Đàm luận – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 31 Oct 2025 03:52:36 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Ý kiến của chuyên gia về nhu cầu có một hiệp ước phòng thủ Mỹ-Nhật-Australia-Philippines để đối phó với TQ https://biendong.net/2025/10/22/y-kien-cua-chuyen-gia-ve-nhu-cau-co-mot-hiep-uoc-phong-thu-my-nhat-australia-philippines-de-doi-pho-voi-tq/ Wed, 22 Oct 2025 03:43:19 +0000 https://biendong.net/?p=159024 Bên lề Đối thoại Shangri-La 2025, ngày 31/5, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Australia Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nakatani Gen, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro, Jr. và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có cuộc họp 4 bên.

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Nakatani cho biết Trung Quốc đang tăng cường hoạt động tại các khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông; bày tỏ hy vọng các bên sẽ thảo luận toàn diện về hợp tác quốc phòng để ứng phó. Sau cuộc họp, 4 bộ trưởng đã ra tuyên bố chung tiếp tục bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng về các hành động gây mất ổn định của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép””.

Theo tuyên bố chung, các bộ trưởng quốc phòng cũng nhắc lại mối quan ngại nghiêm trọng của mình về hành vi nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông đối với Philippines và các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; kêu gọi hòa bình và ổn định trong khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò trung tâm của ASEAN và cấu trúc khu vực do ASEAN dẫn đầu trong việc đảm bảo an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các nhà lãnh đạo quốc phòng cũng tái khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác và đồng bộ hóa hoạt động của 4 nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm cả ở biển Hoa Đông và Biển Đông, để đảm bảo răn đe, hòa bình và an ninh tốt hơn; đồng thời nhất trí bàn việc lập kế hoạch cho các hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát chung nhằm cải thiện khả năng tương tác và phối hợp về nhận biế tình hình trên biển và trên không hiệu quả ở biển Hoa Đông, Biển Đông và những vùng biển xung quanh.

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản và Australia nhất trí hỗ trợ Philippines tăng cường năng lực quốc phòng như một phần của nỗ lực nhằm thiết lập khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Theo đó, các nước nhất trí xuất khẩu trang thiết bị sang Philippines để giúp nước này nâng cao khả năng quân sự. Các bên cũng có kế hoạch tiến hành các hoạt động theo dõi, giám sát, cũng như hợp tác trong thu thập tin tức.

Giới chuyên gia nhận định cuộc họp lần thứ hai giữa Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gửi “thông điệp rất quan trọng tới khu vực và thế giới”, rằng “bốn nền dân chủ cam kết tuân thủ các trật tự toàn cầu dựa trên luật lệ”. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cho rằng, việc tăng cường mối quan hệ bốn bên không chỉ nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Philippines, mà còn duy trì “các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó hướng dẫn trật tự toàn cầu theo đúng cách mà các quốc gia nên chung sống với nhau”.

Trước đó, bên lề Đối thoại Shangri-La năm 2023, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã lần đầu tiên tiến hành cuộc họp 4 bên chia sẻ tầm nhìn về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đồng thời nhất trí cùng hợp tác an ninh để đảm bảo tầm nhìn tiếp tục phát triển. Vào tháng 4/2024, bốn nước đã tổ chức cuộc tập trận hải quân chung chính thức đầu tiên ở Biển Đông. Sau đó, ngày 02/5/2024, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gặp nhau lần thứ 2 tại Hawaii, cam kết tăng cường hợp tác trong bối cảnh liên tiếp xuất hiện lo ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm các cuộc tập trận hải quân chung ở Biển Đông, nhằm tăng cường hòa bình và ổn định toàn cầu. Cũng trong ngày này, quân đội Mỹ và Philippines đã bắn hàng chục quả tên lửa về phía Biển Đông trong khuôn khổ cuộc tập trận chung thường niên Balikatan 2024. Các tên lửa được phóng tại một địa điểm gần ngôi làng ven biển Campong Ulay thuộc đảo Palawan nhìn ra Biển Đông. Chúng được phóng đi từ 2 Hệ thống tên lửa pháo binh cơ động cao (HIMARS) M142 có khả năng bắn trúng mục tiêu cách xa tới 80 km.

Trước quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ này, Cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Ely Ratner đã kêu gọi lập một hiệp ước phòng thủ tập thể Thái Bình Dương chính thức giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines, xem đó là một động thái kịp thời và cần thiết để ngăn chặn tham vọng quân sự của Trung Quốc. Ông Ratner nhận định Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines là “4 quốc gia có quan điểm nhất quán nhất về thách thức từ Trung Quốc” và hiện là “4 quốc gia có sự liên kết chặt chẽ nhất để đối phó Trung Quốc, đặc biệt là trong việc tăng cường hợp tác quân sự tập thể để ứng phó”. Tại cuộc họp lần thứ 3 giữa Bộ trưởng quốc phòng bốn nước Mỹ, Nhật Bản, Australia, Philippines hôm 31/5/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng đã nhận định: “Không có nhóm nước nào có sự liên kết chặt chẽ hơn nhóm này, không có nước nào có vị thế chiến lược hơn để thể hiện sự răn đe, mang lại hòa bình cho khu vực”.

Ông Ratner cho rằng Bắc Kinh đang tiến gần đến khả năng định hình lại châu Á bằng vũ lực và đã đến lúc Mỹ phải xây dựng một hiệp ước phòng thủ tập thể ở châu Á: trước mối đe dọa ngày càng gia tăng từ Trung Quốc, “hiệp ước này vừa khả thi, vừa cần thiết cho các bên”. Theo ông Ratner, Bắc Kinh có ý định thực hiện tầm nhìn của Chủ tịch Tập Cận Bình về “công cuộc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” – một kế hoạch bao gồm thống nhất với Đài Loan, thống trị Biển Đông và làm suy yếu các liên minh do Mỹ lãnh đạo để định hình lại trật tự khu vực. Ông nhấn mạnh rằng: “Nếu kế hoạch thành công, kết quả sẽ là một trật tự do Trung Quốc lãnh đạo, đẩy Mỹ vào tình cảnh kém thịnh vượng hơn, kém an ninh hơn và không thể tiếp cận hoặc chi phối các thị trường và công nghệ quan trọng của thế giới”.

Theo ông Ratner, hiệp ước mà ông đề xuất sẽ khác với khái niệm “NATO châu Á” do Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đưa ra hồi năm 2024 – khái niệm này không nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà lãnh đạo trong khu vực. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cũng đã bày tỏ sự hoài nghi về một liên minh phòng thủ khu vực với lập luận rằng “sự phân tách và khác biệt về lợi ích quốc gia” giữa các quốc gia Đông Nam Á khiến việc xây dựng một liên minh quân sự thống nhất trở nên khó khăn. Thay vào đó, ông thúc giục ASEAN thừa nhận rằng Trung Quốc đang “bành trướng ở Biển Đông”.

Ông Ratner đã chỉ ra 3 yếu tố mà ông tin rằng hiện nay có thể tạo nên một hiệp ước phòng thủ tập thể quy mô nhỏ hơn. Theo đó, các yếu tố này là sự đoàn kết hơn bao giờ hết giữa các đồng minh của Mỹ, sự hợp tác chưa từng có giữa các đồng minh này, và nhu cầu ngày càng tăng đối với các đồng minh của Mỹ trong việc đóng góp cho hòa bình và an ninh khu vực. Đồng thời, ông Ratner cũng cho biết đã “cố tình” tránh sử dụng thuật ngữ “NATO châu Á”.

Theo chuyên gia Don McLain Gill, nhà phân tích địa chính trị và giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học De La Salle ở Manila, dù ông Ratner không ám chỉ rằng Australia có kế hoạch nhằm kiềm chế Trung Quốc, nhưng Australia cũng đã thừa nhận rằng một Trung Quốc quyết đoán, bành trướng và hiếu chiến hơn chắc chắn sẽ đe dọa an ninh quốc gia của nước này. Đây đó có thể là lý do khiến 3 nước còn lại truyền đạt ý tưởng hiệp ước phòng thủ này đến Australia.

Tuy nhiên, các chuyên gia an ninh cảnh báo rằng ngay cả phiên bản thực dụng hơn của ông Ratner về một hiệp ước phòng thủ khu vực cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức và rào cản lớn. Ông Don McLain Gill -– cho rằng, đề xuất này có vẻ khả thi hơn khái niệm “NATO châu Á”, nhưng nó phải “thực tế hơn” trước những thách thức mà các bên phải đối mặt. Trong đó, có lẽ Australia và Philippines còn phải cân nhắc thêm những khía cạnh khác. Ông Don McLain Gill trích dẫn những bình luận trước đó của Thủ tướng Australia Anthony Albanese, trong đó nhấn mạnh nhu cầu của Canberra trong việc cân bằng giữa các mối quan ngại về an ninh và các mối quan hệ kinh tế với Bắc Kinh. Đồng thời,  ông Don McLain Gill cũng cho rằng bốn quốc gia sẽ cần phải xác định rõ phạm vi của bất kỳ thỏa thuận an ninh nào, đặc biệt là nếu nó liên quan đến Đài Loan.

Một số ý kiến khác cảnh báo rằng bất kỳ động thái nào nhằm chính thức hóa một khối phòng thủ như vậy sẽ phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ từ Trung Quốc và gây ra sự khó chịu trong số các quốc gia Đông Nam Á khác. Nhà phân tích chính trị Julio Amador ở Manila nhận định rằng đề xuất này sẽ không thành công vì khu vực này không thích các hiệp ước phòng thủ tập thể, coi đây là hành động buộc các quốc gia phải liên kết với một số cường quốc nhất định.

Đồng thời, ông Amador cũng cho rằng dù Philippines có thể hưởng lợi từ việc hợp tác chặt chẽ, sâu rộng hơn với Mỹ, đặc biệt trong việc hiện đại hóa quân đội, song Philippines nên cân nhắc kỹ lưỡng việc dấn sâu hơn vào các vấn đề an ninh khác bên cạnh Biển Đông hay không. Nếu một hiệp ước như vậy được thực hiện, Bắc Kinh có thể sẽ đáp trả và gây mất ổn định khu vực. Philippines cần đánh giá cẩn thận các chi phí và lợi ích của việc một hiệp ước quốc phòng như vậy xuất hiện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tóm lại, việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines tiến hành 3 cuộc họp trong 2 năm qua, cũng như việc bốn nước tăng cường hợp tác quân sự, triển khai tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông là những yếu tố cần thiết để hình thành một cơ chế hợp tác an ninh giữa bốn nước song là chưa đủ để tiến tới một Hiệp ước phòng thủ chung. Tuy nhiên, qua những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ở Manila, Tokyo và Singapore thì có thể khẳng định là chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa Washington, Tokyo, Canberra và Manila để duy trì, hòa bình ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

]]>
Tăng cường hợp tác quốc phòng Indonesia – Nhật Bản và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-indonesia-nhat-ban-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 03:16:06 +0000 https://biendong.net/?p=158985 Indonesia là một trong hai nước Đông Nam Á được Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru chọn để thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tháng 10/2024.

Trong cuộc hội đàm tại Jakarta tháng 1/2025 Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto chia sẻ quan điểm về điều cần thiết phải củng cố trật tự quốc tế tự do và rộng mở dựa trên luật lệ. Bên cạnh nhiều dự án hợp tác được công bố, điểm nhấn quan trọng trong chuyến thăm là thoả thuận về việc tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng giữa hai nước, theo đó hai bên nhất trí khôi phục các cuộc họp giữa Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao hai nước (2+2); nhất trí thiết lập các cuộc tham vấn quốc phòng cấp làm việc về an ninh hàng hải, bao gồm cả hợp tác kỹ thuật về trang bị quốc phòng; Nhật Bản cung cấp cho Indonesia tàu tuần tra cao tốc thông qua Hỗ trợ An ninh Chính thức.

Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru (trái) và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto sau cuộc gặp tại dinh tổng thống ở Bogor, Tây Java (Indonesia) ngày 11.1. Ảnh: AFP

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani đã có chuyến thăm Jakarta vào đầu tháng 1, trao đổi với người đồng cấp Indonesia về việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước. Sau những thoả thuận ở cấp cao nhất, các công việc liên quan đang được tích cực triển khai.

Theo Đại sứ Indonesia tại Tokyo – ông Heri Akhmadi, các cuộc đàm phán giữa Tokyo và Jakarta về tiềm năng phát triển và sản xuất chung các khinh hạm tiên tiến cho Hải quân Indonesia vẫn đang được tiến hành ở cấp cao nhất, khi hai nước tìm cách tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng. Chủ đề này nằm trong chương trình nghị sự khi Tham mưu trưởng Yoshihide Yoshida – người đứng đầu Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) – tới thăm Indonesia vào cuối tháng 4/2025.

Đại sứ Heri Akhmadi cho biết những nỗ lực mua sắm và sản xuất chung một biến thể của tàu khu trục lớp Mogami của Nhật Bản – loại tàu mà Tokyo cũng hy vọng sẽ xuất khẩu sang Australia – vẫn là ưu tiên hàng đầu trong chính quyền của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto. Ông Prabowo Subianto, người dự kiến sẽ thăm Nhật Bản vào cuối năm nay, lần đầu tiên bày tỏ sự quan tâm đến việc hợp tác với Nhật Bản về việc đóng tàu chiến khi ông đến nước này với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng hồi năm 2021 để ký một Biên bản ghi nhớ về hợp tác chuyển giao công nghệ và thiết bị quốc phòng.

Dự án đề xuất của Tokyo, được cho là có giá trị 300 tỷ Yên, sẽ bao gồm việc đóng 4 khinh hạm tại Nhật Bản, và một số lượng tương đương sẽ được đóng tại Indonesia bởi Công ty PT PAL Indonesia để đáp ứng các yêu cầu của hải quân. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã bị đình trệ do đại dịch COVID-19 và những hạn chế về tài chính liên quan đến dự án đầy tham vọng của Indonesia về việc di dời thủ đô.

Trong khi Tokyo được cho là đã đề nghị cho vay, vấn đề tài trợ vẫn chưa được giải quyết vì quy định của Indonesia yêu cầu Chính phủ phải cung cấp trước 10 – 20% số tiền. Tuy nhiên, Đại sứ Akhmadi chỉ ra động lực ngày càng tăng trong các cuộc đàm phán về dự án đóng tàu khu trục nói trên dưới thời Tổng thống Prabowo, đặc biệt là khi Nhật Bản nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu quốc phòng nghiêm ngặt trong những năm gần đây.

Đại sứ Akhmadi cho biết một khía cạnh quan trọng khác của các cuộc đàm phán xoay quanh việc chuyển giao công nghệ quốc phòng. Jakarta không chỉ quan tâm đến việc cùng phát triển và sản xuất các tàu, mà còn muốn tiếp cận các công nghệ Nhật Bản được sử dụng trong một số hệ thống trên các tàu lớp Mogami, vốn là một trong những hệ thống tiên tiến nhất của JSDF. Ông Akhmadi nói thêm: “Do mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Nhật Bản, chúng tôi (Indonesia) cũng muốn hợp tác chặt chẽ hơn về các hệ thống như vậy thông qua chuyển giao công nghệ”. Lấy một ví dụ về sự hợp tác như vậy, ông Akhmadi đã trích dẫn thỏa thuận của Ấn Độ với Tokyo vào năm 2024 để cùng phát triển một hệ thống radar cho tàu chiến của Hải quân Ấn Độ. Hệ thống radar tiên tiến này đang được lắp đặt trên một số khinh hạm lớp Mogami.

Theo giới chuyên gia quân sự, hợp tác này sẽ hỗ trợ nỗ lực của Nhật Bản nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng trong nước thông qua xuất khẩu toàn cầu. Đồng thời, nó cũng sẽ phù hợp với các chính sách và mục tiêu dài hạn của Indonesia là xây dựng ngành quốc phòng của riêng mình, khi Jakarta tìm cách giảm sự phụ thuộc vào thiết bị quân sự do nước ngoài sản xuất. Tuy nhiên, quyết định của Indonesia cũng sẽ phụ thuộc vào khả năng tương tác và các yếu tố về lực lượng lao động, đặc biệt là khi nước này đã đặt hàng một số tài sản hải quân khác từ các đối tác châu Âu.

Trên thực tế, mối quan hệ an ninh ngày càng phát triển giữa hai nước đã vượt xa phạm vi hợp tác tiềm năng về việc sản xuất chung các khinh hạm. Giới quan sát nhận định rằng việc Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba lựa chọn Malaysia và Indonesia để thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị Thủ tướng và tiếp đó là chuyến thăm tới Việt Nam, Philippines hồi đầu tháng 5/2025 thể hiện rõ sự coi trọng khu vực Đông Nam Á trong chính sách của Thủ tướng Ishiba. Trong khi các quốc gia này từ lâu theo đuổi chính sách đối ngoại dựa trên nguyên tắc không liên kết, các chuyến thăm của Thủ tướng Ishiba báo hiệu cam kết liên tục của Tokyo đối với khu vực có tầm quan trọng chiến lược khi Nhật Bản tìm cách phòng ngừa nguy cơ biến động kinh tế toàn cầu ngày càng gia tăng và tạo ra môi trường an ninh thuận lợi hơn.

Mặc dù Indonesia không phải là một trong những quốc gia có yêu sách trong các tranh chấp lâu dài ở Biển Đông, nhưng nước này đã có những vụ va chạm với các tàu Trung Quốc ở vùng biển giàu tài nguyên xung quanh quần đảo Natuna. Tokyo đã giúp Jakarta cải thiện năng lực tuần tra hàng hải thông qua huấn luyện chung và cung cấp tàu, bao gồm 2 tàu tuần tra cao tốc mới sẽ được chuyển giao cho Hải quân Indonesia theo chương trình Hỗ trợ an ninh nước ngoài (OSA) mới của Nhật Bản.

Hai nước cũng đã tăng cường các cuộc tập trận quân sự chung, với việc Đại sứ Akhmadi lưu ý rằng cuộc tập trận đa quốc gia “Siêu lá chắn Garuda” (Super Garuda Shield) năm nay sẽ chứng kiến Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) có sự đóng góp lớn nhất từ trước đến nay, với hơn 250 quân nhân và một tàu chiến. Tokyo và Jakarta cũng đã nhất trí tổ chức vòng đàm phán “2+2” lần thứ 3 giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng vào cuối năm nay. Cùng với đó, tăng cường hợp tác kinh tế với Đông Nam Á vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Nhật Bản trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng với Trung Quốc. Tháng 1/2025, ông Ishiba đã nhấn mạnh vai trò trung tâm của Indonesia trong nỗ lực này.

Đại sứ Akhmadi nhấn mạnh: “An ninh năng lượng và kinh tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ hai nước”. Jakarta đã đồng ý tiếp tục cung cấp khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) cho Nhật Bản trong khi Tokyo sẽ tiếp tục hỗ trợ phát triển dự án khí đốt Abadi của Indonesia, dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất vào khoảng năm 2029 hoặc 2030 với sự hỗ trợ của Inpex, công ty thăm dò dầu khí lớn nhất Nhật Bản. Jakarta và Tokyo cũng đang trong giai đoạn đàm phán cuối cùng về một thỏa thuận khoáng sản quan trọng, dự kiến sẽ bao gồm việc thăm dò, phát triển, sản xuất, tinh chế và chế biến tại Indonesia các khoáng sản thiết yếu như niken, nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất pin và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Trao đổi với tờ “Japan Times”, Đại sứ Akhmadi cho biết: “Với việc Trung Quốc kiểm soát phần lớn hoạt động chế biến lithium trên toàn thế giới, chúng tôi (Indonesia) muốn thấy nhiều khoản đầu tư hơn từ Nhật Bản vào việc sản xuất các khoáng sản quan trọng tại Indonesia”. Ông nói thêm rằng thỏa thuận này dự kiến sẽ được ký kết “trong tương lai gần” và sẽ toàn diện hơn thỏa thuận được ký kết giữa Nhật Bản và Canada vào năm 2023.

