Địa lý Biển – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Thu, 27 Feb 2014 09:50:12 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên của quần đảo Hoàng Sa https://biendong.net/2014/02/27/c-im-a-ly-va-iu-kin-t-nhien-ca-qun-o-hoang-sa/ Thu, 27 Feb 2014 09:50:12 +0000 http://localhost/wp/2014/02/27/c-im-a-ly-va-iu-kin-t-nhien-ca-qun-o-hoang-sa/ BienDong.net: Quần đảo Hoàng Sa là một trong hai quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam, có vị trí chiến lược quan trọng và nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú.

Quần đảo Hoàng Sa được biết đến với các tên gọi khác như Bãi Cát Vàng, Cồn Vàng, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, Parcel hay Pracel và tên quốc tế thường dùng là Paracels. Đây là quần đảo có vị trí chiến lược, án ngữ nhiều đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng đi qua Biển Đông.

Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Tổng diện tích phần nổi khoảng 10 km2, đảo lớn nhất là Phú Lâm, có diện tích khoảng 1,5 km2. Khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc vùng biển rộng khoảng 30.000 km2, nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi. Phạm vi quần đảo này được giới hạn bởi đảo Đá Bắc ở cực Bắc, bãi ngầm Ốc Tai Voi ở cực Nam, bãi cạn Gò Nổi ở cực Đông và đảo Tri Tôn ở cực Tây.

Các đảo tại đây được chia thành 2 cụm. Cụm Lưỡi Liềm có hình cánh cung hay lưỡi liềm, nằm ở phía Tây quần đảo, gần đất liền Việt Nam, gồm 08 đảo chính là Đá Bắc, Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tôn và các bãi ngầm, mỏm đá. Cụm An Vĩnh được đặt tên theo xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía Đông, bao gồm các đảo tương đối lớn đồng thời cũng là các đảo san hô lớn nhất Biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Hòn Đá…

Về khoảng cách tới đất liền Việt Nam, từ đảo Tri Tôn đến mũi Ba Làng An, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 130 hải lý, đến huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) tỉnh Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý. Trong khi đó, khoảng cách từ đảo gần nhất của Hoàng Sa tới đất liền Trung Hoa xa gần gấp đôi (khoảng 235 hải lý) so với Việt Nam và tới bờ đảo Hải Nam khoảng 140 hải lý.

 

Hình ảnh bão lớn quét qua Hoàng Sa
(Ảnh: nld.vn

Hoàng Sa có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù và có nhiều giông bão. So với các vùng đất cùng vĩ độ trong lục địa, khí hậu tại Hoàng Sa khá điều hòa, không quá nóng về mùa hè, không quá lạnh về mùa đông. Độ ẩm thường trên 80%, lượng mưa trung bình khoảng 1.200 – 1.600 mm. Bão thường xuất hiện vào những lúc giao mùa, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8. Gió mạnh đến hàng trăm km/gi, làm biển động dữ dội kéo dài trong nhiều ngày.

Nếu như Biển Đông được coi là “vịnh Ba Tư thứ hai” với trữ lượng dầu khí được Cục Quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA) dự báo là nhiều hơn các nguồn tài nguyên chưa được khai thác của cả Châu Âu thì hầu hết trữ lượng dầu khí đó lại tập trung ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt, Hoàng Sa còn được đánh giá là khu vực có tiềm năng về băng cháy (có tên khoa học là Natural hydrate hoặc Gas Hydrate), một nguồn năng lượng có hiệu suất cao, sạch và có khả năng thay thế các nguồn nhiên liệu hóa thạch truyền thống vốn đã gần cạn kiệt.

Trên thực tế, Hoàng Sa có nhiều mỏ phốt-phát có giá trị kinh tế cao. Các mỏ này được hình thành từ hỗn hợp chất đất gốc carbonate vôi kết hợp với các chất có gốc axit photphoric từ phân chim trong điều kiện khí hậu ẩm ướt. Tầng phốt-phát có hàm lượng từ 23-25% thậm chí 42%, có độ dày đến hơn một mét. Từ năm 1924-1926, các xí nghiệp Nhật Bản đã khai thác phốt-phát tại một số mỏ. Tuy nhiên, trữ lượng phốt phát tại đây vẫn còn khá nhiều.

