Góc khuất Trung Hoa – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 17:35:16 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Dã tâm của TQ trong việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/02/da-tam-cua-tq-trong-viec-thanh-lap-khu-bao-ton-thien-nhien-o-bien-dong/ Thu, 02 Oct 2025 17:32:01 +0000 https://biendong.net/?p=161810 Trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh địa chiến lược tại Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, Trung Quốc đang tiếp tục triển khai nhiều biện pháp “ma giáo” và thâm hiểm nhằm củng cố yêu sách chủ quyền phi pháp trên Biển Đông của họ.

Một trong những động thái mới nhất là việc Trung Quốc công bố thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại bãi cạn Scarborough nằm ở phía đông Biển Đông, tức bãi cạn Hoàng Nham theo cách gọi của Trung Quốc, hay là bãi Panatag hoặc Bajo de Masinloc theo cách gọi của Philippines. Đây là hành động thách thức trực tiếp luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Phán quyết của Tòa Trọng tài về vụ kiện Biển Đông năm 2016 liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc. Xung quanh hành động trên của Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough, ẩn chứa nhiều tham vọng và dã tâm của Bắc Kinh. 

Bãi cạn Scarborough và hành động mới nhất của Trung Quốc tại đây

Bãi cạn Scarborough là một phần của Biển Đông, nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 220km và cách đảo Hải Nam thuộc Trung Quốc hơn 800km. Bãi cạn này là một dải nhiều rạn san hô và đá ngầm nối với nhau theo hình tam giác, với diện tích khoảng 150km2 bao quanh một đầm phá rộng bên trong. Nơi đây là ngư trường đánh bắt cá truyền thống lâu đời của ngư dân nhiều nước trong khu vực như Philippines, Việt Nam, Trung Quốc… Bãi cạn này có tầm quan trọng chiến lược với có giá trị kinh tế cao do xung quanh bãi cạn có rất nhiều loài hải sản sinh sống và có tiềm năng lớn về dầu khí. Riêng về quân sự, bãi cạn có vị trí án ngữ “cửa ngõ” phía tây của đảo Luzon, nằm ngay sát tuyến hàng hải quan trọng nối Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Bất cứ nước nào có quyền kiểm soát và tiến hành quân sự hóa bãi cạn này sẽ có quyền kiểm soát đối với “cứ điểm tiền tiêu” lợi hại khống chế hoàn toàn tuyến vận tải biển và hoạt động quân sự xung quanh Philippines. Hiện nay, bãi cạn Scarborough đang là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc. Phía Philipines khẳng định, họ có chủ quyền tại đây dựa trên nguyên tắc “gần gũi địa lý” cũng như “hành vi quản lý và lịch sử khai thác” lâu đời. Trong khi, Trung Quốc lại đưa bãi cạn nằm trong phạm vi “đường chín đoạn” phi pháp mà họ tuyên bố để rồi coi đây là “lãnh thổ cố hữu” của họ. Trước năm 2012, vùng biển xung quanh bãi cạn do ngư dân Philipines thường xuyên khai thác. Đến năm 2012, Trung Quốc đã huy động tàu hải cảnh và tàu dân quân biển gây sức ép, xua đuổi ngư dân, tàu cá và tàu vũ trang Philipines ra khỏi bãi cạn này rồi phong tỏa, chiếm cứ bãi cạn từ đó đến nay. Do đó, Philippines đã kiện Trung Quốc ra Toà trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Theo phán quyết của Toà trọng tài năm 2016, bãi cạn Scarborough là là cấu trúc luôn nổi nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng (tức là chỉ có 12 hải lý lãnh hải). Bãi cạn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines. Tuy nhiên, Trung Quốc duy trì lập trường không chấp nhận, không công nhận và không thực thi Phán quyết. Từ đó đến nay, giữa Trung Quốc và Philippines vẫn xảy ra nhiều vụ việc va chạm, tranh chấp căng thẳng tại vùng biển này. Hiện Trung Quốc vẫn đang kiểm soát thực tế bãi cạn, dù họ chưa triển khai hành động mở rộng, tôn tạo hay xây đảo nhân tạo như một số đảo khác tại quần đảo Trường Sa.  

Mặc dù vậy, ngày 10/9/2025 vừa qua, trang web chính thức của Chính phủ Trung Quốc đã đăng thông báo của Quốc vụ viện Trung Quốc về việc thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia tại đảo Hoàng Nham” trên Biển Đông. Cùng ngày, Tổng cục Lâm nghiệp và Đồng cỏ Quốc gia Trung Quốc cũng công bố thông tin chi tiết về quy mô, ranh giới và phân vùng của khu bảo tồn. Theo văn bản do cơ quan này công bố, Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia đảo Hoàng Nham nằm ở thành phố Tam Sa, tỉnh Hải Nam, miền Nam Trung Quốc, với diện tích 3.523,67ha. Khu vực này bao gồm vùng lõi rộng 1.242, 55ha và vùng thử nghiệm rộng 2.281, 12ha, với hệ sinh thái rạn san hô được liệt kê là mục tiêu bảo vệ chính. Ngày 11/9/2025, ông Lâm Khiết – Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn tuyên bố, “Đảo Hoàng Nham là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc. Việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia đảo Hoàng Nham hoàn toàn nằm trong chủ quyền của Trung Quốc và nhằm bảo vệ sự đa dạng, ổn định và bền vững của môi trường sinh thái tại đảo Hoàng Nham. Động thái này phù hợp với luật pháp trong nước của Trung Quốc và luật pháp quốc tế, đồng thời thể hiện đầy đủ ý thức trách nhiệm của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia lớn trong việc tích cực bảo vệ môi trường sinh thái và thúc đẩy phát triển bền vững”.  

Dã tâm của Trung Quốc và phản ứng của Philippines

Mới nghe qua thông tin về việc Trung Quốc thành lập “Khu Bảo tồn thiên nhiên” trên biển thì ai đó không hiểu chuyện sẽ cho rằng đây là hành động tích cực, đáng khen đối với Trung Quốc vì là một nước lớn đi đầu trong bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên. Nhưng với những người am hiểu Trung Quốc, am hiểu những gì đang xảy ra ở Biển Đông thì hoàn toàn khác. Bởi đó thực chất là hành động lấn chiếm và “hợp pháp hóa” chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông với những dã tâm thâm hiểm của Trung Quốc.

Trước hết, Trung Quốc muốn thông qua đây để khẳng định quyền quản lý hành chính của mình, để khẳng định bãi cạn Scarborough đương nhiên thuộc lãnh thổ Trung Quốc, bất chấp phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 và các quy định của UNCLOS 1982. Đồng thời, Trung Quốc mượn chiêu bài “bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học” để nguỵ tạo cơ sở pháp lý cho sự hiện diện và kiểm soát thực tế của lực lượng chức năng nước này, nhằm hiện thực hóa yêu sách chủ quyền phi pháp đối với bãi cạn Scarborough.   

Thứ hai, Bắc Kinh chủ động tạo dựng công cụ “ngoại giao mềm” bằng việc dùng vỏ bọc bảo vệ sinh thái biển để giảm thiểu sự chỉ trích từ cộng đồng quốc tế, tránh bị coi là hành vi “quân sự hóa” trắng trợn bãi cạn này. Cùng với việc lồng ghép luận điệu “Trung Quốc có trách nhiệm toàn cầu” trong bảo vệ môi trường, qua đó vừa đánh bóng hình ảnh quốc tế của mình, vừa né tránh sự chỉ trích về các hoạt động cưỡng ép trên biển.  

Thứ ba, nhằm hiện thực hóa ý đồ mở rộng và củng cố sự kiểm soát của Trung Quốc trên thực địa. Việc xác lập khu bảo tồn như trên cho phép Bắc Kinh sử dụng các lực lượng chức năng, kể cả lực lượng vũ trang, hạn chế các hành động đánh bắt thủy, hải sản, hoạt động nghiên cứu khoa học biển của ngư dân, tàu thuyền Philippines và các nước khác tại đây. Là bước đệm để họ tiến tới “cài đặt” thêm các cơ sở hạ tầng dân sự hoặc bán quân sự nhằm tăng cường sự hiện diện lâu dài trên bãi cạn.

Thứ tư, không chỉ “nhăm nhe” biến bãi cạn Scarborough vĩnh viễn thuộc quyền quản lý của mình, đây còn là phép thử phản ứng của của Philippines, ASEAN và cộng đồng quốc tế, và từ đó áp dụng mô hình tương tự ở đây cho nhiều cấu trúc khác ở các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, từ đó “xanh hóa” quá trình bành trướng.

Thứ năm, việc nghiễm nhiên kiểm soát được bãi cạn Scarborough sẽ cho phép Trung Quốc khống chế được “cửa ngõ” phía đông Biển Đông, khu vực sát sườn với Philippines, nơi kiểm soát hành lang giao thông vận tải biển. Trung Quốc sẽ biến bãi cạn thành một “điểm tựa” chiến lược, gia tăng “đòn bẩy” trong đối đầu với Mỹ tại khu vực và gây sức ép trực tiếp đến an ninh, an toàn của Philippines.

Đương nhiên, hành động của Trung Quốc đối với bãi cạn Scarborough không thể che mắt Chính quyền Philippines trong nhận thức về chủ quyền hợp pháp của mình và dã tâm thâm độc của Bắc Kinh. Manila đã có những phản ứng công khai và mạnh mẽ. Ngày 10/9/2025, Bộ Ngoại giao Philippines ngay lập tức đã ra tuyên bố phản đối các hành vi sai trái của Trung Quốc và khẳng định “Bãi cạn Scarborough nằm trong EEZ và Thềm lục địa của Philippines theo quy định của UNCLOS 1982. Tuyên bố và kế hoạch của Trung Quốc đối với bãi cạn Scarborough là phi pháp, vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Philippines”. Việc này cũng đi ngược lại phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 vốn đã bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc, không công nhận Trung Quốc có tư cách gì đối với bãi cạn Scarborough. Philippines kêu gọi Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế và không tiến hành các hành động đơn phương làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông. Đồng thời, nhấn mạnh: “Philippines sẽ chính thức gửi công hàm phản đối hành động phi pháp này của Trung Quốc”.  

Tác động từ hành động phi pháp của Trung Quốc đối với khu vực và các nước

Biển Đông vốn không phải là vùng biển riêng của bất cứ nước nào, nên những động thái và hành động vừa qua của Trung Quốc đối với bãi cạn Scarborough tất yếu có tác động, ảnh hưởng lớn tới khu vực Đông Nam Á và các nước có liên quan. Theo đó:

Một là, việc Trung Quốc đơn phương thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại bãi cạn Scarborough trực tiếp làm gia tăng căng thẳng, đẩy tình hình trên Biển Đông thêm phức tạp. Đây rõ ràng là bước đi có tính toán, mang tính áp đặt, đi ngược lại tinh thần của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông – DOC, làm ảnh hưởng đến tiến trình đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông – COC.

Hai là, Trung Quốc lợi dụng vấn đề môi trường đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm để đưa ra chiêu bài “bảo vệ môi trường”, hòng “thu phục nhân tâm”, tác động đến một số nước ASEAN để lôi kéo, nhưng đồng thời cũng gây chia rẽ các nước và làm suy yếu sự thống nhất lập trường chung của cả Khối về vấn đề Biển Đông.

Ba là, đây là hành vi thách thức trực tiếp đối với UNCLOS 1982 và Phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016, đi ngược lại mọi nỗ lực duy trì một trật tự trên biển dựa trên luật lệ. Nếu không bị ngăn chặn, Trung Quốc có thể tiếp tục áp dụng bước đi tương tự tại các cấu trúc khác trên Biển Đông, thậm chí là cả ở những vùng biển khác ngoài Biển Đông.

Bốn là, sau khi thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại bãi cạn Scarborough, Bắc Kinh sẽ đưa ra lệnh cấm đánh bắt, cấm nghiên cứu khoa học trong khu vực bảo tồn nên không loại trừ nguy cơ dẫn đến những va chạm giữa lực lượng chấp pháp Trung Quốc với ngư dân Philippines, thậm chí là với cả tàu, thuyền của ngư dân các nước khác, gây bất ổn cho an ninh hàng hải tại khu vực. 

Năm là, hành động, việc làm của Trung Quốc gây ra nhiều tác động bất lợi, tiêu cực đối với các nước trong khu vực. Hệ quả tất yếu là các nước trong khu vực sẽ buộc phải chủ động, tự giác xích lại gần nhau, phối hợp chặt chẽ hơn với Philippines và các nước khác trong ASEAN, cũng như tranh thủ sự ủng hộ của các đối tác bên ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, EU… Rõ ra, Trung Quốc đã tự mình “đẩy” các nước trong khu vực đoàn kết bên nhau và tranh thủ các nước ngoài khu vực. Họ không thể “trách cứ” được ai.

Sáu là, sự việc trên không thể nằm ngoài tầm kiểm soát của các nước lớn trong và ngoài khu vực, nhất là Mỹ và các đồng minh. Do đó, hành động của Trung Quốc chẳng khác gì “múa rìu qua mắt thợ”. Mỹ và các nước trong các “tiểu liên minh” với Mỹ tại khu vực chắc chắn sẽ nhân đây có thêm động lực và lý do lôi kéo các nước ủng hộ họ hiện diện tại Biển Đông, can dự vào các vấn đề của khu vực nhằm “bảo trợ” các nước và ngăn chặn, kiềm chế hành động của Trung Quốc.  Có thể nói, việc Trung Quốc thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại bãi cạn Scarborough trên Biển Đông là bước đi chiến lược mang tính thực dụng và khôn khéo, nhằm nhiều mục đích khác nhau như hiện thực hóa tham vọng chủ quyền biển, đánh bóng hình ảnh quốc gia, tạo ra tiền lệ cho những hành động tiếp theo … Đây cũng là cách thức để Trung Quốc vừa hợp thức hóa được quyền kiểm soát biển trên thực tế, vừa giảm được sức ép chính trị, pháp lý trên trường quốc tế. Nếu các nước trong và ngoài khu vực có liên quan và cộng đồng quốc tế không có phản ứng về pháp lý, ngoại giao, kịp thời ngăn chặn dã tâm của Bắc Kinh thì họ sẽ dùng nhiều chiêu thức, thủ đoạn khác nhau, kết hợp với mô hình, cách làm này để hình thành một phương thức mới trong việc thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông trong thời gian tới.

]]>
Dân quân biển – “Đội quân ngầm” hết sức nguy hiểm của TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2024/10/30/dan-quan-bien-doi-quan-ngam-het-suc-nguy-hiem-cua-tq-o-bien-dong/ Wed, 30 Oct 2024 03:54:17 +0000 https://biendong.net/?p=140562 Trong những năm gần đây, nhiều tàu cá Trung Quốc đã xuất hiện ở Biển Đông có lúc lên tới vài trăm chiếc. Tàu Trung Quốc xuất hiện nhiều nhất là ở những thực thể như bãi Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa, khu vực Bãi Cỏ Mây, Bãi cạn Scarborough, Bãi Sa Bin….

Tuy nhiên, các tàu Trung Quốc không phải là tàu đánh cá thông thường, họ không đến đó để đánh cá mà để khiêu khích, gây sự. Các tàu này là một phần của lực lượng dân quân biển – một đội quân ngầm mà Bắc Kinh hiếm khi thừa nhận sự tồn tại. Từ lâu, lực lượng này đã được Trung Quốc sử dụng để hỗ trợ việc duy trì hoặc chiếm đóng các thực thể tranh chấp ở Biển Đông.

Lực lượng dân quân biển Trung Quốc đã tồn tại nhiều thập kỷ. Lực lượng này ngày càng được chuyên nghiệp hóa, trang bị tốt hơn và được quân sự hóa nhiều hơn dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình, người đã tiến hành cải tổ quân đội Trung Quốc kể từ khi lên nắm quyền năm 2012. Lực lượng dân quân biển Trung Quốc bao gồm 2 lực lượng chính: (i) đội tàu chuyên nghiệp gồm ít nhất 100 tàu chuyên dụng với vỏ bọc bên ngoài là tàu cá. Đội tàu này gồm nhiều tàu lớn với trang thiết bị quân sự tốt hơn. Trên các nền tảng theo dõi vệ tinh, đội tàu này thường được nhìn thấy đang vây quanh các địa điểm tranh chấp; (ii) đội tàu còn lại, được gọi là hạm đội tàu đánh cá xương sống Trường Sa (SBFV), là một nhóm lớn hơn gồm các tàu đánh cá thật hoạt động ngoài khơi các cảng trên khắp Hải Nam và Quảng Đông, và đã được đưa vào biên chế. Các tàu thuộc nhóm này khó phát hiện hơn do được trang bị các thiết bị phát tín hiệu vệ tinh yếu hoặc không có thiết bị phát tín hiệu nào.

Theo Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI), lực lượng dân quân biển chủ yếu được tài trợ thông qua các khoản trợ cấp khác nhau của chính phủ. Một số dân quân được hưởng lương toàn thời gian từ các công ty nhà nước. Thủy thủ đoàn SBFV cũng nhận được khoản trợ cấp nhiên liệu béo bở của chính phủ cho các nhiệm vụ dân quân, khiến họ không mặn mà với việc đánh bắt cá. Ông Ray Powell, Giám đốc SeaLight – một dự án minh bạch hàng hải tại Đại học Stanford, cho biết: “Những thủy thủ đoàn này có thể đánh bắt cá nếu họ muốn. Đôi lúc cũng có đánh bắt cá nhưng chủ yếu những người này chỉ neo đậu lặng lẽ và tập trung lại với nhau (ở các địa điểm tranh chấp). Đậu yên và không sử dụng nhiên liệu là cách tiết kiệm nhất”.

Một báo cáo điều tra năm 2021 của Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI) cho biết “không còn nghi ngờ gì nữa về việc lực lượng dân quân biển được tổ chức, tài trợ và điều hành bởi chính phủ Trung Quốc”. Báo cáo khẳng định Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với các hành động của dân quân biển, bởi những hành động này “vi phạm nhiều nguyên tắc của luật pháp quốc tế”. Chính phủ Trung Quốc hiếm khi thừa nhận các hoạt động của lực lượng dân quân biển, hoặc khẳng định đó chỉ là những tàu đánh cá đang hoạt động ở vùng biển mà nước này tuyên bố là “lãnh hải truyền thống” của Trung Quốc.

Theo Powell, Bắc Kinh khẳng định các hoạt động của Trung Quốc ở những nơi như Bãi Scarborough là hành vi “bảo vệ quyền lợi”, nhưng hiếm khi thừa nhận sự tham gia của lực lượng dân quân biển trong các hoạt động này. Trung Quốc cũng thừa nhận sự tồn tại của lực lượng dân quân biển, nhưng lại “giữ bí mật” về việc lực lượng này bao gồm những tàu nào.

Lực lượng dân quân biển hoạt động trên khắp khu vực, bao gồm vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia, Việt Nam và Malaysia, Philippines ở Biển Đông, Eo biển Đài Loan, Biển Hoa Đông và cả Biển Hoàng Hải. Các đội tàu thực hiện hành trình xâm nhập vào các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều nước, phong tỏa các bãi cạn và các đảo tranh chấp, đồng thời nhiều lần đâm va hoặc sử dụng vòi rồng tấn công các tàu khác, kể cả với tàu Hải quân Mỹ. Các tàu của lực lượng dân quân biển thường tập hợp lại để tạo nguy cơ va chạm và cản trở việc tiếp cận, hoặc đóng chốt tại một bãi cạn trong nhiều tháng, nhằm tăng cường sự hiện diện và kiểm soát thực tế của Trung Quốc trong khu vực.