Theo Đại sứ Akhmadi, mối quan hệ ngày càng phát triển giữa Jakarta và Tokyo phản ánh chính sách không liên kết của nước này khi muốn mở rộng quan hệ đối tác và tránh đứng về bên nào trong cuộc cạnh tranh ngày càng leo thang giữa Trung Quốc và Mỹ. Ông lưu ý: “Indonesia đặc biệt muốn hợp tác chặt chẽ hơn với các cường quốc tầm trung như Nhật Bản và Ấn Độ vì hợp tác với các siêu cường có nghĩa là có thể có ít đòn bẩy hơn trong các cuộc đàm phán, nhưng với các cường quốc tầm trung thì sẽ có sự bình đẳng hơn và chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa để duy trì sự ổn định trong khu vực và tăng cường sự thịnh vượng của mình”.

Giới phân tích cho rằng việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nói chung và việc mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước nói riêng không chỉ có lợi cho 2 nước mà còn có những tác động tích cực tới vấn đề an ninh khu vực, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược giữa các siêu cường ở Biển Đông và khu vực ngày càng gay gắt, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Indonesia và Nhật Bản là những nước tầm trung có vai trò quan trọng đối với Biển Đông và an ninh khu vực. Cả hai nước này đều có môi quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia. Việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nhất là trong lĩnh vực an ninh hàng hải, công nghệ quốc phòng tạo yếu tố quan trọng để đối trọng với một Trung Quốc ngày càng hung hăng ở Biển Đông.

Giới phân tích nhận định Nhật Bản đang ngày càng mở rộng quan hệ an ninh trong khu vực (bao gồm Biển Đông), với sự khuyến khích từ đồng minh lâu năm là Mỹ. Tokyo chính là “cánh tay nối dài” của Washington ở Biển Đông khi Nhật Bản tăng cường hợp tác an ninh hàng hải và quốc phòng với Indonesia hay các nước ven Biển Đông khác. Thủ tướng Nhật Bản Ishiba nhấn mạnh rằng: “Nhật Bản và Mỹ hợp tác vì hòa bình và ổn định của khu vực này sẽ đóng góp đáng kể vào hòa bình và ổn định của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và toàn thế giới”.

Thứ hai, mặc dù không liên quan trực tiếp tới các tranh chấp Biển Đông, song Indonesia đã nhiều lần phải đối đầu với hoạt động hung hăng của các tàu Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo Natuna. Trong khi đó, Nhật Bản thường xuyên lên án mạnh mẽ các hành vi cưỡng ép, bắt nạt láng giềng của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời luôn ý thức rằng an ninh ở Biển Đông gắn liền với an ninh của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, hỗ trợ các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với Trung Quốc chính là để ngăn chặn các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông. Tháng 12/2024, Ngoại trưởng Nhật Bản Takeshi Iwaya đã bày tỏ “quan ngại nghiêm trọng” với người đồng cấp Trung Quốc về các hoạt động quân sự gia tăng của Bắc Kinh, đồng thời nhấn mạnh mối lo ngại về “tình hình tại Biển Hoa Đông, bao gồm cả khu vực xung quanh quần đảo Senkaku,” chuỗi đảo không có người ở do Nhật Bản kiểm soát nhưng bị Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền. Giới chuyên gia đều nhận định động thái tăng cường hợp tác quốc phòng giữa Jakarta và Tokyo cũng là nhằm chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Thứ ba, cả Indonesia và Nhật Bản đều đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong các hoạt động trên biển. Jakarta đã nhiều lần lên tiếng công khai phản đối yêu sách “đường chín đoạn” của Bắc Kinh ở Biển Đông, kể cả gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Năm 2021, Tokyo cũng đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông; ủng hộ phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông, kêu gọi các bên tuân thủ và thực thi phán quyết. Việc mở rộng hợp tác an ninh, quốc phòng giữa Indonesia và Nhật Bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông. Indonesia là nước có vai trò quan trọng trong ASEAN, Nhật Bản là đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN và có quan hệ chặt chẽ với tất cả các nước thành viên ASEAN. Việc tăng cường hợp tác giữa Jakarta và Tokyo sẽ tác động tích cực đối với việc củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong ASEAN trên vấn đề Biển Đông và các vấn đề an ninh khu vực, đồng thời góp phần thúc đẩy tiến trình ngoại giao, pháp lý ở Biển Đông mà các nước ASEAN đã nhất trí.

]]>
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và bài học vận dụng cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc https://biendong.net/2025/09/02/cach-mang-thang-tam-nam-1945-va-bai-hoc-van-dung-cho-su-nghiep-bao-ve-chu-quyen-bien-dao-cua-to-quoc/ Tue, 02 Sep 2025 01:56:00 +0000 https://biendong.net/?p=158976 Cách đây 80 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã cùng đứng lên, tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên thắng lợi “long trời, lở đất” trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên một nhà nước của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm tháng đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm của cuộc cách mạng này vẫn vẹn nguyên giá trị, nhất là đối với công cuộc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay, cũng như trong tương lai.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 có ý nghĩa lịch sử to lớn, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khi toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, đã đồng lòng đứng lên dưới ngọn cờ của Việt Minh để giành lại quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Đối với thế giới, thắng lợi của cuộc cách mạng trên là một đòn giáng mạnh vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ – Latinh. Nó đã chứng tỏ rằng, trong điều kiện quốc tế thuận lợi, các dân tộc bị áp bức hoàn toàn có khả năng tự giải phóng mình.

Cùng với ý nghĩa lịch sử lớn lao trên, Cách mạng tháng Tám năm 1945 còn để lại cho Đảng ta, dân tộc ta nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trước hết, đó là bài học về nắm bắt thời cơ. Một trong những yếu tố then chốt dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi, đánh giá và nhận định đúng tình hình, chớp lấy thời cơ “ngàn năm có một”, khi phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh, tạo ra khoảng trống quyền lực trên đất nước ta, để huy động toàn dân cướp lấy chính quyền. Sự nhạy bén, quyết đoán trong việc phát động tổng khởi nghĩa đúng thời điểm đã giúp cách mạng giành thắng lợi nhanh chóng, triệt để và ít đổ máu. Đây là bài học kinh nghiệm quý báu đối với Đảng ta trong việc theo dõi, nắm bắt, phân tích, đánh giá tình hình một cách chính xác, khoa học để đưa ra quyết sách kịp thời, không bỏ lỡ thời cơ chiến lược trong quá trình lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, bài học về sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không thể tách rời vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ra đời từ năm 1930, ngay từ đầu Đảng đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, biết tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc. Dù còn non trẻ, Đảng đã tận dụng thời cơ, phát động quần chúng, nhận được sự ủng hộ rộng rãi và giành chính quyền về cho nhân dân. Bài học này không chỉ có tác dụng riêng đối với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, mà còn trở thành một vấn đề có tính quy luật, đó là sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, bài học về xây dựng lực lượng cách mạng. Có đường lối đúng là yếu tố đầu tiên trong phương thức lãnh đạo cách mạng của Đảng. Nhưng để biến đường lối đó thành hiện thực thì phải có lực lượng thực hiện. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công vang dội là nhờ có sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang ngay từ khi Đảng ra đời. Theo đó, Đảng đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ trung kiên, có năng lực hoạt động cách mạng, đồng thời phát triển các tổ chức quần chúng rộng khắp, tạo nên một lực lượng chính trị hùng hậu. Cùng với đó, các đội quân vũ trang như Việt Nam Giải phóng quân, Cứu quốc quân đã được xây dựng và phát triển, đóng vai trò nòng cốt trong các cuộc khởi nghĩa từng phần và tiến tới tổng khởi nghĩa. Bài học này cho thấy, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như trong tương lai, cần phải chú trọng xây dựng lực lượng toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cả về lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang.

Thứ tư, bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Đảng ta luôn coi trọng và ra sức chăm lo xây dựng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong cuộc cách mạng, Đảng đã thông qua Mặt trận Việt Minh tiến hành tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giai cấp, thống nhất cùng chung một ý chí, giành độc lập, tự do. Sức mạnh của khối đại đoàn kết trên đã tạo nên một lực lượng vô cùng to lớn, đánh đổ ách thống trị của kẻ thù.

Thứ năm, bài học về kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã linh hoạt kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa. Sự kết hợp nhuần nhuyễn này đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn và bất ngờ, làm cho kẻ thù không kịp trở tay chống đỡ. Bài học này cho thấy, quá trình lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, phù hợp với từng giai đoạn và điều kiện cụ thể của cách mạng.

Thứ sáu, bài học về giành và giữ chính quyền. Như V.I.Lênin đã dạy: “Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng” và chính ông cũng cho rằng “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Nhưng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ thành công trong việc giành chính quyền, mà còn thành công cả trong việc giữ vững chính quyền non trẻ trước sự chống phá điên cuồng của các đảng phái, các thế lực thù địch lúc bấy giờ. Đó là do trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã có sự kiên cường, mưu trí, sáng tạo và đoàn kết trong toàn Đảng và toàn dân tộc; đã nhanh chóng và khẩn trương xây dựng một chính quyền từ trung ương tới cơ sở thực sự là của dân, do dân và vì dân, được nhân dân ủng hộ tuyệt đối.

Vận dụng những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc

Việt Nam là quốc gia ven biển, với bờ biển dài khoảng 3.260km, trải dài từ Bắc đến Nam. Được xác lập phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), nước ta có diện tích biển hơn 1 triệu km2, gấp ba lần diện tích đất liền. Trên vùng biển, đảo đó có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hình thành nên những tuyến, lớp đảo từ xa đến gần, có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng – an ninh, là tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ đất nước từ hướng biển. Tuyến phòng thủ đó, kết hợp với các tuyến phòng thủ trên đất liền khác, hình thành thế trận hiểm hóc, làm tăng chiều sâu thế trận quốc phòng toàn diện của đất nước.

 Một số đảo ven bờ có vị trí thiết yếu được sử dụng làm các điểm cơ sở để vạch đường cơ sở quốc gia. Đường cơ sở này là căn cứ pháp lý để xác định phạm vi các vùng biển, bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, qua đó xác lập không gian thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển theo UNCLOS 1982.

Bên cạnh đó, do nằm trên Biển Đông – tuyến đường hàng hải huyết mạch của khu vực và thế giới, biển, đảo Việt Nam còn có vị trí địa lý và giá trị kinh tế quan trọng. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa, kể cả với các nước láng giềng phía sau, cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyên chở hàng hóa xuất, nhập khẩu một cách nhanh chóng, thuận lợi. Đáng kể nhất, biển, đảo Việt Nam có tiềm năng tài nguyên rất phong phú, nhất là dầu mỏ, khí đốt. Dọc theo bờ biển nước ta có nhiều bãi triều, eo vịnh, đầm phá rất thuận lợi cho du lịch biển, đảo và nuôi, trồng thủy, hải sản có giá trị; thuận lợi cho xây dựng cảng biển, trong đó một số nơi có khả năng xây dựng cảng nước sâu quy mô lớn.

Có thể khẳng định, biển, đảo Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây không chỉ là bộ phận cấu thành nên chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán thiêng liêng của Tổ quốc, mà còn là không gian sinh tồn và phát triển của các thế hệ người Việt Nam, đồng thời là nơi lưu giữ và phát triển các giá trị văn hóa biển Việt Nam.

Tuy nhiên, tình hình Biển Đông hiện nay đang diễn biến phức tạp, với các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và tranh chấp biển phức tạp; các hoạt động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam liên tục diễn ra, đặt ra những thách thức rất lớn cho an ninh – quốc phòng và phát triển kinh tế Việt Nam. Để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đòi hỏi phải vận dụng và phát huy hơn nữa giá trị lịch sử và những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong số những bài học đó, nên tập trung vào một số nội dung sau:

Một là, Đảng cần duy trì tầm nhìn chiến lược trong đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Tầm nhìn chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ giúp toàn Đảng và toàn xã hội thống nhất tư tưởng, hiểu rõ vị trí, vai trò đặc biệt của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; mà còn giúp định hướng hành động đúng đắn phát huy hiệu quả ngọn cờ chính nghĩa, lẽ phải, công lý để giải quyết các vấn đề trên biển một cách hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Đồng thời, tầm nhìn chiến lược giúp kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giúp phát huy tổng hợp các nguồn lực trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đảo.

Tầm nhìn chiến lược trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc của Đảng nên bảo đảm những yếu tố sau:

1/ Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi íc biển hợp pháp, chính đáng của đất nước, không khoan nhượng trước mọi hành vi xâm phạm;

2/ Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982;

3/ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;

4/ Phát triển kinh tế biển bền vững gắn với việc đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng tiềm lực và thế trận phòng thủ biển, đảo vững chắc;

5/ Nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo. Đồng thời, tuyên truyền rộng rãi đối với cộng đồng quốc tế về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam.

Hai là, cần nhạy bén trong nắm bắt và tận dụng thời cơ. Thời cơ ở đây được hiểu là thời cơ chính trị, quân sự, ngoại giao, pháp lý nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, việc theo dõi, nắm bắt tình hình thực địa, diễn biến quốc tế, đánh giá, nhận định, phát hiện thời cơ, qua đó linh hoạt tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, đưa ra quyết sách phù hợp, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, và củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế là vô cùng quan trọng. Gần đây, Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) chú trọng bổ sung chuyên gia luật biển quốc tế. Nếu Việt Nam không sớm có chiến lược đào tạo nhân lực bài bản, khả thi, sẽ khó có nhân lực chất lượng cao có kinh nghiệm và tầm vóc quốc tế để tham gia giải quyết hiệu quả tranh chấp chủ quyền biển, đảo. Nhận thức vấn đề này từ sớm, Đảng và Nhà nước đã chủ động từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia, do đó, hiện chúng ta đã có ứng viên phù hợp cho vị trí Thẩm phán ITLOS.  Đây là ví dụ tiêu biểu về tầm nhìn và tranh thủ thời cơ.

Ba là, thường xuyên chăm lo về xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh về mọi mặt. Để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, cần tiếp tục xây dựng lực lượng nòng cốt vững mạnh, bao gồm Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các lực lượng dân quân tự vệ biển. Lực lượng này không chỉ cần được trang bị hiện đại, mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần yêu nước, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh. Đồng thời, cần phát huy vai trò của ngư dân, những người trực tiếp bám biển ngày đêm, vừa khai thác kinh tế biển vừa làm “tai, mắt” trong canh giữ biển, trời, là lực lượng quan trọng góp phần bảo vệ chủ quyền trên biển.

Bốn là, nâng cao hơn nữa việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự nghiệp của toàn dân, do đó cần tiếp tục củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên “thế trận lòng dân” trên biển. Điều này bao gồm việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân về chủ quyền biển, đảo; khuyến khích người dân bám biển, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền; huy động sự ủng hộ, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước. Đặc biệt là phải có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với những cá nhân, tập thể có đóng góp lớn vào sự nghiệp bảo vệ biển, đảo.

Năm là, kết hợp đấu tranh chính trị với năng lực phòng thủ quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần kết hợp linh hoạt các hình thức đấu tranh, từ đấu tranh pháp lý, ngoại giao, kinh tế đến các biện pháp bảo đảm quốc phòng – an ninh. Ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng cũng không ngừng củng cố tiềm lực quốc phòng để sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống phức tạp, hiểm nguy. Chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Tuy nhiên, đấu tranh ở đây không phải là “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với nhau, mà đấu tranh nhưng tránh xung đột, đối đầu, mắc mưu khiêu khích từ các thế lực thù địch; thực hành tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, kiên quyết ngăn chặn kịp thời, không để đất nước bị động, bất ngờ, không để tình hình diễn biến phức tạp, dẫn tới các hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biển, đảo, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc và vô cùng quý giá đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung, công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay của đất nước nói riêng. Trước bối cảnh tình hình Biển Đông đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp, việc vận dụng sáng tạo và linh hoạt những bài học này sẽ giúp Việt Nam củng cố sức mạnh tổng hợp, phát huy nội lực, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./

]]>
Sự thay đổi trong chính sách của Mỹvề Biển Đông khi đối phó với các hoạt động trên biển của TQ những năm gần đây https://biendong.net/2025/08/01/su-thay-doi-trong-chinh-sach-cua-myve-bien-dong-khi-doi-pho-voi-cac-hoat-dong-tren-bien-cua-tq-nhung-nam-gan-day/ Fri, 01 Aug 2025 12:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=154351 Biển Đông đóng vai trò rất quan trọng trong tổng thể lợi ích của Mỹ. Gần 30% thương mại hàng hải thế giới đi qua Biển Đông hàng năm, trong đó mang lại gía trị thương mại hàng hải khoảng $1.2 nghìn tỷ cho Mỹ. Trước các hoạt động hung hăng nhằm củng cố các yêu sách phi pháp ở Biển Đông đe doạ trực tiếp đến các lợi ích của Mỹ ở khu vực, Mỹ đã có những chuyển biến sâu sắc trong chính sách của Mỹ để đối phó với Trung Quốc.

Cột mốc quan trọng trong sự chuyển biến về chính sách của Mỹ đó là dưới thời Tổng thống Obama khi tháng 7/2010, khi Ngoại trưởng Hillary Clinton trong phát biểu tại Diễn đàn ARF tại Hà Nội lần đầu tiên tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia” ở Biển Đông, các yêu sách về quyền lợi biển ở Biển Đông phải hoàn toàn dựa trên các yêu sách hợp pháp về lãnh thổ dựa trên đất liền (nguyên tắc đất thống trị biển), qua đó gián tiếp bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc. Tháng 02/2014, Trợ lý Ngoại trưởng Daniel Russell khẳng định tuyên bố của Trung Quốc về quyền và lợi ích ở Biển Đông trên cơ sở đường chín đoạn không phù hợp với các nguyên tắc của luật quốc tế và Trung Quốc nên làm rõ hoặc điều chỉnh lập trường này.[1] Trên cơ sở đó, tháng 12/2014, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo số 143 về Các đường ranh giới trên biển – Yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông, khẳng định các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông không rõ ràng và không phù hợp luật pháp quốc tế.[2] Năm 2015, Trợ lý Ngoại trưởng Daniel Russell làm rõ thêm lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông, theo đó, Mỹ chỉ duy trì trung lập đối với các bên tranh chấp, chứ không trung lập về phương thức giải quyết tranh chấp, sẽ dốc sức ủng hộ tuân thủ luật pháp quốc tế. Cùng năm, Trợ lý Ngoại trưởng Daniel Russell cũng khẳng định Mỹ có quyết tâm kiên định nhằm tránh đối đầu quân sự với các nước ở Biển Đông, trong đó có Trung Quốc. Cũng trong năm 2015, Bộ Quốc phòng Mỹ công bố Chiến lược an ninh biển Châu Á – Thái Bình Dương, theo đó, xác định 03 mục tiêu biển chính ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: đảm bảo tự do biển cả;[3] ngăn chặn xung đột và các hành vi cưỡng chế; và thúc đẩy tuân thủ các chuẩn mực và luật pháp quốc tế.[4] Bộ Quốc phòng Mỹ do vậy cam kết đảm bảo tiếp cận tự do và rộng mở để bảo vệ trật tự kinh tế ổn định phục vụ lâu dài tất cả các quốc gia ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và duy trì khả năng của lực lượng Mỹ để ứng phó khi cần thiết. Năm 2016, Quan chức cấp cao Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ Daniel Britenbrink tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia tối cao” tại Biển Đông giống như Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.


