đánh chiếm các đảo gửi về Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo: “Thời cơ cụ thể đánh chiếm là: Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay và nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại; nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận; khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm, thì đánh chiếm ngay”.

Đúng 4 giờ 30 phút sáng ngày 14/4/1975, lực lượng ta đổ bộ lên đảo Song Tử Tây và chủ động khai hỏa bằng loạt đạn DKZ. Địch chống trả, nhưng hỏa lực của ta đã dội lửa, hỗ trợ kịp thời cho đặc công, bộ binh xông lên đánh chiếm mục tiêu. Sau 30 phút, toàn bộ quân địch trên đảo bị tiêu diệt và bắt sống, lá cờ giải phóng đầu tiên tung bay phấp phới trên cột cờ đảo Song Tử Tây.

Tiếp tục hành trình giải phóng các đảo còn lại, rạng sáng ngày 25/4/1975, các mũi quân của ta bí mật đổ bộ và tiến công đảo Sơn Ca. Địch bắn trả rời rạc, rồi nhanh chóng bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Cùng lúc, lực lượng trinh sát kỹ thuật của ta báo tin, địch trên đất liền đang hết sức nguy khốn, chúng buộc phải rút quân khỏi các đảo còn lại ở Trường Sa. Nhận được tin này, các lực lượng Đoàn C75 khẩn trương đổ bộ đánh chiếm các đảo: 11 giờ 30 phút ngày 27/4/1975, giải phóng đảo Nam Yết; 10 giờ 30 phút ngày 28/4/1975, giải phóng đảo Sinh Tồn và An Bang; 9 giờ 30 phút ngày 29/4/1975, giải phóng đảo Trường Sa Lớn. Cùng với đó, Hải quân Nhân dân Việt Nam tiếp tục chiếm giữ các đảo, như Hòn Sập (sau này đặt tên đảo Phan Vinh), Trường Sa Đông (Đá Giữa), Sinh Tồn Đông, Bãi Thuyền Chài và một số đảo, đá khác thuộc quần đảo Trường Sa.

Như vậy, chỉ trong khoảng nửa tháng (từ 14 – 29/4/1975), với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, trên hướng biển, Đoàn C75 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, giải phóng toàn bộ các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa – phần hải đảo thiêng liêng thuộc chủ quyền của Việt Nam.

aGiá trị lịch sử to lớn và những bài học kinh nghiệm quý báu của Chiến dịch giải phóng Trường Sa đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và tương lai

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, thắng lợi của chiến dịch giải phóng Trường Sa là sự tiếp nối truyền thống, ý chí và quyết tâm cao độ không gì lay chuyển nổi của dân tộc ta trong việc giải phóng, bảo vệ từng tấc đất thuộc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh, trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Việc giải phóng các đảo từ tay quân đội Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Trường Sa năm 1975 không chỉ thu hồi lại chủ quyền từ tay những kẻ bán nước, mà còn chứng tỏ rằng, Việt Nam chẳng những có đầy đủ cơ sở pháp lý, mà đã liên tục có mặt trên quần đảo này chí ít là từ thế kỷ 17; là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục, chính đáng, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Giải phóng quần đảo Trường Sa còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng là kịp thời ngăn chặn âm mưu đánh chiếm đảo của một số quốc gia trong khu vực, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của đất nước. Thực tế diễn ra vào thời điểm đó cho thấy, ngay trong ngày 29/4/1975, một số tàu “nước ngoài” đã tiến vào gần đảo Trường Sa để “thăm dò” tình hình, nhưng khi thấy cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên các đảo thì họ lùi ra xa. Nếu ta không kịp thời giải phóng các đảo, quân đội “nước ngoài” sẽ xâm chiếm, thì tình hình sẽ vô cùng phức tạp, không chỉ ở thời điểm đó mà còn cả sau này.

Thứ hai, chiến dịch giải phóng Trường Sa diễn ra trong bối cảnh cả nước đang tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với tinh thần “một ngày bằng 20 năm”, nên chiến công xuất sắc trên hướng biển đã góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm của dân tộc. Chiến công này đã tô thắm, góp phần làm rạng rỡ hơn trang sử vàng về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Thứ ba, chiến dịch đã thể hiện ý thức tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, tinh thần khắc phục khó khăn, sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần chiến đấu quả cảm của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là lực lượng Hải quân. Bởi, lực lượng tham gia chiến dịch phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, do: 1/ Quần đảo Trường Sa quá rộng lớn, các đảo xa nhau, xa đất liền và hậu phương; 2/ Lực lượng đặc công trước đây chỉ quen đánh tàu, chưa có kinh nghiệm đánh chiếm căn cứ, cứ điểm, nhất là đảo ở biển, và cũng chưa từng đến các đảo; 3/ Lực lượng hải quân của Quân đội Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ còn khá mạnh, khả năng tái chiếm cao. Trong khi đó, lực lượng của ta lại thiếu phương tiện, trang bị nhỏ và ít, chưa quen thuộc địa hình. Thế nhưng, trong quá trình chiến đấu, lực lượng đặc công ta đã hành động rất mưu trí, sáng tạo, quả cảm, quyết đoán, đã triển khai cách đánh của riêng mình, đó là “trinh sát đến đâu đánh đến đó”; bí mật tiếp cận đảo, nhanh chóng đổ bộ vào thời điểm hình thái thủy văn thuận lợi, bất ngờ đánh chiếm mục tiêu, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến chiếm đảo trước ta. Qua đó, tô thắm hơn truyền thống hào hùng của Hải quân Nhân dân Việt Nam, tạo nền tảng chính trị, tinh thần vững chắc cho lực lượng này trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong thời kỳ mới.

Thứ tư, ta không chỉ thu hồi, bảo vệ chủ quyền, mà xét về lâu dài, thắng lợi của chiến dịch này còn khẳng định vững chắc cho yêu sách lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, giúp Việt Nam duy trì sự hiện diện, củng cố vị thế trong các cuộc đàm phán sau này.

Năm mươi năm đã trôi qua, nhìn lại chiến dịch giải phóng Trường Sa năm 1975 cho thấy, thắng lợi của chiến dịch trước hết là thắng lợi của đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và Quân chủng Hải quân trên mũi tiến công hướng biển. Tất cả lực lượng tham gia vào chiến dịch, từ những người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quân ủy Trung ương, đến những chiến sỹ trực tiếp cầm súng chiến đấu hay những người làm công tác phục vụ, đã thể hiện khát vọng cháy bỏng giải phóng quần đảo Trường Sa, thống nhất đất nước, góp phần tạo nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Hiện nay, sau gần bốn mươi năm đổi mới, đất nước ta nói chung, quần đảo Trường Sa nói riêng đang thay da đổi thịt từng ngày, đang phát triển với nhiều thành tựu to lớn. Nhưng, bên cạnh những thuận lợi, thành công, tình hình an ninh trên Biển Đông những năm gần đây vẫn diễn biến rất phức tạp, khó lường, có thời điểm trở thành “điểm nóng” ở khu vực. Nhiều hành động phi pháp của các thế lực “bên ngoài” đã và đang đe dọa đến chủ quyền, sự phát triển của đất nước, đến môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Vì thế, hơn lúc nào hết, việc phát huy những giá trị lịch sử to lớn và vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu từ chiến thắng của chiến dịch giải phóng Trường Sa năm 1975 vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và trong tương lai là rất cần thiết. Trong đó, điều quan trọng là cần phải có tầm nhìn chiến lược hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo vệ vững chắc các thực thể đang thuộc quyền nắm giữ và quản lý của ta ở Trường Sa. Xây dựng đất nước ta vững mặt về mọi mặt cả trên bờ lẫn trên biển, làm cho các thế lực “bên ngoài” không có cơ hội và không dám nhòm ngó, xâm chiếm. Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các hành động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích trên biển của Việt Nam bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên cơ sở của luật pháp quốc tế. Là một quốc gia độc lập, Việt Nam không “chọn bên” hay “chọn phe”, mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, cùng có lợi, cùng thắng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo, nêu cao tinh thần cảnh giác trước các âm mưu, ý đồ của các thế lực bên ngoài đối với Biển Đông; vận dụng sáng tạo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, bình tĩnh trong xử lý các tình huống trên biển, không để nước ngoài tạo cớ, gây ra xung đột để can thiệp. Tiếp tục xây dựng và phát huy cao hơn nữa ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc.

]]>
Đánh chiếm Gạc Ma và các thực thể thuộc Trường Sa trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông của TQ https://biendong.net/2025/03/14/danh-chiem-gac-ma-va-cac-thuc-the-thuoc-truong-sa-trong-muu-do-doc-chiem-bien-dong-cua-tq/ Fri, 14 Mar 2025 07:53:31 +0000 https://biendong.net/?p=146588 Cách đây 37 năm, ngày 14/3/1988, Hải quân Trung Quốc đã sử dụng vũ lực tấn công đá Gạc Ma gây ra cuộc chiến đẫm máu đối với quân nhân Việt Nam. Trước đó, vào đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng trái phép các bãi đá Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Subi, Huy Gơ thuộc quần đảo Trường Sa.

Bắc Kinh đơn phương tăng cường từ 9 lên 12 tàu chiến gồm khu trục tên lửa, hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo và tàu đổ bộ… hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa. Nhân đây, chúng ta cùng phân tích để thấy rõ sau khi Bắc Kinh sử dụng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa năm 1974 thì việc tiếp tục đánh chiếm Gạc Ma nằm trong mưu đồ khống chế Biển Đông của Trung Quốc.

Một điều cần khẳng định rằng cho đến những thập niên đầu Thế kỷ 20, Trung Quốc chưa hề biết đến quần đảo Trường Sa nằm cách nước này đến 700 hải lý. Ngay cả chuyền đi biển của Lý Chuẩn tháng 6/1909 mà sau này được Bắc Kinh rêu rao rằng đây là “chuyến đi thu phục Hoàng Sa” cũng không hề đề cập gì tới quần đảo Trường Sa. Giới phân tích nhận định cho đến thời điểm đó, Bắc Kinh còn chưa có khái niệm gì về quần đảo Trường Sa chứ đừng nói đến việc Trung Quốc khai phá hay quản lý quần đảo này.

Sau chuyến đi của Lý Chuẩn 12 năm, tháng 3/1921 chính quyền quân sự Quảng Đông đã ký một sắc lệnh vô lý sáp nhập Hoàng Sa vào huyện Châu Nhai, phủ Quỳnh Châu lúc bấy giờ. Cho đến thời điểm đó Trung Quốc cũng chưa hề nhắc gì đến quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, sắc lệnh sáp nhập Hoàng Sa của chính quyền Quảng Đông cho thấy rõ mưu đồ của Trung Quốc đối với Biển Đông. Trước âm mưu bành trướng của Bắc Kinh và sự manh nha xuất hiện của người Nhật trên tuyến đường biển quan trọng “nối liền giữa Hong Kong và Sài Gòn”, liên tiếp từ năm 1925-1930 Pháp đã có những động thái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và cả Trường Sa.

Trước hết, đầu tháng 3/1925 toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ của Pháp (tức thuộc về An Nam đang là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ). Tiếp đến ngày 13/4/1930, Pháp đã cho tàu La Malicieuse ra Trường Sa để treo quốc kỳ Pháp. Mười ngày sau đó, Chính phủ Pháp đã tuyên bố thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Tại phía Nam Biển Đông, tháng 3/1933, Pháp đã điều bốn tàu Lamalicieuse, tàu chiến Alerte, hai tàu thủy văn Astrobale và De Lanessan đến Trường Sa. Sau khi đổ bộ lên các đảo ở đây, người Pháp ngay lập tức soạn thảo một văn bản, sau đó nhân ra 11 bản và thuyền trưởng của các tàu cùng bút ký. Các văn bản này được đóng kín trong một cái chai rồi đem đến trên các đảo ở Trường Sa gắn chặt vào một trụ xi măng xây cố định. Với việc làm này, Pháp đã hoàn tất thủ tục xác lập chủ quyền đối với Trường Sa theo đúng quy định của luật pháp quốc tế.

Trước đó, trong bản ghi chú gửi cho Vụ châu Á đại dương, Bộ Ngoại giao Pháp đã viết: “Việc chiếm đóng quần đảo Trường Sa (Spratley) mà Pháp thực hiện trong hai năm 1931-1932 là nhân danh hoàng đế An Nam”. Đến năm 1938, Pháp tiếp tục cho xây dựng bia chủ quyền, hải đăng, trạm khí tượng thủy văn và một trạm vô tuyến trên đảo Ba Bình (Itu-Aba). Như vậy, tính từ năm 1930-1938, chính quyền thực dân pháp đã nhân danh An Nam (Việt Nam lúc bấy giờ) xác lập chủ quyền rõ ràng ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Với tham vọng độc chiếm Biển Đông, sau khi dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, Bắc Kinh tìm cách để thâu tóm các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa, tạo chỗ đứng để mở rộng bành trướng xuống phía Nam Biển Đông. Cho đến đầu năm 1988, Bắc Kinh chưa đóng giữ trên bất kỳ thực thể nào thuộc Trường Sa. Trong số các thực thể mà Trung Quốc nhắm tới có 3 điểm chốt với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng có thể khống chế lối vào Biển Đông là Đá Chữ Thập, Đá Gạc Ma và Đá Vành Khăn. Bắc Kinh tính toán rằng chiếm được Đá Chữ Thập có thể khống chế được toàn bộ thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế phía Nam Việt Nam; chiếm được Đá Gạc Ma có thể khống chế, kiểm soát các đảo và thực thể mà Việt Nam và Philippines đang đóng giữ vì nó nằm giữa và cách không xa các thực thể này. Đánh chiếm Gạc Ma vì Trung Quốc muốn có một pháo đài ở trung tâm Biển Đông. Gạc Ma cùng với các thực thể ở Hoàng Sa và đảo Hải Nam có thể tạo thành thế tam giác để khống chế Biển Đông; chiếm Đá Vành Khăn có thể kiểm soát được toàn bộ vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Philippines. Điều này cho thấy việc đánh chiếm Gạc Ma và các thực thể thuộc Trường Sa đã nằm trong ý đồ gặm nhấm Biển Đông từ vài chục năm trước.

Tại sao Trung Quốc lại sử dụng vũ lực để đánh chiếm Đá Gạc Ma và các thực thể thuộc Trường Sa vào năm 1988 được các chuyên gia phân tích nhiều. Có thể nói một thủ đoạn mở rộng xâm lấn của Bắc Kinh ở Biển Đông là tìm thời điểm khó khăn của đối phương để ra tay. Lúc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 đã vậy (tranh thủ lúc chính quyền Sài Gòn gặp khó khăn để tấn công); đối với Gạc Ma và các thực thể ở Trường Sa cũng thế.

Trung Quốc lựa chọn thời điểm năm 1988 vì đây là thời điểm mà Việt Nam đang cực kỳ khó khăn cả trong và ngoài nước. Gần 10 năm xung đột biên giới kéo dài, Việt Nam đã hao tổn không nhỏ nhân lực, vật lực. 1988 được coi là năm đỉnh điểm khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội bắt đầu từ năm 1987. Ngoài nước, Hà Nội bị bao vây cấm vận và bị cô lập trên trường quốc tế. Hậu thuẫn lớn nhất của Việt Nam lúc bấy giờ là Liên Xô – cũng đang bế tắc trong khủng hoảng. Một số nguồn tin cho biết Trung Quốc “bằng con đường nào đó” biết được nếu họ có hành động quân sự ở Trường Sa thì Liên Xô cũng không can thiệp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam khó có thể chống đỡ khi Trung Quốc tấn công vũ lực đánh chiếm các thực thể ở Trường Sa. Chính vì thế, Trung Quốc ra tay đánh chiếm Đá Gạc Ma, bắn chìm tàu, giết hại 64 chiến sĩ Việt Nam.

