Pháp luật biển – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 22 Aug 2025 05:04:53 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Phán quyết Vụ kiện Toà trọng tài Biển Đông: Nhìn lại sự tham gia của Việt Nam và tác động của Phán quyết đối với Việt Nam https://biendong.net/2025/07/11/phan-quyet-vu-kien-toa-trong-tai-bien-dong-nhin-lai-su-tham-gia-cua-viet-nam-va-tac-dong-cua-phan-quyet-doi-voi-viet-nam/ Fri, 11 Jul 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=153698 Đã chín năm kể từ khi Toà trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển đã ra Phán quyết trong vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc (12/7/2016). Được xem như là một “vụ kiện thế kỷ, bước ngoặt Biển Đông”, Phán quyết của Toà trọng tài về vụ kiện Biển Đông đã mang lại nhiều tác động tích cực về mọi mặt đối với tranh chấp Biển Đông.

Mặc dù Phán quyết chỉ có giá trị ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc, nhưng Phán quyết của Tòa Trọng tài đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng và vững chắc hơn trong việc đấu tranh bác bỏ các yêu sách biển và hoạt động trên biển bất hợp pháp cho các nước ven biển đặc biệt là các nước ven Biển Đông.

Sau 9 năm Phán quyết có hiệu lực, chúng ta sẽ cùng nhìn lại sự tham gia của Việt Nam đối với tiến trình vụ kiện và tác động “bước ngoặt” của Phán quyết đối với Việt Nam.

Vụ kiện Toà trọng tài Biển Đông

Ngày 22/01/2013, Philippines đệ đơn khởi kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài Phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) để giải quyết một số tranh chấp biển giữa hai nước ở Biển Đông theo quy định của UNCLOS 1982. Nội dung đơn kiện của Philippines tập trung vào ba nội dung chính: (i) Yêu sách “quyền lịch sử” đối với vùng biển trong phạm vi “đường chín đoạn” như được thể hiện trên các bản đồ mà Trung Quốc công bố không có hiệu lực pháp lý do vượt quá phạm vi quyền mà Trung Quốc được hưởng theo UNCLOS 1982; (ii) Xác định quy chế pháp lý của bãi cạn Scarborough và một số cấu trúc mà cả Trung Quốc và Philippines yêu sách và trên cơ sở đó xác định quyền được hưởng vùng biển của các cấu trúc này theo UNCLOS 1982; (iii) Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS 1982 khi cản trở Philippines thực thi các quyền của mình bao gồm quyền đánh cá, khai thác dầu, hàng hải và xây dựng các đảo nhân tạo và công trình trên biển, vi phạm các nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển thông qua các hoạt động bồi đắp, xây dựng đảo, đánh bắt cá.

Trung Quốc không chấp nhận và không tham gia vụ kiện. Ngày 21/6/2013, Tòa Trọng tài Phụ lục VII UNCLOS 1982chính thức được thành lập và đi vào hoạt động. Ngày 29/10/2015, Toà trọng tài ra phán quyết về thẩm quyền, khẳng định có thẩm quyền giải quyết đối với một số nội dung của đơn kiện; một số nội dung khác sẽ được Toà tiếp tục xem xét ở giai đoạn xét xử về nội dung của vụ kiện. Ngày 12/7/2016 Toà ra phán quyết cuối cùng về nội dung. Mặc dù Trung Quốc không tham gia vụ kiện và không công nhận Phán quyết, theo Luật pháp quốc tế, Phán quyết của Tòa trọng tài là chung thẩm và có giá trị ràng buộc đối với Trung Quốc và Philippines. Phán quyết ngày 13/7/2016 của Toà trọng tài Biển Đông đã bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn” dựa trên quyền lịch sử, khẳng định không có cấu trúc nào ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng; khẳng định Trung Quốc không phải là quốc gia quần đảo, do đó không được coi quần đảo Trường Sa là 1 thực thể đơn nhất để từ đó được nối liền các điểm ngoài cùng của quần đảo Trường Sa làm đường cơ sở và yêu sách các vùng biển xung quanh Trường Sa như một thực thể đơn nhất.

Sự tham gia của Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước có tranh chấp chủ quyền và biển ở Biển Đông với cả Trung Quốc và Philippines, có lợi ích có thể bị ảnh hưởng bởi vụ kiện, do vậy, ngày 5/12/2014, Việt Nam gửi Toà trọng tài Tuyên bố của Bộ ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi cho Tòa trọng tài nhằm khẳng định lại lập trường và quan điểm của Việt Nam đối với vụ kiện này.

Nội dung của Tuyên bố bao gồm sáu điểm, trong đó có một số điểm nổi bật như sau. Thứ nhất, Việt Nam khẳng định Việt Nam ủng hộ các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 tìm kiếm giải pháp cho các tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến giải thích hay áp dụng UNCLOS 1982 thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với các quy định và thủ tục của UNCLOS 1982, bao gồm các thủ tục được quy định tại Phần XV của UNCLOS 1982; trên cơ sở đó khẳng định Tòa có thẩm quyền trong vụ kiện. Thứ hai, khẳng định vụ kiện trọng tài này có thể liên quan và thậm chí ảnh hưởng đến một số quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam trên Biển Đông, như liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các quyền và lợi ích của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, quy chế pháp lý của các cấu trúc nằm trong “đường chín đoạn”, các quyền và lợi ích của Việt Nam trong vùng biển chung bên trong “đường chín đoạn” … Thứ ba, Việt Nam kiên quyết phản đối và bác bỏ bất kỳ yêu sách nào của Trung Quốc trên Biển Đông dựa vào “đường chín đoạn” bởi vì bất kỳ yêu sách nào như thế sẽ vi phạm các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam như được xác định theo UNCLOS 1982 và luật pháp quốc tế chung. Thứ tư, Việt Nam cho rằng không có bất kỳ thực thể nào được Philippines đề cập trong vụ kiện này có thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hoặc tạo ra quyền được hưởng vùng biển vượt quá 12 hải lý do các thực thể này hoặc là bãi lúc nổi lúc chìm hoặc là “đảo đá không thể duy trì sự cư trú của con người hoặc đời sống kinh tế riêng” theo Điều 121(3) của UNCLOS 1982. Thứ năm, Việt Nam ủng hộ thẩm quyền của Toà trong việc giải thích và áp dụng các điều 60, 80, 194(5), 206, 293(1), and 300 của UNCLOCS 1982 có lợi ích pháp lý trong việc Tòa giải thích và áp dụng Điều 300 và các quy định có liên quan của UNCLOS 1982 và các văn kiện có liên quan. Cuối cùng, Việt Nam đề nghị Tòa xem xét thích đáng đến quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam trên Biển Đông và bảo lưu tất cả các quyền của mình nhằm sử dụng các biện pháp hòa bình để bảo vệ các quyền lợi pháp lý và các quyền lợi hợp pháp của mình ở Biển Đông. Việt Nam cũng đề nghị cho phép được nhận bản sao các tài liệu liên quan của Vụ kiện.

Có thể thấy các nội dung của Phán quyết về Thẩm quyền 2015 và Phán quyết về Nội dung 2016 đã khẳng định và chứng minh lập trường của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với Luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Tuyên bố này đã được tổng hợp lại trong Phụ lục 468 của Bộ Tranh tụng bổ sung của Philippines và được Toà trọng tài dẫn chiếu trong cả Phán quyết về Thẩm quyền 2015 và Phán quyết về Nội dung 2016. Trong quá trình xét xử vụ kiện, Việt Nam đã cử đại diện tham dự quá trình tố tụng của Tòa Trọng tài với tư cách là quan sát viên.

Lập trường pháp lý của Việt Nam đối với Vụ kiện

Ngay khi Tòa Trọng tài đưa ra Phán quyết về nội dung Vụ kiện ngày 12/7/2016, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ra tuyên bố hoan nghênh Phán quyết này. Đồng thời, Việt Nam khẳng định lập trường nhất quán của mình về vụ kiện này như đã được thể hiện đầy đủ trong Tuyên bố ngày 5/12/2014 của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Tòa Trọng tài, ủng hộ mạnh mẽ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực theo quy định của luật pháp quốc tế, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương, tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Trong các năm 2021 và 2023 nhân dịp kỷ niệm 5 năm và 7 năm Phán quyết, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã tiếp tục phát biểu khẳng định thêm lập trường và quan điểm của Việt Nam cũng như thể hiện sự thượng tôn pháp luật khi giải quyết các tranh chấp trên biển. Nội dung các phát biểu theo hướng khẳng định lại lập trường về ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực theo quy định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982; khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển được xác lập phù hợp UNCLOS 1982.

Tác động của Phán quyết đối với Việt Nam

Là một trong những án lệ nổi bật của luật quốc tế nói chung và luật biển quốc tế hiện đại, Phán quyết đã đóng góp vào việc làm sáng tỏ các quy định của UNCLOS 1982 về mặt thủ tục (liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản về giải quyết tranh chấp tại Phần XV) và nội dung (liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản về quy chế pháp lý các vùng biển, quy chế pháp lý của đảo, đá, các điều khoản liên quan đến việc thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, các điều khoản về bảo vệ và bảo tồn môi trường biển.

Với việc bác bỏ giá trị pháp lý của các yêu sách “đường chín đoạn”, yêu sách “Tứ Sa”, xác định quy chế pháp lý và quyền được hưởng vùng biển của các cấu trúc ở quần đảo Trường Sa, Phán quyết đã làm rõ hơn bức tranh pháp lý ở Biển Đông, tạo ra cơ sở pháp lý có lợi cho Việt Nam trong việc củng cố và làm rõ hơn các yêu sách chủ quyền và biển ở Biển Đông, phản bác các yêu sách biển bất hợp pháp và đấu tranh chống lại các hoạt động trên biển bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.

Một trong những minh chứng nổi bật nhất và đáng chú ý nhất phải kể đến đó là Công hàm số 22/HC-2020 ngày 30/3/2020 của Việt Nam gửi Liên hợp quốc. Công hàm được đệ trình nhằm phản bác các yêu sách và lập luận pháp lý của Trung Quốc nêu tại Công hàm CML/14/2019 ngày 12/12/2019 trong bối cảnh Malaysia đệ trình báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa lên Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa. Công hàm 22 lần đầu tiên công khai chính thức và có hệ thống quan điểm pháp lý của Việt Nam về tranh chấp Biển Đông, theo đó, khẳng định UNCLOS 1982 là “cơ sở pháp lý duy nhất, quy định toàn diện và triệt để về phạm vi quyền được hưởng vùng biển” giữa Việt Nam và Trung Quốc; Vùng biển của các cấu trúc luôn nổi tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa phải được xác định phù hợp với Điều 121(3); các nhóm đảo tại Biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, không có đường cơ sở được vẽ bằng cách nối liền các điểm ngoài cùng của các cấu trúc xa nhất; các bãi ngầm hoặc cấu trúc lúc chìm lúc nổi không phải là đối tượng thụ đắc lãnh thổ và không có vùng biển riêng. Việt Nam phản đối các yêu sách ở Biển Đông vượt quá những giới hạn được quy định tại UNCLOS 1982, trong đó có yêu sách quyền lịch sử; các yêu sách này đều không có giá trị pháp lý.

Có thể khẳng định các quan điểm này là đúng đắn, nhất quán theo Luật pháp quốc tế mà đã được Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông khẳng định trong Phán quyết. Công hàm đã có sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo ngôn ngữ từ Phán quyết.

Quan điểm của Việt Nam như được thể hiện tại Công hàm 22 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho Việt Nam trong đấu tranh và phản ứng trước các vụ việc ở Biển Đông. Nếu như trước đây, Việt Nam chưa từng công bố về phạm vi của hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, thì dường như sau Phán quyết, Việt Nam dần dần làm rõ hơn các đối tượng cấu trúc mà Việt Nam không có yêu sách chủ quyền trên biển. Đó là các cấu trúc thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines mà Toà trọng tài đã xác định quy chế pháp lý là bãi ngầm hoặc cấu trúc lúc chìm lúc nổi, không phải là đối tượng của thụ đắc lãnh thổ. Chẳng hạn trong vụ việc Bãi Cỏ Mây ngày 17/6/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam không khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, mà chỉ cho biết “Việt Nam theo dõi chặt chẽ và quan ngại sâu sắc trước những thông tin về vụ việc diễn ra ngày 17/6/2024 tại khu vực Bãi Cỏ Mây, giữa Philippines và Trung Quốc.” Như vậy, có thể khẳng định, Việt Nam không có yêu sách chủ quyền đối với Bãi Cỏ Mây. Điều này hoàn toàn phù hợp với nội dung Phán quyết cho rằng Bãi Cỏ Mây là cấu trúc lúc chìm lúc nổi thuộc phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines.

Ngoài ra, Vụ kiện trọng tài Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc là một tiền lệ quý báu đối với Việt Nam trong việc nghiên cứu và định hướng sử dụng biện pháp pháp lý để đấu tranh chống lại các yêu sách và hoạt động bất hợp pháp ở Biển Đông. Vụ kiện Biển Đông cho thấy các quốc gia vừa và nhỏ, được cho là yếu thế, hoàn toàn có thể sử dụng luật pháp quốc tế làm công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình ở Biển Đông. Do vậy, việc những kinh nghiệm tham gia vụ kiện Biển Đông là tiền đề quý giá cho Việt Nam trong việc tiếp tục tham gia thực chất và sâu hơn vào các tiến trình pháp lý quốc tế sau này như thủ tục xin ý kiến tư vấn ITLOS, ICJ … Đây cũng sẽ là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc chuẩn bị sẵn sàng sử dụng biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích ở Biển Đông. Sau hơn gần một thập kỷ trôi qua, Phán quyết Toà trọng tài Biển Đông vẫn còn nguyên sức sống. Đây chính là minh chứng hùng hồn về vai trò của luật pháp quốc tế cũng như là động lực giúp các quốc gia ven biển như Việt Nam tự tin hơn, mạnh mẽ hơn trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

]]>
Indonesia cần tỉnh táo tránh rơi vào bẫy “đường đứt đoạn” của TQ Ở BĐ https://biendong.net/2025/07/07/indonesia-can-tinh-tao-tranh-roi-vao-bay-duong-dut-doan-cua-tq-o-bd/ Mon, 07 Jul 2025 05:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=155049 Nhân dịp 9 năm Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 về Biển Đông đã ra phán quyết bác bỏ các yêu sách về cái gọi là “quyền lịch sử” và “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, chúng ta cùng đi phân tích những “lỗ hổng” trong chính sách Biển Đông của chính quyền Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto có thể khiến nước này đứng trước nguy cơ “mắc bẫy” Trung Quốc về “đường đứt đoạn”.

Được coi là nước không liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song Indonesia luôn thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật trên vấn đề Biển Đông, dưới thời của người tiền nhiệm – cựu Tổng thống Joko Widodo liên tục phản đối yêu sách “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh, kể cả việc gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Khi còn đương nhiệm, ông Joko Widodo còn đích thân ra quần đảo Natuna để cổ vũ các lực lượng Indonesia đối phó với sự xâm nhập của Bắc Kinh vào vùng đặc quyền kinh tế của nước này xung quanh quần đảo Natuna.

Tuy nhiên, trong chưa đầy một năm qua kể từ khi nhậm chức Tổng thống, ông Prabowo Subianto đã có nhiều biểu hiện “nhượng bộ” Trung Quốc ở Biển Đông để đổi lấy sự tăng cường hợp tác kinh tế với Bắc Kinh. Điều này khiến Indonesia đứng trước nguy cơ hy sinh quyền lợi hợp pháp của mình và gây khó khăn cho các nước ven Biển Đông khác trong đấu tranh chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Trong Tuyên bố chung được đưa ra sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto vào tháng 11/2024, lần đầu tiên, Indonesia đã công nhận yêu sách hàng hải chồng lấn với Trung Quốc và đề xuất một thỏa thuận khai thác chung. Điều này đã gây ra sự phản đối từ công chúng và các nghị sỹ quốc hội Indonesia do lo ngại rằng việc này sẽ hợp pháp hóa yêu sách “đường đứt đoạn” bất hợp pháp của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Indonesia ngay sau đó tuyên bố rằng hợp tác giữa Indonesia và Trung Quốc không đồng nghĩa với việc công nhận yêu sách đường chin đoạn, tái khẳng định lập trường lâu nay của nước này là yêu sách đường chin đoạn không phù hợp luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); hợp tác không ảnh hưởng đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Indonesia ở Biển Đông. Chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng bày tỏ sự sẵn sàng đàm phán thêm về vấn đề này với Indonesia.

Tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya vào tháng 4/2024, Tổng thống Indonesia Prabowo đã công bố tầm nhìn của mình về tăng cường an ninh và thịnh vượng toàn cầu. Ông Prabowo đã đưa ra đề xuất gây tranh cãi về phát triển chung giữa Indonesia và Trung Quốc tại các khu vực hàng hải chồng lấn với hy vọng các khoản đầu tư của Bắc Kinh vào nước này có thể hỗ trợ việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Indonesia. Phát biểu tại diễn đàn, Tổng thống Prabowo xác nhận rằng đề xuất phát triển quần đảo Natuna với Trung Quốc là ý tưởng của riêng ông. Tổng thống Prabowo tuyên bố: “Tôi cũng đã đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình. Chúng tôi tôn trọng lập trường pháp lý của nhau, nhưng trong thời gian này, tại sao chúng ta không hợp tác? Chúng ta có một vùng biển chồng lấn”. Giới phân tích nhận định cách tiếp cận của Tổng thống Prabowo đặt ra các vấn đề pháp lý và an ninh cho Indonesia.

Tổng thống Prabowo tuyên bố: “Trung Quốc tuyên bố trong lịch sử hàng nghìn năm, ngư dân Trung Quốc đã đánh bắt cá ở vùng biển đó, và chúng tôi tuyên bố trong hàng nghìn năm, ngư dân Indonesia đánh bắt ở vùng biển đó. Vì vậy, tôi đã nói với Chủ tịch Tập, tại sao chúng ta không cùng khai thác?” Các chuyên gia pháp lý cho rằng nội dung phát biểu này của ông Prabowo dựa trên các yêu sách lịch sử hơn là luật pháp quốc tế. Điều này vô hình chung thừa nhận cái gọi là “quyền lịch sử” của Trung Quốc đã bị Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài Biển Đông bác bỏ.