[1] Phát biểu của Daniel Russell trong Phiên điều trần ở Nghị viện ngày 5/02/2014

[2] Báo cáo số 143.

[3] Tự do biển cả là thuật ngữ chưa được định nghĩa trong luật quốc tế, nhưng có thể hiểu bao hàm không chỉ là tự do của các tàu thuyền thương mại đi qua các luồng hải hải quốc tế. Bộ Quốc phòng Mỹ sử dụng khái niệm “tự do hàng hải” theo nghĩa bao hàm tất cả các quyền, tự do và sử dụng biển và vùng trời phía trên, bao gồm cho cả tàu và máy bay quân sự như được thừa nhận của luật quốc tế.

[4] US Department of Defense, “The Asia-Pacific Maritime Security Strategy: Achieving U.S. National Security Objectives in a Changing Environment” https://dod.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/NDAA%20A-P_Maritime_SecuritY_Strategy-08142015-1300-FINALFORMAT.PDF

Dưới thời Tổng thống Trump, Mỹ có điều chỉnh mang tính bước ngoặt hơn nữa khi chính quyền Trump thể hiện quyết tâm trong việc kiềm chế Trung Quốc trên thực địa và ủng hộ đồng minh, đối tác trong vấn đề Biển Đông. Mỹ điều chỉnh lập trường đối với vấn đề pháp lý tại Biển Đông theo hướng rõ ràng, công khai hơn để bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Cụ thể Mỹ gửi 01 thư đến Tổng thư ký LHQ và HĐBA LHQ (01/6/2020), 01 tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Mike Pompeo (13/7/2020) và 01 Tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng (21/7), theo đó: (i) Phản bác các yêu sách biển của Trung Quốc, trong đó có yêu sách quyền lịch sử và yêu sách “Tứ Sa”, yêu sách các cấu trúc tại Trường SA và bãi Scarborough có vùng EEZ và TLĐ riêng, và yêu sách vùng biển tính từ các bãi ngầm hoặc bãi cạn lúc chìm lúc nổi; (ii) khẳng định Phán quyết Vụ kiện Biển Đông có giá trị cuối cùng và ràng buộc đối với Trung Quốc và Philippines, yêu cầu Trung Quốc tuân thủ và điều chỉnh các yêu sách phù hợp với luật pháp quốc tế (như thể hiện trong Công ước).

Dưới thời Tổng thống Biden, chính sách Biển Đông dưới thời Trump tiếp tục được kế thừa, song tập trung nhiều hơn vào việc hỗ trợ đồng minh, đối tác nâng cao năng lực nhằm đối phó với Trung Quốc. Tháng 01/2022, Mỹ tiếp tục công bố báo cáo Ranh giới trên biển số 150 đưa ra các lập luận pháp lý có hệ thống nhằm bác bỏ toàn diện các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm yêu sách chủ quyền, yêu sách Tứ Sa, yêu sách quyền lịch sử. Trong năm 2022, Mỹ công bố Chiến lược an ninh quốc gia và Chiến lược quốc phòng quốc gia, theo đó tái khẳng định sẽ bảo đảm tự do đi lại và cách tiếp cận mở tại Biển Đông. Gần đây nhất, tháng 2/2024, Bộ trưởng Antony Blinken đã công bố tài liệu Cam kết lâu dài của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhân kỷ niệm 2 năm công bố Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, theo đó, khẳng định cam kết của Mỹ trong việc ủng hộ nỗ lực của các đồng minh của Philippines trong việc thúc đẩy nhóm bạn bè thúc đẩy luật biển như được phản ánh trong UNCLOS, khẳng định Mỹ sẽ cùng đồng minh đối tác trong việc phản đối các hành vi quấy rối liên tục các tàu đang thực hiện quyền tự do hảng hải; khẳng định Mỹ sẽ thúc đẩy ngoại giao pháp lý mạnh mẽ để củng cố luật biển và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, trong đó có gặp gỡ trao đổi với các chuyên gia luật biển quốc tế và công bố các nghiên cứu cụ thể về yêu sách biển trong loạt nghiên cứu về “Các đường ranh giới trên biển” của Bộ Ngoại giao Mỹ. [1]

Dưới thời Tổng thống Trump nhiệm kỳ lần 2, vẫn còn quá sớm để có thể đưa ra nhận định, đánh giá chính xác về chính sách Biển Đông của Tổng thống Trump trong nhiệm kỳ này. Tuy nhiên, các động thái gần đây của Mỹ về chính sách ngoại giao và trên thực địa cho thấy khả năng cao Mỹ sẽ tiếp tục kế thừa có chọn lọc chính sách Biển Đông của chính quyền tiền nhiệm. Tại phiên điều trần tại Thượng viện Mỹ và trong trả lời phỏng vấn báo chí (10/2/2025), Ngoại trưởng Rubio nhấn mạnh, Trung Quốc là đối thủ ngang cơ mạnh nhất và nguy hiểm nhất mà Mỹ phải đối mặt. Tại Hội nghị An ninh Munich (15/02/2025), Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth tuyên bố “ưu tiên của Mỹ là ngăn chặn chiến tranh với Trung Quốc ở Thái Bình Dương, cùng Nhật và Hàn Quốc ra tuyên bố chung phản đối các hoạt động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực hay cưỡng chế ở khu vực, nhấn mạnh cam kết duy trì vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đảm bảo luật quốc tế giữ vai trò chủ đạo, cùng các quốc gia G7 ra tuyên bố (15/02 và 14/03/2025) ra tuyên bố bày quan ngại sâu sắc về tình hình Biển Đông, phản đối các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế, lên án các hành vi tấn công nguy hiểm vào tàu thuyền của Philippines và Việt Nam. Đặc biệt so với thông điêp kêu gọi đối thoại và kiềm chế do cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austrin đưa ra tại Shangri-La 2024, Bộ trưởng Pêt Hegseth tại Shangri-La 2025 (31/5) thể hiện lập trường cứng rắn hơn, chỉ trích và tấn công trực diện các hoạt động đơn phương gây mất ổn định của Trung Quốc ở Biển Đông, cho rằng các hoạt động này thể hiện sự thiếu tôn trọng căn bản của nước này đối với các quốc gia láng giềng và thách thức chủ quyền, tự do hang hải và hang không, khẳng định Mỹ đang theo dõi sát sao các hoạt động gây bất ổn của Trung Quốc và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực hay cưỡng ép đều không thể chấp nhận được.

Đối với chiến thuật vùng xám, Mỹ cho rằng các hoạt động cưỡng chế theo chiến thuật vùng xám đe doạ các mục tiêu, lợi ích chiến lược của Mỹ.[2] Trước hết, các hoạt động cưỡng chế của Trung Quốc thách thức trật tự và chuẩn mực khu vực, do đó đe doạ tác động đến trật tự khu vực bằng việc thay đổi nguyên trạng thông qua các hoạt động trấn áp và vũ lực. Thứ hai, các hành vi hung hăng của Trung Quốc làm phóng đại hơn nguy cơ xung đột ngắn hạn. Thứ ba, Trung Quốc gây áp lực đối với các đồng minh, đối tác của Mỹ có thể làm suy giảm hệ thống tối ưu hoá mạng lưới các mối quan hệ song phương thông qua minh chứng rằng Mỹ không đủ năng lực và ý chí hay sự suy yếu trong mối quan hệ gắn kết đồng minh. Thứ tư, sự hung hăng hiếu chiến của Trung Quốc làm dấy lên quan ngại về việc thực hiện các quyền tự do hàng hải và tiếp cận kinh tế ở khu vực. Thứ năm, hành vi cưỡng chế của Trung Quốc có thể mang lại mối đe doạ cơ bản đối với trật tự khu vực ở Châu Á. Trong bối cảnh đó, việc kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc có thể được coi là thách thức chiến lược trọng yếu cho Mỹ và an ninh Châu Á nói chung.

Các hành vi cưỡng chế của Trung Quốc cũng được cho là đe doạ đến lợi ích kinh tế của Mỹ ở Châu Á. Việc duy trì và phát triển thịnh vượng ở khu vực cũng như sự rộng mở về kinh tế và dòng chảy thương mại tự do được xem là trọng yếu đối với sự phát triển kinh tế của Mỹ và thế giới. Như đã trình bày ở trên, gần 30% thương mại hàng hải thế giới đi qua Biển Đông hàng năm, trong đó mang lại gía trị thương mại hàng hải khoảng $1.2 nghìn tỷ cho Mỹ. Các lợi ích kinh tế của Mỹ ở khu vực sẽ không thể được đảm bảo nếu không có môi trường phát triển ổn định dựa trên các quy tắc và luật lệ mạnh mẽ và công bằng làm cơ sở cho các quốc gia cạnh tranh mà không dẫn đến xung đột. Do vậy Mỹ có lợi ích kinh tế lớn trong việc bảo vệ hệ thống trật tự dựa trên luật lệ ở khu vực này sẽ tiếp tục thực thi các chính sách và hoạt động trên thực địa để duy trì một khu vực Biển Đông tự do hàng hải, hàng không và thương mại không bị cản trở./.


[1] Antony Blinken, The United States’ Enduring Commitment to the Indo-Pacific: Marking Two Years Since the Release of the Administration’s Indo-Pacific Strategy (9/2/2024), https://www.state.gov/wp-content/uploads/2024/02/Indo-Pacific-Strategy-Second-Anniversary-Fact-Sheet.pdf

[2] Michael J. Green et al, “Countering Coercion in Maritime Asia: The Theory and Practice of Gray Zone Deterrence” (CSIS, 9/5/2017) tại https://www.csis.org/analysis/countering-coercion-maritime-asia

]]>
An ninh Biển Đông sẽ ra sao dưới tác động từ liên minh của Mỹ ở khu vực dưới thời D.Trump 2.0                             https://biendong.net/2025/07/12/an-ninh-bien-dong-se-ra-sao-duoi-tac-dong-tu-lien-minh-cua-my-o-khu-vuc-duoi-thoi-d-trump-2-0/ Sat, 12 Jul 2025 08:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=153751 Các liên minh và hệ thống căn cứ quân sự của Mỹ ở khắp các châu lục trên thế giới thường được xem là “tài sản chiến lược quốc gia”, giúp Mỹ duy trì vai trò “siêu cường” và theo đuổi các lợi ích chiến lược khác nhau từ trước tới nay.

Tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hay còn gọi là khu vực Ấn – Thái, các liên minh do Mỹ “dẫn dắt” những năm gần đây, có sự chuyển hướng theo dạng hình thành một mạng lưới các “tiểu liên minh” theo kiểu “ba bên” hoặc “bốn bên” và quan hệ đối tác đa dạng, nhằm thiết kế một “công cụ” quan trọng để Mỹ kiềm chế một cách chặt chẽ và sát sườn hơn đối với sự “trỗi dậy và bành trướng” của Trung Quốc. Tuy nhiên, khi ông D.Trump quay trở lại Nhà Trắng làm tổng thống nhiệm kỳ hai (2.0), bước đầu đang thực thi những chính sách khiến nhiều nước khu vực Ấn – Thái nằm trong các liên minh trên nảy sinh sự lo ngại về triển vọng hoạt động trong tương lai. Kèm theo đó là những tác động nào sẽ đến với an ninh khu vực Biển Đông.

Nhìn lại chính sách của ông D.Trump đối với các liên minh ở khu vực Ấn – Thái trong nhiệm kỳ đầu

Năm 2017, trong “Chiến lược an ninh quốc gia” của Mỹ, ông D.Trump đã nói về nhận định “Chiến lược này cho thấy chúng ta đang ở trong một kỷ nguyên của cạnh tranh toàn cầu trong các lĩnh vực như kinh tế, quân đội và chính trị. Chúng ta cũng phải đối mặt với các quốc gia kình địch như Nga và Trung Quốc, những nước tìm cách thách thức ảnh hưởng, giá trị và thịnh vượng của Mỹ. Chúng ta sẽ tìm cách xây dựng một mối quan hệ đối tác lớn với những nước đó với mục đích là luôn luôn bảo vệ giá trị quốc gia”.

Năm 2019, chính quyền ông D.Trump đã công bố chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (Free and Open Indo Pacific – FOIP), trong đó nhấn mạnh sẽ duy trì một khu vực tự do, mở cửa và thịnh vượng, với mục tiêu chính là đối phó với sự “trỗi dậy” của Trung Quốc. Theo đó, Mỹ xác định sẽ củng cố các liên minh song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Australia, đồng thời thúc đẩy các khuôn khổ an ninh đa phương như nhóm “Bộ tứ” (QUAD) gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ, Hiệp định đối tác an ninh ba bên Australia, Vương quốc Anh và Mỹ (AUKUS), Liên minh ba bên Mỹ, Australia và New Zealand (ANZUS). Đó là chưa kể gia tăng quan hệ với các tổ chức, các quốc gia đối tác khác trong khu vực như ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Singapore, Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia…  

Đi cùng với việc công bố chiến lược “FOIP”, Mỹ cũng đã đổi tên Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (USPACOM) của họ thành Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (USINDOPACOM), phản ánh rõ nét ưu tiên chiến lược của Washington đối với khu vực đại dương rộng lớn, trải dài từ Ấn Độ Dương tới Thái Bình Dương. Ngoài ưu tiên chiến lược trên, một điểm nhấn khác rất đáng quan tâm là Mỹ chủ trương sẽ tập trung vào việc đối phó với Trung Quốc thông qua cạnh tranh trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế và thương mại. Dựa trên sự kế thừa và tiếp nối với các chính sách đã có trước đây của Mỹ.

Tuy nhiên, khác với những người tiền nhiệm, với phong cách tư duy mang nặng “tính thực dụng” và “giao dịch” mà ông D. Trump rất ưa chuộng, nên ông đã “chuyển hóa” chúng vào trong quan hệ với các đối tác, kể cả với các đồng minh thân cận, “cùng chí hướng”. Theo đó, Tổng thống D.Trump thường xuyên yêu cầu, thậm chí có lúc gay gắt, với đồng minh trong việc chia sẻ gánh nặng tài chính và chiến lược. Ngay như cả với đồng minh rất thân cận là Nhật Bản, ông cũng công khai đặt câu hỏi về giá trị của liên minh này đối với Mỹ, đồng thời yêu cầu hai đồng minh là Hàn Quốc và Nhật Bản phải tăng chi phí cho sự hiện diện quân sự của Mỹ tại các cứ điểm tiền tiêu. Thậm chí, ông D.Trump còn tìm cách “xích lại” gần hơn với Triều Tiên dù rằng động thái này không mấy hiệu quả, khiến cho lợi ích an ninh của Hàn Quốc gặp bất lợi. Đối với QUAD, nhóm liên minh được thành lập năm 2007, nhưng năm 2017 mới chính thức khởi động và AUKUS mới được thành lập tháng 9/2021, mặc dù đã hình thành và đi vào hoạt động, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế, chậm trễ trong triển khai, làm ông D.Trump không thật hài lòng và đặt ra nhiều yêu cầu theo hướng đưa lại nhiều lợi ích hơn cho nước Mỹ.

Dù vậy, nhìn tổng thể trong nhiệm kỳ đầu của ông D. Trump vẫn thấy,  việc ông sử dụng các liên minh ở khu vực Ấn – Thái để kiềm chế Trung Quốc đã đạt được một số kết quả, nổi bật là: 1/ Đã củng cố thêm quan hệ với các đồng minh truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Đặc biệt, Mỹ đã chú trọng quan hệ với Ấn Độ, công nhận vai trò quan trọng của nước này trong chiến lược “FOIP” để kiềm chế Trung Quốc. 2/ Khôi phục và khởi động lại QUAD nhằm tăng cường hợp tác an ninh và đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. 3/ Thể hiện rõ quyết tâm hơn của Mỹ trong việc duy trì vai trò lãnh đạo và đối phó với các thách thức đến từ Trung Quốc thông qua việc công bố chiến lược “FOIP”. 4/ Đã thực thi các biện pháp thuế quan và thương mại “cứng rắn” đối với Trung Quốc, qua đó giúp giảm thiểu thâm hụt thương mại và kiềm chế sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế của nước này.

Bên cạnh kết quả trên, vẫn tồn tại một số thách thức và hạn chế, như:
1/ Việc Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã gây ra sự “hoang mang” cho các đồng minh và đối tác, nhưng lại tạo cơ hội cho Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng kinh tế trong khu vực. 2/ Sự thiếu nhất quán và khó đoán định trong chính sách đối ngoại của ông D.Trump đã gây khó khăn cho việc xây dựng lòng tin với các đồng minh. 3/ Xu hướng tập trung vào cạnh tranh song phương với Trung Quốc, thay vì xây dựng một chiến lược đa phương toàn diện đã làm giảm sức ép và khả năng “răn đe tập thể” đối với Trung Quốc. 4/ Cách tiếp cận “nước Mỹ trên hết” và các yêu cầu chia sẻ gánh nặng tài chính của ông D.Trump đã gây ra sự căng thẳng trong quan hệ với một số đồng minh truyền thống.

Sau khi tiếp quản Nhà Trắng, chính quyền Tổng thống J.Biden vẫn kế tục chính sách của ông D.Trump, đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc bằng cách bổ sung các khía cạnh công nghệ, đổi mới và tách rời chuỗi cung ứng. Ông J.Biden đã tiến hành củng cố các liên minh song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Philippines, đồng thời tái cam kết với ASEAN thông qua Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Đối với hai cơ chế là QUAD và AUKUS, Mỹ đã tăng cường đáng kể tính chất tác chiến của QUAD thông qua việc thành lập các nhóm công tác và tổ chức cuộc họp thường niên ở cấp nguyên thủ quốc gia và chính phủ. Với AUKUS, nổi bật nhất là việc Hải quân Australia sẽ sở hữu 8 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân do Mỹ sản xuất, một động thái rõ ràng là nhằm đối phó với Trung Quốc trong khu vực Ấn – Thái. Đồng thời, một loạt những cơ chế “nhóm nhỏ” quan trọng được hình thành, như Đối thoại an ninh 3 bên Mỹ – Nhật – Australia (kéo dài 7 năm) cùng với Đối thoại Mỹ – Nhật – Hàn, được khởi xướng tại Trại David hồi tháng 8/2023, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Nhật – Phi (tháng 4/2024)… cho phép Mỹ hợp tác có mục tiêu và hiệu quả hơn trong các vấn đề an ninh cụ thể với các đối tác “cùng chí hướng”.

Có thể khẳng định rằng, cả ông D.Trump và ông J.Biden đã có nhiều nỗ lực đưa Mỹ trở lại và đóng vai trò “dẫn dắt” các hành động đa phương ở khu vực để kiềm chế Trung Quốc thông qua các liên minh, các quan hệ đối tác và cơ chế đa phương.