Qua việc Trung Quốc gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Đá Gạc Ma và đánh chiếm thêm 5 thực thể khác thuộc Trường Sa năm 1988 và Đá Vành Khăn năm 1995, cộng đồng quốc tế có thể rút ra được bài học rằng, không được mơ hồ về ý đồ, dã tâm của Trung Quốc trên Biển Đông – một mưu đồ lâu dài và có tầm nhìn có lẽ còn vượt ra khỏi Biển Đông, hướng ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

25 năm sau khi đánh chiếm các thực thể ở Trường Sa, từ năm 2014 Trung Quốc đẩy mạnh việc nạo vét, bồi đắp mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng thành các đảo nhân tạo. Vào tháng 6/2014, Bộ Ngoại giao Philippines lần đầu tiên thông báo với toàn thế giới rằng Trung Quốc đang ráo riết cải tạo các thực thể ở Trường Sa, thông qua các bức ảnh chụp từ vệ tinh mà các tập đoàn viễn thông quốc tế cung cấp. Tháng 2/2015, thời báo Wall Street của Mỹ tiếp tục đăng tải thông tin về việc Trung Quốc đang xây dựng đảo nhân tạo trên nền tảng các thực thể mà họ đánh chiếm năm 1988 và năm 1995. Bảy thực thể này có sự thay đổi lớn đến đáng kinh ngạc, cụ thể là khi so sánh với hiện trạng vào tháng 2/2014, diện tích Đá Gạc Ma đã tăng lên đến 200 lần, Đá Chữ Thập tăng lên 10 lần. Một sân bay quân sự đã bắt đầu rõ hình hài. Sự thay đổi chóng mặt này khiến cả thế giới phải bất ngờ.

Điều nguy hiểm là Trung Quốc đã xây dựng đường băng, cầu cảng lớn và bố trí tên lửa cùng nhiều trang thiết bị quân sự hiện đại trên 7 cấu trúc mà họ chiếm đóng, biến chúng thành các đồn điền quân sự để phục vụ tham vọng khống chế, độc chiếm Biển Đông. Trước phản ứng của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc lại tuyên bố rằng việc cải tạo các thực thể tại Trường Sa là hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế, bởi họ có chủ quyền đối với các thực thể này.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị ngang nhiên tuyên bố rằng “Chúng tôi cải tạo Gạc Ma, Chữ Thập và các đảo khác giống như lát gạch trong sân nhà mình”. Đó là một tuyên bố hết sức sai lầm, quay lưng lại với luật pháp quốc tế. Và tất nhiên, sẽ không một quốc gia, một tổ chức quốc tế nào chấp nhận lý luận không có cơ sở đó của Trung Quốc. Hơn cả thế, những tuyên bố của Trung Quốc đã khiến cộng đồng quốc tế và khu vực đánh mất hoàn toàn niềm tin vào những cam kết mà Trung Quốc đã thoả thuận, bao gồm Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông DOC mà các nước ASEAN và Trung Quốc ký năm 2002.

Từ việc sử dụng vũ lực đánh chiếm Đá Gạc Ma, Chữ Thập và 4 thực thể khác thuộc Trường Sa năm 1988 của Trung Quốc hay việc chiếm đóng Đá Vành Khăn năm 1995 đên việc cải tạo các thực thể này, biến chúng thành các căn cứ quân sự trên biển của Trung Quốc là hoàn toàn vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) do vậy nó không thể mang lại danh nghĩa về chủ quyền cho Bắc Kinh. Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng đã kết luận việc Trung Quốc tiến hành nạo vét, bồi đắp, mở rộng 7 thực thể mà họ chiếm đóng đã phá hoại môi trường biển và bất hợp pháp.

Sau khi được cải tạo và quân sự hoá trong một thập kỷ qua, Gạc Ma, Chữ Thập, Vành Khăn và các thực thể khác thuộc Trường Sa mà Trung Quốc chiếm đóng ngày nay được Trung Quốc sử dụng làm bến đỗ và nơi xuất phát của các tàu chiến, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển của Trung Quốc trong chiến thuật vùng xám mà Bắc Kinh đang ráo riết triển khai nhằm vào các nước láng giềng ven Biển Đông, mở rộng hành động xâm lấn xuống phía Nam Biển Đông.

Nhìn lại việc Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma, các thực thể khác năm 1988 và Đá Vành Khăn năm 1995 cũng như việc Bắc Kinh cải tạo, xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hoá các thực thể này trong những năm qua có thể thấy rõ các thực thể này đã nằm trong mưu đồ thống trị, thôn tính Biển Đông lâu dài của Trung Quốc. Trận hải chiến Gạc Ma mà Hải quân Trung Quốc gây ra cách đây 37 năm chỉ là sự khởi đầu cho việc thực hiện tham vọng bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Giới chuyên gia nhận định việc Trung Quốc chiếm đóng 7 thực thể ở Trường Sa và đang sử dụng các thực thể này như các tiền đồn quân sự gây đe doạ nghiêm trọng tự do và an toàn hàng hải, hàng không trên tuyến đường biển huyết mạch của thế giới ở Biển Đông, tạo ra những thách thức lớn đối với hoà bình ổn định trong khu vực, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cộng đồng quốc tế. Việc giải quyết những thách thức này là trách nhiệm không chỉ của các nước ven Biển Đông mà cũng là trách nhiệm của cả cộng đồng quốc tế, trong đó có các nước lớn và có lợi ích chiến lược ở khu vực./.

Trần Duy Hải

Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia

]]>
Chứng cứ lịch sử pháp lý bác bỏ cái gọi là “chủ quyền” của TQ đối với quần đảo Hoàng Sa https://biendong.net/2025/01/19/chung-cu-lich-su-phap-ly-bac-bo-cai-goi-la-chu-quyen-cua-tq-doi-voi-quan-dao-hoang-sa/ Sun, 19 Jan 2025 02:00:09 +0000 https://biendong.net/?p=143651 Ngày 19/1/2025 đánh dấu việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực, sự chiếm đóng quần đảo này bất hợp pháp trong 51 năm qua không thể tạo ra danh nghĩa về chủ quyền bởi việc Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Việt Nam đã đưa ra nhiều bằng chứng lịch sử về sự chiếm hữu thực sự quần đảo Hoàng Sa ít nhất từ thế kỷ XVI khi quần đảo này là lãnh thổ vô chủ. Các vua, chúa triều đình nhà Nguyễn đã tỏ rõ ý chí nhà nước của mình, thành lập các đội đi biển có tính nhà nước. Hoạt động này được tiến hành hàng năm và được đặt dưới kỷ luật nhà nước bằng việc thành lập các Đội Hoàng Sa để khai thác các tài nguyên sản vật trên biển. Chính sử triều Nguyễn và các văn bản triều đình nhà Nguyễn còn được lưu giữ đề nay đã khẳng định điều này.

Bộ sách Phủ Biên tạp lục, viết năm 1776, của Lê Quý Đôn ghi rõ: “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu câu ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo ấy rồi ở lại đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột ốc hoa, rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rỗi lĩnh bằng trở về”.

Sách Đại Nam thực lục chính biên (1848) ghi nhận một loạt các hoạt động thuộc về cách ứng xử của nhà nước thông qua các hoạt động của Đội Hoàng Sa. Năm 1815, 1816, vua Gia Long cử Đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét và đo đạc thuỷ trình, nhiệm vụ được quy định rất rõ ràng. Đại Nam thực lục chính biến cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi như sau: “Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thuỷ đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để trình lên”.

Các chuyến đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thuỷ quân là chính, phối hợp với vệ giám thành và tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định. Chính Vua Minh Mạng đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường thì dân binh Đội Hoàng Sa luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế vì sự vất vả và nguy hiểm. Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), Vua Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công phái người ra Hoàng Sa dựng bia chủ quyền và từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), cứ hàng năm, cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thuỷ trình, vẽ bản đồ còn cắm cột mốc, dựng bia.

Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, ghi rõ: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm mốc dấu. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bia khắc những chữ: “Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét, đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

Các vị vua chúa Việt Nam còn rất quan tâm đến việc dựng chùa, miếu mạo và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Vua Minh Mạng đã cử cai đội thuỷ quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, sai trồng cây vì cho rằng, gần đây, thuyền buôn thường bị hại nên trồng cây làm dấu để cho tàu thuyền dễ nhận biết mỗi khi qua lại….

Những hoạt động này đều được văn bản hoá như Châu bản của triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản khác của chính quyền địa phương hiện đang được lưu giữ tại các cơ quan lưu trữ Việt Nam. Châu bản là một loại văn bản hành chính của vương triều Nguyễn (1802 – 1945). Trên các châu bản này còn lưu lại các dấu tích bút phê của các vua triều Nguyễn bằng son đỏ. Hiện nay chỉ duy nhất triều Nguyễn Việt Nam có các Châu bản về thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Trong hơn 700 Châu bản được lưu giữ thì có khoảng 19 tờ Châu bản thể hiện rất cụ thể về việc triều Nguyễn thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này. Nội dung các tờ châu bản phản ánh quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của triều đình nhà Nguyễn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo nội dung 19 tờ Châu bản, triều đình nhà Nguyễn không chỉ cử các Đội Hoàng Sa và sau này thêm Đội Bắc Hải ra quần đảo Hoàng Sa để khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ, xác lập và thực thi chủ quyền mà còn thực hiện các nghĩa vụ quốc tế cứu hộ, cứu nạn đối với thuyền bè của các nước khác gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa.

Châu bản ngày 27 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (năm 1830) do Nội các tấu trình về việc cứu hộ tàu buôn của Pháp bị chìm tại Hoàng Sa. Châu bản viết: “Ngày 21 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (năm 1830), chủ thuyền buôn nước Pháp là Đô-ô-chi-ly cùng Tài phó Y-đóa và phái viên Lê Quang Quỳnh đi thuyền qua Philipinnes buôn bán. Thuyền qua phía Tây Hoàng Sa thì bị mắc cạn, nước ngập vào thuyền hơn 8 thước”. Các Châu bản về việc cứu nạn này được tường trình chi tiết và được Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng báo cáo liên tục đến nhà Vua, nhà Nguyễn đã cho thuyền tuần tiễu của triều đình đi tìm kiếm và “đến giờ Ngọ thì gặp Đô-ô-chi-ly cùng phái viên, thủy thủ 15 người, hiện đã đưa về tấn, người và tiền bạc đều an toàn”.

Châu bản triều Nguyễn đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ngày 14/5/2014. Như vậy, thời nhà Nguyễn từ cuối thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX, Đội Hoàng Sa đã làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa. Các chuyên gia cho rằng, những tờ châu bản này là những tư liệu gốc chứa đựng nhiều thông tin quý giá khẳng định các Nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, bằng các hoạt động do nhà nước tổ chức, với sự chỉ đạo trực tiếp của nhà Vua và nhà nước Việt Nam đã thụ đắc chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa theo đúng các quy tắc của luật pháp quốc tế áp dụng vào thời điểm đó.

Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia phân tích: “Trung Quốc cho rằng, họ có bằng chứng không thể chối cãi về việc Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước này. Tuy nhiên, những tài liệu về Đội Hoàng Sa cho thấy, chủ quyền về Hoàng Sa mà Trung Quốc từng tuyên bố là vấn đề còn tranh cãi. Trong khi đó, quan điểm của Việt Nam có cơ sở vững chắc. Đội Hoàng Sa có chức năng kinh tế, quốc phòng. Vào thời điểm đó, cách thức để duy trì việc quản lý chủ quyền là thông qua các cuộc thăm viếng thường xuyên để quản lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ đảo. Và Đội Hoàng Sa của Việt Nam đã thực hiện các chức năng này”. Rõ ràng, Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã xác lập chủ quyền của mình tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Việc thực thi chủ quyền này là thực sự, liên tục, hoà bình, phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Quần đảo Hoàng Sa còn sớm được thể hiện trên các bản đồ cổ của Việt Nam và quốc tế. Tấm bản đồ vẽ xứ Quảng Nam trong Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá, tự Công Đạo, biên soạn vào năm 1686. Trên bản đồ này chú thích khá cụ thể về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của quần đảo này, cũng như chủ quyền của Chúa Nguyễn được xác lập ở đó. Bản đồ có có đoạn văn viết bằng chữ Hán: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm, đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đây, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc tiền tệ súng đạn”. Hoàng Sa được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ được vẽ theo lệnh của vua Minh Mạng, hoàn tất vào năm 1838.Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ hành chính đầu tiên của triều Nguyễn được vẽ gần giống với các bản đồ Việt Nam sau này.

Trong khi đó, những bộ chính sử các triều đại Trung Quốc từ Nhà Hán (203TCN – 220) đến đời Thanh, chưa từng biên chép gì về quần đảo Hoàng Sa bởi trong lịch sử các triều đại này chưa từng xem nó thuộc về phần đất của họ. Đáng chú ý là các bản đồ do phương Tây và Trung Quốc phát hành trước thế kỷ XX, phản ánh một sự thực không thể chối cãi rằng chủ quyền thực sự của Trung Quốc chỉ đến cực Nam của đảo Hải Nam. Tất cả các bản đồ của Trung Quốc và các bản đồ phương Tây từ thế kỷ XX trở về trước cũng đều cho thấy cực Nam của Trung Quốc là ở đảo Hải Nam, trên vĩ tuyến thứ 18.

Hoàng Thanh nhất thống dư địa bản đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 còn ghi rõ “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là một tấm bản đồ được đích thân các Hoàng đế nhà Thanh từ Khang Hy cho đến Quang Tự huy động lực lượng giáo sĩ và những người tài giỏi về thiên văn, toán pháp thực hiện trên cơ sở tập hợp tư liệu từ các đời Tần, Hán và được tiến hành liên tục trong gần hai thế kỷ (1708-1904), do Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904, rồi đến Đại Thanh đế quốc toàn đồ vẽ năm 1905 (nhà xuất bản bản đồ Tây An tái bản năm 1995 trong Trung Quốc cổ địa đồ trân tập), cương giới phía nam của Trung Quốc trên hai bản đồ này chỉ tới đảo Hải Nam.

Bộ Atlas Trung Quốc như Atlas of the Chinese Empire – Trung Quốc địa đồ, xuất bản năm 1908 bằng tiếng Anh là tập Atlas chính thức được phát hành với sự trợ giúp của Tổng cục Bưu chính của nhà Thanh và hai tập Atlas Postal de Chine do Tổng cục Bưu chính thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào các năm 1919 và 1933, in bằng 3 thứ tiếng Trung, Anh, Pháp (tức là để phổ biến rộng rãi cho cả thế giới biết), gồm một bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và bản đồ Trung Hoa dân quốc phân tỉnh tân đồ do Vũ Xương Á Tân địa học xã xuất bản năm 1933, thì cực Nam Trung Quốc cũng chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam.

Giới phân tích nhận định các bản đồ cổ của Trung Quốc, thậm chí một số bản đồ hiện đại cho đến giữa thế kỷ XX cũng chỉ thể hiện cực Nam của Trung Quốc kết thúc ở Đảo Hải Nam bởi vì nó phản ánh đúng thực tế lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc chưa bao giờ có bất kỳ một hành động nào nhằm thể hiện quyền lực của mình đối với các quần đảo Hoàng Sa hay Biển Đông và chủ quyền thực sự của Trung Quốc chỉ đến cực Nam của đảo Hải Nam mà thôi.

Điều này cũng tương đồng với các tấm bản đồ của phương Tây từ thế kỷ XX trở về trước. Bộ Atlas thế giới Bruxelles gồm 6 tập khổ lớn do nhà Địa lý học Philippe Vandemaelen (1795-1869), người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ xuất bản năm 1827. Điểm đán chú ý là Bộ Atlas không chỉ khẳng định cực Nam của Trung Quốc giới hạn ở đảo Hải Nam mà còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa một cách rõ ràng, chi tiết và chính xác.