Chuyên gia về Biển Đông Greg Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI) cho biết: “Đội tàu chuyên nghiệp là mối đe dọa trực tiếp, nhưng quy mô của đội tàu này nhỏ hơn. Đội tàu SBFV lớn hơn nhưng lại gây phiền toái. Họ chỉ thả neo. Chính phủ các nước phải tiếp cận hai đội tàu này theo những cách khác nhau. Một bên là mối đe dọa quân sự, và một bên thì gây phiền nhiễu – đây là vấn đề đối với việc thực thi pháp luật”.

Theo một số nguồn tin, có những chỉ đạo rõ ràng từ các quan chức liên quan đến “trách nhiệm chính trị” của dân quân biển, đó là hoạt động ở các khu vực cụ thể và hỗ trợ quân đội khi cần thiết. Nhiều thị trấn ở Trung Quốc phát triển đội tàu dân quân biển chuyên nghiệp nhận được sự khen ngợi từ chính phủ và thậm chí được Tập Cận Bình ghé thăm nhằm ghi nhận nỗ lực của họ. Điều này cho thấy rõ chính quyền Bắc Kinh chủ trương sử dụng lực lượng dân quân biển như một “đội quân ngầm” thúc đẩy các yêu sách của họ ở Biển Đông và các vùng biển xung quanh.

Giới phân tích nhận định nhằm đẩy mạnh chiến lược “vùng xám”, Bắc Kinh đang tích cực xây dựng một lực lượng dân quân biển mạnh có thể tạo thành xương sống trong thúc đẩy các yêu sách trên biển của Trung Quốc. Theo đó, lực lượng dân quân biển về cơ bản thực hiện 6 chức năng: 1) duy trì sự hiện diện của Bắc Kinh ở vùng biển xa; 2) giám sát, trinh sát trên biển; 3) hợp tác với các cơ quan thực thi pháp luật; 4) tìm kiếm và cứu hộ; 5) hỗ trợ công tác thu hồi đất; 6) hỗ trợ các hoạt động hải quân trong thời chiến. Một trong những mục đích của lực lượng dân quân biển là nhằm duy trì sự hiện diện thường xuyên thông qua các hoạt động đánh bắt cá. Và trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang quy mô lớn, lực lượng này có thể cung cấp thông tin tình báo quan trọng về đối thủ và “góp phần vào hoạt động tuần tra vành đai, cảnh báo… giao chiến và đánh đuổi kẻ thù”.

Trong một nghiên cứu năm 2021, Thôi Hạo Nhiên (Cui Haoran), chuyên gia luật hàng hải tại Đại học Luật Thượng Hải, cho biết theo luật pháp và các hoạt động thực thi luật hàng hải của Trung Quốc, dân quân biển được coi là một công cụ linh hoạt của chính sách khẩn cấp. Mặc dù dân quân biển về cơ bản là các tổ chức bán quân sự với mức độ tự chủ nhất định trong hoạt động, song phần lớn họ chỉ giới hạn ở vai trò là lực lượng phụ trợ cho hải quân và lực lượng hải cảnh. Ông Collin Koh, nhà nghiên cứu an ninh hàng hải tại Đại học Công nghệ Nanyang của Singapore, chỉ ra rằng lực lượng dân quân biển đã giúp củng cố các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển chiến lược và biến lực lượng này trở thành “những đối tượng phản ứng đầu tiên trong mọi tình huống trên biển”.

Dân quân biển cũng là lực lượng trinh sát có giá trị, mở rộng các kênh tình báo của hải quân Trung Quốc bằng khả năng trá hình, chiến thuật ngụy trang và hoạt động ở những khu vực nhạy cảm hoặc vùng mù radar không phù hợp với tàu chiến Trung Quốc. Theo chuyên gia Collin Koh, vì các tàu này được ngụy trang giống tàu cá, nên chúng có thể làm phức tạp các nỗ lực thực thi pháp luật của bất kỳ quốc gia nào nhằm ngăn chặn hành động của lực lượng dân quân biển này.

Các chuyên gia quân sự nhận định lực lượng dân quân biển có những lợi thế đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền – không chỉ tránh được những hậu quả tiêu cực về chính trị và ngoại giao do can dự quân sự, mà còn giúp tăng cường quyền kiểm soát lãnh thổ trên biển. Chuyên gia Koh cho biết, lực lượng dân quân biển cũng có một mạng lưới chỉ huy và liên lạc phức tạp, vốn rất cần để cảnh báo các tàu cá hiện diện sẵn ở khu vực có thể nhanh chóng qua mặt lực lượng tuần duyên của nước ngoài, gây khó khăn cho việc trục xuất các tàu của Trung Quốc.

Chuyên gia Thôi Hạo Nhiên từ Đại học Luật Thượng Hải cho rằng việc sử dụng thường xuyên hải quân và lực lượng hải cảnh có thể làm trầm trọng thêm những căng thẳng, thay vào đó việc sử dụng lực lượng dân quân biển có thể tránh được điều này. Theo chuyên gia từ Đại học Thượng Hải này, nếu hải quân hoặc lực lượng bảo vệ bờ biển của một quốc gia sử dụng các biện pháp cưỡng chế để trục xuất các tàu dân sự của nước ngoài, điều này thường dẫn đến các cuộc đối đầu giữa quân đội và dân thường, hoặc giữa lực lượng bảo vệ bờ biển và dân thường, những hành động có thể khơi dậy sự đồng cảm của quốc tế đối với “bên yếu thế hơn”. Ông cho rằng dân quân biển chỉ nên sử dụng vũ lực để bảo vệ quyền của họ như là giải pháp cuối cùng – để tự vệ hoặc ngăn chặn một cuộc đụng độ quân sự tiềm tàng. Ý kiến của ông Thôi Hạo Nhiện cho thấy Bắc Kinh có những tính toán rất kỹ khi sử dụng lực lượng dân quân biển để thúc đẩy các yêu sách phi lý ở Biển Đông.

Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Trước đó, một số tàu cá của Trung Quốc (thực chất là dân quân biển Trung Quốc hoạt động xung quanh các thực thể để khiêu khích. Dân quân biển Trung Quốc tiếp tục được sử dụng trong việc đánh chiếm 6 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988; đánh chiếm bãi Vành Khăn năm 1995 và kiểm soát Bãi cạn Scarborough năm 2012.

Năm 2013, vị thế của dân quân biển Trung Quốc đã được nâng cao hơn nữa khi nhà lãnh đạo Tập Cận Bình có chuyến thị sát tới Hải Nam để thăm đơn vị dân quân biển đóng tại cảng cá Đàm Môn (Tanmen). Lực lượng dân quân này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc “săn đuổi tàu cá nước ngoài”. Hiện lực lượng dân quân biển đang được Bắc Kinh sử dụng trong chiến thuật “vùng xám” ở Biển Đông, nhất là trong các hoạt động gây hấn đối với Philippines trong thời gian gần đây.

Nhiều nước phương Tây đã chỉ trích việc Bắc Kinh triển khai lực lượng dân quân biển để thúc đẩy các yêu sách trên biển và làm lực lượng đi đầu trong chiến lược “vùng xám” bởi các tàu này không gây ra xung đột quân sự trực tiếp, nhưng chúng vẫn tạo sức ảnh hưởng đến các quốc gia láng giềng cũng có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông. Mỹ, đồng minh hiệp ước của Philippines, đã nhiều lần cáo buộc lực lượng dân quân biển Trung Quốc vi phạm luật quốc tế thông qua việc “thực thi các yêu sách hàng hải rộng lớn và bất hợp pháp”. Philippines, mục tiêu của các hoạt động dân quân biển gần đây, tuyên bố “sẽ không bị ngăn cản và tiếp tục theo đuổi các hoạt động hợp pháp và chính đáng” trong vùng biển của nước này. Ông Greg Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á cho rằng Philippines đang phản kháng nhiều hơn so với trước đây. Nhà nghiên cứu này nói: “Về phía Philippines, họ không còn lựa chọn nào khác”.

Với những phân tích nói trên, có thể thấy dân quân biển là “đội quân ngầm” hết sức nguy hiểm và là một vũ khí hiểm độc của Trung Quốc ở Biển Đông. Các nước ven Biển Đông cũng đã nhận ra sư nguy hại của “đội quân ngầm” này nên kiên trì đấu tranh. Theo chuyên gia Greg Poling, Trung Quốc hiện không có bất kỳ phản ứng nào trước sự kháng cự của khu vực, thay vào đó Bắc Kinh đang “đẩy Philippines và các nước láng giềng khác tiến tới thành lập liên minh chống Trung Quốc”. Nhà nghiên cứu này lưu ý: “Trung Quốc từng sẵn sàng làm những điều điên rồ và các nước khác phải lùi bước. Nhưng giờ đây họ không như vậy nữa, và giống như một kẻ hay bắt nạt bạn bè trong trường học, Trung Quốc hiện không biết phải làm gì”. Các chuyên gia hàng hải cảnh báo Bắc Kinh sẽ tiếp tục triệt để tận dụng vai trò của lực lượng dân quân biển để hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của hải quân và lực lượng hải cảnh Trung Quốc. Bắc Kinh cũng được cho là sẽ tăng cường nỗ lực đưa hoạt động phối hợp của dân quân biển vào chiến lược quốc gia của Trung Quốc. Các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc sẽ gặp khó khăn trong đối phó với hạm đội dân quân biển của Trung Quốc. Chuyên gia Collin Koh từ Đại học Công nghệ Nanyang Singapore nhấn mạnh: “Ngay cả khi các quốc gia tranh chấp muốn huy động lực lượng như vậy, họ sẽ phải đầu tư rất lớn để xây dựng một lực lượng tương xứng với lực lượng của Trung Quốc về quy mô và tổ chức” và điều này là không khả thi.

]]>
Lên án hành động trái luật pháp của những người thực thi pháp luật TQ https://biendong.net/2024/10/10/len-an-hanh-dong-trai-luat-phap-cua-nhung-nguoi-thuc-thi-phap-luat-tq/ Thu, 10 Oct 2024 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=140166 Trong khi dư luận đang tập trung sự chú ý đến những căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông và nghĩ rằng Bắc Kinh đang nhẹ tay hơn với Việt Nam khi chưa thấy những va chạm lớn xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam thì xảy ra một vụ việc những người chức trách Trung Quốc có hành động man rợ đối với tàu cá và ngư dân Việt Nam ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, gây thương tích cho 10 ngư dân Việt Nam.

Vụ việc được ông Nguyễn Thanh Biên (40 tuổi), thuyền trưởng tàu cá QNg 95739 TS kể lại. Theo đó, lúc khoảng 6 giờ sáng ngày 29/9, ông Biên phát hiện con tàu mang số hiệu 301 trên máy định vị trên tàu. Khoảng một tiếng sau, tàu 301 tiếp cận và rượt đuổi tàu cá. Khi đến gần, tàu 301 thả hai chiếc ca nô xuống và chạy hai bên kẹp tàu cá ở giữa để cho người lên tàu nhưng không được. Các ngư dân trên tàu QNg 95739 TS tìm cách không cho lực lượng Trung Quốc đu lên, leo lên boong tàu.

Một lúc sau có thêm một tàu sắt khác mang số hiệu 101 tiếp cận, thả thêm một ca nô nữa, bao vây kẹp tàu cá vào giữa. Tàu 101 tiếp tục áp sát rồi quăng móc lên tàu cá QNg 95739 TS để cho người đu lên. Ông Biên thuật lại: “Lúc đó mấy anh em ở dưới tàu la lên là bọn Trung Quốc leo lên được rồi. Tôi cũng hoảng nên cho tàu chạy nhanh về phía trước”. Lúc bấy giờ là khoảng 9 giờ sáng.

Sau khi cho ba chiếc ca nô cặp vào tàu cá QNg 95739 TS, khoảng 40 người Trung Quốc leo lên tàu cá QNg 95739 TS, mỗi người cầm một cái dùi cui. Ông Biên kể lại “Chúng tôi vừa chạy thì chúng đánh từ đằng sau đánh tới, gặp đâu đánh đó. Chúng nhằm vào tôi là thuyền trưởng, hai thằng đánh vô lưng và vai làm tôi bất tỉnh. Trong khi tôi bất tỉnh nó đánh mấy anh em khác, một anh bị gãy tay là Huỳnh Tiến Công”.

Em của ông Biên là ngư dân Nguyễn Thương (34 tuổi) cùng đi trên tàu cá QNg 95739 TS bị đánh tới mức hở khớp tay kể rằng ông đã bị đánh bằng tuýp sắt dài cỡ một mét. Ông Biên cho biết: “Trên tàu có bốn người bị thương nặng, một người bị gãy tay. Bị thương mà không biết bị thương luôn. Người bị nặng nhất là anh Huỳnh Tiến Công, bị gãy cổ tay”. Ông Biên kể lại: “Tụi nó đánh dã man quá, tôi đưa tay lên đỡ. Biết không thể kháng cự nên anh em phải để cho chúng đánh đập. Sau khi tấn công xong, họ dồn tất cả ngư dân trên mũi tàu và dùng tấm bạt trùm kín mọi người lại”. “Lúc ông Biên bất tỉnh, một số ngư dân xin đưa ông Biên vô ca bin để làm hô hấp nhân tạo nhưng lực lượng Trung Quốc thoạt tiên không cho, sau một lúc mới cho”.

 Tới khoảng 13 giờ thì “lực lượng mặc đồ rằn ri” rời tàu chỉ để lại năm người và một thông dịch viên.  Ông Thương kể: “Lúc này thông dịch viên nói cho tàu chạy về Việt Nam. Khi anh em kiểm tra thì ngư lưới cụ, máy móc trên tàu và “mấy tấn cá” đã bị lấy đi hết, chỉ để lại một máy định vị để quay về bờ”. Lúc bấy giờ tàu 101 của Trung Quốc vẫn bám theo. Tàu cá QNg 95739 TS chạy về hướng đảo Lý Sơn và dùng máy liên lạc gọi về tổng đài duyên hải để thuật lại sự việc. Ông Biên kể: “Khi tàu vô cách bờ tầm 40, 50 hải lý thì gặp tàu 6001 của Cảnh sát biển Việt Nam. Lúc đó mới băng bó cho anh Huỳnh Tiến Công rồi tiếp tục chạy về đất liền”.

Ngư dân Huỳnh Tiến Công, 47 tuổi, trú xã Tịnh Hòa, Quảng Ngãi, là người bị đánh nặng nhất. Ông bị gãy tay, chân bị đánh sưng vù và bị thương nhiều nơi khác trên cơ thể. Ông Công cho biết chiếc tàu đã thả ca nô tiếp cận tàu cá rồi cho người leo lên và “đánh anh em tới tấp, đánh phủ đầu”. Dù bị đánh và bị cướp hết cá, ngư cụ nhưng các ngư dân nói rằng họ sẽ vẫn tiếp tục đánh cá “trên vùng biển của Việt Nam”. Ông Công khẳng định: Vùng biển của mình thì mình cứ đi bình thường chứ mình không có sợ. Biển của mình thì mình đi chứ”.

Theo các nhà quan sát, hai tàu Trung Quốc tấn công các ngư dân Quảng Ngãi ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam hôm 29/9 là tàu Tam Sa Chấp Pháp 101 (Sansha Zhifa 101) và Tam Sa Chấp Pháp 301 (Sansha Zhifa 301). Đây là các tàu thuộc Cục chấp pháp hành chính tổng hợp và quản lý tình trạng khẩn cấp của cái gọi là thành phố Tam Sa. Tàu Sansha Zhifa 101 có chiều dài 102 mét, lượng giãn nước 1.000 tấn, được biên chế vào tháng 7/2022; tàu Sansha Zhifa 301 lớn hơn, dài 133 mét, có lượng giãn nước 3.000 tấn, mới được biên chế trong năm 2024.

Ngoài ra, còn một tàu cá khác của ngư dân Quảng Ngãi, Việt Nam bị tàu Trung Quốc hành hung. Tàu cá mang số hiệu QNg 90659TSđang neo đậu tại tọa độ 16 độ 11 phút vĩ độ Bắc, 112 độ 23 phút kinh độ Đông (ngay khu vực quần đảo Hoàng Sa) vào ba giờ chiều ngày 29/9, thì bị một tàu Trung Quốc áp sát, khống chế, hành hung thuyền trưởng và uy hiếp các thuyền viên, sau đó lấy hết trang thiết bị và hải sản gồm bảy bành dây hơi, bảy đôi chân vịt, bảy bộ độ lặn, khoảng 10 ngư dân Việt Nam bị tấn công gây thương tích ở quần đảo Hoàng Sa.

Trước đó 1 tháng (vào cuối tháng 8/2024), tàu cá QNg 90495TS của ông Huỳnh Văn Hoanh (43 tuổi, trú xã Bình Châu), Quảng Ngãi cũng đã bị tàu Trung Quốc tấn công ở quần đảo Hoàng Sa. Theo tường trình của ông Hoanh, khoảng 5 giờ sáng 28/8, tàu cá QNg 90495TS trên đường di chuyển từ đảo Phú Lâm về bãi Xà Cừ (thuộc quần đảo Hoàng Sa), ông cùng 9 ngư dân bị tàu số hiệu 4201 truy đuổi, sử dụng vòi rồng phun nước với áp lực lớn. Vụ việc khiến ông Hoanh bị gãy tay phải, còn thuyền trưởng Huỳnh Văn Tiến (26 tuổi) bị thương ở vùng đầu, mặt; nhiều thiết bị điện tử trên tàu bị hư hỏng. Ông Hoanh kể “Tôi vừa bật dậy nhìn ra ngoài thì bị vòi rồng xịt tới tấp. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi tàu 4201 rời đi thì xuất hiện 1 tàu sắt khác mang số hiệu 4104 tiến lại gần, yêu cầu được lên tàu cá của tôi để cứu chữa các thuyền viên bị thương. Tuy nhiên, do lo sợ bị bắt giữ nên tôi từ chối và quyết định cho tàu chạy về đất liền”.

Như vậy, trong thời gian qua không chỉ các tàu công vụ của Philippines bị tàu hải cảnh Trung Quốc tấn công mà lực lượng chấp pháp Trung Quốc còn liên tiếp tấn công các tàu cá của ngư dân Việt Nam tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Phương thức tấn công của các tàu Trung Quốc cũng là bắn vòi rồng cực mạnh hoặc lực lượng chức năng Trung Quốc leo lên các tàu của Việt Nam sử dụng những gậy gộc, roi sắt đánh đập dã man ngư dân. Điều này tạo ra

Nhà nghiên cứu Raymond Powell, cựu đại tá không lực Mỹ ở California – người sáng lập và giám đốc của SeaLight (một dự án về minh bạch hàng hải giám sát và báo cáo các hoạt động ở Nam Trung Quốc), nhận định: “Việc khẳng định các yêu sách hàng hải của Trung Quốc ngày càng trở nên bạo lực. Các tàu chấp pháp của họ thực tế đã biến thành một lực lượng bán quân sự, được phép sử dụng mọi phương tiện sẵn có để buộc các nước láng giềng phải phục tùng”. Ông Raymond Powell cảnh báo: “Việc sẽ có người thiệt mạng trong một trong những cuộc chạm trán như vậy dường như chỉ là vấn đề thời gian”.

Ngày 2/10 Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối hành vi “thô bạo” gây thương tích của lực lượng chấp pháp Trung Quốc đối với các ngư dân Việt Nam đang đánh bắt ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng lực lượng thực thi pháp luật của Trung Quốc đã “trấn áp, đánh bị thương, tịch thu tài sản” của ngư dân Việt Nam trên tàu cá QNg 95739 TS của tỉnh Quảng Ngãi khi con tàu này đang hoạt động tại khu vực quần đảo Hoàng Sa ngày 29/9. Người phát ngôn Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam hết sức quan ngại, bất bình và kiên quyết phản đối cách hành xử thô bạo của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc đối với ngư dân và tàu cá Việt Nam”.