Các chuyên gia luật pháp nhận xét phát biểu trên của ông Prabowo bỏ qua thực tế rằng, do Indonesia là một bên tham gia UNCLOS 1982, nên nước này không cần phải tuân theo cách tiếp cận yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Thay vào đó, Indonesia nên nhấn mạnh rằng việc hợp tác với Trung Quốc chỉ dựa trên các nguyên tắc của UNCLOS 1982. Các quyền của Indonesia dựa trên các điều khoản của UNCLOS 1982 đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này. Trong khi đó, yêu sách của Trung Quốc dựa trên các giả định lịch sử mơ hồ theo “đường đứt đoạn”. Một thỏa thuận khai thác chung không dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982 sẽ không chặt chẽ về mặt pháp lý cũng như không bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của Indonesia.

Phạm vi của đề xuất khai thác chung cũng vẫn chưa rõ ràng. Trong tuyên bố, ông Prabowo cho biết đề xuất này sẽ tập trung chủ yếu vào nghề cá, với việc cả hai nước đều cấp giấy phép cho ngư dân của mình ở các khu vực hàng hải được cho là chồng lấn. Tuy nhiên, theo luật pháp quốc tế, Indonesia và Trung Quốc không có bất kỳ khu vực hàng hải chồng lấn nào như lập trường nước này vẫn công bố từ trước đến nay.

Theo Điều 56 của UNCLOS 1982, Indonesia không có lý do gì để cấp nhượng bộ đánh bắt cá cho tàu nước ngoài dựa trên các yêu sách không được luật pháp quốc tế cho phép. Indonesia không thể tuyên bố tuân thủ luật pháp quốc tế trong khi dựa trên các nguyên tắc khai thác chung không phù hợp UNCLOS 1982. Tổng thống Prabowo đã tỏ ra ngạc nhiên khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhanh chóng chấp nhận đề xuất của ông, như thể không biết rằng Jakarta đã từng từ chối đề xuất trước đây của Bắc Kinh về khai thác chung với Indonesia.

Rõ ràng là nếu Indonesia nhất trí khai thác chung với Trung Quốc trong khu vực “đường đứt đoạn” đồng nghĩa với việc nước này sẽ ngầm thừa nhận yêu sách của Trung Quốc. Vì lý do này, Indonesia trong 10 năm dưới thời chính quyền tiền nhiệm của Tổng thống Joko Widodo liên tục tuyên bố rằng nước này không có yêu sách chồng lấn với Trung Quốc và sẽ không đồng ý với bất kỳ đề xuất khai thác chung nào.

Một điều cần khẳng định rằng, vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna của Indonesia có sự chồng lấn với vùng biển phía Nam Việt Nam theo quy định của UNCLOS 1982. Trên cơ sở luật pháp quốc tế, năm 2003 Jakarta và Hà Nội đã ký Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa; sau khi được 2 nước phê chuẩn, Hiệp định đã có hiệu lực từ tháng 5/2007. Tiếp đó, sau 12 năm đàm phán, tháng 12/2022 Indonesia và Việt Nam đã ký kết Hiệp định đàm phán về việc phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa hai nước ở Biển Đông; hai bên khẳng định sẽ sớm phê chuẩn Hiệp định này.

Các nhà phân tích cho rằng các hiệp định phân định biển giữa Indonesia với Việt Nam, gián tiếp bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời mở đường cho các nước láng giềng của Trung Quốc giải quyết các yêu sách biển chồng lấn ở Biển Đông. Giáo sư Jill Goldenziel, Đại học Quốc phòng Mỹ, lưu ý rằng Việt Nam và Indonesia đã quyết định giải quyết tranh chấp ranh giới của hai nước dựa trên UNCLOS 1982, qua đó bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về “quyền lịch sử” đối với Biển Đông. Do đó, các hiệp định này là một bước quan trọng hướng tới một mặt trận thống nhất giữa các nước láng giềng của Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền và biển ở Biển Đông. 

Trung Quốc không hài lòng với hiệp định giữa Indonesia – Việt Nam và sẽ tìm cách phá hoại. Trên thực tế, Trung Quốc đã nhiều lần triển khai lực lượng hải cảnh và dân quân biển có vũ trang, đội lốt tàu cá xâm nhập vào vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna để quấy nhiễu hoạt động dầu khí của Indonesia. Câu hỏi đặt ra là việc ông Prabowo đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc là ở khu vực nào. Nếu đó là vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna thì vô hình chung, ông Prabowo đã mâu thuẫn với chính mình và đi ngược lại những thoả thuận với Việt Nam.

Giới chuyên gia cảnh báo có vẻ như chính quyền của ông Prabowo đã thay đổi hướng và có nguy cơ rơi vào bẫy “đường đứt đoạn” của Trung Quốc. Hiện vẫn còn nhiều câu hỏi về lý do tại sao Prabowo đưa ra những nhận xét này tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya và động lực nào thúc đẩy ông đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc. Một trong nguyên nhân có thể là tầm quan trọng về mặt kinh tế của Trung Quốc đối với Indonesia. Tổng thống Prabowo đã cam kết kinh tế Indonesia sẽ đạt tăng trưởng 8%/năm.  Để đạt được mục tiêu này, Indonesia cần tới khoản đầu tư nước ngoài đáng kể. Trong khi đó, Trung Quốc là nước cung cấp vốn phát triển kinh tế tiềm năng lớn nhất của Indonesia, nên đề xuất khai thác chung trở thành một công cụ tiềm năng để Indonesia đảm bảo nhận được nguồn đầu tư từ Trung Quốc. Mặc dù vậy, Indonesia không nên hy sinh các quyền chủ quyền và quyền tài phán được quốc tế công nhận đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Giới chuyên gia nhận định nếu đề xuất về một thỏa thuận phát triển chung giữa Indonesia và Trung Quốc được Tổng thống Prabowo đề cập tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya được triển khai sẽ đưa đến những hệ quả xấu không chỉ cho Indonesia và cho cả khu vực:

Thứ nhất, điều này đi ngược lại lập trường và quan điểm lâu nay của Indonesia là “không có vùng biển nào chồng lấn với Trung Quốc”, bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh. Nếu ông Prabowo làm điều này là đi ngược lại Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài Biển Đông và trái với các quy định của UNCLOS 1982. Điều này cũng sẽ khiến Indonesia mất uy tín và vai trò trong ASEAN và trong con mắt của cộng đồng quốc tế. Không những thế, điều này còn gây chia rẽ ngay trong nội bộ của Indonesia bởi ngay từ tháng 11/2024, nhiều nghị sĩ và công chúng của Indonesia đã phản đối cách tiếp cận này.

Các chuyên gia cho rằng điều cần làm của ông Prabowo hiện nay là thúc đẩy nhanh chóng phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa Indonesia – Việt Nam để vô hiệu hoá yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc.

Thứ hai, điều này không chỉ tổn hại tới chủ quyền và các lợi ích trên biển của Indonesia mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới các nước ven Biển Đông khác, phá vỡ thế trận pháp lý mà các nước đã tạo ra được để đối phó với Trung Quốc trên Biển Đông. Lâu nay, Trung Quốc luôn tìm cách thúc ép các nước ven Biển Đông thực hiện “cùng khai thác”, nhưng chưa được bất cứ nước nào thực hiện. Nếu Jakarta triển khai một dự án phát triển chung như ông Prabowo đề cập, Bắc Kinh sẽ được đà lấn tới để ép các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia “cùng khai thác” ở Biển Đông. Chúng ta còn nhớ, dưới thời của cựu Tổng thống Duterte, năm 2018 Manila và Bắc Kinh đã ký Bản ghi nhớ về khai thác chung dầu khí ở Biển Đông nhưng cuối cùng đã phải tuyên bố huỷ bỏ thoả thuận này vào tháng 6/2022, trước khi ông Duterte kết thúc nhiệm kỳ. Chúng ta tin tưởng rằng với sự sáng suốt và tấm nhìn chiến lược của mình ông Prabowo sẽ không triển khai dự án khai thác chung trên biển với Trung Quốc, tránh rơi vào cái bẫy “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh. Vai trò của các quan chức cấp cao và cố vấn pháp lý trong chính phủ Indonesia phải là đảm bảo rằng Prabowo không triển khai được đề xuất này. Họ phải thuyết phục Prabowo rằng hệ quả nghiêm trọng của dự án khai thác chung với Trung Quốc sẽ cản trở lợi ích lâu dài của Indonesia. Tuy nhiên, đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, vì nó đòi hỏi họ phải có lòng dũng cảm để nói lên sự thật.

]]>
Vụ kiện thứ hai tại Biển Đông: Khả năng và hệ lụy https://biendong.net/2025/07/02/vu-kien-thu-hai-tai-bien-dong-kha-nang-va-he-luy/ Wed, 02 Jul 2025 03:23:00 +0000 https://biendong.net/?p=154336 Vào giữa năm 2024, Lực lượng Bảo vệ Bờ Biển Philippines (PCG) chia sẻ với giới truyền thông một đoạn video về cảnh tượng gây sốc đối với giới chuyên gia về môi trường biển: Một hệ thống rạn san hô từng phát triển mạnh ở Bãi cạn Sa Bin, giờ chỉ còn là nghĩa địa trắng xóa dưới đáy Biển Đông. Đoạn video vẽ nên bức tranh ảm đạm về một vùng đất hoang tàn dưới nước, nơi sự sống từng phát triển mạnh mẽ, giờ trở nên cằn cỗi do những gì Manila tuyên bố là hậu quả của các hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc. Tất nhiên, Bắc Kinh đã phủ nhận những cáo buộc này.

Năm 2016, Manila đã giành được chiến thắng mang tính bước ngoặt trong vụ kiện Biển Đông khi Toà trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982) bác bỏ các yêu sách biển phi lý của Bắc Kinh đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Tuy nhiên, Trung Quốc đã phớt lờ Phán quyết và thay vào đó, gia tăng các hành vi sai trái, hung hăng, cưỡng ép của mình.

Giờ đây, Philippines đang cân nhắc khởi kiện Trung Quốc một lần nữa. Nội dung vụ kiện dự kiến tập trung vào vì sự hủy hoại hệ sinh thái biển và gây thiệt hại cho tàu thuyền Philippines. Không có gì ngạc nhiên khi Philippines kiên quyết kiện Trung Quốc một lần nữa. Phát biểu vào ngày 23/1/2025, Bộ trưởng Tư pháp Philippines Jesus Crispin Remulla nhấn mạnh: “Những tội lỗi (của Trung Quốc) thực sự quá rõ ràng. Cuối cùng, đây là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề”, đồng thời cho biết thêm rằng Chính phủ Philippines đang đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp tốt nhất để tiến hành vụ kiện.

Liệu một thách thức pháp lý mới chống lại Trung Quốc có khiến nước này phải chịu trách nhiệm và dừng các hoạt động của họ ở đó không? Trong nhiều năm, Philippines đã dựa vào luật pháp quốc tế để chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc, xây dựng một vụ kiện pháp lý chống lại các hoạt động quân sự gia tăng và sự xâm phạm của Bắc Kinh vào vùng biển tranh chấp trên Biển Đông. Nhưng các hoạt động của Bắc Kinh ở Biển Đông trong thập kỷ qua đã chứng minh rằng một siêu cường có thể đơn giản phớt lờ các phán quyết bất lợi.

Thách thức mới nhất của Philippines là việc các tàu Hải cảnh Trung Quốc tiến hành hàng loạt những hành vi cưỡng ép và gây hấn, bao gồm bám đuôi, đâm đụng và phun vòi rồng vào các tàu của Philippines – vốn nhỏ hơn và không hiện đại bằng. Thậm chí, vào tháng 7/2024, một thủy thủ Philippines đã mất ngón tay cái sau một cuộc đụng độ căng thẳng với Hải cảnh Trung Quốc. Trước đó, trong tháng 2/2025, một trực thăng quân sự của Trung Quốc đã bay gần một máy bay của Cục Nghề cá và Nguồn lợi Thủy sản Philippines (BFAR) với khoảng cách 3m khi máy bay của BFAR đang tuần tra trên vùng biển tranh chấp xung quanh Bãi cạn Scarborough.

Cuộc chiến pháp lý có một vị trí quan trọng, nhưng một vụ kiện pháp lý thứ hai chống lại Bắc Kinh không thể là “vũ khí duy nhất” của Manila. Philippines cần nhiều thứ hơn là các lập luận pháp lý nếu muốn bảo vệ vùng biển của mình hiệu quả hơn. Cụ thể, Philippines cần một quân đội mạnh hơn, một nền ngoại giao thông minh hơn và phối hợp khu vực tốt hơn. Cuộc chiến Biển Đông sẽ có thể giành chiến thắng chỉ trong một phiên tòa.

Việc đệ đơn kiện lần thứ hai chống lại Bắc Kinh có thể mang tính biểu tượng đối với Philippines. Đây là cơ hội để Manila củng cố chiến thắng vụ kiện năm 2016 của mình trước Bắc Kinh, Phán quyết mà cựu Tổng thống Rodrigo Duterte từng chọn gác sang một bên để hy vọng tranh thủ được các khoản vay và tài trợ từ Trung Quốc. Người kế nhiệm ông Duterte, Tổng thống đương nhiệm Ferdinand Marcos Jr. đã có sự thay đổi lớn từ cách tiếp cận đó, sử dụng chiến thắng mang tính bước ngoặt này như một lời kêu gọi chống lại sự xâm lược ngày càng gia tăng của Trung Quốc.

Kể từ khi ông Marcos Jr. lên cầm quyền, Philippines đã tăng cường quan hệ quân sự với các đồng minh toàn cầu, đảm bảo nhiều thỏa thuận an ninh và tuần tra chung hơn. Đây là sự thay đổi chính sách đối ngoại quan trọng được người Philippines ủng hộ. Các cuộc khảo sát tại địa phương liên tục cho thấy sự ngờ vực của quốc gia này đối với Bắc Kinh, trong khi đó đa số người dân tin vào sự ủng hộ áp đảo của các quốc gia hỗ trợ Philippines trong việc bảo vệ các yêu sách lãnh thổ của mình.

Việc đưa ra lập trường nguyên tắc về việc khởi kiện Trung Quốc lần thứ hai cũng sẽ thúc đẩy hình ảnh của ông Marcos Jr. với tư cách là một nhà lãnh đạo tuân thủ luật pháp quốc tế và lắng nghe ý kiến của người dân. Tiến sĩ Collin Koh – thành viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam – cho rằng: “(Một vụ kiện mới) càng củng cố thêm vị thế của Marcos Jr. với tư cách là người sẽ bảo vệ lợi ích của đất nước ở Biển Đông và sẽ giúp thúc đẩy hơn nữa sự ủng hộ của công chúng Philippines đối với lập trường của chính phủ nước này ở Biển Đông”.

Manila liên tục viện dẫn chiến thắng lịch sử của mình tại Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông khi công bố video về các hành động hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông. Chiến lược “chỉ mặt, gọi tên” này đã giúp Philippines có được sự chú ý nhiều hơn về tranh chấp và duy trì áp lực lên Trung Quốc.

Tuy nhiên, việc theo đuổi một vụ kiện mới chống Bắc Kinh có thể là “con dao hai lưỡi”, khiến Philippines phải trả giá đắt. Thay vì giảm các hoạt động ở Biển Đông, một vụ kiện thứ hai có thể làm gia tăng căng thẳng và kích động sự trả đũa mạnh mẽ hơn từ Trung Quốc. Tiến sĩ Collin Koh lưu ý: “Nếu Philippines đệ đơn kiện thứ hai chống lại Trung Quốc, (Bắc Kinh) có thể sử dụng nó như một cái cớ để tiếp tục tăng cường các hoạt động chèn ép của mình ở Biển Đông”. Điều này nếu xảy ra, có nguy cơ dẫn tới gia tăng căng thẳng với các nước láng giềng Đông Nam Á, đặc biệt là Brunei, Malaysia và Việt Nam – tất cả đều có các yêu sách chồng chéo ở Biển Đông.

ASEAN gặp khó khăn trong việc thống nhất quan điểm về tranh chấp biển vì mỗi nước có lợi ích và quan hệ khác nhau với Trung Quốc. Hiện tại, khối này và Trung Quốc đang đàm phán về bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Câu hỏi đặt ra là: Philippines có chiến lược bài bản nào không, hay chỉ đang phản ứng trước mọi động thái của Trung Quốc?

Một vấn đề quan trọng ở đây là liệu Manila có thể tiếp tục dựa vào Mỹ như một đối tác an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hay không. Washington đã đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng của Manila trước Bắc Kinh trong vụ kiện Biển Đông năm 2016, vì Mỹ được cho là đã giúp tài trợ cho các nỗ lực nghiên cứu kỹ thuật và lập bản đồ biển được nhóm pháp lý của Philippines sử dụng vào thời điểm đó. Sau cuộc chiến thuế quan của Tổng thống Donald Trump đối với các đồng minh, lệnh đóng băng 90 ngày đối với các chương trình viện trợ nước ngoài và lập trường của ông về Ukraine, đã có những lo ngại về tương lai của quan hệ Philippines-Mỹ. Tuy nhiên, các quan chức quốc phòng Philippines có vẻ tự tin rằng chính quyền Trump vẫn coi quốc gia Đông Nam Á này là một đồng minh chiến lược khi sự cạnh tranh Mỹ-Trung đang nóng lên. Cuối cùng, khoản viện trợ quân sự trị giá khoảng 336 triệu USD cho Philippines đã được miễn khỏi lệnh đóng băng viện trợ nước ngoài của Tổng thống Trump.

Bên cạnh đó, nếu Manila theo đuổi một vụ kiện mới chống Bắc Kinh, họ phải kết hợp các chiến lược pháp lý của mình với các nỗ lực răn đe ngoại giao, quân sự và hợp tác khu vực mạnh mẽ hơn để thực sự bảo vệ lợi ích của mình ở Biển Đông. Những động thái gần đây cho thấy chính quyền Marcos Jr. quyết tâm thực hiện điều này với việc Manila đang tích cực nâng cao năng lực phòng thủ quốc gia của mình.

Philippines đã nỗ lực tăng cường hạm đội hải quân của mình, với kế hoạch đang được tiến hành để mua 2 tàu hộ vệ và 6 tàu tuần tra nữa từ Hàn Quốc. Hải quân Philippines cũng đang cân nhắc việc mua 2 tàu ngầm, mặc dù đây có thể là một “giấc mơ xa vời” vào lúc này vì việc mua sắm các tài sản khác sẽ phải được ưu tiên trước tiên.

