Văn bản pháp lý quốc tế – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 23 Dec 2024 07:02:20 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Diễn biến pháp lý mới trên Biển Đông: Philippines đệ trình ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng                         https://biendong.net/2024/12/07/dien-bien-phap-ly-moi-tren-bien-dong-philippines-de-trinh-ranh-gioi-ngoai-them-luc-dia-mo-rong/ Sat, 07 Dec 2024 04:54:38 +0000 https://biendong.net/?p=141856 Ngày 14/6/2024, ngày cuối cùng khoá họp lần thứ 34 của Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS 1982, kỷ niệm 30 năm UNCLOS 1982 có hiệu lực, diễn ra từ ngày 10 – 14/6/2024 tại trụ sở của Liên hợp quốc, Phái đoàn thường trực Cộng hòa Philippines tại New York/Mỹ đã đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (CLCS) bản báo cáo một phần về các thông tin liên quan đến ranh giới thềm lục địa của nước này mở rộng bên ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trên Biển Đông.

Đây là lần đệ trình thứ hai của Philippines. Trước đó, nước này đã đệ trình báo cáo vào năm 2009 liên quan đến khu vực Benham Rise ở Thái Bình Dương.

Báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của Philippines chồng lấn với chủ quyền của các nước có liên quan khác ở Biển Đông

Theo qui định của UNCLOS 1982, thời hạn cuối cùng để các nước đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS là ngày 13/5/2009. Tại Biển Đông, Indonesia là nước đầu tiên trình ranh giới ngoài thềm lục địa tại khu vực Tây Bắc đảo Sumatra Island vào ngày 16/6/2008. Việt Nam trình một phần ở khu vực Bắc Biển Đông (VN-N) ngày 06/5/2009. Hồ sơ chung Malaysia – Việt Nam được trình ngày 07/5/2009 và Malaysia đệ trình một phần riêng của mình ngày 12/12/2019. Philippines trình hồ sơ riêng về ranh giới ngoài thềm lục địa bên ngoài Biển Đông, tại khu vực Benham Rise ngày 08/4/2009 và đã được CLCS đưa ra các kiến nghị ủng hộ ngày 12/4/2012.

Khu vực thềm lục địa ngoài 200 hải lý mà Philippines yêu sách trong bản báo cáo lần này nằm ở phía Tây đảo Palawan, thuộc khu vực giữa Biển Đông. Phía Philippines bày tỏ việc đệ trình báo cáo của mình là nhằm mục đích xây dựng lòng tin, thúc đẩy hợp tác và giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới biển. Đồng thời, ghi nhận báo cáo của mình có thể chồng lấn với báo cáo của Việt Nam ở phía Bắc Biển Đông năm 2009, báo cáo chung giữa Việt Nam và Malaysia năm 2009 và báo cáo gần đây nhất của Malaysia năm 2019. Tuy nhiên, Philippines khẳng định việc này được thực hiện phù hợp với Điều 76 của UNCLOS 1982, phù hợp với Phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) về tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông năm 2016. Phía Philippines cho biết, sẵn sàng thảo luận với các nước liên quan để phân định biển.

Phạm vi thềm lục địa mở rộng mà Philippines yêu sách trong bản báo cáo lần này cho thấy: 1/ Nước này yêu sách cả thềm lục địa mở rộng từ đảo Sabah/North Borneo, nơi đang có tranh chấp chủ quyền với Malaysia; 2/ Ngoài chồng lấn với các khu vực báo cáo đệ trình chung của Việt Nam và Malaysia, báo cáo đệ trình ở phía Bắc Biển Đông của Việt Nam, báo cáo đệ trình của Malaysia năm 2019, yêu sách của Philippines lần này còn chồng lấn với vùng thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam tính từ đường cơ sở.

Philippines tính toán gì khi tiếp tục đệ trình báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS

Như trên đã nói, hạn cuối cùng để đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS là năm 2009. Thế nhưng, theo Bộ Ngoại giao Philippines, nước này phải mất hơn 15 năm “nghiền ngẫm” để chuẩn bị cho việc đệ trình báo cáo lần này. Giải thích về vấn đề này, ông Marshall Louis Alferez – Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Philippines phụ trách các sự vụ hàng hải và đại dương cho rằng: “Các sự cố trên biển có xu hướng làm lu mờ tầm quan trọng của những thứ nằm bên dưới. Đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trải dài từ quần đảo của chúng tôi lên đến mức tối đa được UNCLOS 1982 cho phép hiện nắm giữ các nguồn tài nguyên tiềm năng đáng kể, vốn sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia và người dân của chúng tôi trong nhiều thế hệ tiếp theo”. Vì thế, ông này nhấn mạnh: “Hôm nay, chúng tôi bảo đảm tương lai của mình bằng cách thể hiện đặc quyền của mình trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quyền ECS của chúng tôi”. Mặt khác, đệ trình báo cáo này diễn ra trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông ngày càng gia tăng, đặc biệt là từ tháng 3/2023 đến nay, tàu Hải cảnh Trung Quốc liên tục sử dụng vòi rồng tấn công vào tàu chở hàng tiếp tế của Philippines ở bãi Cỏ Mây. Vì thế, việc làm của Philippines vào thời điểm này có thể xuất phát từ một số tính toán sau:

Thứ nhất, chính quyền Tổng thống Marcos Jr muốn tiếp tục khẳng định giá trị pháp lý mà phán quyết của PCA đã đưa ra ngày 12/7/2016. Bởi: Một là, báo cáo trên được Philippines đưa ra ngày 14/6/2024, nghĩa là trước dịp kỷ niệm 8 năm ngày PCA ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông gần một tháng. Bằng việc làm này, Philippines một lần nữa muốn “nhắc nhở” Trung Quốc rằng, Phán quyết của PCA có giá trị pháp lý và mang tính ràng buộc, trong khi đó Trung Quốc là thành viên của UNCLOS 1982, nên phải có nghĩa vụ thực thi phán quyết này. Nhiều nước trên thế giới đã từng lên tiếng về vấn đề này đối với Trung Quốc. Chỉ tính riêng hai năm 2020 – 2021, “cuộc chiến pháp lý” dựa trên Phán quyết của PCA và UNCLOS 1982 đã diễn ra với 25 công hàm, 2 thư ngoại giao và 1 tuyên bố gồm: 1 tuyên bố từ Brunei, 9 công hàm và 1 công thư từ Trung Quốc, 3 công hàm từ Malaysia, 3 công hàm từ Philippines, 3 công hàm từ Việt Nam, 2 công hàm từ Indonesia, 1 công hàm từ Australia, Pháp, Anh, Đức, Nhật và 1 công thư từ Mỹ. Trừ Trung Quốc, nội dung các công hàm trên đều thể hiện: 1/ Kêu gọi công nhận sự thống nhất và tính phổ quát của UNCLOS 1982 trong việc quy định khung pháp lý cần thiết cho mọi hoạt động trên biển và đại dương phải tuân theo. UNCLOS 1982 là cơ sở pháp lý căn bản để giải quyết các tranh chấp biển; 2/ Phán quyết ngày 12/7/2016 của PCA là chung thẩm và bắt buộc với các bên tranh chấp, cụ thể là Philippines và Trung Quốc; 3/ Các thực thể ở Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý; 4/ Quyền tự do hàng hải và hàng không trong Biển Đông cần phải được tôn trọng; 5/ Phương pháp vẽ đường cơ sở quần đảo chỉ được áp dụng cho các quốc gia quần đảo và chúng không thể được áp dụng một cách bất hợp pháp cho các đảo xa bờ của quốc gia ven biển; 6/ Các hoạt động cải tạo đất và tất cả các hình thức chuyển hóa nhân tạo khác không làm thay đổi quy chế pháp lý và sự phân loại các thực thể trên biển theo UNCLOS 1982; 7/ Yêu sách liên quan đến thực thi “các quyền lịch sử” tại Biển Đông của Trung Quốc là không phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Hai là, Phán quyết của PCA tạo khả năng cho phép mở rộng thềm lục địa từ các đảo chính của Philippines trong khi làm rõ mỗi thực thể biển ở quần đảo Trường Sa chỉ có lãnh hải tối đa 12 hải lý. 

Thứ hai, báo cáo của Philippines có thể nhằm bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đòi yêu sách ở Biển Đông thông qua tấm bản đồ “đường chín đoạn” (nay là 10 đoạn) chiếm hơn 80% diện tích vùng biển này. Tuy nhiên, đây là tấm bản đồ được “sáng tác” dưới thời Quốc dân đảng, không dựa trên một quy chuẩn pháp lý nào cả, thế cho nên Trung Quốc mới “tùy ý” thêm hoặc bớt các “đoạn” nếu muốn. Phán quyết của PCA năm 2016 đã bác bỏ yêu sách này của Trung Quốc, khẳng định bản đồ “đường chín đoạn” của Trung Quốc là không có cơ sở pháp lý. Điều này cũng có nghĩa là Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi “quyền lịch sử” đối với các nguồn tài nguyên bên trong các vùng biển nằm trong “đường chín đoạn”. Báo cáo thông tin về ranh giới ngoài thềm lục địa lần này của Philippines nằm trong phạm vi “đường chín đoạn” đó, vì vậy có thể xem đây là một hành động pháp lý tiếp theo của Manila nhằm phủ nhận, bác bỏ yêu sách trên của Trung Quốc.

Thứ ba, Manila có thể muốn khẳng định tính pháp lý của đường cơ sở quần đảo Philippines năm 2012, đường này đã được sửa đổi cho phù hợp hơn với UNCLOS 1982 khi tách biệt yêu sách khu vực “Kalayaan” khỏi phạm vi quần đảo. 

Thứ tư, nó tạo điều kiện kích hoạt điều 5 của Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines 1951 mà theo đó, Mỹ có trách nhiệm bảo vệ các lực lượng vũ trang Philippines, các tàu và máy bay công vụ (bao gồm cả lực lượng cảnh sát biển) khỏi các cuộc tấn công vũ trang trong Biển Đông. Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngày 19/6/2024 đã nói với người đồng cấp Philippines Enrique A. Manalo rằng, “các hành động của phía Trung Quốc chống lại Philippines ở Biển Đông đã làm ảnh hưởng đến hoà bình và an ninh khu vực và tác động tới lợi ích của Mỹ”. 

Thứ năm, việc làm này có thể là một cách nhằm thúc đẩy tiến trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) đang bế tắc. Năm 2018, ASEAN và Trung Quốc chính thức khởi động trình tự đàm phán COC. Thủ tướng Trung Quốc khi đó là Lý Khắc Cường đã đưa ra mục tiêu hoàn tất đàm phán COC trong vòng 3 năm, nhưng đến nay đã 6 năm sau các cuộc đàm phán, COC vẫn chưa có tín hiệu tích cực nào, chứ đừng nói là đột phá. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc tháng 7/2023, hai bên tiết lộ đã hoàn thành vòng đọc văn kiện lần thứ hai. Bên cạnh đó, cũng áp dụng một bộ nguyên tắc chỉ đạo để đẩy nhanh tốc độ đàm phán. Song, ASEAN và Trung Quốc vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình đàm phán, nhất là các vấn đề như tính ràng buộc về pháp lý của COC, phạm vi địa lý bao phủ và hoạt động vi phạm lệnh cấm cụ thể. Trung Quốc không muốn COC có sự ràng buộc pháp lý, trong khi ASEAN lại muốn điều này. Tháng 11/2023, Philippines lấy lý do tiến trình đàm phán COC tiến triển chậm, trong khi Trung Quốc lại ngày càng vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền các nước trên Biển Đông, trong đó có Philippines. Vì vậy, Philippines đề xuất sẽ cùng Malaysia và Việt Nam thảo luận một COC khác về Biển Đông. Tuy nhiên, Việt Nam và Malaysia khó có thể chấp nhận đề xuất này của Philippines. Nói cách khác, COC sẽ khó đạt được đột phá đáng kể trong năm nay. Trong bối cảnh như vậy, việc Philippines đệ trình báo cáo trên là một “sức ép”, khiến cho các bên, đặc biệt là Trung Quốc có động lực để nỗ lực đàm phán COC hiện tại.

Cuối cùng và chưa phải là hết, đó là hiện nay, ông Efren Perez Carandang – đại diện của Philippines, đang là thành viên của CLCS nhiệm kỳ 2023 – 2028. Thời gian qua, ông này đã đưa ra các khuyến nghị trong quá trình chuẩn bị đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa của Philippines lên CLCS. Việc làm này cho thấy, Philippines có thể tiếp tục tranh thủ sự hiện diện của ông Efren Perez Carandang trong CLCS để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình ở Biển Đông.

Những thách thức đối với đệ trình báo cáo của Philippines

Tính toán của Philippines là vậy và còn có thể nhiều hơn nữa, nhưng thực hiện được không dễ, bởi quá trình đó Manila có thể gặp một số thách thức sau:

Thứ nhất, các điều kiện địa chất đáy biển của quốc gia quần đảo không thích hợp cho việc mở rộng bên ngoài lãnh hải theo “sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra biển cho tới rìa ngoài của thềm lục địa” do sự xuất hiện của máng sâu Palawan Trench, tạo ra đứt gãy. Đây có thể là lý do vì sao Philippines lựa chọn sử dụng phương pháp vòng cung không vượt quá 60 hải lý tính từ chân dốc thềm lục địa (FOS) theo Điều 76 mục 4 của UNCLOS 1982, thay cho phương pháp xác định ranh giới ngoài dựa trên bề dày trầm tích. Chính báo cáo đệ trình đã công nhận không sử dụng công thức trên do các dữ liệu về bề dày trầm tích không đủ trong khu vực West Palawan Region (WPR).

Thứ hai, phần phía Nam của báo cáo đệ trình mở rộng từ Sabah, vùng đất tranh chấp chủ quyền với Malaysia và do đó chồng lấn với hồ sơ chung năm 2009 của Việt Nam – Malaysia đệ trình về ranh giới ngoài thềm lục địa. 

Thứ ba, báo cáo đệ trình của Philippines có thể chồng lấn với báo cáo  riêng của Việt Nam ở khu vực miền Trung, nơi Việt Nam đã từng tuyên bố bảo lưu quyền chủ quyền của mình khi phản đối tuyên bố mở rộng thềm lục địa của Malaysia tháng 12/2019. 

Thứ tư, tranh chấp chủ quyền đối với các thực thể trong quần đảo Trường Sa vẫn tồn tại sẽ làm nảy sinh tiếp vấn đề phân định biển của các vùng đáy biển thuộc lãnh hải của các thực thể này với yêu sách thềm lục địa mở rộng của Philippines.  

Thứ năm, kết hợp các yêu sách đơn phương về thềm lục địa mở rộng với Phán quyết năm 2016 của PCA về các thực thể tại quần đảo Trường Sa chỉ nên có lãnh hải 12 hải lý, Biển Đông có thể có vùng Biển cả nhưng sẽ không có Vùng đáy biển di sản chung của loài người. Hoàn cảnh này sẽ làm nảy sinh các thách thức trong việc áp dụng chế độ quản lý biển thích hợp do các vùng biển có quy chế pháp lý khác nhau. 

Điểm sáng trong báo cáo đệ trình lần này của Philippines là họ thừa nhận sự tồn tại của các báo cáo đệ trình đã có trước kia của Việt Nam và Malaysia hơn là bác bỏ chúng và thể hiện mong muốn được thảo luận phân định biển với các nước liên quan. Báo cáo đệ trình cũng không nêu tên Trung Quốc cho đàm phán thềm lục địa.  

Phải chăng một “cuộc chiến pháp lý” mới sẽ bắt đầu

Ngay sau việc làm trên của Philippines, những nước có liên quan trực tiếp đã có phản ứng.

Với Malaysia. Nước này đã phản ứng bằng việc tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình ở khu vực Sabah. Tại công hàm ngày 27/6/2024, Malaysia nhắc lại: “Bang Sabah là và luôn luôn là một phần không thể tách rời của Malaysia, điều này đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận như một phần của Malaysia kể từ khi thành lập Liên bang Malaysia ngày 16/9/1963. Cộng hoà Philippines yêu sách chủ quyền trên Sabah là không phù hợp với nghĩa vụ erga omnes của họ công nhận và ủng hộ việc thực hiện hợp pháp quyền dân tộc tự quyết của người dân Sabah năm 1963. Vì vậy, rõ ràng yêu sách của Philippines với Sabah là không có bất kỳ cơ sở nào theo luật quốc tế”. (Hiểu theo nghĩa thông thường, một quy phạm có tính chất erga omnes là một quy phạm có giá trị pháp lý đối với tất cả chủ thể của luật quốc tế, bao gồm quốc gia và tổ chức quốc tế liên chính phủ).

Về phía Trung Quốc, nước này đã có đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa tại biển Hoa Đông lên CLCS ngày 11/5/2009. Tuy nhiên, tại Biển Đông, Trung Quốc chưa thể hiện gì về yêu sách thềm lục địa mở rộng. Lập trường này có thể được hiểu là do các yêu sách “đường chín đoạn” và “Nam Hải chư đảo” thái quá của Trung Quốc, đã bao phủ hầu như toàn bộ vùng nước và đáy biển Biển Đông. Ngày 17/6/2024, Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc cảnh báo, “đệ trình đơn phương của Philippines về mở rộng thềm lục địa của họ tại Biển Đông xâm phạm tới các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc, vi phạm luật quốc tế, bao gồm cả UNCLOS 1982 và đi ngược lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông – DOC”. Tiếp đó, ngày 19/6/2024, Trung Quốc lại gửi công hàm khẳng định chủ quyền không tranh cãi tại “Nam Hải chư đảo” và các vùng nước tiếp giáp, khẳng định nước này có các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng. Trung Quốc yêu cầu CLCS không xem xét bản báo cáo đệ trình của Philippines.

Đối với Việt Nam, ngày 20/6/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố, Việt Nam sẽ bảo lưu mọi quyền và lợi ích của mình theo luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, và thể hiện sự sẵn sàng thảo luận với Philippines để tìm ra và đạt được một giải pháp phù hợp với lợi ích hai nước. 

Vì những phản ứng trên, có thể xem việc Philippines đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa tại Biển Đông như là tín hiệu về sự bắt đầu của vòng ba “cuộc chiến pháp lý” mới về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, mà vòng một và vòng hai đã từng xảy ra vào các năm 2009 và 2019. Các ranh giới biển, bao gồm cả các ranh giới ngoài của thềm lục địa chồng lấn, nơi các bờ biển đối diện nhau không quá 700 hải lý cần phải được các nước hữu quan thoả thuận và không phải thuộc thẩm quyền của CLCS. Theo quy định, các quốc gia ven biển là thành viên UNCLOS 1982 có quyền xác định ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của mình trên cơ sở phù hợp với quy định liên quan của UNCLOS 1982. Tuy nhiên, quốc gia ven biển khi đệ trình ranh giới ngoài thềm lục địa cần tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia ven biển liên quan khác có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền. Vì vậy, trong tương lai gần, Philippines nên xem xét rút lại các phản đối của họ đối với hồ sơ chung của Việt Nam – Malaysia đã đệ trình và đàm phán với các nước này để tìm một giải pháp có thể chấp nhận được. Việc Philippines đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS có thể coi là một diễn biến pháp lý mới tại Biển Đông, trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền ở vùng biển này ngày càng phức tạp, buộc các nước có chủ quyền liên quan phải theo dõi sát sao và có giải pháp ứng xử phù hợp.

]]>
Thỏa thuận tiếp cận đối ứng Nhật – Phi, “sóng lớn” khiến Biển Đông thêm phần “chao đảo” https://biendong.net/2024/11/05/thoa-thuan-tiep-can-doi-ung-nhat-phi-song-lon-khien-bien-dong-them-phan-chao-dao/ Tue, 05 Nov 2024 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=140577 Ngày 08/7/2024, Nhật Bản và Philippines đã ký kết với nhau “Thỏa thuận tiếp cận đối ứng” (RAA) về quốc phòng. Sự kiện này liên tục thu hút sự quan tâm rất lớn cũng như đánh giá, bình luận của dư luận khu vực và thế giới.

Trong đó, đa số ý kiến đều thống nhất cho rằng, RAA ra đời không chỉ thể hiện mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước đã nâng lên một tầm cao mới “chưa từng có”, mà điều sâu xa hơn, quan trọng hơn là: Cả Nhật Bản và Philippines đều muốn gửi đến Trung Quốc một “thông điệp” mạnh mẽ hơn, “nhắc nhở” và “cảnh báo” Bắc Kinh về những gì họ đã và đang thực hiện.

Đó là:

Thứ nhất, không xâm phạm lợi ích của Philippines và Nhật Bản ở Biển Đông

Với Nhật Bản, là quốc gia nằm ở Đông Bắc Á, có vùng biển riêng của mình là biển Nhật Bản và một phần biển Hoa Đông nhưng vẫn thuộc châu Á – Thái Bình Dương, nên quốc đảo này có lợi ích gắn chặt với Biển Đông về nhiều mặt, vì tuy Biển Đông nằm ở Đông Nam Á, nhưng nó lại kết nối gần như liền mạch với Đông Bắc Á và hình thành nên một khu vực biển Đông Á hoàn chỉnh.