Hoàng Sa còn có nguồn tài nguyên có thể tái sinh lớn. Theo nhà nghiên cứu La Fontaine, quần đảo là nơi sinh sống của các sinh vật như rùa, chim… và điều thú vị là các loài này đều có mặt ở Việt Nam, không có nhiều liên hệ với sinh vật ở Trung Quốc. Tại đây còn có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản phong phú với nhiều loài có giá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm…

Theo các khảo sát về thảo mộc tại Hoàng Sa, hầu hết các loài thảo mộc ở đây đều du nhập từ đất liền của Việt Nam như cây mù u, cây bàng có nhiều ở Cù Lao Ré. Điều này không khó lý giải, vì sử sách thời Nguyễn ghi chép rõ, theo lệnh vua Minh Mạng binh lính Việt Nam đã trồng nhiều cây cối trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, để ngày sau cây cối cao to giúp người đi biển nhận biết mà tránh mắc cạn.

BDN (Tổng hợp từ sách, báo quốc nội)

]]>
Ngắm vẻ đẹp Tổ quốc nơi đầu sóng https://biendong.net/2014/02/03/ngm-v-p-t-quc-ni-u-song/ Mon, 03 Feb 2014 09:47:23 +0000 http://localhost/wp/2014/02/03/ngm-v-p-t-quc-ni-u-song/ BienDong.Net: Dù mùa biển động, nhưng vẻ đẹp thiên nhiên của quần đảo Trường Sa vẫn rực rỡ, tràn đầy sức sống như mùa Xuân, khó ngòi bút nào có thể tả xiết.

Trong chuyến hải trình cùng Đoàn công tác tới cụm đảo phía Nam quần đảo Trường Sa, phóng viên Báo QĐND Online đã được chứng kiến những cảnh đẹp kỳ vĩ của biển đảo quê hương.

 

Cầu vồng biển rực rỡ nơi đảo Đá Tây.

 

“Vùng đất thiên đường” Trường Sa Lớn.

 

Ánh nắng bình minh hiếm hoi mùa biển động tại đảo Trường Sa Đông.

 

Hoàng hôn…lửa.

 

“Người dẫn đường” giữa biển khơi.


Và tất nhiên không thể thiếu hoa bàng quả vuông – loài hoa chỉ nở trong bão gió báo hiệu mùa Xuân đã về.

 

Vững tay súng, bảo vệ biển trời nơi đầu sóng.

BDN (theo QĐND Online)

]]>
Tìm hiểu về hiện tượng băng trôi https://biendong.net/2013/11/26/tim-hiu-v-hin-tng-bng-troi/ Tue, 26 Nov 2013 13:53:54 +0000 http://localhost/wp/2013/11/26/tim-hiu-v-hin-tng-bng-troi/ BienDong.Net: 11% mặt đất, tương đương với 23 triệu km2, được bao phủ bởi băng. 97% bề mặt và 99,75% khối lượng băng trên thế giới tập trung ở Nam Cực và Greenland.

Lượng băng ở Nam cực bao phủ một bề mặt rộng lớn hơn cả Châu Âu, độ dày trung bình của lượng băng này là 2.200 m, trong khi đó, ở một số nơi độ dày lên tới 5.000 m.

Khối băng ở Greenland có nơi dày 3.400 m. Bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ trước, mỗi năm độ dày những khối băng ở Nam Cực đã giảm xuống khoảng 8,3 cm.

Trong khi đó, thời kỳ băng hà, băng bao phủ tới 38% mặt đất.

alt

Trên thực tế, Greenland và Nam Cực là vùng biển với những hòn đảo rải rác, tuy nhiên, băng đã biến chúng thành một vùng đất liền phủ băng rộng lớn.

Vào mùa xuân, khi nhiệt độ không khí tăng lên, những khối băng bắt đầu vỡ và các dòng nước tự do được hình thành. Khi nhiệt độ tăng cao hơn, dưới sức ép của sóng và gió, các khối băng này bắt đầu đứt gãy ở rìa các khối băng, tạo thành những khối băng trôi nổi mà ta vẫn quen gọi với cái tên “tảng băng trôi” và lớn hơn thì gọi là núi băng.

90% khối lượng núi băng nằm ở phía dưới mặt nước, do đó, những gì mà chúng ta nhìn thấy phía trên mặt nước chỉ là một phần rất nhỏ của tảng băng mà thôi.

Do khu vực Bắc Cực ở phía đông Greenland khá nông, đặc biệt là khu vực thuộc biển Barents, nên những tảng băng này không thể trôi xuống phía nam.

Bắc Thái Bình Dương không hề có băng trôi do chúng không thể vượt qua được eo biển Behring.

Hàng năm, có tới 1.700 km3 của Nam Cực bị gãy vỡ và trở thành những tảng băng trôi hay núi băng, có những núi băng có bề mặt tới 100 km2.