Theo Người phát ngôn Việt Nam, “Bộ Ngoại giao Việt Nam đã giao thiệp nghiêm khắc với Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, mạnh mẽ phản đối hành động nói trên của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng đầy đủ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, khẩn trương điều tra và thông báo kết quả cho phía Việt Nam, không tái diễn các hành động tương tự”.

Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 2/10 ngang ngược nói rằng các tàu đánh cá Việt Nam đánh bắt trái phép ở vùng biển liên quan của quần đảo Hoàng Sa mà không có sự cho phép của Bắc Kinh, do đó chính quyền Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp ngăn chặn”. Bắc Kinh chối cãi việc gây thương tích cho ngư dân Việt Nam khi nói: “Các hoạt động tại chỗ rất chuyên nghiệp và có chừng mực, và không có ghi nhận gì về thương tích”.

Qua vụ việc những người thực thi pháp luật Trung Quốc hành động dã man với những người ngư dân Việt Nam nghèo khó, giới chuyên gia nêu một số ý kiến sau:

Thứ nhất, việc giới chức thực thi pháp luật Trung Quốc hành hung dã man đối với ngư dân Việt Nam càng thể hiện rõ “bộ mặt” cường quyền của Bắc Kinh. Phải chăng nhà cầm quyền Bắc Kinh đang áp dụng luật rừng của riêng họ (Luật hải cảnh mới ban hành đầu năm 2023 và Quy định thủ tục về thực thi hành chính ban hành hôm 15/5/2024) để chấn áp những người ngư dân nghèo. Hành động của họ không chỉ vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế mà còn bị dư luận quốc tế và khu vực lên án mạnh mẽ. Một số chuyên gia đã gọi hành động dã man của những người thực thi pháp luật Trung Quốc là những “hành vi của kẻ côn đồ”. Những hành vi man rợ này chỉ càng khiến Trung Quốc mất đi niềm tin của người dân các nước ven Biển Đông.

Thứ hai, cách hành xử thô bạo của Bắc Kinh chỉ reo rắc thêm lòng phẫn nộ của những người dân nghèo. Một số học giả chỉ ra rằng ngay cả với những người dân Trung Quốc (nhất là người ở Tân Cương, Tây Tạng) giới chức Trung Quốc còn có những hành động dã man thì đối với người dân các nước láng giềng nhỏ bé họ hành xử man rợ như vậy là điều dễ hiểu. Một số người đặt vấn đề ông Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc gần đây đưa ra cái gọi là “cộng đồng chung vận mệnh”, phải chăng chung vận mệnh là cách hành xử man rợ với người dân thường vô tội? Việc Bắc Kinh chối cãi gây thương tích đối với ngư dân là cách chối tội mà Trung Quốc thường làm để tránh sự lên án của cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, cách hành xử của người thực thi pháp luật Trung Quốc hôm 29/9/2024 với ngư dân Việt Nam ở khu vực quần đảo Hoàng Sa chẳng khác gì những hành đông mà hải cảnh Trung Quốc đã làm với những thuỷ thủ của tàu công vụ Philipines ở khu vực Bãi Cỏ Mây hôm 17/6/2024, thậm chí còn dã man hơn nhiều khi đánh gẫy tay và khiến 4 ngư dân Việt Nam phải nhập viện. Phải chăng cả Manila và Hà Nội đã nhận thấy rõ bộ mặt thật của Bắc Kinh nên đã tăng cường hợp tác với nhau trong các hoạt động trên biển thời gian gần đây. Do vậy, dù Bắc Kinh có trăm phương nghìn kế với chiến thuật “chia để trị cũng không thê  chia rẽ, ly tán được Hà Nội và Manila. Các hành động man rợ của giới chức thực thi pháp luật Trung Quốc chính là chất xúc tác để kết dính Philippines với Việt Nam trong cuộc đối đầu với sự bành trướng của Bắc Kinh. Giới chuyên gia về Biển Đông phân tích, qua những hành động man rợ của Bắc Kinh đối với ngư dân Việt Nam hay đối với các tàu công vụ của Philippines thời gian qua cho thấy rõ hơn mưu đó độc chiếm Biển Đông đang được thực hiện theo phương thức ‘tằm ăn dâu’, tức là dần dần đẩy đuổi Việt Nam, Philippines…ra khỏi các vùng biển của các nước này, rồi biến thành điều gọi là “bình thường mới”, và dần dần ép các nước chấp nhận thực tế mới của Trung Quốc. Các nước ven Biển Đông cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước thủ đoạn này của Bắc Kinh ở Biển Đông.

]]>
Phân tích chính sách “chia để trị” của Bắc Kinh ở Biển Đông https://biendong.net/2024/09/09/phan-tich-chinh-sach-chia-de-tri-cua-bac-kinh-o-bien-dong/ Mon, 09 Sep 2024 01:44:00 +0000 https://biendong.net/?p=141863 Trong quan hệ với các nước ASEAN, lâu nay Trung Quốc luôn thi hành chính sách phân hoá, lôi kéo, chia rẽ để phá vỡ sự đoàn kết thống nhất trong ASEAN trên các vấn đề quốc tế và khu vực, nhất là trên vấn đề Biển Đông nhằm phục vụ mục đích lâu dài của Bắc Kinh là khống chế, kiểm soát để tiến tới thôn tính, độc chiếm Biển Đông.

Trên thực tế, Trung Quốc đã lôi kéo được Campuchia đứng ra ủng hộ quan điểm của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông bất chấp lợi ích của các nước ven Biển Đông khác trong ASEAN. Tại hầu hết các hội nghị của ASEAN, Campuchia luôn phản đối việc lên án, chỉ trích các hành động hung hăng của Bắc Kinh nhằm vào các nước ven Biển Đông mà mới đây nhất là tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN (AMM) lần thứ 54 tại Lào. Thậm chí, khi Campuchia làm chủ nhà của ASEAN năm 2012, Phnom Penh đã tiếp tay cho Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông khiến lần đầu tiên trong lịch sử không ra được tuyên bố của hội nghị chỉ vì không đạt được nhất trí về nội dung Biển Đông trong văn kiện.

Chính sách phân hoá, lôi kéo, chia rẽ ASEAN trên vấn đề Biển Đông của Trung Quốc được giới học giả gọi một cách đơn giản là chiến thuật “chia để trị”. Nội dung chiến thuật “chia để trị” của Trung Quốc là việc sử dụng các biện pháp kinh tế và ngoại giao để trừng phạt các quốc gia vi phạm các ranh giới không thành văn; và những ưu đãi về thương mại, đầu tư để dụ dỗ, mua chuộc các quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn nhằm mở rộng ảnh hưởng. Chiến thuật “chia để trị” của Bắc Kinh thường được kết hợp nhuần nhuyễn với những hành động đe doạ, cưỡng ép và tuyên truyền sai lệch về các thông tin liên quan.

Phát biểu với giới báo chí hôm 6/8/2024, nhà phân tích địa chính trị Don McLain Gill thuộc trường Đại học De La Salle ở Manila, Philippines cho rằng trên Biển Đông, “lợi ích của Trung Quốc là một Đông Nam Á bị chia rẽ”. Trước đó và tháng 5/2024, Đại sứ Philippines tại Mỹ Jose Romualdez đã viết về chiến lược chia để trị của Trung Quốc trên tờ Philippines Star. Theo đó, vị Đại sứ Philippines cho rằng “chia để trị” là “câu thần chú mới” mà Trung Quốc sử dụng để gây chia rẽ trong Philippines lẫn trên trường quốc tế. Ông Jose Romualdez cũng kêu gọi mọi người đoàn kết, bác bỏ những thông tin sai lệch mà Trung Quốc lan truyền.

Nhằm thúc đẩy chiến lược “chia để trị” đánh vào nội bộ Philippines và đánh lạc hướng dư luận, tháng 4/2024, Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố rằng họ và Philippines đã đạt được một “mô hình mới” để giải quyết tranh chấp tại Bãi Cỏ Mây. Sau đó, cả Bộ trưởng Quốc phòng và Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines đều bác bỏ thông tin này, khẳng định không có thỏa thuận nào được ký kết. Các quan chức Philippines cho rằng đây là một “mưu đồ chia rẽ” và nhằm mục đích làm xao nhãng dư luận trước những hành động khiêu khích của Trung Quốc ở Biển Đông. Bộ Ngoại giao Philippines đã lên án mạnh mẽ hành vi này và kêu gọi Trung Quốc chấm dứt các hoạt động gây căng thẳng.

Giáo sư Alexander L Vuving từ Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye (DKI APCSS) của Mỹ nhận định Việt Nam và Philippines là hai nước dễ bị tổn thương bởi chính sách “chia để trị” của Trung Quốc. Ông Vuving cho rằng: “Hậu quả cuộc chiến tranh trên Biển Đông là khôn lường, không đơn thuần là xung đột Việt Nam với Trung Quốc hay Philippines với Trung Quốc. Đám lửa có thể bùng lên tới mức không ai kiểm soát được”. Do đó, chiến lược được giới cầm Trung Quốc là “tằm ăn dâu”, tức là từng bước gây sức éo bắt Việt Nam và Philippines “quy phục” rồi biến thành điều gọi là “bình thường mới”, và dần dần ép các nước chấp nhận thực tế mới của Trung Quốc. Đây là một phần trong chiến lược “chia để trị” của Trung Quốc.

Chiến lược “chia để trị” được bộc lộ rõ hơn khi Trung Quốc cho máy bay uy hiếp cả Việt Nam và Philippines khi hai nước này lần đầu tiến hành diễn tập chung trên Biển Đông hôm 9/8. Cuộc diễn tập này giữa Việt Nam và Philippines được nhiều nhà quan sát trong khu vực nhận định là dấu mốc “lịch sử”. Trang Nikkei Asia của Nhật Bản đánh giá sự kiện này là “đỉnh cao” tính tới nay của thỏa thuận hợp tác hàng hải mà hai nước đã ký trong chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Philippines Marcos hồi đầu năm 2024.

Giới quan sát nhận định trong khi cuộc diễn tập chung đầu tiên giữa Manila và Hà Nội được coi là một bước phát triển quan trọng trong hợp tác giữa các nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và cần nhân rộng thì Trung Quốc không nhìn nhận cuộc diễn tập này một cách tích cực mà sẽ cố gắng để gây áp lực tối đa lên từng nước. Ông Julio Amador, Tổng giám đốc điều hành của công ty tư vấn Amador Research Services tại Manila cho rằng Trung Quốc sẽ kiếm cớ để cảm thấy “bị xúc phạm” trước sự hợp tác của các quốc gia ASEAN có các tuyên bố chủ quyền chồng chéo trên Biển Đông để đưa ra các hành động “trả đũa”.

Phân tích về phản ứng của Bắc Kinh trước cuộc diễn tập trên biển đầu tiên giữa Manila và Hà Nội, giới chuyên gia nhận định Trung Quốc sẽ tăng cường chiến lược “chia để trị” trong quan hệ với hai nước này. Theo đó, khi Việt Nam và Philippines xích lại gần nhau bằng cách thắt chặt các mối quan hệ để tăng cường năng lực quản lý tranh chấp trên biển và giải quyết tranh chấp trên biển song phương giữa hai nước, Trung Quốc sẽ áp dụng chiến lược “chia để trị” trong việc giải quyết mâu thuẫn với hai nước này trên Biển Đông.

Nhà phân tích chính trị Don McLain Gill từ trường Đại học De La Salle ở Manila cho rằng: “Trung Quốc muốn giải quyết song phương với từng quốc gia tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông để có thể gây áp lực tối đa lên từng nước”. “Nếu Philippines và Việt Nam đạt được thỏa thuận chung, Bắc Kinh chắc chắn sẽ phải đối phó với cả hai nước cùng lúc khi tìm cách bành trướng, khiến việc này trở nên khó khăn hơn cho chính họ. Trung Quốc được hưởng lợi từ việc thiếu các thỏa thuận giữa các nước có tuyên bố chủ quyền chồng chéo.”

Giới phân tích dự báo Bắc Kinh sẽ điều chỉnh các chính sách để phù hợp với cách tiếp cận quyết đoán của Philippines và cách tiếp cận “kín đáo” của Việt Nam nhằm phân hoá 2 nước. Cụ thể, Bắc Kinh có thể hành động quyết liệt với Philippines và mềm mỏng với Việt Nam.

Tiến sĩ Abdul Rahman Yaacob, nhà nghiên cứu của Chương trình Đông Nam Á tại Viện Lowy cho rằng: “Tôi không nghĩ các nhà hoạch định chính sách và các nhà hoạch định quốc phòng của Bắc Kinh muốn gây hấn với Việt Nam và Philippines cùng lúc vì như thế họ sẽ phải kéo dài nguồn lực của mình”. Vị tiến sĩ cũng nhận xét rằng Trung Quốc đã thành công ở một mức độ nào đó khi nỗ lực xây dựng hình ảnh Philippines như một “kẻ vô lý” trong tranh chấp Biển Đông, khiến một số quan chức ở khu vực Đông Nam Á đã bày tỏ mối quan ngại, cho rằng Manila đang liều lĩnh.

Tiến sĩ Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu về quan hệ quốc tế từ Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore), chia sẻ: “Trung Quốc muốn bêu tên Philippines như là một kẻ dị biệt, cùng lúc đó họ tăng cường luận điệu rằng họ đã kiểm soát tranh chấp và không để xảy ra xung đột nào với các nước khác trong Đông Nam Á,” với BBC vào cuối tháng 6/2024. Ông Koh đồng thời nhấn mạnh Trung Quốc không muốn gây xích mích không cần thiết trong mối quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á khác, ít nhất là với Indonesia, Malaysia và Việt Nam khi đang “bận tay” với Philippines.

Giải thích cho việc Bắc Kinh “mềm mỏng” hơn với Hà Nội trên Biển Đông so với Manila, các chuyên gia cho rằng vì ở chiều ngược lại, Hà Nội âm thầm đối phó, không vạch trần “Bộ mặt thật” của Bắc Kinh như Manila. Tiến sĩ Abdul Rahman Yaacob giải thích: “Chiến lược của Việt Nam là không để cho các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông ảnh hưởng đến mối quan hệ lành mạnh khác với người hàng xóm phương Bắc”. Đây là điều dễ hiểu vì Việt Nam đã có lịch sử đối phó với sự bành trướng từ phương Bắc.

Giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales (Úc) thì cho rằng không giống như Philippines, Việt Nam đã tránh triển khai hải quân để đối đầu với tàu Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Thay vào đó, Hà Nội đã triển khai tàu tuần duyên và tàu dân sự để giám sát các hoạt động của Trung Quốc, kiểm soát chặt chẽ việc đưa tin của truyền thông Việt Nam về các sự cố trên biển và theo đuổi các kênh ngoại giao với Bắc Kinh về tranh chấp Biển Đông.

Bắc Kinh cũng đang lo ngại về việc Nhật Bản tăng cường mối quan hệ quân sự với Việt Nam và Philippines; luôn tìm cách chống lại các hoạt động như vậy và tìm cách phân hoá chia rẽ các nước trong khu vực, theo các nhà quan sát. Trong chuyến thăm Hà Nội của Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Minoru Kihara đầu tháng 8/2024, Nhật Bản đã cam kết tăng cường quan hệ an ninh, quốc phòng với Việt Nam. Tokyo cho biết sẽ cung cấp hai xe vận tải tiếp tế cho Hà Nội như một phần của thỏa thuận về thiết bị quốc phòng và chuyển giao công nghệ.

Tiến sĩ Collin Koh cho rằng việc Nhật Bản cung cấp hàng hóa liên quan đến an ninh cho Việt Nam không có gì đáng ngạc nhiên, vì trước đây họ đã cung cấp viện trợ cho lực lượng bảo vệ bờ biển. Nhưng ông Koh nhấn mạnh đây là một “bước đi đáng chú ý” vì thỏa thuận gần đây do Bộ Quốc phòng Nhật Bản chỉ đạo chứ không phải do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) chỉ đạo như trước đây. Tiến sĩ Collin Koh nhận định: “Tôi tin rằng đây chỉ là bước đi thử nghiệm. Việc chuyển giao mới nhất này có khả năng nâng lên thành việc chuyển giao hoặc bán các thiết bị tinh vi hơn trong tương lai, chẳng hạn như radar” vì Nhật Bản có quan hệ kinh tế chặt chẽ và mối quan hệ an ninh ngày càng tăng với Việt Nam. Tiến sĩ Koh cho rằng Trung Quốc sẽ “cảnh giác” với diễn biến này. Ông Koh đánh giá: “Tôi nghĩ Bắc Kinh sẽ đi đến giả định dài hạn rằng một ngày nào đó trong tương lai Tokyo sẽ chuyển giao hoặc bán vũ khí gây chết người cho Việt Nam”.

Greg Poling, giám đốc chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế có trụ sở ở Washington DC (Mỹ), cho biết thỏa thuận gần đây giữa Nhật Bản và Việt Nam có thể là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ an ninh ngày càng sâu sắc hơn. Về cuộc tập trận hàng hải chung gần đây của Nhật Bản với Philippines, ông Poling cho rằng đây “chỉ là diễn biến mới nhất trong một loạt các hoạt động trong mối quan hệ an ninh (của họ)”.

Các chuyên gia cũng nhận định vai trò an ninh của Tokyo đối với Đông Nam Á ngày càng có tầm ảnh hưởng hơn, gây trở ngại cho nỗ lực của Trung Quốc trong việc thống trị khu vực này. Vì Nhật Bản là nước không có yêu sách trên Biển Đông, sự can thiệp của Tokyo, theo một số nhà quan sát, là xu hướng đáng lo ngại đối với Trung Quốc vì Bắc Kinh luôn tìm cách ngăn cản “các thế lực bên ngoài” can thiệp vào các tranh chấp ở Biển Đông.

Trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh chiến thuật “chia để trị” ở khu vực và trên vấn đề Biển Đông, Việt Nam và Philippines nên làm gì để đối phó? Theo ý kiến của nhà phân tích Don McLain Gill, “Cả Manila và Hà Nội phải nỗ lực xây dựng một bộ quy tắc ứng xử cơ bản song phương để đưa ra sự hiểu biết chung về biên giới tranh chấp của họ. Điều này sẽ giúp cung cấp một lộ trình để giải quyết các hoạt động như xâm nhập từ phía Trung Quốc, đồng thời giảm bớt các điểm xung đột giữa hai nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền chồng chéo”.

Nhà phân tích Don McLain Gill nhấn mạnh điều quan trọng là hai bên Philippines và Việt Nam phải tăng cường phối hợp, đồng thời tôn trọng các vấn đề nhạy cảm đối với bên kia nhằm tối đa hóa lợi ích mà không xảy ra xung đột trong tương lai. Ông Gill cho rằng: “Một khi các nước này phát triển mối quan hệ và lòng tin mạnh mẽ hơn với nhau, sẽ khó khăn hơn cho Trung Quốc theo đuổi chiến thuật chia để trị”. Tiến sĩ Lori Forman thuộc Trung tâm nghiên cứu an ninh Châu A-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye (DKI APCSS) cho rằng Philippines và Việt Nam nên củng cố hợp tác nhằm bảo vệ lợi ích chung trước những “hoạt động cưỡng ép” của Trung Quốc ở Biển Đông. Tiến sĩ Lori Forman nhấn mạnh: “Cho dù tồn tại những khác biệt về ngôn ngữ và hệ thống chính trị, hai quốc gia có chung những lợi ích cốt lõi, tạo nền tảng vững chắc cho sự hợp tác”. Tóm lại, “chia để trị” là chiến thuật mà Trung Quốc đang tìm cách thúc đẩy để chia rẽ, phân hoá các nước ven Biển Đông với nhau, đánh vào nội bộ của ASEAN và ngăn cản các nước ven Biển Đông tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng với các nước ngoài khu vực nhằm thực hiện ý đồ thôn tính, độc chiếm Biển Đông. Để hoá giải điều này, các nước ven Biển Đông cần gạt bỏ sự khác biệt sang một bên, tăng cường hợp tác với nhau, chủ động thúc đẩy đoàn kết trong ASEAN và nỗ lực tăng cường quan hệ với các nước ngoài khu vực, tạo lợi ích đan xen của các bên ở Biển Đông.