Các liên minh do Mỹ “dẫn dắt” ở khu vực Ấn – Thái dưới thời D.Trump 2.0 sẽ ra sao

Các liên minh đã được xem là “tài sản chiến lược” thì có thể hiểu, người đứng đầu nước Mỹ và nội các Mỹ có thể thay đổi, nhưng “tài sản” trên chắc chắn vẫn sẽ được duy trì. Tuy nhiên, dưới thời ông D.Trump hiện nay, các liên minh này đang bị tác động, chi phối bởi các yếu tố sau: 1/ Với tư duy ưu tiên “lợi ích nước Mỹ là trên hết”, ông D.Trump sẽ tiếp tục đặt lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ lên hàng đầu, sẽ đòi hỏi các đồng minh đóng góp nhiều hơn về tài chính và quân sự để cùng “chia sẻ gánh nặng” với Mỹ. Các đồng minh của Mỹ ở khu vực Ấn – Thái cũng không đứng ngoài đòi hỏi trên của Mỹ. 2/ Về quan hệ kinh tế, ông D.Trump sẽ sử dụng cách tiếp cận “cứng rắn” hơn về thương mại, thuế quan với Trung Quốc, và cũng có thể áp dụng cách làm này với cả các đồng minh để gây áp lực, buộc các nước này phải có trách nhiệm và hành động thực chất, hiệu quả hơn, qua đó đưa lại lợi ích lớn hơn cho nước Mỹ. Điều này đã xảy ra khi ngày 02/4/2025, ông D.Trump đã ban hành luật thuế đối ứng mới lên hơn 180 quốc gia có quan hệ thương mại với Mỹ. 3/ Phong cách lãnh đạo “khó đoán định” của ông D.Trump có thể tạo ra sự không chắc chắn về cam kết của Mỹ, bằng chứng là ngày 02/4/2025 ông vừa ban hành mức thuế rất cao đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu của hầu hết các nước đối tác thương mại thì ngày 28/4/2025 lại ra quyết định hoãn thi hành 90 ngày. Rồi điều chỉnh cả mức thuế với từng nước đối tác theo mức độ “thương lượng” và quan hệ với từng nước trên. Điều này khiến các đồng minh phải “tự sờ lên gáy” mà tìm kiếm các bảo đảm khác hoặc khả năng tự chủ lớn hơn. 4/ Nội bộ Mỹ có sự đồng thuận hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho Chính quyền D.Trump thực thi các chính sách đối với các liên minh. Hiện nay, cả đảng Cộng hòa và Dân chủ đều thống nhất rằng, Trung Quốc là “thách thức lớn nhất về an ninh và kinh tế” đối với Mỹ, được thể hiện trong Dự án 2025 (Project 2025) – dự án nhằm duy trì chiến lược “FOIP”.

Rõ ràng, các yếu tố chi phối và tác động trên cho thấy, việc sử dụng các liên minh để thực hiện chiến lược trên sẽ vẫn được duy trì, nhất là nhằm kiềm chế Trung Quốc. Trong đó, các chính sách “cứng rắn” về thương mại và an ninh đối với Trung Quốc vẫn tiếp nối và sẽ mạnh mẽ hơn trong nhiệm kỳ hai của ông D.Trump, nhưng khi tiếp cận và triển khai thực hiện với các liên minh, sẽ có sự thay đổi và dự báo có thể xảy ra các “kịch bản” sau.

Thứ nhất, Mỹ sẽ gia tăng yêu cầu các đồng minh phải có sự đóng góp nhiều hơn. Lý do đầu tiên xuất phát từ các yếu tố chi phối như đã nêu trên. Tiếp theo là, trong nhiệm kỳ đầu, ông D.Trump đã từng chỉ trích các đồng minh NATO vì không đóng góp đủ ngân sách quốc phòng, nên cũng có thể áp dụng logic tương tự trong nhiệm kỳ hai với các đối tác châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, hay Philippines. Điều này có thể làm suy yếu lòng tin của các đồng minh vào cam kết dài hạn của Mỹ. Mặt khác, không giống như ông J.Biden là chú ý đến tính dài hạn và nhấn mạnh sức mạnh tập thể của liên minh, ông D.Trump ưa thích các thỏa thuận song phương hơn đa phương (điển hình là rút khỏi TPP trong nhiệm kỳ đầu), nên có thể làm giảm hiệu quả của các cơ chế đa phương như QUAD hoặc AUKUS, vốn dựa trên hợp tác đa phương để cân bằng ảnh hưởng với Trung Quốc thông qua “răn đe tập thể”. Ông D.Trump đã nhiều lần tuyên bố, Đài Loan nên “trả phí” cho việc Mỹ bảo vệ hòn đảo này khi cho rằng, Đài Loan không đóng góp đủ cho việc này, còn Mỹ đóng vai trò như một “công ty bảo hiểm”. Hay như yêu cầu Nhật Bản hỗ trợ nếu Mỹ bị tấn công. Tư duy và cách làm này có thể tạo thêm áp lực lên các đồng minh, gây xáo trộn nhất định, nhưng sẽ không làm suy yếu và thậm chí tác động ở mức độ nào đó với các liên minh, bởi vì các nước Nhật Bản, Australia, Philippines và vùng lãnh thổ Đài Loan không thể không có Mỹ để “cân bằng” và “đối chọi” với Trung Quốc. Và ngược lại, Mỹ sẽ khó có thể bảo đảm cao nhất lợi ích của mình ở khu vực nếu thiếu sự hợp tác liên minh với những đối tác này.

Thứ hai, chiến lược an ninh của Mỹ có thể sẽ có sự thay đổi theo phong cách tư duy thực dụng của ông D.Trump, khiến các đồng minh lâm vào thế “khó xử” trong cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc. Vừa qua, ông D.Trump đã đề xuất rút quân khỏi một số khu vực ở châu Âu và các khu vực khác trên thế giới để “tiết kiệm chi phí”, vậy nên cũng không loại trừ khả năng vấn đề giảm hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á cũng có thể được đặt ra trong tương lai. Tuy vậy, khả năng này trước mắt rất khó xảy ra vì từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nội bộ chính quyền Mỹ rất nhất quán trong việc đánh giá và coi trọng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhất là nguy cơ nổi lên từ Trung Quốc. Mặc dù vậy, các đồng minh trong khu vực đều tính đến tình huống này và chú ý củng cố năng lực quốc phòng hoặc tìm kiếm quan hệ với các đối tác như Pháp, Ấn Độ, thậm chí tìm đường “đến gần” Trung Quốc. Ông D.Trump cũng có thể tăng cường ủng hộ Đài Loan, như bán vũ khí, ủng hộ tư cách thành viên của Đài Loan trong các tổ chức quốc tế… Hoạt động này chắc chắn sẽ vấp phải sự phản ứng của Trung Quốc, và vì thế sẽ đặt các nước vào thế khó xử trong cân bằng quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh khi bày tỏ quan điểm.

Thứ ba, Mỹ sẽ tái áp thuế quan hoặc hạn chế thương mại “cứng rắn” hơn với Trung Quốc. Điều này đã xảy ra ngay những ngày đầu của D.Trump 2.0. Tuy nhiên, cách tiếp cận “đơn phương” này có thể làm suy yếu sự phối hợp với các đồng minh, vốn lâu nay đã phụ thuộc vào chuỗi cung ứng từ Trung Quốc. Đối với chiến lược “FOIP”, để vừa bảo vệ lợi ích và ảnh hưởng của Mỹ đã có gần một thế kỷ nay vừa kiềm chế Trung Quốc, ông D. Trump vẫn duy trì và thúc đẩy, nhưng sẽ hạn chế đầu tư đa phương, thay vào đó tập trung vào các thỏa thuận song phương có lợi trực tiếp cho Mỹ, song lại ảnh hưởng đến lợi ích của các đồng minh.

Thứ tư, các đồng minh trong khu vực sẽ có sự phản ứng, gây bất lợi cho Mỹ. Trên thực tế, các nước này đang có sự phụ thuộc rất lớn vào Mỹ cả về an ninh và kinh tế, nhất là về an ninh. Song, trên cương vị tổng thống của một quốc gia “siêu cường”, ông D.Trump có sự tính toán rất sâu xa và chi ly, sẵn sàng bỏ qua lợi ích của nước khác để hướng đến mục tiêu “lợi ích nước Mỹ là trên hết”. Chỉ xem những gì ông D.Trump hành xử với nước Nga và cuộc chiến ở Ucraines trong vòng 100 ngày mới lên cầm quyền đã cho thấy những toan tính “thâm sâu” của ông mà ngay đến cả những đồng minh “cật ruột” như Anh, Pháp, Đức đều thất vọng và quay cuồng ứng phó. Trong bối cảnh như vậy, các nước, các tổ chức như ASEAN, Ấn Độ, hay Australia có thể quay sang tăng cường hợp tác nội khối, hoặc mở rộng quan hệ với các tổ chức và cường quốc khác như EU, Nga để giảm sự phụ thuộc vào Mỹ.

Quan hệ Mỹ – Trung vốn đã căng thẳng, nay chính quyền D.Trump 2.0 lại nhấn mạnh rằng, Trung Quốc là “mối đe dọa trực tiếp nghiêm trọng nhất” đối với Mỹ (Dự án 2025). Vì thế, để đề phòng với tình huống xung đột Mỹ – Trung có thể xảy ra, gây bất lợi cho bản thân, nhiều nước trong khu vực, kể cả là đồng minh và đối tác quan trọng của Mỹ, như Hàn Quốc, Singapore…sẽ tìm cách  “dung hòa lợi ích”, tránh đứng hẳn về “phe” Mỹ do sự bất ổn và tính khó đoán định của ông D.Trump.

Thứ năm, đây có lẽ là “kịch bản” mà ông D.Trump không mong muốn, nhưng tư duy và cách làm của ông đối với các liên minh lại có thể dẫn đến, đó là tạo “cơ hội” cho Trung Quốc phát triển, bởi Trung Quốc không bao giờ “án binh bất động” trước Mỹ. Nghĩa là, lợi dụng chính sách “thực dụng” và “khó đoán định” của ông D.Trump có thể gây chia rẽ các liên minh, Trung Quốc sẽ tăng cường chính sách quan hệ kinh tế, thương mại với các nước “bạn bè” của Mỹ, gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, “ngoại giao bẫy nợ”… hoặc mở rộng ảnh hưởng quân sự ở Biển Đông nếu cảm thấy Mỹ có phần “sao nhãng”. Các sáng kiến kinh tế lớn do Trung Quốc “cầm trịch” như “Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP), hoặc sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) có thể trở nên hấp dẫn hơn nếu Mỹ rút khỏi vai trò lãnh đạo kinh tế ở khu vực.

Những tác động tới an ninh khu vực Biển Đông dưới thời D.Trump 2.0

Với những “kịch bản” trên, an ninh khu vực Biển Đông trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống D.Trump sẽ ra sao là vấn đề không dễ đoán định, nhưng chắc chắn Mỹ sẽ gia tăng các hoạt động vào khu vực này trên nhiều mặt trận, nhiều cách thức khác nhau. Trong đó, sử dụng các liên minh và đối tác là một cách thức được ông D.Trump chú trọng và triển khai theo phong cách riêng “không giống ai” của vị tổng thống này. Chính vì vậy, tình hình an ninh ở khu vực Biển Đông thời gian tới bị tác động và có thể diễn biến theo các hướng sau:

Một là, đối đầu và căng thẳng sẽ gia tăng. Lý do là, ngoài áp dụng “con bài sở trường” là “trừng phạt” về kinh tế đối với Trung Quốc, Mỹ sẽ tăng cường các hoạt động quân sự với các đồng minh đã có ở khu vực này, dựa trên thế mạnh  về hợp tác quân sự đã từng được xây dựng và triển khai. Theo đó, các cuộc diễn tập quân sự đơn phương, song phương và đa phương do Mỹ dẫn dắt sẽ tiếp tục gia tăng; nhiều loại trang bị, vũ khí mới thuộc thế hệ “công nghệ 4.0” sẽ được tích hợp và đưa vào triển khai, thí nghiệm và ứng dụng; không loại trừ sẽ xuất hiện thêm các hiệp ước, các liên minh mới xuất hiện hay được mở rộng từ các liên minh cũ. Khi “kịch bản” này xảy ra, Trung Quốc chắc chắn sẽ phản ứng lại dưới nhiều hình thức trong đó có thể gia tăng hoạt động làm phức tạp tình hình, xâm phạm vùng biển các nước liên quan nhất là Philippinnes, nước được cho là “thân Mỹ”, nên có thể dẫn đến các cuộc va chạm thậm chí “đối đầu” trực tiếp trên biển và trên không, làm gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm và xung đột không mong muốn.

Hai là, trước áp lực về an ninh ở Biển Đông, không loại trừ khả năng các quốc gia trong khu vực có thể buộc phải “chọn phe”, làm gia tăng sâu sắc hơn sự “phân cực” giữa các quốc gia ủng hộ Mỹ và những quốc gia có quan hệ kinh tế hoặc chính trị chặt chẽ với Trung Quốc. Nếu điều này xảy ra, sẽ rất dễ đẩy tình hình an ninh khu vực vào thế “đối đầu” nguy hiểm. Từ đó có thể làm suy yếu sự đoàn kết, thống nhất của các tổ chức khu vực trong các vấn đề quốc tế và khu vực, trong đó có ASEAN, nhất là sự đồng thuận của khối này trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc.

Ba là, cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực sẽ trở nên bức thiết và “nóng bỏng”. Hiện nay, thế giới chứng kiến các cuộc chiến tranh ở Ucraines, ở Trung Đông, mới đây ở Ấn Độ và Pakisxtan với sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị mới, hiện đại và rất hiệu quả như máy bay không người lái, tên lửa chính xác, vũ khí điện tử… Những nước đứng ngoài các cuộc chiến, xung đột trên không thể “bình chân như vại” mà không ít thì nhiều đã bắt tay vào “chạy đua vũ trang ngầm”. Trong đó có cả các nước khu vực Ấn – Thái bởi do lo ngại về sự gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc, về những bất ngờ “khó đoán định” từ chính sách của Mỹ, về cả sự “khuyến khích” đồng minh tăng ngân sách quốc phòng từ Mỹ. Các quốc gia này buộc phải tăng ngân sách và chi tiêu quốc phòng, nghiên cứu phát triển, mua sắm vũ khí trang bị mới và hiện đại hóa quân đội. Điều này có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực, tiềm ẩn nguy cơ đối với hòa bình và ổn định khu vực.

Bốn là, về kinh tế, căng thẳng gia tăng ở Biển Đông có thể gây ra những tác động tiêu cực đến thương mại và đầu tư trong khu vực, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia liên quan. Ngoài việc hai nước “chủ chòm” là Mỹ, Trung “gây sự” với nhau, các nước xung quanh Biển Đông sẽ có thể không chỉ gặp khó khăn trong quan hệ thương mại, đầu tư với hai quốc gia này mà còn có thể hứng chịu hậu quả từ những biện pháp trừng phạt trả đã lẫn nhau của hai nước này như trừng phạt kinh tế bằng thuế quan, cắt đứt chuỗi cung ứng hàng hóa và thậm chí là bao vây, ngăn chặn trên biển, cắt đứt tuyến giao thông biển quan trọng của thế giới qua Biển Đông.  

Năm là, tranh chấp pháp lý về Biển Đông tiếp tục căng thẳng. Mỹ và các đồng minh sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 để làm cơ sở phản đối hành vi phi pháp, khiêu khích nguy hiểm của Trung Quốc bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình ở Biển Đông. Song Trung Quốc đã và sẽ cho rằng, Mỹ không có cơ sở pháp lý để lên tiếng, can dự vào Biển Đông vì Mỹ không phải là một bên tranh chấp, hơn nữa không tham gia và phê chuẩn UNCLOS 1982. Thực chất là Trung Quốc muốn loại bỏ vai trò, lợi ích và sự can dự của Mỹ để dễ dàng thực hiện các yêu sách “chủ quyền phi pháp” của mình. Sự tranh chấp này khó đi đến “hồi kết” và sẽ khiến cho vai trò pháp lý quốc tế ở Biển Đông không thể phát huy đầy đủ hiệu quả.

Sáu là, bản thân phong cách lãnh đạo “khó đoán định” của ông D.Trump, nhất là thay đổi vào “phút chót” khi “thấy lợi cho quốc gia” sẽ dẫn đến những sự thay đổi đột ngột trong chính sách, “xem nhẹ” lợi ích nước khác kể cả đồng minh hoặc các tuyên bố bất ngờ của ông này cũng có thể làm gia tăng sự bất ổn trong khu vực.

Tóm lại, củng cố và bảo vệ vai trò, lợi cihs, vị thế “siêu cường” của Mỹ ở khu vực, các chính sách lâu nay kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc là mục tiêu không thay đổi của Mỹ. Do đó, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục củng cố các liên minh đã có ở khu vực Ấn – Thái và thậm chí thiết lập liên minh mới khi cần để phục vụ mục tiêu trên. Với chính sách “nước Mỹ trên hết”, cùng với tính cách “khó đoán định” của mình, nên việc ông D.Trump sử dụng các “kịch bản” nào và phối kết hợp chúng ra sao để đối phó với Trung Quốc vẫn đang được “giấu kín”. Tương lai và hoạt động của các liên minh, các cơ chế nói trên sẽ như thế nào dưới thời D.Trump 2.0 vẫn là những ẩn số, chưa dễ có đáp áp ngay hiện nay. Ít nhất trên thực tế, cuộc tập trận Balikatan 2025 do Mỹ phối hợp đồng minh Philippines tiến hành từ ngày 21/4 – 09/5/2025 và những gì xảy ra trên Biển Đông gần đây cũng cho thấy Mỹ đang huy động các liên minh và Trung Quốc cũng đang hành động để đối phó. An ninh khu vực Biển Đông thời gian tới tiềm ẩn nhiều điều bất trắc, khả năng căng thẳng leo thang có thể kéo theo những thay đổi bất ngờ, khó lường hơn.

]]>
Thấy gì qua chuyến thăm Philippines của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth https://biendong.net/2025/06/19/thay-gi-qua-chuyen-tham-philippines-cua-bo-truong-quoc-phong-my-pete-hegseth/ Thu, 19 Jun 2025 02:01:00 +0000 https://biendong.net/?p=152109  Từ ngày 28 – 30/3/2025, tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có chuyến công du đầu tiên tới hai nước đồng minh châu Á là Nhật Bản và Philippenes, đồng thời cũng là chuyến thăm đầu tiên của một quan chức Nhà Trắng thuộc ê kíp lãnh đạo nhiệm kỳ hai của Tổng thống Mỹ D. Trump.

Có thể thấy trong suốt quá trình vận động tranh cử năm 2024, cũng như sau khi nhậm chức nhiệm kỳ hai, vị tổng thống thứ 47 của nước Mỹ hầu như không “đả động” gì đến các đồng minh châu Á – Thái Bình Dương, càng không nhắc gì tới Philippines, nên nhiều người cứ “đoán già, đoán non” rằng, có lẽ quan hệ của Mỹ với khu vực này sẽ “nhạt đi” do những “nóng bỏng” ở châu Âu và Trung Đông khiến chính quyền mới ở Washington không còn “để tâm” tới được.

Song không phải thế, chuyến thăm của ông Pete Hegseth tới Philippines đã cho thấy, việc củng cố mối quan hệ đồng minh hiệp ước với Manila vẫn sẽ được Mỹ quan tâm và thúc đẩy. Mỹ sẽ không rời đi mà sẽ sát cánh cùng các đồng minh ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để “đối phó với các rủi ro trong khu vực”. Riêng đối với Philippines, những gì diễn ra qua chuyến thăm của ông Pete Hegseth đã bộc lộ những điều hệ trọng đáng quan tâm sau.