Việc mua tên lửa hành trình siêu thanh tầm trung BrahMos từ Ấn Độ và kế hoạch mua hệ thống tên lửa đất đối không Akash, cũng như hệ thống tên lửa Typhon do Mỹ sản xuất, cho thấy Manila nhận thức sâu sắc về nhu cầu tăng cường năng lực phòng thủ và ngăn chặn sự hung hăng, hiếu chiến của Trung Quốc. Các hệ thống vũ khí này có thể được triển khai để tăng cường hệ thống phòng thủ bờ biển.

Trên mặt trận ngoại giao, Philippines đã ký Thỏa thuận Tiếp cận đối ứng (RAA) với Nhật Bản, cho phép các cuộc tập trận quân sự chung trên lãnh thổ của nhau. Các thỏa thuận tương tự đang được tiến hành với Canada, New Zealand và Pháp. Trong những tháng qua, Philippines cũng đã tăng cường tuần tra chung ở Biển Đông với các đồng minh như Mỹ, Nhật Bản, Australia, Canada, New Zealand và Việt Nam.

Những động thái này không phải là không có rủi ro. Khi Philippines tự khẳng định mình, Trung Quốc dự kiến sẽ đáp trả. Nếu Manila tiến hành đệ đơn kiện mới chống lại Bắc Kinh, căng thẳng có thể leo thang hơn nữa. Trung Quốc có thể coi việc này là một hành động khiêu khích và sẽ trả đũa như tiếp tục phun vòi rồng vào tàu thuyền Philippines, chặn các nhiệm vụ tiếp tế của Manila tới tiền đồn quân sự của nước này ở Bãi Cỏ Mây, hoặc thậm chí phá vỡ các quan hệ đối tác thương mại hiện có dựa vào các sản phẩm và nguồn tài trợ của Trung Quốc. Quốc gia Đông Nam Á này phải chuẩn bị cho hậu quả tiềm tàng.

Mặt khác, tại các cuộc họp trong khuôn khổ hội nghị ASEAN, Manila phải nỗ lực thúc đẩy đồng thuận trong khu vực về cách thức giải quyết tranh chấp biển và kết thúc các cuộc đàm phán về COC. Manila không có khả năng tự mình buộc Bắc Kinh tuân thủ luật pháp quốc tế, cũng không có sức mạnh quân sự để sánh ngang với Trung Quốc. Rốt cuộc, Philippines phải chuẩn bị tốt nhất cho “cuộc chiến pháp lý” nếu muốn tiến hành một vụ kiện thứ hai nhằm vào Trung Quốc ở Biển Đông. 9 năm sau khi Toà trọng tài Vụ kiện Biển Đông ra Phán quyết, Trung Quốc ngày càng có các hoạt động nguy hiểm, cưỡng ép đối với các lực lượng của Philippines. Trong khi Philippines để ngỏ khả năng khởi kiện Trung Quốc một lần nữa, điều quan trọng không kém là triển khai được một cách tiếp cận toàn diện – đó là đa dạng hoá đối tác, nâng cao năng lực phòng thủ, tận dụng tối đa các kênh ngoại giao, thúc đẩy đồng thuận trong ASEAN, để đối phó với Trung Quốc tại Biển Đông.

]]>
Cơ hội đạt Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông vẫn rất mong manh https://biendong.net/2025/06/12/co-hoi-dat-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong-van-rat-mong-manh/ Thu, 12 Jun 2025 12:41:00 +0000 https://biendong.net/?p=154345 Tại Hội nghị cấp cao ASEAN hôm 26/5/2025, Tổng thống Philippines  Ferdinand Marcos Jr., quốc gia đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các động thái hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, đã kêu gọi các nhà lãnh đạo Đông Nam Á đẩy nhanh việc thông qua Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Ông Marcos Jr. nhấn mạnh “nhu cầu cấp thiết” phải đẩy nhanh việc thông qua một bộ quy tắc “có tính ràng buộc pháp lý” để bảo vệ các quyền lợi biển và ngăn chặn “những tính toán sai lầm trên biển”.

Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm khẳng định quyền kiểm soát toàn bộ Biển Đông đã gây ra sự phản đối mạnh mẽ từ các quốc gia Đông Nam Á láng giềng. Các sự cố liên tiếp – như các cuộc tập trận quân sự và va chạm trên biển – tiếp tục làm gia tăng nguy cơ xung đột. Những hành động khiêu khích này thúc đẩy tâm lý dân tộc chủ nghĩa và làm căng thẳng quan hệ ngoại giao. Mặc dù nhiều quốc gia Đông Nam Á vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc về mặt kinh tế, nhưng căng thẳng gia tăng đã gây ra sự ngờ vực và phẫn nộ.

Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr

Trong suốt hơn 20 năm qua, các quốc gia liên quan đến tranh chấp đã kêu gọi xây dựng một COC ràng buộc để quản lý tranh chấp, sự cố căng thẳng và thúc đẩy sự ổn định biển. Tuy nhiên, bất chấp các cuộc thảo luận thường xuyên tại các diễn đàn khu vực, tiến trình đầy ý nghĩa này vẫn chưa đi đến hồi kết. Trong bối cảnh bị Trung Quốc liên tục chèn ép và có những hành động gây hấn ở Biển Đông, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã nhiều lần kêu gọi sớm đạt được một COC để giảm căng thẳng ở Biển Đông. Tại Hội nghị cấp cao ở Malaysia lần này, ông Marcos một lần nữa nhắc lại lời kêu gọi này.

Lời kêu gọi của ông Marcos Jr. được đưa ra chỉ vài ngày sau Diễn đàn An ninh Hàng hải ASEAN 2025 được tổ chức tại Manila, nơi có hơn 70 chuyên gia hàng hải, quan chức chính phủ và học giả từ 10 quốc gia thành viên ASEAN đã tham gia để giải quyết các thách thức về an ninh hàng hải trong khu vực. Tại diễn đàn, ông Hamzah Ishak, Phó Tổng giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia Malaysia, đã bày tỏ sự lạc quan thận trọng rằng COC có thể được hoàn tất vào năm tới, khi Philippines đảm nhận chức Chủ tịch luân phiên của ASEAN.

Các cuộc đàm phán về COC giữa ASEAN và Trung Quốc đã nhiều lần bị đình trệ do căng thẳng dai dẳng về các yêu sách lãnh thổ và xung đột lợi ích quốc gia. Nhiều chuyên gia tin rằng cách tiếp cận dựa trên sự đồng thuận của ASEAN không đủ sức thúc đẩy một Trung Quốc hung hăng chấp nhận bất kỳ thỏa thuận ràng buộc nào. Tại diễn đàn hàng hải ở Manila nói trên, các nhà phân tích dự đoán rằng ngay cả khi đạt được thỏa thuận như vậy, thì có khả năng phải mất ít nhất một thập kỷ nữa. Một cuộc thăm dò được thực hiện trong một cuộc thảo luận nhóm về quá trình ra quyết định dựa trên sự đồng thuận của ASEAN đã cho thấy sự hoài nghi sâu sắc. Chỉ có một người tham gia tin rằng COC có thể được hoàn tất trong vòng 3 năm. 18 người dự đoán sẽ mất một thập kỷ, trong khi phần lớn – 28 người tham gia – cho biết thỏa thuận sẽ không bao giờ thành hiện thực.

Lập trường của Trung Quốc vẫn là điều không chắc chắn lớn nhất. Mặc dù ban đầu Bắc Kinh đã bác bỏ ý tưởng về một thỏa thuận ràng buộc, nhưng hiện tại họ ủng hộ một thỏa thuận- chủ yếu là vì nó sẽ chính thức hóa các yêu sách rộng lớn của họ ở Biển Đông. Trong khi đó, các chia rẽ chính trị trong khu vực Đông Nam Á vẫn tiếp diễn, với việc Trung Quốc có ảnh hưởng đáng kể ở một số quốc gia thành viên. Để có tiến triển thực sự trong đàm phán với Trung Quốc về COC, trước tiên ASEAN phải thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên có tranh chấp và không có tranh chấp ở Biển Đông, đồng thời tiến hành các cuộc tham vấn nội bộ kỹ lưỡng để tạo nên một mặt trận thống nhất.

Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Enrique Manalo cho biết Manila đang nhắm đến mục tiêu hoàn thành COC vào năm 2026, khi nước này tiếp quản chức Chủ tịch luân phiên ASEAN từ Malaysia. Nhà ngoại giao hàng đầu của Philippines cũng cho biết Manila sẵn sàng có thêm nhiều thỏa thuận với Bắc Kinh để giúp duy trì hòa bình trên tuyến đường thủy chiến lược này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lo ngại.

Trước đây đã từng có nhiều lời kêu gọi về việc nhanh chóng hoàn tất COC, nhưng không có lời kêu gọi nào thành công. Các chuyên gia cho rằng xét đến những lợi ích khác nhau trong ASEAN cũng như mối quan hệ chặt chẽ của Campuchia và Lào với Trung Quốc, thời hạn 2026 có thể không khả thi. Ông Ian Chong, Phó Giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Quốc gia Singapore, đánh giá: “Những vấn đề còn tồn đọng dường như không thể giải quyết vào thời điểm này. Nếu đẩy nhanh đàm phán để đi đến hoàn tất COC, thỏa thuận cuối cùng đó có khả năng sẽ bỏ ngỏ những vấn đề chính chưa được giải quyết đầy đủ”.

Ngoại trừ Việt Nam, phần lớn các quốc gia ASEAN lục địa đều né tránh vấn đề COC. Các quốc gia ven biển, dù là bên tranh chấp hay là nước có lợi ích trong việc sử dụng tuyến hàng hải này, cũng tỏ ra dè dặt trong việc công khai ủng hộ Philippines, mặc dù phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế năm 2016 đã bác bỏ các yêu sách của Bắc Kinh đối với phần lớn vùng biển tranh chấp. Mỗi quốc gia có yêu sách khác nhau đối với các cấu trúc và các vùng biển ở Biển Đông. Áp lực từ Trung Quốc lên các quốc gia này cũng không giống nhau. Điều này ảnh hưởng đến lập trường và mức độ chấp nhận rủi ro của từng quốc gia.

Một trở ngại lớn hơn nữa đối với sự hợp tác sự mất lòng tin giữa các quốc gia ASEAN có yêu sách – nhiều quốc gia còn có tranh chấp với nhau, chứ không chỉ với Trung Quốc. Theo ông Thomas Daniel thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Malaysia, các quốc gia Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền “từng tin rằng việc sử dụng sức mạnh tập thể của ASEAN để đàm phán với Bắc Kinh về Biển Đông có thể mang lại kết quả thuận lợi hơn, nhưng rõ ràng điều đó đã không diễn ra như mong đợi”. Thay vào đó, Trung Quốc đã thành công trong việc khai thác “cả những ưu tiên khác nhau trong ASEAN và quá trình ra quyết định dựa trên sự đồng thuận của nhóm để mang lại lợi thế cho mình”.

Sự thất vọng của Manila đã được Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines Eduardo Ano lên tiếng vào đầu tháng này. Ông Ano cho biết trong khu vực, nhu cầu về sự đồng thuận đôi khi đã trở thành nguyên nhân dẫn tới tình trạng “trì trệ và thiếu hành động”, đồng thời cảnh báo rằng việc tìm kiếm một thỏa thuận của tất cả mọi người đã trở thành “một trở ngại để đạt được các cơ chế quan trọng và thống nhất”.

Trong vài thập kỷ qua, ASEAN đã phát triển đa dạng về lợi ích, loại hình chính phủ và mức độ phát triển kinh tế, tạo ra nhiều thách thức hơn trong việc ra quyết định, vì bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có quyền phủ quyết. Ông Dindo Manhit, Chủ tịch Viện Stratbase ADR – một trong những công ty tư vấn nghiên cứu hàng đầu của Philippines, cho biết: “Philippines từ lâu đã nhận ra rằng một số quốc gia thành viên ASEAN khó có thể đưa ra sự hỗ trợ ngay lập tức do mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc”. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là có vẻ ASEAN chưa bao giờ có ý định trở thành một khối tập trung vào an ninh.

Ông Dindo Manhit cho rằng hạn chế để khối này đồng thuận giải quyết COC bắt nguồn từ mục đích ban đầu khi thành lập ASEAN. Đó là không quan tâm nhiều đến việc giải quyết các vấn đề chính trị và văn hóa xã hội”, đồng thời nói thêm rằng trọng tâm cốt lõi của khối vẫn là hợp tác kinh tế. Theo ông, trước những hạn chế này, giải pháp tốt nhất của Philippines là theo đuổi quan hệ đối tác với các quốc gia ASEAN có biển và các quốc gia có cùng chí hướng – bao gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam – để đảm bảo quyền tự do hàng hải và hàng không, cũng như các quyền kinh tế trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Nhận thức được những hạn chế này, trong những năm gần đây, Manila đã bắt đầu tự mình giải quyết vấn đề. Nước này đã thúc đẩy chi tiêu quân sự, tăng cường quan hệ đối tác quốc phòng với các quốc gia như Nhật Bản, đồng thời mở rộng quan hệ an ninh với các đối tác bên ngoài như New Zealand, Canada, Ấn Độ, Pháp và Đức – những động thái cho thấy Manila không đặt hết hy vọng vào thỏa thuận khó lường về COC. Ông Dindo Manhit cho rằng những hành động này “không nên được coi là phản ứng chống lại bất kỳ quốc gia cụ thể nào”, mà “là một phần trong chiến lược rộng lớn hơn nhằm tăng cường thế trận an ninh và góp phần vào sự ổn định của khu vực”.

Giới phân tích nhận định mặc dù các chính trị gia Đông Nam Á vẫn tiếp tục thảo luận về COC, nhưng tình hình hiện tại cho thấy cơ hội để COC thành hiện thực là rất mong manh. Tham vọng bành trướng và các yêu sách biển phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông khiến việc này trở nên khó khăn. Điều này đã trở nên rõ ràng vào năm 2016, khi Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 về Biển Đông ra Phán quyết rằng yêu sách quyền lịch sử dựa trên “đường đứt đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý theo luật pháp quốc tế. Trung Quốc đã bác bỏ Phán quyết, tiếp tục khẳng định các yêu sách của mình và tích cực củng cố quyền kiểm soát đối với vùng biển đang tranh chấp, phản đối bất kỳ thỏa thuận nào có thể hạn chế sự thống trị của họ.

Bất chấp việc đầy rẫy những trở ngại, Philippines vẫn tiếp tục nỗ lực. Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. tiếp tục kêu gọi các nước ASEAN, đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự của các cuộc họp COC. Điều này đã giúp đưa vấn đề COC nói riêng và Biển Đông trở thành tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế. Đây cũng là cách để tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với việc ngăn chặn sự bành trướng của Bắc Kinh./.

]]>
Bắc Kinh đang tìm cách ngăn cản Manila triển khai một vụ kiện mới về Biển Đông https://biendong.net/2025/04/09/bac-kinh-dang-tim-cach-ngan-can-manila-trien-khai-mot-vu-kien-moi-ve-bien-dong/ Wed, 09 Apr 2025 02:19:00 +0000 https://biendong.net/?p=148493 Trong bối cảnh Trung Quốc tập trung các hoạt động hung hăng gây hấn nhằm vào Philippines, vào cuối năm 2024, Bộ trưởng Tư pháp Philippines Remulla tuyên bố nước này sẽ đệ đơn kiện quốc tế chống lại Trung Quốc vì “gây tổn hại đến môi trường biển”.

Bộ trưởng Tư pháp Philippines Remulla

Theo một số nguồn tin, việc Philippines một lần nữa có thể khởi kiện Trung Quốc là nhằm buộc Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm liên quan tuyến đường biển đang tranh chấp. Một phương án mà Philippines đang cân nhắc là kiện Trung Quốc về cáo buộc khai thác trai tai tượng khổng lồ và gây hại đáng kể đến hệ sinh thái của các rạn san hô trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Manila.

Xét theo thực tiễn tố tụng và trọng tài về môi trường giữa các quốc gia trước đây, các tranh chấp về bảo vệ môi trường biển có thể được đưa ra hai loại cơ chế giải quyết: Tòa án Công lý quốc tế hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tòa án Công lý Quốc tế hiếm khi giải quyết các vụ việc liên quan đến bảo vệ môi trường biển và thiếu kiến thức khoa học chuyên môn cần thiết cho việc bảo vệ môi trường biển. Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS có nhiều khả năng thụ lý tranh chấp này. So với vụ kiện do Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Toà Trọng tài về vấn đề Biển Đông năm 2013 thì loại hình tranh chấp lần này là vấn đề môi trường biển, đặt ra hai thách thức mới đối với phản ứng pháp lý của Trung Quốc.

Một là, các tranh chấp liên quan đến môi trường biển không nằm trong phạm vi tuyên bố loại trừ mà Trung Quốc đưa ra theo Điều 298 của UNCLOS. Trong trường hợp này không chỉ Toà Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS mà Toà án Liên hợp quốc về Luật biển cũng có thẩm quyền để xem xét vụ việc. 

Hai là, Trung Quốc cũng có thể phải đối mặt với những thách thức đối với các biện pháp tạm thời. Các biện pháp tạm thời là biện pháp khắc phục tạm thời để bảo vệ quyền của cả hai bên trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về tranh chấp. Theo Điều 290(1) của UNCLOS, “ngăn ngừa các tổn hại nghiêm trọng đến môi trường biển” là một trong những căn cứ để các bên trong tranh chấp yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời. Khi một bên trong tranh chấp nộp đơn xin biện pháp tạm thời để ngăn ngừa tổn hại cho môi trường biển, tòa án thường áp dụng “nguyên tắc phòng ngừa”, lập luận rằng ngay cả khi thiệt hại cụ thể về môi trường không thể được xác nhận một cách khoa học tại thời điểm hiện tại thì điều đó cũng không ngăn cản tòa án ban hành các biện pháp tạm thời.