Những tảng băng trôi xuất phát từ Bắc Cực thường không đều, trong khi đó, băng trôi ở Nam Cực lại khá lớn với bề mặt khá bằng phẳng, mặt cắt dựng đứng. Có núi băng rộng hàng chục km, dài khoảng 600 km, nhưng phần nhô lên khỏi mặt nước chỉ cao khoảng 60 đến 90 m.

alt 

Mô hình tàu kéo băng trên máy tính (Nguồn: Innovationnewsdaily)

Núi băng trôi lớn nhất thế giới được ghi nhận cho tới nay có tên B-15 bị gãy khỏi Ross Ice Shelf ở Nam Cực. B-15 dài 295 km, rộng 37 km, diện tích bề mặt là 11.000 km2, nặng khoảng 3.000.000.000 tấn.

Một trong những núi băng trôi Nam Cực lớn nhất thế giới có phần nổi trên mặt nước cao khoảng 116 m với tổng chiều dày là 1.060 m.

Ở Bắc Đại Tây Dương, núi băng trôi lớn nhất có chiều cao trên mặt nước là 168 m.

Con tàu Titanic nổi tiếng chìm vào ngày 14/4/1912 nhỏ hơn tảng băng mà nó va vào tới hàng ngàn lần. Nhiệt độ bên trong tảng băng trôi dao động từ -10 đến -5 độ C, tuy nhiên, nó cũng chịu tác động từ môi trường.

Khi những núi băng này bị gãy khỏi những rìa băng ở Nam Cực, chúng trôi với tốc độ khoảng 50 km/giờ, nhưng cũng có khi nó đứng yên trong nhiều ngày liên tiếp.

Những núi băng này thường trôi về hướng tây bắc, theo các dòng cực. Núi băng là hiện tượng thiên nhiên ngoạn mục, có thể gây nguy hiểm cho tàu bè trên biển, nhưng được coi là nguồn cung cấp nước ngọt tiềm tàng. 97% bề mặt và 99,75% khối lượng băng hiện nay nằm ở Nam Cực và Greenland.

7 triệu km2 bề mặt đại dương được bao bọc bởi băng. từ 66 đến 75% lượng nước ngọt trên thế giới được “lưu giữ” trong băng.

Hiện tại, có những dự án nhằm tận dụng nguồn nước ngọt từ các tảng băng trôi này.

Một tảng băng trôi nhỏ với chiều dài khoảng 30 m, rộng 20 m và cao 200 m có thể cung cấp tới 180 triệu lít nước – đủ cho một thành phố công nghiệp trong 1 ngày.

Tuy nhiên, chi phí để thực hiện điều này cũng tương đương với chi phí khử muối từ nước biển, do đó, những dự án này vẫn chưa được áp dụng.

Khó khăn duy nhất mà các nhà khoa học hiện đang gặp phải là làm thế nào để kéo được những khối băng khổng lồ từ các vùng cực về những khu vực cần sử dụng.

Tham vọng khai thác những tảng băng trôi khổng lồ, lạnh lẽo thành những dòng nước ngọt xuất hiện từ thời hoàng thân Muhammed al Faisal hồi thập niên 1970 khi Al Faisal, cháu trai của vua Khalid đã cùng hợp tác với kiến trúc sư người Pháp là Georges Mougin để thành lập một công ty chuyên sản xuất, kinh doanh nước uống từ băng.

Tuy nhiên, công ty này đã sớm đóng cửa vì thiếu tính thực tế. Sau đó hơn 30 năm, bắt đầu từ năm 2003, kiến trúc sư Georges Mougin tiếp tục theo đuổi niềm đam mê của mình với sự trợ giúp của mô hình máy tính từ Công ty Dassault Systemes, Pháp.

Theo Mougin, căn cứu trên các mô hình máy tính, một núi băng vài triệu tấn có thể được kéo qua quãng đường vài ngàn km đến đảo Canary trong vòng 141 ngày bằng cách sử dụng một tàu kéo. Núi băng sẽ mất đi 38% khối lượng trong quá trình vận chuyển, và những tấm phủ làm bằng sợi đặc biệt sẽ có thể giữ cho núi băng không vỡ ra trong suốt chặng hành trình. Trên cơ sở mô thí nghiệm mô phỏng, kĩ sư Mougin hi vọng một ngày nào đó, có thể là trong năm 2013 này ông và nhóm của mình có thể ứng dụng kĩ thuật này trong thực tế, trong bối cảnh nguy cơ khủng hoảng nước ngọt đang ngày càng hiện hữu tại nhiều nơi trên thế giới.