Thứ nhất, đây là hành động tái khẳng định cam kết vững chắc của Mỹ đối với Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Mỹ và Philippines

Sở dĩ phải tái khẳng định cam kết liên minh Mỹ – Phi là vì cách đây không lâu, quan hệ đồng minh lâu năm theo Hiệp ước Phòng thủ chung (MDT), được hai nước ký kết vào năm 1951 có những dấu hiệu “xuống cấp”. Đó là dưới thời cựu Tổng thống Duterte, Philippines đã từng thực hiện chính sách “xa Mỹ, gần Trung”. Trong khi cùng thời gian đó, ông D. Trump nắm quyền lãnh đạo nhiệm kỳ đầu ở Mỹ đã đặt ra một số yêu cầu “có đi, có lại” trong quan hệ với Philippines nhằm đảm bảo lợi ích “nước Mỹ trên hết”, khiến cho mối quan hệ đồng minh giữa hai nước phần nào trở nên “lỏng lẻo”. Đến khi tranh cử và trúng cử nhiệm kỳ hai, ông D. Trump cũng vẫn “tỉnh queo” không nhắc gì tới Philippines, lại thêm hành động ông tuyên bố rút nước Mỹ ra khỏi các hiệp ước về thương mại tự do và khí hậu. Đi kèm với đó là những dấu hiệu về mức độ tin cậy và tính bền vững của Mỹ với tư cách là bên bảo đảm an ninh, trong bối cảnh Washington gây sức ép, buộc các đồng minh phải chi nhiều hơn cho quốc phòng của chính họ, sau nhiều thập niên dựa vào chiếc “ô an ninh” của Mỹ. Đáng chú ý hơn là gần đây, khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chứng kiến sự căng thẳng ngày càng gia tăng liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông, nhất là giữa Trung Quốc và Philipines, nơi Bắc Kinh tăng cường các hoạt động quân sự, bao gồm cả việc triển khai máy bay ném bom chiến lược tầm xa H-6 gần bãi cạn Scarborough ngay trước chuyến thăm của Bộ trưởng Pete Hegseth. Tất thảy những điều trên khiến giới chiến lược khu vực không khỏi băn khoăn rằng, liệu trong nhiệm kỳ hai của mình, ông D. Trump có rút khỏi các hiệp ước an ninh với các đồng minh khu vực, trong đó có Philipines, hay không.

Chính vì thế, với chuyến thăm Philipines của mình, ông Pete Hegseth đã “xóa tan” những “đồn đoán” nghi ngại bấy lâu, gửi đi thông điệp đầu tiên  đến Philippines, khẳng định Manila vẫn là “một ưu tiên” trong chính sách đối ngoại của chính quyền Trump ở khu vực; đề cao MDT vẫn nguyên giá trị, là cơ sở vững chắc để hai nước duy trì và thúc đẩy quan hệ đồng minh trong bối cảnh mới. Khi hội đàm với người đồng cấp Philippines Gilberto Teodoro, ông Pete Hegseth cho biết: “Cả ông ấy (Tổng thống D. Trump) và tôi đều muốn bày tỏ cam kết vững chắc đối với MDT, cũng như mối quan hệ đối tác trên cả phương diện kinh tế và quân sự”, đồng thời trấn an và khích lệ Philippines rằng: “Quan hệ đồng minh của chúng ta không chỉ tiếp tục đến hôm nay, mà còn được tăng cường. Liên minh vững chắc của chúng ta chưa bao giờ mạnh mẽ hơn như lúc này”. Còn về phía Philippines, Tổng thống Marcos Jr cho biết, chuyến thăm của ông Pete Hegseth là sự kiện “gửi đi thông điệp rất mạnh mẽ về cam kết của hai nước chúng ta trong việc tiếp tục hợp tác để duy trì hòa bình ở Biển Đông và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Không chỉ có thế, lãnh đạo của hai quốc gia này còn thông qua chuyến thăm để gửi thông điệp đến các nước và khu vực rằng, quan hệ đồng minh Mỹ – Phi dù có “sóng gió” thế nào đi nữa cũng không hề “lay chuyển”, MDT là cơ sở để hai bên duy trì và nâng cấp mối quan hệ đồng minh hơn 70 năm qua; Philippines là quốc gia có vị trí địa chiến lược rất quan trọng trong chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ. Đặc biệt, quốc đảo này nằm trong khu vực Biển Đông và gần kề eo biển Đài Loan, có giá trị chiến lược cho Mỹ trong việc kiềm chế Trung Quốc. Trong khi hệ thống đồng minh cùng các căn cứ quân sự trải rộng khắp các châu lục và đại dương là “tài sản chiến lược vô giá” để Mỹ duy trì vị thế “siêu cường” thế giới. Do đó, Mỹ không thể “sao nhãng”, mà ngược lại sẽ tìm cách “làm mới” hệ thống đồng minh này, nhất là với liên minh Mỹ – Phi dưới thời Tổng thống D. Trump nhiệm kỳ 2.

Thứ hai, trên cơ sở MDT, Mỹ đảm bảo rằng, sẽ sát cánh hơn nữa cùng với Philippines và các đồng minh để đối phó với các thách thức an ninh ở khu vực

Phân tích về vấn đề này, Tiến sỹ Satoru Nagao – Viện Nghiên cứu Hudson/Mỹ, cho rằng: “…Để ngăn chặn Bắc Kinh, ông D. Trump phải tăng cường sức mạnh với các đồng minh trong khu vực. Mỹ sẽ không rút đi, bởi điều đó sẽ tạo ra khoảng trống”. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng mở rộng hiện diện quân sự nhiều hơn ở Biển Đông, đe dọa nghiêm trọng chủ quyền của Philippines, nên thông qua chuyến thăm của Bộ trưởng Pete Hegseth, Mỹ tiếp tục gửi tín hiệu mạnh mẽ rằng, sẽ hỗ trợ Philippines duy trì tự do hàng hải và ngăn chặn, răn đe đối với các hành vi hung hăng của Trung Quốc ở vùng biển này. Phát biểu trong hội đàm với người đồng cấp Gilberto Teodoro và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, ông Pete Hegseth khẳng định: “Răn đe là điều cần thiết trên toàn thế giới, nhất là tại khu vực này, tại quốc gia của các bạn, khi xét đến những mối đe dọa đến từ Trung Quốc”.

Rõ ràng, chuyến thăm không chỉ là sự kiện ngoại giao đánh dấu mối quan hệ đồng minh thân thiết Mỹ – Phi, mà còn là biểu hiện cụ thể về hành động và bước đi của chính sách “duy trì hòa bình thông qua sức mạnh” và “không nhượng bộ” trước các đối thủ chiến lược, đặc biệt là đối với Trung Quốc của chính quyền D. Trump nhiệm kỳ 2. Theo Bộ trưởng Pete Hegseth: “Tổng thống D. Trump đang tìm kiếm hòa bình… nhưng để mang lại hòa bình đó, chúng tôi sẽ mạnh mẽ”, đồng thời ông nhấn mạnh: “Có rất nhiều quốc gia trong quá khứ đã cố gắng thử thách quyết tâm của Mỹ. Và ngay lúc này, tại thời khắc này, chúng tôi sẽ thực hiện quyết tâm này, sẽ thúc đẩy hợp tác với các đối tác của mình, tái thiết tinh thần chiến binh, xây dựng lại quân đội và tái thiết khả năng răn đe, đồng thời sát cánh cùng các đồng minh và đối tác của chúng tôi, mà trước hết và quan trọng nhất là trong khu vực này”.

Có lẽ, nhận rõ được những mục đích, ý định và mối nguy tiềm ẩn sẽ đến từ chuyến thăm này của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, nên Trung Quốc ngay lập tức đã có sự phản ứng mạnh mẽ, coi đây là “một động thái khiêu khích” đe dọa đến hòa bình, ổn định ở khu vực. Ngay trước và trong thời gian diễn ra chuyến thăm của ông Pete Hegseth, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đưa ra cảnh báo tới Philippines rằng “không có gì tốt đẹp sẽ đến từ việc mở cửa cho một kẻ săn mồi” (ám chỉ Mỹ), đồng thời cáo buộc Mỹ “liên tục củng cố các triển khai quân sự trong khu vực” nhằm “phá hoại hòa bình và ổn định”. Bắc Kinh kêu gọi Philippines “ngừng làm con rối cho các nước khác” và không nên thực hiện các hành động “phục vụ lợi ích chính trị cá nhân”. Cùng với phản ứng của Bộ Ngoại giao, Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngô Khiêm cũng cảnh báo, hợp tác quân sự giữa Mỹ và Philippines “không được làm tổn hại đến lợi ích an ninh của các nước khác”; nhấn mạnh, bất kỳ sự tăng cường nào trong liên minh Mỹ – Phi, đặc biệt ở Biển Đông, đều bị coi là hành động “can thiệp từ các nước bên ngoài” vào vấn đề mà Trung Quốc cho là “thuộc chủ quyền của mình”. Phát biểu trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm 27/3/2025, ông Ngô Khiêm cũng không quên “nhắc nhở” lãnh đạo Philippines rằng: “Trong suốt lịch sử, Mỹ đã có một hồ sơ đáng kinh ngạc về việc phá vỡ lời hứa và quay lưng lại với đồng minh của mình”.

Trên thực tế, ngay trước thềm chuyến thăm của ông Pete Hegseth, Trung Quốc đã triển khai máy bay ném bom chiến lược tầm xa H-6 gần bãi cạn Scarborough – khu vực tranh chấp với Philippines. Đây được xem là hành động phô trương sức mạnh nhằm gửi thông điệp răn đe không chỉ đến Philippines mà còn đến Mỹ, trong bối cảnh Mỹ cam kết triển khai thêm các hệ thống quân sự tiên tiến như tên lửa Typhon tại Philippines.

Thứ ba, hợp tác quốc phòng – an ninh giữa Mỹ với Philippines sẽ được tăng cường

Trong chuyến thăm, Bộ trưởng Pete Hegseth và Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro Jr đã ra tuyên bố chung, vạch ra các kế hoạch cụ thể để tăng cường hợp tác quốc phòng – an ninh trong tương lai. Kế hoạch này bao gồm việc triển khai các khí tài tiên tiến hơn của Mỹ tới Philippines, như hệ thống đánh chặn tàu viễn chinh hải quân của thủy quân lục chiến Mỹ (NMESIS) và các tàu mặt nước không người lái hiện đại. Hai bên nhất trí tiến hành các cuộc tập trận chung với các hệ thống này để tăng cường khả năng tương tác và răn đe; mở rộng các cuộc tập trận chung, trao đổi thông tin tình báo và chia sẻ công nghệ; tăng cường hợp tác an ninh, bao gồm chống khủng bố, chống buôn lậu, bảo vệ môi trường biển. Đối với gói viện trợ quân sự trị giá 500 triệu USD cho Philippines được chính quyền Tổng thống J. Biden phê duyệt vào tháng 7/2024 nhưng chỉ mới giải ngân được 336 triệu USD, chính quyền D. Trump quyết định khôi phục hoàn toàn gói viện trợ này. Hành động này tiếp tục thể hiện sự ủng hộ “nhiệt thành” của chính quyền D. Trump hiện nay đối với quốc gia đồng minh ở Đông Nam Á; ngược lại cũng cho thấy, Philippines đã đáp ứng được các điều kiện cụ thể mà Mỹ đưa ra trong gói viện trợ quân sự này. Chuyến thăm cũng là bước chuẩn bị cho cuộc tập trận thường niên Balikatan năm 2025, mà dự kiến, hệ thống tên lửa NMESIS sẽ được đưa vào sử dụng. Ngoài ra, hai bên cũng nhất trí hợp tác để giảm thiểu các lỗ hổng an ninh mạng và tăng cường khả năng phục hồi trên toàn liên minh. Theo đó, trong thời gian tới, một chiến dịch an ninh mạng song phương sẽ được triển khai, trong đó tập trung vào ba lĩnh vực chính: thiết lập mạng lưới phòng thủ an toàn, phát triển lực lượng lao động an ninh mạng có năng lực và tăng cường hợp tác tác chiến hiện đại.

Đáng chú ý, ngay sau chuyến thăm của Bộ trưởng Pete Hegseth, ngày 02/4/2025, Bộ Ngoại giao Mỹ đã thông qua thương vụ bán 20 chiếc máy bay chiến đấu F-16 và các thiết bị liên quan cho Philippines, tổng giá trị 5,58 tỉ USD. Đánh giá thương vụ này, Tiến sỹ Satoru Nagao phân tích: Hơn 10 năm trước, Philippines từng đề nghị Mỹ cung cấp chiến đấu cơ F-16, nhưng Washington từ chối. Giờ đây, việc Mỹ đồng ý bán 20 máy bay chiến đấu F-16 cho Philippines, chứng tỏ: 1/ Mỹ đã quyết định tăng cường năng lực phòng thủ quân sự cho Philippines. Trong quá khứ, khi xác định các năng lực mà đồng minh và đối tác cần sở hữu, thì Mỹ đáp ứng. Vào những năm 1980, khi tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo hạt nhân của Liên Xô hoạt động ở biển Okhotsk, gần đảo Hokkaido của Nhật Bản, Washington đã cung cấp cho Tokyo các khí tài chống tàu ngầm mới nhất, như máy bay tuần tra và trực thăng để theo dõi tàu ngầm Liên Xô hoạt động giữa vùng Vladivostok với biển Okhotsk. Gần đây, trong các thỏa thuận cung cấp vũ khí cho Ấn Độ, Mỹ tập trung vào khí tài tăng cường khả năng tấn công ở khu vực biên giới Ấn – Trung và khí tài chống tàu ngầm ở Ấn Độ Dương. Trường hợp của Philippines lần này là chiến đấu cơ F-16 và các hệ thống phóng tên lửa Typhon. 2/ Chiến đấu cơ F-16 có tốc độ cao nên có thể xâm nhập bất kỳ khu vực nào ở Biển Đông. Giữa bối cảnh Trung Quốc đang tăng cường hoạt động ở Biển Đông để phục vụ tham vọng “chủ quyền” thì các lực lượng nước này có thể sẽ bị đe dọa bởi F-16 nếu Philippines sở hữu loại chiến đấu cơ này. Ngoài ra, F-16 có thể ném bom bất kỳ nơi nào, bao gồm các thành phố ven biển và các căn cứ hải quân trên đảo Hải Nam của Trung Quốc. Hiện tại, Philippines chỉ sở hữu máy bay chiến đấu hạng nhẹ FA-50, nên cần cải thiện sức mạnh không quân. Cùng với hệ thống tên lửa Typhon đã có, giờ đây có thêm máy bay chiến đấu F-16, cho thấy khả năng tấn công của Philippines sẽ được cải thiện rất mạnh mẽ. Không có gì là ngạc nhiên khi trong một thông cáo của mình, Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rằng, thương vụ này sẽ thúc đẩy “năng lực của Không quân Philippines trong nhận thức về lĩnh vực hàng hải” và “nâng cao khả năng khống chế hệ thống phòng không của đối phương”. Phản ứng về thương vụ trên, ngày 02/4/2025, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Quách Gia Côn cảnh báo, “hợp tác quốc phòng và an ninh của Philippines với các nước khác không nên nhắm vào bất kỳ bên thứ ba nào hoặc gây tổn hại đến lợi ích của bên thứ ba”.

Thứ tư, Mỹ bắt đầu chuyển sự quan tâm từ tập trung cho châu Âu sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó Philippines là điểm đến đầu tiên

Việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth chọn Philippines là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến công du đầu tiên tới châu Á không những thể hiện vị trí, vai trò của Philippines đối với các chiến lược của Mỹ ở khu vực, mà còn để lộ một một chủ ý khác của Mỹ, đó là, Mỹ bắt đầu có sự điều chỉnh chiến lược quân sự và an ninh: từ tập trung và ưu tiên cho khu vực châu Âu sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó điểm đến đầu tiên là đồng minh hiệp ước Philippines. NATO, EU và Ukraine không những không được Mỹ coi trọng và “ưu tiên hàng đầu” như trước đây nữa, thậm chí còn bị chính quyền mới ở Mỹ sẵn sàng bất chấp và “gạt ra rìa” trong quá trình Mỹ chủ động xích lại gần Nga, cải thiện quan hệ với Nga và cùng Nga hướng tới những thoả thuận thông qua giải pháp chính trị nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh ở Ukraine. Tuy nhiên, do vốn là con người thực dụng, ông D. Trump đang hành động theo phương châm “Nước Mỹ trên hết”, “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, do đó sự chuyển hướng chiến lược lần này của chính quyền mới ở Mỹ sẽ có hai nét nổi bật: 1/ Mỹ sẽ hối thúc và “gò ép” các đồng minh chiến lược, truyền thống xưa nay của Mỹ tăng ngân sách quốc phòng và quân sự, tăng cường vũ trang để có thể tự đối phó với các thách thức và mối đe doạ an ninh, cùng “chia sẻ” và giảm bớt “gánh nặng” với Mỹ. 2/ Mỹ sẽ tập trung nhiều hơn vào việc đối phó với Trung Quốc và bảo vệ Đài Loan nói chung, cũng như đối phó với Trung Quốc ở khu vực Biển Đông nói riêng. Muốn thực hiện điều này, Mỹ rất cần những đồng minh chiến lược trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là Philipines, Nhật Bản và Hàn Quốc. Có thể nói, trong bối cảnh địa chính trị thế giới thay đổi chóng mặt như hiện nay, Philippines tuy cách Mỹ rất xa về địa lý, nhưng lại rất “gần” về chiến lược và đang được Mỹ đề cao khi người đứng đầu Lầu Năm Góc chọn làm điểm đến đầu tiên trong chuyến công du châu Á. Mặc dù chuyến thăm Philippines của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ không thật “ầm ĩ”, cũng chẳng đánh dấu cho một sự “đột phá” lớn nào trong quan hệ hai nước, thậm chí còn có phần “im ắng” hơn so với những sự kiện quốc tế xảy ra cùng thời gian, nhưng những cam kết “sắt đá” trong hợp tác quốc phòng với Philippines được ông Pete Hegseth đưa ra sẽ giúp Mania nâng cao khả năng phòng thủ và sự tự tin hơn trong duy trì bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông. Chuyến thăm không những là chỉ dấu “đánh động” với thế giới rằng, Mỹ chưa từng và chưa bao giờ “lãng quên” Châu Á – Thái Bình Dương, mà còn là dấu hiệu về sự chuyển hướng ưu tiên của chính quyền D. Trump 2.0 sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, phù hợp với trọng tâm chiến lược mà mấy đời tổng thống Mỹ gần đây xác định và cũng phù hợp với ưu tiên bảo vệ Philippines, Đài Loan và đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông – một chính sách mà Bộ trưởng Pete Hegseth đã đề cập trong ngày ông nhậm chức.