Vụ kiện Biển Đông mà Philippines khởi kiện Trung Quốc năm 2013, dù Trung Quốc bác bỏ thẩm quyền của Toà và không tham gia vụ kiện, song Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS vẫn xác định đủ thẩm quyền thụ lý và cuối cùng đưa ra phán quyết với chiến thắng gần như tuyệt đối thuộc về Philippines, tuyên bố yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và trái với các điều khoản của UNCLOS. Mặc dù, Trung Quốc không công nhận và không thực thi phán quyết. Tuy nhiên, chiến thắng vang dội của Philippines trong vụ kiện gây ra những thách thức lớn đối với Bắc Kinh trước sức ép của cộng đồng quốc tế, nhất là giữa lúc Mỹ và các đồng minh triển khai các hoạt động hàng hải ở Biển Đông để thúc đẩy thực thi phán quyết và bảo vệ trật tự hàng hải dựa trên pháp luật. Chính vì lẽ đó, Trung Quốc đang tìm mọi cách để ngăn Philippines tiến hành một vụ kiện mới trên vấn đề Biển Đông. Theo đó, Bắc Kinh khuyến khích các chuyên gia học giả nước này có các bài viết đưa chỉ trích biện pháp pháp lý của Manila, đưa ra các ý kiến phản bác việc Philippines triển khai một vụ kiện mới, thậm chí một số học giả Trung Quốc còn đưa ra những lời lẽ mang tính đe doạ.

Thứ nhất, các chuyên gia Trung Quốc lên án Philippines khởi kiện là “trò lừa gạt pháp lý”; ngang nghiên cáo buộc Philippines dự kiến triển khai vụ kiện mới trên vấn đề môi trường không phải xuất phát từ những cân nhắc về môi trường, mà là việc sử dụng “luật pháp quốc tế” như một công cụ để “thao túng chính trị”. Các học giả Trung Quốc lập luận rằng việc Philippines khởi kiện Trung Quốc về vấn đề môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), nhưng vì tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc về EEZ chưa được giải quyết thì cáo buộc của Philippines rằng Trung Quốc đang phá hủy môi trường biển trong “vùng đặc quyền kinh tế” của nước này chắc chắn là không có căn cứ và do đó không còn được chấp nhận nữa; nếu Philippines nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tạm thời thì Trung Quốc, với tư cách là bên bị đơn, vẫn có quyền nộp đơn phản tố yêu cầu áp dụng biện pháp tạm thời.

Chuyên gia Đinh Đạc (Ding Duo) – Viện trưởng Viện Nghiên cứu khu vực và quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu Biển Đông Trung Quốc cho rằng Ở Biển Đông, bờ biển lãnh thổ đất liền của Trung Quốc và bờ biển Philippines đối diện nhau, cách nhau chưa đến 400 hải lý. Với sự phát triển của luật Biển quốc tế, hai nước có các quyền và lợi ích hàng hải chồng lấn ở Biển Đông, điều này cũng dẫn đến các tranh chấp ranh giới trên biển. Philippines cần phải có nhận thức và hiểu rõ về tranh chấp ở Biển Đông. Giải pháp khả thi duy nhất là quản lý các bất đồng thông qua đàm phán và tham vấn song phương. Mọi nỗ lực khởi kiện một lần nữa như vụ kiện Trung Quốc lên Toà Trọng tài hoặc việc sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp của bên thứ ba khác sẽ chỉ làm cho các vấn đề trở nên phức tạp hơn. Qua ý kiến của ông Đinh Đạc có thể thấy Trung Quốc đang lo ngại Philippines khởi kiện một lần nữa và họ đang tìm mọi cách để cản trở việc Manila sử dụng biện pháp pháp lý.

Thứ hai, Bắc Kinh còn thông qua các chuyên gia, học giả nước này đưa ra những lời đe doạ đối với Manila. ông Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), chuyên gia hàng hải hàng đầu của Trung Quốc và là người sáng lập Viện quốc gia Nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc cảnh báo trong trường hợp Manila khởi động vụ kiện Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông lên Tòa Trọng tài lần thứ hai, Bắc Kinh sẽ không ngồi yên và có các “công cụ đa dạng hơn” để đáp trả.

Chuyên gia Ngô Sĩ Tồn cho biết Bắc Kinh có thể thực hiện các biện pháp đối phó mạnh mẽ để thể hiện quyết tâm đáp trả đồng thời khiến Manila “hao tâm tốn của” khi khởi xướng các thủ tục pháp lý. Phát biểu bên lề Hội nghị An ninh Munich trung tuần tháng 2 vừa qua, ông Ngô Sĩ Tồn cho biết: “Để chống lại vụ kiện, Trung Quốc phải đảm bảo rằng chi phí mà Philippines bỏ ra lớn hơn lợi ích thu được, khiến hành động của nước này trở nên vô ích”.

Ông Ngô Sĩ Tồn gợi ý hai biện pháp cụ thể đối phó hiệu quả với nỗ lực khởi kiện lần thứ 2 có thể là: (i) Bắc Kinh đặt ra thời hạn chót để Manila di dời tàu chiến BRP Sierra Madre, tàu đổ bộ thời Chiến tranh Thế giới thứ hai được Manila cố tình bố trí tại Bãi Cỏ Mây như một tiền đồn ở vùng biển đang tranh chấp. Nếu Manila không đáp ứng yêu cầu này trước thời hạn chót, Bắc Kinh có thể kéo tàu đi; (ii) Trung Quốc phát triển cơ sở hạ tầng trên Bãi cạn Scarborough, bao gồm căn cứ thực thi pháp luật hải cảnh, các cơ sở hỗ trợ hậu cần, các viện nghiên cứu môi trường biển và ngọn hải đăng, cũng sẽ được xem xét để củng cố quyền kiểm soát của Trung Quốc (thực chất là bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo và biến nó thành căn cứ quân sự). Chuyên gia Ngô Sĩ Tồn còn nhấn mạnh: “Phản ứng của Trung Quốc cũng có thể đóng vai trò như một tín hiệu cảnh báo cho các quốc gia khác về hậu quả của việc thực hiện các biện pháp tương tự”.

Giới chuyên gia nhận định Bắc Kinh đang lợi dụng việc chính quyền của Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 bận tập trung giải quyết cuộc chiến ở Ucraina và tình hình Trung Đông qua ông Ngô sĩ Tồn để đưa ra những lời đe doạ gây sức ép với Manila từ bỏ biện pháp pháp lý trên vấn đề Biển Đông.

Thứ ba, Trung Quốc cáo buộc Philippines lạm dụng các thủ tục tư pháp quốc tế; vu cáo Mỹ xúi giục và khuyến khích Manila khởi kiện để tạo rắc rối ở Biển Đông. Động thái xúi giục khởi kiện của một số nhân sĩ ở Philippines không xuất phát từ thiện chí hay mối quan tâm thực sự đối với môi trường biển ở Biển Đông; vu cáo Philippines Philippines đã vi phạm “nguyên tắc đồng ý của các bên liên quan” khi đơn phương khởi kiện.

Chuyên gia Đinh Đạc (Ding Duo) – Viện trưởng Viện Nghiên cứu khu vực và quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu Biển Đông Trung Quốc lập luận rằng một số người lấy việc Trung Quốc xây dựng đảo và rạn san hô nhiều năm trước làm cái cớ chỉ trích Trung Quốc phá hoại môi trường là không có căn cứ. Những người này không dựa vào dữ liệu khoa học đáng tin cậy, cũng như không có thái độ khoa học nghiêm túc, mà dựa vào thành kiến của mình. Họ đã bôi nhọ Trung Quốc với cáo buộc gây ô nhiễm môi trường biển.

Chuyên gia Đinh Đạc bao biện cho các hành vi của Bắc Kinh rằng việc xây dựng đảo và bãi đá của Trung Quốc dựa trên cơ sở luận cứ điều tra, áp dụng phương án xây dựng nạo vét sỏi đầm phá và lấp đầy bãi đá bên trong, đồng thời cân nhắc đầy đủ các yếu tố như môi trường sinh thái biển, đặc biệt là bảo vệ rạn san hô. So với dữ liệu đánh giá tác động môi trường trước khi xây dựng, tác động của việc xây dựng đảo và bãi đá lên các rạn san hô nhìn chung là rất hạn chế. Sau khi hoàn thành việc xây dựng đảo và bãi đá, Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp khả thi nhất để bảo vệ và phục hồi hệ thống rạn san hô và tiếp tục thực hiện giám sát sinh thái và môi trường.

Ông Đinh Đạc còn tố cáo ngược lại đối với Philippines khi cho rằng thân tàu chiến của Philippines mắc cạn tại “Đá Nhân Ái” (cách Trung Quốc gọi Bãi Cỏ Mây) thuộc quần đảo “Nam Sa” (cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa) đã bị ăn mòn, và cặn dầu nhiên liệu trên tàu đã gây thiệt hại đáng kể cho môi trường biển tại “Đá Nhân Ái”. Philippines đã tìm đủ mọi cách để gia cố tàu chiến bị mắc cạn. Chất thải xây dựng và rác thải sinh hoạt do quân nhân đồn trú trên tàu thải ra đã gây ra những tác động phá hoại không thể phục hồi đối với môi trường sinh thái biển của “Đá Nhân Ái”.

Các chuyên gia môi trường quốc tế đều cho rằng lý lẽ của ông Đinh Đạc hoàn toàn là những lời bao biện, lấp liếm cho các hành vi sai trái của họ. Trên thực tế, trong quá trình thụ lý vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng năm 2013, Toà Trọng tài đã xem xét đầy đủ các khía cạnh liên quan tới hành vi bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc trên các thực thể ở Biển Đông và đưa ra phán quyết năm 2016 kết luận hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa từ cuối năm 2013 đã vi phạm hàng loạt các nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển theo quy định của UNCLOS, cụ thể: (a) vi phạm các nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển theo các Điều 192; hoạt động nạo vét lấy vật liệu cho hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc vi phạm nghĩa vụ ở Điều 194(1) khi gây ô nhiễm trầm tích cho môi trường biển; việc Trung Quốc không có biện pháp để bảo vệ hệ sinh thái và môi trường sống của các loài bị đe dọa vi phạm nghĩa vụ theo Điều 194(5); việc Trung Quốc không có bất kỳ nỗ lực nào để hợp tác hay phối hợp với các quốc gia xung quanh Biển Đông khi thực hiện hoạt động xây dựng đảo đã vi phạm nghĩa vụ hợp tác theo Điều 197 và Điều 123; việc Trung Quốc không báo cáo đánh giá tác động môi trường khi thực hiện hoạt động xây dựng đảo đã vi phạm nghĩa vụ ở Điều 206.

Tóm lại, giới luật gia quốc tế cho rằng ý kiến của các chuyên gia, học giả Trung Quốc chỉ là sự nguỵ biện để che đậy cho các tham vọng và hành động hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, hoàn toàn không có cơ sở pháp lý khoa học. Đối với những tranh chấp phức tạp ở Biển Đông sử dụng biện pháp pháp lý để giải quyết là cách thức công bằng và phù hợp nhất. Philippines là nước đi đầu trong sử dụng biện pháp pháp lý trên vấn đề Biển Đông và đã đưa đến những kết quả tích cực. Nếu Philippines triển khai một vụ kiện mới thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật, góp phần thúc đẩy một trật tự dựa trên pháp luật và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.

]]>
Tuyên bố của chính phủ về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ: Nội dung và ý nghĩa https://biendong.net/2025/02/22/tuyen-bo-cua-chinh-phu-ve-duong-co-so-dung-de-tinh-chieu-rong-lanh-hai-cua-viet-nam-trong-vinh-bac-bo-noi-dung-va-y-nghia/ Sat, 22 Feb 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=145381 Ngày 21/02/2025, Chính phủ đã ra Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, đánh dấu việc từ nay, đường cơ sở của Việt Nam chính thức được hoàn thiện toàn bộ từ Bắc xuống Nam, từ cửa sông Bắc Luân tiếp giáp với Trung Quốc đến Điểm 0 nằm trên ranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia.

Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam lần đầu tiên được công bố tại Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ. Khi đó, đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam là đường cơ sở thẳng gồm 11 đoạn, nối liền từ Điểm 0 là điểm tiếp giáp của hai đường cơ sở Việt Nam và Campuchia ở giữa đoạn thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu của Việt Nam và đảo Wai của Campuchia, đi qua các điểm cơ sở tại các điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ và bờ biển Việt Nam kéo đến điểm A11 ở đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị. Tại Tuyên bố ngày 21/02/2025, Chính phủ đã công bố phần còn lại của đường cơ sở là đoạn nằm trong Vịnh Bắc Bộ. Theo đó, đường cơ sở tiếp tục được nối từ Điểm A11 tại đảo Cồn Cỏ qua các điểm Hòn Gió Lớn (Điểm A12), Hòn Chim (Điểm A13), Hòn Mắt Con (Điểm A14), Đảo Hòn Mê (Điểm A15), Đảo Long Châu Đông (Điểm A16), Đảo Hạ Mai (Điểm A17, Điểm A18), Đảo Thanh Lam (Điểm A19, Điểm A20), Hòn Bồ Cát (Điểm A21, Điểm A22), Đảo Trà Cổ (Điểm A23) đến Điểm A24 là Điểm số 1 của đường phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của đảo Bạch Long Vĩ là đường cơ sở thông thường theo ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của đảo; ranh giới ngoài lãnh hải tại khu vực cửa sông Bắc Luân là đường nối 9 điểm theo đường phân định lãnh hải trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc và điểm 10 có tọa độ xác định trên vùng biển Việt Nam.

Sơ đồ minh họa đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ là vùng biển nửa kín, có nhiều nơi bị chia cắt, nhiều khu vực với nền địa chất không ổn định, thường xuyên bị bồi lắng, thay đổi theo mùa. Khu vực Vịnh Hạ Long với 1.969 hòn đảo lớn nhỏ đan xen, trải rộng trên vùng biển khoảng 1.600km2 đã tạo ra hoàn cảnh địa lý đặc biệt, rất phức tạp. Ven bờ biển Vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam có các đảo chạy dọc theo bờ biển (Hòn Ông, Hòn Chim, Hòn Mê…), khoảng cách từ các đảo này đến bờ biển nhỏ hơn 12 hải lý và khoảng cách liên tiếp giữa các đảo này không quá lớn, cùng với các đảo, đá nhỏ phía ngoài cùng của Vịnh Hạ Long tạo thành một chuỗi đảo. Vùng nước phía trong Vịnh Hạ Long và các đảo ven bờ biển Vịnh Bắc Bộ có độ gắn bó mật thiết đủ để tạo thành nội thủy của Việt Nam. Điều kiện tự nhiên này của Vịnh Bắc Bộ đáp ứng các tiêu chí được nêu tại Điều 7 Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 về việc vạch đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Vận dụng các quy định của Điều 5, Điều 7, Điều 14 UNCLOS 1982, xét trên hoàn cảnh địa lý thực tế của Vịnh Bắc Bộ, Chính phủ Việt Nam đã xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ. Theo cách xác định ở trên, đường cơ sở này với các điểm cơ sở được xác định tại các đảo ngoài cùng, chạy dọc theo bờ biển và cách bờ biển không quá 12 hải lý đã bám sát theo hình dạng chung của bờ biển Vịnh Bắc Bộ và đường cơ sở đảo Bạch Long Vĩ theo ngấn nước thủy triều thấp nhất quanh đảo. Về cơ bản, đường cơ sở này được xác lập phù hợp với các quy định của UNCLOS 1982.

Việc xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ là việc làm cần thiết bởi Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ mới chỉ xác định đường cơ sở của Việt Nam xuất phát từ vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia đến đảo Cồn Cỏ, chưa quy định đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ do khi đó, Vịnh Bắc Bộ được coi là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy của Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ, trong đó hai bên thừa nhận Vịnh Bắc Bộ có đầy đủ các vùng biển (nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) theo quy định của UNCLOS 1982. Sau khi Hiệp định này có hiệu lực vào năm 2004, Vịnh Bắc Bộ không còn là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy như Tuyên bố của Chính phủ về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải năm 1982 nữa. Do vậy, Việt Nam cần xác định đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ để làm căn cứ xác định ranh giới ngoài của các vùng biển ở khu vực này, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động trên biển của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ.

Việc Chính phủ Việt Nam xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ đã đáp ứng nhu cầu cần thiết nêu trên. Đây là hoạt động bình thường nhằm thực thi quyền của quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982 mà Việt Nam là thành viên. Hoạt động này cũng căn cứ theo quy định của pháp luật Việt Nam nêu tại Điều 8 Luật Biển Việt Nam: “Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.

Đối với Việt Nam, việc xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trong Vịnh Bắc Bộ mang ý nghĩa quan trọng. Đây là căn cứ để xác định ranh giới các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được hưởng theo quy định của luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982; giúp củng cố thêm cơ sở pháp lý để thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam; bảo đảm các quyền và lợi ích của Việt Nam và không ảnh hưởng đến Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia hoặc là thành viên.

Việc công bố đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ giúp hoàn thiện toàn bộ hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lãnh thổ đất liền Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để các lực lượng chức năng của Việt Nam thực thi các nhiệm vụ quản lý vùng biển của Việt Nam, trong đó có khu vực Vịnh Bắc Bộ, góp phần phục vụ công tác phát triển kinh tế biển bền vững và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Như vậy, việc Chính phủ Việt Nam xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trong Vịnh Bắc Bộ không chỉ là hoạt động thực thi quyền và nghĩa vụ của một quốc gia thành viên UNCLOS 1982 mà còn là căn cứ quan trọng để xây dựng và phát triển Vịnh Bắc Bộ thành vùng biển an toàn, hòa bình, hợp tác và phát triển.

]]>
Diễn biến pháp lý mới trên Biển Đông: Philippines đệ trình ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng                         https://biendong.net/2024/12/07/dien-bien-phap-ly-moi-tren-bien-dong-philippines-de-trinh-ranh-gioi-ngoai-them-luc-dia-mo-rong/ Sat, 07 Dec 2024 04:54:38 +0000 https://biendong.net/?p=141856 Ngày 14/6/2024, ngày cuối cùng khoá họp lần thứ 34 của Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS 1982, kỷ niệm 30 năm UNCLOS 1982 có hiệu lực, diễn ra từ ngày 10 – 14/6/2024 tại trụ sở của Liên hợp quốc, Phái đoàn thường trực Cộng hòa Philippines tại New York/Mỹ đã đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (CLCS) bản báo cáo một phần về các thông tin liên quan đến ranh giới thềm lục địa của nước này mở rộng bên ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trên Biển Đông.

Đây là lần đệ trình thứ hai của Philippines. Trước đó, nước này đã đệ trình báo cáo vào năm 2009 liên quan đến khu vực Benham Rise ở Thái Bình Dương.

Báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của Philippines chồng lấn với chủ quyền của các nước có liên quan khác ở Biển Đông

Theo qui định của UNCLOS 1982, thời hạn cuối cùng để các nước đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS là ngày 13/5/2009. Tại Biển Đông, Indonesia là nước đầu tiên trình ranh giới ngoài thềm lục địa tại khu vực Tây Bắc đảo Sumatra Island vào ngày 16/6/2008. Việt Nam trình một phần ở khu vực Bắc Biển Đông (VN-N) ngày 06/5/2009. Hồ sơ chung Malaysia – Việt Nam được trình ngày 07/5/2009 và Malaysia đệ trình một phần riêng của mình ngày 12/12/2019. Philippines trình hồ sơ riêng về ranh giới ngoài thềm lục địa bên ngoài Biển Đông, tại khu vực Benham Rise ngày 08/4/2009 và đã được CLCS đưa ra các kiến nghị ủng hộ ngày 12/4/2012.

Khu vực thềm lục địa ngoài 200 hải lý mà Philippines yêu sách trong bản báo cáo lần này nằm ở phía Tây đảo Palawan, thuộc khu vực giữa Biển Đông. Phía Philippines bày tỏ việc đệ trình báo cáo của mình là nhằm mục đích xây dựng lòng tin, thúc đẩy hợp tác và giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới biển. Đồng thời, ghi nhận báo cáo của mình có thể chồng lấn với báo cáo của Việt Nam ở phía Bắc Biển Đông năm 2009, báo cáo chung giữa Việt Nam và Malaysia năm 2009 và báo cáo gần đây nhất của Malaysia năm 2019. Tuy nhiên, Philippines khẳng định việc này được thực hiện phù hợp với Điều 76 của UNCLOS 1982, phù hợp với Phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) về tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông năm 2016. Phía Philippines cho biết, sẵn sàng thảo luận với các nước liên quan để phân định biển.

Phạm vi thềm lục địa mở rộng mà Philippines yêu sách trong bản báo cáo lần này cho thấy: 1/ Nước này yêu sách cả thềm lục địa mở rộng từ đảo Sabah/North Borneo, nơi đang có tranh chấp chủ quyền với Malaysia; 2/ Ngoài chồng lấn với các khu vực báo cáo đệ trình chung của Việt Nam và Malaysia, báo cáo đệ trình ở phía Bắc Biển Đông của Việt Nam, báo cáo đệ trình của Malaysia năm 2019, yêu sách của Philippines lần này còn chồng lấn với vùng thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam tính từ đường cơ sở.

Philippines tính toán gì khi tiếp tục đệ trình báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS

Như trên đã nói, hạn cuối cùng để đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS là năm 2009. Thế nhưng, theo Bộ Ngoại giao Philippines, nước này phải mất hơn 15 năm “nghiền ngẫm” để chuẩn bị cho việc đệ trình báo cáo lần này. Giải thích về vấn đề này, ông Marshall Louis Alferez – Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Philippines phụ trách các sự vụ hàng hải và đại dương cho rằng: “Các sự cố trên biển có xu hướng làm lu mờ tầm quan trọng của những thứ nằm bên dưới. Đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trải dài từ quần đảo của chúng tôi lên đến mức tối đa được UNCLOS 1982 cho phép hiện nắm giữ các nguồn tài nguyên tiềm năng đáng kể, vốn sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia và người dân của chúng tôi trong nhiều thế hệ tiếp theo”. Vì thế, ông này nhấn mạnh: “Hôm nay, chúng tôi bảo đảm tương lai của mình bằng cách thể hiện đặc quyền của mình trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quyền ECS của chúng tôi”. Mặt khác, đệ trình báo cáo này diễn ra trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông ngày càng gia tăng, đặc biệt là từ tháng 3/2023 đến nay, tàu Hải cảnh Trung Quốc liên tục sử dụng vòi rồng tấn công vào tàu chở hàng tiếp tế của Philippines ở bãi Cỏ Mây. Vì thế, việc làm của Philippines vào thời điểm này có thể xuất phát từ một số tính toán sau:

Thứ nhất, chính quyền Tổng thống Marcos Jr muốn tiếp tục khẳng định giá trị pháp lý mà phán quyết của PCA đã đưa ra ngày 12/7/2016. Bởi: Một là, báo cáo trên được Philippines đưa ra ngày 14/6/2024, nghĩa là trước dịp kỷ niệm 8 năm ngày PCA ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông gần một tháng. Bằng việc làm này, Philippines một lần nữa muốn “nhắc nhở” Trung Quốc rằng, Phán quyết của PCA có giá trị pháp lý và mang tính ràng buộc, trong khi đó Trung Quốc là thành viên của UNCLOS 1982, nên phải có nghĩa vụ thực thi phán quyết này. Nhiều nước trên thế giới đã từng lên tiếng về vấn đề này đối với Trung Quốc. Chỉ tính riêng hai năm 2020 – 2021, “cuộc chiến pháp lý” dựa trên Phán quyết của PCA và UNCLOS 1982 đã diễn ra với 25 công hàm, 2 thư ngoại giao và 1 tuyên bố gồm: 1 tuyên bố từ Brunei, 9 công hàm và 1 công thư từ Trung Quốc, 3 công hàm từ Malaysia, 3 công hàm từ Philippines, 3 công hàm từ Việt Nam, 2 công hàm từ Indonesia, 1 công hàm từ Australia, Pháp, Anh, Đức, Nhật và 1 công thư từ Mỹ. Trừ Trung Quốc, nội dung các công hàm trên đều thể hiện: 1/ Kêu gọi công nhận sự thống nhất và tính phổ quát của UNCLOS 1982 trong việc quy định khung pháp lý cần thiết cho mọi hoạt động trên biển và đại dương phải tuân theo. UNCLOS 1982 là cơ sở pháp lý căn bản để giải quyết các tranh chấp biển; 2/ Phán quyết ngày 12/7/2016 của PCA là chung thẩm và bắt buộc với các bên tranh chấp, cụ thể là Philippines và Trung Quốc; 3/ Các thực thể ở Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý; 4/ Quyền tự do hàng hải và hàng không trong Biển Đông cần phải được tôn trọng; 5/ Phương pháp vẽ đường cơ sở quần đảo chỉ được áp dụng cho các quốc gia quần đảo và chúng không thể được áp dụng một cách bất hợp pháp cho các đảo xa bờ của quốc gia ven biển; 6/ Các hoạt động cải tạo đất và tất cả các hình thức chuyển hóa nhân tạo khác không làm thay đổi quy chế pháp lý và sự phân loại các thực thể trên biển theo UNCLOS 1982; 7/ Yêu sách liên quan đến thực thi “các quyền lịch sử” tại Biển Đông của Trung Quốc là không phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Hai là, Phán quyết của PCA tạo khả năng cho phép mở rộng thềm lục địa từ các đảo chính của Philippines trong khi làm rõ mỗi thực thể biển ở quần đảo Trường Sa chỉ có lãnh hải tối đa 12 hải lý. 

Thứ hai, báo cáo của Philippines có thể nhằm bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đòi yêu sách ở Biển Đông thông qua tấm bản đồ “đường chín đoạn” (nay là 10 đoạn) chiếm hơn 80% diện tích vùng biển này. Tuy nhiên, đây là tấm bản đồ được “sáng tác” dưới thời Quốc dân đảng, không dựa trên một quy chuẩn pháp lý nào cả, thế cho nên Trung Quốc mới “tùy ý” thêm hoặc bớt các “đoạn” nếu muốn. Phán quyết của PCA năm 2016 đã bác bỏ yêu sách này của Trung Quốc, khẳng định bản đồ “đường chín đoạn” của Trung Quốc là không có cơ sở pháp lý. Điều này cũng có nghĩa là Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi “quyền lịch sử” đối với các nguồn tài nguyên bên trong các vùng biển nằm trong “đường chín đoạn”. Báo cáo thông tin về ranh giới ngoài thềm lục địa lần này của Philippines nằm trong phạm vi “đường chín đoạn” đó, vì vậy có thể xem đây là một hành động pháp lý tiếp theo của Manila nhằm phủ nhận, bác bỏ yêu sách trên của Trung Quốc.

Thứ ba, Manila có thể muốn khẳng định tính pháp lý của đường cơ sở quần đảo Philippines năm 2012, đường này đã được sửa đổi cho phù hợp hơn với UNCLOS 1982 khi tách biệt yêu sách khu vực “Kalayaan” khỏi phạm vi quần đảo. 

Thứ tư, nó tạo điều kiện kích hoạt điều 5 của Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines 1951 mà theo đó, Mỹ có trách nhiệm bảo vệ các lực lượng vũ trang Philippines, các tàu và máy bay công vụ (bao gồm cả lực lượng cảnh sát biển) khỏi các cuộc tấn công vũ trang trong Biển Đông. Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngày 19/6/2024 đã nói với người đồng cấp Philippines Enrique A. Manalo rằng, “các hành động của phía Trung Quốc chống lại Philippines ở Biển Đông đã làm ảnh hưởng đến hoà bình và an ninh khu vực và tác động tới lợi ích của Mỹ”. 

Thứ năm, việc làm này có thể là một cách nhằm thúc đẩy tiến trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) đang bế tắc. Năm 2018, ASEAN và Trung Quốc chính thức khởi động trình tự đàm phán COC. Thủ tướng Trung Quốc khi đó là Lý Khắc Cường đã đưa ra mục tiêu hoàn tất đàm phán COC trong vòng 3 năm, nhưng đến nay đã 6 năm sau các cuộc đàm phán, COC vẫn chưa có tín hiệu tích cực nào, chứ đừng nói là đột phá. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc tháng 7/2023, hai bên tiết lộ đã hoàn thành vòng đọc văn kiện lần thứ hai. Bên cạnh đó, cũng áp dụng một bộ nguyên tắc chỉ đạo để đẩy nhanh tốc độ đàm phán. Song, ASEAN và Trung Quốc vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình đàm phán, nhất là các vấn đề như tính ràng buộc về pháp lý của COC, phạm vi địa lý bao phủ và hoạt động vi phạm lệnh cấm cụ thể. Trung Quốc không muốn COC có sự ràng buộc pháp lý, trong khi ASEAN lại muốn điều này. Tháng 11/2023, Philippines lấy lý do tiến trình đàm phán COC tiến triển chậm, trong khi Trung Quốc lại ngày càng vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền các nước trên Biển Đông, trong đó có Philippines. Vì vậy, Philippines đề xuất sẽ cùng Malaysia và Việt Nam thảo luận một COC khác về Biển Đông. Tuy nhiên, Việt Nam và Malaysia khó có thể chấp nhận đề xuất này của Philippines. Nói cách khác, COC sẽ khó đạt được đột phá đáng kể trong năm nay. Trong bối cảnh như vậy, việc Philippines đệ trình báo cáo trên là một “sức ép”, khiến cho các bên, đặc biệt là Trung Quốc có động lực để nỗ lực đàm phán COC hiện tại.

Cuối cùng và chưa phải là hết, đó là hiện nay, ông Efren Perez Carandang – đại diện của Philippines, đang là thành viên của CLCS nhiệm kỳ 2023 – 2028. Thời gian qua, ông này đã đưa ra các khuyến nghị trong quá trình chuẩn bị đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa của Philippines lên CLCS. Việc làm này cho thấy, Philippines có thể tiếp tục tranh thủ sự hiện diện của ông Efren Perez Carandang trong CLCS để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình ở Biển Đông.

Những thách thức đối với đệ trình báo cáo của Philippines

Tính toán của Philippines là vậy và còn có thể nhiều hơn nữa, nhưng thực hiện được không dễ, bởi quá trình đó Manila có thể gặp một số thách thức sau:

Thứ nhất, các điều kiện địa chất đáy biển của quốc gia quần đảo không thích hợp cho việc mở rộng bên ngoài lãnh hải theo “sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra biển cho tới rìa ngoài của thềm lục địa” do sự xuất hiện của máng sâu Palawan Trench, tạo ra đứt gãy. Đây có thể là lý do vì sao Philippines lựa chọn sử dụng phương pháp vòng cung không vượt quá 60 hải lý tính từ chân dốc thềm lục địa (FOS) theo Điều 76 mục 4 của UNCLOS 1982, thay cho phương pháp xác định ranh giới ngoài dựa trên bề dày trầm tích. Chính báo cáo đệ trình đã công nhận không sử dụng công thức trên do các dữ liệu về bề dày trầm tích không đủ trong khu vực West Palawan Region (WPR).

Thứ hai, phần phía Nam của báo cáo đệ trình mở rộng từ Sabah, vùng đất tranh chấp chủ quyền với Malaysia và do đó chồng lấn với hồ sơ chung năm 2009 của Việt Nam – Malaysia đệ trình về ranh giới ngoài thềm lục địa. 

Thứ ba, báo cáo đệ trình của Philippines có thể chồng lấn với báo cáo  riêng của Việt Nam ở khu vực miền Trung, nơi Việt Nam đã từng tuyên bố bảo lưu quyền chủ quyền của mình khi phản đối tuyên bố mở rộng thềm lục địa của Malaysia tháng 12/2019. 

Thứ tư, tranh chấp chủ quyền đối với các thực thể trong quần đảo Trường Sa vẫn tồn tại sẽ làm nảy sinh tiếp vấn đề phân định biển của các vùng đáy biển thuộc lãnh hải của các thực thể này với yêu sách thềm lục địa mở rộng của Philippines.  

Thứ năm, kết hợp các yêu sách đơn phương về thềm lục địa mở rộng với Phán quyết năm 2016 của PCA về các thực thể tại quần đảo Trường Sa chỉ nên có lãnh hải 12 hải lý, Biển Đông có thể có vùng Biển cả nhưng sẽ không có Vùng đáy biển di sản chung của loài người. Hoàn cảnh này sẽ làm nảy sinh các thách thức trong việc áp dụng chế độ quản lý biển thích hợp do các vùng biển có quy chế pháp lý khác nhau. 

Điểm sáng trong báo cáo đệ trình lần này của Philippines là họ thừa nhận sự tồn tại của các báo cáo đệ trình đã có trước kia của Việt Nam và Malaysia hơn là bác bỏ chúng và thể hiện mong muốn được thảo luận phân định biển với các nước liên quan. Báo cáo đệ trình cũng không nêu tên Trung Quốc cho đàm phán thềm lục địa.  

Phải chăng một “cuộc chiến pháp lý” mới sẽ bắt đầu

Ngay sau việc làm trên của Philippines, những nước có liên quan trực tiếp đã có phản ứng.

Với Malaysia. Nước này đã phản ứng bằng việc tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình ở khu vực Sabah. Tại công hàm ngày 27/6/2024, Malaysia nhắc lại: “Bang Sabah là và luôn luôn là một phần không thể tách rời của Malaysia, điều này đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận như một phần của Malaysia kể từ khi thành lập Liên bang Malaysia ngày 16/9/1963. Cộng hoà Philippines yêu sách chủ quyền trên Sabah là không phù hợp với nghĩa vụ erga omnes của họ công nhận và ủng hộ việc thực hiện hợp pháp quyền dân tộc tự quyết của người dân Sabah năm 1963. Vì vậy, rõ ràng yêu sách của Philippines với Sabah là không có bất kỳ cơ sở nào theo luật quốc tế”. (Hiểu theo nghĩa thông thường, một quy phạm có tính chất erga omnes là một quy phạm có giá trị pháp lý đối với tất cả chủ thể của luật quốc tế, bao gồm quốc gia và tổ chức quốc tế liên chính phủ).

Về phía Trung Quốc, nước này đã có đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa tại biển Hoa Đông lên CLCS ngày 11/5/2009. Tuy nhiên, tại Biển Đông, Trung Quốc chưa thể hiện gì về yêu sách thềm lục địa mở rộng. Lập trường này có thể được hiểu là do các yêu sách “đường chín đoạn” và “Nam Hải chư đảo” thái quá của Trung Quốc, đã bao phủ hầu như toàn bộ vùng nước và đáy biển Biển Đông. Ngày 17/6/2024, Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc cảnh báo, “đệ trình đơn phương của Philippines về mở rộng thềm lục địa của họ tại Biển Đông xâm phạm tới các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc, vi phạm luật quốc tế, bao gồm cả UNCLOS 1982 và đi ngược lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông – DOC”. Tiếp đó, ngày 19/6/2024, Trung Quốc lại gửi công hàm khẳng định chủ quyền không tranh cãi tại “Nam Hải chư đảo” và các vùng nước tiếp giáp, khẳng định nước này có các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng. Trung Quốc yêu cầu CLCS không xem xét bản báo cáo đệ trình của Philippines.

Đối với Việt Nam, ngày 20/6/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố, Việt Nam sẽ bảo lưu mọi quyền và lợi ích của mình theo luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, và thể hiện sự sẵn sàng thảo luận với Philippines để tìm ra và đạt được một giải pháp phù hợp với lợi ích hai nước. 

Vì những phản ứng trên, có thể xem việc Philippines đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa tại Biển Đông như là tín hiệu về sự bắt đầu của vòng ba “cuộc chiến pháp lý” mới về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, mà vòng một và vòng hai đã từng xảy ra vào các năm 2009 và 2019. Các ranh giới biển, bao gồm cả các ranh giới ngoài của thềm lục địa chồng lấn, nơi các bờ biển đối diện nhau không quá 700 hải lý cần phải được các nước hữu quan thoả thuận và không phải thuộc thẩm quyền của CLCS. Theo quy định, các quốc gia ven biển là thành viên UNCLOS 1982 có quyền xác định ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của mình trên cơ sở phù hợp với quy định liên quan của UNCLOS 1982. Tuy nhiên, quốc gia ven biển khi đệ trình ranh giới ngoài thềm lục địa cần tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia ven biển liên quan khác có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền. Vì vậy, trong tương lai gần, Philippines nên xem xét rút lại các phản đối của họ đối với hồ sơ chung của Việt Nam – Malaysia đã đệ trình và đàm phán với các nước này để tìm một giải pháp có thể chấp nhận được. Việc Philippines đệ trình báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa lên CLCS có thể coi là một diễn biến pháp lý mới tại Biển Đông, trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền ở vùng biển này ngày càng phức tạp, buộc các nước có chủ quyền liên quan phải theo dõi sát sao và có giải pháp ứng xử phù hợp.