Đáng chú ý là tấm bản đồ cổ mà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tặng cho Chủ tịch Tập Cận Bình cách đây 10 năm (vào tối 28/3/2014) nhân chuyến thăm châu Âu của lãnh đạo Trung Quốc, cũng không có quần đảo Hoàng Sa (theo bài “Một Merkel, một tấm bản đồ, một thông điệp” đăng trên tở FP ngày 02/4/2014). Điểm cực Nam cũng chỉ tới đảo Hải Nam. Đây là tấm bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc thời Càn Long (1736 – 1795) do nhà bản đồ học người Pháp là Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ, được 1 nhà xuất bản ở Đức xuất bản năm 1735. Một số chuyên gia còn cho rằng việc bà Angela Merkel tặng Tập Cận Bình tấm bản đồ này là một “trò chơi ngoại giao” để nhắc nhở Bắc Kinh rằng những yêu sách của họ ở Biển Đông là phi lý và bất hợp pháp.

Năm 1885 tại Hội nghị về châu Phi giữa 13 nước châu Âu và Mỹ ở Berlin, các bên đã thông qua một định ước, trong đó đưa ra nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” để công nhận một quốc gia có chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ (gọi tắt là Định ước Berlin 1885). Theo đó, việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do nhà nước tiến hành; việc chiếm hữu phải được tiến hành trên một vùng lãnh thổ vô chủ (Res-Nullius) hay trên một vùng lãnh thổ đã bị bỏ hoang (derelicto); quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình một cách hiệu quả, thích hợp với những điều kiện tự nhiên, dân cư ở trên vùng lãnh thổ đó; việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền phải hòa bình, liên tục rõ ràng; dùng vũ lực để xâm chiếm là phi pháp, không được thừa nhận.

Dựa trên nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” được quy định trong Định ước Berlin 1885 thì Trung Quốc hoàn toàn không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bất chấp việc họ chiếm đóng tại quần đảo này 51 năm bởi: thứ nhất, khi Trung Quốc có mưu đồ xâm chiếm Hoàng Sa (từ đầu thế kỷ XX) thì quần đảo này không còn là vùng đất vô chủ mà nó đã được các nhà nước phong kiến Việt Nam xác lập và thực thi chủ quyền một cách liên tục hoà bình từ hàng trăm năm trước (như các tư liệu lịch sử nói trên); thứ hai, Bắc Kinh chiếm đóng quần đảo quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực sau khi hải quân Trung Quốc gây ra cuộc chiến đẫm máu cho hải quân Việt Nam Cộng hoà – chính quyền đang quản lý và thực thi chủ quyền hợp pháp đối với quần đảo này, đây là sự chiếm đóng phi pháp, không được thừa nhận. 

Do vậy, giới chuyên gia luật pháp quốc tế đều cho rằng dù Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa 51 năm hay lâu bao nhiêu đi chăng nữa thì nước này cũng không thể tạo ra được danh nghĩa chủ quyền đối với quần đảo này bởi sự chiếm đóng của Bắc Kinh đối với quần đảo này là phi pháp, là vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc về cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để chiếm đóng các vùng lãnh thổ.

Trần Duy HảiNguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia

]]>
Nhìn lại mưu đồ xâm chiếm Hoàng Sa của TQ https://biendong.net/2025/01/19/nhin-lai-muu-do-xam-chiem-hoang-sa-cua-tq/ Sun, 19 Jan 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=143648 Cách đây 51 năm, ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa sau trận hải chiến đẫm máu với hải quân Việt Nam Công hoà.

Việc làm của giới cầm quyền Bắc Kinh đã vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên hợp quốc và không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc. Nhân đây, chúng ta cùng nhìn lại mưu đồ xâm chiếm Hoàng Sa của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Một điều cần khẳng định theo các chứng cứ pháp lý và lịch sử, chưa bao giờ Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc. Cho tới đời nhà Thanh các bản đồ được ấn hành từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đều khẳng định điểm cực nam của Trung Quốc chỉ dừng ở phủ Quỳnh Châu tại vĩ tuyến 18,13 độ vĩ bắc. Hay nói cách khác cương giới của Trung Quốc từ cổ chí kim đều luôn được sử sách địa đồ của họ xác định chỉ nằm tại đảo Hải Nam và không thể vươn xa hơn nữa.

Báo chí Quảng Châu thời bấy giờ đưa tin vào tháng 6/1909, chính quyền Quảng Đông đã đưa hai pháo hạm loại nhỏ do đô đốc Lý Chuẩn dẫn đầu đi một vòng quanh các đảo nằm phía đông đảo Hải Nam, để rồi vào năm 1932 chính quyền Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã nâng cấp chuyến đi của đô đốc Lý Chuẩn là một dấu mốc thời gian để ấn định cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa một cách vô lý.

Chuyến đi của Lý Chuẩn được ghi ngắn gọn là “được lệnh của tổng đốc Quảng Đông và Quảng Tây lúc bấy giờ là Trương Nhân Tuấn, tháng 6/1909 đô đốc Lý Chuẩn dẫn đầu hai chiến hạm Phục Ba và Sâm Hạm cùng 170 quan binh đến “thu phục Tây Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa)”. Trên thực tế, chuyến đi của đô đốc Lý Chuẩn không phải là một chuyến khảo sát hay thị sát như phía Trung Quốc mô tả, cũng chẳng có chuyện thu phục Hoàng Sa như Trung Quốc từng tưởng tượng. Đó chỉ là chuyến đi mang tính chất “cưỡi ngựa xem hoa”, không hề lưu dấu hay để lại một dấu tích hoặc luận chứng lịch sử cụ thể trên những điểm mà họ đi qua“.

 Thế nhưng, người Trung Quốc cứ thổi phồng và ngụy tạo chứng cứ biến chuyến đi này thành chuyến đi lịch sử nên mỗi giai đoạn có một kiểu mô tả khác nhau. Tờ Đại Công Báo ở Thiên Tân ngày 8/10/1933, tức đến 24 năm sau, đã vẽ thêm rằng đô đốc Lý Chuẩn cùng đoàn đội của ông ta đến Hoàng Sa và đã đo, vẽ cũng như đặt tên cho 16 đảo ở đây. Song ai có thể tin chỉ chưa đầy 24 giờ thì Lý Chuẩn có thể làm hết từng ấy việc ở Hoàng Sa và vì sao phải đến 24 năm sau bút ký này mới được đưa ra? Chỉ có người Trung Quốc nói cho người Trung Quốc nghe.

Những chứng cứ do phía Trung Quốc đưa ra về quần đảo Hoàng Sa chưa bao giờ xác thực cả về mặt lịch sử lẫn pháp lý. Song mưu đồ xâm chiếm thì đã rõ ngay khi Trung Quốc đưa ra luận điểm để bảo vệ cho chuyến thị sát trái phép quần đảo Hoàng Sa năm 1909 của quan binh nước này, cho rằng quần đảo Hoàng Sa là “quần đảo hoang”, trong khi Việt Nam đã đưa ra những bằng chứng lịch sử và pháp lý chứng minh được chủ quyền ở Hoàng Sa từ thế 17.

Sau chuyến đi của Lý Chuẩn 12 năm, tháng 3-1921 chính quyền quân sự Quảng Đông đã ký một sắc lệnh bất hợp pháp sáp nhập Hoàng Sa vào huyện Châu Nhai, phủ Quỳnh Châu lúc bấy giờ. Rõ ràng hành vi xâm phạm chủ quyền có chủ ý của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa diễn ra ngay khi An Nam (tên gọi của Việt Nam lúc bấy giờ) đang trong thời kỳ Pháp thuộc bị Pháp và chính quyền bảo hộ Pháp đang đại diện cho Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Sở dĩ Trung Quốc muốn xâm chiếm Hoàng Sa là vì trước đó trong chuyến thị sát vùng biển này, tàu quan binh nhà Thanh đã phát hiện một nhóm thương nhân người Nhật đang chiếm cứ đảo Pratas (sau này Trung Quốc gọi là Đông Sa) nằm gần Hoàng Sa. Trung Quốc không muốn quần đảo Hoàng Sa bị các nước mạnh thời đó quản lý nên đã bắt đầu triển khai mưu đồ cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Đây là mầm mống gây tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với Pháp lúc này đang được xem là đại diện cho Việt Nam. Động thái của Trung Quốc năm 1921 đã khiến Pháp phải nhìn lại, dù tại thời điểm này Trung Quốc chỉ mới xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa trên văn bản.

Trước âm mưu xâm chiếm của Trung Quốc và sự manh nha xuất hiện của người Nhật trên tuyến đường biển quan trọng “nối liền giữa Hong Kong và Sài Gòn”, liên tiếp từ năm 1925-1930 Pháp đã có những động thái khẳng định chủ quyền không chỉ ở Hoàng Sa. Trước hết, đầu tháng 3/1925 toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ của Pháp (tức thuộc về An Nam đang là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ). Ngày 20/3/1930, toàn quyền Đông Dương đã yêu cầu Bộ thuộc địa Pháp “Cần thừa nhận lợi ích của nước Pháp ẩn chứa trong việc thay mặt An Nam thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa”.

Trong bối cảnh Nhật cũng nhăm nhe chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, để ngăn chặn mối họa xâm chiếm của chính quyền Trung Hoa Dân quốc cũng như Nhật Bản, từ năm 1937 Pháp đã ủy thác cho kỹ sư trưởng Gauthier việc xây dựng một trạm hải đăng ở đảo nhỏ Hoàng Sa (đảo Pattle). Sau đó năm 1938-1939, theo nghị định số 3282 do toàn quyền Đông Dương Brievie ký, Pháp đã triển khai quân binh đến đảo Hoàng Sa xây dựng trạm hải đăng, trạm vô tuyến TFS và trạm khí tượng, song song đó cũng xây dựng thêm một trạm khí tượng khác trên đảo Phú Lâm.

Sau khi đánh đuổi quân Tưởng Giới Thạch rời khỏi đại lục chạy sang đảo Đài Loan năm 1949, Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập ở Trung Quốc đại lục (gọi tắt là chính quyền Bắc Kinh) đã tiếp tục mưu đồ cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Đầu tháng 9/1951, theo lời mời của Mỹ, 51 quốc gia đã từng tham gia hoặc có liên hệ với cuộc chiến chống Nhật đã tham gia Hội nghị San Francisco (Mỹ). Điểm đáng chú ý là cả chính quyền Bắc Kinh ở Trung Quốc đại lục và Trung Hoa Dân quốc ở Đài Loan đều không được mời dự. Chính quyền Bắc Kinh phản ứng với nội dung dự thảo Hòa ước San Francisco có liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và đơn phương tuyên bố chủ quyền của mình tại hai quần đảo này.

Tuy nhiên, tuyên bố của Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai từ Bắc Kinh không tác động được gì đến các đại biểu dự Hội nghị quốc tế San Francisco. Một bằng chứng rõ ràng là tại hội nghị này, ngày 5/9/1951, đại diện Liên Xô là Andrei Gromyko (sau này là Ngoại trưởng Liên Xô), có lẽ do áp lực từ phía Trung Quốc, đã đưa ra đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng, kết quả bỏ phiếu tại Hội nghị San Francisco là một minh chứng rất rõ ràng rằng quốc tế đã thẳng thừng bác bỏ đề nghị của đại diện Liên Xô: chỉ có 3 phiếu thuận, 1 phiếu trắng và có đến 47 phiếu chống lại việc trao Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung Quốc. Giới phân tích nhận định kết quả này thể hiện sự nhìn xa trông rộng của cộng đồng quốc tế đối với mưu đồ bành trướng của Trung Quốc ở Biển khi bác bỏ yêu sách vô lý của chính quyền Bắc Kinh đối với quần đảo Hoàng Sa.

Hai ngày sau, ngày 7/9/1951, tại hội nghị này Trưởng phái đoàn quốc gia Việt Nam, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, đã lên tiếng tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong đó có đoạn: “Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống bất hòa, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam”.

Lời tuyên bố này đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản. Và trong tất cả 51 phái đoàn các nước, không có phái đoàn nào phản đối, kể cả Liên Xô. Những sự kiện như thế đã minh chứng rằng cộng đồng quốc tế chưa bao giờ thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Đây được coi là một chứng cứ mang tính pháp lý quốc tế hết sức quan trọng.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả, Trung Quốc vẫn không từ bỏ mưu đồ xâm chiếm đánh chiếm Hoàng Sa. Lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng khi Pháp rút khỏi Việt Nam, năm 1956 Trung Quốc ngang nhiên đưa hải quân xâm chiếm nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, lợi dụng việc chính quyền Việt Nam Cộng hoà đang gặp khó khăn, Bắc Kinh đã cho lực lượng hải quân gây ra cuộc chiến đẫm máu cho binh sĩ Việt Nam Cộng hoà đánh chiếm nhóm đảo còn lại của quần đảo Hoàng Sa khi chính quyền Việt Nam Cộng hoà đang quản lý và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa theo Hiệp định Geneve 1954 (hiệp định quy định chính quyền Việt Nam Cộng hoà quản lý phần lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 xuống phía Nam, bao gồm quần đảo Hoàng Sa).

Như vậy có thể kết luận rằng cho đến đầu Thế kỷ 20, Trung Quốc chưa có liên quan gì tới quần đảo Hoàng Sa và chưa có yêu sách nào đối với Biển Đông, thậm chí họ còn tự cho rằng không liên quan gì tới quần đảo này. Xin nêu một dẫn chứng cụ thể qua sự kiện tàu buôn La Bellona của Đức bị chìm vì đá ngầm vào năm 1885 và tàu Himeji của Nhật bị đắm vào năm 1896 đều ở khu vực quần đảo Hoàng Sa đã bị nhà đương cục Trung Hoa ở đảo Hải Nam từ chối trách nhiệm cứu vớt với lý do những vùng này không thuộc lãnh hải và quyền quản hạt của Trung Hoa cho thấy chí ít đến cuối thế kỷ 19, nhà đương cục Trung Hoa xem quần đảo này không thuộc về Trung Quốc.

Một chứng cứ khác là sau khi thua trận trong chiến tranh Trung – Nhật, nhà Thanh đã ký Hiệp ước Shimonoseki ngày 17/4/1895 (Trung Quốc gọi là Hiệp ước Mã Quan). Theo đó, nhà Thanh nhượng cho Nhật Bản vĩnh viễn chủ quyền đầy đủ của quần đảo Bành Hồ, Đài Loan và phần phía đông vùng biển của bán đảo Liêu Đông cùng với tất cả các tài sản có trên đó như: công sự, kho vũ khí…và trong đó không đề cập tới quần đảo Hoàng Sa hay Biển Đông. Như vậy, có thể thấy trong tiềm thức của chính quyền nhà Thanh (Trung Quốc) và chính quyền Nhật Bản chưa hề có khái niệm về quần đảo Hoàng Sa cho đến đầu Thế kỷ 20.

Mưu đồ đánh chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc được manh nha từ năm 1909 và được tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo. Mưu đồ này được lớn lên theo từng năm và được đánh dấu bằng việc sử dụng vũ lực xâm chiếm phía Đông quần đảo này năm 1956 và tiếp tục đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực năm 1974. Mưu đồ này không dừng lại ở đó mà ngày càng được mở rộng cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, quân sự của Bắc Kinh. Giới chuyên gia nhận định mưu đồ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa chỉ là một phần trong mưu đồ lâu dài là thôn tính Biển Đông của giới cầm quyền ở Bắc Kinh.

Dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa mới là bước khởi đầu trong chiến lược độc bành trướng độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh. Năm 1988, Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm 6 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa; năm 1995 Bắc Kinh tiếp tục đánh chiếm Đá Vành Khăn thuộc Trường Sa; năm 2012, Trung Quốc cưỡng chiếm Bãi cạn Scarborough ở phía Bắc Biển Đông. Trung Quốc còn đang mưu toan xâm lấn các vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của các nước ven Biển Đông, cản trở tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại.

Trần Duy HảiNguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia

]]>
Vấn đề tàu cá, ngư dân đánh bắt ở quần đảo Hoàng Sa lại nổi lên https://biendong.net/2024/12/04/van-de-tau-ca-ngu-dan-danh-bat-o-quan-dao-hoang-sa-lai-noi-len/ Wed, 04 Dec 2024 02:03:00 +0000 https://biendong.net/?p=141847 Ngày 31/10/2024, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố tại họp báo thường kỳ ở Hà Nội: “Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc tôn trọng đầy đủ các quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, thả ngay toàn bộ tàu cá và ngư dân Việt Nam bị bắt giữ trái phép, bồi thường thỏa đáng các thiệt hại và chấm dứt, không để tái diễn các hành động quấy nhiễu, bắt giữ trái phép tàu cá và ngư dân Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam”.

Giới quan sát cho rằng phát biểu của phía Việt Nam lần này là khá mạnh mẽ để bảo vệ các quyền và lợi ích của ngư dân Việt Nam.

Đáp trả lại các ý kiến của Hà Nội, tại cuộc họp báo tại Bắc Kinh vào ngày 01/11/2024, Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lâm Kiếm (Lin Jian), ngang nhiên phát biểu rằng phía Trung Quốc hy vọng Việt Nam tăng cường “giáo dục và quản lý” ngư dân của mình, và không tham gia vào các “hoạt động phi pháp” ở vùng biển thuộc “quyền tài phán của Trung Quốc”.

Vài ngày sau đó, Nhóm nghiên cứu được chính quyền Bắc Kinh hậu thuẫn cho biết một số ngư dân người Việt đang bị giam giữ vì “đánh cá trái phép” trên vùng biển Hoàng Sa. Sáng kiến Thăm dò Biển Đông (viết tắt SCSPI) là một viện nghiên cứu được chính quyền hậu thuẫn có trụ sở ở Bắc Kinh, viết trên tài khoản mạng xã hội X của họ rằng những ngư dân này “bị bắt giữ vào tháng Tư và tháng Năm”, vì đánh cá trái phép trên khu vực biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, họ không cho biết thông tin chi tiết về số lượng người bị bắt giữ.

Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (tiến Trung gọi là Tây Sa và tiếng Anh là Paracels). Việt Nam đưa ra các chứng cứ pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa. Năm 1974, Hải quân Trung Quốc đã dùng vũ lực gây ra cuộc hải chiến đẫm máu cho Hải quân Việt Nam Cộng Hòa (đang quản lý quần đảo Hoàng Sa) và đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam luôn khẳng định khu vực quần đảo Hoàng Sa là ngư trường truyền thống của nhiều thế hệ ngư dân, nhưng lợi dụng việc đang chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, trong suốt thời gian quanTrung Quốc luôn tìm mọi cách ngăn cản và truy đuổi tàu cá của Việt Nam khỏi khu vực này, và thậm chí các cơ quan chức năng của Trung Quốc còn tấn công đánh đập ngư dân hoặc bắt và giam giữ tàu cá ngư dân Việt Nam. Theo thông tin từ Sáng kiến Thăm dò Biển Đông của Trung Quốc nhiều ngư dân Việt Nam đã bị giam giữ đến 6 tháng trời. Việc làm này của Bắc Kinh hoàn toàn vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế.

Sáng kiến Thăm dò Biển Đông của Trung Quốc cáo buộc ngư dân Việt Nam bị bắt giữ vì “đánh bắt san hô sống, sử dụng kích điện và các hình thức đánh bắt hủy diệt môi trường khác”. Giới chức tỉnh Quảng Ngãi của Việt Nam, địa phương có nhiều tàu cá thường xuyên đánh bắt ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, đã bác bỏ những cáo buộc vô căn cứ của phía Trung Quốc; đồng thời, khẳng định với truyền thông rằng hầu hết thuyền đánh cá của tỉnh này đều sử dụng các hình thức đánh bắt an toàn như lưới kéo, câu và lặn.

Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (viết tắt là AMTI), có trụ sở ở Mỹ cho biết tính riêng về hoạt động kéo lưới thì “Trung Quốc và Việt Nam chiếm thị phần lớn nhất trong tổng sản lượng đánh bắt ở Biển Đông”. Trong báo cáo “Những vết sẹo xanh sâu thẳm” được công bố vào tháng 12 năm 2023, tổ chức AMTI đã cáo buộc “Trung Quốc gây ra nhiều vụ phá hủy rạn san hô nhiều nhất ở Biển Đông thông qua việc nạo vét và lấp đất, chôn vùi khoảng 4.648 mẫu Anh (18,8km2) rạn san hô”.

Báo cáo của AMTI còn cho biết ngư dân Trung Quốc cũng đang sử dụng một phương pháp đánh bắt cực kỳ nguy hiểm là “kéo cánh quạt bằng đồng được chế tạo đặc biệt” để đào xới bề mặt rạn san hô nhằm thu hoạch ngao khổng lồ. Do vậy, giới chuyên gia cho rằng các lý lẽ mà Sáng kiến Thăm dò Biển Đông của Trung Quốc đưa ra để bắt giữ ngư dân Việt Nam chỉ là sự nguỵ biện, bào chữa cho những hành động hung hăng của các lực lượng chức năng Trung Quốc ở Biển Đông nói chung và khu vực quần đảo Hoàng Sa nói riêng.

Đánh giá về phản ứng hôm 31/10/2024 của của Bộ Ngoại giao Việt Nam liên quan tới hoạt động của tàu cá Việt Nam tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, một số chuyên gia Biển Đông cho rằng Việt Nam đã nghiêm chỉnh đề nghị Trung Quốc bồi thường và thả ngư dân bị bắt giữ ở Biển Đông, nhưng đề nghị này đưa ra hơi chậm và Hà Nội cần phải có công hàm ngoại giao phản đối hành động vi phạm pháp luật quốc tế của Bắc Kinh. Nhà nghiên cứu Biển Đông Trương Nhân Tuấn nhận định: “Yêu cầu Trung Quốc thả ngư dân và bồi thường cho họ của Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao là khá nghiêm chỉnh.

Giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales, Úc – chuyên gia quốc tế về vấn đề Biển Đông – cho rằng hành động của Trung Quốc là trái luật pháp quốc tế. Ông Carl Thayer nhấn mạnh: “Theo luật quốc tế, một quốc gia ven biển không thể sử dụng luật nội địa để biện minh cho hành động sử dụng vũ lực quá mức đối với tàu cá nước ngoài tại vùng nước tranh chấp”. Theo chuyên gia Carl Thayer: “hành động sử dụng vũ lực quá mức của Trung Quốc là vi phạm luật quốc tế và việc Việt Nam yêu cầu bồi thường là hợp lý”.

Hồi đầu tháng 1/2021, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua luật Hải cảnh mới cho phép tàu hải cảnh của nước này được quyền bắn vào các tàu nước ngoài trong vùng nước mà Bắc Kinh đòi chủ quyền; ngày 15/5/2024, Trung Quốc ban hành Quy định thủ tục về thực thi hành chính” của lực lượng hải cảnh Trung Quốc cho phép nhân viên của lực lượng này bắt giữ người nước ngoài bị tình nghi vượt hải giới “trái phép” và quy định mới này có hiệu lực từ 15/6/2024. Điều này làm dấy lên những lo ngại về việc Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực với các ngư dân của những nước láng giềng ở khu vực Biển Đông đang tranh chấp giữa các nước.

Giáo sư Carl Thayer nhận định: “Trung Quốc đang cố gắng nguỵ trang cho những gì mà họ làm và nói luật của chúng tôi (Trung Quốc) cho phép cho nên đừng có can thiệp vào chủ quyền của chúng tôi (Trung Quốc). Đây là điều đáng báo động. Các tàu hải cảnh của Trung Quốc được trang bị đầy đủ và tương đương như các tàu chiến. Trung Quốc bây giờ với luật hải cảnh mới, trong bất cứ đụng độ nào giờ đây họ không còn phải đâm tàu nữa. Họ chỉ cần bắn vào tàu nếu ngư dân chống cự”.

Trong một năm qua, Việt Nam và Trung Quốc trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao, bao gồm chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cuối năm 2023; chuyến thăm Hà Nội của Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường vào giữa tháng 10/2024. Trong khi đó, Tổng Bí thư Tô Lâm thăm Bắc Kinh vào tháng 8/2024 và Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm Trung Quốc vào tháng 6/2024. Trong các cuộc gặp, hai bên cam kết đẩy mạnh quan hệ song phương và xử lý ổn thỏa bất đồng ở Biển Đông, cùng nhau giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định. Tuy nhiên, theo Giáo sư Carl Thayer: “Ngoại giao thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc không chứng minh được sự thành công. Trung Quốc hứa một điều nhưng vẫn tiếp tục hung hăng làm điều khác”.

Giới phân tích nhận định mặc dù quan hệ chính trị, kinh tế giữa Hà Nội và Bắc Kinh, song nếu các lực lượng chức năng Trung Quốc tiếp tục hành xử hung hăng, thô bạo với tàu cá ngư dân Việt Nam thì sẽ chỉ tạo ra một tâm lý “bài Hoa” đối với người dân Việt Nam. Đáng chú ý, trong chuyến thăm Hà Nội của Chủ tịch Tập Cận Bình tháng 12/2023, Việt Nam và Trung Quốc đã nhất trí cùng nhau xây dựng “cộng đồng chia sẻ tương lai”, nhưng việc các lực lượng chức năng Trung Quốc tấn công tàu cá, đánh đập gây thương tích ngư dân Việt Nam hay bắt giữ những ngư dân nghèo khó của Việt Nam là hoàn toàn không phù hợp với tinh của việc xây dựng “cộng đồng chia sẻ tương lai”. Dẫu rằng giữa Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa còn chưa được giải quyết, song với tình hữu nghị truyền thống láng giềng giữa hai nước, các lực lượng chức năng Trung Quốc cần ngừng ngay việc hành xử vô nhận đạo đối với những người ngư dân nghèo Việt Nam. Có như vậy hai bên mới có thể từng bước tạo dựng sự tin cậy để xây dựng “cộng đồng chia sẻ tương lai” tạo không khí thuận lợi cho việc giải quyết các bất đồng ở Biển Đông.

Ông Nguyễn Khắc Giang, một nhà nghiên cứu từ Viện ISEAS – Yusof Ishak tại Singapore nhấn mạnh: “Những cuộc tấn công này (những vụ việc tấn công tàu cá, ngư dân Việt Nam) phản ánh chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc nhằm ép buộc các quốc gia có yêu sách khác phải khuất phục và khẳng định sự thống trị của mình ở Biển Đông”. Theo ông Giang, đối với Việt Nam, những sự cố này là lời nhắc nhở rằng, mặc dù quan hệ giữa hai quốc gia Cộng sản đã được cải thiện, Bắc Kinh vẫn sẵn sàng sử dụng các chiến thuật hung hăng.

Để bảo vệ ngư dân, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Giang cho rằng hợp tác đa phương đóng vai trò thiết yếu. Ông Giang cho rằng: “Đầu tiên, các quốc gia ASEAN có yêu sách ở Biển Đông cần tăng cường hợp tác ngoại giao và đẩy nhanh các cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông để thiết lập các quy tắc rõ ràng và đảm bảo trách nhiệm giải trình. Thứ hai, tuần tra chung và quản lý hợp tác nghề cá có thể giúp giảm thiểu các xung đột tiềm tàng”.

Ngoài ra, ông Giang đề xuất thiết lập kênh liên lạc khẩn cấp với chính quyền Trung Quốc và nhấn mạnh “sáng kiến minh bạch” của Philippines, trong đó Manila công bố công khai các hành vi gây hấn của Trung Quốc thời gian gần đây, là “động thái tuyệt vời” nhằm nâng cao nhận thức toàn cầu về các sự cố trên biển. Giới phân tích cho rằng để bảo vệ các quyền lợi chính đáng của ngư dân, Hà Nội cần thẳng thắn trao đổi với Bắc Kinh, kể cả ở cấp cao về tình trạng ngư dân bị tấn công nguy hiểm ở Biển Đông; nhấn mạnh các hành vi thô bạo với ngư dân nghèo chỉ làm mất đi tình cảm của người dân, thậm trí tạo ra tâm lý “bài Hoa” trong người dân, không phù hợp với quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

]]>
TQ đang ngấm ngầm “đâm dao vào lưng” Việt Nam https://biendong.net/2024/12/03/tq-dang-ngam-ngam-dam-dao-vao-lung-viet-nam/ Tue, 03 Dec 2024 03:52:19 +0000 https://biendong.net/?p=141834 Hình ảnh vệ tinh gần đây cho thấy Trung Quốc đang tích cực gia tăng đáng kể việc quân sự hoá đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp với Việt Nam. Theo “Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế Hoàng gia” (Chatham House) có trụ sở tại London, địa điểm chiến lược này đang trở thành một trong những căn cứ tình báo tín hiệu quan trọng của Bắc Kinh tại Biển Đông, phản ánh tham vọng rộng lớn hơn của Trung Quốc tại khu vực này.

Hơn 2 tháng trước đây (tức là vào tháng 8/2024), đã xuất hiện những báo cáo về việc Trung Quốc bổ sung vào cơ sở hạ tầng quân sự với một đường băng mới được xây dựng trên đảo Tri Tôn. Theo đó, đường băng tương đối ngắn và hẹp, dài hơn 600 mét, rộng khoảng 14 mét. Nó có khả năng chứa máy bay cất hạ cánh trên đường băng ngắn (STOL), máy bay cánh quạt tua bin, máy bay hạng nhẹ và thậm chí cả trực thăng hoặc máy bay không người lái (drone).

Mục đích của đường băng này vẫn chưa được xác định chắc chắn, nhưng nó có thể thúc đẩy đáng kể hậu cần cho các hoạt động quân sự. Ngoài đường băng, hình ảnh vệ tinh cho thấy một khu vực làm việc mới rộng lớn bao gồm một nhà máy xi măng, có thể tăng cường đáng kể hậu cần trên hòn đảo có người ở cực Tây của Quần đảo Hoàng Sa. Một số chuyên gia đặt câu hỏi phải chăng Trung Quốc xây dựng nhà máy xi măng ở Tri Tôn để phục vụ việc xây dựng các công trình khác lớn hơn ở khu vực này?

Ngày 17/10/2024, “Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế Hoàng gia” (Chatham House) công bố thông tin về việc Trung Quốc xây dựng hệ thống radar khẩu độ xung lực tổng hợp (SIAR) có khả năng chống tàng hình trên đảo Tri Tôn. Theo Nghiên cứu của Phòng thí nghiệm Vật lý ứng dụng Đại học Johns Hopkins (Mỹ) năm 2020, SIAR phát ra “một lượng năng lượng tương đối lớn”. Một số nghiên cứu đã xác định hệ thống SIAR là nguồn chính của các trường bức xạ cường độ cao có thể gây nhiễu cho hệ thống điện tử hàng không, dẫn đường và thông tin liên lạc của máy bay.

Tiến sĩ Benjamin J. Sack, nhà nghiên cứu từ Rand Corporation, cho biết SIAR có thể tạo nguy cơ đáng kể cho máy bay dân dụng. Ông Benjamin J. Sack nhận định: “Mạng lưới SIAR đang ngày càng được tăng cường của Trung Quốc có thể tạo thêm một rào cản nữa cho máy bay dân dụng nào muốn đi vào vùng trời đông đúc trên Biển Đông, nơi ngày càng nằm dưới sự kiểm soát thực tế của Trung Quốc”.