Lẽ đương nhiên, Nhật Bản không có và không thể có tranh chấp gì về chủ quyền ở Biển Đông với các nước Đông Nam Á, nhưng Nhật Bản lại có nhiều lợi ích ở vùng biển này. Trước hết là về kinh tế và thương mại: Đây là tuyến đường biển vận tải hàng hóa quan trọng bậc nhất đối với Nhật Bản. Khoảng 42% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật được vận chuyển đi qua vùng biển này, chủ yếu là các nguyên, nhiên liệu, đặc biệt là các loại nhiên liệu hóa thạch rất cần thiết cho việc đảm bảo ổn định nguồn năng lượng phục vụ cho sự phát triển của Nhật Bản. Nếu tuyến hàng hải cực kỳ nhộn nhịp ở Biển Đông bị cản trở hoặc tắc nghẽn, các tàu thuyền của Nhật Bản sẽ phải chuyển lộ trình sang eo biển Lombok và Đông Philippines, khi đó Tokyo phải mất thêm ít nhất là khoảng 700 triệu USD mỗi năm cho chi phí vận tải. Còn nếu như xảy ra xung đột tại Biển Đông, sẽ làm cho tất cả các tuyến hàng hải đi qua đây bị “đóng băng”, Nhật Bản phải bỏ ra thêm 50% chi phí vận tải để đi qua các tuyến đường thay thế khác.

Cùng với lợi ích về kinh tế và thương mại, lợi ích an ninh của Nhật Bản cũng chịu tác động không nhỏ từ khu vực Biển Đông. Tình hình an ninh Biển Đông ổn định thì Nhật Bản có lợi. Ngược lại, nếu xung đột, chiến tranh xảy ra ở đây, sẽ uy hiếp mạnh mẽ đến môi trường an ninh, ổn định và sự phát triển kinh tế của Nhật Bản. Do đó, giới lãnh đạo Nhật Bản đã nhiều lần nhấn mạnh quyết tâm đảm bảo trật tự hòa bình, không để xảy ra xung đột, luôn ủng hộ quan điểm giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, dựa trên các quy định của luật pháp quốc tế. Thế nhưng, với tham vọng “làm chủ”, “độc chiếm” Biển Đông và cậy thế nước lớn, Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, dùng sức mạnh để “cưỡng chế”, hăm dọa, xâm phạm lợi ích không chỉ của các nước trong khu vực, mà còn của cả các nước ngoài khu vực, trong đó có Nhật Bản, nhất là các lợi ích về tự do hàng hải, hàng không. Biển Đông không còn là “chuyện riêng” giữa ASEAN với Trung Quốc nữa, mà đã trở thành vấn đề an ninh của toàn khu vực. Hiện nay, Nhật Bản đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) trên biển Hoa Đông, song luôn nhận được sự ủng hộ của đồng minh số 1 là Mỹ. Để bảo vệ Nhật Bản, Mỹ đã nhiều lần cam kết sẽ áp dụng Điều 5 của Hiệp ước đồng minh giữa hai nước, trong đó có vấn đề Senkaku. Ngược lại, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của mình tại Biển Đông, Nhật Bản cũng có nghĩa vụ phối hợp với Mỹ tại vùng biển này để thể hiện mối quan hệ đồng minh gắn bó mật thiết và “đền đáp” lại cam kết trên của Mỹ, khi mà Mỹ đang triển khai ý đồ chiến lược tại Biển Đông. Việc ký kết RAA với Philippines là sự lựa chọn của Nhật Bản, vừa không chỉ thể hiện sự coi trọng quốc gia thân thiện “cùng chí hướng”, mà còn giúp Nhật Bản can dự sâu hơn vào Biển Đông, tạo thêm “động lực” cho Philippines chống lại Trung Quốc, qua đó góp phần bảo vệ các lợi ích của Tokyo cũng như của Mỹ tại vùng biển có giá trị vào loại bậc nhất thế giới này.

Với Phillippines, là quốc gia nằm ở trung tâm địa chiến lược của châu Á – Thái Bình Dương, có vị trí rất quan trọng ở Biển Đông, đã và đang đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng, nhất là về chủ quyền an ninh quốc gia bởi các hành động xâm lấn ngày càng trắng trợn hơn của Trung Quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, các vụ “chạm trán” giữa Trung Quốc và Philiippines liên tục xảy ra. Nguyên nhân chủ yếu vẫn xoay quanh hoạt động tranh chấp chủ quyền giữa hai nước. Bên nào cũng có lý do và đều cho mình “là đúng” và ra sức bảo vệ cái đúng đó. Đáng chú ý là, được sự “hỗ trợ” từ Mỹ và một số nước đồng minh của Mỹ, Philippines ngày càng “tự tin” hơn và đã có sự điều chỉnh chính sách trong quan hệ với Trung Quốc, từ “hòa hoãn, hợp tác” sang “gia tăng đấu tranh, giảm bớt hợp tác”. Trong khi đó, phía Trung Quốc coi những việc làm của Manila trên Biển Đông, nhất là tại khu vực bãi Cỏ Mây là “phản bội thỏa thuận đã đạt được giữa hai nước” và “mang tính khiêu khích”, đồng thời đáp trả kiên quyết và “cứng rắn” hơn. Các vụ việc theo kiểu “ăn miếng, trả miếng” lẫn nhau, nhất là hoạt động phun vòi rồng với công suất lớn, chiếu tia laser “cấp độ quân sự”, đâm va của tàu Hải cảnh Trung Quốc đối với tàu tiếp tế của Philippines liên tục xảy ra. Điển hình nhất là ngày 17/6/2024, tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu tiếp tế của Philippines đã va chạm ở bãi Cỏ Mây. Vụ va chạm tuy không gây chết người hay làm hư hại nặng phương tiện của hai bên, nhưng theo tố cáo của Tổng Tư lệnh Quân đội Philippines Romeo Brawner thì: “Họ (Trung Quốc) đã nhảy lên tàu của chúng tôi một cách bất hợp pháp, cướp thiết bị của chúng tôi, hành động như cướp biển”. Đứng trước mối uy hiếp từ Trung Quốc, ngoài việc dựa vào đồng minh hiệp ước là Mỹ, Philiipines đã tập hợp thêm lực lượng, bằng cách mở rộng quan hệ với các nước trong và ngoài khu vực dưới các dạng thức khác nhau để tăng thêm “sức mạnh cứng” trong đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông. Việc ký RAA, nâng cấp quan hệ quốc phòng với Nhật Bản chính là sự lựa chọn đó.

Ngoài ra, do cả Nhật Bản và Philippines đều là “đồng minh thân cận” của Mỹ ở khu vực. Do đó, việc hai nước nâng cấp hợp tác quân sự không chỉ có yếu tố Mỹ đứng sau thúc đẩy, mà còn cho thấy hai nước có ý đồ cùng nhất trí “bắt tay” chặt hơn với Mỹ để bao vây, kiềm chế Trung Quốc.

Thứ hai, quan hệ quốc phòng Nhật – Phi được tăng cường là nhằm đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông

Dựa trên những lợi ích tương đồng, nên từ đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản và Philippines đã thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác chiến lược trên nhiều mặt, đặc biệt là về quốc phòng để đối phó với Trung Quốc. Cụ thể:

Dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo ở Philippines, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác hợp tác toàn diện. Sau khi Benigno Aquino III lên cầm quyền, mối quan hệ này phát triển nhanh chóng hơn, trong đó quốc phòng – quân sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng, thậm chí là động lực chính. Tháng 9/2011, hai bên tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương thành đối tác chiến lược. Theo đó, hai nước tăng cường phối hợp giữa các cơ quan an ninh hàng hải với nhau, ví như Nhật Bản cử tàu tuần tra trên biển tới Philippines, hỗ trợ đào tạo và xây dựng năng lực cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines; tăng cường trao đổi giữa các cơ quan quốc phòng, như tổ chức các chuyến thăm lẫn nhau giữa Tham mưu trưởng Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản và Tư lệnh Hải quân Philippines, thúc đẩy tàu của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản đến thăm các cảng của Philippines.

Tháng 6/2015, hai nước ký Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược, trong đó làm rõ hơn các hoạt động mà Philippines và Nhật Bản có thể cùng thực hiện trong tương lai trên Biển Đông, như tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đối thoại an ninh, xây dựng năng lực, diễn tập chung, hợp tác an ninh trên biển, chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển…Trong thời gian này, Philippines đã ký hợp đồng mua 10 tàu tuần tra của Nhật Bản cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines. Sau khi Rodrigo Duterte nhậm chức Tổng thống Philippines, mặc dù quan hệ quân sự của Phi với Mỹ có thời điểm rơi vào căng thẳng, nhưng Manila vẫn duy trì và tăng cường hợp tác quốc phòng – quân sự với Nhật Bản.

Trước các diễn biến an ninh trên Biển Đông ngày càng phức tạp, hợp tác quốc phòng Nhật – Phi được thúc đẩy mạnh hơn, các cơ chế hợp tác liên quan dần được hoàn thiện. Đối thoại an ninh 2+2 giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, Hội nghị Thứ trưởng Quốc phòng, Đối thoại an ninh hàng hải và Đối thoại quốc phòng thường niên… là các cơ chế quan trọng của hợp tác song phương đã hoạt động. Ngoài ra, Nhật Bản và Philippines còn sử dụng các cơ chế đa phương như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng và Hội nghị quốc phòng Tokyo để tiến hành trao đổi song phương. Nội dung và hình thức hợp tác quốc phòng cũng dần được đa dạng hóa. Nhật Bản cung cấp cho Philippines các trang thiết bị quân sự như tàu tuần tra, máy bay huấn luyện, máy bay vận tải. Hai bên còn mở rộng không gian hợp tác trong việc chia sẻ thông tin tình báo, huấn luyện chung và tàu thăm viếng lẫn nhau. Bên cạnh đó, hai nước còn triển khai nhiều cuộc tập trận chung. Tháng 5/2015, Nhật – Phi đã tiến hành diễn tập chung về tránh va chạm ngoài ý muốn trên biển. Tháng 6 cùng năm, hai nước lại tổ chức cuộc tập trận quân sự chung, Nhật Bản điều máy bay tuần tra P-3C đến cảng Puerto Princesa thuộc đảo Palawan, phía Tây Philippines. Tháng 4/2016, Nhật Bản lần đầu tiên làm quan sát viên, tham gia cuộc tập trận chung Balikatan giữa Mỹ và Philippines. Những năm gần đây, tần suất các cuộc tập trận song phương và đa phương giữa Nhật Bản và Philippines ngày càng tăng.

Từ đầu năm 2023 đến nay, tình hình an ninh trên Biển Đông diễn ra rất phức tạp. Trung Quốc liên tục gây hấn với Philippines ở bãi Cỏ Mây. Để “răn đe” và “kiềm chế” Trung Quốc, Nhật Bản và Philippines triển khai mạnh hơn các hoạt động quân sự – quốc phòng. Tháng 11/2023, Mỹ và Philippines phối hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc tiến hành cuộc tập trận Kamandag-7 (Hợp tác chiến binh trên biển) tại các “cứ điểm chiến lược” của Philippines, như quần đảo Batanes gần Đài Loan và đảo Palawan gần Biển Đông. Tháng 4/2024, Nhật Bản và Philippines phối hợp với Mỹ và Australia tổ chức cuộc diễn tập “hoạt động hợp tác hàng hải” đầu tiên tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Tháng 6/2024, các tàu của Mỹ, Nhật Bản, Philippines và Canada thực hiện các hoạt động hợp tác hàng hải ở Biển Đông.

Những hoạt động trên cho thấy, quan hệ quốc phòng giữa hai nước ngày càng thắt chặt và mục tiêu hướng đến là ngăn chặn các hành động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Thế nhưng đây chỉ là những hoạt động ở mức độ thông thường, một số cuộc tập trận quân sự dù đã diễn ra, song chưa đủ độ để có thể “răn đe” và ứng phó kịp thời với sự biến động nhanh chóng, khó lường của môi trường an ninh khu vực.

Ngày 8/7/2024, RAA đã được ký kết, nhưng hai nước không công bố thông tin chi tiết về nội dung. Điều đó cho thấy thỏa thuận này có một số yếu tố nhạy cảm nhất định, đặt trong bối cảnh tình hình Biển Đông và biển Hoa Đông có nhiều diễn biến phức tạp, mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động phi pháp của Trung Quốc gây ra. Tuy nhiên, từ một số thông tin mà Bộ Ngoại giao Nhật Bản tiết lộ cho thấy: Mặc dù không phải là hiệp định phòng thủ quân sự chung vì không có các điều khoản ràng buộc quân đội hai nước phải hỗ trợ lẫn nhau hay cùng tham chiến khi xảy ra chiến tranh, nhưng cái mà RAA tạo ra được bước “đột phá”, mang tính nhảy vọt về cả “lượng” và “chất” trong quan hệ quốc phòng hai nước lại thể hiện ở chỗ, RAA sẽ thiết lập các điều kiện “thuận lợi đặc biệt” cho lực lượng quân đội mỗi nước khi đến hoạt động tại địa phận của nhau và thúc đẩy các hoạt động hợp tác, như các hoạt động tập trận quân sự chung; cứu trợ thiên tai chung; tăng tính tương tác giữa quân đội hai nước; tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản tham gia cuộc tập trận Balikatan tới đây với tư cách là thành viên chính thức. Trong tương lai, khi RAA có hiệu lực thực thi, thì bằng các hoạt động thực tế, thỏa thuận này sẽ giúp Nhật Bản mở rộng quan hệ với các nước, lan tỏa sức mạnh quân sự của nước này ra toàn khu vực, đưa Nhật Bản từ một “quốc gia bình thường” trở thành “nước lớn thế giới”; góp phần bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch trên Biển Đông; hỗ trợ, tạo thêm “điểm tựa” mới cho Philippines trong đối phó với Trung Quốc; tạo “chỗ đứng” mới cho Nhật Bản trong việc phối hợp với Mỹ về giải quyết vấn đề Eo biển Đài Loan. Còn đối với Philippines, lợi ích mà RAA đưa đến cho nước này là có thêm cơ hội nâng cao sức mạnh quân sự. Bởi Nhật Bản không chỉ gia tăng các hoạt động tập trận quân sự, tuần tra chung, mà còn cung cấp nhiều hơn nữa cho Philippines các loại vũ khí, trang bị như tàu tuần tra, máy bay chiến đấu, hệ thống ra đa giám sát biển… Mặt khác, cả Nhật Bản và Philippines đều là đồng minh của Mỹ, nên sự ra đời của RAA không chỉ là bước “đột phá” trong quan hệ song phương Nhật – Phi, mà còn là bước tiến mới nhanh chóng của liên minh Mỹ – Nhật – Phi vừa hình thành hồi tháng 4/2024 – một “tiểu liên minh” nằm ở vị trí trung tâm trong hệ thống liên minh ở khu vực dưới sự dẫn dắt của Mỹ để bao vây, kiềm chế Trung Quốc một cách kín kẽ hơn.

Một số tác động đối với an ninh khu vực có khả năng sẽ xuất hiện trong tương lai

Về mặt tích cực: Trước hết là khi RAA ra đời, sẽ giúp giảm đi sự mất cân bằng lực lượng tại khu vực, qua đó góp phần duy trì ổn định an ninh Biển Đông. Bởi lẽ, trong cạnh tranh địa chính trị ở Biển Đông hiện nay, có hai đối tượng chính chi phối độ “nóng, lạnh” về an ninh ở đây là Trung Quốc và Mỹ cùng đồng minh của Mỹ. Nhưng do Mỹ và đồng minh Nhật Bản ở cách xa nhau về địa lý nên gặp nhiều hạn chế trong sự bố trí, hiện diện về lực lượng ở Biển Đông. RAA ra đời sẽ tạo cơ sở cho Nhật Bản tăng thêm sự hiện diện của Lực lượng phòng vệ nước này ngay trong khu vực để phối hợp triển khai các hoạt động hợp tác quân sự song phương Nhật – Phi và đa phương cùng Mỹ và các nước khác tại Philippines. Thỏa thuận này cũng có thể mở ra nhiều hoạt động hợp tác, như phát triển hệ thống phòng thủ, hậu cần, huấn luyện, tập trận quân sự… qua đó nâng cao năng lực của Philippines và khả năng phối hợp tác chiến giữa ba nước Mỹ – Nhật – Phi khi có tình huống xấu xảy ra. Hiện nay, Nhật Bản là một trong những đối tác chủ chốt cung cấp trang thiết bị bảo đảm an ninh trên biển cho Philippines. Năm 2020, Nhật Bản đã ký hợp đồng cung cấp 4 hệ thống ra đa phòng không cho Philippines, trong đó hai hệ thống đã bàn giao năm 2023 và 2024. RAA sẽ tạo cơ sở và động lực thúc đẩy sự tương tác, tin cậy lẫn nhau và hợp tác mạnh mẽ hơn giữa Quân đội hai nước, mở ra nhiều cơ hội để tiếp tục hiện đại hoá năng lực quốc phòng của Philippines. Sự lớn mạnh hơn của Quân đội Philippines, cùng với đó là sự có mặt nhiều hơn của Mỹ, Nhật ở khu vực chắc chắn sẽ buộc Trung Quốc phải suy nghĩ và điều chỉnh hoạt động của mình ở Biển Đông, vùng biển này vì thế có thể “lặng sóng” hơn.

Tiếp theo là tăng tính “tiết chế’ và “răn đe” nhiều hơn đối với các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Xét về tổng thể, RAA giữa Nhật Bản và Philippines là một mắt lưới nhỏ trong mạng lưới hợp tác quân sự đa phương của Mỹ với các đồng minh và giữa các đồng minh của Mỹ với nhau tại khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trước khi Nhật Bản và Philippines ký RAA, Philippines đã ký Hiệp định Lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ năm 1998, Hiệp định Tình trạng Lực lượng thăm viếng (SOVFA) với Australia vào năm 2017, nâng cấp Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ (EDCA) năm 2023. Còn Nhật Bản đã ký RAA với Australia và Anh vào năm 2022 và 2023. Tất cả những văn kiện có tính pháp lý đó sẽ cho phép các nước nói trên gia tăng phối hợp các hoạt động trên Biển Đông để không chỉ bảo vệ lợi ích của các nước, mà còn có thể “tiết chế” bớt phần nào các hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.

Về mặt tiêu cực: Một là, RAA giữa Nhật Bản và Philippines ra đời có thể đẩy tình hình an ninh khu vực nói chung, Biển Đông nói riêng diễn biến phức tạp hơn. Bởi vì, việc Nhật Bản gia tăng sự hiện diện ở Philippines nói riêng, Biển Đông nói chung đặt trong bối cảnh Mỹ đã triển khai nhiều hệ thống vũ khí, khí tài ở khu vực, nên sẽ tác động đến các toan tính, chính sách của các chủ thể khác trong khu vực; Philippines sẽ có sự “tự tin” và mạnh dạn hơn khi triển khai các hành động mạo hiểm ở Biển Đông. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ coi đây là những nỗ lực mới của Mỹ và đồng minh để bao vây, kiểm soát nước này, do đó Bắc Kinh sẽ phản ứng bằng cách tiếp tục hành xử “cứng rắn” hơn ở Biển Đông đối với lực lượng đồn trú của Philippines tại bãi Cỏ Mây, xung quanh khu vực bãi cạn Scaroborough và bãi cạn Sabin – nơi mà gần đây Trung Quốc có ý định xây dựng đảo nhân tạo. Điều này sẽ làm cho an ninh khu vực vốn đã phức tạp lại càng diễn biến phức tạp, khó lường hơn.

Hai là, có thể đẩy khu vực vào cuộc chạy đua vũ trang mới. Kể từ đầu năm 2024 đến nay, Biển Đông đã chứng kiến nhiều diễn biến mới phức tạp và căng thẳng, chủ yếu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Philippines và các đồng minh của họ. Đứng trước nguy cơ bất ổn địa – chính trị có thể xảy ra, các nước ASEAN buộc phải, hoặc là chọn tham gia các liên minh “mini” ở khu vực, hoặc là xây dựng mối “đoàn kết” với nhau theo “sách lược mới”, hoặc là tìm kiếm sự đảm bảo an ninh cho mình bằng cách nhanh chóng nâng cao năng lực quân sự – quốc phòng. Trong các lựa chọn đó, việc mở rộng, nâng cấp vũ khí, trang thiết bị quân sự để nâng cao năng lực quân sự – quốc phòng cho đất nước có lẽ là sách lược quan trọng nhất sẽ được các quốc gia sử dụng để “tự cứu lấy mình trước khi thiên hạ cứu”. Cuộc chạy đua vũ trang lấy tăng cường sức mạnh quân sự của lực lượng hải quân và không quân làm nội dung chính, cùng với đó là các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương có qui mô ngày càng lớn hơn, sẽ trở thành xu thế lan rộng ở Đông Nam Á trong thời gian tới.