]]>
Thỏa thuận tiếp cận đối ứng Nhật – Phi, “sóng lớn” khiến Biển Đông thêm phần “chao đảo” https://biendong.net/2024/11/05/thoa-thuan-tiep-can-doi-ung-nhat-phi-song-lon-khien-bien-dong-them-phan-chao-dao/ Tue, 05 Nov 2024 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=140577 Ngày 08/7/2024, Nhật Bản và Philippines đã ký kết với nhau “Thỏa thuận tiếp cận đối ứng” (RAA) về quốc phòng. Sự kiện này liên tục thu hút sự quan tâm rất lớn cũng như đánh giá, bình luận của dư luận khu vực và thế giới.

Trong đó, đa số ý kiến đều thống nhất cho rằng, RAA ra đời không chỉ thể hiện mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước đã nâng lên một tầm cao mới “chưa từng có”, mà điều sâu xa hơn, quan trọng hơn là: Cả Nhật Bản và Philippines đều muốn gửi đến Trung Quốc một “thông điệp” mạnh mẽ hơn, “nhắc nhở” và “cảnh báo” Bắc Kinh về những gì họ đã và đang thực hiện.

Đó là:

Thứ nhất, không xâm phạm lợi ích của Philippines và Nhật Bản ở Biển Đông

Với Nhật Bản, là quốc gia nằm ở Đông Bắc Á, có vùng biển riêng của mình là biển Nhật Bản và một phần biển Hoa Đông nhưng vẫn thuộc châu Á – Thái Bình Dương, nên quốc đảo này có lợi ích gắn chặt với Biển Đông về nhiều mặt, vì tuy Biển Đông nằm ở Đông Nam Á, nhưng nó lại kết nối gần như liền mạch với Đông Bắc Á và hình thành nên một khu vực biển Đông Á hoàn chỉnh.

Lẽ đương nhiên, Nhật Bản không có và không thể có tranh chấp gì về chủ quyền ở Biển Đông với các nước Đông Nam Á, nhưng Nhật Bản lại có nhiều lợi ích ở vùng biển này. Trước hết là về kinh tế và thương mại: Đây là tuyến đường biển vận tải hàng hóa quan trọng bậc nhất đối với Nhật Bản. Khoảng 42% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật được vận chuyển đi qua vùng biển này, chủ yếu là các nguyên, nhiên liệu, đặc biệt là các loại nhiên liệu hóa thạch rất cần thiết cho việc đảm bảo ổn định nguồn năng lượng phục vụ cho sự phát triển của Nhật Bản. Nếu tuyến hàng hải cực kỳ nhộn nhịp ở Biển Đông bị cản trở hoặc tắc nghẽn, các tàu thuyền của Nhật Bản sẽ phải chuyển lộ trình sang eo biển Lombok và Đông Philippines, khi đó Tokyo phải mất thêm ít nhất là khoảng 700 triệu USD mỗi năm cho chi phí vận tải. Còn nếu như xảy ra xung đột tại Biển Đông, sẽ làm cho tất cả các tuyến hàng hải đi qua đây bị “đóng băng”, Nhật Bản phải bỏ ra thêm 50% chi phí vận tải để đi qua các tuyến đường thay thế khác.

Cùng với lợi ích về kinh tế và thương mại, lợi ích an ninh của Nhật Bản cũng chịu tác động không nhỏ từ khu vực Biển Đông. Tình hình an ninh Biển Đông ổn định thì Nhật Bản có lợi. Ngược lại, nếu xung đột, chiến tranh xảy ra ở đây, sẽ uy hiếp mạnh mẽ đến môi trường an ninh, ổn định và sự phát triển kinh tế của Nhật Bản. Do đó, giới lãnh đạo Nhật Bản đã nhiều lần nhấn mạnh quyết tâm đảm bảo trật tự hòa bình, không để xảy ra xung đột, luôn ủng hộ quan điểm giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, dựa trên các quy định của luật pháp quốc tế. Thế nhưng, với tham vọng “làm chủ”, “độc chiếm” Biển Đông và cậy thế nước lớn, Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, dùng sức mạnh để “cưỡng chế”, hăm dọa, xâm phạm lợi ích không chỉ của các nước trong khu vực, mà còn của cả các nước ngoài khu vực, trong đó có Nhật Bản, nhất là các lợi ích về tự do hàng hải, hàng không. Biển Đông không còn là “chuyện riêng” giữa ASEAN với Trung Quốc nữa, mà đã trở thành vấn đề an ninh của toàn khu vực. Hiện nay, Nhật Bản đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) trên biển Hoa Đông, song luôn nhận được sự ủng hộ của đồng minh số 1 là Mỹ. Để bảo vệ Nhật Bản, Mỹ đã nhiều lần cam kết sẽ áp dụng Điều 5 của Hiệp ước đồng minh giữa hai nước, trong đó có vấn đề Senkaku. Ngược lại, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của mình tại Biển Đông, Nhật Bản cũng có nghĩa vụ phối hợp với Mỹ tại vùng biển này để thể hiện mối quan hệ đồng minh gắn bó mật thiết và “đền đáp” lại cam kết trên của Mỹ, khi mà Mỹ đang triển khai ý đồ chiến lược tại Biển Đông. Việc ký kết RAA với Philippines là sự lựa chọn của Nhật Bản, vừa không chỉ thể hiện sự coi trọng quốc gia thân thiện “cùng chí hướng”, mà còn giúp Nhật Bản can dự sâu hơn vào Biển Đông, tạo thêm “động lực” cho Philippines chống lại Trung Quốc, qua đó góp phần bảo vệ các lợi ích của Tokyo cũng như của Mỹ tại vùng biển có giá trị vào loại bậc nhất thế giới này.

Với Phillippines, là quốc gia nằm ở trung tâm địa chiến lược của châu Á – Thái Bình Dương, có vị trí rất quan trọng ở Biển Đông, đã và đang đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng, nhất là về chủ quyền an ninh quốc gia bởi các hành động xâm lấn ngày càng trắng trợn hơn của Trung Quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, các vụ “chạm trán” giữa Trung Quốc và Philiippines liên tục xảy ra. Nguyên nhân chủ yếu vẫn xoay quanh hoạt động tranh chấp chủ quyền giữa hai nước. Bên nào cũng có lý do và đều cho mình “là đúng” và ra sức bảo vệ cái đúng đó. Đáng chú ý là, được sự “hỗ trợ” từ Mỹ và một số nước đồng minh của Mỹ, Philippines ngày càng “tự tin” hơn và đã có sự điều chỉnh chính sách trong quan hệ với Trung Quốc, từ “hòa hoãn, hợp tác” sang “gia tăng đấu tranh, giảm bớt hợp tác”. Trong khi đó, phía Trung Quốc coi những việc làm của Manila trên Biển Đông, nhất là tại khu vực bãi Cỏ Mây là “phản bội thỏa thuận đã đạt được giữa hai nước” và “mang tính khiêu khích”, đồng thời đáp trả kiên quyết và “cứng rắn” hơn. Các vụ việc theo kiểu “ăn miếng, trả miếng” lẫn nhau, nhất là hoạt động phun vòi rồng với công suất lớn, chiếu tia laser “cấp độ quân sự”, đâm va của tàu Hải cảnh Trung Quốc đối với tàu tiếp tế của Philippines liên tục xảy ra. Điển hình nhất là ngày 17/6/2024, tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu tiếp tế của Philippines đã va chạm ở bãi Cỏ Mây. Vụ va chạm tuy không gây chết người hay làm hư hại nặng phương tiện của hai bên, nhưng theo tố cáo của Tổng Tư lệnh Quân đội Philippines Romeo Brawner thì: “Họ (Trung Quốc) đã nhảy lên tàu của chúng tôi một cách bất hợp pháp, cướp thiết bị của chúng tôi, hành động như cướp biển”. Đứng trước mối uy hiếp từ Trung Quốc, ngoài việc dựa vào đồng minh hiệp ước là Mỹ, Philiipines đã tập hợp thêm lực lượng, bằng cách mở rộng quan hệ với các nước trong và ngoài khu vực dưới các dạng thức khác nhau để tăng thêm “sức mạnh cứng” trong đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông. Việc ký RAA, nâng cấp quan hệ quốc phòng với Nhật Bản chính là sự lựa chọn đó.

Ngoài ra, do cả Nhật Bản và Philippines đều là “đồng minh thân cận” của Mỹ ở khu vực. Do đó, việc hai nước nâng cấp hợp tác quân sự không chỉ có yếu tố Mỹ đứng sau thúc đẩy, mà còn cho thấy hai nước có ý đồ cùng nhất trí “bắt tay” chặt hơn với Mỹ để bao vây, kiềm chế Trung Quốc.

Thứ hai, quan hệ quốc phòng Nhật – Phi được tăng cường là nhằm đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông

Dựa trên những lợi ích tương đồng, nên từ đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản và Philippines đã thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác chiến lược trên nhiều mặt, đặc biệt là về quốc phòng để đối phó với Trung Quốc. Cụ thể:

Dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo ở Philippines, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác hợp tác toàn diện. Sau khi Benigno Aquino III lên cầm quyền, mối quan hệ này phát triển nhanh chóng hơn, trong đó quốc phòng – quân sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng, thậm chí là động lực chính. Tháng 9/2011, hai bên tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương thành đối tác chiến lược. Theo đó, hai nước tăng cường phối hợp giữa các cơ quan an ninh hàng hải với nhau, ví như Nhật Bản cử tàu tuần tra trên biển tới Philippines, hỗ trợ đào tạo và xây dựng năng lực cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines; tăng cường trao đổi giữa các cơ quan quốc phòng, như tổ chức các chuyến thăm lẫn nhau giữa Tham mưu trưởng Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản và Tư lệnh Hải quân Philippines, thúc đẩy tàu của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản đến thăm các cảng của Philippines.

Tháng 6/2015, hai nước ký Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược, trong đó làm rõ hơn các hoạt động mà Philippines và Nhật Bản có thể cùng thực hiện trong tương lai trên Biển Đông, như tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đối thoại an ninh, xây dựng năng lực, diễn tập chung, hợp tác an ninh trên biển, chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển…Trong thời gian này, Philippines đã ký hợp đồng mua 10 tàu tuần tra của Nhật Bản cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines. Sau khi Rodrigo Duterte nhậm chức Tổng thống Philippines, mặc dù quan hệ quân sự của Phi với Mỹ có thời điểm rơi vào căng thẳng, nhưng Manila vẫn duy trì và tăng cường hợp tác quốc phòng – quân sự với Nhật Bản.

Trước các diễn biến an ninh trên Biển Đông ngày càng phức tạp, hợp tác quốc phòng Nhật – Phi được thúc đẩy mạnh hơn, các cơ chế hợp tác liên quan dần được hoàn thiện. Đối thoại an ninh 2+2 giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, Hội nghị Thứ trưởng Quốc phòng, Đối thoại an ninh hàng hải và Đối thoại quốc phòng thường niên… là các cơ chế quan trọng của hợp tác song phương đã hoạt động. Ngoài ra, Nhật Bản và Philippines còn sử dụng các cơ chế đa phương như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng và Hội nghị quốc phòng Tokyo để tiến hành trao đổi song phương. Nội dung và hình thức hợp tác quốc phòng cũng dần được đa dạng hóa. Nhật Bản cung cấp cho Philippines các trang thiết bị quân sự như tàu tuần tra, máy bay huấn luyện, máy bay vận tải. Hai bên còn mở rộng không gian hợp tác trong việc chia sẻ thông tin tình báo, huấn luyện chung và tàu thăm viếng lẫn nhau. Bên cạnh đó, hai nước còn triển khai nhiều cuộc tập trận chung. Tháng 5/2015, Nhật – Phi đã tiến hành diễn tập chung về tránh va chạm ngoài ý muốn trên biển. Tháng 6 cùng năm, hai nước lại tổ chức cuộc tập trận quân sự chung, Nhật Bản điều máy bay tuần tra P-3C đến cảng Puerto Princesa thuộc đảo Palawan, phía Tây Philippines. Tháng 4/2016, Nhật Bản lần đầu tiên làm quan sát viên, tham gia cuộc tập trận chung Balikatan giữa Mỹ và Philippines. Những năm gần đây, tần suất các cuộc tập trận song phương và đa phương giữa Nhật Bản và Philippines ngày càng tăng.

Từ đầu năm 2023 đến nay, tình hình an ninh trên Biển Đông diễn ra rất phức tạp. Trung Quốc liên tục gây hấn với Philippines ở bãi Cỏ Mây. Để “răn đe” và “kiềm chế” Trung Quốc, Nhật Bản và Philippines triển khai mạnh hơn các hoạt động quân sự – quốc phòng. Tháng 11/2023, Mỹ và Philippines phối hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc tiến hành cuộc tập trận Kamandag-7 (Hợp tác chiến binh trên biển) tại các “cứ điểm chiến lược” của Philippines, như quần đảo Batanes gần Đài Loan và đảo Palawan gần Biển Đông. Tháng 4/2024, Nhật Bản và Philippines phối hợp với Mỹ và Australia tổ chức cuộc diễn tập “hoạt động hợp tác hàng hải” đầu tiên tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Tháng 6/2024, các tàu của Mỹ, Nhật Bản, Philippines và Canada thực hiện các hoạt động hợp tác hàng hải ở Biển Đông.

Những hoạt động trên cho thấy, quan hệ quốc phòng giữa hai nước ngày càng thắt chặt và mục tiêu hướng đến là ngăn chặn các hành động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Thế nhưng đây chỉ là những hoạt động ở mức độ thông thường, một số cuộc tập trận quân sự dù đã diễn ra, song chưa đủ độ để có thể “răn đe” và ứng phó kịp thời với sự biến động nhanh chóng, khó lường của môi trường an ninh khu vực.

Ngày 8/7/2024, RAA đã được ký kết, nhưng hai nước không công bố thông tin chi tiết về nội dung. Điều đó cho thấy thỏa thuận này có một số yếu tố nhạy cảm nhất định, đặt trong bối cảnh tình hình Biển Đông và biển Hoa Đông có nhiều diễn biến phức tạp, mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động phi pháp của Trung Quốc gây ra. Tuy nhiên, từ một số thông tin mà Bộ Ngoại giao Nhật Bản tiết lộ cho thấy: Mặc dù không phải là hiệp định phòng thủ quân sự chung vì không có các điều khoản ràng buộc quân đội hai nước phải hỗ trợ lẫn nhau hay cùng tham chiến khi xảy ra chiến tranh, nhưng cái mà RAA tạo ra được bước “đột phá”, mang tính nhảy vọt về cả “lượng” và “chất” trong quan hệ quốc phòng hai nước lại thể hiện ở chỗ, RAA sẽ thiết lập các điều kiện “thuận lợi đặc biệt” cho lực lượng quân đội mỗi nước khi đến hoạt động tại địa phận của nhau và thúc đẩy các hoạt động hợp tác, như các hoạt động tập trận quân sự chung; cứu trợ thiên tai chung; tăng tính tương tác giữa quân đội hai nước; tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản tham gia cuộc tập trận Balikatan tới đây với tư cách là thành viên chính thức. Trong tương lai, khi RAA có hiệu lực thực thi, thì bằng các hoạt động thực tế, thỏa thuận này sẽ giúp Nhật Bản mở rộng quan hệ với các nước, lan tỏa sức mạnh quân sự của nước này ra toàn khu vực, đưa Nhật Bản từ một “quốc gia bình thường” trở thành “nước lớn thế giới”; góp phần bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch trên Biển Đông; hỗ trợ, tạo thêm “điểm tựa” mới cho Philippines trong đối phó với Trung Quốc; tạo “chỗ đứng” mới cho Nhật Bản trong việc phối hợp với Mỹ về giải quyết vấn đề Eo biển Đài Loan. Còn đối với Philippines, lợi ích mà RAA đưa đến cho nước này là có thêm cơ hội nâng cao sức mạnh quân sự. Bởi Nhật Bản không chỉ gia tăng các hoạt động tập trận quân sự, tuần tra chung, mà còn cung cấp nhiều hơn nữa cho Philippines các loại vũ khí, trang bị như tàu tuần tra, máy bay chiến đấu, hệ thống ra đa giám sát biển… Mặt khác, cả Nhật Bản và Philippines đều là đồng minh của Mỹ, nên sự ra đời của RAA không chỉ là bước “đột phá” trong quan hệ song phương Nhật – Phi, mà còn là bước tiến mới nhanh chóng của liên minh Mỹ – Nhật – Phi vừa hình thành hồi tháng 4/2024 – một “tiểu liên minh” nằm ở vị trí trung tâm trong hệ thống liên minh ở khu vực dưới sự dẫn dắt của Mỹ để bao vây, kiềm chế Trung Quốc một cách kín kẽ hơn.

Một số tác động đối với an ninh khu vực có khả năng sẽ xuất hiện trong tương lai

Về mặt tích cực: Trước hết là khi RAA ra đời, sẽ giúp giảm đi sự mất cân bằng lực lượng tại khu vực, qua đó góp phần duy trì ổn định an ninh Biển Đông. Bởi lẽ, trong cạnh tranh địa chính trị ở Biển Đông hiện nay, có hai đối tượng chính chi phối độ “nóng, lạnh” về an ninh ở đây là Trung Quốc và Mỹ cùng đồng minh của Mỹ. Nhưng do Mỹ và đồng minh Nhật Bản ở cách xa nhau về địa lý nên gặp nhiều hạn chế trong sự bố trí, hiện diện về lực lượng ở Biển Đông. RAA ra đời sẽ tạo cơ sở cho Nhật Bản tăng thêm sự hiện diện của Lực lượng phòng vệ nước này ngay trong khu vực để phối hợp triển khai các hoạt động hợp tác quân sự song phương Nhật – Phi và đa phương cùng Mỹ và các nước khác tại Philippines. Thỏa thuận này cũng có thể mở ra nhiều hoạt động hợp tác, như phát triển hệ thống phòng thủ, hậu cần, huấn luyện, tập trận quân sự… qua đó nâng cao năng lực của Philippines và khả năng phối hợp tác chiến giữa ba nước Mỹ – Nhật – Phi khi có tình huống xấu xảy ra. Hiện nay, Nhật Bản là một trong những đối tác chủ chốt cung cấp trang thiết bị bảo đảm an ninh trên biển cho Philippines. Năm 2020, Nhật Bản đã ký hợp đồng cung cấp 4 hệ thống ra đa phòng không cho Philippines, trong đó hai hệ thống đã bàn giao năm 2023 và 2024. RAA sẽ tạo cơ sở và động lực thúc đẩy sự tương tác, tin cậy lẫn nhau và hợp tác mạnh mẽ hơn giữa Quân đội hai nước, mở ra nhiều cơ hội để tiếp tục hiện đại hoá năng lực quốc phòng của Philippines. Sự lớn mạnh hơn của Quân đội Philippines, cùng với đó là sự có mặt nhiều hơn của Mỹ, Nhật ở khu vực chắc chắn sẽ buộc Trung Quốc phải suy nghĩ và điều chỉnh hoạt động của mình ở Biển Đông, vùng biển này vì thế có thể “lặng sóng” hơn.