]]>
Tham vọng của TQ ở Biển Đông và thách thức mà Bắc Kinh phải đối mặt https://biendong.net/2024/09/01/tham-vong-cua-tq-o-bien-dong-va-thach-thuc-ma-bac-kinh-phai-doi-mat/ Sun, 01 Sep 2024 01:11:00 +0000 https://biendong.net/?p=141881 Thời gian qua, căng thẳng ở Biển Đông ngày càng leo thang thu hút sự chú ý của cả cộng đồng quốc tế bởi nơi đây không chỉ tồn tại tranh chấp giữa các nước ven Biển Đông mà còn có sự xung đột về lợi ích của các nước lớn và liên quan đến tuyến đường hàng hải của cả thế giới.

Việc Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng trong các hành động với các nước láng giềng cho thấy rõ tham vọng lâu dài của Bắc Kinh đối với Biển Đông. Giới phân tích nhận định trong bối cảnh Bắc Kinh gia tăng các hoạt động hiếu chiến nhằm thực hiện tham vọng ở Biển Đông, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức.

Chúng ta cùng đi sâu phân tích.

  1. Tham vọng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Theo tính toán của các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc, việc kiểm soát được Biển Đông sẽ đem lại cho quốc gia này hai lợi ích chính:

Về mặt an ninh – quốc phòng, Biển Đông là cửa ngõ phía Nam của Trung Quốc. Khống chế, kiểm soát được Biển Đông không chỉ tạo cho Trung Quốc vùng đệm bảo vệ an ninh quốc gia của Trung Quốc ở phía Nam mà còn giúp Trung Quốc vượt qua chuỗi đảo thứ nhất để vươn ra biển lớn. Hiện nay, tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc đang bị cản trở về mặt hàng hải do có vành đai các đồng minh của Mỹ vây quanh, kéo dài từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Philippines tới tận Indonesia mà các chuyên gia lâu nay vẫn gọi là “chuỗi đảo thứ nhất. Do đó, Trung Quốc có rất ít không gian để triển khai cũng như phát triển năng lực hải quân. Theo hướng phía Tây để vươn ra Thái Bình Dương, Bắc Kinh gặp khó khăn khi phải đối đầu với Nhật Bản và Đài Loan đều nằm dưới sự bảo hộ của Mỹ.

Biển Đông nằm phía Nam Trung Quốc, nơi các quốc gia ven Biển Đông với tiềm lực kinh tế quân sự hạn chế không thể so sánh với Trung Quốc, lại hầu như không phải đồng minh hiệp ước của Mỹ trừ Philippines. Khống chế được Biển Đông đồng nghĩa với việc mở toang cánh cửa ra Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Đây chính là địa bàn mà Bắc Kinh cần để tăng cường sức mạnh hải quân và mở ra khả năng kết nối với các khu vực khác.

Về lợi ích kinh tế, kiểm soát được Biển Đông đồng nghĩa với việc khống chế được tuyến đường hàng hải huyết mạch qua Biển Đông. Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới nhưng nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ nhập khẩu. Đẩy các nước khác ra để thống trị Biển Đông giúp Trung Quốc kiểm soát tuyến đường giao thương trên biển phía Nam đảm bảo an ninh kinh tế, năng lượng. Mặt khác, Biển Đông sở hữu lượng tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đặc biệt là nguồn hải sản lớn (ước tính chiếm khoảng 12% nguồn lợi hải sản trên toàn thế giới) và trữ lượng dầu mỏ quan trọng (khoảng 11 tỷ thùng trữ lượng dầu và 5.380 tỷ mét khối trữ lượng khí đốt tự nhiên theo ước tính của Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ năm 2013). Một khi kiểm soát được Biển Đông, Trung Quốc sẽ kiểm soát được nguồn trữ lượng dầu mỏ và khí đốt khổng lồ. Đây là lý do vì sao Trung Quốc đưa ra chủ trương “cùng khai thác” trong vùng biển của các nước láng giềng ven Biển Đông; ngăn cản các nước này hợp tác khai thác năng lượng với các nước khác ngoài khu vực.

Từ những tính toán về lợi ích kể trên, Trung Quốc nuôi tham vọng độc chiếm Biển Đông, thể hiện trên 3 điểm chính: (i) kiểm soát phần lớn Biển Đông theo cái gọi là “đường đứt đoạn”; (ii) dần thiết lập một trật tự mới, những luật chơi mới trong khu vực nhằm có lợi cho Trung Quốc; (3) trở thành cường quốc thế giới thông qua việc trở thành cường quốc biển.

Thứ nhất, về tham vọng “đường đứt đoạn” hay còn được gọi là “đường lưỡi bò” hay “đường chữ U”, cách gọi này là phù hợp nhất bởi số đoạn của đương này thay đổi nhiều lần: lúc đầu là 11 đoạn, sau đó là 9 đoạn (bỏ đi 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ” và gần đây tăng thêm 1 đoạn gần Đài Loan thành 10 đoạn

Năm 2009, lần đầu tiên tấm bản đồ “đường đứt đoạn” (“đường chín đoạn”) được Trung Quốc đính kèm Công hàm CML/17/2009 gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Tấm bản đồ với “đường chín đoạn” đã thể hiện cái gọi là chủ quyền và quyền tài phán của Bắc Kinh đối với các vùng nước được thể hiện trong bản đồ. Đây được coi là động thái chính thức đầu tiên mà chính quyền Bắc Kinh tuyên bố với cộng đồng quốc tế về cái gọi là “chủ quyền của Trung Quốc” tại Biển Đông. Việc làm này của Trung Quốc đã khiến các nước liên quan ở Biển Đông gửi công hàm lên Liên hợp quốc phản đối và được nhiều chuyên gia gọi là cuộc chiến công hàm lần thứ nhất ở Biển Đông.

Tháng 1/2013, Philippines khởi kiện Trung Quốc về vấn đề Biển Đông ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII Công ước Liên hơp quốc về Luật biển (UNCLOS). Năm 2016, Toà Trọng tài đã ra phán quyết, kết luận: “Các tuyên bố của Trung Quốc về quyền lịch sử, hoặc các quyền chủ quyền hoặc quyền tài phán khác, đối với các vùng biển tại Biển Đông được bao quanh bởi ‘đường chín đoạn’ là trái với Công ước và không có hiệu lực pháp lý trong phạm vi vượt quá giới hạn địa lý và nội dung của các quyền được hưởng trên biển mà Trung Quốc được xác lập theo Công ước”.

Tuy nhiên, Trung Quốc không từ bỏ tham vọng của mình. Một mặt, Bắc Kinh không công nhận và không thực thi phán quyết, mặt khác họ tiếp tục đưa ra quan điểm về cái gọi là “Tam Sa” để bảo vệ cho yêu sách “đường đứt đoạn” đã bị Tòa Trong tài bác bỏ. Mới đây nhất, ngay trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Trung Quốc đã công bố “bản đồ tiêu chuẩn” phiên bản năm 2023. Đáng chú ý, về bộ phận lãnh thổ đại dương, Trung Quốc đã thay thế “đường chín đoạn” bằng “đường mười đoạn”, giữ nguyên các đoạn nét đứt như trong tấm bản đồ được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc năm 2009 và bổ sung thêm một nét đứt bao quanh Đài Loan.

Thứ hai, tham vọng ở Biển Đông đang được Trung Quốc hiện thực hoá bằng nhiều hành động và phương thức khác nhau, kể cả sử dụng vũ lực nhằm phá bỏ trật tự dựa trên pháp luật tồn tại lâu nay ở Biển Đông để thiết lập một trật tự mới với những luật chơi theo kiểu Trung Quốc. Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng vũ lực ở Biển Đông vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế như: năm 1974, Trung Quốc tấn công vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa; năm 1988, Bắc Kinh sử dụng vũ lực đánh chiếm 8 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa; năm 1995, Trung Quốc đánh chiếm Bãi Vành Khăn.

Từ năm 2014, Trung Quốc đẩy mạnh bồi đắp, mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông; xây dựng các cầu cảng cho các tàu chiến lơn, xây dựng đường băng lớn có thể hạ cất cánh máy bay chiến đấu hạng nặng trên các đảo nhân tạo mà họ bồi đắp; lắp đặt các thiết bị quân sự hiện đại nhằm biến các cấu trúc ở Biển Đông thành những đồn điền quân sự phục vụ mục tiêu khống chế, kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Hoạt động quân sự hóa Biển Đông của Bắc Kinh đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.

 Trung Quốc gia tăng các hành động gây hấn hung hăng với các nước ven Biển Đông thông qua hoạt động “vùng xám” sử dụng lực lượng hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc trấp áp tàu cá, ngư dân và các tàu công vụ của các nước láng giềng. Thời gian gần đây, hải cảnh Trung Quốc còn chiếu lazer cấp độ quân sự nguy hiểm, phun vòi rồng, đâm va vào các tàu công vụ của Philippines, thậm chí sử dụng dao, rìu, vật nhọn tấn công tàu và nhân viên Philippines gây thương tích và hư hại tàu nghiêm trọng.

Để có thể triển khai các hành động hung hang kể trên, Trung Quốc đơn phương ban hành các điều luật, quy định trái với quy định của luật pháp quốc tế. chỉ trong riêng năm 2021 Trung Quốc đã ban hành Luật hải cảnh sửa đổi (có hiệu lực từ 01/2/2021, Luật giao an toàn giao thông hàng hải mới (có hiệu lực từ 01/9/2021). Mới đây nhất, Trung Quốc công bố Quy định thủ tục về thực thi hành chính của lực lượng hải cảnh, cho phép lực lượng này quyền bắt giữ trái phép người nước ngoài trên biển và giam giữ từ 30 tới 60 ngày. Cộng đồng quốc tế phản đối gay gắt các luật và quy định hoàn toàn trái với các điều khoản của UNCLOS, đồng thời cho rằng những luật và quy định mới này của Trung Quốc có thể là nguyên nhân dẫn tới xung đột ở Biển Đông.

Giới chuyên gia nhận định ý đồ của Trung Quốc là đơn phương áp dụng các luật lệ sai trái của mình tại Biển Đông nhằm phá bỏ trật tự dựa trên pháp luật đã được hình thành lâu nay ở Biển đông, từng bước thiết lập một trật tự mới với những luật chơi mới do Bắc Kinh tự ý vạch ra để thực hiện tham vọng bành trướng ở Biển Đông.

Thứ ba, Trung Quốc tham vọng trở thành một cường quốc biển, từ đó trở thành cường quốc hàng đầu thế giới. Bắt nguồn từ Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra vào năm 2012, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào kêu gọi cần nỗ lực hơn để “xây dựng Trung Quốc trở thành một cường quốc biển”. Theo quan điểm của học giả Trương Văn Mộc (Zhang Wenmu), “một cường quốc biển” mà Trung Quốc muốn xây dựng gồm 2 thành tố: (i) các quyền trên biển cả và (ii) sức mạnh biển. Hai thành tố này liên hệ chặt chẽ với nhau, sức mạnh biển giúp một quốc gia đạt được các quyền lợi trên biển mà đôi khi những quyền này không nằm trong phạm vi các quyền hợp pháp và chính đáng của một quốc gia theo luật pháp quốc tế. Theo quan điểm của học giả Trương, một quốc gia có thể đạt được vị thế bá chủ trên biển nhờ vào việc thao túng hành vi hoặc điều khiển hành vi của các nước khác trên biển.

Giới lãnh đạo Bắc Kinh chưa chỉ rõ một “cường quốc biển” gồm các thành phần nào. Tuy nhiên, qua các văn kiện Đại hội Đảng Trung Quốc, có thể thấy “một cường quốc biển” theo quan niệm của Bắc Kinh gồm: mở rộng kinh tế biển; tăng cường việc bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và bảo vệ các quyền cũng như lợi ích trên biển. Trong đó, chính quyền Bắc Kinh đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực hải quân để bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển. Theo Báo cáo Sức mạnh Quân sự Trung Quốc năm 2022 của Lầu Năm Góc công bố vào tháng 11/2023, Hải quân Trung Quốc có khoảng 340 tàu chiến và dự kiến cán mốc 400 tàu trong 2 năm tiếp theo. Trung Quốc đang sở hữu 2 tàu sân bay và chuẩn bị đưa tàu sân bay thứ 3 đi vào hoạt động trong năm 2024. Bắc Kinh cũng đã hoàn thành xây dựng 1 căn cứ quân sự tại nước ngoài ở Djibouti vào năm 2017 và đang xây dựng 1 căn cứ Hải quân ở Ream, Campuchia.

Nhằm thực hiện tham vọng “cường quốc biển”, sánh ngang hang với Mỹ, chiến lược tại Biển Đông của Trung Quốc là nhằm phá hủy các thiết chế do Mỹ đứng đầu, dần thiết lập các thiết chế mới do Trung Quốc dẫn dắt và từ đó hình thành một cục diện mới tại khu vực nhằm tối đa hoá lợi ích cho nước này. Trước hết, cần khẳng định rằng hiện nay, Mỹ đang muốn tăng cường triển khai và thúc đẩy nhiều thiết chế dựa trên hệ tư tưởng, giá trị và ý chí do Mỹ và phương Tây dẫn đầu tại Biển Đông.

2. Thách thức đối với Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay

Giới phân tích nhận định, trong trật tự thế giới đa cực hiện nay, Trung Quốc không dễ dàng trong việc hiện thực hoá các tham vọng của mình do gặp phải nhiều thách thức đến từ Mỹ cùng hệ thống các nước đồng minh và các cơ chế hợp tác trong khu vực.

Một là, Mỹ ngày càng quyết tâm triển khai các chiến lược kiềm toả Trung Quốc và tăng cường sự hiện diện của mình tại Biển Đông thông qua nhiều phương tiện và cách thức ngăn chặn. Trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung ở Biển Đông và khu vực, Mỹ không đơn độc mà kéo thêm nhiều đồng minh khác của Mỹ cùng tham gia; Mỹ cùng với các đồng minh và đối tác thành lập các tiểu đa phương ở khu vực nhằm kiềm chế Trung Quốc. Việc Mỹ đạt được quyền tiếp cận thêm 4 căn cứ của Philippines tháng 2/2023 giúp Mỹ có thể nhanh chóng triển khai lực lượng ở Biển Đông và trong khu vực.

Bên cạnh việc triển khai các hoạt động tự do hàng hải (FONOPs), Mỹ tiến hành tuần tra chung song phương với Philippines; tuần tra chung và tập trận chung đa phương với Nhật Bản, Úc, Canada, Philippines ở Biển Đông. Cuộc tập trận Balikatan (vai kề vai) 2024 ở Biển Đông có quy mô lớn nhất từ trước tới nay với sự tham gia của Úc, Pháp và 14 quốc gia với tư cách quan sát viên. Đáng chú ý, trước cuộc tập trận Mỹ đã lần đầu tiên triển khai hệ thống phóng tên lửa mặt đất tầm trung (MRC), hay còn gọi là Typhon ở Philippines. Mặt khác, Mỹ công khai đứng về phía Philippines trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông; nhiều lần lên án mạnh mẽ hành động hung hăng của hải cảnh Trung Quốc ở khu vực Bãi Cỏ Mây.

Tất cả các hoạt động kể trên tạo ra những thách thức đối với tham vọng “cường quốc biển” và tham vọng bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong các hoạt động của mình, Mỹ luôn đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật kể cả việc thực thi phán quyết 2016 của Toà Trọng tài Vụ kiện Biển Đông nhằm chống lại tham vọng phá vỡ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

 Hai là, một số quốc gia trong khối ASEAN mà đi đầu là Philippines đang tìm kiếm các cơ chế hợp tác an ninh với Mỹ và đồng minh nhằm nâng cao năng lực hải quân, đối phó với các nguy cơ xung đột với tàu thuyền Trung Quốc trên biển. Trong 2 năm cầm quyền, Tổng thống Philippines Marcos Jr. thi hành một chính sách cứng rắn trên vấn đề Biển Đông, chủ động thúc đẩy quan hệ đồng minh với Mỹ và mở rộng quan hệ hợp tác an ninh với các đồng minh của Mỹ bằng các thoả thuận hợp tác quốc phòng nhằm tăng cường sức mạnh trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông. Chính quyền Manila cũng tang cường mua sắm vũ khí, trang thiết bị quân sự như tên lửa Brahmos của Ấn Độ hay đang xúc tiến mua tàu ngầm… Mới đây nhất, trong cuộc họp 2+2 giữa Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao 2 nước, Washington đã tuyên bố viện trợ cho Manila 500 triệu USD để nâng cao năng lực phòng thủ.

Đáng chú ý, năm 2023, Mỹ và Philippines đã công bố bản Hướng dẫn Phòng thủ Song phương, cụ thể hoá thêm Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Trung năm 1951. Theo đó, “một cuộc tấn công vũ trang tại khu vực Thái Bình Dương, bao gồm mọi địa điểm ở Biển Đông, vào bất kỳ tàu tuần duyên, máy bay hoặc lực lượng vũ trang nào, bao gồm lực lượng Cảnh sát Biển, sẽ kích hoạt Điều IV và V thuộc Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Mỹ và Philippines năm 1951”. Các quan chức cấp cao của Mỹ, bao gồm Tổng thống Biden nhiều lần khẳng định cam kết sắt đá này. Đây rõ ràng là thách thức lớn mà Bắc Kinh phải đối mặt ở Biển Đông.

Ba là, sự tăng cường hợp tác giữa các nước ven Biển Đông ngày càng tang đặt ra những thách thức đối với chính sách bành trướng của Trung Quốc. Việc ký kết các hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam-Indonesia hay thoả thuận hợp tác chung giữa Việt Nam – Malaysia đã trở thành “những cái gai” trong mắt giới cầm quyền Bắc Kinh. Việc mới đây Philippines và Việt Nam đệ trình hồ sơ Ranh giới thềm lục địa mở rộng lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc mở ra cơ hội đàm phán song phương giữa Hà Nội và Manila về phân định vùng biển ở Biển Đông sẽ đặt Bắc Kinh vào thế bị động phải ứng phó.

Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác giữa lực lượng tuần duyên Philippines với lực lượng cảnh sát biển Việt Nam hay đề xuất của Manila về việc thành lập Diễn đàn Cảnh sát biển ASEAN tại Hội nghị AMM 57 để tạo điều đối thoại và thực thi pháp luật ở Biển Đông… được coi là những thách thức không nhỏ đối với Trung Quốc ở Biển Đông. Tóm lại, tham vọng khống chế, kiểm soát tiến tới độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là xuyên suốt và không thay đổi. Nhằm thực hiện tham vọng này để đưa Trung Quốc thành một cường quốc biển, giới cầm quyền Bắc Kinh ngày càng trở nên hung hăng trong các hành động với các nước láng giềng ven Biển Đông khiến căng thẳng leo thang. Tuy nhiên, tham vọng bành trướng của Bắc Kinh cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ sự phản kháng mạnh mẽ của các nước ven Biển Đông mà đi đầu là Philippines và sự can dự ngày càng sâu của Mỹ và các nước ngoài khu vực.

]]>
Điều gì ẩn sau việc TQ tuyên bố xác lập đường cơ sở mới ở Vịnh Bắc Bộ?                   https://biendong.net/2024/06/24/dieu-gi-an-sau-viec-tq-tuyen-bo-xac-lap-duong-co-so-moi-o-vinh-bac-bo/ Mon, 24 Jun 2024 05:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=131248 Ngày 01/3/2024, Trung Quốc ra “Tuyên bố về đường cơ sở lãnh hải phía Bắc Vịnh Bắc Bộ” theo “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” của nước này ban hành ngày 25/02/1992, trong đó có 7 “điểm cơ sở” khi nối lại với nhau tạo thành một đường cơ sở mới nhằm tuyên bố “lãnh hải” ở Vịnh Bắc Bộ. Động thái trên của Trung Quốc đã và đang thu hút sự quan tâm của dư luận trong và ngoài khu vực thời gian qua, nhất là điều gì ẩn chứa đằng sau đó trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau khi trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, đã và đang trong giai đoạn phát triển rất tốt đẹp sau chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước diễn ra trong năm 2022 và 2023.    