]]>
Những dấu hiệu thể hiện chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 tiếp tục hậu thuẫn cho Philippines ở Biển Đông https://biendong.net/2025/04/03/nhung-dau-hieu-the-hien-chinh-quyen-trump-nhiem-ky-2-tiep-tuc-hau-thuan-cho-philippines-o-bien-dong/ Thu, 03 Apr 2025 13:08:51 +0000 https://biendong.net/?p=148483 Sau khi nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ 2 hôm 20/1/2025, chính quyền của ông Donald Trump phải tập trung vào thúc đẩy cuộc đàm phán hòa bình giữa Nga và Ukraine cũng như giải quyết xung đột Trung Đông nên chưa có những bước đi cụ thể trong việc thúc đẩy chiến lược ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Sau khi nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ 2 hôm 20/1/2025, chính quyền của ông Donald Trump phải tập trung vào thúc đẩy cuộc đàm phán hòa bình giữa Nga và Ukraine cũng như giải quyết xung đột Trung Đông nên chưa có những bước đi cụ thể trong việc thúc đẩy chiến lược ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio

Hai ngày sau Lễ nhậm chức, ngày 22/1/2025, Tân Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã có cuộc điện đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Enrique Manalo thảo luận về “các hành động nguy hiểm và gây bất ổn của Trung Quốc ở Biển Đông” và nhấn mạnh với Manila về cam kết quốc phòng “vững như bàn thạch” của Washington. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh tại cuộc điện đàm “Ngoại trưởng Rubio đã nêu ý kiến rằng hành vi (của Trung Quốc) làm suy yếu hòa bình và ổn định trong khu vực và không phù hợp với luật pháp quốc tế”; ông Rubio “nhấn mạnh các cam kết sắt đá của Mỹ đối với Philippines” theo Hiệp ước phòng thủ chung của hai nước và thảo luận về các cách thức thúc đẩy hợp tác an ninh, mở rộng quan hệ kinh tế và tăng cường hợp tác khu vực.

Trong khi đó, tại cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị hôm 24/1/2025, bên cạnh việc khẳng định chính quyền của Tổng thống Trump sẽ tiếp tục “theo đuổi quan hệ Mỹ – Trung, nhằm thúc đẩy lợi ích của Mỹ, đặt người dân Mỹ lên hàng đầu”, Tân Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cũng “nhấn mạnh cam kết của Mỹ với các đồng minh trong khu vực”, và bày tỏ quan ngại trước các “hành động gây hấn của Trung Quốc ở Đài Loan và Biển Đông”.

Trước đó, phát biểu trong cuộc điều trần tại Thượng Viện Mỹ hôm 16/1/2025, tân Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã khẳng định “Trung Quốc là kẻ thù mạnh nhất và nguy hiểm nhất mà Mỹ phải đối đầu”. Đánh giá về phát biểu của tân Ngoại trưởng Mỹ, ngày 20/1, Đại sứ Philippines tại Mỹ Jose Manuel Romualdez cho rằng, nước Mỹ dưới thời chính quyền của ông Donald Trump tiếp tục ủng hộ Philippines trong vấn đề Biển Đông. Đại sứ Romualdez nhận định, sẽ không có thay đổi nào về chính sách khi nhiệm kỳ tổng thống Mỹ thay đổi, theo những điều mà tân Ngoại trưởng chức Marco Rubio tuyên bố trong phiên điều trần phê chuẩn. Theo đó, Mỹ sẽ tiếp tục ủng hộ Philippines và các quốc gia khác trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang phải đối mặt với những thách thức từ Trung Quốc.

Ngày 5/2/2025, tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth và Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro Jr đã có cuộc điện đàm chính thức đầu tiên để thảo luận về hợp tác quốc phòng song phương và tái lập khả năng răn đe ở Biển Đông. Trong cuộc điện đàm, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã tái khẳng định cam kết “không thể lay chuyển” của Washington đối với hiệp ước phòng thủ chung với Philippines. Thông cáo của Lầu Năm Góc về cuộc điện đàm nêu rõ “các nhà lãnh đạo đã thảo luận về tầm quan trọng của việc tái thiết lập răn đe ở Biển Đông” và nhu cầu tăng cường “năng lực và khả năng” của quân đội Philippines. Thông cáo cho biết ông Hegseth “tái khẳng định cam kết không thể lay chuyển của Mỹ đối với Hiệp ước Phòng thủ chung 1951 và tầm quan trọng của hiệp ước này trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương an toàn và thịnh vượng”.

Phát biểu tại cuộc họp quốc phòng ở Brussels – Bỉ hôm 12/2/2025, tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth xác định Trung Quốc là thách thức hàng đầu, mô tả nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới là “đối thủ cạnh tranh ngang hàng” có khả năng đe dọa lợi ích quốc gia của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ông Hegseth nhấn mạnh “thực tế chiến lược khắc nghiệt” đòi hỏi Washington phải tập trung vào việc bảo vệ biên giới của mình và chống lại các mối đe dọa từ Bắc Kinh. Ông cho biết: “Mỹ đang đối mặt những mối đe dọa nghiêm trọng đối với lãnh thổ. Chúng tôi phải và chúng tôi đang tập trung vào an ninh biên giới của chính mình”.

Bộ trưởng Hegseth kết luận: “Mỹ đang ưu tiên ngăn chặn đụng độ với Trung Quốc ở Thái Bình Dương, thừa nhận thực tế về sự thiếu hụt tài nguyên và thực hiện đánh đổi về nguồn lực để đảm bảo khả năng ngăn chặn không bị thất bại”. Sự cạnh tranh chiến lược giữa Washington và Bắc Kinh đã trở nên gay gắt hơn, khi cả hai bên đều mở rộng hiện diện quân sự và kinh tế ở Ấn Độ-Thái Bình Dương.

Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cũng nhấn mạnh lập trường này. Ông Rubio cáo buộc Trung Quốc gian lận, tấn công mạng… để đạt vị thế siêu cường toàn cầu bằng cách gây thiệt hại cho Mỹ. Ông Rubio cũng chỉ trích các chính sách trước đây của Mỹ cho phép các chuỗi cung ứng quan trọng chuyển sang Trung Quốc, cảnh báo rằng ngành sản xuất của Mỹ dễ bị tổn thương. Ông kêu gọi thực hiện các biện pháp mạnh mẽ hơn để hạn chế ảnh hưởng của Bắc Kinh ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và cả ngoài khu vực này.

Tại cuộc gặp hôm 15/2/2025 bên lề Hội nghị An ninh Munich lần thứ 61, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio và Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo để thảo luận về các sáng kiến thúc đẩy quan hệ song phương, một lần nữa đưa tranh chấp Biển Đông vào trung tâm của các cuộc thảo luận địa chính trị. Trong cuộc hội đàm, Ngoại trưởng Marco Rubio “không chỉ tái khẳng định cam kết của Mỹ về liên minh Mỹ – Philippines” mà còn nhấn mạnh thái độ “nhiệt tình tích cực của Mỹ trong việc xây dựng một mối quan hệ được đầu tư và bền vững hơn”. Theo bà Tammy Bruce – Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ, các cuộc thảo luận đặc biệt liên quan đến sự phối hợp song phương đang được tiến hành để đối phó với các hành động gây bất ổn của Trung Quốc ở Biển Đông; ngoài ra, Ngoại trưởng Rubio và Manalo cũng trao đổi về “tăng cường hợp tác kinh tế về cơ sở hạ tầng, các loại khoáng sản quan trọng, công nghệ thông tin và năng lượng, bao gồm cả thông qua hợp tác hạt nhân dân sự”. Giới quan sát nhận định, Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump nhiệm kỳ 2 đang tìm cách tăng cường hơn nữa mối quan hệ song phương bền vững với Philippines, không chỉ về an ninh mà cả về các lĩnh vực phát triển khác.

Sau hơn 1 tháng cầm quyền của Tổng thống Donald Trump, nhà ngoại giao hàng đầu của Philippines tại Mỹ, Đại sứ Jose Romualdez hôm 3/3/2025 bày tỏ tin tưởng rằng chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump sẽ tiếp tục tuần tra quân sự ở Biển Đông và tiến hành mở rộng sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Philippines theo thỏa thuận, trong bối cảnh lo ngại gia tăng về các hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc trong khu vực.

Đại sứ Jose Romualdez, người đã có các cuộc họp với các quan chức ngoại giao, quốc phòng và quốc hội của ông Trump, cho biết Mỹ có thể sẽ duy trì sự hỗ  trợ của mình để giúp hiện đại hóa quân đội Philippines, lực lượng đi đầu trong việc ngăn chặn sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Ông Romualdez cho biết cuộc gặp giữa ông Trump và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. tại Washington đang được sắp xếp và có thể diễn ra ngay khi lịch trình của cả hai nhà lãnh đạo cho phép, có thể là vào mùa xuân. Chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trên hết” của ông Trump và các động thái cắt giảm viện trợ phát triển và viện trợ an ninh của Washington trên toàn thế giới đã làm dấy lên lo ngại về quy mô và chiều sâu cam kết của Mỹ đối với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ mới của ông Donald Trump.

Trong các cuộc đàm phán gần đây giữa các quan chức quốc phòng và quân sự Philippines và các đối tác Mỹ của họ, cả hai bên đã tái khẳng định cam kết duy trì mối quan hệ bền chặt. Các cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Philippines đã bùng phát trong những năm gần đây ở Biển Đông – tuyến đường hàng hải huyết mạch của thế giới. Đại sứ Romualdez cho biết việc giúp Philippines chống lại các mối đe dọa đối với việc đi lại và bay qua vùng biển tranh chấp sẽ có lợi cho Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh và thân thiện khác, những quốc gia đang củng cố quan hệ quốc phòng với Manila. Ông Romualdez nhấn mạnh: “Chúng tôi đang đi đầu trong nỗ lực này để đảm bảo rằng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vẫn tự do và minh bạch”.

Những động thái nêu trên của tân Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng Mỹ cũng như của các quan chức Philippines là những dấu hiệu cho thấy chính quyền của Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục củng cố quan hệ đồng minh hiệp ước với Philippines và hậu thuẫn cho Manila trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông. Tuyên bố của Ngoại trưởng Rubio về việc củng cố liên minh Mỹ-Philippines để chống lại “các hành động gây bất ổn của Trung Quốc” đặt ra những câu hỏi quan trọng về động cơ của Washington trong khu vực.

Theo quan điểm chiến lược, động cơ của Mỹ trong việc khuyến khích sự quyết đoán của Philippines ở Biển Đông vượt ra ngoài an ninh khu vực. Khái niệm an ninh không phải là phổ quát. Nó khác nhau dựa trên lịch sử, ưu tiên địa chính trị và lợi ích quốc gia. Đối với Mỹ, an ninh gắn chặt với việc duy trì quyền bá chủ toàn cầu, ngăn chặn bất kỳ cường quốc nào thách thức quyền bá chủ của mình. Theo đó, một cường quốc đã được thiết lập cảm thấy buộc phải chống lại một kẻ thách thức đang trỗi dậy để duy trì trật tự toàn cầu hiện có.

Washington coi Biển Đông là điểm gây áp lực quan trọng để làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong cuộc cạnh tranh địa chiến lược ở khu vực, Mỹ muốn tăng cường sự hiện diện để kìm hãm Trung Quốc trong vòng chuỗi đảo thứ nhất, không cho phép Bắc Kinh rảnh tay vươn ra cả Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Theo quan điểm “Nước Mỹ trên hết”, các vùng biển trong khu vực đã trở thành một bàn cờ nơi ảnh hưởng của Mỹ được duy trì không nhất thiết là để bảo vệ các quốc gia nhỏ hơn mà là để bảo vệ lợi ích chiến lược của họ. Biển Đông đóng vai trò là hành lang quan trọng cho hoạt động thương mại của Trung Quốc và việc phá vỡ dòng chảy này có thể làm chậm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Người ta tin rằng vùng biển đang tranh chấp này có nhiều tài nguyên thiên nhiên mà Mỹ, hợp tác với các đồng minh trong khu vực, tìm cách tiếp cận và kiểm soát. Vị trí chiến lược của Philippines mang đến cho Washington một điểm thuận lợi để theo dõi các hoạt động của Trung Quốc, không chỉ là ở Biển Đông mà ở cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương rộng lớn hơn. Giới chuyên gia gần đây phân tích một trong những nguyên nhân khiến Mỹ chủ động khôi phục quan hệ với Nga và thúc đẩy nhanh chóng kết thúc cuộc chiến Nga-Ukraine là để tập trung đối phó với Trung Quốc. Điều này thể hiện rõ trong tuyên bố hôm 21/2/2025 của Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio, trong đó nhấn mạnh Mỹ là quốc gia Thái Bình Dương, nên sẽ không từ bỏ việc can dự vào các sự vụ của khu vực với tư cách của một cường quốc. Rõ ràng là chính quyền của Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 đã điều chỉnh lại trọng tâm của mình sang châu Á – Thái Bình Dương, xác định đây là sân khấu mới cho cuộc cạnh tranh quyền lực toàn cầu. Bằng cách chuyển các nguồn lực và sự chú ý ngoại giao của mình sang châu Á, Mỹ đặt mục tiêu làm chậm sự trỗi dậy của Trung Quốc và bảo vệ sự thống trị của chính mình trong các vấn đề toàn cầu. Từ góc nhìn này có thể thấy chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 không thể “lãng quên” Biển Đông hay “bỏ rơi” đồng minh Philippines mà sẽ tiếp tục sử dụng những “con bài” này để thực hiện chiến lược để chống lại Trung Quốc.

]]>
Tổng thống Trump tung “cây gậy và củ cà rốt” với Nga https://biendong.net/2025/03/10/tong-thong-trump-tung-cay-gay-va-cu-ca-rot-voi-nga/ Mon, 10 Mar 2025 15:29:42 +0000 https://biendong.net/?p=146279 Nhà Trắng tuyên bố Tổng thống Mỹ Donald Trump quyết tâm đưa các bên vào bàn đàm phán và sử dụng nhiều biện pháp để đạt được mục tiêu này.

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin

“Tổng thống Trump kiên quyết rằng chúng ta cần đưa các bên vào bàn đàm phán, và chúng ta có thể làm điều đó bằng cả cây gậy và củ cà rốt”, Giám đốc Hội đồng Kinh tế Quốc gia Mỹ Kevin Hassett nói với các phóng viên hôm 7/3.

Tuyên bố trên được đưa ra khi ông Hassett bình luận về phát biểu của Tổng thống Trump rằng Mỹ đang cân nhắc áp đặt lệnh trừng phạt và thuế đối với Nga, cho đến khi lệnh ngừng bắn được đảm bảo và đạt được thỏa thuận để giải quyết xung đột ở Ukraine.

Khi được hỏi liệu chính quyền Washington có tin rằng còn bất kỳ chủ thể nào ở Nga vẫn không bị ảnh hưởng bởi các lệnh trừng phạt của Mỹ hay không, ông Hassett cho biết vẫn còn rất nhiều chủ thể như vậy. Ông từ chối nêu tên các công ty có thể bị nhắm mục tiêu bởi các lệnh trừng phạt mới của Mỹ.

Đề cập đến Tổng thống Trump, ông Hassett nhấn mạnh nhà lãnh đạo Mỹ “có rất nhiều đề xuất tiềm năng mà ông có thể đưa ra để đưa các bên vào bàn đàm phán”.

Theo ông, Tổng thống Trump đang “làm mọi cách có thể để thuyết phục các bên ngồi vào bàn đàm phán”.

“Cách họ làm điều đó bằng củ cà rốt hay cây gậy đang được tiến hành”, ông nói thêm.

Hồi tháng 2, ông Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp kéo dài các biện pháp trừng phạt Nga thêm một năm do chiến dịch quân sự của Moscow ở Ukraine. Theo sắc lệnh, một số lệnh trừng phạt Nga sẽ kéo dài đến ngày 6/3/2026.

Đây vốn là các biện pháp được Mỹ áp đặt từ năm 2014 sau khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea. Kể từ đó đến nay, các biện pháp trừng phạt nhiều lần được gia hạn thông qua các sắc lệnh hành pháp.

Năm 2022, cựu Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng ra sắc lệnh gia hạn trừng phạt Nga sau khi Moscow sáp nhập 4 tỉnh của Ukraine gồm Donetsk, Lugansk, Kherson và Zaporizhia.

Vào ngày 25/2, ông Trump tuyên bố khả năng dỡ bỏ lệnh trừng phạt chống Nga có thể được xem xét trong tương lai, nhưng vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào về vấn đề này.

Vào ngày 26/2, ông Trump nói rõ rằng Washington đã chuẩn bị dỡ bỏ các hạn chế, nhưng chỉ sau khi xung đột Ukraine được giải quyết.

Vào ngày 7/3, Tổng thống Trump tuyên bố cân nhắc áp đặt lệnh trừng phạt đối với Nga cho đến khi đạt được lệnh ngừng bắn và thỏa thuận hòa bình với Ukraine.

“Dựa trên thực tế là Nga đang “giáng đòn” Ukraine trên chiến trường ngay lúc này, tôi đang nghiêm túc cân nhắc các lệnh trừng phạt quy mô lớn nhằm vào ngân hàng, lệnh cấm vận và thuế quan đối với Nga cho đến khi đạt được lệnh ngừng bắn và thỏa thuận hòa bình cuối cùng”, ông Trump nhấn mạnh.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent ngày 6/3 cũng xác nhận Nhà Trắng chuẩn bị đưa ra thêm các biện pháp trừng phạt đối với Nga nếu động thái này giúp giải quyết xung đột Ukraine.

Ông Bessent cho biết các biện pháp như vậy có thể được sử dụng làm đòn bẩy chống lại Moscow trong các cuộc đàm phán hòa bình.

Nga, một trong những nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới, phải chịu các lệnh trừng phạt rộng rãi do Mỹ và các đối tác áp đặt sau khi mở chiến dịch quân sự tại Ukraine vào tháng 2/2022. Các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Nga bao gồm các biện pháp nhằm hạn chế doanh thu từ dầu khí của nước này.

T.P

]]>
Hậu quả từ việc chính khách thích truyền hình thực tế https://biendong.net/2025/03/08/hau-qua-tu-viec-chinh-khach-thich-truyen-hinh-thuc-te/ Sat, 08 Mar 2025 11:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=146090 Cuộc khẩu chiến giữa Trump và Zelensky là lời nhắc nhở rằng ngoại giao quốc tế chưa bao giờ đòi hỏi phải được thực hiện trước mắt hàng tỷ người.

“Tôi có thể nói với anh rằng đây sẽ là chương trình truyền hình tuyệt vời.”

Đó có thể là những lời chân thực nhất mà Tổng thống Mỹ Donald Trump thốt ra trong cuộc gặp đầy kịch tính và hoàn toàn không có phép tắc ngoại giao với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky. Trump rất am hiểu về truyền hình. Xuất thân là một ngôi sao truyền hình thực tế, ông đã vạch ra con đường lên nắm quyền của mình với hiểu biết sâu sắc về cách giữ chân mọi người. Càng gây sốc, càng kỳ quặc, càng thô lỗ, càng chưa từng có thì tỷ suất người xem càng tăng. Trump ám ảnh với những điều này. Ông ấy nổi tiếng với việc gọi điện cho các giám đốc truyền hình sẵn sàng nghe máy, và thảo luận về số liệu mỗi sáng. Nếu tỷ suất người xem không tăng lên, ông sẽ thử một cách khác. Sau đó lặp lại quá trình. Tỷ suất người xem càng cao, tin tức càng nhiều, sự chú ý càng lớn. Sự chú ý là điều tối quan trọng.

Công thức này đã phát huy tác dụng trong chiến dịch tranh cử tổng thống đầu tiên vào năm 2015, tại một đất nước mà các chính trị gia luôn tìm cách thu hút sự chú ý và các kênh truyền hình cáp liên tục khai thác chu kỳ chính trị tiếp theo (một phần nhờ vào cơn sốt người xem và quảng cáo chính trị). Nó lại một lần nữa phát huy tác dụng vào năm 2024, chí ít là theo định nghĩa về thành công bầu cử, ngay cả khi video đã được chuyển sang màn hình nhỏ hơn với thời lượng ngắn hơn – một sự chuyển đổi mà Trump dường như cũng nhanh chóng nắm bắt thành thạo. Nhưng liệu chiến lược gây sốc có hiệu quả khi tổng thống đang tại nhiệm hay không? Các thước đo thành công là gì khi người ta không còn cần phải thắng cử nữa?