Tiếp theo là tăng tính “tiết chế’ và “răn đe” nhiều hơn đối với các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Xét về tổng thể, RAA giữa Nhật Bản và Philippines là một mắt lưới nhỏ trong mạng lưới hợp tác quân sự đa phương của Mỹ với các đồng minh và giữa các đồng minh của Mỹ với nhau tại khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trước khi Nhật Bản và Philippines ký RAA, Philippines đã ký Hiệp định Lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ năm 1998, Hiệp định Tình trạng Lực lượng thăm viếng (SOVFA) với Australia vào năm 2017, nâng cấp Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ (EDCA) năm 2023. Còn Nhật Bản đã ký RAA với Australia và Anh vào năm 2022 và 2023. Tất cả những văn kiện có tính pháp lý đó sẽ cho phép các nước nói trên gia tăng phối hợp các hoạt động trên Biển Đông để không chỉ bảo vệ lợi ích của các nước, mà còn có thể “tiết chế” bớt phần nào các hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.

Về mặt tiêu cực: Một là, RAA giữa Nhật Bản và Philippines ra đời có thể đẩy tình hình an ninh khu vực nói chung, Biển Đông nói riêng diễn biến phức tạp hơn. Bởi vì, việc Nhật Bản gia tăng sự hiện diện ở Philippines nói riêng, Biển Đông nói chung đặt trong bối cảnh Mỹ đã triển khai nhiều hệ thống vũ khí, khí tài ở khu vực, nên sẽ tác động đến các toan tính, chính sách của các chủ thể khác trong khu vực; Philippines sẽ có sự “tự tin” và mạnh dạn hơn khi triển khai các hành động mạo hiểm ở Biển Đông. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ coi đây là những nỗ lực mới của Mỹ và đồng minh để bao vây, kiểm soát nước này, do đó Bắc Kinh sẽ phản ứng bằng cách tiếp tục hành xử “cứng rắn” hơn ở Biển Đông đối với lực lượng đồn trú của Philippines tại bãi Cỏ Mây, xung quanh khu vực bãi cạn Scaroborough và bãi cạn Sabin – nơi mà gần đây Trung Quốc có ý định xây dựng đảo nhân tạo. Điều này sẽ làm cho an ninh khu vực vốn đã phức tạp lại càng diễn biến phức tạp, khó lường hơn.

Hai là, có thể đẩy khu vực vào cuộc chạy đua vũ trang mới. Kể từ đầu năm 2024 đến nay, Biển Đông đã chứng kiến nhiều diễn biến mới phức tạp và căng thẳng, chủ yếu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Philippines và các đồng minh của họ. Đứng trước nguy cơ bất ổn địa – chính trị có thể xảy ra, các nước ASEAN buộc phải, hoặc là chọn tham gia các liên minh “mini” ở khu vực, hoặc là xây dựng mối “đoàn kết” với nhau theo “sách lược mới”, hoặc là tìm kiếm sự đảm bảo an ninh cho mình bằng cách nhanh chóng nâng cao năng lực quân sự – quốc phòng. Trong các lựa chọn đó, việc mở rộng, nâng cấp vũ khí, trang thiết bị quân sự để nâng cao năng lực quân sự – quốc phòng cho đất nước có lẽ là sách lược quan trọng nhất sẽ được các quốc gia sử dụng để “tự cứu lấy mình trước khi thiên hạ cứu”. Cuộc chạy đua vũ trang lấy tăng cường sức mạnh quân sự của lực lượng hải quân và không quân làm nội dung chính, cùng với đó là các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương có qui mô ngày càng lớn hơn, sẽ trở thành xu thế lan rộng ở Đông Nam Á trong thời gian tới.

Ba là, củng cố xu hướng quốc tế hóa vấn đề Biển Đông và hình thành các phe phái an ninh đối chọi nhau ở khu vực. Việc Philippines và Nhật Bản đạt được RAA là một phần trong kế hoạch của Philippines nhằm xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác với các quốc gia “cùng chung chí hướng”. Ngoài một số hiệp định, thỏa thuận đã ký với Mỹ, Nhật Bản, Australia, Anh…gần đây Philippines đang đẩy nhanh việc mở rộng quan hệ an ninh với nhiều nước hơn để tăng cường sự hỗ trợ của quốc tế về vấn đề Biển Đông. Sau khi ký RAA với Nhật Bản, Tổng thống Philippines Marcos Jr. cho biết: “Việc ký một thỏa thuận như vậy với Nhật Bản là chưa đủ. Chúng ta cần ký những thỏa thuận kiểu này với nhiều quốc gia hơn”. Philippines đang nghiên cứu để đạt được RAA hoặc các thỏa thuận tương tự với Pháp, Canada và New Zealand. Những biện pháp này sẽ khiến cho xu thế quốc tế hóa vấn đề Biển Đông tăng lên, có thể hình thành một “vòng tròn” nhỏ kích động đối đầu phe phái ở khu vực nói chung, Biển Đông nói riêng. Có thể nói, RAA giữa Nhật Bản và Philippines ra đời rất nhanh, từ khi khởi động cho đến khi ký kết, thời gian chỉ diễn ra trong vòng một năm, nhanh hơn nhiều so với các RAA khác mà Nhật Bản ký với các nước khác. Đây là bước “đột phá” nhanh “đáng kinh ngạc” trong hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Philippines muốn mở rộng hợp tác an ninh với Nhật Bản để tăng cường năng lực nhằm bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông trước áp lực ngày càng lớn từ phía Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản cần mở rộng hợp tác an ninh ra khu vực Biển Đông, rộng hơn là khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để triển khai các chiến lược an ninh của mình. Do hai nước cùng là đồng minh của Mỹ, nên việc tăng cường hợp tác quân sự giữa họ cũng sẽ phục vụ cho các hoạt động hợp tác an ninh của cả ba nước trong khu vực. Việc RAA Nhật – Phi ra đời có thể tạo ra sự cân bằng lực lượng mới, ở mức độ nào đó góp phần làm “dịu hơn” tình hình an ninh Biển Đông. Tuy nhiên, đây là một thỏa thuận về quân sự, ra đời vào lúc Biển Đông đang “nổi sóng”, đối đầu nhiều hơn đối thoại. Nó cũng là cơ sở pháp lý cho phép nhiều loại vũ khí, trang thiết bị quân sự được “đổ dồn” về Biển Đông. Điều đó cho thấy, Thỏa thuận trên có thể mang đến một số mặt tích cực nào đó cho an ninh khu vực, nhưng mặt tiêu cực thì chắc chắn sẽ nhiều hơn và lớn hơn. Một số chuyên gia Biển Đông của Trung Quốc đã cảnh báo chính phủ nước này rằng, Nhật Bản có thể gây thêm nhiều “rắc rối” hơn ở Biển Đông sau khi ký RAA với Philippines, do đó Trung Quốc phải suy nghĩ, nhận thức rõ ràng về “mối đe dọa” này, đồng thời xem xét lại tổng thể các chính sách ngắn hạn và dài hạn để có biện pháp đối phó mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Biển Đông vì thế nhiều khả năng lại “chao đảo” trước nhiều “sóng lớn”.

]]>
Nhìn lại nội dung vấn đề Biển Đông tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45 https://biendong.net/2024/10/26/nhin-lai-noi-dung-van-de-bien-dong-tai-hoi-nghi-thuong-dinh-asean-lan-thu-44-va-45/ Sat, 26 Oct 2024 03:32:22 +0000 https://biendong.net/?p=140556 Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45 diễn ra trong bối cảnh tỉnh hình Biển Đông căng thẳng sau những vụ việc va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc với tàu công vụ Philippines và vụ việc tàu chấp pháp Trung Quốc trấn áp tàu cá Việt Nam làm bị thương nhiều ngư dân ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, do vậy vấn đề Biển Đông trở thành tâm điểm thảo luận tại các cuộc họp trong khuôn khổ Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45, kể tại Hội nghị cấp cao Đông Á.

Tại cuộc họp giữa các lãnh đạo các nước ASEAN ngày 9/10, nguyên thủ các nước ASEAN lặp lại kêu gọi lâu nay về việc tự kiềm chế và tôn trọng luật pháp quốc tế tại khu vực Biển Đông. Nội dung này được đưa vào Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 44 và 45.

Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, bảo đảm an ninh, an toàn hàng không và hàng hải trên Biển Đông, kêu gọi tất cả các bên kiềm chế, hạn chế bất đồng, khai thác điểm đồng, thúc đẩy hợp tác, đối thoại chân thành, tin cậy, hiệu quả, dựa trên luật lệ, thực hiện đầy đủ, hiệu quả DOC, tạo môi trường thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc COC thực chất, hiệu quả, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982.

Ngay trước Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 44 và 45 nhà lãnh đạo Singapore, Thủ tướng Lawrence Wong đã cảnh báo về “rủi ro thực sự của một vụ tai nạn leo thang thành xung đột” nếu tranh chấp trên biển không được giải quyết. Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Singapore Lawrence Wong cho rằng sự đoàn kết của khối đang phải đối mặt với những thách thức kép cả ở bên trong và bên ngoài. Các vấn đề nội bộ (bao gồm Biển Đông và Myanmar) chưa được giải quyết, trong khi bên ngoài phải đối diện với tình hình chính trị trong khu vực và thế giới ngày càng rắc rối và hỗn loạn.

Phát biểu tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc hôm 10/10/2024, trước các nhà lãnh đạo của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. thẳng than bày tỏ những quan điểm mạnh mẽ trên vấn đề Biển Đông. Ông Marcos Jr. nhấn mạnh: “Cần phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ đàm phán về bộ quy tắc ứng xử giữa ASEAN và Trung Quốc. Thật đáng tiếc khi tình hình chung ở Biển Đông vẫn căng thẳng và không thay đổi. Chúng tôi tiếp tục phải hứng chịu sự quấy rối và đe dọa”. Nhà lãnh đạo Philippines Marcos cũng bày tỏ sự thất vọng khi các bên liên quan không thể thống nhất ngay cả về những điều đơn giản, khi nhấn mạnh rằng “định nghĩa về một khái niệm hết sức cơ bản như ‘tự kiềm chế’ vẫn chưa nhận được sự đồng thuận”.

Tại hội nghị, Thủ tướng Lý Cường tránh đề cập tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với nhiều thành viên ASEAN ở Biển Đông, mà chỉ tập trung vào vế kinh tế và thương mại. Theo ông Lý Cường, ASEAN và Trung Quốc cần đẩy mạnh “hội nhập trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, khuynh hướng bảo hộ gia tăng và tình hình thế giới bất ổn”. Đáp trả lại ý kiến của Thủ tướng Trung Quốc Lý Cương, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. lập luận rằng “quý vị không thể tách biệt hợp tác kinh tế với an ninh chính trị”, hay “ASEAN và Trung Quốc không thể giả vờ rằng tất cả đều tốt đẹp trên bình diện kinh tế trong khi căng thẳng tiếp diễn trên bình diện chính trị”.

Trước phát biểu mạnh mẽ của Tổng thống Marcos về vấn đề Biển Đông tại hội nghị và phát biểu của các nhà lãnh đạo khác, Thủ tướng Trung Quốc buộc phải đưa ra ý kiến về vấn đề Biển Đông với việc khăng khăng cho rằng Bắc Kinh phải bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đáp lời lãnh đạo Philippines, Thủ tướng Trung Quốc cho rằng “Biển Đông là một mái nhà chung” và Bắc Kinh có trách nhiệm “bảo vệ chủ quyền” của Trung Quốc ở vùng biển này. Ông Lý Cường cũng đổ lỗi cho sự can thiệp của “các thế lực bên ngoài” tìm cách “đưa xung đột khối và xung đột địa chính trị vào châu Á”, gây ra tình hình căng thẳng ở Biển Đông.

Cũng liên quan đến Biển Đông, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc, ngày 10/10, Thủ tướng Malaysia Seri Anwar Ibrahim, nước điều phối các hội nghị mở rộng của ASEAN, đọc tuyên bố của ASEAN kêu gọi các bên sớm ký kết Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC), mà Trung Quốc và ASEAN bắt đầu khởi sự đàm phán từ thập niên 1990. Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Ấn Độ hôm 10/10 cũng ra một thông cáo chung với lời kêu gọi tương tự. 

Trong khi đó tại Bắc Kinh, khi được hỏi về những phát biểu của nhà lãnh đạo Philippines về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh (Mao Ning) nói rằng tình hình Biển Đông ‘‘nhìn chung là ổn định’’; khẳng định Trung Quốc ‘‘duy trì cam kết giải quyết các bất đồng trên biển với các nước liên quan thông qua đối thoại và tham vấn trên cơ sở tôn trọng các sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế’’, và tiếp tục hợp tác với ASEAN để thúc đẩy đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC). Mặt khác,. Bà Mao Ninh nhấn mạnh: “Trung Quốc kiên quyết phản đối mọi hành vi xâm phạm và khiêu khích, và kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quyền và lợi ích hàng hải củ khẳng định.

Tại Hội nghị ASEAN- Hàn Quôc, hai bên đã nâng cấp quan hệ lên thành “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”, một vị thế mới mà nhà lãnh đạo Hàn Quốc nhấn mạnh rằng sẽ giúp cả hai bên “cùng nhau tạo ra một tương lai mới”. Giới chuyên gia nhận định việc nâng cấp quan hệ ASEAN-Hàn Quốc có thể giúp Seoul nâng caovai trò trong các vấn đề an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông bởi gần đây Hàn Quốc đã lên tiến chỉ trích các hành động hung hăng của Trung Quốc nhắm vào Philippines ở Biển Đông. Trong khi đó, tân Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba cũng cam kết thúc đẩy mối quan hệ Nhật Bản-ASEAN bằng cách cung cấp tàu tuần tra và đào tạo về thực thi pháp luật trên biển, tăng cường an ninh kinh tế thông qua hỗ trợ tài chính và các hỗ trợ khác, đồng thời củng cố an ninh mạng. Ông Ishiba nhấn mạnh: “Nhật Bản chia sẻ các nguyên tắc như tự do, dân chủ và pháp quyền, và muốn cùng ASEAN xây dựng và bảo vệ tương lai”.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, thay mặt tổng thống Joe Biden, tham dự cuộc họp với các lãnh đạo ASEAN trong ngày 11/10 đã có những phát biểu mạnh mẽ về vấn đề Biển Đông. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh : ‘‘Chúng tôi rất quan ngại về các hoạt động ngày càng nguy hiểm và phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông, gây thương tích cho người dân, gây tổn hại cho tàu thuyền của các nước ASEAN, trái ngược với các cam kết giải quyết tranh chấp một cách hòa bình”. Ngoại trưởng Mỹ khẳng định Washington ‘‘sẽ tiếp tục bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không ở vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Trong một thông điệp cứng rắn khác gửi đến Trung Quốc, Ngoại trưởng Mỹ nói rằng “điều quan trọng là phải duy trì cam kết chung của chúng ta nhằm bảo vệ sự ổn định trên Eo biển Đài Loan”.

Biển Đông cũng là một chủ đề trọng tâm của Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) diễn ra hôm 11/10. Ngoài 10 nước ASEAN, còn có đại diện của 8 quốc gia khác, như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand.  Tại hội nghị này, Tổng thống Philippines Marcos Jr. tiếp tục tố cáo cách hành xử bạo lực của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Manila, như tấn công bằng vòi rồng, đâm vào tàu của Philippines…. Nguyên thủ Philippines nhấn mạnh là các hành động bạo lực của Trung Quốc xảy ra tại những địa điểm ‘‘có khi chỉ cách bờ biển Philippines 17 hải lý, và cách Hoa lục 600 hải lý’’. Theo lãnh đạo Philippines, hành xử nói trên của Trung Quốc đòi hỏi các bên liên quan ‘‘nỗ lực phối hợp và nghiêm túc để thực sự giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông’’.

Đáng chú ý là theo tiết lộ của người đã tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), một dự thảo Tuyên bố, với sự đồng thuận của ASEAN, đã được trình bày tại Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) vào tối 11/10 tại Lào với sự tham dự của 18 quốc gia gồm các nước thành viên ASEAN và các đối tác Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ, Nga và Mỹ. Tuy nhiên, cuối cùng Tuyên bố không được thông qua do sự phản đối của Trung Quốc và Nga liên quan tới cách đề cập tới Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 trong dự thảo Tuyên bố, trong khi các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ đều cho biết họ có thể ủng hộ dự thảo này

Dự thảo tuyên bố EAS 2024 có thêm một điều khoản bổ sung so với Tuyên bố đã được thông qua năm 2023 và điều này đã không được Trung Quốc và Nga chấp thuận. Tuyên bố lưu ý một Nghị quyết của Liên hợp quốc năm 2023 nêu rõ UNCLOS “đặt ra khuôn khổ pháp lý, trong đó mọi hoạt động trên đại dương và biển phải được thực hiện”. Một điều khoản bổ sung khác không được chấp thuận nhấn mạnh rằng môi trường quốc tế, bao gồm “ở Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên, Myanmar, Ukraine và Trung Đông … đặt ra những thách thức cho khu vực”.

Phát biểu trong một cuộc họp báo ở Viêng Chăn hôm 11/10, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đổ lỗi: Tuyên bố cuối cùng đã không được thông qua do “những nỗ lực không ngừng của Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand nhằm biến nó thành một tuyên bố hoàn toàn mang tính chính trị”. Giới chuyên gia cho rằng cách đề cập tới UNCLOS trọng dự thảo Tuyên bố EAS 2024 là hoàn toàn phù hợp với tôn chỉ của Công ước, song việc Trung Quốc cùng phản đối điều này là dấu hiệu cho thấy rõ đã có sự phối hợp giữa Bâc Kinh và Matxcova trên hồ sơ Biển Đông, đây là điều các nước ven Biển Đông cần hết sức cảnh giác.