Sự hiện diện của hệ thống radar mới này của Trung Quốc tại căn cứ quân sự trên đảo Tri Tôn cho thấy Bắc Kinh đang nhanh chóng nâng cao năng lực tình báo của mình tại vùng biển tranh chấp này. Khi đi vào hoạt động, hệ thống radar này sẽ tăng cường đáng kể khả năng ngăn chặn tín hiệu và tác chiến điện tử của Trung Quốc trên khắp quần đảo Hoàng Sa và góp phần vào mạng lưới giám sát rộng hơn trên khắp Biển Đông.

Phân tích của Chatham House chỉ ra rằng Trung Quốc đang nâng cấp tiền đồn của mình và có khả năng thiết lập một điểm phóng cho tên lửa chống hạm cùng với hệ thống radar tiên tiến. Các radar chống tàng hình tương tự, được gọi là SIAR (radar xung lực và khẩu độ tổng hợp), đã được thiết lập ở phía Nam trên Đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa và ở phía Bắc trên đảo Hải Nam. Sự phát triển tại đảo Tri Tôn sẽ lấp đầy một khoảng trống quan trọng ở rìa phía Tây khu vực giữa Biển Đông trong phạm vi phủ sóng radar của Trung Quốc.

Các nhà quan sát cho rằng sự phát triển của đảo Tri Tôn có thể được so sánh với đảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là đảo Vĩnh Hưng), đóng vai trò là mô hình cho sự mở rộng và chiến lược quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông. Đảo Phú Lâm, đảo lớn nhất ở Hoàng Sa, đã bị Trung Quốc quân sự hoá từ nhiều năm trước. Đây là căn cứ tình báo tiên tiến của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), nơi có các máy bay chiến đấu, máy bay ném bom tầm xa và các tài sản quân sự khác. Tháng 11/2020, Trung Quốc đã triển khai một máy bay ném bom mang tên lửa H-6J đến đảo Phú Lâm, sau các nhiệm vụ trước đó của máy bay ném bom H-6K của Không quân PLA (PLAAF) vào năm 2018, điều này đã chứng minh khả năng tiếp nhận các máy bay lớn hơn của hòn đảo này.

Theo đánh giá của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), đảo Phú Lâm hiện là trung tâm quân sự chính của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Nó được trang bị các cơ sở rộng lớn bao gồm một đường băng có nhà chứa máy bay chiến đấu, cơ sở hải quân, hệ thống radar giám sát cũng như các hệ thống phòng thủ tiên tiến như tên lửa hành trình đất đối không và chống hạm. Với sự phát triển của đảo Phú Lâm như một mô hình, đảo Tri Tôn dường như đã sẵn sàng trở thành một tài sản quan trọng trong mạng lưới tình báo và phòng thủ của Bắc Kinh trên Biển Đông.

Việc tăng cường quân sự trên Đảo Tri Tôn thể hiện sự leo thang đáng kể trong chiến lược của Trung Quốc nhằm thiết lập sự thống trị quân sự ở Biển Đông. Bằng cách làm theo mô hình phát triển trên, đảo Phú Lâm và kết hợp các khả năng giám sát và phòng thủ tiên tiến, Trung Quốc đang tạo dựng một mạng lưới quân sự toàn diện nhằm củng cố các yêu sách lãnh thổ và thể hiện sức mạnh của mình trên khắp khu vực. Tham vọng bành trướng của Trung Quốc có tác động nghiêm trọng đến sự ổn định của khu vực cũng như hoạt động tự do hàng hải quốc tế.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược Mỹ-Trung ở khu vực ngày càng gay gắt, cam kết của Mỹ đối với một “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” tiếp tục thách thức các yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh ở Biển Đông. Hải quân Mỹ cùng với hải quân các nước đồng minh gia tăng hoạt động tuần tra và diễn tập quân sự trong thời gian gần đây để phản đối “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, phản đối việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở thẳng quanh Hoàng Sa, bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông và trong khu vực. Để đáp trả các hoạt động của Mỹ và đồng minh, Trung Quốc đã đẩy mạnh quân sự hoá Biển Đông, trong đó có việc xây dựng những công trình quân sự bao gồm hệ thống radar chống tàng hình ở đảo Tri Tôn. Viêc làm này của Bắc Kinh đe doạ hoà bình ổn định trong khu vực và làm gia tăng mối lo ngại giữa các quốc gia láng giềng.

Với những động thái kể trên, giới chuyên gia nhận định Trung Quốc đang ngấm ngầm “đâm dao vào lưng” Việt Nam cả trên nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nghĩa đen là bởi vì Tri Tôn nằm đối diện với Đà Nẵng, điểm nhô ra ở giữa Việt Nam, được coi như cái lưng của Việt Nam. Khi đi sâu phân tích thấy rõ việc tăng cường quân sự hoá đảo Tri Tôn hàm chứa âm mưu thâm độc của Bắc Kinh nhằm vào Việt Nam, cụ thể là:

Thứ nhất, Đà Nẵng là nơi có vị trí quan trọng hàng đầu đối với an ninh của Việt Nam. Đà Nẵng đều được chọn làm điểm tấn công đổ bộ khởi đầu cho hai cuộc xâm lược Việt Nam của Pháp và Mỹ trước đây bởi Đà Nẵng nằm ở giữa Việt Nam, đánh vào Đà Nẵng nhằm chia cắt Việt Nam. Năm 1858, Pháp đã nổ tiếng súng đầu tiên vào Đà Nẵng bắt đầu cuộc xâm lược đô hộ Việt Nam; sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam được coi bắt đầu vào năm 1964, khi các nhóm quân viễn chinh Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng.

Đảo Tri Tôn nằm cách bờ biển Đà Nẵng 315 km. Với vị trí đặc biệt đó của Đà Nẵng và từ những sự kiện nói trên trong lịch sử mà các chuyên gia nói việc Trung Quốc đẩy mạnh quân sự hoá đảo Tri Tôn chính là đang ngấm ngầm “đâm dao vào lưng” Việt Nam. Một vài chuyên gia còn cảnh báo, các công trình quân sự trên đảo Tri Tôn có thể còn nằm trong một ý đồ thâm hiểm chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào miền Trung Việt Nam khi cần thiết.

Thứ hai, thời gian gần đây Trung Quốc gia tăng các hành động hung hăng nhằm vào Philippines, thường xuyên cho tàu hải cảnh tấn công, đâm va tàu công vụ của Philippines khiến dư luận tập trung sự chú ý vào vùng biển phía Đông Biển Đông để rảnh tay triển khai các công trình quân sự, bao gồm xây dựng hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn. Thủ đoạn đánh lừa dư luận thường được Bắc Kinh sử dụng để đẩy mạnh các hoạt động sai trái ở Biển Đông. Cách đây 10 năm (vào năm 2014), Trung Quốc cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế miền Trung Việt Nam gây căng thẳng với Việt Nam nhằm thu hút sự chú ý của dư luận để rảnh tay triển khai bồi đắp, mở rộng các cấu trúc mà họ chiếm đóng thuộc Trường Sa, khi mà dư luận để ý đến hành động nguy hiểm này thì Trung Quốc đã mở rộng hàng chục hec ta trên các cấu trúc ở Trường Sa.

Giới quan sát cho rằng hiện Trung Quốc đang mạnh tay với Philippines ở Biển Đông với hàng loạt các vụ va chạm và có vẻ nhẹ tay hơn với Việt Nam nhưng trên thực tế Bắc Kinh đang âm thầm “đâm vào lưng” Hà Nội bằng việc lắp đặt hệ thống ra đa chống tang hình và gia tăng quân sự hoá đảo Tri Tôn. Quần đảo Hoàng Sa có tranh chấp giữa Hà Nội với Bắc Kinh và Đài Bắc (trong tranh chấp này, Đài Bắc chỉ mang danh nghĩa, hầu như không có vai trò gì), đảo Tri Tôn nằm ở điểm cực Tây của quần đảo Hoàng Sa và cách mũi Ba Làng An thuộc đất liền Việt Nam 134,6 hải lý (249,3 km) và cách đảo Lý Sơn 121,1 hải lý (224,3 km). Do vậy, động thái này của Trung Quốc rõ ràng là để nhắm vào Việt Nam.

Thứ ba, các chuyên gia quân sự cảnh báo việc lắp đặt các thiết bị giám sát (hệ thống radar chống tang hình cùng với việc triển khai các hệ thống tên lửa đất đối không và đất đối đất trên đảo Tri Tôn, sẽ bổ sung thêm một lớp chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) đáng kể cho Trung Quốc, nằm trong phạm vi 150 dặm tính từ bờ biển Việt Nam. Khả năng này không chỉ cho phép PLA theo dõi chặt chẽ các hoạt động quân sự của Việt Nam, bao gồm cả Su-30 Flankers mà còn mở rộng phạm vi A2/AD của Trung Quốc đối với lãnh thổ Việt Nam, qua đó làm gia tăng căng thẳng chiến lược trong khu vực.

Quan hệ chính trị và kinh tế thương mại giữa Hà Nội và Bắc Kinh không ngừng phát triển trong những năm qua, nhiều chuyến thăm liên tiếp giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Lãnh đạo 2 nước đã đạt được nhận thức chung về việc giải quyết thoả đáng các vấn đề tranh chap trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, không có những hành động làm phức tạp tình hình. Tuy nhiên, giới chuyên gia nhận định những động thái mới của Trung Quốc ở đảo Tri Tôn cho thấy Bắc Kinh đang tìm cách ru ngủ Hà Nội bằng những lời sáo rỗng hay nói cách khác Trung Quốc đang ngấm ngầm “đâm dao vào lưng” Việt Nam.

Nhận thức rõ về mối nguy hiểm từ những hành động mới, trong đó có việc xây dựng hệ thống radar chống tang hình của Trung Quốc trên đảo Tri Tôn, ngày 31/10/2024, Hà Nội đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối Bắc Kinh qua phát biểu của Phó Người phát ngôn Bộ Ngoại giao. Theo đó, Việt Nam bày tỏ hết sức quan ngại trước thông tin Trung Quốc đang hoàn thiện cơ sở hạ tầng để đưa radar ra đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đại diện Bộ Ngoại giao nhấn mạnh Việt Nam “mạnh mẽ phản đối mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”; đồng thời khẳng định “kiên quyết bảo vệ chủ quyền” bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982. Giới phân tích nhận định đây là lần Hà Nội tỏ thái độ phản đối mạnh mẽ nhất đối với Bắc Kinh trong thời gian gần đây. Không chỉ phản đối việc xây dựng radar mới trên đảo Tri Tôn, Việt Nam còn phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc bắt giữ, hành hung với ngư dân Việt Nam ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, yêu cầu Trung Quốc bồi thường thỏa đáng các thiệt hại và “không để tái diễn các hành động quấy nhiễu, bắt giữ trái phép tàu cá và ngư dân tại quần đảo Hoàng Sa”. Bất chấp mối quan hệ được coi là “tốt đẹp” giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, các chuyên gia cảnh báo việc Trung Quốc ngấm ngầm “đâm dao vào lưng” Việt Nam là dấu hiệu cho thấycác tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông vẫn tiếp tục là điểm nóng đáng kể đối với sự ổn định của khu vực.

]]>
Nhìn lại quá trình TQ gặm nhấm, thôn tính Hoàng Sa https://biendong.net/2024/03/01/nhin-lai-qua-trinh-tq-gam-nham-thon-tinh-hoang-sa/ Fri, 01 Mar 2024 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=123708 Cho đến cuối Thế kỷ 19, Trung Quốc vẫn hiểu biết rất ít về quần đảo Hoàng Sa và có thái độ bàng quang, thờ ơ đối với quần đảo này. Điều đó thể hiện qua việc Tổng đốc Lưỡng Quảng (quan chức địa phương của Trung Quốc) trút bỏ trách nhiệm đối với vụ đắm tàu xảy ra tại quần đảo Hoàng Sa năm 1895 – 1896.

Đó là vụ đắm tàu của Đức Bellona và vụ đắm tàu của Nhật Imegi Maru. Hai chiếc tàu vận chuyển đồng này do các công ty Anh bảo hiểm. Hàng hóa trên tàu bị người đánh cá Trung Quốc lấy cắp và gặp phải sự lên án của công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đã cãi lại và trút bỏ mọi trách nhiệm với lý do là quần đảo Hoàng Sa là các đảo đã bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc và đồng thời cũng không được sáp nhập vào bất cứ một huyện nào của đảo Hải Nam. Giới chuyên gia kết luận sự thờ ơ nói trên có thể coi như tuyên bố phủ quyết chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Mãi đến đầu thế kỷ 20, Trung Quốc mới quan tâm tới Hoàng Sa và bắt đầu những động thái sơ khai trong yêu sách chủ quyền thể hiện tham vọng thôn tính Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Đầu tiên là chuyến tàu của Đô đốc Lý Chuẩn tới Hoàng Sa năm 1909 với tên gọi “thị sát Tây Sa”. Tại đây, Lý Chuẩn đã thượng cờ và bắn đại bác tuyên bố chủ quyền. Chính điều này cho thấy rằng từ trước đến nay Trung Quốc chưa hề có chủ quyền tại Hoàng Sa. Tuy nhiên, vào thời điểm này quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã khai phá, thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ 16-17 và lúc bấy giờ chính quyền bảo hộ Pháp đang thay mặt nhà nước Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, ngày 18/2/1937 lần đầu tiên Pháp có công hàm gửi tới Trung Quốc đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối.

Vào giữa thế kỷ 20, đặc biệt là giai đoạn sau Thế chiến 2, Trung Quốc dưới sự cầm quyền của Quốc Dân đảng đứng đầu là Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần lăm le chiếm một số đảo thuộc cụm An Vĩnh. Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh, giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945 và Pháp dồn sức cho chiến trường Đông Dương, năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch tiến đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế, nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.

Đến năm 1956, tranh thủ nhập nhèm giữa lúc Pháp bàn giao lại quần đảo Hoàng Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc, lúc này do đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo sau khi đánh đuổi Quốc Dân đảng ra đảo Đài Loan, đã lén lút đổ quân lên đảo Phú Lâm, bắt đầu thực hiện sự chiếm đóng đối với cụm An Vĩnh và Linh Côn.

Bắc Kinh đã từng bước thực hiện việc gặm nhấm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam trong giai đoạn sau Thế chiến 2 và mưu toan thôn tính hoàn toàn quần đảo này, tuy nhiên trong giai đoạn trước những năm 70, quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng hòa quản lý (theo Hiệp định Geneve 1954 về phân chia lãnh thổ Việt Nam) nằm dưới sự bảo trợ của Mỹ với sự hùng mạnh về quân sự nên Trung Quốc không dám có các hành vi manh động. Sau khi ký Hiệp định Paris tháng 1/1973, quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam và từng bước bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đến đầu năm 1974, Trung Quốc nhận thấy cơ hội đã chín muồi cho một cuộc tấn công để chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Cơ hội đó chính là cái bắt tay giữa Trung Quốc với Mỹ, để nước Mỹ làm ngơ trước các động thái của Bắc Kinh tại biển Đông. Cơ hội đó còn là tình hình chiến sự tại Việt Nam, khi mà Việt Nam Cộng hòa, là chủ sở hữu hợp pháp duy nhất đối với quần đảo Hoàng Sa lúc bấy giờ, đang dần bị Mỹ bỏ rơi và đang gặp nhiều khó khăn trên chiến trường ở trong nước. Trong tình cảnh khá đơn độc, khả năng bảo vệ Hoàng Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng, dù họ vẫn sở hữu lực lượng hải quân và không quân có thể nói là khá mạnh.