Vịnh Bắc Bộ đã được Việt Nam và Trung Quốc ký kết phân định cách đây 20 năm…

Vịnh Bắc Bộ là một phần của Biển Đông, là một trong những vịnh biển lớn ở Đông Nam Á và thế giới, có diện tích khoảng 126.250km2 (36.000 hải lý vuông), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320km (176 hải lý), nơi hẹp nhất khoảng 220km (119 hải lý). Đây là một vịnh biển nửa kín, được bao bọc bởi bờ biển của Việt Nam và Trung Quốc, bao gồm bờ biển Đông Bắc Việt Nam, bờ biển phía Nam tỉnh Quảng Tây, bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam/Trung Quốc, và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam/Trung Quốc với đảo Cồn Cỏ/Việt Nam. Vịnh có hai cửa là eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với bề rộng khoảng 19 hải lý và cửa chính của vịnh từ đảo Cồn Cỏ/Việt Nam tới mũi Oanh Ca/đảo Hải Nam, rộng khoảng 119 hải lý. Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763km, phía Trung Quốc khoảng 695km. Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam/Trung Quốc khoảng 130km.

Với đặc điểm cấu tạo trên, khi Trung Quốc và Việt Nam mở rộng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) sẽ tạo ra vùng chồng lấn giữa vịnh, cần phải giải quyết. Do đây là một biển nửa kín, nên căn cứ Điều 63 và 123 của UNCLOS 1982, hai nước có nghĩa vụ hợp tác với nhau.

Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với cả Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến kinh tế, quốc phòng – an ninh, đồng thời là nơi chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là hải sản và dầu khí. Hai nước đều có nhu cầu đàm phán giải quyết phân chia vịnh bởi đây là một khía cạnh quan trọng của chủ quyền quốc gia, là công cụ xác định phạm vi quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển, bao gồm các quyền đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các vùng nước phía trên cho các mục đích khác nhau, bao gồm khai thác kinh tế và bảo vệ môi trường. Vì thế, Việt Nam và Trung Quốc đã khởi động tiến hành đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ từ năm 1974, kết thúc vào năm 2000 và đi đến ký kết hiệp định vào năm 2004.

Đây là một quá trình kéo dài trong nhiều năm, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, sự phát triển của luật biển quốc tế, cũng như nỗ lực và quyết tâm chính trị từ cả hai phía để đi đến kết quả. Trải qua 27 năm với 3 cuộc đàm phán chính trong các năm 1974, 1977 – 1978 và 1992 – 2000, trong đó các cuộc đàm phán cấp Chính phủ năm 1974 và năm 1977 – 1978 không đạt được kết quả vì lập trường hai bên cách xa nhau. Năm 1991, sau khi bình thường hóa quan hệ với nhau, hai nước đã quyết định đàm phán để giải quyết các vấn đề về biên giới và lãnh thổ, trong đó có việc phân định Vịnh Bắc Bộ. Trong 9 năm (1992 – 2000), hai bên đã tiến hành 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên và nhiều vòng họp khác của Tổ chuyên viên liên hợp, Tổ chuyên gia đo vẽ, xây dựng Tổng đồ Vịnh Bắc Bộ. Tổng cộng có đến 49 vòng họp, tính trung bình mỗi năm có hơn 5 vòng họp.

Căn cứ vào UNCLOS 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận rộng rãi, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị, ngày 25/12/2000, tại Bắc Kinh, hai nước đã ký kết Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ. Cùng ngày, hai bên cũng đã ký Hiệp định Hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, khác với Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ có thời hạn hiệu lực cụ thể (12 năm và 3 năm mặc nhiên gia hạn) và giá trị pháp lý ở mức cấp chính phủ phê duyệt. Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ có hiệu lực từ ngày 30/6/2004.

Đối với Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, hai bên thống nhất một đường phân định với 21 điểm kéo dài từ cửa sông Bắc Luân ra đến cửa vịnh phía Nam, trong đó từ điểm 1 đến điểm 9 là biên giới lãnh hải, từ điểm 9 đến điểm 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo Hiệp định, Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh. Ðường phân định đi cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý (25% hiệu lực). Ðảo Bạch Long Vĩ là một đảo nhỏ của Việt Nam (diện tích khoảng 2,5km2) lại nằm gần như ở giữa Vịnh Bắc Bộ, tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt, nên theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, chỉ được hưởng một phần hiệu lực hạn chế trong phân định. Ðảo Cồn Cỏ cũng là một đảo nhỏ nhưng nằm gần bờ của Việt Nam hơn (khoảng 13 hải lý) nên được hưởng 50% hiệu lực trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại đường đóng cửa vịnh. Ðây là một kết quả công bằng, đạt được trên cơ sở luật pháp quốc tế và điều kiện cụ thể của vịnh.

Hiệp định quy định hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong Vịnh Bắc Bộ, cũng như hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế hai nước…

Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ được ký kết có ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn. Lần đầu tiên, Việt Nam và Trung Quốc có một đường biên giới biển rõ ràng, bao gồm biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Thực tiễn triển khai cho thấy, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ không những đã tạo ra khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho mỗi nước tiến hành bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển bền vững Vịnh Bắc Bộ, góp phần duy trì ổn định trong vịnh, tăng cường tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước, mà còn đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới.

Trung Quốc nói sao khi công bố đường cơ sở mới trong Vịnh Bắc Bộ và…

Ngày 01/3/2024, trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đăng “Tuyên bố của Chính phủ nước CHND Trung Hoa về đường cơ sở lãnh hải phía Bắc Vịnh Bắc Bộ”. Trong tuyên bố này, Chính phủ Trung Quốc đưa ra 7 “điểm cơ sở” khi nối lại với nhau tạo thành một đường cơ sở mới nhằm tuyên bố “lãnh hải” ở Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, các điểm này không có trong 49 điểm cơ sở mà Trung Quốc công bố ngày 15/5/1996 để tính chiều rộng lãnh hải từ Hải Nam tới Thanh Đảo.

Lý giải cho việc làm này, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết: 1) Tuyên bố này được đưa ra dựa trên Điều 15 “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải” của nước này ban hành ngày 25/02/1992; 2) Đường cơ sở mới được vạch ra sẽ không tác động tiêu cực đến lợi ích của Việt Nam hay lợi ích của bất kỳ quốc gia nào khác, ngược lại, sẽ giúp tăng cường hợp tác hàng hải quốc tế giữa Trung Quốc và các nước liên quan, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng hải toàn cầu (giải thích của Bộ Ngoại giao Trung Quốc do Thời báo Hoàn cầu trích dẫn ngày 04/3/2024); 3) Việc công bố đường cơ sở của lãnh hải là hành động cần thiết để thực thi chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Ngoài ra, còn có những quy định quản lý, kế hoạch sử dụng nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế khác nhau. Chỉ bằng cách phân định đường cơ sở của lãnh hải thì phạm vi của các vùng biển nêu trên mới được xác định rõ ràng, đồng thời tạo cơ sở cho việc sử dụng biển theo tiêu chuẩn và khoa học của các tỉnh và khu vực ven biển (tài khoản Wechat chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đăng tải); 4) Việc công bố đường cơ sở phía Bắc Vịnh Bắc Bộ là một phần quan trọng trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm cải thiện việc phân định đường cơ sở lãnh hải, phục vụ phát triển kinh tế của các tỉnh và khu vực dọc phía Bắc Vịnh Bắc Bộ như Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, đồng thời phục vụ tốt hơn mục tiêu xây dựng Trung Quốc thành cường quốc biển (khẳng định của Cục Biên giới và Đại dương Trung Quốc); 5) Việc xác định đường cơ sở lãnh hải ở Vịnh Bắc Bộ là quyền chính đáng và hợp pháp của Trung Quốc (Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Bân trả lời phóng viên Bloomberg tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 15/3/2024); 6) Đây là “bước thứ hai trong quy trình ba bước phân định đường cơ sở lãnh hải của Trung Quốc, hoàn thành việc phân định tất cả các đường cơ sở nằm ở phía Nam Trung Quốc, có ý nghĩa rất lớn”. Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc “cơ bản không loại bỏ được các tranh chấp hàng hải giữa hai nước ở các vùng biển liên quan, do ranh giới hướng ra biển vẫn chưa rõ ràng; do đó, chỉ khi xác định được đường cơ sở thì cơ quan thực thi pháp luật mới có thể đo lường, tính toán rõ ràng ranh giới ngoài của lãnh hải 12 hải lý tính từ đường cơ sở thẳng” (đánh giá của ông Phó Côn Thành – Viện Nghiên cứu Vành đai và Con đường của Đại học Hạ Môn/Trung Quốc).

…điều gì ẩn sau việc làm trên của họ

Trong quá khứ, Trung Quốc đã 2 lần công bố tọa độ địa lý của một số đường cơ sở và điểm lãnh hải. Trong đó, lần thứ nhất là ngày 15/5/1996, cùng với việc phê chuẩn UNCLOS 1982, Trung Quốc ra tuyên bố về đường cơ sở. Theo đó: (i) Đường cơ sở phần lãnh hải tiếp giáp với lục địa Trung Quốc gồm 49 điểm, bắt đầu từ mũi nam của bán đảo Sơn Đông đến bãi đá Tuần Bích (Junbijiao) phía tây đảo Hải Nam (7 điểm cơ sở kết nối thành đường cơ sở mà Trung Quốc mới tuyên bố ngày 1/3/2024 không nằm trong 49 điểm này); (ii) Đường cơ sở tiếp giáp với quần đảo Hoàng Sa gồm 28 điểm, nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, bãi đá; iii) Các đường cơ sở còn lại của lãnh hải nước CHND Trung Hoa sẽ được thông báo vào một thời gian khác. Ngay sau tuyên bố này của Trung Quốc, dư luận lúc đó cho rằng, cùng với việc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam khi công bố đường cơ sở ở quần đảo Hoàng Sa (trước đó là đánh chiếm trái phép), việc Trung Quốc chưa công bố các đường cơ sở còn lại của lãnh hải nước CHND Trung Hoa, mà sẽ được thông báo vào một thời gian khác, cho thấy đây là một sự “để ngỏ” của Trung Quốc để dành cho khu vực Trường Sa và một số vùng biển, đảo đang có tranh chấp với nước khác. Lần thứ hai là năm 2012, Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở của quần đảo Điếu Ngư và các đảo liên quan, cùng với tên và tọa độ địa lý của 17 điểm lãnh hải. Như vậy, tiếp theo hai lần trên, đây là lần thứ ba Trung Quốc công bố đường cơ sở của mình.

Việc Trung Quốc tuyên bố thiết lập đường cơ sở mới ở Vịnh Bắc Bộ đã khiến dư luận trong và ngoài khu vực hết sức lo ngại về thái độ, cũng như những tác động tiềm ẩn đối với sự ổn định trong khu vực bởi, thực chất không phải như những gì Trung Quốc nói. Đó là:

Trước hết, xét về thái độ của Trung Quốc, nhiều chuyên gia về luật biển cho rằng, việc Trung Quốc công bố đường cơ sở mới tại vùng biển mà họ và Việt Nam đã có hiệp định phân chia rất rõ ràng rồi, nhẽ ra phải có sự bàn bạc, trao đổi trước với Việt Nam. Thế nhưng, Bắc Kinh lại không đếm xỉa gì cả, cứ như Vịnh Bắc Bộ là của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Đây ràng là một hành động tùy tiện, sai trái, thể hiện sự coi thường Việt Nam của Trung Quốc.

Thứ hai, đường cơ sở mới này không phù hợp với UNCLOS 1982 do một số điểm cơ sở nằm quá xa bờ biển, đó là điểm có tọa độ 21°00’36.0″N 109°05’12.0″E (đảo Weizhou/Vi Châu, cách đất liền Trung Quốc khoảng 45 hải lý) và 20°54’12.0″N 109°12’24.0″E (đảo Xieyang, cách đất liền Trung Quốc khoảng 30 hải lý). Nhiều chuyên gia về biển gọi đường cơ sở mới này của Trung Quốc là “quái dị”, bởi từ đây nó có thể dẫn đến những phức tạp trong các hoạt động hàng hải, bao gồm tự do hàng hải, nghiên cứu khoa học và hoạt động kinh tế trong khu vực. Nó cũng có thể dẫn đến nguy cơ, Trung Quốc sẽ định hình lại các ranh giới trên biển trong khu vực để khẳng định “các yêu sách và quyền tài phán” của mình ở Vịnh Bắc Bộ, vốn đã được xác định rất rõ trong Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ mà Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết. Bên cạnh đó, tranh chấp về yêu sách lãnh thổ có thể cản trở sự hợp tác trong các vấn đề như bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên, làm trầm trọng thêm căng thẳng trong khu vực. Ông Troy Lee-Brown – nhà nghiên cứu thuộc Viện Quốc phòng và An ninh/Đại học Tây Australia nhận định, đường cơ sở mới này có thể làm phức tạp các thỏa thuận trước đó với Việt Nam ở khu vực Vịnh Bắc Bộ.

Thứ ba, đường cơ sở mới do Trung Quốc công bố hôm 01/3/2024 cho thấy sự “tham lam” của họ, nó sẽ đẩy vùng nội thủy của Trung Quốc ra xa về phía Việt Nam; là bước đi tiếp theo trong ý đồ “chiếm biển” mà Trung Quốc đã nung nấu từ lâu. Giáo sư Carl Thayer – chuyên gia về Biển Đông của Australia mô tả đường cơ sở mới của Trung Quốc là “quá mức”; đồng thời nhấn mạnh những hậu quả tiềm ẩn của động thái này, bao gồm sự chồng chéo ngày càng mở rộng giữa vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và các khu vực mà Việt Nam và Trung Quốc cùng sử dụng để đánh bắt cá. Sự chồng chéo như vậy có thể làm gia tăng căng thẳng và tranh chấp trong khu vực, không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế mà còn ảnh hưởng đến bối cảnh địa chính trị rộng lớn hơn.

Thứ tư, Trung Quốc có thể sử dụng đường cơ sở mới này để yêu cầu các tàu thuyền Việt Nam cũng như tàu thuyền các nước đi vào khu vực mà Trung Quốc gọi là “lãnh hải” phải báo cáo, từ đó có thể tiến hành “xử lý các hành vi” mà họ cho là vi phạm theo luật pháp của Trung Quốc. Isaac Kardon – thành viên cấp cao tại Chương trình châu Á thuộc Quỹ Hòa bình quốc tế Carnegie có trụ sở tại Washington/Mỹ nhận định, việc phân định ranh giới mới nhất của Trung Quốc đã biến một phần phía Bắc Biển Đông thành vùng nội thủy của nước này tại những khu vực mà trước đây Bắc Kinh không xác định. Dù Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ không ảnh hưởng đến Việt Nam, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rất cao nếu Bắc Kinh thực thi chấp pháp trên biển theo đường cơ sở mới này, gây khó khăn cho ngư dân Việt Nam và có thể cản trở hoạt động hợp pháp của Việt Nam ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ, đồng thời có thể làm leo thang thêm căng thẳng và tranh chấp trong khu vực.

Thứ năm, đường cơ sở ở Vịnh Bắc Bộ mà Trung Quốc vừa tuyên bố có thể đóng vai trò là “đòn bẩy” cho Trung Quốc trong các cuộc đàm phán với Việt Nam về các vấn đề biển riêng biệt ở Biển Đông, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng thể hiện quyết tâm khẳng định quyền kiểm soát ở các khu vực có tầm quan trọng chiến lược. Trên trang EurAsian Times, ông Shashank S. Patel, một nhà phân tích địa chính trị chuyên theo dõi các hoạt động ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đánh giá rằng, việc Trung Quốc tuyên bố một đường cơ sở mà nhìn trên bản đồ thì chắc chắn nó “sẽ gây ảnh hưởng nhiều hơn đến vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam và vùng biển tranh chấp”. Ông Patel nhấn mạnh: “Trung Quốc đơn phương đưa ra đường cơ sở mới này là nỗ lực để hạn chế các đòi hỏi về quyền lợi của Việt Nam tại vùng EEZ của chính Việt Nam. Trung Quốc cũng sẽ giành nhiều quyền tiếp cận hơn tới các ranh giới trên biển, qua đó ngăn chặn sự can thiệp của phương Tây đối với các vấn đề ở Vịnh Bắc Bộ”. Từ những gì thấy được như trên, không chỉ dư luận trong và ngoài khu vực lo ngại mà chính Việt Nam cũng hết sức lo ngại. Tại họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Việt Nam vào chiều ngày 14/3/2024, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khi nói về việc Trung Quốc công bố đường cơ sở mới ở Vịnh Bắc Bộ đã cho rằng: “…các quốc gia ven biển cần tuân thủ UNCLOS 1982 khi xác định đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, đảm bảo không ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia khác, bao gồm quyền tự do hàng hải, quá cảnh qua các eo biển sử dụng cho hàng hải quốc tế phù hợp với UNCLOS 1982…”. Và cần nhấn mạnh rằng, cách thức tốt nhất và duy nhất đúng là Trung Quốc cần tôn trọng và tuân thủ nghiêm túc Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ đã ký với Việt Nam, vì nó thể hiện sự tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, những cam kết mà hai nước đã ký kết với nhau, phù hợp với 6 phương hướng hợp tác lớn trong thời gian tới đã được xác định trong Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (12/2023), đó là: Tin cậy chính trị cao hơn; hợp tác quốc phòng – an ninh thực chất hơn; hợp tác thực chất sâu sắc hơn; nền tảng xã hội vững chắc hơn; phối hợp đa phương chặt chẽ hơn; bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn.

]]>
Phân tích về cái gọi là “Thỏa thuận quân tử” giữa TQ và Philippines https://biendong.net/2024/06/24/phan-tich-ve-cai-goi-la-thoa-thuan-quan-tu-giua-tq-va-philippines/ Mon, 24 Jun 2024 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=131205 Trong bối cảnh căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines leo thang, Bắc Kinh một mặt tiếp tục gia tăng các hành động cưỡng ép trên thực địa mà tiêu biẻu là phun vòi rồng và đâm va tàu của Philippines, mặt khác liên tiếp đưa ra cái gọi là thỏa thuận với Philippines, nhưng đều bị chính quyền Manila bác bỏ.

Vậy đằng sau những động thái này của Bắc Kinh là gì? Tại sao Trung Quốc lại tung ra cái gọi là các “thỏa thuận” này vào thời điểm hiện nay. Đây là vấn đề được giới quan sát hết sức quan tâm theo dõi trong những ngày qua.

Chúng ta cùng phân tích những động thái dưới đây:

1. Khẩu chiến giữa Bắc Kinh và Manila về cái gọi là “thỏa thuận mật” liên quan đến những căng thẳng ở khu vực Bãi Cỏ Mây kéo dài từ giữa tháng tư tới này.

Ngày 18/4, Người phát ngôn của Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila cho biết Trung Quốc và Philippines đã nhất trí vào đầu năm nay về một “mô hình mới” trong việc quản lý căng thẳng tại Bãi cạn Second Thomas (Việt Nam gọi là Bãi Cỏ Mây, Philippines gọi là Ayungin, Trung Quốc gọi là Nhân Ái Tiêu) mà không nêu chi tiết. Chính quyền Manila ngay lập tức bác bỏ.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro ngày 27/4 nói Bộ của ông “không biết, hoặc không phải là một bên trong bất cứ thỏa thuận nội bộ nào với Trung Quốc” kể từ khi Tổng thống Ferdinand Marcos Jr nhậm chức vào năm 2022. Các quan chức của Bộ quốc phòng đã không nói chuyện với bất kỳ quan chức Trung Quốc nào kể từ năm 2023.