Ba là, củng cố xu hướng quốc tế hóa vấn đề Biển Đông và hình thành các phe phái an ninh đối chọi nhau ở khu vực. Việc Philippines và Nhật Bản đạt được RAA là một phần trong kế hoạch của Philippines nhằm xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác với các quốc gia “cùng chung chí hướng”. Ngoài một số hiệp định, thỏa thuận đã ký với Mỹ, Nhật Bản, Australia, Anh…gần đây Philippines đang đẩy nhanh việc mở rộng quan hệ an ninh với nhiều nước hơn để tăng cường sự hỗ trợ của quốc tế về vấn đề Biển Đông. Sau khi ký RAA với Nhật Bản, Tổng thống Philippines Marcos Jr. cho biết: “Việc ký một thỏa thuận như vậy với Nhật Bản là chưa đủ. Chúng ta cần ký những thỏa thuận kiểu này với nhiều quốc gia hơn”. Philippines đang nghiên cứu để đạt được RAA hoặc các thỏa thuận tương tự với Pháp, Canada và New Zealand. Những biện pháp này sẽ khiến cho xu thế quốc tế hóa vấn đề Biển Đông tăng lên, có thể hình thành một “vòng tròn” nhỏ kích động đối đầu phe phái ở khu vực nói chung, Biển Đông nói riêng. Có thể nói, RAA giữa Nhật Bản và Philippines ra đời rất nhanh, từ khi khởi động cho đến khi ký kết, thời gian chỉ diễn ra trong vòng một năm, nhanh hơn nhiều so với các RAA khác mà Nhật Bản ký với các nước khác. Đây là bước “đột phá” nhanh “đáng kinh ngạc” trong hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Philippines muốn mở rộng hợp tác an ninh với Nhật Bản để tăng cường năng lực nhằm bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông trước áp lực ngày càng lớn từ phía Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản cần mở rộng hợp tác an ninh ra khu vực Biển Đông, rộng hơn là khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để triển khai các chiến lược an ninh của mình. Do hai nước cùng là đồng minh của Mỹ, nên việc tăng cường hợp tác quân sự giữa họ cũng sẽ phục vụ cho các hoạt động hợp tác an ninh của cả ba nước trong khu vực. Việc RAA Nhật – Phi ra đời có thể tạo ra sự cân bằng lực lượng mới, ở mức độ nào đó góp phần làm “dịu hơn” tình hình an ninh Biển Đông. Tuy nhiên, đây là một thỏa thuận về quân sự, ra đời vào lúc Biển Đông đang “nổi sóng”, đối đầu nhiều hơn đối thoại. Nó cũng là cơ sở pháp lý cho phép nhiều loại vũ khí, trang thiết bị quân sự được “đổ dồn” về Biển Đông. Điều đó cho thấy, Thỏa thuận trên có thể mang đến một số mặt tích cực nào đó cho an ninh khu vực, nhưng mặt tiêu cực thì chắc chắn sẽ nhiều hơn và lớn hơn. Một số chuyên gia Biển Đông của Trung Quốc đã cảnh báo chính phủ nước này rằng, Nhật Bản có thể gây thêm nhiều “rắc rối” hơn ở Biển Đông sau khi ký RAA với Philippines, do đó Trung Quốc phải suy nghĩ, nhận thức rõ ràng về “mối đe dọa” này, đồng thời xem xét lại tổng thể các chính sách ngắn hạn và dài hạn để có biện pháp đối phó mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Biển Đông vì thế nhiều khả năng lại “chao đảo” trước nhiều “sóng lớn”.

]]>
Nhìn lại nội dung vấn đề Biển Đông tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45 https://biendong.net/2024/10/26/nhin-lai-noi-dung-van-de-bien-dong-tai-hoi-nghi-thuong-dinh-asean-lan-thu-44-va-45/ Sat, 26 Oct 2024 03:32:22 +0000 https://biendong.net/?p=140556 Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45 diễn ra trong bối cảnh tỉnh hình Biển Đông căng thẳng sau những vụ việc va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc với tàu công vụ Philippines và vụ việc tàu chấp pháp Trung Quốc trấn áp tàu cá Việt Nam làm bị thương nhiều ngư dân ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, do vậy vấn đề Biển Đông trở thành tâm điểm thảo luận tại các cuộc họp trong khuôn khổ Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45, kể tại Hội nghị cấp cao Đông Á.

Tại cuộc họp giữa các lãnh đạo các nước ASEAN ngày 9/10, nguyên thủ các nước ASEAN lặp lại kêu gọi lâu nay về việc tự kiềm chế và tôn trọng luật pháp quốc tế tại khu vực Biển Đông. Nội dung này được đưa vào Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 44 và 45.

Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, bảo đảm an ninh, an toàn hàng không và hàng hải trên Biển Đông, kêu gọi tất cả các bên kiềm chế, hạn chế bất đồng, khai thác điểm đồng, thúc đẩy hợp tác, đối thoại chân thành, tin cậy, hiệu quả, dựa trên luật lệ, thực hiện đầy đủ, hiệu quả DOC, tạo môi trường thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc COC thực chất, hiệu quả, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982.

Ngay trước Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45 nhà lãnh đạo Singapore, Thủ tướng Lawrence Wong đã cảnh báo về “rủi ro thực sự của một vụ tai nạn leo thang thành xung đột” nếu tranh chấp trên biển không được giải quyết. Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Singapore Lawrence Wong cho rằng sự đoàn kết của khối đang phải đối mặt với những thách thức kép cả ở bên trong và bên ngoài. Các vấn đề nội bộ (bao gồm Biển Đông và Myanmar) chưa được giải quyết, trong khi bên ngoài phải đối diện với tình hình chính trị trong khu vực và thế giới ngày càng rắc rối và hỗn loạn.

Phát biểu tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc hôm 10/10/2024, trước các nhà lãnh đạo của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. thẳng than bày tỏ những quan điểm mạnh mẽ trên vấn đề Biển Đông. Ông Marcos Jr. nhấn mạnh: “Cần phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ đàm phán về bộ quy tắc ứng xử giữa ASEAN và Trung Quốc. Thật đáng tiếc khi tình hình chung ở Biển Đông vẫn căng thẳng và không thay đổi. Chúng tôi tiếp tục phải hứng chịu sự quấy rối và đe dọa”. Nhà lãnh đạo Philippines Marcos cũng bày tỏ sự thất vọng khi các bên liên quan không thể thống nhất ngay cả về những điều đơn giản, khi nhấn mạnh rằng “định nghĩa về một khái niệm hết sức cơ bản như ‘tự kiềm chế’ vẫn chưa nhận được sự đồng thuận”.

Tại hội nghị, Thủ tướng Lý Cường tránh đề cập tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với nhiều thành viên ASEAN ở Biển Đông, mà chỉ tập trung vào vế kinh tế và thương mại. Theo ông Lý Cường, ASEAN và Trung Quốc cần đẩy mạnh “hội nhập trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, khuynh hướng bảo hộ gia tăng và tình hình thế giới bất ổn”. Đáp trả lại ý kiến của Thủ tướng Trung Quốc Lý Cương, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. lập luận rằng “quý vị không thể tách biệt hợp tác kinh tế với an ninh chính trị”, hay “ASEAN và Trung Quốc không thể giả vờ rằng tất cả đều tốt đẹp trên bình diện kinh tế trong khi căng thẳng tiếp diễn trên bình diện chính trị”.

Trước phát biểu mạnh mẽ của Tổng thống Marcos về vấn đề Biển Đông tại hội nghị và phát biểu của các nhà lãnh đạo khác, Thủ tướng Trung Quốc buộc phải đưa ra ý kiến về vấn đề Biển Đông với việc khăng khăng cho rằng Bắc Kinh phải bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đáp lời lãnh đạo Philippines, Thủ tướng Trung Quốc cho rằng “Biển Đông là một mái nhà chung” và Bắc Kinh có trách nhiệm “bảo vệ chủ quyền” của Trung Quốc ở vùng biển này. Ông Lý Cường cũng đổ lỗi cho sự can thiệp của “các thế lực bên ngoài” tìm cách “đưa xung đột khối và xung đột địa chính trị vào châu Á”, gây ra tình hình căng thẳng ở Biển Đông.

Cũng liên quan đến Biển Đông, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc, ngày 10/10, Thủ tướng Malaysia Seri Anwar Ibrahim, nước điều phối các hội nghị mở rộng của ASEAN, đọc tuyên bố của ASEAN kêu gọi các bên sớm ký kết Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC), mà Trung Quốc và ASEAN bắt đầu khởi sự đàm phán từ thập niên 1990. Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Ấn Độ hôm 10/10 cũng ra một thông cáo chung với lời kêu gọi tương tự. 

Trong khi đó tại Bắc Kinh, khi được hỏi về những phát biểu của nhà lãnh đạo Philippines về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh (Mao Ning) nói rằng tình hình Biển Đông ‘‘nhìn chung là ổn định’’; khẳng định Trung Quốc ‘‘duy trì cam kết giải quyết các bất đồng trên biển với các nước liên quan thông qua đối thoại và tham vấn trên cơ sở tôn trọng các sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế’’, và tiếp tục hợp tác với ASEAN để thúc đẩy đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC). Mặt khác,. Bà Mao Ninh nhấn mạnh: “Trung Quốc kiên quyết phản đối mọi hành vi xâm phạm và khiêu khích, và kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quyền và lợi ích hàng hải củ khẳng định.

Tại Hội nghị ASEAN- Hàn Quôc, hai bên đã nâng cấp quan hệ lên thành “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”, một vị thế mới mà nhà lãnh đạo Hàn Quốc nhấn mạnh rằng sẽ giúp cả hai bên “cùng nhau tạo ra một tương lai mới”. Giới chuyên gia nhận định việc nâng cấp quan hệ ASEAN-Hàn Quốc có thể giúp Seoul nâng caovai trò trong các vấn đề an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông bởi gần đây Hàn Quốc đã lên tiến chỉ trích các hành động hung hăng của Trung Quốc nhắm vào Philippines ở Biển Đông. Trong khi đó, tân Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba cũng cam kết thúc đẩy mối quan hệ Nhật Bản-ASEAN bằng cách cung cấp tàu tuần tra và đào tạo về thực thi pháp luật trên biển, tăng cường an ninh kinh tế thông qua hỗ trợ tài chính và các hỗ trợ khác, đồng thời củng cố an ninh mạng. Ông Ishiba nhấn mạnh: “Nhật Bản chia sẻ các nguyên tắc như tự do, dân chủ và pháp quyền, và muốn cùng ASEAN xây dựng và bảo vệ tương lai”.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, thay mặt tổng thống Joe Biden, tham dự cuộc họp với các lãnh đạo ASEAN trong ngày 11/10 đã có những phát biểu mạnh mẽ về vấn đề Biển Đông. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh : ‘‘Chúng tôi rất quan ngại về các hoạt động ngày càng nguy hiểm và phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông, gây thương tích cho người dân, gây tổn hại cho tàu thuyền của các nước ASEAN, trái ngược với các cam kết giải quyết tranh chấp một cách hòa bình”. Ngoại trưởng Mỹ khẳng định Washington ‘‘sẽ tiếp tục bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không ở vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Trong một thông điệp cứng rắn khác gửi đến Trung Quốc, Ngoại trưởng Mỹ nói rằng “điều quan trọng là phải duy trì cam kết chung của chúng ta nhằm bảo vệ sự ổn định trên Eo biển Đài Loan”.

Biển Đông cũng là một chủ đề trọng tâm của Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) diễn ra hôm 11/10. Ngoài 10 nước ASEAN, còn có đại diện của 8 quốc gia khác, như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand.  Tại hội nghị này, Tổng thống Philippines Marcos Jr. tiếp tục tố cáo cách hành xử bạo lực của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Manila, như tấn công bằng vòi rồng, đâm vào tàu của Philippines…. Nguyên thủ Philippines nhấn mạnh là các hành động bạo lực của Trung Quốc xảy ra tại những địa điểm ‘‘có khi chỉ cách bờ biển Philippines 17 hải lý, và cách Hoa lục 600 hải lý’’. Theo lãnh đạo Philippines, hành xử nói trên của Trung Quốc đòi hỏi các bên liên quan ‘‘nỗ lực phối hợp và nghiêm túc để thực sự giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông’’.

Đáng chú ý là theo tiết lộ của người đã tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), một dự thảo Tuyên bố, với sự đồng thuận của ASEAN, đã được trình bày tại Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) vào tối 11/10 tại Lào với sự tham dự của 18 quốc gia gồm các nước thành viên ASEAN và các đối tác Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ, Nga và Mỹ. Tuy nhiên, cuối cùng Tuyên bố không được thông qua do sự phản đối của Trung Quốc và Nga liên quan tới cách đề cập tới Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 trong dự thảo Tuyên bố, trong khi các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ đều cho biết họ có thể ủng hộ dự thảo này

Dự thảo tuyên bố EAS 2024 có thêm một điều khoản bổ sung so với Tuyên bố đã được thông qua năm 2023 và điều này đã không được Trung Quốc và Nga chấp thuận. Tuyên bố lưu ý một Nghị quyết của Liên hợp quốc năm 2023 nêu rõ UNCLOS “đặt ra khuôn khổ pháp lý, trong đó mọi hoạt động trên đại dương và biển phải được thực hiện”. Một điều khoản bổ sung khác không được chấp thuận nhấn mạnh rằng môi trường quốc tế, bao gồm “ở Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên, Myanmar, Ukraine và Trung Đông … đặt ra những thách thức cho khu vực”.

Phát biểu trong một cuộc họp báo ở Viêng Chăn hôm 11/10, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đổ lỗi: Tuyên bố cuối cùng đã không được thông qua do “những nỗ lực không ngừng của Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand nhằm biến nó thành một tuyên bố hoàn toàn mang tính chính trị”. Giới chuyên gia cho rằng cách đề cập tới UNCLOS trọng dự thảo Tuyên bố EAS 2024 là hoàn toàn phù hợp với tôn chỉ của Công ước, song việc Trung Quốc cùng phản đối điều này là dấu hiệu cho thấy rõ đã có sự phối hợp giữa Bâc Kinh và Matxcova trên hồ sơ Biển Đông, đây là điều các nước ven Biển Đông cần hết sức cảnh giác.

Đánh giá về Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần này, giới quan sát chỉ ra 2 điểm nhấn liên quan tới vấn đề Biển Đông:

Thứ nhất, so với các hội nghị của ASEAN từ đầu năm đến nay và kể cả các hội nghị trong năm 2023, vấn đề Biển Đông tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 44 và 45 được lãnh đạo nhiều nước lên tiếng mạnh mẽ hơn. Các nước ASEAN còn đồng thuận đưa nội dung UNCLOS vào dự thảo Tuyên bố của EAS 2024, song bị Trung Quốc, Nga khước từ. Lý do bởi trong suốt năm qua, căng thẳng Biển Đông không ngừng leo thang, các vụ va chạm ở Biển Đông đã khiến nhiều nhiều tàu công vụ của Philippines hay tàu cá Việt Nam hư hỏng nghiêm trọng, thậm chí làm bị thương các thuỷ thủ và ngư dân. Nếu cộng đồng quốc tế không có tiếng nói mạnh mẽ, tình hình đáng báo động ở Biển Đông có nguy cơ dẫn tới những xung đột lớn hơn. Trong bối cảnh đó, ASEAN cần phát huy vai trò lớn hơn trong các vấn đề an ninh khu vực.

Thứ hai, lần đầu tiên lãnh đạo của Philippines đấu tranh trực diện với Thủ tướng Trung Quốc tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc. Thông thường tại các cuộc họp giữa ASEAN và Trung Quốc trước đây, lãnh đạo các nước ASEAN thường kiềm chế tránh chỉ trích, chất vấn trực diện lãnh đạo Trung Quốc do không muốn làm “mất mặt” Bắc Kinh (tại các hội nghị trước, vấn đề Biển Đông chủ yếu được nêu đậm nét ở cuộc họp nội bộ của 10 nước ASEAN). Phát biểu mạnh mẽ, trực diện của Tổng thống Philippines Marcos về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc lần này phần nào khiến Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường bất ngờ và rơi vào thế bị động phải chống đỡ. Ngoài ra, ông Marcos còn chỉ trích mạnh mẽ những hành vi hung hăng ở Biển Đông ngay tại Hội nghị cấp cao Đông nơi còn có mặt của lãnh đạo nhiều nước ngoài khu vực như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand.

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 44 và 45 đã khép lại năm Lào làm Chủ tịch luân phiên của ASEAN, Malaysia – nước liên quan trực tiếp tới tranh chấp ở Biển Đông và đã tứng bị tàu hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc quấy nhiễu các hoạt động dầu khí ở Biển Đông – tiếp nhận vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm 2025. Nhiều chuyên gia hy vọng với vai trò Chủ tịch ASEAN, Malaysia sẽ làm được nhiều hơn trong vấn đề Biển Đông trong năm 2025.

Những diễn biến xung quanh việc đưa nội dung về UNCLOS vào Tuyên bố của EAS 2024 cho thấy sự phối hợp giữa Trung Quốc và Nga trong thời gian tới sẽ là một cản trở lớn cho những nội dung liên quan đến Biển Đông trong khuôn khổ hội nghị ASEAN. Mặt khác, cùng thời điểm ASEAN tiến hành các Hội nghị cấp cao, Mỹ và Philippines dẫn đầu tiến hành một cuộc tập trận hải quân chung giữa 6 quốc gia ngoài khơi phía Bắc Philippines. Cuộc tập trận “Sama Sama” (“Đoàn kết” theo tiếng Tagalog) khai mạc hôm 7/10 và dự kiến kéo dài trong hai tuần. Hải quân Mỹ nhấn mạnh đây là các cuộc tập trận thường niên được “thiết kế để tăng cường khả năng tương tác và củng cố mối quan hệ an ninh giữa các đối tác trong khu vực”. “Sama Sama” năm 2024, có sự tham gia của gần 1.000 quân nhân từ Australia, Canada, Pháp, Nhật Bản, Mỹ và Philippines, được tiến hành tại vùng biển ngoài khơi Luzon, đảo chính phía Bắc của Philippines đối diện Đài Loan. Anh đã cử quan sát viên đến tham dự cuộc tập trận. Tóm lại, mặc dù vấn đề Biển Đông đã trở thành một vấn đề trọng tâm tại Hội nghị cấp cao ASEAN, các nước lên tiếng mạnh mẽ hơn, song về cơ bản chỉ là những lời đổ lỗi cáo buộc lẫn nhau, Hội nghị không đưa ra được những biện pháp cụ thể để giảm căng thẳng ở Biển Đông, thậm chí còn hé lộ đối đầu mới trên vấn đề UNCLOS giữa một bên là Trung Quốc, Nga và bên kia là Mỹ, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ. Ông Ian Storey, nghiên cứu viên cấp cao tại Viện Yusof Isa ở Singapore, nhận định rằng Hội nghị ASEAN đã không làm được gì nhiều trong việc giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông. Tại Viêng Chăn, các bên không tổ chức đàm phán về vấn đề Biển Đông. Chỉ khi Trung Quốc thay đổi hành vi gây hấn với Philippines thì tình hình căng thẳng mới có thể giảm bớt, song chưa có dấu hiệu về sự thay đổi của Bắc Kinh. Tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông kéo dài nhiều năm và khó có thể giải quyết trong ngắn hạn, ngoại giao vẫn là phương thức cần thiết để giải quyết vấn đề.

]]>
30 năm UNCLOS có hiệu lực: Vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc https://biendong.net/2024/10/24/30-nam-unclos-co-hieu-luc-vai-tro-cua-co-che-giai-quyet-tranh-chap-bat-buoc/ Thu, 24 Oct 2024 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=138830

Ngày 16/11/1994, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực, xác lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của UNCLOS đối với sự phát triển của luật biển quốc tế là việc xây dựng được cơ chế toàn diện và bắt buộc để giải quyết các tranh chấp có thể nảy sinh liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước.

Thực tiễn 30 năm qua cho thấy cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đã từng bước đi vào đời sống, trực tiếp giải quyết nhiều tranh chấp liên quan đến nhiều vấn đề luật biển giữa các quốc gia tại tất cả các khu vực trên thế giới, đóng góp thiết thực vào việc duy trì trật tự pháp lý trên biển dựa trên luật lệ.

Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS

Theo quy định của UNCLOS, khi phát sinh tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước, các bên có trách nhiệm trao đổi quan điểm nhằm tìm biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp. Nếu không đạt được thỏa thuận, một bên có quyền đưa tranh chấp ra một trong bốn cơ quan gồm Tòa án Luật biển quốc tế (ITLOS), Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII, hoặc Tòa Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII. Bên còn lại có nghĩa vụ tham gia tiến trình giải quyết tranh chấp và chịu sự ràng buộc của quyết định của cơ quan thụ lý, kể cả trong trường hợp không tham gia.