BDN (tổng hợp)

]]>
Một núi băng bằng diện tích Singapore vừa tách khỏi Nam Cực https://biendong.net/2013/11/25/mt-nui-bng-bng-din-tich-singapore-va-tach-khi-nam-cc/ Mon, 25 Nov 2013 10:10:38 +0000 http://localhost/wp/2013/11/25/mt-nui-bng-bng-din-tich-singapore-va-tach-khi-nam-cc/ BienDong.Net: Cơ quan quan sát trái đất thuộc NASA cho biết một núi băng lớn bằng diện tích Singapore vừa tách khỏi Nam Cực và sẽ sớm trôi ra Nam Đại Dương, gây nguy hiểm cho các tàu bè di chuyển trên tuyến hàng hải Quốc tế.

Được đặt tên là B-31, núi băng này có chiều dài 21 dặm, ngang 12 dặm, diện tích khoảng 700 km2, hiện đang nằm trên vịnh Pine Island ở phía Tây Nam mũi cực nam của Chi lê.

alt 

Hình ảnh vệ tinh núi băng chụp hôm 13/11 trước khi tách khỏi sông băng đảo Pine Island

Hiện tại núi băng này vẫn ở trong vịnh biển, song vào đầu năm tới, khi băng trên vịnh tan chảy xuống mức thấp nhất, núi băng có thể trôi ra biển Nam Đại Dương và có thể bị cuốn vào một trong hai dòng hải lưu chảy xung quanh châu Nam Cực là dòng hải lưu chảy theo chiều kim đồng hồ – gọi là dòng chảy ngược ven bờ, hoặc dòng hải lưu chảy theo chiều kim đồng hồ, gọi là dòng hải lưu vòng cực, lớn hơn dòng hải lưu kia.

Các nhà khoa học NASA nói rằng việc xuất hiện những núi băng mới không phải là một bất ngờ vì sông băng trên đảo Pine Island, nơi B-31 tách ra, là một trong những sông băng hoạt động mạnh nhất, và trung bình cứ 5 – 6 năm nó lại tách ra một núi băng mới.

Tuy nhiên, B-31 lại gây bất ngờ ở chỗ kích cỡ của nó lớn gấp rưỡi so với các núi băng được phát hiện trước đó ở khu vực này.

Sự xuất hiện của B-31, theo các nhà khoa học, đang củng cố giả thiết cho rằng nước biển ấm lên đang làm suy yếu các khối băng trên khu vực này của châu Nam Cực, làm cho lượng băng trôi ra biển tăng lên và vì thế có thể khiến nước biển dâng cao hơn, gây ngập lụt các vùng bờ biển trên khắp thế giới.

Các nhà khoa học cũng lo ngại rằng một tảng băng với kích cỡ khổng lồ như vậy có thể ảnh hưởng đến các tuyến hàng hải quốc tế, tùy theo việc nó trôi theo hướng nào.

Giáo sư Grant Bigg thuộc Trường đại học Sheffield (Anh), trưởng nhóm nghiên cứu băng trôi đang tìm cách tính toán đường đi của tảng băng phân tích rằng trong trường hợp tảng băng trôi vào Nam Đại Dương, nó sẽ gây nguy hiểm cho tàu thuyền.

Ông cho hay đã từng có một tảng băng tách ra từ đảo băng Pine được phát hiện đi xuyên qua eo biển Drake để vào nam Đại Tây Dương.

Drake là là eo biển phân cách Nam Mỹ và châu Nam Cực từ điểm cực nam của Nam Mỹ tới điểm cực bắc của Nam Cực tại quần đảo South Shetland. Điều này có nghĩa tảng băng sẽ di chuyển tới một trong những tuyến hàng hải quốc tế tấp nập nhất thế giới, và có thể gây ra thảm họa.

Jane Robertson, một chuyên gia quan sát tình trạng băng trôi thuộc đảo quốc Greenland, cho biết khi đối mặt với các núi băng trôi khổng lồ, “bạn có thể hoặc cố đi qua nó hoặc đi vòng qua nó”.

Các núi băng trôi mà ta nhìn thấy chỉ là khoảng 1/9 tảng băng thực, vì phần chính của nó nằm chìm dưới nước.