Trong tuần qua, Trump đã đẩy mạnh việc thu hút sự chú ý của báo chí – mà không cần phải tổ chức một chuyến công du hoặc một cuộc mít tinh lớn. Vào Thứ Hai, Thứ Năm, và sau đó là Thứ Sáu, ông lần lượt tiếp các nhà lãnh đạo của Pháp, Anh, và Ukraine tại Nhà Trắng, và mỗi lần đều đảm bảo rằng một cuộc thảo luận tự do sẽ được phát sóng trước các ống kính máy quay của thế giới. Thủ tướng Anh Keir Starmer trình một lá thư từ Vua Charles III mời ông đến thăm cấp nhà nước lần thứ hai? Đã xong. Thể hiện tình bạn với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron? Đã xong. Gây hấn với Zelensky? Đã xong. Vậy chúng là thành tích thực tế hay tiến triển ngoại giao? Còn tùy. Hãy theo dõi để biết thêm. Có lẽ sau giờ nghỉ quảng cáo. Đừng tắt máy.

Trong tất cả các cuộc họp được truyền hình trực tiếp của Trump trong tuần này, cuộc họp với Zelensky là gây sốc nhất. Sau khi CNN phát sóng đoạn băng ghi hình (trong thuật ngữ truyền hình gọi là ‘tape turn’, tức là phát lại bản ghi thay vì phát sóng trực tiếp), người dẫn chương trình quốc tế chính của đài Christiane Amanpour đã ôm mặt sững sờ. “Tôi chưa bao giờ thấy điều gì như thế này trong đời,” bà nói trong lúc vẫn còn cố gắng để hiểu những gì mình vừa xem. Hình ảnh đó cũng tương tự như một hình ảnh khác xuất hiện ở Nhà Trắng, của đại sứ Ukraine Oksana Markarova, người đã vận động hành lang tại Washington để kêu gọi Mỹ hỗ trợ kể từ khi Nga bắt đầu xâm lược đất nước của bà vào năm 2022: tay ôm đầu, lắc nhẹ như thể muốn hỏi “điều này có thực sự xảy ra không?”

Có lẽ câu hỏi đáng lo hơn là “Điều này sẽ có ý nghĩa gì đối với tương lai đất nước mình?”

Được rồi, với tư cách là một cựu nhà sản xuất truyền hình, tôi biết rằng tất cả những điều này chỉ là màn nhá hàng. Dưới đây là những gì đã xảy ra. (Bạn cũng nên đọc bản ghi chép những khoảnh khắc quan trọng của FP tại đây).

Mọi chuyện bắt đầu như thường lệ. “Tôi muốn xem liệu chúng ta có thể hoàn thành được việc này không,” Trump nói về một lệnh ngừng bắn và thỏa thuận hòa bình tiềm năng giữa Nga và Ukraine. “Ông muốn tôi cứng rắn ư? Tôi có thể cứng rắn hơn bất kỳ người nào ông từng thấy … nhưng ông sẽ không bao giờ đạt được thỏa thuận theo cách đó”.

Mọi thứ vẫn khá bình thường cho đến khi Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance lên tiếng. “Trong bốn năm qua, trên đất Mỹ, chúng ta đã có một vị tổng thống đứng lên trong các cuộc họp báo và tuyên bố cứng rắn về Vladimir Putin… Chúng ta đã thử con đường của Joe Biden, tức là tự vỗ ngực rồi giả vờ rằng lời nói của Tổng thống Mỹ quan trọng hơn hành động của Tổng thống Mỹ.” Zelensky được yêu cầu đáp lời. Nói bằng tiếng Anh – dù ông thường sử dụng phiên dịch viên – Tổng thống Ukraine đã mô tả cách Tổng thống Nga Vladimir Putin chiếm đóng nhiều vùng của đất nước ông kể từ năm 2014. “Chúng tôi đã có rất nhiều cuộc trò chuyện với ông ấy… ông ấy đã phá vỡ lệnh ngừng bắn. Ông ấy đã giết hại người dân của chúng tôi. … J.D., ông đang nói đến loại ngoại giao nào vậy?”

Tình hình bắt đầu chuyển biến xấu.

“Tôi đang nói về loại ngoại giao sẽ chấm dứt sự tàn phá đất nước của ông. Thưa Tổng thống, với tất cả sự tôn trọng, tôi nghĩ thật thiếu tôn trọng khi ông đến Phòng Bầu dục và dám nói những điều này trước truyền thông Mỹ,” Vance nói.

Zelensky bắt đầu hùng hổ. “Ông đã bao giờ đến Ukraine để xem chúng tôi phải đối mặt với những vấn đề gì chưa? Hãy đến thử một lần,” ông nói. Và sau đó, khi nói rằng hành động xâm lược của Putin diễn ra xa bờ biển Mỹ, ông tuyên bố: “Các vị có một đại dương đẹp và không thấy có bất kỳ rắc rối nào bây giờ. Nhưng các vị sẽ cảm thấy điều đó trong tương lai.”

Đến lúc đó, mọi thứ đã tuột dốc không phanh. Trump lại nhảy vào. “Đừng bảo chúng tôi phải cảm thấy gì,” ông nói. “Chúng tôi đang cố gắng giải quyết một vấn đề. Ông không ở vị trí để có thể ra lệnh rằng chúng tôi sẽ cảm thấy gì. Chúng tôi sẽ cảm thấy rất tốt. Chúng tôi sẽ cảm thấy rất tốt và rất mạnh.”

Trump sau đó bắt đầu lớn giọng. “Ngay lúc này, ông không ở trong một vị thế tốt. Ông đã để mình rơi vào một vị thế rất tệ. Ông không có quân bài nào trước chúng tôi cả. Ông đang đánh cược bằng mạng sống của hàng triệu người. Ông đang đánh cược bằng Thế chiến III. Ông đang đánh cược bằng Thế chiến III, và những gì ông đang làm là rất thiếu tôn trọng đất nước này, đất nước đã ủng hộ ông nhiều hơn những gì người khác nói rằng họ nên làm.”

Các đoạn clip sẽ nhanh chóng lan truyền. Bản ghi chép nội dung sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng. Và Trump, người luôn nhận thức được sự kịch tính của thời điểm này, đã viết trên tài khoản Truth Social của mình rằng, “Chúng tôi đã có một cuộc họp rất có ý nghĩa tại Nhà Trắng hôm nay. Nhiều điều đã được hé lộ, những điều mà nếu không trải qua cuộc trò chuyện căng thẳng và áp lực, ta sẽ không bao giờ hiểu được. Những gì được bộc lộ qua cảm xúc thật đáng kinh ngạc… [Zelensky] đã không tôn trọng Hợp Chúng Quốc Mỹ trong Phòng Bầu dục linh thiêng của chúng ta. Ông ta có thể quay lại khi đã sẵn sàng cho Hòa bình.”

Và thế là cuộc họp báo thứ hai, dự kiến là sau bữa trưa, đã không bao giờ diễn ra. Nhưng hãy theo dõi để biết thêm thông tin về chuyến thăm tiếp theo!

Các nhà lãnh đạo thế giới đã từng xem chương trình này trước đây. Nhiều người trong số họ hiểu được tình yêu của Trump dành cho máy quay, nhu cầu phải chiến thắng mọi thỏa thuận, cũng như niềm đam mê của ông dành cho các nghi lễ phô trương. Được hỗ trợ bởi Peter Mandelson, Đại sứ Anh tại Washington am hiểu truyền hình, Starmer đã đến cùng những lời tâng bốc, hoa mỹ, và một lá thư mời thăm cấp nhà nước, do đích thân Vua Charles III ký. Khi Trump tự hào khoe nó trước ống kính, Starmer đã nhắc khéo rằng Trump vẫn chưa chấp nhận lời mời – và Tổng thống Mỹ đã chấp nhận ngay lúc đó, vui vẻ diễn trò cho máy quay.

Sai lầm chí mạng của Zelensky, trong cuộc đấu khẩu đang lan truyền chóng mặt với Vance và Trump, là việc ông đã đảo ngược kịch bản. Điều này thậm chí còn khiến Vance tức giận vì “ông dám nói những điều này trước truyền thông Mỹ.” (Bỏ qua sự thật rằng chính Nhà Trắng đã mời truyền thông ngay từ đầu.) Zelensky đã quên rằng Trump muốn được đối xử không phải như một nhà lãnh đạo đồng cấp, mà là một quốc vương toàn quyền, nhằm thu hút sự chú ý của các máy quay. “Ông đã bao giờ nói lời cảm ơn chưa?” Vance đã nói tại một thời điểm trong cuộc họp. Đối với một cựu diễn viên hài đã quen với máy quay, thật kỳ lạ khi Zelensky lại hiểu sai kịch bản.

T.P

]]>
Liệu Nga có đủ sức gây biến động toàn cầu? https://biendong.net/2025/03/08/lieu-nga-co-du-suc-gay-bien-dong-toan-cau/ Sat, 08 Mar 2025 09:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=146089 Bất chấp sự ủng hộ của Trump, vẫn có giới hạn đối với các xung lực phá hoại của Moscow.

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump ủng hộ Nga dường như đang làm gia tăng mối đe dọa đã gây báo động ở các thủ đô phương Tây suốt năm qua: sự liên kết của một nhóm đối thủ đáng gờm, bao gồm Trung Quốc, Iran, Triều Tiên, và Nga, trong một “trục biến động” do Nga đứng đầu. Cả bốn nước đều theo chủ nghĩa xét lại, với ý định lật đổ trật tự toàn cầu mà họ cho là chống lại mình. Phương Tây lo ngại rằng, ngoài việc hỗ trợ kinh tế, quân sự, và chính trị cho nhau, các quốc gia này có thể phát động cuộc xung đột khiến phương Tây phải chật vật kiềm chế những tác động gây bất ổn.

Bằng cách tách mình khỏi các đồng minh phương Tây và tham gia đàm phán về cuộc chiến ở Ukraine, Washington đã gợi ý rằng một trong những mục tiêu của họ là gây chia rẽ giữa Nga và các đối tác. Nhưng kết quả đó là không thực tế. Nga hy vọng sẽ giành chiến thắng ở Ukraine, dù sớm hay muộn, có hay không có thỏa thuận với Mỹ. Do đó, họ không có lý do gì để cắt đứt quan hệ với các đối tác có giá trị chỉ để làm hài lòng Trump – và sẽ đặc biệt không muốn làm đảo lộn quan hệ đáng tin cậy với Bắc Kinh để theo đuổi quan hệ với Washington, vốn có thể chỉ kéo dài cho đến kỳ bầu cử tiếp theo của Mỹ. Nếu chính quyền Trump dỡ bỏ áp lực của Mỹ đối với Moscow, Nga sẽ vừa có quan hệ chặt chẽ hơn với các quốc gia theo chủ nghĩa xét lại khác, vừa có được mức độ khoan dung chưa từng thấy từ Washington đối với các chính sách đối ngoại mang tính phá hoại của nước này.

Nhưng ngay cả trong một môi trường tương đối dễ chịu, tham vọng gây biến động thế giới của Nga cũng có giới hạn. Những cuộc xung đột mới nổ ra không hẳn sẽ có lợi cho họ. Xét đến nguồn lực hữu hạn và mối bận tâm với Ukraine, khả năng Moscow có thể định hình kết quả theo hướng có lợi cho mình ở những nơi khác trên thế giới bị hạn chế rất nhiều. Chẳng hạn, gần đây, khi bạo lực lan rộng khắp Trung Đông, người Nga lúc đầu đã lạc quan rằng các hành động thù địch sẽ gây hại cho đối thủ của mình, nhưng cuộc xung đột đó cuối cùng lại làm suy yếu vị thế của Moscow vì nó phơi bày điểm yếu của một đối tác của Nga là Iran, rồi lên đến đỉnh điểm là sự sụp đổ của một đối tác khác, chế độ ở Syria. Sự phụ thuộc của Nga vào các đối tác khác ngoài Trung Quốc, Iran, và Triều Tiên cũng đã hạn chế khả năng gây rắc rối của nước này. Nhu cầu duy trì quan hệ ổn định với Ấn Độ và đặc biệt là Ả Rập Saudi đã làm dịu đi những xung lực hung hăng của họ, và mong muốn tránh làm phật lòng các quốc gia phương Nam toàn cầu của Moscow đã buộc họ phải tham gia các diễn đàn ngoại giao đa phương, như BRICS và Liên Hiệp Quốc, với sự thận trọng nhất định.

Những hạn chế này sẽ mạnh nhất chừng nào Nga còn tiếp tục tiến hành chiến tranh ở Ukraine, nhưng chúng cũng sẽ tồn tại dưới một hình thức nào đó sau khi đạt được thỏa thuận kết thúc cuộc chiến. Nếu họ đủ khả năng kiểm soát hậu quả của hành động can thiệp, Moscow có thể sẽ tin rằng lợi ích lớn hơn rủi ro. Nhưng khi sự can thiệp của họ có thể leo thang thành một cuộc xung đột toàn diện đòi hỏi sự tham gia của quân đội Nga, Moscow có lẽ sẽ kiềm chế hơn. Trên thực tế, điều này có nghĩa là Nga gần như chắc chắn sẽ đẩy mạnh các chiến dịch thông tin sai lệch và các hành vi phá hoại (như tấn công mạng và phá hoại cơ sở hạ tầng) ở châu Âu, nhận ra rằng mong muốn rút lui khỏi lục địa già của Mỹ là cơ hội làm xói mòn thêm sự gắn kết của NATO. Tuy nhiên, sự chần chừ của Nga đối với việc bị vướng mắc về quân sự sẽ ngăn cản nước này gây biến động trên Bán đảo Triều Tiên, Trung Đông, và thậm chí ở các quốc gia châu Phi nơi họ duy trì sự hiện diện về an ninh. Sau khi phải đối mặt với sự phản đối dành cho chương trình nghị sự xét lại của mình tại các diễn đàn đa phương, Moscow cũng có thể đánh giá lại chiến lược ngoại giao của mình, một phần dựa trên mức độ tàn phá mà chính Mỹ sẽ gây ra cho các thể chế đó.

Nga đã chấp nhận chơi đường dài, và họ hiểu rằng mình cần phải cân nhắc từng cuộc đối đầu, nhất là khi sự ủng hộ bất ngờ từ chính quyền Mỹ có thể chỉ là nhất thời hoặc đầy biến động. Để các quốc gia vẫn quyết tâm chống lại sự gián đoạn từ Nga có thể hành động hiệu quả trong kỷ nguyên mới đầy bất định này, họ cũng sẽ cần phải đánh giá cẩn thận nơi nào và khi nào nên tham gia cuộc chiến – bắt đầu với mặt trận châu Âu ngày càng nguy hiểm.

QUÁ NHIỀU HỖN LOẠN

Xung đột xảy ra đồng thời ở nhiều nơi trên thế giới thường được cho là có lợi cho các cường quốc xét lại và khiến phương Tây phải trả giá. Lý do là nhiều nước phương Tây vẫn phụ thuộc vào Mỹ để bảo vệ mình: Washington là người duy nhất gánh trên vai gánh nặng mở rộng khả năng răn đe hạt nhân và các hình thức đảm bảo an ninh khác cho các đồng minh và đối tác chủ yếu ở Châu Á và Châu Âu. Xét đến các cam kết nhiều tầng lớp của Mỹ, các nguồn lực chung của phương Tây có thể bị dàn mỏng nếu Mỹ bị kéo vào nhiều cuộc khủng hoảng cùng một lúc. Giờ đây, khi thiện chí giúp đỡ của Mỹ bị nghi ngờ, các đối tác của Mỹ có lẽ đang lo lắng hơn bao giờ hết về việc tăng cường phòng thủ trên nhiều mặt trận. Điều ít được chú ý hơn là thực tế rằng Nga và các đối tác của họ cũng đối mặt với những hạn chế của riêng mình, theo đó làm giảm hứng thú của họ đối với việc gây ra xung đột.

Hãy lấy làn sóng thù địch gần đây ở Trung Đông làm ví dụ. Sau khi Hamas tấn công Israel vào ngày 07/10/2023, Nga ban đầu đã hoan nghênh sự xao nhãng khỏi cuộc chiến ở Ukraine. Khi Israel bắt đầu chiến đấu ở Gaza, rồi sau đó bắt đầu tấn công lực lượng dân quân Hezbollah do Iran hậu thuẫn ở Lebanon và chống trả các cuộc tấn công từ cả Iran lẫn Houthi ở Yemen, Mỹ đã di chuyển các khẩu đội tên lửa Patriot và các loại vũ khí khác đến khu vực này. Washington cũng dành nhiều nỗ lực ngoại giao để thúc đẩy các cuộc đàm phán ngừng bắn ở Gaza và sau đó là Lebanon. Mặt khác, Moscow lại không làm gì nhiều để cố gắng xoa dịu những căng thẳng đang lan rộng. Dường như áp lực gia tăng mà các cuộc xung đột gây ra cho các hệ thống phòng không hữu hạn của phương Tây, cũng như sự phẫn nộ ngày càng tăng của phần còn lại của thế giới đối với thứ tiêu chuẩn kép mà họ nhận thấy trong phản ứng của phương Tây đối với các cuộc chiến ở Gaza và Ukraine, sẽ chỉ có lợi cho Nga.

Tuy nhiên, tình hình hỗn loạn ở Trung Đông đã chứng tỏ là quá dữ dội và quá khó lường khiến Moscow không thể dễ dàng tìm ra hướng đi có lợi cho mình. Chứng kiến đối tác Iran bị suy yếu do các cuộc đối đầu trực tiếp và ủy nhiệm với Israel, Nga đã không đưa ra bất kỳ sự hỗ trợ có ý nghĩa nào. Các cuộc tấn công của Iran vào Israel hồi tháng 4 và tháng 10 năm 2024 chỉ gây ra thiệt hại vật chất và thương vong tối thiểu, qua đó cho thấy khả năng tên lửa của nước này không đáng gờm như suy nghĩ trước đây. Các cuộc tấn công trả đũa của Israel, đặc biệt là cuộc tấn công vào tháng 10, đã làm suy yếu khả năng sản xuất tên lửa và phòng không của Iran. Chiến dịch của Israel chống lại Hezbollah cũng làm suy yếu sức mạnh của nhóm này, và vào đầu tháng 12, tình hình này đã giúp các lực lượng nổi dậy ở Syria lật đổ chế độ của Bashar al-Assad, một đồng minh của cả Moscow và Tehran.

Việc Assad bị lật đổ nói riêng đã phơi bày giới hạn của tham vọng của Nga và khả năng nước này định hình các sự kiện ở những nơi xa xôi. Trong những tháng ngay trước khi chế độ Syria sụp đổ, Moscow – bên đã duy trì sự hiện diện quân sự tại Syria kể từ năm 2015 – đã tăng cường tuần tra gần Cao nguyên Golan do Israel chiếm đóng ở phía tây nam, cũng như tăng cường các cuộc ném bom ở Tỉnh Idlib ở phía tây bắc để ngăn chặn phiến quân chống Assad hành động chống lại chế độ, đồng thời ngăn chặn Israel và Thổ Nhĩ Kỳ lợi dụng tình hình hỗn loạn để thúc đẩy mục tiêu của riêng họ ở Syria. Nhưng khi phiến quân bắt đầu cuộc tấn công chớp nhoáng vào cuối tháng 11, lực lượng Nga hầu như đã đứng sang một bên. Bận tâm với Ukraine, Điện Kremlin không có nguồn lực quân sự và cũng không muốn cứu đồng minh Syria của mình.