Tính bắt buộc của cơ chế giải quyết tranh tranh chấp của UNCLOS là cơ sở để Philippines đưa tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII và Tòa ra Phán quyết ngày 12/7/2016 bác bỏ các yêu sách biển của Trung Quốc tại Biển Đông dù Trung Quốc không tham gia tiến trình xét xử.

Các điều ước quốc tế về biển trước năm 1982 hoặc là không có điều khoản về giải quyết tranh chấp, hoặc là quy định về giải quyết tranh chấp chỉ mang tính tùy nghi. Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS được xem là một bước tiến của luật biển quốc tế và luật quốc tế về giải quyết tranh chấp.

Thực tiễn 30 năm sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS

Trải qua 30 năm từ khi UNCLOS có hiệu lực, cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đã xử lý hàng loạt vụ việc liên quan đến nhiều vấn đề pháp lý trên biển

Tại ITLOS, đến nay đã có 33 tranh chấp được Tòa thụ lý, bao gồm nhiều vụ về thả tàu nhanh, nhiều vụ liên quan đến các biện pháp khẩn nhằm bảo vệ quyền của các bên và ngăn chặn thiệt hại môi trường biển. ITLOS cũng đã giải quyết nhiều tranh chấp về phân định biển như vụ phân định Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Myanmar – tranh chấp đầu tiên về phân định thềm lục địa mở rộng được giải quyết bởi một cơ quan tư pháp quốc tế, vụ phân định biên biển Đại Tây Dương giữa Mauritius và Maldives – tranh chấp đầu tiên về phân định biển giữa hai quốc gia quần đảo được giải quyết bởi một cơ quan tư pháp quốc tế, hay vụ phân định biển giữa giữa Ghana và Côte d’Ivoire – tranh chấp đầu tiên về phân định biển được giải quyết thông qua Viện đặc biệt của ITLOS.

Nếu các quốc gia thành viên UNCLOS không tuyên bố lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII được xem là cơ chế mặc định. Đến nay, đã có 15 tranh chấp được Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII giải quyết, trong đó có các tranh chấp phân định biển như vụ phân định giữa Barbados với Trinidad và Tobago, vụ phân định biển giữa Guyana và Suriname và vụ phân định biển ở Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Ấn Độ. Tòa Trọng tài phụ lục VII cũng giải quyết nhiều tranh chấp về bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển như vụ cá ngừ vây xanh phương Nam giữa New Zealand, Australia và Nhật Bản, vụ nhà máy MOX giữa Ireland và Anh, vụ lấn biển giữa Malaysia và Singapore, vụ khu vực bảo tồn biển Chagos giữa Mauritius và Anh; hay các tranh chấp liên quan đến hoạt động của lực lượng chấp pháp và tàu thuyền, như vụ tàu ARA Libertad giữa Argentina và Ghana, vụ tàu Arctic Sunrise giữa Hà Lan và Nga, vụ tàu Enrica Lexie giữa Italy và Ấn Độ, tranh chấp liên quan đến việc giam giữ tàu và lính hải quân Ukraine giữa Ukraine và Nga. Đặc biệt Tòa đã giải quyết nhiều tranh chấp liên quan đến quyền được hưởng vùng biển, quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển như tranh chấp liên quan đến quyền của các quốc gia ven biển ở Biển Đen, Biển Azov, và Kênh Kerch giữa Ukraine và Nga, và vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong số các tranh chấp đã được đệ trình lên cơ chế bắt buộc của UNCLOS, nhiều tranh chấp liên quan đến các nước châu Á.  ITLOS đã giải quyết 3 tranh chấp liên quan đến Nhật Bản, 2 tranh chấp liên quan đến Úc, 1 tranh chấp liên quan đến Ấn Độ, Malaysia, Singapore và Myanmar. Các Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS thụ lý 2 tranh chấp liên quan đến Ấn Độ, 1 tranh chấp liên quan đến Trung Quốc và 1 tranh chấp liên quan đến Philippines. Đối với các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, ITLOS đã xử lý 5 tranh chấp về việc giải thích và thực hiện Công ước liên quan đến Nga, 3 tranh chấp liên quan đến Pháp, 1 tranh chấp liên quan đến Anh. Các Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS cũng đã thụ lý 2 tranh chấp liên quan đến Nga, 2 tranh chấp liên quan đến Anh, 1 tranh chấp liên quan đến Trung Quốc.

Về nguyên tắc, các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước sẽ được giải quyết thông qua cơ chế bắt buộc của UNCLOS. Một số trường hợp ngoại lệ có thể không được giải quyết bằng thủ tục tư pháp bắt buộc, nhưng vẫn thuộc phạm vi giải quyết của thủ tục hòa giải bắt buộc. Điều này được chứng minh trên thực tế qua vụ hòa giải biển Timor Sea giữa Timor-Leste và Australia.

Hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS

Hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đối với việc thúc đẩy trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế còn được thể hiện thông qua việc thực thi quyết định của các bên tranh chấp có liên quan. Theo đó, quyết định của các cơ quan giải quyết tranh chấp UNCLOS về cơ bản đều được các bên tôn trọng. Pháp đã ba lần tham gia thủ tục bắt buộc tại ITLOS và trong cả ba trường, Pháp đều tuân thủ quyết định của ITLOS. Nhật Bản có hai tranh chấp do Nga đệ trình lên ITLOS, trong cả hai vụ, Nhật Bản đều thả tàu theo phán quyết của Tòa.  Đối với vụ nhà máy MOX, hai tuần sau khi ITLOS ban hành biện pháp tạm thời, Ireland và Anh đều đệ trình lên Tòa báo cáo thực thi.  Đối với vụ lấn biển, trên cơ sở quyết định của ITLOS, Malaysia và Singapore đã thành lập nhóm chuyên gia độc lập để xem xét tác động của hoạt động lấn biển của Singapore; khuyến nghị của nhóm chuyên gia đã được hai bên chấp thuận. 

Kể cả trong các tranh chấp nhạy cảm như tranh chấp về phân định biển, phán quyết của các cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS cũng đều được các bên tuân thủ. Trong vụ phân định biển giữa Barbados với Trinidad và Tobago, sau khi Tòa Trọng tài Phụ lục VII ra Phán quyết phân định biển, hai bên đã ra tuyên bố hoan nghênh và khẳng định sẵn sàng thực hiện Phán quyết. Tương tự, trong vụ phân định biển giữa Guyana và Surinam, sau khi Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII ra Phán quyết, hai bên đều khẳng định chấp nhận Phán quyết của Tòa.  Đối với tranh chấp liên quan đến phân định biên giới biển ở Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Myanmar và giữa Bangladesh và Ấn Độ, tất cả các bên đều tuyên bố sẽ thực thi Phán quyết. Trong vụ Ghana v. Côte d’Ivoire, ngay sau khi Viện đặc biệt của ITLOS ra Phán quyết phân định biển, hai nước đã ban hành Thông cáo chung, nhấn mạnh Phán quyết của Tòa đã củng cố quan hệ giữa hai nước, khẳng định hai nước chấp nhận và tuân thủ quyết định.

Ngay cả trong tranh chấp về phân định biển được đưa ra trước Ủy ban Hòa giải vốn không có tính ràng buộc, các bên liên quan cũng cam kết tuân thủ khuyến nghị của Ủy ban. Ngày 26/9/2016, Australia tuyên bố chấp nhận quyết định về thẩm quyền của Ủy ban Hòa giải.  Năm 2018, một hiệp ước về phân định biên giới biển đã được các bên ký kết theo khuyến nghị của Ủy ban Hòa giải.

Ý nghĩa của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS trong trường hợp một bên không tuân thủ

Thực tế cho thấy cũng có một số ít trường hợp nước lớn đã không tuân thủ phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp của UNCLOS, nổi bật là vụ kiện trọng tài Biển Đông, trong đó Trung Quốc nhiều lần tuyên bố Phán quyết là vô hiệu, không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, kể cả trong trường hợp này, quyết định của các cơ quan tài phán của UNCLOS cũng không phải là vô nghĩa.

Về pháp lý, quyết định có giá trị ràng buộc của các cơ quan tài phán UNCLOS đã làm rõ nhiều câu hỏi liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Chẳng hạn, Phán quyết đã lần đầu tiên giải thích và áp dụng Điều 121(3) liên quan đến quyền được hưởng vùng biển của đảo đá, kết luận không có cấu trúc nổi nào ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng. Phán quyết đã khẳng định tính bất hợp pháp của yêu sách “quyền lịch sử” trong “đường đứt đoạn”. Phán quyết cũng làm rõ quốc gia lục địa không có quyền yêu sách đường cơ sở thẳng đối với quần đảo ngoài khơi.

Với Phán quyết của Toà Trọng tài Phụ lục VII, bối cảnh pháp lý của tranh chấp Biển Đông đã trở nên rõ ràng hơn. Các kết luận của Tòa đã làm sáng tỏ giới hạn của vùng biển mà Trung Quốc có thể hưởng ở phía Nam Biển Đông, thu hẹp rất đáng kể phạm vi vùng biển tranh chấp tại quần đảo Trường Sa; hệ quả là tất cả các hoạt động hoặc tuyên bố của Trung Quốc ở những khu vực không chồng lấn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển khác tại Biển Đông đều không có giá trị pháp lý.

Trên thực tế, chính quyền Philippines cho biết Phán quyết đã tạo đòn bẩy, tăng vị thế pháp lý của Philippines, củng cố lập trường pháp lý của Philippines trong tranh chấp Biển Đông. Phán quyết được nhiều nước trong và ngoài khu vực viện dẫn để thể hiện lập trường liên quan đến những diễn biến phức tạp ở Biển Đông. Phán quyết cũng là cơ sở để nhiều nước lưu hành Công hàm tại Liên hợp quốc thể hiện lập trường về vấn đề Biển Đông, bác bỏ các yêu sách biển không phù hợp với UNCLOS, thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Kết luận

Thực tiễn sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS trong 30 năm qua kể từ khi UNCLOS có hiệu lực đã xác nhận tính chất bắt buộc và hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS. Bằng việc phê chuẩn và trở thành thành viên UNCLOS, các quốc gia đã tự nguyện chấp thuận từ trước các cơ chế giải quyết mang tính bắt buộc của Công ước, do đó, việc một bên đơn phương đưa tranh chấp ra giải quyết tại một cơ quan tài phán đã được Công ước trù định là hoàn toàn phù hợp với “nguyên tắc chấp thuận” trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các nước.

Các thủ tục bắt buộc của UNCLOS là khá toàn diện vì bao gồm hầu như đầy đủ các cơ quan tài phán mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn sử dụng để giải quyết tranh chấp. Trong một số ít trường hợp, Phán quyết của cơ chế giải quyết tranh chấp không được các bên tuân thủ đầy đủ, nhưng vẫn mang lại giải pháp có tính công bằng, khách quan, ràng buộc, chung thẩm, góp phần củng cố lập luận, hỗ trợ các biện pháp đấu tranh ngoại giao, chính trị và tuyên truyền, tạo thêm thế và lực cho các quốc gia vừa và nhỏ trong việc tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững, công bằng trong tranh chấp với các nước lớn có ưu thế vượt trội về chính trị, quân sự, kinh tế và tầm ảnh hưởng. Với chế định giải quyết tranh chấp bắt buộc được quy định tại Phần XV, UNCLOS đã tạo ra một “sân chơi” bình đẳng qua đó tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều bị ràng buộc bởi cùng một khung pháp lý và đều có thể sử dụng cơ chế của UNCLOS để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo Công ước. Kể cả  châu Á, khu vực thường được xem là “vùng trũng” về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp tư pháp, cũng đã có nhiều tranh chấp được đệ trình lên các thủ tục bắt buộc của UNCLOS. Điều này cho thấy, khi mà việc giải quyết tranh chấp biển được quy định cụ thể thông qua cơ chế bắt buộc của UNCLOS, ngày càng có nhiều quốc gia sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS để giải quyết tranh chấp, qua đó ngăn ngừa xung đột, duy trì hòa bình, ổn định, phát triển và trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế.

Song An

]]>
Vấn đề an ninh Biển Đông tại hội nghị thượng đỉnh Nhóm Bộ Tứ năm 2024 https://biendong.net/2024/10/09/van-de-an-ninh-bien-dong-tai-hoi-nghi-thuong-dinh-nhom-bo-tu-nam-2024/ Wed, 09 Oct 2024 01:25:00 +0000 https://biendong.net/?p=140163 Ngày 21/9/2024, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 Nhóm Bộ tứ đã diễn ra tại thành phố Wilmington, bang Delaware (Mỹ).

Trong bối cảnh tình hình thế giới phức tạp với cuộc chiến Ukraine chưa có hồi kết và xung đột ở Trung Đông ngày càng mở rộng, tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Trung Quốc gia tăng các hành động hung hãn nhằm vào Philippines ở Biển Đông và gia tăng các hoạt động quân sự gây sức ép với Nhật Bản và Đài Loan, Tổng thống nước chủ nhà Joe Biden cùng Thủ tướng Australia Anthony Albanese, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã trao đổi sâu rộng các vấn đề liên quan tới an ninh khu vực, đồng thời đưa ra những sáng kiến cụ thể nhằm xây dựng một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở dựa trên pháp luật.

Phát biểu tại hội nghị, Tổng thống Mỹ Biden bày tỏ sự hoan nghênh chuyến thăm của các nhà lãnh đạo tới bang Delaware, quê hương của ông, đồng thời nhấn mạnh rằng, 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ cần nỗ lực tăng cường hợp tác cùng nhau về mặt chiến lược để nâng tầm Nhóm Bộ Tứ, cũng như nâng cao vị thế, tầm quan trọng của Nhóm trong thời gian tới.

Trong cuộc họp kín với 3 nhà lãnh đạo Nhật Bản, Australia và Ấn Độ, Tổng thống Biden nhấn mạnh: “Trung Quốc tiếp tục thử thách chúng ta trên khắp khu vực”. Tổng thống Mỹ cho rằng, Trung Quốc đang tập trung xử lý “những thách thức kinh tế trong nước”, nhưng cũng “tìm cách mở rộng không gian ngoại giao, theo quan điểm của tôi, để theo đuổi lợi ích của nước này một cách quyết liệt”. Ông Biden khẳng định những nỗ lực mạnh mẽ gần đây của Washington nhằm giảm căng thẳng, bao gồm cả cuộc điện đàm của ông Biden với ông Tập vào tháng 4-2024, đang giúp ngăn ngừa xung đột. Giới truyền thông khi đưa về các thông tin này cho rằng thông tin đã bị rò rỉ do sự cố micro, tuy nhiên một số chuyên gia cho rằng có thể sự rò rỉ thông tin là do sự cố ý của Nhà Trắng nhằm truyền thông điệp cảnh cáo tới Bắc Kinh.

Thủ tướng Nhật Bản Kishida nhấn mạnh: “Trong bối cảnh môi trường an ninh đang ngày càng trở nên nghiêm trọng với những diễn biến phức tạp, khó lường, và trật tự quốc tế dựa trên pháp quyền đang bị đe dọa, đặc biệt là tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Nhóm Bộ tứ cũng như các quốc gia khác có cùng chí hướng cần tăng cường hợp tác, nhất là an ninh hàng hải nhằm đảm bảo an ninh khu vực này luôn tự do và rộng mở”.

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhấn mạnh: “Tất cả chúng ta đều ủng hộ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như giải quyết mọi vấn đề một cách hòa bình. Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, cởi mở, toàn diện và thịnh vượng là ưu tiên và cam kết chung của chúng tôi”.

Thủ tướng Australia Anthony Albanese nói với các phóng viên hôm 20/9 rằng Canberra và Washington chia sẻ mối quan ngại về tham vọng an ninh của Trung Quốc tại các quốc gia Quần đảo Thái Bình Dương, nơi Bắc Kinh đang tìm kiếm vai trò cảnh sát ngày càng tăng. Ông Anthony Albanese nói: “Chúng tôi sẽ thảo luận về những cách thức mà chúng tôi có thể cung cấp thêm hỗ trợ trong khu vực cho các quốc gia đang phát triển, bao gồm cả hành động mà chúng tôi đang cùng nhau thực hiện về biến đổi khí hậu và hỗ trợ an ninh năng lượng của họ”.

Một sáng kiến nổi bật được các nhà lãnh đạo đưa ra tại hội nghị lần này là kế hoạch tổ chức các cuộc tuần tra chung của lực lượng bảo vệ bờ biển, bắt đầu từ năm 2025, cũng như mở rộng chương trình đào tạo cho các quốc gia khác trong khu vực nhằm nâng cao năng lực giám sát, thực thi luật pháp trên biển, và ngăn chặn hành vi bất hợp pháp. Ngoài ra, Nhóm Bộ tứ cũng đã công bố một loạt sáng kiến nhằm mang lại tác động tích cực cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm hợp tác trong các hoạt động hậu cần quân sự và cung cấp các công nghệ hàng hải mới cho các đối tác của nhóm.

Theo một quan chức cấp cao của Mỹ, cuộc tuần tra đầu tiên của các lực lượng bảo vệ bờ biển của Nhóm Bộ tứ sẽ do Mỹ chỉ huy, song địa điểm cụ thể của cuộc tuần tra chưa được tiết lộ. Giới chuyên gia nhận định, qua việc hợp tác giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển, các quốc gia Bộ tứ không chỉ tăng cường an ninh cho khu vực mà còn khẳng định cam kết chung đối với một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.

Các nhà quan sát nhận định kế hoạch về tổ chức các cuộc tập trân chung của lực lượng bảo vệ bờ biển 4 nước là bước đi cụ thể của Nhóm Bộ tứ trong việc mở rộng sáng kiến “Đối tác Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương về nhận thức trong lĩnh vực hàng hải (IPMDA)” được công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm Bộ tứ tại Nhật Bản cách đây 2 năm.

Giới phân tích cho rằng, các sáng kiến an ninh hàng hải mới được đưa ra vào thời điểm Trung Quốc đang tăng cường các hành động hung hăng, gây sức ép lên các đối thủ tranh chấp lãnh thổ của mình ở Biển Đông và biển Hoa Đông sẽ gửi một thông điệp mạnh mẽ tới Bắc Kinh. Họ nói rằng sáng kiến này cũng sẽ đại diện cho sự chuyển hướng trọng tâm hơn nữa trong các hoạt động của Nhóm Bộ tứ sang các vấn đề an ninh, phản ánh mối lo ngại ngày càng tăng về ý định của Trung Quốc.

Sau Hội nghị các bên ra Tuyên bố chung, trong đó lãnh đạo 4 nước phản đối các nỗ lực cản trở hoạt động khai thác tài nguyên ngoài khơi của các quốc gia khác, đồng thời tái khẳng định rằng các tranh chấp trên biển phải được giải quyết một cách hòa bình và phù hợp với luật pháp quốc tế. Các lãnh đạo Bộ tứ khẳng định rằng luật pháp quốc tế, bao gồm tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cùng với việc duy trì hòa bình, an ninh, an toàn và ổn định trong lĩnh vực hàng hải, phải được ưu tiên hàng đầu.

Tuyên bố chung nêu rõ: “Chúng tôi nhấn mạnh tính phổ quát và thống nhất của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và tái khẳng định rằng UNCLOS đặt ra khuôn khổ pháp lý cho mọi hoạt động trên đại dương và biển. Chúng tôi nhấn mạnh rằng phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế năm 2016 liên quan vấn đề Biển Đông là một cột mốc quan trọng và là cơ sở để giải quyết hòa bình các tranh chấp giữa các bên”.

Trong tuyên bố chung sau Hội nghị Thượng đỉnh, 4 nước thành viên Nhóm Bộ tứ đã bày tỏ lo ngại về tình hình quanh Trung Quốc, nhưng không đề cập trực tiếp đến Bắc Kinh. Tuyên bố chung viết: “Chúng tôi rất quan ngại về tình hình ở biển Hoa Đông và Biển Đông”, đồng thời lên án “những hành động cưỡng bức và hăm dọa” ở Biển Đông. Đánh giá về kết quả Hội nghị Thượng đỉnh lần này, Chuyên gia về châu Á tại trung tâm nghiên cứu an ninh Mỹ (Center for a New American Security), Lisa Curtis, nhấn mạnh “sáng kiến mới của Nhóm Bộ tứ về an ninh hàng hải sẽ là một tín hiệu mạnh mẽ nhắm tới Trung Quốc”. Theo bà Curtis, hội nghị lần này đưa ra một thông điệp, đó là khối này sẽ “phối hợp hành động với liên minh của các quốc gia có cùng chí hướng, để đáp trả những hành động hù dọa trên biển” của bất kỳ một quốc gia nào. Chuyên gia Lisa Curtis cho rằng nhiều khả năng những hành động hung hăng từ phía Trung Quốc trong thời gian gần đây ở Biển Đông có thể khiến Ấn Độ (nước luôn có sự thận trọng trong hợp tác an ninh của Nhóm Bộ tứ) “thay đổi quan điểm”, nhất trí mở rộng hợp tác về an ninh trong Nhóm Bộ tứ.

Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm Bộ tứ lần này diễn ra ngay trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh tương lai của Đại hội đồng Liên hợp quốc Khoá 79, do vậy các nhà lãnh đạo Nhóm Bộ tứ nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc cải tổ Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuyên bố chung sau hội nghị nêu rõ: “Chúng tôi sẽ cải tổ Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhận ra nhu cầu cấp thiết phải làm cho tổ chức này mang tính đại diện hơn, toàn diện hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn, dân chủ hơn và có trách nhiệm hơn thông qua việc mở rộng các thành viên thường trực và không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc”. Tuyên bố chung có đoạn: “Chúng tôi nhắc lại nhu cầu về một nền hòa bình toàn diện, công bằng và lâu dài phù hợp với luật pháp quốc tế, phù hợp với các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, bao gồm tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.

Giới phân tích nhận định việc Nhóm Bộ tứ nêu ra nội dung liên quan đến Liên hợp quốc cũng là xuất phát từ yêu cầu khách quan là ngăn chặn những hành vi coi thường luật pháp quốc tế, vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc đang diễn ra ở cả châu Âu (Nga tấn công Ukraine) lẫn châu Á mà tiêu biểu là những hành vi hung hăng gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, biển Hoa Đông, eo Biển Đài Loan.

Có ý kiến lo ngại Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm Bộ tứ được Tổng thống Biden khởi động vào năm 2021 có thể sẽ không còn duy trì sau khi ông Biden rời Nhà Trắng. Tuy nhiên, giới quan sát nhận định việc ông Biden tổ chức họp Nhóm Bộ tứ tại Mỹ là một phần trong nỗ lực thể chế hóa nhóm này trước khi ông rời nhiệm sở và ông Kishida, người sẽ từ chức sau cuộc tranh cử lãnh đạo trong tháng 10/2024 cũng như cuộc bầu cử ở Úc vào năm tới. Tại hội nghị các nhà lãnh đạo đặt mục tiêu bảo đảm tương lai của cơ chế hợp tác này. Theo một quan chức Mỹ giấu tên, “mặc dù là nền tảng cho di sản Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Tổng thống Joe Biden, nhưng Bộ tứ đang trở thành một thể chế sẽ tiếp tục định hình bối cảnh địa chính trị của khu vực”.

Một quan chức cấp cao của Hoa Kỳ cho biết: “Chúng tôi kỳ vọng Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm Bộ tứ này… sẽ chứng minh rằng các đối tác của Bộ Tứ có sự liên kết chiến lược hơn bao giờ hết, rằng họ vẫn cam kết dành nguồn lực thực sự cho nỗ lực này để cung cấp hàng hóa công cho Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và quan trọng nhất là Bộ tứ sẽ tồn tại lâu dài”. Vị quan chức này lưu ý: (i) Nhóm Bộ tứ đã họp ở cấp Bộ trưởng Ngoại giao dưới thời chính quyền của cựu Tổng thống Donald Trump, nên dù bà Kamala Harris hay ông Donald Trump thắng cử vào tháng 11 tới thì Nhóm Bộ tứ vẫn được tiếp tục; (ii) Nhóm Bộ tứ nhận được sự ủng hộ của lưỡng đảng, thể hiện qua việc thành lập Nhóm nghị sĩ Bộ tứ trước Hội nghị Thượng đỉnh lần này.

Bà Kathryn Paik – thành viên cấp cao của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) – nhấn mạnh, Bộ tứ là một trong những nhóm khá hiếm hoi nhận được sự ủng hộ rộng rãi của lưỡng đảng tại Mỹ. Vì vậy, xét từ quan điểm của Washington, mục đích chính của Hội nghị Thượng đỉnh năm 2024 là để thể chế hóa mô hình hợp tác này hơn nữa, đồng thời trấn an các đối tác khác về quyết tâm của Mỹ trong việc duy trì nhóm. Bốn nhà lãnh đạo nhất trí Hội nghị Thượng đỉnh tiếp theo của Nhóm Bộ tứ dự kiến được tổ chức tại Ấn Độ. Tóm lại, việc lãnh đạo 4 nước Nhóm Bộ tứ đạt được nhất trí về tăng cường hợp tác an ninh trên biển ở khu vực, trong đó có việc tiến hành các cuộc tuần tra chung của lực lượng bảo vệ bờ biển 4 nước là biện pháp thiết thực hỗ trợ các nước ven Biển Đông cũng như trong khu vực đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh. Chúng ta cùng chờ đợi Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 7 sẽ được tổ chức vào năm tới để đóng góp vào duy trì trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông và trong khu vực, ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.

]]>
Tác động tới Biển Đông từ thỏa thuận quốc phòng giữa Úc – Indonesia https://biendong.net/2024/09/12/tac-dong-toi-bien-dong-tu-thoa-thuan-quoc-phong-giua-uc-indonesia/ Thu, 12 Sep 2024 01:57:00 +0000 https://biendong.net/?p=141872 Tổng thống đắc cử Indonesia, Bộ trưởng Quốc phòng Prabowo Subianto đã tới thăm Úc trước khi nhậm chức 2 tháng. Thủ tướng Úc Anthony Albanese đã tiếp đón người đồng cấp sắp tới của mình tại một cuộc họp cùng với các bộ trưởng cấp cao của Úc tại Tòa nhà Quốc hội hôm 20/8/2024.

Hai bên chính thức công bố việc ký kết một thoả thuận quốc phòng mới giữa Canberra và Jakarta. Thủ tướng Úc Anthony Albanese nhấn mạnh: “Hiệp định lịch sử này sẽ là một phần căn bản trong các hợp tác giữa hai nước chúng ta trong lĩnh vực an ninh”, trong khi đó ông Subianto bày tỏ thoả thuận quốc phòng mới “sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên”.

Thỏa thuận hợp tác quốc phòng mới giữa Úc và Indonesia đã được hai bên đàm phán từ tháng 2/2024 và được hoàn thiện trong chuyến thăm Canberra của Tổng thống đắc cử Indonesia Prabowo Subianto. Đúng theo kế hoạch, trong chuyến thăm Indonesia của Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles một tuần sau đó, ngày 29/8, Indonesia và Úc đã ký thỏa thuận quốc phòng mới, cam kết hợp tác chặt chẽ hơn để ứng phó với các mối đe dọa an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Thoả thuận bao gồm các điều khoản về tổ chức các cuộc tập trận chung và triển khai lực lượng tới mỗi nước. 

Như vậy, thoả thuận quốc phòng mới sẽ chứng kiến ​​Indonesia mở cửa các căn cứ quân sự của mình cho lực lượng Phòng vệ Úc, đồng thời tinh giản hoạt động huấn luyện quân sự của Indonesia tại Úc. Nội dung chi tiết của thoả thuận quốc phòng không được công bố, nhưng được cho là sẽ cung cấp khuôn khổ cho việc tiếp cận có đi có lại các cơ sở quân sự của hai quốc gia, và bao gồm các cam kết về đào tạo, tuần tra chung trên biển, gìn giữ hòa bình và các hoạt động nhân đạo.

Phát biểu trong cuộc họp báo chung với ông Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Prabowo Subianto mô tả Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Úc-Indonesia là một “cột mốc lịch sử”. Ông Subianto nêu rõ hai nước thực hiện thỏa thuận nhằm tăng cường hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau ứng phó các mối đe dọa an ninh cũng như thúc đẩy hòa bình và ổn định bền vững ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ông Prabowo Subianto cũng nhấn mạnh rằng thỏa thuận này không phải là một hiệp ước quân sự hay liên minh quân sự, đồng thời cho biết ông hy vọng sẽ tạo dựng mối quan hệ bền chặt hơn với Úc trong tương lai.

Về phần mình, ông Richard Marles cho biết đây là thỏa thuận quốc phòng quan trọng nhất giữa hai nước và là một thỏa thuận “ở tầm hiệp ước”. Theo ông, với thỏa thuận này, Úc và Indonesia sẽ có được khả năng tương tác lớn hơn nhiều giữa các lực lượng phòng thủ của hai nước. Hai nước dự kiến tiến hành một cuộc tập trận chung ở Đông Java vào tháng 11 tới, với sự tham gia của gần 2.000 quân nhân. Ông Marles cho biết cuộc tập trận bao gồm các nội dung diễn tập trên không, trên bộ, trên biển và không gian mạng. Đây sẽ là cuộc tập trận lớn nhất mà Úc thực hiện ở nước ngoài trong năm nay.

Trước đó các giới chức Úc và Indonesia đã đưa ra nhiều đánh giá về thoả thuận quốc phòng mới này. Úc và Indonesia chia sẻ đường biên giới trên biển dài nhất thế giới. Hai bên đã hợp tác trên nhiều lĩnh vực như an ninh trên biển, chống nạn buôn người và nạn buôn lậu ma túy. Bà Curie Maharani, chuyên gia về quốc phòng Đại học Binus, ở Jakarta, nhận định: “Chắc chắn đây là thỏa thuận hoàn chỉnh nhất về lĩnh vực quốc phòng mà Indonesia từng ký kết cho đến nay”.

Chính phủ của Thủ tướng Albanese ca ngợi thỏa thuận ở mức hiệp ước này là một thỏa thuận “vô cùng quan trọng” sẽ trở thành nền tảng mới cơ bản trong an ninh của quốc gia và an ninh của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung. Thủ tướng Anthony Albanese, cho biết thỏa thuận này là một bước đột phá trong mối quan hệ song phương của hai quốc gia. Ông Anthony Albanese nhấn mạnh: “Hiệp ước lịch sử này sẽ củng cố sự hợp tác quốc phòng mạnh mẽ của chúng ta bằng cách tăng cường đối thoại, tăng cường khả năng tương tác và tăng cường các thỏa thuận thực tế”; đồng thời coi “đây sẽ là nền tảng quan trọng để hai nước chúng ta hỗ trợ an ninh của nhau, điều này rất quan trọng đối với cả hai nước, cũng như đối với sự ổn định của khu vực mà chúng ta cùng chia sẻ”.

Ông Prabowo – Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia, người sẽ tuyên thệ nhậm chức Tổng thống vào tháng 10/2024 – mô tả hiệp ước này là “thỏa thuận láng giềng tốt”, đồng thời kêu gọi Úc tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế của Indonesia và cuộc chiến chống ma túy của nước này. Ông Prabowo cho biết trong khi ông quyết tâm duy trì vị thế không liên kết của đất nước mình, ông muốn củng cố mối quan hệ của Indonesia với các đối tác chủ chốt. Ông Prabowo nhấn mạnh: “Tôi đã nhiều lần tuyên bố rằng chúng tôi muốn có mối quan hệ tốt nhất với tất cả các cường quốc, nhưng đặc biệt là với các nước láng giềng của chúng tôi”.

Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles nhấn mạnh rằng từ giờ trở đi, quan hệ chung của Úc và Indonesia sẽ được xác định bởi niềm tin chiến lược sâu sắc này. Ngoài ra, hiệp định cũng phản ánh cam kết của Úc trong việc duy trì ổn định khu vực, đặc biệt trong bối cảnh các thỏa thuận quốc phòng khác như AUKUS đã được ký kết. Ông Richard Marles nhấn mạnh: “Tôi đã tuyên bố rằng tôi muốn củng cố chính sách láng giềng tốt. Về mặt này, tôi rất nhận thức rõ và tôi rất hiểu tầm quan trọng của mối quan hệ Úc-Indonesia với tư cách là … những nước láng giềng, và tôi muốn tiếp tục sự hợp tác và phối hợp này”.

Giới chuyên gia nhận định sau chuyến thăm tới Canbera của Tổng thống đắc cử Indonesia, Bộ trưởng Quốc phòng Prabowo Subianto, nhất là sau khi ký kết thoả thuận hợp tác quốc phòng mới, Úc và Indonesia sẽ tăng cường các cuộc tập trận quân sự chung lên mức chưa từng có và thúc đẩy hợp tác an ninh hàng hải theo một thỏa thuận quốc phòng mới mang tính lịch sử nhằm chống lại các mối đe dọa ngày càng gia tăng từ Trung Quốc.

Chính trị gia Peter Dutton, người đã từng giữ nhiều chức vụ Bộ trưởng trong chính phủ Úc, kể cả Bộ trưởng Quốc phòng (năm 2021-2022), tán thành hiệp ước này là một sự phát triển “rất quan trọng” làm nổi bật “tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta (Úc và Indonesia)”. Giám đốc chương trình an ninh quốc tế của Viện Lowy Sam Roggeveen cho biết mặc dù Indonesia không liên kết với phương Tây để chống lại Trung Quốc, nhưng thỏa thuận này đã mang đến cho Úc cơ hội vô song để giúp Indonesia đứng vững hơn trong khu vực rộng lớn hơn.

Giới chuyên gia nhận định Hiệp ước quốc phong mới giữa Úc-Indonesia sẽ có tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, cụ thể là:

Thứ nhất, thoả thuận hợp tác quốc phòng mới giữa Úc và Indonesia là nền tảng để hai bên đẩy mạnh hợp tác an ninh quốc phòng trên biển, qua đó Úc có thể can dự sâu hơn vào Biển Đông. Từ năm 2007, Canberra và Manila đã ký thoả thuận quốc phòng về lực lượng thăm viếng song phương (SOVFA), tháng 5/2024, Thủ tướng Úc đã ký với Tổng thống Philippines Marcos nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lươc và quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Úc và Philippines được nâng lên một cấp độ mới. Đây là cơ sở để Úc cùng với Philippines tiến hành tuần tra, tập trận song phương và đa phương với các đồng minh ở Biển Đông, trở thành nhân tố kiềm chế Trung Quốc.

Thoả thuận hợp tác quốc phòng giữa Úc và Indonesia được ký kết hôm 29/8 được giới chuyên gia coi là một mốc mới quan trọng trong việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai quốc gia láng giềng lớn trong khu vực. Indonesia là một nước lớn trong ASEAN và có vai trò quan trọng đối với duy trì hoà bình ổn định, tự do và an toàn hàng hải ở Biển Đông. Mặc dù không phải là bên liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, nhưng việc Trung Quốc thúc đẩy yêu sách “đường 9 đoạn” đã lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia xung quanh quần đảo Natuna. Thoả thuận hợp tác quốc phòng hôm 29/8 sẽ tạo điều kiện cho Úc can dự sâu hơn vào Biển Đông qua Indonesia như đã họ làm qua Philippines. Một số chuyên gia còn dự báo thoả thuận hợp tác quốc phòng mới có thể tạo cơ sở cho Úc và Indonesia diễn tập, tuần tra chung ở Biển Đông.

Thứ hai, việc Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Prabowo Subianto thăm Úc và ngay sau đó ký thoả thuận hợp tác quốc phòng mới với người đồng cấp Úc trước khi nhậm chức vào tháng 10 tới cho thấy xu hướng chính sách của chính quyền Jakarta trong những năm tới là một chính sách thực dụng, lấy việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng với những nước láng giềng xung quanh để đối phó với các thách thức ở khu vực, kể cả ở Biển Đông. Bắc Kinh không dễ để triển khai các hành động xâm lấn nhằm vào vùng biển của Indonesia ở Nam Biển Đông trong những năm tới.

Việc mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng bao gồm các hoạt động tập trận chung, triển khai lực lượng trên lãnh thổ của nhau hay tuần tra chung trên biển giữa Úc và Indonesia – hai nước chia sẻ đường biên giới hàng hải dài nhất thế giới – chứng minh một điều dù hai nước có đường biên giới trên biển lớn bao nhiêu đều có thể giải quyết thoả đáng các vấn đề liên quan để chia sẻ các lợi ích chung trên biển. Úc và Indonesia đã có sự hợp tác chặt chẽ trong nhiều lĩnh vực như an ninh, chống buôn người và ma túy. Việc ký kết thoả thuận hợp tác quốc phòng này nhằm củng cố thêm sự tin cậy chiến lược giữa hai nước láng giềng. Đây cũng có thể là mô hình đề các nước ASEAN có tranh chấp trên biển có thể mở rộng hợp tác với nhau. Bắc Kinh cũng cần noi theo những gì Úc và Indonesia đã làm để giảm căng thẳng, duy trì hoà bình, ổn định ở Biển Đông.

Thứ ba, việc tăng cường hợp tác quốc phòng giữa Úc và Indonesia không ảnh hưởng đến chính sách trung lập, không liên kết của Jakarta và đây có thể là cách để các nước ven Biển Đông mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng với các nước ngoài khu vực để nâng cao năng lực phòng thủ quốc gia và năng lực thực thi pháp luật trên biển như Indonesia đã làm. Trong chuyến thăm Úc và khi ký thoả thuận hợp tác quốc phòng mới với người đồng cấp Úc, Bộ trưởng Quốc phòng – Tổng thống đắc cử của Indonesia – Prabowo Subianto khẳng định rằng Indonesia sẽ duy trì chính sách không liên kết và giữ mối quan hệ tốt với các bên và  thoả thuận quốc phòng mới này sẽ không ảnh hưởng đến cam kết của Indonesia về việc duy trì sự cân bằng trong quan hệ quốc tế. Đây là điều mà các nước ven Biển Đông khác cần nghiên cứu, học tập nhằm tạo thế trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông. Nhà phân tích quốc phòng Euan Graham của Viện Chính sách Chiến lược Úc cho biết thỏa thuận quốc phòng mới này có khả năng thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới và ủng hộ thái độ thực dụng hơn đối với AUKUS của Indonesia, quốc gia đã bày tỏ lo ngại về tham vọng tàu ngầm hạt nhân của Úc. Mặt khác, ông Euan Graham cũng cho biết: “Quan điểm của Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Prabowo Subianto về mối quan hệ với Úc chủ yếu là quan hệ láng giềng với láng giềng, chứ không phải là đối tác trong việc hỗ trợ trật tự khu vực”. Điều này có thể hạn chế việc mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng giữa Canberra và Jakarta bởi Indonesia không công khai chia sẻ nhận thức của Úc về mối đe dọa do Trung Quốc gây ra. Nhà phân tích Euan Graham bày tỏ: “Tôi nghi ngờ rằng… Canberra sẽ phải tìm kiếm ở nơi khác trong khu vực để có được loại quyền tiếp cận chiến lược đáng tin cậy mà họ cần trong bối cảnh an ninh đang xấu đi”. Bất luận thế nào thì thoả thuận quốc phòng mới giữa Úc và Indonesia là có lợi cho việc duy trì cục diện dựa trên pháp luật, bảo đảm tự do an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông và là tích cực đối với các nước ven Biển Đông chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

]]>
Liệu Mỹ có phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển không? https://biendong.net/2024/07/19/lieu-my-co-phe-chuan-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-khong/ Fri, 19 Jul 2024 01:37:00 +0000 https://biendong.net/?p=133170 Ngày 10/12/1982, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) chính thức được ký kết, có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Trải qua hơn 40 năm, UNCLOS 1982 không chỉ là một văn kiện pháp lý quốc tế có giá trị phổ quát, giúp các quốc gia thiết lập được trật tự pháp lý toàn diện, công bằng, hòa bình trên biển, mà còn có giá trị hướng về tương lai, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của nhân loại. Đến nay, cả thế giới đã có 168 thành viên, gồm các quốc gia, vùng lãnh thổ và thể chế tham gia UNCLOS 1982.

Thế nhưng, Mỹ – cường quốc hàng đầu thế giới và cũng là quốc gia sở hữu hàng ngàn hải lý biển mà cho đến nay, vẫn chưa ký kết Công ước này. Lý do nào mà Mỹ lại chưa tham gia, hiện tại và tương lai sắp tới, Mỹ sẽ ứng xử thế nào đối với UNCLOS 1982 là những vấn đề được cộng đồng quốc tế, nhất là các quốc gia có biển rất quan tâm, trong đó có cả các chính khách, giới tinh hoa chính trị và giới chuyên gia nghiên cứu của cả Mỹ và các nước.

Lý do nào khiến Mỹ đến nay, vẫn chưa ký kết UNCLOS 1982…

Với việc có nhiều đóng góp vào trong các chế định và văn bản quy phạm pháp luật quốc tế đương đại quan trọng của thế giới, trong đó có cả UNCLOS 1982, có thể nói, Mỹ chính là một trong những quốc gia nhiệt thành trong quá trình đàm phán để hình thành nên UNCLOS 1982. Thế nhưng, khi Bộ Luật nay được hoàn tất, thì Chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan (1981 – 1989) lại “lắc đầu” không ký, khiến dư luận khá bất ngờ. Cho đến nay, Mỹ vẫn chưa phê chuẩn tham gia UNCLOS 1982, nguyên nhân có nhiều, nhưng chủ yếu là do nội bộ lãnh đạo nước này thiếu sự đồng thuận, đặc biệt là sự phản đối mạnh mẽ của phe bảo thủ trong Quốc hội Mỹ. Theo đó, phe này đưa ra nhiều lập luận, trong đó tập trung vào hai vấn đề sau:

Thứ nhất, phe bảo thủ trong chính giới Mỹ luôn nhất quán cho rằng: Đã là quốc gia hùng mạnh rồi thì không cần luật, Mỹ đã có đầy đủ tiêu chí là “siêu cường”, là quốc gia hùng mạnh nhất toàn cầu rồi nên không cần thiết phải tham gia UNCLOS. Hơn nữa, xét ở tầm vĩ mô, Bộ Luật này không có lợi cho kinh tế và an ninh của nước Mỹ, nên dù có ai phê phán, chỉ trích thì Mỹ cũng không cần tham gia.