Ngày 11/1/1974, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố “nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc mà Việt Nam Cộng hòa chiếm cứ bất hợp pháp”.  Để làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Quốc tung nhiều tàu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng. Đến ngày 17/1/1974, tàu và quân lính Trung Quốc đã lởn vởn nhiều nơi quanh cụm Lưỡi Liềm và phía Việt Nam Cộng Hòa đã điều tàu và quân ra để bảo vệ Hoàng Sa.

Đêm 17 tháng 1 năm 1974Chu Ân Lai nhận báo cáo tình hình Hoàng Sa từ Trường Lý Lực, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau đó Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa. Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý!” và nói rằng, “trận này không thể không đánh”; “xem ra không đánh một trận thì không bảo vệ được quyền và lợi ích của Trung Quốc trên biển”. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa. Đây là trận đánh đầu tiên của Đặng Tiểu Bình khi mới được phục chức sau 7 năm đi “cải tạo”.

Ngày 18/1/1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận về tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người để đối phó với các diễn biến có thể xảy ra tại Hoàng Sa. Ban chuyên trách gồm: Diệp Kiếm Anh (chủ nhiệm ban chuyên trách), Vương Hồng VănTrương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên. Ban chuyên trách nghe Phó Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Tô Chấn Hoa báo cáo sau đó quyết định tấn công hạm đội Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các Tuần dương hạm của Việt Nam Cộng hòa. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, Hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch.

Ngày 19/1/1974, chính quyền Bắc Kinh đã đưa quân tấn công lực lượng đồn trú của Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Hoàng Sa, gây ra cuộc hải chiến Hoàng Sa đẫm máu, kiến 74 binh sĩ (sau này tìm ra danh tính một binh sĩ nữa tổng cộng là 75) Việt Nam Cộng hòa hy sinh. Trong khi chiến sự đang diễn ra tại Hoàng Sa, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa báo cáo lên Mao Trạch Đông đề nghị cho phép quân đội Trung Quốc chiếm tất cả các đảo do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Mao đã chấp thuận đề nghị này. Khi hải chiến Hoàng Sa kết thúc, sau khi nghe báo cáo, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị cho Quân khu Quảng Châu tiếp tục đánh chiếm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật và Quang Ảnh.

Nhằm lên án hành động Bắc Kinh sử dụng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa, ngày 14/2/1974, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên cáo vạch trần hành vi vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Tuyên cáo nhấn mạnh: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo này”. Từ cuộc hải chiến Hoàng Sa, có thể rút ra 2 điều sau:

Thứ nhất, Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa giữa lúc tình hình quốc tế, khu vực có những diễn biến phức tạp, Washington nhận thấy sự thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước quân đội Bắc Việt là không thể tránh khỏi hơn thế nữa lúc bầy giờ Trung Quốc và Mỹ có lợi ích song trùng trong việc chống lại Liên Xô nên Lầu Năm Góc đã nhắm mắt làm ngơ để Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa phục vụ yêu cầu chiến lược đó.

Theo các chuyên gia quân sự, quần đảo Hoàng Sa nằm khá gần các căn cứ hải quân và không quân Mỹ tại Philippines, việc Trung Quốc phái quân ra Hoàng Sa chắc chắn là không thoát khỏi sự phát hiện và theo dõi của Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, việc các lãnh đạo Trung Quốc quyết định phái tàu ra Hoàng Sa mà không lo ngại sẽ dẫn tới xung đột với Mỹ, chứng tỏ rằng lãnh đạo cấp cao Mỹ – Trung Quốc đã ngầm có sự tán đồng với nhau trong việc Trung Quốc sẽ chiếm đánh Hoàng Sa, rằng khi nào Trung Quốc điều tàu thì hải quân Mỹ sẽ làm ngơ, coi như không biết chuyện đó. Cho tới năm 1974, Mỹ biết rằng họ sẽ thất bại ở Việt Nam nên đã ngầm “bật đèn xanh” cho Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa nhằm mượn tay Trung Quốc ngăn cản hạm đội Liên Xô hoạt động ở vùng Biển Đông.

Giới phân tích nhận định mâu thuẫn giữa Moscow và Bắc Kinh lên tới đỉnh điểm qua cuộc đụng độ biên giới năm 1969. Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972, đưa Trung Quốc trở thành “đồng minh giai đoạn” của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn vụ Hoàng Sa ảnh hưởng tới mục tiêu chiến lược của mình là kéo Trung Quốc kiềm chế Liên Xô. Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản.

Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam, Trung Quốc và quần đảo Hoàng Sa vào thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ đủ khả năng hỗ trợ Hải quân Việt Nam Công hòa chống lại Bắc Kinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nhiều lần thông báo tình hình trận Hoàng Sa với Đại sứ quan Mỹ nhưng Washington không hề có động thái hỗ trợ gì.

Nhiều tài liệu mật của Bộ Ngoại Mỹ giải mã trong thời gian qua đã chứng minh cho việc Washington ngầm “bật đèn xanh” cho Bắc Kinh đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Theo đó, từ năm 1970, Đô đốc Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ Elmo Zumwalt tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược phát triển các hải đảo của Hạm đội 7. Sau trận hải chiến Hoàng Sa, Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, từng báo cáo với Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ là ông Henry Kissinger rằng: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa, Hoàng Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó”. Ngày 23/1/1974, trong cuộc gặp với ông Hàn Tự, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Trung Quốc tại Washington, Ngoại trưởng Kissinger nói: “Mỹ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”.

Các chuyên gia quân sự nhận định không quân của Việt Nam Cộng hòa với thực lực F-5 lúc bấy giờ có thể giúp Việt Nam Cộng hòa giành lại được Hoàng Sa từ tay Trung Quốc sau cuộc hải chiến hôm 19/1, song chính quyền Tổng thống Thiệu đã không ra lệnh cho chiến đấu cơ xuất kích để oanh tạc tàu chiến Trung Quốc. Nhiều tài liệu quốc tế cho rằng chính Mỹ đã gây áp lực để chính quyền ông Thiệu không ra lệnh xuất kích vì không muốn đụng chạm đến Trung Quốc, lo ngại điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch rút quân của Mỹ, ảnh hưởng đến việc cải thiện quan hệ Mỹ-Trung.

Thứ hai, Trung Quốc đã dùng tàu cá và dân quân biển đội lốt tàu cá làm mồi nhử, khiêu khích để đối Hải quần Việt Nam Cộng hòa nổ súng trước và Trung Quốc lấy cớ để tấn công vũ lực gây ra trận hải chiến Hoàng Sa đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Lấy cớ đó, Bắc Kinh ngang nhiên tuyên truyền rằng cuộc tấn công vào khu vực quần đảo Hoàng Sa năm 1974 chỉ mang tính “tự vệ”, tuy nhiên giới quan sát quốc tế chỉ rõ, tuyên truyền của Bắc Kinh là bịa đặt trắng trợn về bản chất cuộc hải chiến.

Chiến thuật dùng tàu cá và dân quân biển để thúc đẩy các yêu sách về lãnh thổ này tiếp tục được Bắc Kinh sử dụng đến tận ngày nay. Trong vụ việc chiếm Bãi cạn Scarborough của Philippines năm 2012, Bắc Kinh cũng dùng chiêu bài này. Trung Quốc cho tàu cá và tàu dân quân biển giả danh tàu cá khiêu khích để Philippines điều tàu chiến đến bảo vệ ngư dân thì Bắc Kinh điều ngay tàu chiến đến để khống chế toàn bộ Bãi cạn này. Trong mấy năm trở lại đây Trung Quốc có lúc đã cho hàng trăm tàu cá và tàu dân quân biển tụ tập ở khu vực Đá Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng ở Biển Đông.

Thời gian gần đây, giới chuyên gia nhận định trong mục tiêu độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh đề ra chiến lược 3 bước gồm: 1. Kiểm soát (1970-2010); 2. Làm chủ (2011-2025) và 3. Độc chiếm (2026-2050). Cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 đánh dấu một trong những bước đầu tiên trong chiến lược ba bước của Trung Quốc đối với Biển Đông. Ngay sau khi trận hải chiến Hoàng Sa kết thúc, Đặng Tiều Bình (thành viên Ban chuyên trách đánh Hoàng Sa) đã nói “Sân bay Tây Sa (tức Hoàng Sa) sau này nhất định phải xây, chỗ đó vị trí quan trọng, có thể vươn tới Nam Sa (tức Trường Sa, đồng thời khống chế Nam Sa (Trường Sa)”. Phát biểu của Đặng Tiểu Bình thể hiện rõ tham vọng bành trướng ở Biển Đông của Bắc Kinh.

Như vậy, trận hải chiến Hoàng Sa là một bước ngoặt trong chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Hiện Trung Quốc đang dùng mọi thủ đoạn để triển khai bước 2, trong đó tiến hành bồi đắp mở rộng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa và những thực thể Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa; quân sự hóa Biển Đông thông qua việc biến những thực thể này thành các đồn điền quân sự của chúng; đồng thời, Bắc Kinh đẩy mạnh chiến thuật “vùng xám” hòng từng bước làm chủ Biển Đông.

Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã tiếp tục có nhiều hành động vi phạm luật pháp quốc tế để khẳng định chỗ đứng của mình như tự ý vạch đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa; quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa; truy đuổi ngư dân Việt Nam ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa…. Trước những hành vi hung hăng của Trung Quốc, chính quyền Washington nhận thức rõ những sai lầm khi đã làm ngơ để Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa. Thời gian gần đây, Hải quân Mỹ nhiều lần tiến hành tự do hàng hải (FONOP) ở khu vực Hoàng Sa và tuyên bố rõ ràng rằng mục tiêu của Hải quân Mỹ là bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc bảo vệ luật pháp quốc tế. Tóm lại, Trung Quốc đã có ý đồ thôn tính Hoàng Sa từ đầu Thế kỷ 20, quá trình thực hiện âm mưu này được đánh dấu bằng cuộc tấn công vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và tiếp tục được triển khai trong năm 50 năm qua. Đã có sự “đi đêm” giữa Bắc Kinh và Washington để Trung Quốc tấn công vũ lực quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa như Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định hôm 20/1/2024 “là hoàn toàn đi ngược lại các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền cũng như không làm thay đổi sự thật chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam”.

]]>
Quần đảo Hoàng Sa nhìn lại 50 năm đã qua https://biendong.net/2024/01/19/quan-dao-hoang-sa-nhin-lai-50-nam-da-qua/ Fri, 19 Jan 2024 04:13:34 +0000 https://biendong.net/?p=120874 Ngày 19/1/2024 là tròn 50 năm Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 1/1974, lợi dụng tình thế quân đội Việt Nam Cộng hòa đang phải tập trung đối phó với quân đội Bắc Việt và bị Mỹ bỏ rơi, Trung Quốc đã tập trung lực lượng hải quân để phát động cuộc tấn công vũ lực chống lại hải quân của quân đội Việt Nam Cộng hòa và đỉnh điểm là cuộc hải chiến đẫm máu ngày 19/1/1974 để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, khiến 64 sĩ quan và binh sĩ Hải quân Việt Nam Cộng hòa hy sinh. Như vậy, kể từ năm 1974 Trung Quốc đã chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Trong suốt 50 năm qua, Trung Quốc đã nỗ lực củng cố sự hiện diện phi pháp tại quần đảo Hoàng Sa. Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa, ngay trong năm 1974 Trung Quốc ban hành “Quy tắc kỹ thuật kiểm tra theo luật định tàu biển trong các chuyến đi nội địa”, trong đó thành lập “Vùng hàng hải Hải Nam – Tây Sa” (tên Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa); năm 2020 Trung Quốc tiến hành sửa đổi bản quy tắc này, trong đó gọi vùng biển giữa Hải Nam và Hoàng Sa là “vùng ven biển” thay cho cụm từ “vùng biển ngoài khơi” nhằm biến vùng biển này thành nội thủy của Trung Quốc với 28 điểm cơ sở bao quanh quần đảo Hoàng Sa. Tháng 7/2012, Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt trụ sở trên đảo Phú Lâm với mưu đồ nhằm thâu tóm cả các đảo ở Biển Đông.

Trong những năm qua, Trung Quốc đã tiến hành bồi đắp mở rộng các thực thể ở Hoàng Sa, xây dựng các căn cứ quân sự với sân bay, đường băng cho máy bay chiến đấu và cầu cảng lớn cho tàu chiến các loại có thể neo đậu. Bắc Kinh đã triển khai máy bay chiến đấu, UAV tàng hình, bố trí tên lửa và các trang thiết bị quân sự trên các thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa, biến nơi đây thành các tiền đồn quân sự trên Biển Đông. Trung Quốc còn liên tục tiến hành diễn tập quân sự bắn đạn thật tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Ngoài ra, Trung Quốc đã triển khai các tour du lịch ra quần đào Hoàng Sa, xây dựng siêu thị, các nhà hàng trên các thực thể ở Hoàng Sa, tập trung ở Phú Lâm nhằm dân sự hóa các hoạt động ở Hoàng Sa với mục tiêu hợp pháp hóa sự chiếm đóng bất hợp pháp của họ ở Hoàng Sa. Mặt khác, các lực lượng chức năng của Trung Quốc thường xuyên ngăn cản, uy hiếp tàu cá và ngư dân Việt Nam đánh bắt cá tại ngư trường truyền thống Hoàng Sa; tàu hải cảnh, tàu dân quân nhiều lần truy đuổi, đâm va, phun vòi rồng, thậm chí đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam tại khu vực Hoàng Sa này.

 Tuy nhiên, tất cả những nỗ lực kể trên của Trung Quốc đều là vô nghĩa bởi các hoạt động này đều là bất hợp pháp. Bắc Kinh sẽ không bao giờ có thể xác lập được chủ quyền đối với Hoàng Sa vì những lý do sau:

Thứ nhất, chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ (dù là các đảo hay quần đảo) phải được thực hiện theo các nguyên tắc pháp lý về thụ đắc lãnh thổ. Theo đó, việc xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ phải đảm bảo các tiêu chí chính sau: (i) Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do Nhà nước tiến hành; (ii) Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hòa bình trên một vùng lãnh thổ vô chủ (res nullius) hoặc là trên một vùng lãnh thổ đã bị từ bỏ bởi một quốc gia đã làm chủ nó trước đó (res derelictae). Việc sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ là hành động phi pháp; (iii) Quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình ở những mức độ cần thiết, tối thiểu thích hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó; (iv) Việc thực thi chủ quyền phải liên tục, hòa bình.

Chiểu theo những tiêu chí nói trên thì việc chiếm đóng của Trung Quốc ở Hoàng Sa là hoàn toàn bất hợp pháp. Trước hết, Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực khi tấn công các tàu của Hải quân Việt Nam Cộng hòa vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ, lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. 

Cần phải nhấn mạnh rằng cho đến thời điểm Trung Quốc sử dụng vũ lực ở Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa đang quản lý và thực thi chủ quyền hợp pháp ở Hoàng Sa theo Hiệp định Geneve năm 1954 (theo đó, Việt Nam Cộng hòa quản lý tất cả các vùng đất từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam tức là bao gồm quần đảo Hoàng Sa).

Trung Quốc đưa ra lập luận nước này phát hiện ra quần đảo Hoàng Sa bằng việc năm 1909 đô đốc Lý Chuẩn đã dẫn đầu 2 chiến hạm Phục Ba và Sâm Hạm cùng 170 quan binh đến “thu phục Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa)”. Cần phải nhấn mạnh rằng khi đô đốc Lý Chuẩn cùng 2 chiến hạm tới Hoàng Sa thì lúc đó quần đảo này không phải còn là vô chủ bởi ít nhất từ thế kỷ 16-17, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa. Hiện Việt Nam còn lưu giữ rất nhiều Châu bản của triều đình nhà Nguyễn chứng minh triều đình đã cử các đội tàu với tên gọi “Hải đội Hoàng Sa” ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khảo sát, tiến hành đo đạc vẽ bản đồ, khai thác hải sản, cứu vớt tàu thuyền nước ngoài bị mắc cạn ở Hoàng Sa. Năm 1816, vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa để cắm cờ, khẳng định chủ quyền. Như vậy, trước khi Lý Chuẩn tới Hoàng Sa thì nhà nước phong kiến Việt Nam đã quản lý thực thi chủ quyền ở quần đảo này từ 200 đến 300 năm trước đó.

Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ Pháp đã thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa. Hiện tại các trung tâm lưu trữ tại Pháp và Việt Nam còn lưu giữ nhiều văn bản của chính quyền bảo hộ Pháp về việc này. Đến năm 1956, Pháp rút khỏi Việt Nam chuyển giao quyền quản lý quần đảo Hoàng Sa cho Chính quyền Bảo Đại và sau này là chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo các điều khoản của Hiệp định Geneve năm 1954.

Như vậy, theo nguyên tắc pháp lý về thụ đắc lãnh thủ thì các nhà nước Việt Nam từ thời phong kiến (thế kỷ 16-17) đã xác lập, thực thi chủ quyền và quản lý hợp pháp quần đảo Hoàng Sa một cách hòa bình, liên tục. Trung Quốc sử dụng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn bất hợp pháp.

Thứ hai, trong 50 năm qua, bất chấp việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam luôn lên tiếng phản đối các hoạt động bất hợp pháp của Trung Quốc ở quần đảo này, do vậy mà danh nghĩa chủ quyền đã được xác lập đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam không hề mất đi.

Từ sau khi Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa đến ngày 30/4/1975 Việt Nam hoàn toàn thống nhất, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra nhiều tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc như: ngay trong ngày 19/1/1974 ra “Tuyên cáo của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về những hành động gây hấn của Trung Quốc trong khu vực đảo Hoàng Sa”; ngày 14/2/1974  ra “Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng hòa”; năm 1974, Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Cục Tâm lý chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuất bản Tài liệu “Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa”; năm 1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa ra “Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Việt Nam Cộng hòa cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa, phản đối hành động của Trung Quốc trước Liên hợp quốc; đề nghị các quốc gia đồng minh đưa vấn đề Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. 

Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng nhiều lần lên tiếng phản đối Trung Quốc, trong đó có việc ngày 20/1/1974 ra Tuyên bố phản đối hành động xâm lược Hoàng Sa của Trung Quốc. Sau ngày tiếp quản miền Nam (30/4/1975), Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Vào ngày 5/6/1976, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên tiếng khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền Việt Nam, từ trước đến nay đều do người Việt Nam quản lý.

Chính quyền của nước Việt Nam thống nhất được thành lập trên cơ sở hợp nhất chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và phản đối việc Trung Quốc xâm lược, chiếm đóng bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; nhất mạnh bất cứ hoạt động nào của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Hoàng Sa đều là bất hợp pháp và vô giá trị.

Ngoài ra, không chỉ có Việt Nam trong những năm gần đây, cộng đồng quốc tế cũng lên tiếng phản đối các hoạt động bất hợp pháp của Trung Quốc ở Hoàng Sa, nhất là việc Bắc Kinh bồi đắp mở rộng các thực thể và quân sự hóa Hoàng Sa. Mỹ đi đầu trong việc triển khai các chiến dịch tự do hàng hải (FONOP) ở Hoàng Sa với việc cho các các tàu chiến Mỹ đã nhiều lần đi cắt ngang qua quần đào Hoàng Sa nhằm phá bỏ “đường cơ sở thẳng” mà Trung Quốc ngang nhiên vạch ra ở quần đảo này, bảo vệ trật tự dựa trên pháp luật ở khu vực Hoàng Sa nói riêng và Biển Đông nói chung.

Tóm lại, dù hiện nay, Trung Quốc đang kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, nhưng theo luật pháp quốc tế, việc dùng vũ lực để chiếm đóng, kiểm soát một vùng lãnh thổ đang thuộc chủ quyền của nước khác là không thể chấp nhận được. Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Trong suốt 50 năm qua, các nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ không ngừng phản đối việc chiếm đóng và các hành động Trung Quốc triển khai ở Hoàng Sa, điều này khiến danh nghĩa về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa không hề bị suy yếu đi mà sẽ trường tồn theo thời gian. Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc.

]]>
Công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa vẫn diễn ra hàng ngày, hàng giờ https://biendong.net/2024/01/19/cong-cuoc-dau-tranh-bao-ve-chu-quyen-cua-viet-nam-tren-quan-dao-hoang-sa-van-dien-ra-hang-ngay-hang-gio/ Fri, 19 Jan 2024 03:20:00 +0000 https://biendong.net/?p=120881 Hoàng Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông. Đây là một sự thật không thể chối cãi. Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất quản lý quần đảo này liên tục, hòa bình, và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Về mặt lịch sử, sự thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa đã được các nhà nước Việt Nam tiến hành một cách xuyên suốt ít nhất từ thế kỷ XV đến nay: từ nhà nước phong kiến Việt Nam, nhà nước thuộc địa Pháp ở Đông Dương, các nhà nước ở miền Nam Việt Nam trong thời đất nước bị tạm thời chia cắt (Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa), và nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng hòa và chiếm đóng quần đảo này từ đó đến nay. Thời gian qua, một số người lo ngại rằng nếu Việt Nam không kiện ra tòa án quốc tế về vấn đề này thì 50 năm kể từ ngày toàn bộ Hoàng Sa bị chiếm đóng (tức là sau ngày 19 tháng 1 năm 2024), Việt Nam sẽ vĩnh viễn mất phần lãnh thổ này về tay Trung Quốc. Bài viết này phân tích, theo quy định của luật pháp quốc tế, việc Trung Quốc dùng vũ lực để đánh chiếm bất hợp pháp Hoàng Sa năm 1974 mãi mãi không làm thay đổi chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên quần đảo này và nhà nước Việt Nam vẫn đang liên tục có các động thái rõ ràng và kiên quyết để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của mình tại đây.

Hành vi đánh chiếm bất hợp pháp Hoàng Sa không thể làm suy chuyển chủ quyền Việt Nam trên quần đảo này 

Luật pháp quốc tế nghiêm cấm việc một quốc gia sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ của một quốc gia khác. Điều 2 Hiến chương của Liên hợp quốc, một trong những văn kiện pháp lý toàn cầu quan trọng nhất, quy định “trong quan hệ quốc tế, các Thành viên không đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của các quốc gia khác, hoặc theo cách thức khác trái với các Mục đích của Liên hợp quốc.” Trên thực tế, nghĩa vụ cấm sử dụng vũ lực và đe sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, mang tính bắt buộc đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo đó, việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là một hành vi phi pháp, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

Sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác không đem lại chủ quyền hợp pháp cho quốc gia xâm chiếm. Theo Tuyên bố các nguyên tắc của luật pháp quốc tế liên quan đến quan hệ thân thiện và hợp tác giữa quốc gia theo Hiến chương Liên hợp quốc (Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc), thì mọi hành vi thụ đắc lãnh thổ thông qua đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực sẽ không được coi là hợp pháp. Tòa án Công lý Quốc tế, trong Ý kiến tư vấn liên quan đến sự kiện Israel xây tường trong các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Palestine năm 2004, cũng khẳng định các quốc gia khác không được công nhận tình trạng phi pháp do Israel gây ra cũng như không được giúp đỡ duy trì tình trạng này.

Như vậy, việc Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa từ năm 1974 (và một phần của quần đảo từ năm 1956 trước đó) không làm mất đi chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với vùng lãnh thổ này. Bên cạnh đó, sẽ không một quốc gia nào trên thế giới công nhận tình trạng chiếm đóng cũng như các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa.

Các quy định của luật pháp quốc tế về xác lập chủ quyền theo thời hiệu

Xác lập chủ quyền theo thời hiệu là phương thức thụ đắc lãnh thổ đối với các vùng đất không phải là vô chủ, đặc biệt là các vùng đất mà trước đó đã thuộc về quốc gia khác. Luật pháp quốc tế cho phép một quốc gia được xác lập chủ quyền đối với một khu vực lãnh thổ thuộc về một quốc gia khác bằng cách chiếm hữu lãnh thổ này một cách công khai, hòa bình, hợp pháp trong một thời gian kéo dài mà không bị phản đối, tranh chấp. Trong vụ tranh chấp đá Pedra Branca giữa Malaysia và Singapore năm 2008, Tòa án Công lý Quốc tế đã công nhận chủ quyền của Singapore đối với hòn đảo này mặc dù trước đó đá Pedra Branca thuộc chủ quyền của Malaysia. Sở dĩ Tòa đưa ra phán quyết như vậy là vì Singapore đã thực hiện các hoạt động chiếm hữu vùng lãnh thổ này trong một thời gian dài mà Malaysia không có bất kỳ hành động phản đối nào.     

Luật pháp quốc tế không quy định cụ thể về thời gian chiếm hữu cần thiết để một quốc gia có thể xác lập được chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ theo thời hiệu. Thời hạn này có thể là 50 năm (như trong vụ phân định biên giới giữa Guiana thuộc Anh và Venezuela năm 1899, do các bên tự thống nhất với nhau), 73 năm (như trong vụ xác định chủ quyền trên đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan năm 1928) hay khoảng 130 năm (như trong vụ xác định chủ quyền đối với Đá Trắng đã nói ở trên). Tóm lại, không có một thời hạn nào được quy định trước đối với xác lập chủ quyền theo thời hiệu mà sẽ thời hạn này sẽ thay đổi tùy vào hoàn cảnh cụ thể.

Liên quan đến việc Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa, ngay từ năm 1974, hành vi dùng vũ lực để đánh chiếm quần đảo này đã là phi pháp nên không thể coi hành vi chiếm hữu ở đây của Trung Quốc là hòa bình và hợp pháp. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn luôn luôn có các động thái kiên quyết và kịp thời để khẳng định chủ quyền của mình và phản đối sự chiếm đóng phi pháp của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa.

 Việt Nam vẫn liên tục có các động thái thực thi, bảo vệ chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa

Lập trường của chính phủ Việt Nam đối với chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa) là rất nhất quán; theo đó, Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất quản lý quần đảo này liên tục, hòa bình, và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Về mặt nội bộ, Hoàng Sa được đặt dưới sự quản lý của Ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa, trực thuộc thành phố Đà Nẵng với Chủ tịch nhiệm kỳ 2021-2026 là ông Võ Ngọc Đồng, Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng. Ngoài việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, chính quyền huyện đảo Hoàng Sa vẫn thường xuyên thực hiện các hoạt động tuyên truyền, thông tin về quần đảo này như quản lý Nhà trưng bày Hoàng Sa, tham gia các diễn đàn và hỗ trợ cung cấp thông tin về lịch sử, pháp lý, thực tế quản lý liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cho các nhà nghiên cứu, cơ quan thông tấn báo chí và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Về mặt đối ngoại, Bộ Ngoại giao Việt Nam luôn phản đối các hành vi của Trung Quốc cũng như bất cứ quốc gia, bên nào vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Những phản đối này được thể hiện dưới nhiều hình thức: giao thiệp ngoại giao, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao phát biểu, thậm chí là gửi Công thư lên Liên hợp quốc. Chẳng hạn, ngày 25 tháng 9 năm 2023, trước việc Trung Quốc lắp đặt và đưa vào sử dụng 2 trạm nhận dạng tàu thuyền tự động tại Đá Bắc và Đá Bông Bay thuộc quần đảo Hoàng Sa, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã nêu rõ: “Việc Trung Quốc lắp đặt và đưa vào sử dụng hai trạm nhận dạng tàu thuyền tự động tại Đá Bắc và Đá Bông Bay thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Mọi hoạt động trên quần đảo Hoàng Sa mà không được phép của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và hoàn toàn không có giá trị. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng đầy đủ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, không tái diễn những vi phạm tương tự”.

Những thông tin trên cho thấy, chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa sẽ trường tồn cùng thời gian và Nhà nước Việt Nam vẫn luôn khẳng định, thực thi, bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với phần lãnh thổ không thể tách rời này.

]]>
Sự kiện TQ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, bài học về bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và tương lai https://biendong.net/2024/01/19/su-kien-tq-danh-chiem-hoang-sa-nam-1974-bai-hoc-ve-bao-ve-chu-quyen-bien-dao-hien-nay-va-tuong-lai/ Fri, 19 Jan 2024 03:17:00 +0000 https://biendong.net/?p=120878 Cách đây đúng 50 năm, ngày 19/1/1974, với dã tâm, tham vọng bành trướng lãnh thổ, giới cầm quyền tại Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế và bỏ qua quan hệ “đồng chí anh em” vốn được xây đắp từ những năm tháng chiến tranh cách mạng của hai nước, trắng trợn dùng lực lượng Hải quân được vũ trang đầy đủ, tiến hành đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, sự kiện “nhức nhối” đối với Việt Nam và đáng hổ thẹn này đối với Trung Quốc vẫn không thể nằm yên. Nhiều chuyên gia học giả, nhà nghiên cứu sẽ vẫn phải tốn nhiều giấy mực để tiếp tục nghiên cứu về sự kiện trên nhiều khía cạnh khác nhau nhằm luận giải, chiêm nghiệm hoặc là soi chiếu vào những gì đang xảy ra hiện nay. Bài viết này sẽ tiếp cận theo hướng tìm hiểu lý do, tại sao Trung Quốc lại hành xử như vậy và đạt được mục tiêu gì vào thời điểm đó, những bài học lịch sử nào cần rút ra từ sự kiện trên để giúp chúng ta đấu tranh, bảo vệ hiệu quả, vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong tình hình mới.

Bắc Kinh từ lâu đã có ý đồ thôn tính quần đảo Hoàng Sa, nhưng không có cơ sở pháp lý, buộc phải tính toán, chọn thời cơ thuận lợi nhất để đánh chiếm

Từ năm 1909, chính quyền của triều đại phong kiến Mãn Thanh ở Trung Quốc đã bắt đầu có dã tâm “nhòm ngó” đến một quần thể các đảo đá nhỏ kề cận nhau nổi lên ở góc phía Đông Bắc Biển Đông, phía Nam đảo Hải Nam mà được những người đi biển gọi là Hoàng Sa. Đến thời Quốc Dân Đảng của Tôn Trung Sơn, chính thể này bắt đầu âm thầm đưa quân ra đồn trú trên một số đảo để tạo ra “chuyện đã rồi”, đồng thời phát hành bản đồ “đường mười đoạn” để “đánh dấu” chủ quyền ở Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa. Có thể gọi đó là hành động “xâm lăng bằng giấy mực”. Đến thời nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, giới lãnh đạo chính thể này có mưu toan chiếm đoạt Hoàng Sa trên thực tế nhưng họ không có đủ cơ sở pháp lý nào để hành động, duy nhất chỉ có mỗi cách là “chiếm lấy” bằng vũ lực bởi vào thời điểm đó, Hoàng Sa đã là của Việt Nam, thuộc chủ quyền và quyền quản lý của Việt Nam từ lâu. Tuy nhiên, đánh chiếm được quần đảo này vào lúc nào và giữ được lâu dài thì còn phải phụ thuộc vào thời cơ và thực lực, khả năng hành động. Trong khi chờ đợi các yếu tố trên xuất hiện, Bắc Kinh “chơi bài” gặm nhấm lãnh thổ. Theo đó, năm 1956, Trung Quốc đánh chiếm nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông Hoàng Sa; Đài Loan chiếm đảo Ba Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa. Năm 1959, một số lính Trung Quốc đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm đảo này nhưng bị quân đội Việt Nam Cộng hòa phát hiện và bắt giữ. Từ năm 1970 – 1971, quân đội Trung Quốc đã cho xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự bí mật ở nhóm An Vĩnh này để chiếm đóng.