Tiếp đó ngày 04/5, Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila tuyên bố Bộ Tư lệnh phía Tây (WESCOM) thuộc Lực lượng vũ trang Philippines đã nhiều lần xác nhận “mô hình mới” để xử lý căng thẳng gia tăng ở các vùng tranh chấp đã được các quan chức chủ chốt của chính phủ Philippines (bao gồm Bộ trưởng Quốc phòng và Cố vấn An ninh quốc gia) ủng hộ. Tuyên bố được đăng trên trang mạng chính thức của Đại sứ quán Trung Quốc khẳng định cam kết quản lý hợp lý các bất đồng trên biển đã đạt được thông qua đối thoại và tham vấn với WESCOM vào đầu năm nay sau nhiều vòng thảo luận. Theo đó, “thỏa thuận quân tử” được cho là kết quả cụ thể của những nỗ lực để tiếp nối những đồng thuận quan trong giữa nguyên thủ hai nước nhằm giảm căng thẳng ở Biển Đông.

Ngày 05/5, nhiều quan chức Philippines, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro đã lên tiếng cực lực bác bỏ và khẳng định đây là một hành động nhằm gây chia rẽ, đánh lạc hướng công luận về các hành động “bất hợp pháp” của Trung Quốc ở Biển Đông. Bộ trưởng Gilberto Teodoro nhấn mạnh tuyên bố nói trên của Trung Quốc là để biện minh cho sự hiện diện bất hợp pháp của nước này ở vùng Biển Tây Philippines (cách Philippines gọi Biển Đông); đây là cách “chơi chữ” và “mọi ám chỉ” của phía Trung Quốc về việc Bộ Quốc phòng tham gia “mô hình mới” giải quyết tranh chấp đều là một “mưu đồ quỷ quyệt” của Bắc Kinh thông qua Đại sứ quán ở Manila.

Đáp trả lại phát biểu của Bộ trưởng Gilberto Teodoro, các quan chức Trung Quốc nói rằng nước này có thể sớm công khai đoạn ghi âm cuộc điện đàm với một quan chức quân đội Philippines để chứng minh hai bên đã có thỏa thuận bí mật về cấu trúc tranh chấp trên biển. Đây là diễn biến mới nhất trong cuộc khẩu chiến giữa Trung Quốc và Philippines liên quan đến vấn đề tranh chấp trên Biển Đông.

Theo hãng tin Bloomberg Mỹ, các quan chức Bắc Kinh gửi cho hãng tin này một bản gỡ băng về cuộc điện đàm giữa quan chức Trung Quốc và Philippines vào ngày 3/1/2024, trong đó Phó Đô đốc Alberto Carlos – Chỉ huy Bộ Tư lệnh miền Tây của quân đội Philippines, đồng ý với “mô hình mới” để thực hiện hoạt động tiếp tế cho lực lượng Philippines đồn trú trên một chiếc tàu chiến cũ ở Biển Đông. Trong những ngày gần đây, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng đã thảo luận với Bộ Tư lệnh miền Tây của quân đội Philippines trong năm ngoái, và đã được các quan chức cấp cao của quân đội Philippines chấp thuận, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro Jr. và Cố vấn An ninh quốc gia Eduardo Ano. Bản gỡ băng mà Trung Quốc cung cấp dẫn lời ông Carlos nói rằng, Bộ trưởng Quốc phòng Teodoro, Cố vấn An ninh quốc gia Ano, và Tổng Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Romeo Brawner đã ký vào thỏa thuận. Tuy nhiên, các quan chức Philippines đều bác bỏ thông tin mà Trung Quốc đưa ra.

Ngày 07/5/2024, khi được hỏi về đoạn ghi âm cuộc điện đàm giữa quan chức Trung Quôc với Phó Đô đốc Carlos, Bộ trưởng Quôc phòng Philippines Teodoro nói với Bloomberg rằng không biết gì về chuyện này, đồng thời nhấn mạnh: “Không ai ngoài Tổng thống, thông qua Bộ Ngoại giao, có quyền đồng ý với bất kỳ thỏa thuận nào liên quan đến bất kỳ vấn đề quốc tế nào”. Cũng trong ngày 07/5/2024, quân đội Philippines khẳng định Lãnh đạo Bộ Tư lệnh miền Tây không tham gia thỏa thuận nào với Bắc Kinh. Khi được hỏi về vấn đề này, Người phát ngôn quân đội Philippines, Đại tá Francel Margareth Padilla cho biết: “Chúng tôi không thể bình luận vì chưa thấy bản gỡ băng. Liệu đó là thật hay bịa đặt? Cuộc điện đàm có thể là sản phẩm deep fake”.

Một điều cần phải nhấn mạnh ở đây rằng các băng ghi âm không được thừa nhận là những chứng cứ pháp lý về một thỏa thuận nào đó. Hơn thế nữa, Trung Quốc luôn dùng mọi thủ đoạn nhằm đạt được mục tiêu của mình, kể cả giả tạo các chứng cứ nên ý kiến của Đại tá Francel Margareth Padilla là điều dễ hiểu. Một số chuyên gia cho rằng kể cả trong trường hợp quan chức Philippines nào đó có trao đổi về vấn đề liên quan đến căng thẳng ở Bãi Cỏ Mây thì cũng là để ngăn chặn các hành động hung hăng của tàu hải cảnh Trung Quốc, không để căng thẳng leo thang.

Ngày 8/5, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lâm Kiếm cho biết Đại sứ quán Trung Quốc ở Manila đã công bố thông tin chi tiết “các trao đổi có liên quan” giữa hai nước về việc quản lý tình hình tại Bãi Cỏ Mây”, song không nói thêm chi tiết. Ông Lâm Kiếm cáo buộc: “Sự thật là rất rõ ràng và được củng cố bằng những bằng chứng không thể chối cãi. Tuy nhiên, Philippines nhất quyết phủ nhận những sự thật khách quan này và tìm cách đánh lừa cộng đồng quốc tế”.

Liên quan đến đoạn băng ghi âm nói trên, cũng trong ngày 8/5 Tư lệnh quân đội Philippines-ông Romeo Brawner nhấn mạnh: “Các bản ghi có thể dễ dàng được làm giả và các bản ghi âm có thể được tạo ra từ deep fake. Những báo cáo này chỉ nhằm mục đích đánh lạc hướng [dư luận] khỏi hành vi hung hăng đang diễn ra của lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc” đồng thời tố cáo Bắc Kinh đang “nỗ lực gây ảnh hưởng xấu”.

Cuối năm 2023, khi đối đầu giữa các tàu hải cảnh Trung Quốc và các tàu công vụ của Philippines ở khu vực Bãi Cỏ Mây liên tục diễn ra, Bắc Kinh cũng đã tung tin về một thỏa thuận giữa Bắc Kinh và Manila. Trung Quốc cũng tuyên bố rằng giới chức Philippines hứa sẽ kéo đi tàu hải quân mà nước này neo đậu một cách có chủ định tại Bãi Cỏ Mây hồi năm 1999 nhằm làm tiền đồn của Manila. Giới chức Philippines dưới thời Marcos nói rằng họ không biết về bất kỳ thỏa thuận nào tương tự và sẽ không di dời tàu BRP Sierra Madre hiện đã mục nát và rỉ sét, nơi chỉ có một nhóm nhỏ thủy thủ và lính thủy đánh bộ Philippines đồn trú.

2. Hai ngày sau vụ việc tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng cơ mạnh vào 2 tàu công vụ của Philippines (01 tàu của lực lượng tuần duyên và 01 tàu của Tổng cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản tại khu vực Bãi cạn Scarborough) hôm 30/4, Bắc Kinh cho công bố cái gọi là ‘thỏa thuận bí mật” giữa Bắc Kinh và Manila. Trong thông cáo đăng trên trang web Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila ngày 02/5/2024,, Đại sứ quán Trung Quốc đề cập “thỏa thuận đặc biệt tạm thời” giữa hai nước đã được Tổng thống Philippines khi đó là ông Rodrigo Duterte đồng ý trong chuyến thăm Bắc Kinh năm 2016. Theo đó, thỏa thuận cho phép đánh bắt cá quy mô nhỏ quanh vùng biển tại bãi cạn này nhưng hạn chế quyền tiếp cận của quân đội, lực lượng bảo vệ bờ biển và các máy bay, tàu chính thức trong phạm vi lãnh hải 12 hải lý (22 km).

Thông cáo đăng trên trang mạng Đại sứ quán Trung Quốc nhấn mạnh Philippines tôn trọng thỏa thuận suốt 7 năm qua nhưng sau đó đã từ bỏ lập trường này để “hoàn thành chương trình nghị sự chính trị của riêng mình”, buộc Trung Quốc phải hành động. Trong thông cáo của Đại sứ quán có đoạn: “Đây là lý do cơ bản dẫn đến những tranh chấp liên tục trên biển giữa Trung Quốc và Philippines trong năm qua và hơn thế nữa”.

Đây là lần đầu tiên Trung Quốc công bố cái mà họ gọi là một thỏa thuận bất thành văn năm 2016 với Philippines về quyền tiếp cận các đảo ở Biển Đông. Tuy nhiên, cả Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. và người tiền nhiệm Duterte đều phủ nhận việc thúc đẩy bất kỳ thỏa thuận nào được cho là sẽ từ bỏ chủ quyền hoặc các quyền chủ quyền của Philippines trước Trung Quốc. Những hành động này, nếu được chứng minh là có thật, sẽ là một hành vi có thể bị luận tội theo Hiến pháp năm 1987 của Philippines.

Tuy nhiên, theo ông Collin Koh, thành viên cấp cao của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, sau chuyến thăm Bắc Kinh năm 2016, chính ông Duterte đã bóng gió về một thỏa thuận tương tự dù không nói chi tiết. Chuyên gia về các vấn đề hải quân ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Nam Á, này bình luận: “Khi đó Duterte khoe rằng ông ấy không chỉ nhận được các cam kết đầu tư và thương mại của Trung Quốc mà còn bảo đảm cho ngư dân Philippines tiếp cận Bãi cạn Scarborough”. Chuyên gia Koh chỉ ra rằng cách dùng từ có chủ ý của Bắc Kinh trong tuyên bố này “đáng chú ý bởi chúng thể hiện rằng Bắc Kinh không có tài liệu chính thức nào để chứng minh các lập luận của mình và do đó chỉ có thể chủ yếu dựa vào tuyên bố bằng lời nói của Duterte”.

Cựu Tổng thống Duterte, người đã nuôi dưỡng mối quan hệ nồng ấm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong suốt 6 năm nhiệm kỳ, đồng thời công khai tỏ ra thù địch với Mỹ vì nước này chỉ trích mạnh mẽ chiến dịch chống ma túy mạnh tay mà Manila tiến hành. Dù vẫn duy trì lập trường chống Mỹ gay gắt trong chuyến thăm Washington cùng năm 2016, ông Duterte khẳng định không ký kết bất kỳ thỏa thuận nào với Bắc Kinh cho phép những hành vi có thể xâm phạm lãnh thổ Philippines. Mặt khác, ông Duterte thừa nhận đã cùng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhất trí duy trì “nguyên trạng” ở vùng biển tranh chấp để tránh chiến tranh. Duterte cho biết: “Ngoài cái bắt tay với Chủ tịch Tập Cận Bình, điều duy nhất tôi nhớ là cụm từ hiện trạng. Không có tiếp xúc, không có di chuyển, không có các cuộc tuần tra vũ trang ở đó, vì vậy sẽ không có bất kỳ cuộc đối đầu nào”.

Khi được hỏi rằng liệu ông đã nhất trí cam kết Philippines không cung cấp vật liệu xây dựng để củng cố tiền đồn tại Bãi Cỏ Mây hay không, ông Duterte nói rằng đó là một phần của việc duy trì hiện trạng, song nhấn mạnh không có thỏa thuận bằng văn bản. Cựu Tổng thống Philippines nói: “Đó là những gì tôi nhớ. Nếu đó là một thỏa thuận quân tử, chắc chắn thỏa thuận đó là nhằm giữ hòa bình ở Biển Đông”. Khẳng định của ông Duterte phù hợp với nhận định của chuyên gia Collin Koh là không có tài liệu chính thức về “thỏa thuận đặc biệt tạm thời” liên quan đến Biển Đông vào năm 2016.

Tổng thống Marcos, người nhậm chức vào tháng 6/2022, tuyên bố trước báo giới rằng: “Người Trung Quốc khăng khăng rằng có một thỏa thuận bí mật và có thể là có, song tôi nói rõ rằng là tôi không hề biết gì về thỏa thuận bí mật. Và nếu thực sự có một văn bản như thế, tôi sẽ hủy bỏ ngay”. Chủ tịch Hạ viện Philippines Ferdinand Martin Romualdez, là người anh họ và cũng là đồng minh chính trị của ông Marcos, đã ra lệnh điều tra cái mà một số người gọi là “thỏa thuận quân tử”.

Giới chuyên gia đã đưa ra những lý giải về ý đồ và mục tiêu của Trung Quốc tung tin về các “thỏa thuận mật” của Bắc Kinh vào thời điểm hiện nay:

Thứ nhất, đây là mưu đồ “gắp lửa bỏ tay người” của Bắc Kinh. Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc leo thang, dư luận quốc tế rất bất bình về cách hành xử vô nhân đạo của các tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng, đâm va, gây thương tích cho nhân viên của Philippines. Bắc Kinh đưa ra các “thỏa thuận” này nhằm đổ lỗi cho Philippines, lấy cớ cáo buộc Manila “vi phạm các cam kết” và “hành động bất hợp pháp” ở Biển Đông để lấp liếm cho các hành vi gây nguy hiểm cho các tàu của Philippines.

Một số chuyên gia cho rằng kể cả trong trường hợp có các thỏa thuận như phía Trung Quốc nêu thì các tàu hải cảnh của Trung Quốc cần kiềm chế, không được có những hành động nguy hiểm như họ đã gây ra với tàu của Philippines. Trong trường hợp mà phía Philippines vi phạm thỏa thuận thì Bắc Kinh có quyền đưa ra những nội dung cụ thể của thỏa thuận để làm rõ hành vi sai trái của đối phương. Bất luận thế nào thì việc các tàu hải cảnh liên tiếp Trung Quốc bắn vòi rồng áp suất cao rồi đâm va vào các tàu của Philippines hoàn toàn là sai trái, việc Bắc Kinh đưa ra cái gọi là “thỏa thuận” nói trên càng làm cho thế giới thấy rõ bộ mặt xảo trá của họ.

Thứ hai, qua việc việc làm này, Bắc Kinh muốn phân hóa, chia rẽ nội bộ Philippines và gây mất đoàn kết giữa các nước ASEAN trên vấn đề Biển Đông. Sau khi nhậm chức, Tổng thống Philippines Marcos Jr thi hành một chính sách cứng rắn, kiên quyết trên vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đưa ra cái gọi là các “thỏa thuận đặc biệt” để gây mất đoàn kết trong nội bộ Philippines, gây đối đầu giữa chính quyền của ông Marcos với chính quyền tiền nhiệm của ông Duterte và gây bất hòa giữa các cơ quan hiện nay của chính quyền Philippines. Tuy nhiên, mưu đồ của Bắc Kinh đã bị vạch trần khi cả ông Marcos lẫn ông Duterte hay các quan chức của các ngành trong chính quyền Philippines đều công khai bác bỏ cái gọi là các “thỏa thuận” mà Bắc Kinh nêu ra. Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro nhấn mạnh mưu đồ của Bắc Kinh tung tin về cái gọi là “thỏa thuận quân tử” là nhằm chia rẽ người Philippines, vì vậy ông cần lên tiếng để nâng cao nhận thức trong dư luận, vạch trần những toan tính với dụng ý xấu của Bắc Kinh. Với ASEAN, Trung Quốc muốn tung ra các thông tin này để tạo sự nghi ngờ lẫn nhau giữa các nước ASEAN, tạo cớ cho một hai nước thân cận với Bắc Kinh lấy lý do để chống lại việc lên án hành vi hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, khiến ASEAN không thể có tiếng nói chung ủng hộ Philippines-một thành viên của ASEAN. Tuy nhiên, các nước ven Biển Đông trong ASEAN đã từng là nạn nhân từ sự hung hăng của Bắc Kinh nên hiểu rõ bản chất của giới cầm quyền ở Bắc Kinh nên sẽ không thể mắc lừa trước việc làm này của Trung Quốc. Việc Bắc Kinh tung tin về “thỏa thuận” kể trên chỉ khiến các nước ven Biển Đông thêm cảnh giác với thủ đoạn xảo quyệt của Bắc Kinh.

]]>
Mối liên hệ giữa tranh chấp Biển Đông với eo biển Đài Loan https://biendong.net/2024/06/01/moi-lien-he-giua-tranh-chap-bien-dong-voi-eo-bien-dai-loan/ Sat, 01 Jun 2024 01:11:00 +0000 https://biendong.net/?p=130656 Giới chuyên gia cho rằng trong bối cảnh Bắc Kinh ngày càng trở nên quyết đoán và hung hăng thì 2 “điểm nóng” ở châu Á-Thái Bình Dương – Biển Đông và Eo biển Đài Loan – đang ở vào thời điểm quan trọng.

Trên thực tế, 2 “điểm nóng” này liên quan trực tiếp tới tham vọng của Trung Quốc vượt qua chuỗi đảo thứ nhất để vươn ra biển xa, đưa nước này trở thành “cường quốc biển”. Chúng ta cùng phân tích những nỗ lực của Trung Quốc trong việc khống chế, thôn tính 2 vùng biển này để hiểu rõ điều đó.

Ở Biển Đông, Trung Quốc đã tăng cường sự quyết đoán về mặt quân sự đối với Philippines, nhưng đồng thời cũng đưa ra triển vọng can dự ngoại giao. Cách tiếp cận này nhằm mục đích củng cố sự thống trị của Bắc Kinh trong khu vực, đồng thời hạn chế khả năng đối đầu trực tiếp, nhất là khi có sự can dự của Mỹ. Một chiến lược như vậy tạo cơ hội cho quan điểm lạc quan rằng một bước đột phá ngoại giao, có thể do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) làm trung gian, có khả năng dẫn đến một thỏa thuận cùng có lợi giữa Trung Quốc và Philippines, thúc đẩy hợp tác và ổn định khu vực thông qua việc thăm dò và quản lý tài nguyên chung.

Tuy nhiên, điều ít tính khích lệ hơn là, trong khi Trung Quốc có thể không muốn một cuộc đối đầu quân sự trực tiếp, tần suất và tính khốc liệt của các sự cố hàng hải làm tăng khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng lớn hơn ngoài ý muốn. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân ngày 12/3 khẳng định rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và không có tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông”. Những tuyên bố kiểu này có khả năng dẫn đến leo thang căng thẳng hơn nữa, thử thách sự đảm bảo an ninh của Mỹ trong khu vực, cũng như ý chí của Trung Quốc trong việc chứng minh những lời đe dọa của mình là sự thật.