Thực tế cho thấy, sau khi UNCLOS 1982 ra đời, đã có ít nhất hai lần Công ước này được trình ra trước Quốc hội Mỹ vào năm 1994 dưới thời Tổng thống Bill Clinton và năm 2007 dưới thời Tổng thống George W.Bush. Thế nhưng, cả hai lần đều bị ngăn chặn bởi những nhân vật bảo thủ hàng đầu, có ảnh hưởng lớn ở Mỹ, nhất là quan điểm “cứng rắn” của hai Thượng nghị sĩ là Jim DeMint và James Inhofe của đảng Cộng hòa. Ngoài ra, một số chính trị gia và học giả khác có uy tín ở Mỹ có cùng quan điểm bảo thủ cũng cực lực phản đối việc ký kết UNCLOS. Lập luận của phe này chủ yếu dựa vào những quy tắc của chủ nghĩa quốc gia bảo thủ. Theo ông Jim DeMint, Mỹ đã là một cường quốc biển từ lâu, đã hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới và có quyền tự do hàng hải từ lâu đời, nên không việc gì phải ký UNCLOS. Tương tự, học giả Steven Groves thuộc Quỹ Heritage Foundation cũng khẳng định, Washington đang sở hữu lực lượng hải quân tốt nhất thế giới, có đủ sức đảm bảo quyền tự do hàng hải trên các vùng biển mà chẳng bị ràng buộc bởi bất cứ công ước, cơ quan hay tổ chức nào. Chưa hết, trong bài viết ngày 05/6/2024 mới đây, ông Steven Groves mặc dù đã thừa nhận Công ước về Luật Biển là văn bản đồ sộ, có giá trị pháp lý cao, nhưng vẫn cho rằng Bộ Luật này “vẫn có nhiều sai sót nghiêm trọng”. Mỹ không nên tham gia vì khi tham gia, Mỹ chỉ có “mất” mà không được lợi gì trong việc ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông, bảo vệ quyền lợi của Mỹ ở Bắc Cực và khai thác khoáng sản dưới đáy biển sâu. Đặc biệt, ông Steven Groves còn nhấn mạnh, nếu tham gia vào UNCLOS thì sẽ làm cho Mỹ mất đi một nguồn lợi doanh thu lớn từ hoạt động khai thác dầu khí trên thềm lục địa mở rộng (ECS) của Mỹ do Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA) thực hiện, khi cơ quan này phân phối lại cho các nước khác. Hơn nữa, Mỹ còn phải đối mặt với các vụ kiện liên quan đến vấn đề biển với nhiều khoản chi phí rất lớn. Trong khi phe chống đối ra sức ngăn cản thì có một thực tế khác, đó là vào thời điểm UNCLOS hoàn tất, Chính quyền Reagan cũng như lưỡng viện trong Quốc hội Mỹ không hài lòng với các nội dung nói về đáy biển, tài nguyên đáy biển (được xác định là tài sản chung của nhân loại) và phương pháp khai thác thương mại chúng, được đề cập trong chương XI của UNCLOS. Đây là một trong những lý do cơ bản khiến Chính quyền Reagan không thể ký UNCLOS 1982 ngay sau khi Công ước này hoàn tất. 

Không những thế, phe phản đối còn cho rằng, nếu tham gia UNCLOS thì không ai khác mà chính Mỹ sẽ tự mình hạn chế quyền tự do hàng hải của mình. Bởi vì hiện nay, tàu thuyền của Mỹ có thể di chuyển đến bất kỳ nơi đâu trên các vùng biển thế giới, trừ vùng nội thủy của các nước khác, và vẫn có “quyền đi lại không gây hại” ở vùng lãnh hải của bất cứ quốc gia nào. Thế nhưng, nếu tham gia UNCLOS 1982 thì Washington sẽ phải “xin phép” để được đi qua vùng đặc quyền kinh tế (EZZ) của các nước khác. Đây là điều khó có thể chấp nhận đối với một cường quốc biển như Mỹ. Ngoài ra, điều này còn dẫn tới hậu quả là, Washington bị “bó tay” khi muốn duy trì lực lượng răn đe trên biển hay thực hiện biện pháp “đu dây bên miệng hố chiến tranh” như từng điều tàu chiến đến eo biển Hormuz vào đầu năm 2012. Ngoài sự thiệt hại về kinh tế, về lĩnh vực quân sự, tính bảo mật cho những bí mật quân sự của Mỹ cũng bị ảnh hưởng nếu tham gia UNCLOS 1982 vì Washington phải chia sẻ thông tin tình báo, quân sự trên biển với ISA nếu tổ chức này yêu cầu, phải thông báo và xin phép ISA khi đi qua các eo biển quốc tế. Giới bảo thủ Mỹ cho rằng, ISA là một tổ chức quốc tế, nhưng rất “quan liêu, cồng kềnh và kém hiệu quả”, thế mà lại có quyền “yêu cầu” Mỹ báo cáo các thông tin hàng hải, quân sự thì đây không khác gì một sự “sỉ nhục” đối với một cường quốc biển như Mỹ. Xa hơn nữa, là việc ISA có quyền cho phép và thu thuế các doanh nghiệp Mỹ khi thực hiện những hoạt động trên biển. Đây cũng là điều không thể chấp nhận đối với Mỹ. Việc không tham gia UNCLOS 1982 còn phục vụ cho ý đồ nhất quán của Mỹ là mở rộng tầm ảnh hưởng ra toàn cầu, xây dựng một nền quốc phòng mạnh mẽ, có sức mạnh vượt trội, cộng với chính sách đối ngoại “cứng rắn” nhằm duy trì vai trò, vị thế “lãnh đạo” thế giới mà nước này đã và đang nắm giữ. Cố Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld – một trong những người phản đối việc Mỹ ký kết UNCLOS, đã khẳng  định: “UNCLOS là một cuộc tranh giành quyền lực toàn diện, có thể là cơ chế phân phối lại của cải thế giới lớn nhất trong lịch sử nhân loại, một phúc lợi lớn của toàn cầu do người đóng thuế ở Mỹ cung cấp. Nhưng cơ chế quản lý toàn cầu không hợp lý này, lại không chịu trách nhiệm trước yêu cầu chính trị của cử tri Mỹ, đi ngược lại các nguyên tắc lập pháp dân chủ và tự trị của chính phủ Mỹ, đe dọa nền tảng lập quốc của Mỹ”.

Thứ hai, tuy chưa tham gia ký kết Công ước, nhưng các hoạt động trên biển của Mỹ cơ bản tuân thủ đúng các quy định của UNCLOS 1982 rồi, nên không cần tham gia vào Công ước này nữa. Hiện nay, về cơ bản, Mỹ không phải là thành viên của UNCLOS, nên về mặt hình thức, Mỹ không có trách nhiệm tuân thủ các điều khoản của Công ước. Tuy nhiên, vào năm 1982, không lâu sau khi nhậm chức, Chính quyền Reagan ngoài việc không ký UNCLOS 1982, còn tiến hành thực hiện một cuộc rà soát chính sách của Mỹ có liên quan đến Công ước này. Qua rà soát, Mỹ cho rằng, các quy định của UNCLOS 1982 về cơ bản phù hợp với các tập quán công pháp quốc tế. Trong khi đó, Mỹ cơ bản đã thực hiện đúng các tập quán công pháp quốc tế và đã tự cam kết trách nhiệm tuân thủ hầu hết các điều khoản như đã nêu trong UNCLOS từ rất lâu rồi, chỉ khác là những điều này chỉ nằm dưới dạng tập quán công pháp mà thôi. Việc Mỹ tuyên bố vùng lãnh hải, xác định các vùng quyền chủ quyền của Mỹ và việc giải quyết các khác biệt ranh giới biển với các quốc gia láng giềng, đều dựa trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện, đôi bên cùng có lợi. Tranh chấp phân định ranh giới biển ồn ào nhất mà Mỹ từng “vướng vào” là việc xác định ranh giới thềm lục địa tại Vịnh Maine đầu thập niên 1980 với Canada. Để giải quyết tranh chấp này, thay vì dùng vũ lực quân sự chiếm đảo, hay “quần thảo” trên vùng biển nước bạn đến tận gần lãnh hải bằng tàu đánh cá có trang bị vũ khí, hay các tàu hải trình như Trung Quốc từng làm với một số nước ở Biển Đông, Mỹ chấp thuận yêu cầu của Canada, đó là đưa tranh chấp này ra xét xử tại Tòa án Công lý quốc tế. Sẽ là không thực tế nếu cho rằng, Mỹ đã làm tròn nghĩa vụ của một cường quốc hàng hải nên không nhất thiết phải phê chuẩn Công ước, để từ đó trở thành thành viên của UNCLOS. Tuy nhiên, từ các thông tin trên cho thấy, Chính quyền Mỹ đã nhận thức rất rõ nghĩa vụ tuân thủ của mình đối với hầu hết các điều khoản nằm trong UNCLOS 1982 dưới dạng các nguyên tắc pháp lý phổ quát. Nếu nói về trách nhiệm của một nước lớn đối với các vấn đề trên biển, thì dư luận sẽ nói rằng, Mỹ vẫn là một đối tác đáng tin cậy hơn Trung Quốc rất nhiều, vì thế Mỹ sẽ tiếp tục với những gì đã làm, không cần phê chuẩn UNCLOS 1982.

Và phải chăng nội bộ nước Mỹ tất cả đều đồng thuận

Mặc dù vấn đề tham gia ký kết UNCLOS 1982 đã hai lần bị phủ quyết trước Quốc hội, nhưng vấn đề gia nhập Công ước vẫn tiếp tục được nội bộ nước Mỹ thảo luận nhiều. Ngoài việc một số quan chức lãnh đạo Mỹ như các cựu Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta đã lên tiếng ủng hộ, gần đây trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung diễn ra căng thẳng, quyết liệt hơn, nhất là trên Biển Đông, vùng biển có vị trí địa chiến lược to lớn, thì ngày càng có nhiều người thuộc các chính giới khác nhau ở Mỹ, cũng như các đồng minh, đối tác của Mỹ, đã lên tiếng “hối thúc” Mỹ nên sớm phê chuẩn UNCLOS 1982. Xuất phát bởi những lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, tuy chưa phê chuẩn Công ước nhưng Mỹ lại rất tích cực kêu gọi các nước, đặc biệt là Trung Quốc tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982 đối với các hoạt động trên biển. Những năm qua, Mỹ là một trong những nước “đi đầu” trong “cuộc chiến pháp lý” với Trung Quốc ở Biển Đông. Thế nhưng, “danh chưa chính thì ngôn đâu thuận”. Do Mỹ chưa ký UNCLOS 1982 nên “trọng lượng” tiếng nói của Mỹ bị hạn chế. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Kurt Campbell khi đang nắm giữ chức vụ Điều phối viên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, đã phát biểu tại một phiên điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ vào cuối năm 2023 rằng, Mỹ cần phải phê chuẩn UNCLOS 1982 vì, “nếu không tham gia UNCLOS 1982 thì các quốc gia cạnh tranh với Mỹ sẽ nói rằng, Mỹ không thể yêu cầu chúng tôi tuân thủ một thỏa thuận mà Mỹ không ký kết”. Ngay cả một số đồng minh và đối tác của Mỹ cũng đặt câu hỏi: “Mỹ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ một thỏa thuận quốc tế nhưng tại sao Mỹ lại không ký thỏa thuận này”. Ông Kurt Campbell cho rằng, đây là một “thách thức” đối với Mỹ, vì thế Mỹ nên sớm phê chuẩn UNCLOS 1982 để tạo ra một khuôn khổ pháp lý giúp Washington xem xét, phản kháng có cơ sở pháp lý vào các lĩnh vực mà Trung Quốc có sự hoài nghi đối với cách giải thích của Mỹ về chủ quyền ở Biển Đông và các khu vực khác. Trên thực tế, Trung Quốc đã nhiều lần công khai chỉ trích Mỹ là nước không phê chuẩn UNCLOS1982 nên “không có tư cách” để lấy Công ước ra phê phán nước này, nước kia. Rõ ràng, phản ứng và “sức ép” từ Trung Quốc là một “động lực” để Mỹ xem xét phê chuẩn Công ước, giúp Mỹ có thêm “đòn bẩy” trong việc “yêu cầu” các quốc gia khác phải tôn trọng Công ước. Nhất là, Washington có thêm “công cụ pháp lý” để “danh chính ngôn thuận” mà “nói chuyện” với Trung Quốc về các vấn đề trên biển. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã từng nói: “Mạnh vì chơi theo luật chứ không phải chống lại luật”.  Việc Quốc hội Mỹ chính thức phê chuẩn Công ước này mới chứng tỏ là Mỹ mạnh, Mỹ “chơi theo luật”.

Thứ hai, kể từ khi Công ước ra đời đến nay, thời cuộc đã có nhiều thay đổi. Mỹ nên xem xét lại và sớm phê chuẩn UNCLOS 1982 mới là “thức thời”. Ngày 06/11/2023, bảy thành viên trong Quốc hội Mỹ, trong đó có Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Mazie Hirono ở bang Hawaii, Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Lisa Murkowski của bang Alaska… đã đưa ra dự thảo nghị quyết “hối thúc” Chính quyền phê chuẩn Công ước. Theo ông Murkowski: “Thời gian Mỹ khoanh tay đứng nhìn càng lâu đối với UNCLOS 1982 thì những nước khác đã tham gia Công ước này lại càng có cơ hội tiếp tục xây dựng cho mình các chương trình nghị sự có lợi trong lĩnh vực biển, từ khai thác quặng đến cơ sở hạ tầng then chốt. Phê chuẩn UNCLOS 1982 không những giúp Mỹ kiềm chế hành động bành trướng lãnh thổ bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Mỹ trong lĩnh vực biển, đặc biệt là trong bối cảnh các nước khác ở Bắc Cực đang tìm kiếm quyền lợi phân định khu vực đáy biển vượt ra ngoài vùng EEZ hiện nay của họ. Mỹ không những phải tiến vào những khu vực đó và tham gia vào đàm phán thế giới, mà còn phải đảm bảo Mỹ đang giúp xây dựng quy tắc ở đây trong tương lai”. Trong khi đó, Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Brian Schatz thuộc bang Hawaii nhận xét: “Quốc hội Mỹ có thể giành đủ số phiếu để phê chuẩn UNCLOS 1982 vì tình hình chính trị đã thay đổi, chúng ta ngày càng hiểu rõ nhu cầu cấp bách cần phải thực hiện hành động tập thể để cạnh tranh với Trung Quốc”.

Thứ ba, mặc dù phe bảo thủ chê bai ISA, nhưng nếu không có sự tồn tại của tổ chức này thì các vùng đáy biển sâu không thuộc thẩm quyền của bất kỳ quốc gia nào có thể dễ dàng bị các quốc gia giàu mạnh độc quyền khai thác, khiến cho khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng tăng. Đó là nói về ý nghĩa của ISA đối với thế giới, còn đối với Mỹ, khi đã ký UNCLOS 1982 rồi, thì Công ước này có thể giúp Mỹ giải quyết vấn đề quyền lợi khai thác khoáng sản ở biển sâu trong tương lai. Bởi do Mỹ chưa phải là thành viên của UNCLOS 1982, nên không thể tham gia vào các tổ chức như ISA hay Ủy ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) được thành lập theo quy định của UNCLOS 1982. Đây là hai tổ chức phụ trách xây dựng cơ chế thăm dò đáy biển sâu và xem xét phân định ranh giới thềm lục địa ở Bắc Cực, là khuôn khổ pháp lý giải quyết những vấn đề như khai thác biển bền vững. Ông James Kraska – Giám đốc Trung tâm luật quốc tế Stockton tại Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ, từng là cố vấn về luật và chính sách biển cho Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, nhận xét: “Sau khi sở hữu một ghế ở tổ chức này, Mỹ sẽ có quyền phủ quyết đối với đa số hành động của ISA. Hiện nay, Mỹ vẫn chưa tham gia vào một cơ chế được quốc tế công nhận để xử lý vấn đề khai thác khoáng sản ở biển sâu, trong khi một số nước, trong đó có Trung Quốc, đã gia nhập ISA nên họ vừa có quyền tìm cách thăm dò, vừa có quyền đưa ra yêu sách hàng hải. Hành động đơn phương của Mỹ trong việc khai thác khoáng sản ở biển sâu không phải là lựa chọn tốt nhất vì nó chứa đựng nhiều rủi ro”.

Theo báo Washington Post cho biết, đến nay Trung Quốc đã sở hữu 5 trong tổng số 30 giấy phép thăm dò do ISA cấp để chuẩn bị khai thác khoáng sản ở biển sâu, bắt đầu từ năm 2025. Nếu đúng như thế thì sang năm, Trung Quốc sẽ được “độc quyền” khai thác đáy biển thế giới rộng tới 92.000 dặm vuông Anh, tương đương với diện tích nước Anh, chiếm 17% tổng diện tích được ISA cấp phép hiện nay, trở thành nước chiếm diện tích khai thác biển sâu lớn nhất thế giới. Chưa rõ ISA cấp phép cho Trung Quốc khai thác ở khu vực biển sâu nào, nhưng có một thực tế là, hiện nay khu vực đáy biển sâu nhất được nghiên cứu khai thác thương mại là Clarion-Clipperton (CCZ), một vùng đứt gãy lớn trải dài từ Mexico đến Hawaii trên diện tích 6 triệu km2, nằm ở phía Đông Thái Bình Dương, chứa nhiều niken, mangan và coban hơn so với các mỏ trên đất liền. Theo quy định của UNCLOS 1982, nếu ai muốn thăm dò và khai thác khoáng sản ở đáy biển trong nội bộ khu vực này thì phải ký hợp đồng với ISA, phải tuân thủ các quy tắc, quy định và quy trình của cơ quan này. 

Trung Quốc rõ ràng đã hơn Mỹ ít nhất là về mặt pháp lý, để khai thác khoáng sản ở biển sâu khi tham gia ISA. Song, có thể Trung Quốc còn yếu kém về công nghệ nên chưa chắc đã hành động. Vì thế, nhiều chuyên gia cho rằng, nếu tham gia UNCLOS 1982, Mỹ không chỉ là nước có công nghệ hàng đầu về khai thác khoáng sản biển sâu, mà còn có thể hình thành ngành sản xuất, chế biến rất ưu việt đối với các loại khoáng sản thu được từ biển sâu. Trong khi, Mỹ đã có Đạo luật tài nguyên khoáng sản rắn từ đáy biển sâu (DSHMRA), giúp Mỹ có thể duy trì thành công quyền sở hữu về an ninh đối với khu vực rộng lớn ở đáy biển sâu và gia tăng lợi ích về việc khai thác khoáng sản biển sâu của Mỹ.  

Thứ tư, liên quan đến Biển Đông, nhiều người trong giới nghiên cứu ở Mỹ đều cho rằng, nếu Mỹ tham gia vào UNCLOS 1982 thì có thể “kiềm chế” bớt các hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo ông John Kraus – Chuyên gia phân tích an ninh quốc gia của một viện nghiên cứu ở Mỹ, sau khi phê chuẩn UNCLOS 1982, Mỹ có lý do để thể hiện “nói đi đôi với làm” với Trung Quốc, đồng thời chính Công ước này sẽ giúp Mỹ có thêm một cơ chế giám sát nhằm ngăn chặn và làm giảm bớt những hành động phi pháp của Bắc Kinh ở Biển Đông. Ông John Kraus bày tỏ, điều đáng tiếc là hiện nay, Trung Quốc đã tạo ra được nhiều “việc đã rồi” trên phần lớn diện tích ở Biển Đông, xâm phạm đến chủ quyền của các nước khác. Nhưng ‘chậm còn hơn không”, tham gia Công ước, Mỹ vẫn có thể sử dụng biện pháp pháp lý và ngoại giao để ngăn chặn khả năng Trung Quốc thiết lập lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế ở xung quanh quần đảo Trường Sa. Động thái này không chỉ giúp ích cho Mỹ, mà còn tăng cường hơn nữa hành động của Mỹ trong việc hỗ trợ các quốc gia và đối tác đang bị Bắc Kinh “chèn ép”, như Philippines chẳng hạn.

Đồng quan điểm với ông John Kraus, ông James Kraska cho rằng, sau khi phê chuẩn UNCLOS 1982, Mỹ có thể sử dụng quy trình giải quyết tranh chấp mang tính cưỡng chế. Có nghĩa là, nếu Trung Quốc có hành động vi phạm quyền tự do hàng hải trong EEZ của nước khác, thì Mỹ cũng có thể căn cứ vào Điều 297 của UNCLOS 1982 để khởi kiện, đưa vấn đề này ra Tòa án quốc tế hoặc Tòa Trọng tài quốc tế để họ phán quyết, qua đó có khả năng ràng buộc đối với Trung Quốc. Vị chuyên gia này còn nhấn mạnh, khi Mỹ có khả năng khởi xướng một vụ kiện như vậy, thì cũng có thể “tiết chế” hành động của Trung Quốc gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động tự do hàng hải của Mỹ. 