Thời cơ mà Trung Quốc chờ đợi xuất hiện vào đầu năm 1974. Đó là lúc họ lợi dụng được sự hội tụ của các yếu tố thuận lợi để hành sự và đạt được ý đồ. Đó là:

Thứ nhất, Trung Quốc nghiên cứu và phán đoán chính xác khả năng Mỹ và Liên Xô sẽ không can thiệp nếu họ đánh chiếm Hoàng Sa.

Vào thời điểm đó, quan hệ Mỹ – Xô bước vào thời kỳ hòa dịu sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Hai nước tăng cường đối thoại và đàm phán giải trừ quân bị, giảm đối đầu, tập trung vào việc giải quyết các khó khăn nội bộ. Về phía Mỹ, do bị thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và phải đối phó với các bất ổn chính trị trong nước do vụ bê bối Watergate gây ra, khiến nước này phải giảm can dự vào Đông Dương, từng bước bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Theo đó, tháng 6/1973, Quốc hội Mỹ ban hành đạo luật Case-Church cấm chính phủ tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi được Quốc hội chấp thuận; Mỹ cắt giảm hỗ trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn từ 1,4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ USD năm 1973 và 700 triệu USD năm 1974. Về phía Liên Xô, nước này cũng đang phải vất vả đối phó với những rạn nứt nghiêm trọng trong nội bộ khối các nước xã hội chủ nghĩa, cũng như sự phân liệt Xô – Trung. Thập kỷ 70 cũng là giai đoạn chứng kiến cái “bắt tay” giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm chống lại Liên Xô để từ đó hình thành nên tam giác quan hệ Mỹ – Xô – Trung.

Trên thực tế, sự không can thiệp của Mỹ vào tình hình Việt Nam đã được Trung Quốc bảo đảm bằng cách thỏa thuận trực tiếp trong khuôn khổ chuyến thăm tới Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972. Nếu không có sự làm ngơ của Mỹ thì Trung Quốc khó có thể tiến hành đánh chiếm Hoàng Sa bởi trước đó, trong suốt thời kỳ 1959 – 1973, xung quanh quần đảo này đều có Hải quân Mỹ hoạt động thường xuyên. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chủ động xây dựng hình ảnh “sử dụng vũ lực vì mục đích tự vệ” để giảm nguy cơ can thiệp của Mỹ và Liên Xô, đó là ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc không được nổ súng trước, đồng thời tiến hành các hoạt động khiêu khích như thả neo tại đảo Hữu Nhật, nhanh chân chiếm giữ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Duy Mộng, Quang Hòa để khi quân của Việt Nam Cộng hòa đến thì nổ súng cảnh báo, không cho tiếp cận đảo… từ đó buộc quân đội của Việt Nam Cộng hòa phải nổ súng tấn công phía Trung Quốc để giành lại đảo, tạo cơ hội cho Trung Quốc hành sự.  

Thứ hai, tận dụng yếu tố thời tiết giao thời để đánh chiếm Hoàng Sa.

Thông thường, từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm, thời tiết ở Biển Đông rất thuận lợi, ít có mưa bão, nhưng sau đó thì sẽ chuyển sang giai đoạn diễn biến phức tạp. Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ yếu tố này nhằm đảm bảo thành công cho việc đánh chiếm, bởi đây là trận đánh xa bờ đầu tiên của Hải quân Trung Quốc với một đối thủ bên ngoài. Từ nghiên cứu đó, quân đội Trung Quốc đã chủ động khiêu khích quân đội Việt Nam Cộng hòa trước vào đầu tháng 1/1974 để tấn công đánh chiếm Hoàng Sa, trước khi các cơn bão Đông Bắc nổi lên với tốc độ gió giật 40 hải lý/giờ, vì nếu xuất quân muộn hơn so với quãng thời gian trên sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Thứ ba, lợi dụng lúc Việt Nam Cộng hòa rơi vào tình thế suy yếu, bị cô lập và đang gặp nhiều bất lợi.

Trước khi đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã nhìn thấy được tình cảnh bi đát lúc đó của Việt Nam Cộng hòa là bị đồng minh Mỹ bỏ rơi, lại đang bị hạn chế về sức mạnh quân sự. Khi cuộc hải chiến Hoàng Sa diễn ra, mặc cho Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần kêu gọi yểm trợ, nhưng Mỹ đã “khoanh tay ngồi yên”, không có động thái nào hỗ trợ. Hạm đội 7 của Mỹ lúc đó đang ở Philippines đã nhận được lệnh không được có bất kỳ hành động can thiệp nào vào Hoàng Sa. Hải đoàn 77 của Hải quân Mỹ ở ngoài khơi Việt Nam, gần với Hoàng Sa cũng “giả điếc” dù đơn vị này có tàu sân bay và chiến hạm yểm trợ, đủ sức kiểm soát không phận, hải phận và hoạt động của các tàu ngầm trong Vịnh Bắc Bộ. Bản thân Việt Nam Cộng hòa tuy lúc đó vẫn đang chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây Hoàng Sa, nhưng đã phải rút dần lực lượng đồn trú tại đây để dồn về đất liền. Trang bị quân sự của Hải quân Việt Nam Cộng hòa lúc đó yếu kém, cũ kỹ, thiếu nhiên liệu, gây cản trở cho việc phối hợp giữa các lực lượng khi chiến đấu trên thực địa.

Thứ tư, phía Việt Nam dân chủ Cộng hòa đang giành ưu tiên cao hơn cho mục tiêu thống nhất đất nước.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), đất nước Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị chia cắt. Vào thời điểm đó, phía Việt Nam dân chủ Cộng hòa đang dồn sức chuẩn bị cho giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Đây là nhiệm vụ cấp bách hơn việc giành quyền kiểm soát thực tế đối với quần đảo Hoàng Sa. Bởi khi đó quần đảo này vẫn đang nằm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa.

Thứ năm, Trung Quốc có lợi thế về khoảng cách địa lý để tiếp cận, đánh chiếm Hoàng Sa.

Do đã chiếm đóng được nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông Hoàng Sa từ trước, nên Trung Quốc có thể dễ dàng lấy An Vĩnh làm điểm tựa để tấn công sang phía Tây Hoàng Sa. Bên cạnh đó, đảo Hải Nam của Trung Quốc cũng gần Hoàng Sa, nhờ đó có thể điều quân tiếp viện đến Hoàng Sa một cách nhanh chóng. Bằng chứng là ngày 16/1/1974, Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc đã ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam chở lực lượng ra Hoàng Sa để tập trung binh lực. Trong cuộc đấu pháo ở đảo Quang Hòa với quân Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc cũng đã nắm ưu thế áp đảo nhờ lực lượng tăng viện là không quân triển khai từ đảo Hải Nam.

Thứ sáu, bất ổn chính trị nội bộ Trung Quốc gây sức ép buộc Bắc Kinh phải hành động để đẩy áp lực dư luận trong nước ra bên ngoài.

Vào thời điểm đó, cuộc khủng hoảng dầu lửa do các nước Trung Đông phát động năm 1973 đã khiến Trung Quốc gặp khó khăn và phải tìm đến nguồn dầu khí xa bờ, tức là hướng ra biển để khai thác. Từ tháng 12/1973, Trung Quốc đã cho khoan giếng dầu trên đảo Phú Lâm. Ngoài ra, cuộc Cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông phát động đã gây nên những hậu quả nặng nề cho nước này, làm cho các mâu thuẫn trong nội bộ càng thêm trầm trọng. Tình hình trên đòi hỏi Trung Quốc phải tìm được nguồn dầu khí mới đáp ứng cho phát triển và hướng sự chú ý của dư luận trong nước ra bên ngoài thông qua kích động chủ nghĩa dân tộc và tinh thần yêu nước bằng chiến tranh. Họ lấy Hoàng Sa ra để giải quyết bài toán “nhất cử lưỡng tiện”.

Thứ bảy, Đài Loan gián tiếp giúp đỡ Trung Quốc.

Trước khi khởi sự đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận “ngầm” với Đài Loan. Theo đó, Vùng lãnh thổ này đã đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong cuộc chiến, bởi dù đối đầu nhau gay gắt, nhưng Trung Quốc và Đài Loan đều đồng thuận rằng, Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Trên thực tế, tàu ngầm của Trung Quốc đã được phép đi qua eo biển Đài Loan, con đường ngắn nhất dẫn đến Hoàng Sa, mặc dù trước đó, Đài Loan luôn phản đối điều này.

Sau khi nhận thấy những cơ hội thuận lợi đã đến, ngày 15/1/1974, chưa đầy một năm sau khi Hiệp định Paris về chiến tranh ở Việt Nam được ký kết, Bắc Kinh đã đổ quân lên các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Bốn ngày sau đó, tức ngày 19/1/1974, Hải quân Trung Quốc tấn công và chiếm toàn bộ các hòn đảo trên quần đảo này mặc dù Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã kháng cự quyết liệt, nhưng do “thế cùng lực tận” nên cũng phải rút lui, chấp nhận thất bại.

Trước hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc, đại diện Việt Nam Cộng hòa tại Liên hợp quốc đã đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng gửi công hàm ngoại giao đến tất cả các bên ký kết Hiệp định Paris, yêu cầu mở một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để xem xét hành động của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc với quyền phủ quyết của mình trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã ngăn chặn tất cả những nỗ lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 02/7/1974, đại diện của Việt Nam Cộng hòa đã đưa ra tuyên bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa. Tiếp đó, ngày 14/2/1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa công bố “Sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa”. Mặc cho những sự phản đối liên tiếp này của Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc vẫn chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng trên đó cho đến nay. 

Bài học lịch sử cần rút ra cho việc đấu tranh, bảo vệ hiệu quả, vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong tình hình mới

Đầu tiên, sự kiện Hoàng Sa ngày 19/01/1974 cho thấy, Trung Quốc đã công khai sử dụng vũ lực vào thời điểm khó khăn, phức tạp nhất của Việt Nam để đánh chiếm, đòi hỏi chủ quyền của họ ở đây. Mục đích của hành động này là nhằm biến vùng lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam thành “vùng tranh chấp”, từ đó dựa vào sự chiếm đóng và sức mạnh nước lớn để cưỡng đoạt vĩnh viễn hoàn toàn. Năm mươi năm đã trôi qua, tuy Hoàng Sa vẫn nằm dưới sự chiếm đóng của Trung Quốc, nhưng dựa trên những bằng chứng pháp lý, chứng cứ lịch sử mà Việt Nam đưa ra trước thế giới, quần đảo này mãi mãi vẫn thuộc về chủ quyền của Việt Nam, không ai có thể phủ nhận. Nhà nước Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, qua đó khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử về chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa, là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Đồng thời, chính phủ và các cơ quan chức năng của Việt Nam đã kiên trì không mệt mỏi, nhiều lần phản đối cách hành động trái phép của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa, liên tục giao thiệp với các tổ chức quốc tế, nhất là các tổ chức quan trọng của Liên hợp quốc, các nước trên thế giới để thể hiện lập trường, quan điểm và chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước, các tổ chức đó; đồng thời, chứng minh rõ hành động “làm chủ” quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc là hành động sử dụng vũ lực để “ăn cướp” và chiếm đóng lãnh thổ của nước khác chứ không phải là hành động “chiếm giữ tự nhiên” nên không thể được luật pháp quốc tế công nhận. Năm mươi năm qua, chúng ta đã làm tốt việc bảo vệ danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa nên đã tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong nhân dân trong và ngoài nước. Đây là bài học quý giá, cần tiếp tục làm tốt hơn nữa trong thời gian tới.

Hai là, vấn đề Biển Đông hiện đã trở thành vấn đề quốc tế, có liên quan đến các nước lớn, do đó trong khi quan hệ với các nước lớn để đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, Việt Nam vẫn cần phải hết sức cảnh giác. Bởi vì hiện nay, hợp tác đan xen cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt và đều xoay quanh trục lợi ích, lấy lợi ích là thước đo cao nhất, khiến quan hệ quốc tế trở nên khó dự báo, tạo ra cơ hội lẫn thách thức đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Chính vì thế, nên khi quan hệ với các nước này phải lấy mục tiêu bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ tức là bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc, làm tiêu chuẩn cao nhất để quyết định mức độ quan hệ hợp tác. Ai ủng hộ và có việc làm phù hợp với mục tiêu này, Việt Nam ủng hộ; ai làm ngược lại, Việt Nam kiên quyết đấu tranh. Tuy nhiên, như trên đã nói, hợp tác và cạnh tranh giữa các nước lớn đều xoay quanh trục lợi ích. Do đó, rất có thể vì lợi ích và để thực hiện tham vọng nước lớn của mình, họ sẵn sàng trao đổi trên lưng Việt Nam để đạt được mục tiêu chiến lược. Sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 là bài học đắt giá về vấn đề này.

Ba là, hiện nay, Hoàng Sa vẫn bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, trong khi ở Trường Sa, Việt Nam cũng có tranh chấp với một số nước trong khu vực, trong đó có Trung Quốc. Tất cả những nước này đều có quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh với Việt Nam. Như vậy, trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông, Việt Nam có cả đối tượng lẫn đối tác. Phương châm đặt ra là gặp đối tác thì hợp tác, còn khi trở thành đối tượng thì phải đấu tranh. Tuy nhiên, trong đấu tranh với đối tượng không có nghĩa là phân tuyến đối đầu, “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với nhau mà cần tranh thủ mọi cơ hội tìm hiểu, tạo lòng tin để đi đến tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau phù hợp luật pháp quốc tế, tìm biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp bất đồng và mở rộng hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Lời khuyên kinh điển của các nhà quân sự lỗi lạc rằng, “không đánh mà thắng mới là sự mẫn tiệp và khôn ngoan nhất của người cầm quân”, luôn luôn đúng.

Bốn là, qua sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và thực tế xảy ra trên Biển Đông thời gian qua đã chỉ ra bài học là không được mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; không chọn bên, không chọn phe nhóm, chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Năm là, “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết người, biết mình, luôn làm chủ tình thế. Bác Hồ đã chỉ rõ, trong quan hệ với các nước lớn, phải hiểu được các nước lớn, dù là đồng minh hay đối thủ, biết được mối quan tâm và chiến lược cơ bản của họ, hiểu bản chất sự vận hành nội trị và ngoại giao của từng nước lớn, quan hệ hợp tác và đấu tranh giữa các nước lớn cùng những giới hạn của các mối quan hệ đó. Chỉ khi “biết người” như vậy thì mới có thể độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền nhưng vẫn mềm dẻo linh hoạt trogn xử lý quan hệ với các nước.

Sáu là, Phải xây dựng đất nước ta thật vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng và phát huy hơn nữa sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớxt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Bác Hồ đã từng nhắc nhở: “Ta có mạnh thì họ mới đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Những bài học rút ra từ sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa cách đây 50 năm không thể bị lãng quên, xếp vào “tủ đá”, mà vẫn phải thường xuyên được “hâm nóng” để các thế hệ người Việt Nam, từ giới lãnh đạo cao nhất đến những người dân bình thường đều thấu hiểu, ghi nhớ. Từ đó có sự chủ động nhạy bén, dự báo chính xác, kịp thời đưa ra các đối sách phù hợp, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo trong mọi hoàn cảnh, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Làm được như vậy, không chỉ là thể hiện tình cảm, tình yêu Tổ quốc, mà còn là cách để chúng ta tri ân những người con ưu tú của đất nước đã hy sinh anh dũng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đồng thời góp phần thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ cách đây 63 năm (1961) khi Người về thăm Quân chủng Hải quân: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

]]>