Trong khi đó, Eo biển Đài Loan có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược hàng hải rộng lớn hơn của Trung Quốc, ảnh hưởng đến các hành động của nước này ở Biển Đông. Trong lịch sử, căng thẳng ở Eo biển Đài Loan đã thúc đẩy các nỗ lực hiện đại hóa quân sự và điều chỉnh học thuyết của Trung Quốc, với sự nhấn mạnh hiện nay vào các chiến lược ngăn chặn và chống tiếp cận khu vực, bao gồm cả phong tỏa hải quân. Một vụ va chạm gần quần đảo Kim Môn (Kinmen) ở Eo biển Đài Loan hồi tháng 2/2024 đã dẫn đến xung đột mới giữa Bắc Kinh và Đài Bắc. Điều này diễn ra sau các hoạt động gần đây của hải quân Mỹ ở Eo biển Đài Loan nhằm nhấn mạnh cam kết của Washington trong việc chống lại sự quyết đoán của Bắc Kinh và hỗ trợ an ninh của Đài Loan. Trong tháng 2, Hải quân Mỹ đã cùng lúc triển khai 3 tàu sân bay tới Thái Bình Dương lần đầu tiên sau 2 năm. Vì vậy, giới chuyên gia nhận định có khả năng Trung Quốc sẽ tăng cường áp lực đối với Philippines ở Biển Đông nhằm giảm bớt các cam kết của Mỹ đối với Eo biển Đài Loan.

Mặc dù các cuộc đụng độ của Trung Quốc với Philippines chiếm hầu hết các tiêu đề bài báo trong thời gian gần đây, song những diễn biến khác trong khu vực – bao gồm cả việc Trung Quốc công bố đường cơ sở xác định lãnh thổ của nước này ở phía Bắc Vịnh Bắc Bộ, nơi nước này đã có đường phân định với Việt Nam cách đây hơn 20 năm – cũng thu hút sự quan tâm của dư luận. Bộ “7 điểm cơ sở” do Bắc Kinh công bố này cho thấy, khi được kết nối, chúng sẽ tạo thành một đường cơ sở mới cho các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh ở Vịnh Bắc Bộ. Cùng với đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định tính cấp thiết của việc chuẩn bị cho cuộc đấu tranh quân sự trên biển. Dù lời lẽ của ông Tập không mới nhưng phát biểu này của ông Tập đưa ra vào thời điểm cạnh tranh địa chiến lược Trung – Mỹ ở khu vực ngày càng gay gắt khiến các nước trong khu vực, nhất là các nước ven Biển Đông càng thêm lo ngại.

Theo quan điểm của Mỹ, tranh chấp Biển Đông nên được coi là cơ hội để cân bằng sự cạnh tranh của chính Mỹ với Trung Quốc bằng các sáng kiến ngoại giao nhằm điều chỉnh tranh chấp. Khu vực này cảnh giác với những cái giá phải trả từ cạnh tranh chiến lược, tạo cơ hội cho Washington nhấn mạnh giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và các nguyên tắc tự do hàng hải – điều mà Mỹ đang thực hiện nhưng gặp khó khăn do bản thân họ không phải là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển.

Nhận thức rõ mối liên hệ giữa tranh chấp Biển Đông và Eo biển Đài Loan, bên cạnh việc tăng cường sự phòng thủ ở Biển Đông, Philippines còn tăng cường sự hiện diện quân sự trên các hòn đảo ở phía Bắc đối diện với Eo biển Đài Loan. Đầu tháng 2/2024, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro đã đến thăm một đơn vị hải quân ở Mavulis, nằm cách mũi phía Nam của Đài Loan chỉ 88 dặm và thậm chí còn gần nhiều hòn đảo lân cận của Đài Loan hơn. Hải quân Philippines mô tả chuyến thăm chưa từng có của Bộ trưởng Quốc phòng Teodoro biểu thị “thời điểm then chốt trong cam kết của quốc gia chúng ta về bảo vệ lãnh thổ và an ninh quốc gia”.

Trong chuyến thăm Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro đã ra lệnh cho quân đội tăng số lượng binh sĩ đồn trú tại các đảo cực bắc gần Eo biển Đài Loan để củng cố khả năng phòng thủ lãnh thổ của Manila. Hải quân Philippines cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro cũng kêu gọi phát triển thêm công trình trên quần đảo Batanes ở phía Bắc xa xôi, cách Đài Loan chưa đầy 200 km (125 dặm). Ông Teodoro nhấn mạnh Batanes là “mũi nhọn của Philippines ở ranh giới phía bắc”, đồng thời cho biết: “Bắt đầu từ năm 2024, nhịp độ hoạt động của Lực lượng vũ trang Philippines (AFP) sẽ cao hơn”.

Kênh Bashi giữa các đảo Batanes và Đài Loan chiếm vị trí quan trọng đối với các tàu di chuyển giữa Tây Thái Bình Dương vào Biển Đông. Thời gian qua, quân đội Trung Quốc thường xuyên cử tàu và máy bay đi qua eo biển này. Các nhà phân tích nhận định việc tăng cường hiện diện ở các đảo Batanes giúp kiếm soát tuyến đường qua kênh Bashi, đồng nghĩa với việc theo dõi di chuyển của các tàu chiến từ Tây Thái Bình Dương và Eo biển Đài Loan hay Biển Đông. Đây là lý do ông Teodoro tới thăm khu vực này. Đáng chú ý việc tăng cường sự hiện diện của quân đội Philippines ở các đảo phía Bắc gần Eo biển Đài Loan gắn liền với việc mở rộng hợp tác quốc phòng giữa Philippines và Mỹ.

Các chiến lược gia Philippines cho rằng Trung Quốc đang ngày càng coi Kênh Bashi, Biển Đông và Eo biển Đài Loan như một phần của một trận địa tổng hợp. Theo họ, điều này thúc đẩy Manila cần phải thực hiện các biện pháp đối phó toàn diện tương ứng. Với nhận thức đó, giới quân sự Philippines đã phải điều chỉnh chiến lược phòng thủ của mình hướng lên phía Bắc. Qua việc tăng cường sự hiện diện của quân đội Philippines và cho phép quân đội Mỹ quyền tiếp cận 3 căn cứ quân sự nằm ở các địa phương phía Bắc, chính quyền Manila có thể giám sát các hoạt động của tàu quân sự các nước qua Kênh Bashi, thúc đẩy việc duy trì nguyên trạng ở Eo biển Đài Loan.

Batanes từng là một trong những địa điểm huấn luyện trong cuộc tập trận quân sự chung tháng 4/2023, được gọi là Balikatan, với sự tham gia của hơn 17.000 binh sĩ Philippines và Mỹ, khiến nó trở thành cuộc tập trận quân sự thường niên lớn nhất từ trước đến nay. Tháng 11/2023, quân đội Philippines và Mỹ đã tuần tra chung ngoài khơi vùng biển cực bắc của Philippines. Mỹ cũng đang xem xét phát triển cơ sở cảng biển ở tỉnh Batanes, phía Bắc Philippines, trong đó có Mavulis. Tháng 8/2023, các quan chức Lầu Năm Góc được cho là đã tới Batanes để thảo luận với Thống đốc Marilou Cayco về nguồn tài trợ cho dự án này. Đây được coi là một động thái nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của Mỹ tới các hòn đảo có vị trí chiến lược đối diện với Đài Loan.

Tháng 2/2023 Philippines và Mỹ đã đạt thỏa thuận cho phép lực lượng quân đội Mỹ có thể tiếp cận thêm 4 căn cứ quân sự mới trong khuôn khổ sửa đổi Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường (EDCA). Điều khiến giới quan sát ngạc nhiên là quyết định của Manila mở rộng các giới hạn của EDCA với định hướng phía Bắc hướng tới Đài Loan thay vì hướng Tây hướng tới Biển Đông, nơi Manila và Bắc Kinh đang mâu thuẫn gay gắt về các vùng lãnh thổ và thực thể tranh chấp. Theo đó, có ba căn cứ ở phía Bắc đối diện với Eo biển Đài Loan, chỉ có một căn cứ ở Palawan kề với Biển Đông.

Tổng thống Philippines Marcos Jr. thừa nhận rằng “rất khó để tưởng tượng” đất nước của ông vẫn giữ thái độ “trung lập” hoàn toàn trong bối cảnh lo ngại về một cuộc xung đột ở Eo biển Đài Loan do Trung Quốc tiến hành. Các chuyên gia quân sự cho rằng điều này cho thấy cách nhìn xa trông rộng mang tính chiến lược của ông Marcos bởi tính chất 2 vùng biển này tuy có khác nhau (Eo biển Đài Loan là tranh chấp giữa Bắc Kinh và Đài Loan, còn Biển Đông là tranh chấp đa phương gồm 6 bên), song nếu xung đột xảy ra ở Eo biển Đài Loan sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Biển Đông. Nếu Trung Quốc đánh chiếm Đài Loan thôn tính được Eo biển Đài Loan, thì họ sẽ tiếp tục lấn tới ở Biển Đông. Mặt khác, việc Bắc Kinh phải lo ứng phó ở Eo biển Đài Loan sẽ khiến họ không thể rảnh tay tập trung sức mạnh vào Biển Đông.

Chính quyền Philippines khẳng định rằng bất kỳ sự hợp tác nào với Lầu Năm Góc đều chủ yếu hướng tới mục tiêu kinh tế và dân sự. Ví dụ, cảng ở Batanes được cho là sẽ tăng cường kết nối giữa tỉnh tương đối biệt lập (được bao quanh bởi biển động và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi gió mùa) và phần còn lại của Philippines. Đối với các cơ sở cảng ở các tỉnh khác cũng thuộc phía Bắc Philippines, chính quyền Manila nhấn mạnh rằng bất kỳ sự hỗ trợ hoặc sự hiện diện luân phiên nào của Mỹ sẽ chủ yếu dành cho các hoạt động Hỗ trợ Nhân đạo và Cứu trợ Thiên tai (HADR). Nhưng như một quan sát viên ở Washington đã nói, những cơ sở đó cũng có thể có “công dụng kép”. Ví dụ, về mặt lý thuyết, chúng được xây dựng để làm bãi đậu cho máy bay vận tải phục vụ hoạt động của HADR nhưng cũng có thể là bến đáp của các máy bay chiến đấu và hệ thống vũ khí thiên về tấn công hơn.

Steve Tsang, Giám đốc Viện Trung Quốc tại Trường Nghiên cứu Phương Đông và châu Phi ở London, gần đây đã nói với giới truyền thông: “Bắc Kinh sẽ coi bất kỳ động thái nào của Mỹ nhằm xây dựng các cảng và cơ sở hậu cần phục vụ mục đích dù là quân sự hay dân sự” ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là một hành động thù địch vì chúng cũng có thể “được sử dụng để hỗ trợ bất kỳ sự can thiệp tiềm tàng nào của Mỹ trong trường hợp Trung Quốc sử dụng vũ lực chống Đài Loan”.

Mặc dù luôn khẳng định chiến lược tăng cường sức mạnh quốc phòng của Philippines chủ yếu là “phòng thủ” và không nhắm vào bất kỳ quốc gia cụ thể nào (ám chỉ Trung Quốc), song mặt khác chính quyền Marcos Jr đã gửi đi những tín hiệu lẫn lộn về lập trường của họ đối với vấn đề Đài Loan. Trong chuyến thăm Washington tháng 5/2023, Tổng thống Philippines đã bóng gió đề cập khả năng nước này tham gia chiến lược “răn đe tổng hợp” liên quan đến Đài Loan. Giới chuyên gia cho rằng sự lấp lửng, không rõ ràng này của ông Marcos cũng là nhằm đối phó với chính sách hai mặt, “nói một đằng, làm một nẻo” của Bắc Kinh. Tóm lại, trong bối cảnh các hành động hung hăng, gây hấn của Bắc Kinh nhằm vào Manila ở Biển Đông ngày càng gia tăng, chính quyền của Tổng thống Marcos Jr. đang có cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc ứng phó với Trung Quốc cả ở Biển Đông lẫn Eo biển Đài Loan trong đó kiểm soát Kênh Bashi là mục tiêu Manila đang hướng tới. Điều này trở thành động lực cho những nỗ lực đổi mới trong khu vực nhằm duy trì nguyên trạng ở cả Biển Đông lẫn Eo biển Đài Loan.

]]>
Vạch trần việc truyền thông TQ thao túng thông tin về Biển Đông https://biendong.net/2024/03/01/vach-tran-viec-truyen-thong-tq-thao-tung-thong-tin-ve-bien-dong/ Fri, 01 Mar 2024 02:22:00 +0000 https://biendong.net/?p=124084 Việc Trung Quốc sử dụng cơ quan truyền thông của mình để áp đặt các thông tin theo quan điểm của Bắc Kinh được các học giả nêu ra nhiều lần. Trung Quốc từ lâu đã hiểu tầm quan trọng của việc sử dụng thông tin để thao túng người dân cả trong nước và ngoài nước. Bắc Kinh luôn sử dụng cỗ máy truyền thông của mình để tung tin giả, bóp méo sự thật, vu cáo các nước nhằm truyền bá quan điểm sai trái của họ.

Về cốt lõi, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản “tin giả” là những câu chuyện hoặc tin tức sai sự thật. Có thể bản thân câu chuyện là bịa đặt, không phải sự thật, không có nguồn hoặc trích dẫn có thể kiểm chứng. Đôi khi những câu chuyện này có thể mang tính chất tuyên truyền được thiết kế có chủ ý để đánh lừa người đọc.

Trong thời đại công nghệ 4.0 với công nghệ thông tin không ngừng phát triển, sự ra đời của phương tiện truyền thông xã hội cho phép những câu chuyện tin tức giả mạo sinh sôi nảy nở nhanh chóng và dễ dàng lan truyền khi mọi người chia sẻ ngày càng nhiều thông tin trực tuyến. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc coi lĩnh vực không gian mạng là một nền tảng mới nổi và lý tưởng để tiến hành các hoạt động gây ảnh hưởng tới môi trường kỹ thuật số. Các hoạt động trên không gian mạng của Bắc Kinh đã trở thành những nỗi kinh hoàng thường xuyên đối với nhiều quốc gia. Bắc Kinh sử dụng các chiến dịch không gian mạng và thông tin sai lệch để đạt được kết quả có lợi cho các mục tiêu chiến lược dài hạn của nước này.

Thông tin sai lệch là thông tin không chính xác được tạo ra hoặc lan truyền một cách cố tình, với mục đích “nhằm gây ảnh hưởng đến dư luận hoặc che đậy sự thật”. Bắc Kinh đã đầu tư hàng tỷ USD để xây dựng một hệ sinh thái thông tin trong đó tuyên truyền và thông tin sai lệch của Trung Quốc thu hút được sự chú ý và chiếm ưu thế. Các thông tin sai lệnh như vậy cho phép Bắc Kinh thực hiện quyền kiểm soát các câu chuyện trong không gian thông tin toàn cầu thông qua việc thúc đẩy nội dung ủng hộ Bắc Kinh một cách sai lệch hoặc thiên vị và ngăn chặn những tiếng nói chỉ trích.

Giới chuyên gia, học giả đã có nhiều bài viết vạch trần việc cỗ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đưa tin sai lệch về tình hình thực tế ở Biển Đông; che đậy những hành vi hung hăng sai trái của họ ở Biển Đông; bóp méo, xuyên tạc các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 nhằm biện hộ cho những yêu sách phi lý và hành động cưỡng ép, bắt nạt láng giềng của họ ở Biển Đông. Cỗ máy tuyên truyền của Trung Quốc còn lớn tiếng vu cáo, đổ lỗi cho Mỹ là “nguyên nhân gây căng thẳng” ở Biển Đông, trong khi chính Bắc Kinh mới là kẻ khiến căng thẳng leo thang ở Biển Đông.

Thời gian gần đây, cùng với các hoạt động hung hăng gây hấn nhằm vào Philippines ở Biển Đông, cỗ máy tuyên truyền của Bắc Kinh cũng tập trung vào các hoạt động chỉ trích Manila, chống phá gây mất đoàn kết nội bộ ở Philippines. Mới đây, tờ báo Rappler của Philippines đã có một phóng sự điều tra với tựa đề: “Tuyên truyền ủng hộ Trung Quốc đã được gieo mầm trực tuyến ở Philippines như thế nào?” Câu chuyện của phóng sự này cho thấy Bắc Kinh đã thâm nhập vào Philippines để chống phá như thế nào.

Điều tra của Rappler cho thấy có một nhóm thể hiện thân Trung Quốc trên Facebook trong nhiều năm đã truyền bá và tuyên truyền những thông tin sai lệch để ủng hộ Trung Quốc. Nhóm này đã được hình thành dưới thời chính quyền của cựu Tổng thống Rodrigo Duterte. Hội đồng An ninh Quốc gia Philippines (NSC) hiện đang giám sát các tác nhân trực tuyến thúc đẩy các câu chuyện ủng hộ Trung Quốc, sau vụ tàu hải cảnh Trung Quốc tấn công tàu tiếp tế của Philippines bằng vòi rồng vào tháng 8 vừa qua. Trợ lý Tổng Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia Philippines Jonathan Malaya cho biết họ nhận thấy các bài đăng trực tuyến lặp lại giọng điệu của Trung Quốc rằng việc họ sử dụng vòi rồng chống lại tàu Philippines là vô hại.

Việc Trung Quốc sử dụng không gian mạng xâm nhập vào Philippines để tuyên truyền gây ảnh hưởng truyền bá quan điểm của Bắc Kinh không phải là điều gì mới. Vào năm 2020, Facebook đã gỡ bỏ một “mạng không xác thực” được cho là của các cá nhân Trung Quốc. Mạng lưới này bao gồm những người tham gia chia sẻ nội dung ủng hộ Duterte, ủng hộ các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông và ủng hộ việc tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Trước đó, vào năm 2019, Facebook đã đánh sập một mạng lưới không xác thực khác bao gồm các tác nhân do “các cá nhân có liên quan đến chính phủ Trung Quốc” điều hành.

Theo kết quả điều tra, lần đầu tiên các bài đăng ủng hộ Trung Quốc trên Facebook tăng đột biến vào khoảng quý II năm 2018, khi Trung Quốc lắp đặt tên lửa trên các đảo nhân tạo ở khu vực Biển Đông. Những bài đăng trực tuyến này đã hạ thấp hành động của Trung Quốc. Những câu chuyện này bắt nguồn từ những lập luận hạ thấp giá trị của phán quyết năm 2016 trong vụ kiện Biển Đông do chính quyền của cựu Tổng thống Philippines Aquino khởi khiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Thường trực theo Phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; theo đó, Tòa bác bỏ hầu hết các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Các ý kiến trên Facebook biện minh và thúc đẩy đề nghị của Trung Quốc về thăm dò chung tại các khu vực nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, mặc dù nước này đã giành thắng lợi vang rội trong phán quyết của Tòa Trọng tài.

Ông Jonathan Malaya cho rằng những câu chuyện này rất nguy hiểm và nhấn mạnh: “Philippines cần những nguồn tài nguyên này vì lợi ích của đất nước, ngư dân, nền kinh tế biển của chúng tôi – điều mà chúng tôi hy vọng sẽ mang lại cho chúng tôi sự phát triển kinh tế. Vì vậy, đây không chỉ là vấn đề toàn vẹn lãnh thổ hay chủ quyền. Đây cũng là vấn đề an ninh lương thực. Nếu bạn viết điều gì đó trên bài đăng trên Facebook cá nhân, hoặc bạn đưa ra tuyên bố công khai, hoặc bạn viết một chuyên mục, điều đó không có nghĩa là bạn ủng hộ Trung Quốc. Bạn chỉ đang thể hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Nhưng chúng tôi hoảng hốt khi thấy họ có tổ chức. Họ đang làm theo kịch bản đến từ Trung Quốc”.

Theo điều tra của Rappler, vấn đề về các căn cứ của Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường (EDCA) cũng trở thành chủ đề nóng đối với những người ủng hộ Trung Quốc trên các trang mạng. Các bài đăng ủng hộ Trung Quốc lại tăng vọt vào nửa đầu năm 2023, sau khi chính quyền Marcos tuyên bố vào tháng 2 rằng họ sẽ cho phép Mỹ tiếp cận nhiều căn cứ quân sự hơn. Các bài viết đề cập đến sự phụ thuộc của Philippines vào Washington và những nguy hiểm mà điều này gây ra.