Tuy nhiên, cùng với việc khuyến cáo nên ký kết UNCLOS 1982, giới chuyên gia Mỹ cũng kiến nghị Chính quyền Mỹ cần phải duy trì sức mạnh trên Biển Đông. Ông James Kraska cho rằng: “Không ai muốn một cuộc chiến tranh nóng bùng nổ ở Biển Đông. Điều chúng ta cần là sự hiện diện lâu dài của lực lượng hải quân, không những đến từ Mỹ mà còn từ các quốc gia bạn bè, đồng minh và đối tác khác… Hành động tập thể là cách tốt nhất, cũng là phương thức để tăng cường sức mạnh răn đe”. Ông Steven Groves – Nghiên cứu viên thuộc Viện Nghiên cứu Heritage Foundation, từng là trợ lý đặc biệt cho Tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng, nhận xét, Trung Quốc là một quốc gia “bất hảo”, coi thường phán quyết của tòa án quốc tế, nên cần phải đưa ra khỏi UNCLOS 1982. Thế nhưng, nước này lại muốn hưởng lợi tất cả những gì mà Công ước này mang lại, không muốn “trả giá” trong thực tế. Vì thế, Mỹ cần duy trì sự “can dự” bền vững của hải quân và hoạt động thường xuyên của tàu chiến để “kiềm chế” Trung Quốc, chứ không chỉ dựa vào một hiệp ước đa phương “có khiếm khuyết”. Trung Quốc chỉ quan tâm đến sức mạnh, không quan tâm đến việc thực thi các hoạt động theo đúng quy định của UNCLOS 1982. Chớ nên ảo tưởng rằng, Mỹ phê chuẩn UNCLOS 1982 thì có thể ép buộc được Trung Quốc tuân thủ theo đúng các quy định của Công ước này. Mỹ có thể ký UNCLOS 1982, nhưng đi cùng với đó là phải tăng cường bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách sử dụng lực lượng hải quân, tiến hành hoạt động tự do hàng hải trên khắp Biển Đông, đồng thời hợp tác nhiều hơn nữa với các đồng minh và đối tác trong khu vực này.  Nước Mỹ, cho đến nay vẫn chưa tham gia UNCLOS 1982. Ai cũng biết, trong đời sống chính trị quốc tế nói chung, quốc gia nói riêng, một quyết định hay một việc làm nào đó có thể ở giai đoạn này là đúng, nhưng vào giai đoạn khác lại là sai hoặc trở nên lạc hậu. Phải chăng, việc Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS 1982 đang dần trở nên lạc hậu khi thời cuộc đã thay đổi quá nhiều. Dư luận chung mong muốn và ủng hộ Mỹ nên sớm tham gia UNCLOS 1982. Vì khi đó, Mỹ mới có đầy đủ tư cách để “duy trì trật tự theo luật lệ”, một thứ luật lệ mà ít ra đã được cộng đồng quốc tế và Liên hợp quốc công nhận; mới góp phần mạnh mẽ hơn, khả thi hơn trong việc duy trì hòa bình, ổn định, cùng phát triển và cùng thắng bền vững ở các vùng biển quốc tế, trong đó có Biển Đông. Hiện nay, phe bảo thủ ở Mỹ vẫn chiếm ưu thế, cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra vào cuối năm nay. Trong bối cảnh như vậy, việc Mỹ có tham gia UNCLOS 1982 hay không và tham gia vào thời điểm nào vẫn là khó đoán định. Bởi nước Mỹ có thể đã có đủ yếu tố “thiên thời” và “địa lợi”, nhưng yếu tố “nhân hòa” vẫn chưa đạt được, trong khi đây mới là yếu tố quyết định.

]]>
Phán quyết của trọng tài Biển Đông sau 8 năm: Giá trị pháp lý của phán quyết và ý nghĩa đối với tranh chấp Biển Đông https://biendong.net/2024/07/12/phan-quyet-cua-trong-tai-bien-dong-sau-8-nam-gia-tri-phap-ly-cua-phan-quyet-va-y-nghia-doi-voi-tranh-chap-bien-dong/ Fri, 12 Jul 2024 15:50:00 +0000 https://biendong.net/?p=132522 Ngày 12/7/2016, Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) ra Phán quyết về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến các yêu sách và hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông. Ngày 12/7/2024 là dấu mốc kỷ niệm 8 năm Phán quyết. Sau 8 năm, Phán quyết vẫn còn nguyên giá trị pháp lý và vẫn có ý nghĩa lớn về nhiều mặt đối với các bên tranh chấp và trật tự pháp lý trên biển ở Biển Đông.

Giá trị pháp lý của Phán quyết

Theo quy định tại Điều 296 UNCLOS, bất kỳ phán quyết nào được đưa ra bởi một tòa án hay tòa trọng tài có thẩm quyền theo UNCLOS đều có tính chung thẩm và phải được tất cả các bên tranh chấp tuân thủ. Điều 11 Phụ lục VII UNCLOS quy định thêm rằng phán quyết của Tòa trọng tài “có giá trị chung thẩm và không thể phúc thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận trước đó về một thủ tục phúc thẩm”. Trong vụ kiện trọng tài Biển Đông, Philippines và Trung Quốc không có thỏa thuận nào trước vụ kiện về khả năng phúc thẩm Phán quyết của Tòa trọng tài. Do đó, Phán quyết của Tòa trọng tài ngày 12/7/2016 có giá trị chung thẩm và có hiệu lực ràng buộc đối với Philippines và Trung Quốc, bất chấp nỗ lực của Trung Quốc hạ thấp giá trị của Phán quyết trong suốt 8 năm qua.

Lịch sử đàm phán UNCLOS cho thấy Trung Quốc đã tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán nên nhận thức đầy đủ về nội dung Công ước, bao gồm quy định về tính ràng buộc và giá trị chung thẩm của quyết định của các cơ chế giải quyết tranh chấp, bao gồm Phán quyết của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước. Bằng việc phê chuẩn UNCLOS, Trung Quốc đã đồng ý với thẩm quyền của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS và đồng ý chấp nhận các nghĩa vụ có liên quan của quốc gia thành viên, bao gồm nghĩa vụ tuân thủ phán quyết của các cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS.

Điều 9 Phụ lục VII của UNCLOS quy định việc một bên tranh chấp không tham gia tiến trình xét xử sẽ không cản trở việc Tòa trọng tài tiếp tục tiến trình xét xử trên cơ sở yêu cầu của bên tranh chấp còn lại. Tòa án công lý quốc tế (ICJ) trong vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua giữa Nicaragua và Mỹ năm 1986 đã khẳng định, “quốc gia không tham gia tiến trình xét xử phải chấp nhận hậu quả của quyết định của mình, đầu tiên là tiến trình xét xử sẽ tiếp tục mà không có sự tham gia của quốc gia đó; quốc gia đó vẫn là một bên trong vụ việc và bị ràng buộc bởi phán quyết cuối cùng của Tòa”. Đối với tranh chấp Biển Đông, việc Trung Quốc không tuân thủ Phán quyết của Tòa là sự vi phạm quy định của UNCLOS, đồng thời là sự vi phạm nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp quốc tế. Theo Điều 12 Phụ lục VII của UNCLOS, một bên tranh chấp có thể đưa vấn đề thực hiện Phán quyết lên tòa trọng tài để Tòa xem xét và quyết định về vi phạm của bên còn lại. Vì vậy, trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục từ chối thực thi Phán quyết, Philippines có thể viện dẫn quy định tại Điều 12 Phụ lục VII để khởi động một vụ kiện mới, tạo thêm áp lực và củng cố thêm cơ sở pháp lý để bảo vệ các vùng biển được xác lập trên cơ sở UNCLOS.

Ý nghĩa của Phán quyết

Thực tế 8 năm qua tại Biển Đông cho thấy, kể cả khi Trung Quốc từ chối thực thi Phán quyết ngày 12/7/2016 thì Phán quyết của Tòa trọng tài được đưa ra với sự nhất trí của cả 05 trọng tài viên vẫn có ý nghĩa pháp lý và chính trị sâu rộng đối với tranh chấp Biển Đông.

Thứ nhất, Phán quyết kết luận yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông là trái với quy định của UNCLOS và không có giá trị pháp lý khi vượt quá các giới hạn địa lý và thực chất của các quyền lợi biển mà Trung Quốc có thể được hưởng theo Công ước. Việc Tòa bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc rất có ý nghĩa đối với tranh chấp Biển Đông vì qua đó Phán quyết đã giải quyết về pháp lý cái gọi là “quyền lịch sử” mơ hồ ở Biển Đông do Trung Quốc tạo nên nhằm đòi hỏi “khu vực chồng lấn” trong vùng biển của nước khác. Hệ quả là, Phán quyết không chỉ bác bỏ yêu sách về “quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với tài nguyên sinh vật và không sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines, mà còn gián tiếp bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc trong vùng biển của các nước khác như Indonesia, Malaysia, Brunei và Việt Nam được xác lập phù hợp với UNCLOS. Trong công hàm lưu hành tại Liên hợp quốc ngày 12/6/2020, Indonesia đã viện dẫn Phán quyết để bác bỏ yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thứ hai, Phán quyết khẳng định, không có bất kỳ cấu trúc nổi nào tại Trường Sa, kể cả các cấu trúc nổi lớn như Ba Bình, Thị Tứ, Trường Sa lớn được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Kết luận này có ý nghĩa pháp lý không chỉ đối với Trung Quốc và Philippines, mà còn đối với các nước khác do đã làm rõ phạm vi khu vực tranh chấp tại quần đảo Trường Sa theo hướng thu hẹp rất đáng kể phạm vi tranh chấp. Cụ thể, với kết luận của Tòa trọng tài, phạm vi chồng lấn thật sự giữa các nước ở khu vực quần đảo Trường Sa giờ chỉ là 12 hải lý từ các cấu trúc nổi đang là đối tượng tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa các bên có liên quan. Hệ quả là bối cảnh pháp lý của tranh chấp ở Biển Đông sau Phán quyết trở nên rõ ràng hơn rất nhiều. Tất cả các hoạt động hoặc yêu sách của Trung Quốc ở những khu vực nằm ngoài phạm vi 12 hải lý của các cấu trúc nổi và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của của các quốc gia ven biển khác tại Biển Đông đều không có giá trị pháp lý. Vùng biển bên ngoài 12 hải lý của các cấu trúc nổi, đồng thời bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven Biển Đông sẽ là vùng biển quốc tế nơi mà các nước đều được hưởng quyền tự do biển cả theo quy định UNCLOS. Trên thực tế, kể từ sau Phán quyết, tàu thuyền của Mỹ đã thực hiện chế độ tự do hàng hải khi đi qua vùng biển bên ngoài 12 hải lý của các cấu trúc nổi ở Biển Đông.

Thứ ba, Phán quyết bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về việc quần đảo Trường Sa có đường cơ sở thẳng bao quanh và từ đó có các vùng biển riêng. Nội dung này của Phán quyết cũng rất có ý nghĩa vì Tòa không chỉ căn cứ vào UNCLOS mà còn khẳng định không có một thực tiễn nào mang tính tập quán quốc tế cho phép Trung Quốc yêu sách quần đảo Trường Sa như là một thực thể thống nhất. Cụ thể, theo UNCLOS, chỉ quốc gia quần đảo mới có quyền áp dụng đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo rồi xác lập nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa từ đường cơ sở quàn đảo. Tòa khẳng định Trung Quốc không phải là quốc gia quần đảo, vì vậy không được phép áp dụng đường cơ sở quần đảo. Kể cả trường hợp giả định Trung Quốc là quốc gia quần đảo thì Trường Sa cũng không đáp ứng điều kiện của UNCLOS về tỉ lệ diện tích nước so với đất. Hơn nữa, “thực tiễn quốc gia” mà Trung Quốc viện dẫn không đủ để tạo thành một quy định tập quán mang tính rang buộc. Nội dung này trong Phán quyết của Tòa trọng tài đã được nhiều nước trong và ngoài khu vực viện dẫn để bác bỏ yêu sách “Tứ Sa” mà Trung Quốc công khai tại Liên hợp quốc năm 2019, chẳng hạn tài liệu “Ranh giới trên biển” số 150 mà Bộ Ngoại giao Mỹ xuất bản năm 2022.

Thứ tư, Phán quyết kết luận các bãi cạn lúc nổi lúc chìm mà không thuộc lãnh hải của các cấu trúc nổi nào, chẳng hạn bãi Mischief hay bãi Second Thomas, không phải là đối tượng để các nước yêu sách về chủ quyền lãnh thổ và cũng không có vùng biển riêng mà thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Philippines do nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines. Phán quyết đã tạo cơ sở pháp lý để Philippines tiến hành các hoạt động ở bãi Second Thomas và huy động được sự ủng hộ của các nước đồng minh, đối tác và dư luận quốc tế trong thời gian qua. Phán quyết có ý nghĩa đối với các nước ven biển khác ở Biển Đông vì ở Biển Đông có một số bãi cạn lúc chìm lúc nổi và bãi ngầm luôn chìm dưới mặt nước không nằm trong phạm vi 12 hải lý của các cấu trúc nổi, các nước khác có thể vận dụng Phán quyết của Tòa để bác bỏ yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với các bãi cạn lúc chìm lúc nổi và các bãi ngầm này. Tương tự, các nước khác cũng có thể vận dụng kết luận của Tòa về việc Trung Quốc vi phạm các quy định liên quan của UNCLOS khi can thiệp vào hoạt động dầu khí của Philippines tại Reed Bank để bác bỏ việc Trung Quốc yêu sách, đe dọa, cản trở hoạt động dầu khí được các nước tiến hành tại thềm lục địa được xác lập phù hợp với UNCLOS. Trên thực tế, trước yêu sách phi lý của Trung Quốc đối với bãi Tư Chính trong vụ việc vi phạm của tàu Hải Dương địa chất 8 của Trung Quốc vào năm 2019, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định “khu vực mà Trung Quốc gọi là “bãi Vạn An” thực chất là bãi ngầm, là một phần của đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Đây hoàn toàn không phải là khu vực tranh chấp hay có chồng lấn vì Trung Quốc không có bất kỳ cơ sở pháp lý quốc tế nào để đưa ra yêu sách đối với khu vực này. Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và thực tiễn xét xử thời gian qua đã khẳng định rõ điều này”.

Thứ năm, Phán quyết kết luận, thông qua việc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông bao trùm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và không giới hạn việc áp dụng lệnh cấm này chỉ với các tàu mang cờ quốc tịch Trung Quốc đã vi phạm Điều 56 UNCLOS liên quan đến quyền chủ quyền của Philippines đối với các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Nội dung này trong Phán quyết cũng có ý nghĩa đối với các bên tranh chấp khác Biển Đông nói chung vì cho thấy lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước là không có cơ sở pháp lý. Trong thời gian qua, các nước ven Biển Đông đã vận dụng nội dung này trong Phán quyết để bác bỏ lệnh cấm đánh bắt cá mà Trung Quốc công bố mỗi năm.

Cuối cùng, xét ở khía cạnh chiến lược, Phán quyết của Tòa trọng tài cho thấy UNCLOS và cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc được quy định tại Công ước đã tạo ra một “sân chơi” bình đẳng qua đó tất cả các quốc gia, dù nước lớn hay nước nhỏ, đều bị ràng buộc bởi cùng một khung pháp lý và đều có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp có tính bắt buộc và ràng buộc để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các nước nhỏ hơn trong tranh chấp với các nước lớn với sức mạnh và tiềm năng vượt trội về quân sự, chính trị và kinh tế. Thực tế cho thấy, trong 8 năm qua, các nước ven Biển Đông đều đã có các bước đi cụ thể sử dụng UNCLOS nhằm phát huy tính chính nghĩa, tăng cường hợp tác quốc tế, huy động sự ủng hộ của quốc tế, qua đó tăng sức mạnh tổng hợp của mình trong tương quan lực lượng với Trung Quốc. Phán quyết của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông, vì vậy, có ý nghĩa lớn về pháp lý và chính trị trong 8 năm qua, và sẽ tiếp tục tác động đến việc giải quyết, quản lý tranh chấp và hợp tác ở Biển Đông, đóng góp quan trọng vào việc duy trì hòa bình, ổn định và trật tự pháp lý trên biển ở Biển Đông trong thời gian tới.

Song An

]]>
Sau 8 năm phán quyết của Tòa trọng tài, những tiếng nói bảo vệ luật pháp quốc tế ngày càng mạnh mẽ hơn https://biendong.net/2024/07/12/sau-8-nam-phan-quyet-cua-toa-trong-tai-nhung-tieng-noi-bao-ve-luat-phap-quoc-te-ngay-cang-manh-me-hon/ Fri, 12 Jul 2024 01:58:00 +0000 https://biendong.net/?p=132526 Kỷ niệm 8 năm kể từ ngày 12/7/2016 Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) (gọi tắt là Tòa Trọng tài về Biển Đông) ra phán quyết lịch sử diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông không ngừng leo thang.

Trong đó, những vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu công vụ Philippines liên tiếp xảy ra và ngày càng nghiêm trọng gây hư hỏng tàu của Philippines, thậm chí gây thương tích cho các thủy thủ Philippines. Mặt khác, nhưng tiếng nói lên án hành vi hung hăng trái với luật pháp quốc tế của Trung Quốc, ủng hộ tiến trình pháp lý trong giải quyết tranh chấp, kêu gọi thực thi phán quyết cũng trở nên phổ biến hơn.

Đơn cử trong vụ việc mới đây nhất tàu hải cảnh Trung Quốc dùng các dụng cụ như dao, vật nhọn, rìu… tấn công tàu và thủy thủ Philippines gần khu vực Bãi Cỏ Mây đã vấp phải sự phản đối của nhiều nước. Cùng với Mỹ nhiều nước khác như Canada, Australia và Nhật Bản… cũng đồng loạt lên án các hành động leo thang của Trung Quốc ở Biển Đông và tái khẳng định sự ủng hộ của họ dành cho Philippines. Canada được xem là quốc gia mới nhất lên án trực diện hành động của Bắc Kinh với những nội dung rất cụ thể và rõ ràng

Bộ Ngoại giao Canada nêu rõ: “Canada lên án các hành động nguy hiểm và gây bất ổn mà Trung Quốc thực hiện đối với các tàu Philippines. Việc Trung Quốc sử dụng vòi rồng, các hành động nguy hiểm và đâm vào tàu Philippines là không phù hợp với các nghĩa vụ của Trung Quốc theo luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Những hành động này gây nguy hiểm cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng trên khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”; nhấn mạnh trật tự dựa trên luật lệ, bao gồm các nguyên tắc được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc, là rất quan trọng và phải được duy trì, Canada phản đối các hành động leo thang, cưỡng ép và yêu cầu tranh chấp phải được giải quyết thông qua đối thoại chứ không phải bằng vũ lực hay ép buộc. Canada kêu gọi Trung Quốc tuân thủ các nghĩa vụ của mình, bao gồm cả việc thực thi phán quyết của Tòa trọng tài về Biển Đông năm 2016, có tính ràng buộc đối với các bên.

Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Nhật Bản ra thông cáo nhấn mạnh Tokyo một lần nữa bày tỏ quan ngại sâu sắc trước những hành động lặp đi lặp lại cản trở tự do hàng hải và làm gia tăng căng thẳng trong khu vực; các vấn đề liên quan Biển Đông được cộng đồng quốc tế quan tâm một cách chính đáng, có liên quan trực tiếp đến hòa bình và ổn định trong khu vực; Nhật Bản phản đối mạnh mẽ mọi nỗ lực dùng vũ lực nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông hoặc bất kỳ hành động nào làm gia tăng tình trạng căng thẳng. Mặt khác, Nhật Bản đã cùng với Mỹ, Philippines và Canada tập trận trên Biển Đông trong 2 ngày 16-17/6/2024 nhằm “duy trì tự do hàng hải và hàng không” cũng như “tăng cường an ninh và ổn định khu vực”. Đây là lần đàu tiên Canada tham gia tập trận 4 bên (bao gồm Philippines) ở Biển Đông để thể hiện sự ủng hộ đối với Manila trong cuộc đối đầu với Bắc Kinh. Hạm đội Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhấn mạnh các cuộc tập trận này được tiến hành phù hợp với luật pháp quốc tế đảm bảo an toàn hàng hải dân sự và bảo vệ môi trường biển.