Cuối cùng, làn sóng xung đột gần đây ở Trung Đông đã làm xói mòn vị thế chiến lược của Nga. Moscow không thể hoặc không muốn can thiệp quyết liệt thay mặt cho các đối tác của mình trong khu vực, và kết quả là Nga đã mất đi ảnh hưởng ở đó. Thay vì hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động phá hoại, Nga và Iran đang tập trung vào các cuộc chiến của riêng mình, và do đó bị hạn chế, chí ít là trong ngắn hạn, về khả năng cung cấp hỗ trợ ở những nơi khác.

BẠN CỦA KẺ THÙ CỦA TÔI

Moscow cũng buộc phải cân bằng động lực phá hoại trong chính sách đối ngoại của mình với lợi ích của các đối tác không chấp nhận mục tiêu xét lại mà họ chia sẻ với Trung Quốc, Iran, và Triều Tiên. Những “nhà cải cách” này bao gồm các quốc gia phi phương Tây hùng mạnh muốn cập nhật các quy tắc quản trị toàn cầu nhưng vẫn muốn hệ thống quốc tế hiện tại hoạt động; nhóm này tìm kiếm quan hệ tốt với phương Tây và ưa thích sự ổn định hơn là sự biến động.

Đối với Nga, điều đặc biệt quan trọng là duy trì quan hệ tốt đẹp với Ấn Độ và Ả Rập Saudi. Ấn Độ là nước mua dầu lớn nhất và là nước cung cấp hàng hóa lưỡng dụng lớn thứ hai cho Nga – những mặt hàng có giá trị cho cả mục đích quân sự và thương mại – và hai nước cũng duy trì quan hệ quốc phòng-công nghiệp chặt chẽ. Trong khi đó, Ả Rập Saudi là bên đối thoại chính của Nga trong OPEC, tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường dầu mỏ toàn cầu. (Nga tham gia OPEC+, bao gồm các thành viên OPEC cùng nhiều nước sản xuất dầu khác.) Doanh thu từ dầu khí chiếm khoảng một phần ba ngân sách nhà nước của Nga và vì thế nó rất quan trọng đối với khả năng tiến hành chiến tranh ở Ukraine; Moscow khó có thể cầm cự nếu giá dầu giảm mạnh. Bản thân Ả Rập Saudi có thể không muốn giá dầu giảm, nhưng họ cũng có thể phải đối mặt với áp lực từ Mỹ: Trump đã gợi ý trong một bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới vào tháng 1 rằng ông có thể “yêu cầu Ả Rập Saudi và OPEC hạ giá dầu” để chiến tranh buộc phải chấm dứt. Nếu Điện Kremlin và giới lãnh đạo Ả Rập Saudi có thể duy trì quan hệ tốt đẹp, thì cả hai đều sẽ củng cố vị thế mặc cả của mình đối với Washington.

Thay vì hợp tác toàn diện với “trục biến động,” Nga đã điều chỉnh các chính sách của mình để tính đến quan ngại của các đối tác cải cách về các thành viên khác của trục. Chẳng hạn, khi Nga cân nhắc chuyển giao vũ khí cho Houthi do Iran hậu thuẫn vào mùa hè năm ngoái, Ả Rập Saudi – quốc gia xem Iran là đối thủ – đã gây sức ép buộc Moscow hủy bỏ kế hoạch. Hồi tháng 12, các phương tiện truyền thông đưa tin rằng Nga đang thảo luận về một thỏa thuận bán cho Ấn Độ hệ thống radar tiên tiến Voronezh, có thể giúp quân đội Ấn Độ giám sát không phận phía trên Trung Quốc, nơi có chung đường biên giới đang tranh chấp với Ấn Độ.

Đáp ứng các yêu cầu của phe cải cách cũng là điều cốt yếu để Nga thực hiện tham vọng trở thành một thế lực toàn cầu. Nga tuyên bố rằng mình đang dẫn dắt cái mà họ gọi là “đa số thế giới” trong nỗ lực vượt qua ảnh hưởng quá lớn của phương Tây trong các vấn đề toàn cầu. Trong thời gian Moscow giữ vai trò chủ tịch BRICS năm ngoái, các quan chức Nga đã tổ chức hàng trăm cuộc họp và nhóm làm việc xoay quanh nhiều vấn đề khác nhau, từ năng lượng hạt nhân đến y tế, để thúc đẩy chương trình nghị sự này. Tuy nhiên, Brazil và Ấn Độ đã phản đối các nỗ lực của Nga (và Trung Quốc) nhằm sử dụng BRICS để làm suy yếu phương Tây và các thể chế liên quan đến phương Tây. Ví dụ, khi phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh BRICS ở Nga vào tháng 10 năm ngoái, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã cảnh báo rằng khối này không nên tự xem mình là “một giải pháp thay thế cho các tổ chức toàn cầu.” Nga sau đó đã dịu giọng hơn tại hội nghị thượng đỉnh, với việc Tổng thống Vladimir Putin đưa ra lời đảm bảo rằng BRICS sẽ không trở thành một “liên minh chống phương Tây.”

Khả năng Nga sử dụng các tổ chức đa phương để gây bất ổn cũng vấp phải những hạn chế tương tự. Là một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Nga có thể phủ quyết các sáng kiến do các thành viên phương Tây đưa ra, và nước này đã ngày càng sẵn sàng làm như vậy kể từ năm 2022. Nhưng đôi khi, Moscow đã kiềm chế hành vi phá hoại của mình để tránh bị phản kháng. Tháng 6 năm ngoái, Nga đã không tham gia bỏ phiếu tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về kế hoạch ngừng bắn do Mỹ bảo trợ cho Gaza, vì nhận ra rằng các quốc gia Ả Rập ủng hộ kế hoạch này và sẽ tức giận nếu Nga phủ quyết. Tuy nhiên, Moscow đã không khéo léo được như vậy tại Hội nghị Thượng đỉnh về Tương lai của Liên Hiệp Quốc vào tháng 9, khi họ phải hứng chịu sự chỉ trích từ Mexico và một số quốc gia châu Phi khác. Lý do là vì các nhà ngoại giao Nga cố gắng làm chệch hướng thỏa thuận cuối cùng của hội nghị, được gọi là “Hiệp ước Vì Tương lai,” trong khi vẫn tuyên bố rằng mục đích của họ là bảo vệ “khát vọng của phương Nam toàn cầu” khỏi “phương Tây tập thể.” Hành vi gây gián đoạn của Nga đã phản tác dụng một cách ngoạn mục; chỉ có sáu nước khác ủng hộ động thái hoãn thông qua thỏa thuận, trong khi 143 nước bỏ phiếu chống và 15 nước bỏ phiếu trắng. Một Moscow tỉnh táo hơn có thể sẽ chọn cách hành xử thận trọng hơn trong các cuộc đàm phán đa phương trong tương lai.

BIẾN ĐỘNG CÓ KIỂM SOÁT

Được những đồng minh theo chủ nghĩa xét lại của mình hỗ trợ, Nga sẽ tiếp tục gây bất ổn toàn cầu. Nhưng không phải tất cả mọi biến động đều là biến động được mong muốn, vì vậy Moscow sẽ tập trung vào các cơ hội mà họ kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích chiến lược. Ở châu Âu, nơi Nga đã tấn công cơ sở hạ tầng dân sự và quân sự và can thiệp vào chính trị trong nước suốt nhiều năm qua, chiến lược của Điện Kremlin có thể đã tính đến các phản ứng dữ dội tiềm tàng nhắm vào mình. Tệ hơn, Moscow có thể xem những lời khiển trách thường xuyên của chính quyền Trump đối với các đồng minh châu Âu và việc chấp nhận các lực lượng phản tự do trên khắp lục địa là lời mời can thiệp nhiều hơn nữa. Các hoạt động của Nga – vốn được thiết kế để làm xói mòn dần dần sự thống nhất của châu Âu – sẽ không chỉ tiếp tục mà thậm chí còn gia tăng. Ở các quốc gia dễ bị tổn thương nằm giữa sườn phía đông của NATO và Nga, chẳng hạn như Moldova, Moscow cũng có thể nhìn thấy lợi ích khi gieo rắc hỗn loạn, được khuyến khích bởi sự thờ ơ rõ ràng của Washington đối với khu vực đó. Hồi tháng 1, Nga đã thử nghiệm bằng cách cắt nguồn cung khí đốt cho vùng lãnh thổ ly khai Transnistria, với hy vọng tạo ra một cuộc khủng hoảng cho chính quyền trung ương thân châu Âu của Moldova.

Nhưng ở những nơi khác trên thế giới, Nga có thể thấy ít lợi ích hơn khi gây ra rắc rối, vì họ cần phải cân nhắc cả những hạn chế về tài nguyên của mình lẫn sự khó lường của chính quyền Trump. Chẳng hạn, nếu Iran vượt qua ngưỡng hạt nhân, thì Israel (và nhiều khả năng là Mỹ) có thể sẽ đáp trả bằng hành động quân sự, dẫn đến một cuộc chiến có thể phơi bày sự bất lực của Nga – Moscow không thể và không muốn can thiệp vào việc phòng thủ của Iran, vì sẽ có nguy cơ đối đầu trực tiếp với Washington – đồng thời làm mất ổn định khu vực Caucasus rộng lớn hơn ở phía nam. Do đó, Moscow khó có thể giúp Tehran xây dựng kho vũ khí hạt nhân ở mức có thể hoạt động. Nga đã nâng cao quan hệ đối tác quốc phòng với cả Iran và Triều Tiên, nhưng họ không muốn bị lôi kéo vào các cuộc chiến của hai nước này – không phải trong lúc họ vẫn đang chiến đấu ở Ukraine, và có lẽ cũng không phải sau đó. Ở Dải Sahel, Nga cũng đã hiệu chỉnh lại vai trò quân sự của mình. Quân đoàn Châu Phi của Nga – lực lượng lính đánh thuê do nhà nước kiểm soát đã thay thế nhóm bán quân sự Wagner ở hầu hết các quốc gia mà nhóm này từng hoạt động – chỉ muốn tập trung vào việc huấn luyện quân đội địa phương thay vì tham gia vào các loại nhiệm vụ rủi ro cao mà lực lượng Wagner từng thực hiện. Moscow đang hướng tới việc thiết lập các quan hệ đối tác an ninh bổ sung ở Châu Phi, để từ đó tăng cường vị thế của Nga ở sườn phía nam của NATO. Nhưng xung đột leo thang có thể gây nguy hiểm cho mục tiêu này vì nó có thể đòi hỏi nhân lực và nguồn lực của Nga hơn mức Moscow sẵn sàng triển khai.

Nga có thể sẽ tiếp tục điều chỉnh lập trường của mình trong ngoại giao đa phương. Họ sẽ ủng hộ BRICS và các diễn đàn phi phương Tây khác, nhưng có lẽ sẽ làm dịu chương trình nghị sự chống phương Tây của mình để duy trì quan hệ tốt đẹp với Brazil, chủ tịch BRICS năm nay, và Ấn Độ, nơi Putin đang có kế hoạch đến thăm trong năm nay. Nga có thể chấp nhận rằng tiến trình về các vấn đề thực tế, chẳng hạn như tạo ra một hệ thống thanh toán toàn cầu tránh các tổ chức tài chính của Mỹ hoặc thiết lập các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế bằng tiền tệ địa phương, sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng để đảm bảo sự ủng hộ từ Brazil, Ấn Độ và các bên tham gia chính khác. Tuy nhiên, Moscow cũng có thể nhận ra họ đang ngày càng có nhiều quyền hạn hơn để phá hoại quản trị toàn cầu trong những năm tới, vì sự khinh thường công khai của Trump đối với chủ nghĩa đa phương khiến các hành động đơn phương của Nga có vẻ ít bất thường hơn. Và khuynh hướng liên kết với Nga của chính quyền Trump – đầu tuần này, Mỹ đã đứng về phía Nga trong hai cuộc bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc để đánh dấu kỷ niệm ba năm cuộc xâm lược Ukraine của Nga – có thể tạo cơ hội cho các nhà ngoại giao Nga khai thác những rạn nứt trong nội bộ phương Tây, nhưng vẫn cẩn trọng không gây hấn với Washington hoặc các đối tác cải cách của Nga.

CHỌN TRẬN CHIẾN CỦA RIÊNG MÌNH

Nga sẽ không đàm phán để từ bỏ mối liên kết với các cường quốc xét lại khác, vì vậy, châu Âu và các đối tác của mình cần giải quyết cách mà các quan hệ này làm phức tạp quyết định của họ về việc ưu tiên các mối đe dọa nào và cách phân bổ nguồn lực ra sao. Có nhiều điểm xung đột tiềm tàng. Nhưng việc cho rằng Nga đang gây hỗn loạn ở khắp mọi nơi và cùng một lúc là không chính xác và không hữu ích. Một chiến lược đối phó hiệu quả và bền vững phải nhận ra những hạn chế mà Moscow đang phải đối mặt và tập trung nỗ lực của phương Tây cho phù hợp.

Ở châu Âu, có khả năng cao là sự can thiệp của Nga sẽ leo thang. Các làn sóng đốt phá, ám sát, và thông tin sai lệch sắp tới cần được chú ý ngay lập tức. Các nước châu Âu không chỉ phải bắt Nga trả giá vì đã thực hiện các chiến dịch kết hợp bằng cách thắt chặt hệ thống lệnh trừng phạt; họ cũng cần phải có các công cụ để ứng phó với các cuộc tấn công mạng tương tự. Họ cũng phải chuẩn bị cho tình huống xấu hơn: Nga cuối cùng có thể sẽ sử dụng một lực lượng quân sự được tính toán cẩn thận để chống lại một thành viên NATO châu Âu, nếu họ nhận thấy liên minh này quá yếu về mặt quân sự và quá chia rẽ về mặt chính trị để có thể ứng phó hiệu quả. Dù các hoạt động của Nga ở châu Phi không phải là mối đe dọa trực tiếp đối với châu Âu, nhưng các nước châu Âu nên nỗ lực ngăn chặn việc củng cố sự hiện diện quân sự của Nga ở sườn phía nam của NATO. Đặc biệt, họ nên cố gắng cản trở kế hoạch của Nga nhằm di chuyển các cấu trúc hậu cần mà nước này đã thiết lập trước đó ở Syria sang Libya, nơi đóng vai trò là trung tâm mới cho các hoạt động của Quân đoàn Châu Phi. Những nỗ lực hiện tại nhằm cố gắng gây chia rẽ giữa Moscow và Chỉ huy Quân đội Quốc gia Libya, Khalifa Haftar, người kiểm soát các khu vực Libya có tài sản quân sự của Nga, chỉ đơn giản là không đủ. Châu Âu và các đối tác của mình cũng cần phải quay trở lại với công việc khó khăn và không mấy hấp dẫn là khuyến khích quản trị toàn diện ở Libya. Để hạn chế sự xâm nhập của Nga ở những nơi khác, họ nên cung cấp hợp tác an ninh cho các đối tác châu Phi hoặc, vì những hạn chế về nguồn lực của chính họ, nên khuyến khích các quốc gia đang có sự hiện diện ngày càng tăng trên lục địa này – như Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia vùng Vịnh – đóng một vai trò lớn hơn.

Ngoài châu Âu và châu Phi, mối đe dọa trực tiếp mà Nga gây ra cho phương Tây là có giới hạn, chí ít là trong hiện tại. Hợp tác quốc phòng của Nga với Trung Quốc, Iran, và Triều Tiên chắc chắn là một vấn đề vì nó sẽ tăng cường năng lực quân sự của cả bốn nước. Nhưng Nga không phải là nguồn gây bất ổn chính ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Tuy nhiên, châu Âu và Mỹ nên tiếp tục hợp tác chặt chẽ để thực thi các lệnh trừng phạt và kiểm soát xuất khẩu nhằm ngăn chặn Nga và các đối tác hợp tác phát triển các công nghệ cực kỳ nhạy cảm. Họ cũng phải tiếp tục hợp tác với các quốc gia có thể giúp ngăn chặn các hình thức hợp tác nguy hiểm – ví dụ, Ả Rập Saudi có thể ngăn Nga chuyển giao vũ khí tấn công tầm xa cho Iran hoặc Houthi. Việc xem xét khả năng Nga tham gia vào chiến tranh trên Bán đảo Triều Tiên hoặc Trung Đông không cấp thiết bằng. Ngoài ra, khả năng liên kết Trung-Nga dẫn đến các hình thức thông đồng cực đoan trong thời chiến, chẳng hạn như việc cả hai sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật trong các cuộc xung đột đồng thời, có vẻ là một viễn cảnh thậm chí còn xa vời và không thể xảy ra hơn, nhưng nếu những kịch bản như vậy xảy ra, hậu quả sẽ đủ thảm khốc để các nhà hoạch định quốc phòng phương Tây phải cân nhắc cách xử lý hành động xâm lược mang tính cơ hội như vậy.

Trong các thể chế đa phương, việc làm suy yếu sức mạnh của Nga đòi hỏi các nước phương Tây phải nỗ lực đáp ứng các yêu cầu chính đáng của các quốc gia phương Nam toàn cầu đang kêu gọi quản trị toàn cầu toàn diện hơn. Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đều có sự đại diện mất cân bằng cần phải được giải quyết, bất kể cải cách đó có khó khăn đến đâu. Sự xa lánh giữa các thành viên BRICS và G-7 chỉ khiến lời kêu gọi của Nga về một khối chống phương Tây thêm hấp dẫn, vì vậy việc ngăn chặn sự xa lánh sẽ là chìa khóa. G-20 có thể đóng vai trò là cầu nối giữa hai nhóm quốc gia – điều này khiến quyết định của chính quyền Trump về việc không tham dự cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao G-20 tại Nam Phi vào tuần trước càng trở nên nguy hiểm hơn. Chính quyền Mỹ đã rời khỏi một số cơ quan của Liên Hiệp Quốc và nếu sự thờ ơ của họ đối với chủ nghĩa đa phương bị kéo dài, các nước châu Âu và các nước cùng chí hướng như Australia, Canada, và Nhật Bản sẽ phải lấp đầy khoảng trống, cung cấp sự lãnh đạo chính trị, bù đắp sự thiếu hụt về nguồn lực, và hỗ trợ tổ chức. Nếu họ không hành động, Nga có thể nắm bắt cơ hội để làm xói mòn thêm sức hấp dẫn của các thể chế toàn cầu này.

Chính quyền Trump thứ hai tự nó cũng là nguồn gây ra biến động – trong quản trị toàn cầu, đối với châu Âu và nhiều đồng minh khác của Mỹ. Đối với Nga, sự tái định hướng của Mỹ mang lại một vài bất ổn, nhưng nhiều cơ hội hơn. Khả năng Nga lợi dụng sự bất ổn ở những khu vực xa xôi bị giới hạn về mặt cấu trúc, và điều này có khả năng sẽ tiếp diễn. Và nếu Trump, trong vai trò tổng thống, thỉnh thoảng lại áp đặt luật pháp và trật tự theo ý thích của mình, thì kết quả có thể không phải lúc nào cũng theo ý muốn của Nga. Nhưng sự rút lui rõ ràng của Trump về với tư duy “phạm vi ảnh hưởng” theo kiểu thế kỷ 19 cũng có thể trao cho Nga nhiều quyền hạn hơn để tăng cường can thiệp vào châu Âu – và châu Âu cùng các đối tác của mình phải được trang bị các đánh giá chính xác về cả các mục tiêu tiềm năng và giới hạn tiềm năng của các nỗ lực phá hoại của Moscow nếu họ muốn vượt qua tình hình biến động sắp tới.

T.P

]]>