Các bài đăng ủng hộ Trung Quốc trên các trang mạng lặp lại tuyên bố của truyền thông nhà nước Trung Quốc rằng các căn cứ quân sự bổ sung cho EDCA khiến Philippines trở thành “con tốt” trong cuộc chiến Mỹ-Trung sắp xảy ra ở Đài Loan – một tuyên bố đã bị chính phủ Philippines nhiều lần phủ nhận. Ông Jonathan Malaya nêu rõ quan điểm: “Nếu lợi ích của Philippines và Mỹ giao thoa, điều đó không có nghĩa chúng tôi là con tốt. Điều đó chỉ có nghĩa là Philippines đang theo đuổi lợi ích quốc gia của chính mình và Mỹ cũng đang theo đuổi lợi ích quốc gia của chính mình. Và sẽ có lúc những lợi ích đó sẽ khác nhau”.

Mặc dù, những bài đăng này không đạt được tương tác cao trên mạng xã hội, nhưng Jonathan Malaya cho rằng cần phải gióng lên hồi chuông cảnh báo. Một tác nhân nổi bật thúc đẩy các quan điểm ủng hộ Trung Quốc là Viện Nghiên cứu Phát triển Tích hợp (IDSI), một nhóm tự nhận mình là một tổ chức tư vấn. Mặc dù tự nhận là một tổ chức tư vấn, nhưng IDSI không có nghiên cứu nào được công bố ban đầu trên trang web của mình, trang này không còn tồn tại kể từ ngày 30/10/2023. Tuy nhiên, IDSI thường xuyên đăng nội dung ủng hộ quan điểm của Trung Quốc trên trang Facebook của mình.

Ngày 5/8/2023, xảy ra sự cố tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu cảnh sát biển Philippines nhằm ngăn chặn phía Philippines tiếp tế cho binh sĩ trên con tàu mắc cạn BRP Sierra Madre tại Bãi Cỏ Mây trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Từ đó đến nay liên tiếp xảy ra các vụ đối đầu giữa tàu Trung Quốc và tàu Philippines ở khu vực Bãi Cỏ Mây, thậm chí tàu Trung Quốc 2 lần đâm va tàu Philippines và mới đây nhất lại phun vòi rồng vào tàu tiếp tế. Khi những sự cố này xảy ra, hầu hết dư luận trên thế giới và ở Philippines đã lên án Trung Quốc và bảo vệ Philippines, tuy nhiên trên các trang mạng xã hội ở Philippines lại có một số người đã thể hiện quan điểm ngược lại.

Giới phân tích nhận định nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị, thúc đẩy các yêu sách về chủ quyền biển đảo, nhà cầm quyền Bắc Kinh đang ráo riết triển khai chiến lược thao túng các thông tin về Biển Đông. Cách làm của Trung Quốc là hết sức nguy hiểm và độc hại. Có thể nêu ra đây 3 ví dụ cụ thể về việc Bắc Kinh thao túng thông tin về Biển Đông:

1) Chẳng hạn như việc Bắc Kinh reo rắc những hình ảnh về yêu sách “đường lưỡi bò” ở khắp mọi nơi. Từ việc đưa bản đồ có vẽ “đường lưỡi bò” vào hộ chiếu của công dân Trung Quốc; in bản đồ “đường lưỡi bò lên áo các đoàn du khách Trung Quốc tới các nước hay đưa lên các túi sách, đồ chơi đến việc Bắc Kinh dùng tiền để đưa bản đồ “đường lưỡi bò” vào các tạp chí trên thế giới, các trang mạng của nhiều tổ chức, đưa vào phim ảnh của các hãng điện ảnh nổi tiếng. Có thể thấy Bắc Kinh không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để tuyên truyền cho yêu sách phi lý của họ ở Biển Đông.

2) Bắc Kinh bóp méo, viện dẫn sai lệch các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) để biện hộ cho những yêu sách phi lý của họ ở Biển Đông bất chấp phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài đã bác bỏ cái gọi là “quyền lịch sử” của Trung Quốc ở Biển Đông và tuyên bố yêu sách “đường lưỡi bò” hoàn toàn không có cơ sở pháp lý theo UNCLOS. Bắc Kinh còn ngang nhiên đưa ra yêu sách “Tứ Sa”  trái với các điều khoản UNCLOS và phán quyết 2016 của Tòa Trọng tài.

3) Từ giới chức chính quyền tới các học giả và truyền thông Trung Quốc luôn xuyên tạc tình hình thực tế trên Biển Đông. Trong khi Trung Quốc thường xuyên có các hành động gây hấn, cưỡng ép, bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông khiến tình hình leo thang căng thẳng thì Bắc Kinh luôn nói rằng “tình hình Biển Đông cơ bản ổn định, Trung Quốc và các nước ven Biển Đông đủ năng lực giải quyết tranh chấp” để đẩy Mỹ và các đồng minh ra khỏi Biển Đông. Tóm lại, nhằm thực hiện mục tiêu khống chế, độc chiếm Biển Đông, bên cạnh việc đẩy mạnh chiến thuật “vùng xám” ở Biển Đông, Bắc Kinh đang nỗ lực sử dụng bộ máy truyền thông của nước này, bao gồm việc thâu tóm các trang mạng xã hội để thao túng thông tin về Biển Đông. Giới chuyên gia cảnh báo chiến thuật thao túng thông tin của Bắc Kinh tạo ra những hệ lụy vô cùng nguy hiểm: (i) khiến dư luận hiểu sai lệch về thực trạng ở Biển Đông; (ii) phân hóa chia rẽ các nước ven Biển Đông và ASEAN trên vấn đề Biển Đông; (iii) tác động xấu vào nội bộ của các nước có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông, thậm chí làm nhụt ý chí của các lực lượng chức năng của các nước trong đấu tranh với hành vi hung hăng của Bắc Kinh. Mặt khác, việc thao túng thông tin về Biển Đông còn khiến người dân Trung Quốc hiểu không đúng về tranh chấp Biển Đông. Đây chính là nguyên nhân khiến chủ nghĩa dân tộc Đại Hán sẽ trỗi dậy tạo áp lực đối với chính quyền Bắc Kinh. Điều này đòi hỏi giới chuyên gia học giả quốc tế cần tiếp tục cùng với các nước ven Biển Đông vạch trần chiến thuật thao túng thông tin về Biển Đông của Bắc Kinh.

]]>
Phân tích kế hoạch dài hạn của TQ nhằm thống trị Biển Đông https://biendong.net/2024/02/21/phan-tich-ke-hoach-dai-han-cua-tq-nham-thong-tri-bien-dong/ Wed, 21 Feb 2024 01:21:00 +0000 https://biendong.net/?p=125026 Sau khi bồi đăp mở rộng các thực thể mà Trung Quốc chiếm đóng ở Biển Đông, xây dựng các đảo nhân tạo, biến chúng thành các tiền đồn quân sự, Bắc Kinh tiếp tục đẩy mạnh quân sự hóa Biển Đông, đồng thời tăng cường hoạt động hung hăng của lực lượng hải cảnh và dân quân biển. Hiện có thể thấy Trung Quốc đang có lực lượng áp đảo ở Biển Đông, đe dọa hòa bình ổn định và an ninh hàng hải trên Biển Đông. Giới chuyên gia cho rằng điều này nằm trong kế hoạch dài hạn của Trung Quốc nhằm thống trị Biển Đông.

Từ đầu Thế kỷ 20, khi Quốc Dân đảng còn cầm quyền ở Bắc Kinh, Trung Quốc đã có một chiến lược phát triển về hướng Biển Đông. Năm 1948, Trung Hoa Dân quốc do Quốc Dân đảng nắm quyền đã đơn phương vẽ ra “đường lưỡi bò” ở Biển Đông. Năm 1949, sau cuộc nội chiến, Đảng Cộng sản Trung Quốc lên cầm quyền ở Bắc Kinh còn Quốc Dân đảng chạy ra đảo Đài Loan. Chính quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kinh đã tiếp tục thúc đẩy yêu sách “đường lưỡi bò” mà Quốc Dân đảng đã vẽ ra trước đó. Chính quyền Bắc Kinh “đục nước béo cò” đã tranh thủ lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, chuyển giao quyền lực cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa để chiếm giữ một nửa Hoàng Sa từ năm 1956. Sau đó tận dụng thời điểm chính quyền Washington rút khỏi Việt Nam, bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng hòa Bắc Kinh sử dụng vũ lực tấn công và chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974.

Năm 1988, khi Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa xã hội Đông Âu bắt đầu tan rã, Trung Quốc mở đường xuống quần đảo Trường Sa bằng một cuộc tấn công quân sự đối với Việt Nam ở đá Gạc Ma và một số thực thể khác. Từ đó, Trung Quốc phát triển các căn cứ quân sự ở Trường Sa thành một mạng lưới, giúp họ chiếm ưu thế tuyệt đối trong khu vực. Ngày nay, Trung Quốc phát triển một mạng lưới các căn cứ quân sự với thiết bị hiện đại ở Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện Bắc Kinh đang sử dụng các căn cứ này để thúc đẩy yêu sách “đường lưỡi bò” chiếm gần 90% diện tích Biển Đông, lấn sâu vào vùng biển của các nước láng giềng ven Biển Đông. Trung Quốc cũng dựa trên “đường lưỡi bò” để ngăn cản các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của các nước Malaysia, Philippines, Việt Nam, Indonesia….

Trung Quốc đã có tham vọng biển từ đầu và giữa thế kỷ 20. Tham vọng đó được các thế hệ lãnh đạo kế tiếp nhau của họ thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hơn. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1958 họ đã tham gia đầy đủ các hội nghị về công ước quốc tế về luật biển. Lúc đó còn tranh cãi rất nhiều về chiều rộng lãnh hải. Một số quốc gia Nam Mỹ đưa ra quan điểm là lãnh hải có 200 hải lý, Hoa Kỳ thì đưa ra quan điểm lãnh hải chỉ có 3 hải lý. Còn Trung Quốc đưa ra quan điểm lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý. Sau này Luật biển của Liên hợp quốc thừa nhận lãnh hải có 12 hải lý. Điều này cho thấy ý đồ chiến lược của Trung Quốc đối với lãnh thổ biển. Bắc Kinh đưa ra con số 12 hải lý này là có sự tính toán của họ.

Trung Quốc đã có nhiều chiến lược phát triển biển ngay từ 1982 mà người xây dựng là ông Lưu Hòa Thanh, Đô đốc hải quân khi đó. Đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hoạt động tiến ra biển đầu tiên là nhắm vào Đài Loan. Khi nhắm vào Đài Loan, họ gặp ngay thế mạnh thượng phong của Hải quân Hoa Kỳ, đồng minh của đảo quốc này. Khi xảy ra đụng độ đảo Kim Môn, Mã Tổ năm 1958 thì nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông đã dặn dò con cháu là tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, đặc biệt là trên biển.

Trong lịch sử, Trung Quốc thường thống trị các quốc gia khác, nhưng kể từ khi bị phương Tây tấn công từ phía biển Trung Quốc trở thành kẻ bị thống trị. Đó là một nỗi đau, nỗi nhục của người Trung Quốc mà họ muốn rửa nhục. Trung Quốc thấu hiểu một điều rằng muốn trở thành cường quốc thì phải phát triển về phía biển. Đó là lý do vì sao Trung Quốc rất thèm muốn độc chiếm Biển Đông để làm cửa ngõ tiến ra ngoài, vượt qua chuỗi đảo thứ nhất tiến tới chuỗi đảo thứ hai.

Nếu như mục tiêu chiến lược biển của Trung Quốc thời kỳ trước 1985 chỉ đơn thuần là phòng vệ bờ biển thì sau năm 1985, mục tiêu này được phát triển thành phòng vệ biển gần và từ giữa những năm 2000 cho đến nay là hoạt động biển xa. Dưới thời của Tập Cận Bình, Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 3/2013 đã đề ra chiến lược xây dựng cường quốc hải dương, chính thức đưa vấn đề phát triển hải dương trở thành chiến lược quốc gia, nhấn mạnh việc xây dựng cường quốc biển là sự lựa chọn tất yếu để bảo vệ lợi ích quốc gia và thực hiện phục hưng dân tộc Trung Hoa.

Phương hướng phát triển này được định vị bằng khái niệm “chiến lược hải dương xanh” mang hàm ý rằng lợi ích quốc gia của Trung Quốc đã mở rộng ra biển, và trở thành cường quốc biển là một bước trên con đường đạt tới địa vị cường quốc thế giới của Trung Quốc. Việc phát triển sức mạnh biển của Trung Quốc trở nên đặc biệt đáng chú ý hơn sau khi nước này thông qua chiến lược cường quốc biển năm 2013. Theo đó, Trung Quốc liên tục có những động thái hung hăng, xâm phạm chủ quyền và lợi ích của các nước láng giềng khác nhằm hiện thực hóa ý đồ độc chiếm Biển Đông.

Từ sau Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động nạo vét, bồi đắp mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông, xây dựng các đảo nhân tạo với những đường băng, cầu cảng lớn phục vụ cho máy bay chiến đấu và tàu chiến; bố trí các vũ khí, trang thiết bị quân sự. Trên thực tế, các đảo nhân tạo này đã trở thành những đồn điền quân sự để từ đó Trung Quốc có thể triển khai các hoạt động hung hăng với các nước láng giềng khắp Biển Đông.

Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2017 đánh dấu một bước phát triển mới trong chính sách xây dựng cường quốc biển của Trung Quốc với việc xác định Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của họ. Trong bối cảnh Tòa Trọng tài vụ kiện Philippines khởi kiện Trung Quốc ra phán quyết ngày 12/7/2016 bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó có yêu sách “đường lưỡi bò”, chính sách biển của Bắc Kinh kể từ sau Đại hội XIX đã tạo một sức ép to lớn lên các quốc gia trong và ngoài khu vực. Theo đó, một mặt Bắc Kinh trà đạp lên các quyền và lợi ích hợp pháp của các nước láng giềng ven Biển Đông, dồn ép các nước này ngồi vào bàn đàm phán song phương với Bắc Kinh, thúc ép các nước “cùng khai thác” với Bắc Kinh trong những vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của các nước láng giềng theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; mặt khác họ tìm cách đẩy Mỹ và các nước ngoài khu vực ra khỏi Biển Đông để dễ bề bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông.

Kể từ giữa thập kỷ thứ 2 của Thế kỷ 21 trở lại đây, cùng với việc xây dựng tiền đồn quân sự trên các đảo nhân tạo được bồi đắp từ các thực thể mà Trung Quốc chiếm đóng ở Biển Đông, Bắc Kinh còn gia tăng các hoạt động diễn tập quân sự với sự tham gia của tàu ngầm, tàu sân bay, trong đó có nhiều cuộc tập trận bắn đạn thật, kể cả tên lửa ở Biển Đông. Đánh giá về các hoạt động quân sự của Trung Quốc, ông Greg Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington DC, nhận định Trung Quốc sẽ tiếp tục chiếm ưu thế trên Biển Đông, không chỉ với các nước Đông Nam Á mà còn với cả Hoa Kỳ.

Trong một bài viết năm 2020, ông Greg Poling nói rằng xét về thế trận quân sự trên Biển Đông, nhờ các căn cứ trên đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã xây dựng, nếu xảy ra một cuộc đụng độ quân sự (giả định) trong khu vực này, Trung Quốc sẽ dễ dàng kiểm soát vùng biển và vùng trời. Theo ông Greg Poling, Hoa Kỳ chưa có được sức mạnh này trên địa bàn. Hoa Kỳ sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém nếu muốn vô hiệu hóa những tiền đồn của Trung Quốc trên Biển Đông.

Trong một đánh giá mới đây về thế trận quân sự ở Biển Đông so với 4 năm trước đây (trong bài viết năm 2020 nói trên), Ông Greg Poling cho rằng có lẽ Mỹ không thể làm gì trong ngắn hạn hoặc trung hạn để thay đổi một thực tế ngày nay rằng Trung Quốc có lợi thế đáng kể về số lượng và khả năng tên lửa, máy bay và tàu mặt nước, cũng như radar và các khả năng cảm biến khác. Nếu xảy ra bất kỳ một xung đột giả định nào trên Biển Đông thì Trung Quốc vẫn chiếm lợi thế áp đảo.

Theo ông Greg Poling, trong trường hợp xảy ra xung đột, các chiến hạm và máy bay của Mỹ sẽ rất khó hoạt động ở Biển Đông. Mỹ sẽ không có đủ đạn dược hoặc hệ thống tiếp vận dự phòng để vô hiệu hóa các căn cứ quân sự của Trung Quốc ở Trường Sa trong giai đoạn đầu của một cuộc xung đột giả định. Ông Poling cho rằng việc phát triển và triển khai các đơn vị Thủy quân lục chiến và Quân đội Hoa Kỳ có khả năng tác chiến bằng tên lửa mặt đất tầm xa hơn, dọc theo chuỗi đảo thứ nhất, có thể giúp giải quyết một phần khoảng cách chênh lệch này. Bởi vì cách làm này có thể tạo ra mối đe dọa đáng kể đối với các tàu mặt nước của Trung Quốc. Nhưng, điều đó vẫn không đủ để cho phép Hoa Kỳ triển khai tàu và máy bay hoạt động ở Biển Đông theo cách quen thuộc.

Nhằm triển khai kế hoạch thống trị Biển Đông, bên cạnh việc đẩy mạnh quân sự hóa Biển Đông, Trung Quốc đang tăng cường hoạt động của lực lượng hải cảnh và dân quân biển trên Biển Đông. Điều này được thể hiện trong các hành động gây hấn của Trung Quốc nhằm vào Philippines trong năm 2023 và từ đầu năm 2024 đến nay.

Ngày 31/1/2024, Hải quân Philippines đã phát hiện từ 15-25 tàu chiến Trung Quốc tại khu vực Đá Vành Khăn (Mischief Reef) trên Biển Đông. Trước đó, Thiếu tướng Roy Vincent Trinidad, Người phát ngôn Hải quân Philippines, ngày 30/1 cũng thông báo có khoảng 200 tàu dân quân biển ở Biển Đông, và hoạt động của đội tàu này khiến Manila lo ngại. Trong cuộc họp báo tại Trại Aguinaldo ở thành phố Quezon hôm 30/1 Thiếu tướng Roy Vincent Trinidad chia sẻ rằng số lượng tàu này không phải là điều bất thường, số lượng tàu chiến Trung Quốc được triển khai “vẫn ổn định trong 8-10 năm gần đây”. Ông Trinidad cho biết Manila không lo ngại về số tàu Trung Quốc gia tăng, mà quan ngại về “hoạt động của lực lượng này”. Tóm lại, với vị trí địa chiến lược quan trọng và tài nguyên phong phú, Biển Đông luôn nằm trong kế hoạch dài hạn để đưa Trung Quốc trở thành cường quốc biển. Độc chiếm Biển Đông là mưu đồ xuyên suốt của Bắc Kinh: từ việc sử dụng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa tới đánh chiếm một số thực thể thuộc Trường Sa để đặt chân ở Biển Đông theo cách “cáo gửi chân”; tiếp đó là việc cải tạo các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông, đẩy mạnh quân sự hóa Biển Đông; và hiện nay là sử dụng các đồn điền quân sự trên Biển Đông để triển khai các hoạt động hung hăng, gây hấn với các nước láng giềng ven Biển Đông…. Đây không phải là những hành động ngẫu nhiên mà nằm trong tính toán lâu dài trong kế hoạch độc chiếm Biển Đông. Hành vi của Trung Quốc trong suốt 50 năm qua đã trở thành hệ thống và có xu hướng ngày càng hung hăng và trong đó mỗi hành động trở thàn một công cụ, một sách lược trong chiến lược độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh. Tất cả những điều này cho thấy quyết tâm to lớn của Trung Quốc theo đuổi tham vọng thống trị Biển Đông.

]]>