Đáng chú ý, danh sách các quốc gia lên tiếng phản đối hành vi hung hăng của Trung Quốc, bảo vệ trật tự dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông ngày càng tăng thêm, mới đây nhất là Thụy Điển và Vatican. Ngày 06/6/2024, Bộ trưởng Quốc phòng Thụy Điển Pål Jonson nhấn mạnh: “Tôi xin phép bày tỏ mối quan ngại sâu sắc của mình về các hoạt động nguy hiểm lặp đi lặp lại chống các tàu Philippines đang diễn ra ở Biển Tây Philippines và Biển Đông”. “Những hành động này khiến mạng sống con người gặp nguy hiểm, phá hoại sự ổn định khu vực và luật pháp quốc tế, đồng thời đe dọa an ninh trong và ngoài khu vực”. “Đây không chỉ là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của các bạn (Philippines) mà còn là mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu chung của chúng ta”.

Trong chuyến thăm đầy tiên tới Philippines, hôm 02/7/2024 Bộ trưởng Ngoại giao Vatican  – Tổng giám mục Paul Richard Gallagher kêu gọi giải quyết các xung đột bằng biện pháp hòa bình, trong đó có những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines tại Biển Đông. Tổng giám mục Paul Richard Gallagher nhấn mạnh “Chúng tôi khuyến khích các bên có xung đột tuân thủ luật pháp quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Vatican thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật ở Biển Đông.

Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông chưa có hồi kết, ông Simon Hutagalung – nhà ngoại giao kỳ cựu của Indonesia, thạc sĩ về khoa học chính trị so sánh tại Đại học New York (Mỹ) đã có bài viết trên Euro Asia Review, tập trung vào phân tích các biện pháp giải quyết hòa bình tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, tránh giải pháp tiềm năng cho xung đột ở Biển Đông:

Thứ nhất, đàm phán hòa bình theo tinh thần UNCLOS 1982. UNCLOS được coi là “Hiến pháp của Đại Dương”, tạo ra một khuôn khổ vững chắc để giải quyết các tranh chấp trên biển. UNCLOS quy định rõ quyền cũng như trách nhiệm của các quốc gia trên các đại dương. UNCLOS thúc đẩy sử dụng hòa bình các nguồn tài nguyên biển và giải quyết xung đột một cách công bằng.

Điều 279 của UNCLOS nêu rõ các tranh chấp cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, khuyến khích trật tự hàng hải quốc tế mang tính hợp tác. Tranh chấp ở Biển Đông có thể sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp được nêu trong UNCLOS, chẳng hạn như giải quyết bằng trọng tài và tư pháp quốc tế. Việc Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS về các vấn đề ở Biển Đông là một ví dụ điển hình và được coi như một tiền lệ trong luật pháp quốc tế.

Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài về Biển Đông đã vô hiệu hóa yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, qua đó củng cố các nguyên tắc được quy định trong UNCLOS. Bất chấp việc Trung Quốc bác bỏ phán quyết, thì phán quyết này cũng là lời khẳng định đanh thép đối với tầm quan trọng của khuôn khổ pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp. Rõ ràng, việc tham gia vào các cuộc đàm phán về tranh chấp Biển Đông dựa trên tinh thần của UNCLOS và phán quyết 2016 có thể nâng cao tính hợp pháp và sự chấp nhận của bất kỳ thỏa thuận nào đạt được.

Thứ hai, trao đổi cởi mở và xây dựng lòng tin. Giải quyết xung đột hiệu quả đòi hỏi phải có sự trao đổi minh bạch và cởi mở cũng như các biện pháp nhằm xây dựng lòng tin giữa các quốc gia có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông. Đối thoại có thể giúp giảm thiểu những hiểu lầm và thúc đẩy sự tin cậy, hợp tác. Ngoại giao kênh 2, với sự tham gia của các tổ chức và chuyên gia phi chính phủ, có thể bổ sung cho các cuộc đàm phán chính thức bằng cách cung cấp các kênh đối thoại không chính thức.

Các biện pháp xây dựng lòng tin có thể bao gồm thiết lập đường dây nóng để liên lạc ngay lập tức khi xảy ra sự cố, tiến hành các cuộc tập trận hải quân chung và chia sẻ thông tin về các hoạt động quân sự. Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF) và các cuộc đàm phán đang diễn ra về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa Trung Quốc và ASEAN đóng vai trò nền tảng, có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tiếp xúc cởi mở, xây dựng lòng tin.

ARF thúc đẩy đối thoại và hợp tác an ninh, trong khi COC có mục tiêu ngăn chặn xung đột ở Biển Đông bằng cách thiết lập các quy tắc và quy định đã được các bên thống nhất. Việc phát triển chung các nguồn tài nguyên cũng có thể được thúc đẩy. Có thể thấy, tranh chấp ở Biển Đông phần nào xuất phát từ nguồn tài nguyên dồi dào trong khu vực như thủy sản và dầu khí. Việc cùng phát triển các nguồn tài nguyên biển, chuyển đổi cạnh tranh thành hợp tác một cách hiệu quả cũng là giải pháp cho những tranh chấp và xung đột tiềm tàng.

Các Thỏa thuận phát triển chung (JDA) cho phép các quốc gia có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông khai thác chung các nguồn tài nguyên và chia sẻ lợi ích, tạm thời gạt bỏ các tranh chấp chủ quyền. Thỏa thuận phát triển chung giữa Việt Nam và Malaysia là một minh chứng rõ ràng nhất cho thấy các bên có thể hợp tác. Khung pháp lý rõ ràng, cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và thủ tục giải quyết tranh chấp hiệu quả là điều cần thiết để đảm bảo sự thành công của JDA. Thêm vào đó, việc thành lập các JDA đa phương dưới sự giám sát quốc tế sẽ đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

Tuy vậy, điều quan trọng hơn cả vẫn là phải tuân thủ các cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình được nêu trong UNCLOS hay nói cách khác chính là tiến trình pháp lý đã được nhiều lần đưa vào các văn kiện của ASEAN. UNCLOS đưa ra nhiều cơ chế khác nhau như đàm phán, hòa giải và trọng tài để giải quyết xung đột một cách hòa bình. Tuân thủ các cơ chế này có ý nghĩa rất quan trọng để đạt được giải pháp xung đột bền vững. Phán quyết 2016 của Tòa trọng tài về Biển Đông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng các phán quyết tư pháp quốc tế.

Thứ ba, cần đề cao vai trò của hòa giải.Giải pháp hòa giải không mang tính ràng buộc nhưng mang tính xây dựng cho đối thoại. Các bên thứ ba trung lập hỗ trợ quá trình này bằng cách tạo điều kiện cho đàm phán và đề xuất giải pháp. Mặt khác, mặc dù không có tính ràng buộc về mặt pháp lý nhưng các biện pháp hòa giải có thể dẫn đến các thỏa thuận chính thức. Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) là những diễn đàn giải quyết tư pháp theo tinh thần của UNCLOS.

Sự tham gia của bên hòa giải rất quan trọng, tạo điều kiện cho đối thoại và đảm bảo tính công bằng trong đàm phán. Các chủ thể quốc tế uy tín còn có thể nâng cao tính hợp pháp và sự chấp nhận của các giải pháp được đưa ra. Hòa giải viên có thể là quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc cá nhân có chuyên môn về giải quyết xung đột và luật hàng hải. Liên hợp quốc, thông qua các cơ quan như Ban Chính trị và Xây dựng hòa bình (DPPA) có thể hỗ trợ hòa giải. Các tổ chức khu vực như ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) cũng có thể đóng góp vào quá trình này.

Ngoài ra, những nhân vật giàu kinh nghiệm bao gồm cả các cựu nguyên thủ quốc gia hoặc các nhà ngoại giao đều có thể đóng vai trò là những nhà hòa giải đáng tin cậy. Nói một cách khác, giải quyết xung đột ở Biển Đông đòi hỏi các giải pháp thực tế như cùng phát triển nguồn tài nguyên và tuân thủ các cơ chế giải quyết hòa bình được nêu trong UNCLOS. Các biện pháp đối thoại và xây dựng lòng tin hiệu quả có thể thúc đẩy niềm tin giữa các quốc gia, có khả năng biến cạnh tranh thành hợp tác khi phát triển các nguồn tài nguyên chung.

Bên cạnh đó, sự tham gia của các hòa giải viên (bên thứ ba) trung lập là cần thiết để tạo điều kiện cho đối thoại và đảm bảo tính công bằng. Bằng cách cùng nhau hợp tác và tôn trọng luật pháp, giải quyết hòa bình cách tranh chấp, ứng xử một cách minh bạch, công bằng, chúng ta có thể đạt được hòa bình ở Biển Đông. Tóm lại, bằng cách cùng nhau hợp tác và tôn trọng luật pháp, giải quyết hòa bình tranh chấp, ứng xử một cách minh bạch, công bằng, chúng ta có thể đạt được hòa bình ở Biển Đông. Giữa lúc Bắc Kinh đang tập trung các hành động hung hăng gây hấn vào Manila ở Biển Đông, Washington đã nhiều lần công khai lập trường ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đông năm 2016 và nhấn mạnh cả Philippines lẫn Trung Quốc cần thực thi phán quyết này; đồng thời, nhấn mạnh điều quan trọng đối với các nhà ngoại giao Philippines, cũng như các nhà ngoại giao của Mỹ và tất cả các quốc gia khác, là phải tiếp tục lên tiếng công khai mạnh mẽ khẳng định một phán quyết quốc tế có hiệu lực về những yêu sách mà Manila đưa ra và những quyền lợi mà Philippines được hưởng ở Biển Đông.

]]>
Giá trị Phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ kiện giữa Philippines và TQ về Biển Đông sau 7 năm https://biendong.net/2023/09/20/gia-tri-phan-quyet-cua-toa-trong-tai-trong-vu-kien-giua-philippines-va-tq-ve-bien-dong-sau-7-nam/ Wed, 20 Sep 2023 02:24:00 +0000 https://biendong.net/?p=114553 Nhân 7 năm ngày Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông giữa Philippin và Trung Quốc ra Phán quyết, ngày 12/7/2023, Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Stratbase ADR (ADRi) đã tổ chức hội thảo với chủ đề ”Năm thứ 7 của Chiến thắng tại La Hay (the Hague): Bảo vệ biển Tây Philippines (Biển Đông), Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và trật tự quốc tế dự trên luật lệ” để tri ân tới cố Ngoại trưởng Philippin Albert del Rosario – một nhân vật chủ chốt đưa vụ kiện ra  giải quyết tại Tòa Trọng tài và là tấm gương nhắc nhở Philippines không đầu hàng trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục những hành động gia tăng căng thẳng tại khu vực nói chung và Biển Tây Philippines nói riêng.

Sự kiện lần này cũng có sự góp mặt của Đại sứ các nước, các quốc gia như: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, Pháp, Anh, Ấn Độ; Đại sứ Philippines tại Mỹ, Lãnh đạo Bộ Ngoại giao Philippines (DFA) và nhiều các học giả từ nhiều nơi trên thế giới.

Mở đầu hội thảo, Giáo sư Victor Andres c. Manhit, Người sáng lập, Giám đốc điều hành ADRi, nhấn mạnh trong những năm qua, an ninh hàng hải đã trở thành mối quan tâm chính ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Tranh chấp lãnh thổ, các hành vi trái pháp luật gây mất an toàn hàng hải và các hoạt động phi pháp trong lĩnh vực thủy sản đã ảnh hưởng đến các nỗ lực toàn cầu nhằm thúc đẩy một trật tự hàng hải dựa trên luật lệ. Sự phức tạp ngày càng gia tăng của cấu trúc an ninh khu vực do chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc gây ra cũng đã làm suy yếu năng lực của các quốc gia trong việc quản lý và giải quyết các vấn đề một cách tập thể.

Theo giáo sư Manhit, tuy đã bảy năm kể từ ngày Phán quyết được đưa ra và phần thắng thuộc về Philippines, Philippines vẫn chưa có được sự an tâm về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn ngoan cố từ chối công nhận thẩm quyền của Tòa Trọng tài. Tuy nhiên, ngày 12/7 sẽ luôn là một dấu mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh của Philippines do Phán quyết đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho yêu sách của Philippines tại Biển Đông. Chiến thắng lịch sử này khẳng định lập trường chính nghĩa của Philippines dựa trên luật pháp quốc tế. Bất chấp sự thách thức liên tục từ phía Trung Quốc cũng như sự không coi trọng của chính quyền Tổng thống tiền nhiệm, Philippines phải tái khẳng định tính đây là Phán quyết ’’cuối cùng, mang tính ràng buộc và không thể đảo ngược”

Để khẳng định chiến thắng của mình, Philippines cũng phải đối mặt với những rủi ro địa chính trị và địa kinh tế[1] ảnh hưởng trực tiếp các chính sách của quốc gia và quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên Philippines đã và đang nhận được rất nhiều sự ủng hộ đối với Phán quyết của các quốc gia đối tác, bạn bè quốc tế. Chỉ trong năm 2023, các thành viên của Nhóm G7[2] và Đối thoại An ninh bộ Tứ[3] dứt khoát ủng hộ lời kêu gọi của Philippines về một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Giáo sư Manhit khẳng định đây không hề là những thông điệp hỗ trợ trống rỗng mà là sự chân thành của bạn bè và đồng minh của Philippines liên tục được chứng minh thông qua hành động giúp Philippines tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh gần đây.

Tất cả những điều trên phù hợp với lời hứa của Tổng thống Marcos, ngay từ đầu nhiệm kỳ của mình, khẳng định sẽ ‘‘không từ bỏ dù chỉ một tấc lãnh thổ” của Cộng hòa Philippines cho bất kỳ thế lực nước ngoài nào. Ông cũng đảm bảo rằng sẽ không để Philippines lệ thuộc vào bất kỳ thế lực bên ngoài nào có thể định hướng hoặc quyết định vận mệnh của Philippines .

Gần đây nhất, Bộ trưởng Quốc phòng mới được bổ nhiệm Gilbert Teodoro cho biết ông muốn hỗ trợ tăng cường khả năng phòng thủ bên ngoài của Philippines, tin rằng điều này có thể được thực hiện mà không phải hy sinh an ninh nội bộ. Bộ trưởng Teodoro đã khẳng định “Lãnh thổ của Philippines là lãnh thổ của Philippines”, “UNCLOS 1982 không thể bị thay đổi theo thời gian, cũng như không thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong chính quyền”.[4]

Hơn nữa, người dân Philippines đang ngày càng ủng hộ Chính phủ Philippines khẳng định quyền chủ quyền của mình đối với Biển Tây Philippines như quy định trong phán quyết của Tòa Trọng tài. Trong một cuộc khảo sát năm 2016 của Pulse Asia, 84% người Philippines đồng ý với quan điểm này, tỷ lệ này đã tăng lên 89% vào năm 2022. Các quốc gia có cùng quan điểm cũng được người dân Philippines đánh giá cao: 74% đối với Mỹ, 48% đối với Úc, 42% đối với Singapore và 32% đối với Nhật Bản.

Về phía các quốc gia khác, tại Hội thảo, Đại sứ các nước Mỹ, Hàn Quốc, Úc, Nhật Bản, EU, Pháp, Anh, Ấn Độ cũng đã có bài phát biểu với nội dung chính nhấn mạnh sẽ tiếp tục hợp tác với Philippines để đảm bảo Phán quyết trọng tài năm 2016 được “thực hiện đúng” và “tuân thủ đúng”.

Đại sứ Mỹ tại Philippines MaryKay L. Carlson khẳng định luật pháp quốc tế là tinh hoa từ các thỏa thuận và tiêu chuẩn ứng xử điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền qua nhiều thế kỷ, giúp củng cố trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ. Tám năm trước vào ngày 7/7/2015, cố Bộ trưởng Ngoại giao Albert Del Rosario đã trích dẫn câu nói “sức mạnh cân bằng của luật pháp quốc tế cho phép kẻ yếu thách thức kẻ mạnh trên cơ sở bình đẳng, tin tưởng vào niềm tin rằng các nguyên tắc sẽ chiến thắng quyền lực”; luật pháp sẽ chiến thắng vũ lực; và quyền chính đáng sẽ chiếm ưu thế hơn sức mạnh. Cũng như Philippines, Mỹ tin rằng tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

Phán quyết trọng tài năm 2016 mà Bộ trưởng Del Rosario ủng hộ bắt nguồn từ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ đã mang lại hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho các quốc gia của chúng ta trong nhiều thập kỷ. Công ước Luật biển năm 1982, với các điều khoản được tòa trọng tài áp dụng và chứng minh, là nền tảng cho việc sử dụng các đại dương trên thế giới một cách hòa bình. Đại sứ Carlson khẳng định hòa bình và ổn định ở Biển Đông vô cùng quan trọng với toàn thế giới, bao gồm cả nền kinh tế toàn cầu. Mỹ có lợi ích chiến lược trong việc bảo vệ quyền của tất cả các quốc gia trong lĩnh vực hàng hải, bao gồm quyền của các bên yêu sách ở Biển Đông được thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, và của tất cả những người sử dụng biển để thực hiện quyền tự do hàng hải và hàng không và các hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác.

Các Đại sứ đều có đồng quan điểm về việc Biển Đông đã trở thành một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới. Biển Đông có tổng thương mại hàng năm ước tính hơn 3,000 tỷ đô la Mỹ[5]. Với kết luận của Tòa Trọng tài 2016, Philippines đã có được một Phán quyết cuối cùng có tính ràng buộc về mặt pháp lý xác nhận các quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước này đối với Vùng Đặc quyền Kinh tế và thềm lục địa của mình, xác định các yêu sách hàng hải của CHND Trung Hoa và các hành động nhằm thực thi các yêu sách đó ở Nam Biển Đông trái với luật pháp quốc tế.

Về phía Bộ Ngoại giao Philippines, tại Hội thảo, Thứ trưởng Ngoại giao Philippines Theresa Lazaro đã có bài phát biểu tham luận, khẳng định tầm quan trọng của Phán quyết, giúp củng cố UNCLOS và các cơ chế giải quyết tranh chấp, giúp giải quyết dứt điểm tình trạng của các quyền lịch sử và quyền lợi hàng hải ở Biển Đông và tuyên bố các yêu sách không có hiệu lực pháp lý vượt quá các quyền được hưởng ngoài các giới hạn địa lý và nội dung do UNCLOS đặt ra. Phán quyết giờ đây là một phần của luật pháp quốc tế.

Ngày 12/7 như một mốc son nhắc nhở Philippines về con đường đã chọn trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Trong quyết định đệ đơn kiện ra trọng tài, Philippines đã chọn con đường dựa trên nguyên tắc, pháp quyền và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Quyết định của Toà án khẳng định tính đúng đắn của quá trình hành động đó. Kể từ đó, Phán quyết đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc vạch ra các con đường và quỹ đạo mới, phản ánh di sản hàng hải phong phú của đất nước và nhân dân Philippines, với niềm tin vững chắc rằng các quyền của Philippines đối với các khu vực tài phán hàng hải của Philippines là không thể tranh cãi.

Trong tuyên bố kỷ niệm 7 năm Phán quyết, Ngoại trưởng Philippines Enrique A. Manalo cũng khẳng định Philippines hoan nghênh ngày càng có nhiều đối tác bày tỏ sự ủng hộ đối với Phán quyết. Philippines rất vinh dự khi Phán quyết là ngọn hải đăng có ánh sáng dẫn đường phục vụ tất cả các quốc gia. Đó là một cột mốc đóng góp cho sự phát triển tiến bộ của luật pháp quốc tế. Phán quyết sẽ tiếp tục soi sáng con đường cho tất cả những ai nỗ lực hướng tới không chỉ giải pháp hòa bình cho các tranh chấp mà còn duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.

Philippines sẽ tiếp tục biến các kết quả tích cực của Phán quyết thành lợi ích tích cực cho người dân của Philippines để đảm bảo lợi ích hợp pháp của Philippines  trong lĩnh vực hàng hải và thúc đẩy hòa bình, an ninh và thịnh vượng trong khu vực của Philippines./.

              

[1] Bao gồm quốc phòng, công nghệ thông tin và truyền thông, cơ sở hạ tầng, y tế, quản trị, du lịch, thương mại và đầu tư, năng lượng, sản xuất và môi trường.

[2] Bao gồm Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada, Pháp, Đức, Ý và Nhật Bản

[3] Bao gồm Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ và Nhật Bản

[4]  Filane Mikee Cervantes. PH didn’t surrender “a single inch of territory” in WPS: Locsin, August 31, 2021.

https://www.pna.gov.ph/articles/1152107

[5] Hơn một nửa số tàu chở dầu và các nguyên liệu thô khác của thế giới đi qua Biển Đông, chiếm 12% sản lượng đánh bắt cá toàn cầu, ước tính tạo ra 100 tỷ đô la hàng năm hay 5,5 nghìn tỷ peso, hỗ trợ sinh kế của 3,7 triệu người và nhu cầu ăn uống của hàng triệu người khác. Lưu vực Biển Đông được ước tính chứa 11 tỷ thùng dầu chưa khai thác và 190,000 tỷ feet khối khí đốt tự nhiên. Thêm vào đó Biển Đông còn là một tuyến đường quan trọng đối với các dây cáp ngầm dưới biển và do đó đóng vai trò then chốt đối với luồng dữ liệu an toàn liên tục.

]]>