Đánh giá về Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần này, giới quan sát chỉ ra 2 điểm nhấn liên quan tới vấn đề Biển Đông:

Thứ nhất, so với các hội nghị của ASEAN từ đầu năm đến nay và kể cả các hội nghị trong năm 2023, vấn đề Biển Đông tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 44 và 45 được lãnh đạo nhiều nước lên tiếng mạnh mẽ hơn. Các nước ASEAN còn đồng thuận đưa nội dung UNCLOS vào dự thảo Tuyên bố của EAS 2024, song bị Trung Quốc, Nga khước từ. Lý do bởi trong suốt năm qua, căng thẳng Biển Đông không ngừng leo thang, các vụ va chạm ở Biển Đông đã khiến nhiều nhiều tàu công vụ của Philippines hay tàu cá Việt Nam hư hỏng nghiêm trọng, thậm chí làm bị thương các thuỷ thủ và ngư dân. Nếu cộng đồng quốc tế không có tiếng nói mạnh mẽ, tình hình đáng báo động ở Biển Đông có nguy cơ dẫn tới những xung đột lớn hơn. Trong bối cảnh đó, ASEAN cần phát huy vai trò lớn hơn trong các vấn đề an ninh khu vực.

Thứ hai, lần đầu tiên lãnh đạo của Philippines đấu tranh trực diện với Thủ tướng Trung Quốc tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc. Thông thường tại các cuộc họp giữa ASEAN và Trung Quốc trước đây, lãnh đạo các nước ASEAN thường kiềm chế tránh chỉ trích, chất vấn trực diện lãnh đạo Trung Quốc do không muốn làm “mất mặt” Bắc Kinh (tại các hội nghị trước, vấn đề Biển Đông chủ yếu được nêu đậm nét ở cuộc họp nội bộ của 10 nước ASEAN). Phát biểu mạnh mẽ, trực diện của Tổng thống Philippines Marcos về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị ASEAN-Trung Quốc lần này phần nào khiến Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường bất ngờ và rơi vào thế bị động phải chống đỡ. Ngoài ra, ông Marcos còn chỉ trích mạnh mẽ những hành vi hung hăng ở Biển Đông ngay tại Hội nghị cấp cao Đông nơi còn có mặt của lãnh đạo nhiều nước ngoài khu vực như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand.

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 44 và 45 đã khép lại năm Lào làm Chủ tịch luân phiên của ASEAN, Malaysia – nước liên quan trực tiếp tới tranh chấp ở Biển Đông và đã tứng bị tàu hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc quấy nhiễu các hoạt động dầu khí ở Biển Đông – tiếp nhận vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm 2025. Nhiều chuyên gia hy vọng với vai trò Chủ tịch ASEAN, Malaysia sẽ làm được nhiều hơn trong vấn đề Biển Đông trong năm 2025.

Những diễn biến xung quanh việc đưa nội dung về UNCLOS vào Tuyên bố của EAS 2024 cho thấy sự phối hợp giữa Trung Quốc và Nga trong thời gian tới sẽ là một cản trở lớn cho những nội dung liên quan đến Biển Đông trong khuôn khổ hội nghị ASEAN. Mặt khác, cùng thời điểm ASEAN tiến hành các Hội nghị cấp cao, Mỹ và Philippines dẫn đầu tiến hành một cuộc tập trận hải quân chung giữa 6 quốc gia ngoài khơi phía Bắc Philippines. Cuộc tập trận “Sama Sama” (“Đoàn kết” theo tiếng Tagalog) khai mạc hôm 7/10 và dự kiến kéo dài trong hai tuần. Hải quân Mỹ nhấn mạnh đây là các cuộc tập trận thường niên được “thiết kế để tăng cường khả năng tương tác và củng cố mối quan hệ an ninh giữa các đối tác trong khu vực”. “Sama Sama” năm 2024, có sự tham gia của gần 1.000 quân nhân từ Australia, Canada, Pháp, Nhật Bản, Mỹ và Philippines, được tiến hành tại vùng biển ngoài khơi Luzon, đảo chính phía Bắc của Philippines đối diện Đài Loan. Anh đã cử quan sát viên đến tham dự cuộc tập trận. Tóm lại, mặc dù vấn đề Biển Đông đã trở thành một vấn đề trọng tâm tại Hội nghị cấp cao ASEAN, các nước lên tiếng mạnh mẽ hơn, song về cơ bản chỉ là những lời đổ lỗi cáo buộc lẫn nhau, Hội nghị không đưa ra được những biện pháp cụ thể để giảm căng thẳng ở Biển Đông, thậm chí còn hé lộ đối đầu mới trên vấn đề UNCLOS giữa một bên là Trung Quốc, Nga và bên kia là Mỹ, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ. Ông Ian Storey, nghiên cứu viên cấp cao tại Viện Yusof Isa ở Singapore, nhận định rằng Hội nghị ASEAN đã không làm được gì nhiều trong việc giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông. Tại Viêng Chăn, các bên không tổ chức đàm phán về vấn đề Biển Đông. Chỉ khi Trung Quốc thay đổi hành vi gây hấn với Philippines thì tình hình căng thẳng mới có thể giảm bớt, song chưa có dấu hiệu về sự thay đổi của Bắc Kinh. Tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông kéo dài nhiều năm và khó có thể giải quyết trong ngắn hạn, ngoại giao vẫn là phương thức cần thiết để giải quyết vấn đề.

]]>
30 năm UNCLOS có hiệu lực: Vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc https://biendong.net/2024/10/24/30-nam-unclos-co-hieu-luc-vai-tro-cua-co-che-giai-quyet-tranh-chap-bat-buoc/ Thu, 24 Oct 2024 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=138830

Ngày 16/11/1994, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực, xác lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của UNCLOS đối với sự phát triển của luật biển quốc tế là việc xây dựng được cơ chế toàn diện và bắt buộc để giải quyết các tranh chấp có thể nảy sinh liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước.

Thực tiễn 30 năm qua cho thấy cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đã từng bước đi vào đời sống, trực tiếp giải quyết nhiều tranh chấp liên quan đến nhiều vấn đề luật biển giữa các quốc gia tại tất cả các khu vực trên thế giới, đóng góp thiết thực vào việc duy trì trật tự pháp lý trên biển dựa trên luật lệ.

Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS

Theo quy định của UNCLOS, khi phát sinh tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước, các bên có trách nhiệm trao đổi quan điểm nhằm tìm biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp. Nếu không đạt được thỏa thuận, một bên có quyền đưa tranh chấp ra một trong bốn cơ quan gồm Tòa án Luật biển quốc tế (ITLOS), Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII, hoặc Tòa Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII. Bên còn lại có nghĩa vụ tham gia tiến trình giải quyết tranh chấp và chịu sự ràng buộc của quyết định của cơ quan thụ lý, kể cả trong trường hợp không tham gia.

Tính bắt buộc của cơ chế giải quyết tranh tranh chấp của UNCLOS là cơ sở để Philippines đưa tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII và Tòa ra Phán quyết ngày 12/7/2016 bác bỏ các yêu sách biển của Trung Quốc tại Biển Đông dù Trung Quốc không tham gia tiến trình xét xử.

Các điều ước quốc tế về biển trước năm 1982 hoặc là không có điều khoản về giải quyết tranh chấp, hoặc là quy định về giải quyết tranh chấp chỉ mang tính tùy nghi. Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS được xem là một bước tiến của luật biển quốc tế và luật quốc tế về giải quyết tranh chấp.

Thực tiễn 30 năm sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS

Trải qua 30 năm từ khi UNCLOS có hiệu lực, cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đã xử lý hàng loạt vụ việc liên quan đến nhiều vấn đề pháp lý trên biển

Tại ITLOS, đến nay đã có 33 tranh chấp được Tòa thụ lý, bao gồm nhiều vụ về thả tàu nhanh, nhiều vụ liên quan đến các biện pháp khẩn nhằm bảo vệ quyền của các bên và ngăn chặn thiệt hại môi trường biển. ITLOS cũng đã giải quyết nhiều tranh chấp về phân định biển như vụ phân định Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Myanmar – tranh chấp đầu tiên về phân định thềm lục địa mở rộng được giải quyết bởi một cơ quan tư pháp quốc tế, vụ phân định biên biển Đại Tây Dương giữa Mauritius và Maldives – tranh chấp đầu tiên về phân định biển giữa hai quốc gia quần đảo được giải quyết bởi một cơ quan tư pháp quốc tế, hay vụ phân định biển giữa giữa Ghana và Côte d’Ivoire – tranh chấp đầu tiên về phân định biển được giải quyết thông qua Viện đặc biệt của ITLOS.

Nếu các quốc gia thành viên UNCLOS không tuyên bố lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII được xem là cơ chế mặc định. Đến nay, đã có 15 tranh chấp được Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII giải quyết, trong đó có các tranh chấp phân định biển như vụ phân định giữa Barbados với Trinidad và Tobago, vụ phân định biển giữa Guyana và Suriname và vụ phân định biển ở Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Ấn Độ. Tòa Trọng tài phụ lục VII cũng giải quyết nhiều tranh chấp về bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển như vụ cá ngừ vây xanh phương Nam giữa New Zealand, Australia và Nhật Bản, vụ nhà máy MOX giữa Ireland và Anh, vụ lấn biển giữa Malaysia và Singapore, vụ khu vực bảo tồn biển Chagos giữa Mauritius và Anh; hay các tranh chấp liên quan đến hoạt động của lực lượng chấp pháp và tàu thuyền, như vụ tàu ARA Libertad giữa Argentina và Ghana, vụ tàu Arctic Sunrise giữa Hà Lan và Nga, vụ tàu Enrica Lexie giữa Italy và Ấn Độ, tranh chấp liên quan đến việc giam giữ tàu và lính hải quân Ukraine giữa Ukraine và Nga. Đặc biệt Tòa đã giải quyết nhiều tranh chấp liên quan đến quyền được hưởng vùng biển, quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển như tranh chấp liên quan đến quyền của các quốc gia ven biển ở Biển Đen, Biển Azov, và Kênh Kerch giữa Ukraine và Nga, và vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong số các tranh chấp đã được đệ trình lên cơ chế bắt buộc của UNCLOS, nhiều tranh chấp liên quan đến các nước châu Á.  ITLOS đã giải quyết 3 tranh chấp liên quan đến Nhật Bản, 2 tranh chấp liên quan đến Úc, 1 tranh chấp liên quan đến Ấn Độ, Malaysia, Singapore và Myanmar. Các Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS thụ lý 2 tranh chấp liên quan đến Ấn Độ, 1 tranh chấp liên quan đến Trung Quốc và 1 tranh chấp liên quan đến Philippines. Đối với các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, ITLOS đã xử lý 5 tranh chấp về việc giải thích và thực hiện Công ước liên quan đến Nga, 3 tranh chấp liên quan đến Pháp, 1 tranh chấp liên quan đến Anh. Các Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS cũng đã thụ lý 2 tranh chấp liên quan đến Nga, 2 tranh chấp liên quan đến Anh, 1 tranh chấp liên quan đến Trung Quốc.

Về nguyên tắc, các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước sẽ được giải quyết thông qua cơ chế bắt buộc của UNCLOS. Một số trường hợp ngoại lệ có thể không được giải quyết bằng thủ tục tư pháp bắt buộc, nhưng vẫn thuộc phạm vi giải quyết của thủ tục hòa giải bắt buộc. Điều này được chứng minh trên thực tế qua vụ hòa giải biển Timor Sea giữa Timor-Leste và Australia.

Hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS

Hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đối với việc thúc đẩy trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế còn được thể hiện thông qua việc thực thi quyết định của các bên tranh chấp có liên quan. Theo đó, quyết định của các cơ quan giải quyết tranh chấp UNCLOS về cơ bản đều được các bên tôn trọng. Pháp đã ba lần tham gia thủ tục bắt buộc tại ITLOS và trong cả ba trường, Pháp đều tuân thủ quyết định của ITLOS. Nhật Bản có hai tranh chấp do Nga đệ trình lên ITLOS, trong cả hai vụ, Nhật Bản đều thả tàu theo phán quyết của Tòa.  Đối với vụ nhà máy MOX, hai tuần sau khi ITLOS ban hành biện pháp tạm thời, Ireland và Anh đều đệ trình lên Tòa báo cáo thực thi.  Đối với vụ lấn biển, trên cơ sở quyết định của ITLOS, Malaysia và Singapore đã thành lập nhóm chuyên gia độc lập để xem xét tác động của hoạt động lấn biển của Singapore; khuyến nghị của nhóm chuyên gia đã được hai bên chấp thuận. 

Kể cả trong các tranh chấp nhạy cảm như tranh chấp về phân định biển, phán quyết của các cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS cũng đều được các bên tuân thủ. Trong vụ phân định biển giữa Barbados với Trinidad và Tobago, sau khi Tòa Trọng tài Phụ lục VII ra Phán quyết phân định biển, hai bên đã ra tuyên bố hoan nghênh và khẳng định sẵn sàng thực hiện Phán quyết. Tương tự, trong vụ phân định biển giữa Guyana và Surinam, sau khi Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII ra Phán quyết, hai bên đều khẳng định chấp nhận Phán quyết của Tòa.  Đối với tranh chấp liên quan đến phân định biên giới biển ở Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Myanmar và giữa Bangladesh và Ấn Độ, tất cả các bên đều tuyên bố sẽ thực thi Phán quyết. Trong vụ Ghana v. Côte d’Ivoire, ngay sau khi Viện đặc biệt của ITLOS ra Phán quyết phân định biển, hai nước đã ban hành Thông cáo chung, nhấn mạnh Phán quyết của Tòa đã củng cố quan hệ giữa hai nước, khẳng định hai nước chấp nhận và tuân thủ quyết định.

Ngay cả trong tranh chấp về phân định biển được đưa ra trước Ủy ban Hòa giải vốn không có tính ràng buộc, các bên liên quan cũng cam kết tuân thủ khuyến nghị của Ủy ban. Ngày 26/9/2016, Australia tuyên bố chấp nhận quyết định về thẩm quyền của Ủy ban Hòa giải.  Năm 2018, một hiệp ước về phân định biên giới biển đã được các bên ký kết theo khuyến nghị của Ủy ban Hòa giải.

Ý nghĩa của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS trong trường hợp một bên không tuân thủ

Thực tế cho thấy cũng có một số ít trường hợp nước lớn đã không tuân thủ phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp của UNCLOS, nổi bật là vụ kiện trọng tài Biển Đông, trong đó Trung Quốc nhiều lần tuyên bố Phán quyết là vô hiệu, không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, kể cả trong trường hợp này, quyết định của các cơ quan tài phán của UNCLOS cũng không phải là vô nghĩa.

Về pháp lý, quyết định có giá trị ràng buộc của các cơ quan tài phán UNCLOS đã làm rõ nhiều câu hỏi liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Chẳng hạn, Phán quyết đã lần đầu tiên giải thích và áp dụng Điều 121(3) liên quan đến quyền được hưởng vùng biển của đảo đá, kết luận không có cấu trúc nổi nào ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng. Phán quyết đã khẳng định tính bất hợp pháp của yêu sách “quyền lịch sử” trong “đường đứt đoạn”. Phán quyết cũng làm rõ quốc gia lục địa không có quyền yêu sách đường cơ sở thẳng đối với quần đảo ngoài khơi.

Với Phán quyết của Toà Trọng tài Phụ lục VII, bối cảnh pháp lý của tranh chấp Biển Đông đã trở nên rõ ràng hơn. Các kết luận của Tòa đã làm sáng tỏ giới hạn của vùng biển mà Trung Quốc có thể hưởng ở phía Nam Biển Đông, thu hẹp rất đáng kể phạm vi vùng biển tranh chấp tại quần đảo Trường Sa; hệ quả là tất cả các hoạt động hoặc tuyên bố của Trung Quốc ở những khu vực không chồng lấn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển khác tại Biển Đông đều không có giá trị pháp lý.

Trên thực tế, chính quyền Philippines cho biết Phán quyết đã tạo đòn bẩy, tăng vị thế pháp lý của Philippines, củng cố lập trường pháp lý của Philippines trong tranh chấp Biển Đông. Phán quyết được nhiều nước trong và ngoài khu vực viện dẫn để thể hiện lập trường liên quan đến những diễn biến phức tạp ở Biển Đông. Phán quyết cũng là cơ sở để nhiều nước lưu hành Công hàm tại Liên hợp quốc thể hiện lập trường về vấn đề Biển Đông, bác bỏ các yêu sách biển không phù hợp với UNCLOS, thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Kết luận

Thực tiễn sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS trong 30 năm qua kể từ khi UNCLOS có hiệu lực đã xác nhận tính chất bắt buộc và hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS. Bằng việc phê chuẩn và trở thành thành viên UNCLOS, các quốc gia đã tự nguyện chấp thuận từ trước các cơ chế giải quyết mang tính bắt buộc của Công ước, do đó, việc một bên đơn phương đưa tranh chấp ra giải quyết tại một cơ quan tài phán đã được Công ước trù định là hoàn toàn phù hợp với “nguyên tắc chấp thuận” trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các nước.

Các thủ tục bắt buộc của UNCLOS là khá toàn diện vì bao gồm hầu như đầy đủ các cơ quan tài phán mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn sử dụng để giải quyết tranh chấp. Trong một số ít trường hợp, Phán quyết của cơ chế giải quyết tranh chấp không được các bên tuân thủ đầy đủ, nhưng vẫn mang lại giải pháp có tính công bằng, khách quan, ràng buộc, chung thẩm, góp phần củng cố lập luận, hỗ trợ các biện pháp đấu tranh ngoại giao, chính trị và tuyên truyền, tạo thêm thế và lực cho các quốc gia vừa và nhỏ trong việc tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững, công bằng trong tranh chấp với các nước lớn có ưu thế vượt trội về chính trị, quân sự, kinh tế và tầm ảnh hưởng. Với chế định giải quyết tranh chấp bắt buộc được quy định tại Phần XV, UNCLOS đã tạo ra một “sân chơi” bình đẳng qua đó tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều bị ràng buộc bởi cùng một khung pháp lý và đều có thể sử dụng cơ chế của UNCLOS để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo Công ước. Kể cả  châu Á, khu vực thường được xem là “vùng trũng” về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp tư pháp, cũng đã có nhiều tranh chấp được đệ trình lên các thủ tục bắt buộc của UNCLOS. Điều này cho thấy, khi mà việc giải quyết tranh chấp biển được quy định cụ thể thông qua cơ chế bắt buộc của UNCLOS, ngày càng có nhiều quốc gia sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS để giải quyết tranh chấp, qua đó ngăn ngừa xung đột, duy trì hòa bình, ổn định, phát triển và trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế.

Song An

]]>