“Trong phần lớn các trường hợp, thuyền trưởng thường sẽ chọn đi vòng qua núi băng vì bất kể là bạn lái tàu chậm và cẩn thận cỡ nào thì núi băng sẽ luôn là mối nguy hiểm cho con tàu. Rồi thì thời tiết cũng có thể trở nên xấu đi nhanh chóng và bạn sẽ không muốn đi qua núi băng trong thời tiết xấu”, bà Robertson nhận xét.

BDN

]]>
Đường hầm xuyên biển Á – Âu: Công trình mang dấu ấn của Thủ tướng Thổ Nhĩ Kì https://biendong.net/2013/10/29/ng-hm-xuyen-bin-a-au-cong-trinh-mang-du-n-ca-th-tng-th-nh-ki/ Tue, 29 Oct 2013 09:41:12 +0000 http://localhost/wp/2013/10/29/ng-hm-xuyen-bin-a-au-cong-trinh-mang-du-n-ca-th-tng-th-nh-ki/ BienDong.Net: Đường hầm dưới biển đầu tiên trên thế giới nối liền 2 lục địa Á – Âu được khánh thành hôm 29.10 tại Thổ Nhĩ Kỳ đã biến giấc mơ từ 150 năm trước của một vị đế vương trở thành hiện thực.

Theo AFP, đường hầm dài 1,4 km, với chi phí khoảng 4,1 tỉ USD, xuyên qua eo biển Bosphorus ở độ sâu hơn 50 m, nối liền 2 phần của thành phố Istanbul, vốn nằm trên 2 châu lục.

Ý tưởng táo bạo nối liền 2 châu lục được vua Abdoul Medjid của Đế quốc Ottoman đưa ra vào năm 1860, nhưng ông không có công nghệ và kinh phí để biến thành hiện thực.

alt 

Eo biển Bosphorus chia cắt phần thuộc Châu Âu với phần thuộc Châu Á của Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh: Internet

Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan, khi còn là thị trưởng thành phố Istanbul là người đi tiên phong trong nỗ lực làm sống lại dự án vĩ đại này. Ngoài đường hầm xuyên biển, ông Erdogan còn để lại dấu ấn nổi bật khi thực thi nhiều dự án tầm cỡ lớn cho thành phố như sân bay, cầu, kênh đào.

Tuy nhiên, những công trình của Tổng thống Erdogan đã khiến ông gặp phải nhiều chỉ trích, tiếp đó là những cuộc biểu tình chống chính phủ nghiêm trọng vào tháng 6 vừa qua. Nhiều người dân cho rằng các dự án phát triển thành thị của vị Thủ tướng đã khiến họ phải rời khỏi nhà cửa đồng thời làm cho nhiều không gian xanh của thành phố biến mất.

 alt

Chiếc cầu bắc qua eo Bosphorus. Ảnh: AFP

Được thiết kế với khả năng chống chịu được động đất, đường hầm xuyên biển này ban đầu được dự tính hoàn thành trong 4 năm nhưng đã bị trì hoãn sau nhiều phát hiện khảo cổ.

Giao thông là vấn đề nhức nhối tại Istanbul, thành phố với 15 triệu dân và hàng ngày có đến 2 triệu lượt người đi qua eo Bosphorus trên 2 chiếc cầu luôn chật cứng.

Kadir Topbas, thị trưởng thành phố Istanbul nhận định rằng đường hầm xuyên biển là một dự án quan trọng mà thành phố rất cần”.

BDN

]]>
30 năm nữa Bắc cực sẽ không còn băng vào mùa hè? https://biendong.net/2012/10/12/30-nm-na-bc-cc-s-khong-con-bng-vao-mua-he/ Fri, 12 Oct 2012 10:42:34 +0000 http://localhost/wp/2012/10/12/30-nm-na-bc-cc-s-khong-con-bng-vao-mua-he/ BienDong.Net: Lớp băng bao phủ Bắc cực đã thu hẹp diện tích xuống mức thấp nhất kể từ khi bắt đầu được vệ tinh quan sát vào năm 1979 trong khi các chuyên gia cảnh báo rằng, 30 năm nữa, Bắc cực có thể sẽ không có băng vào mùa hè.

Các hình ảnh từ vệ tinh cho thấy tính đến ngày 16-9, diện tích băng Bắc cực xuống chỉ còn 3,4 triệu km², giảm mạnh so với 4,21 triệu km² vào ngày 24-7. Mức độ băng tan ở Bắc cực trong những ngày đầu tháng 9 đã tăng lên gấp đôi từ mức 100.000 km²/ngày cách đây vài tháng do gió mạnh làm tăng tốc độ tan chảy băng.

alt

Một gia đình người Eskimo ( ảnh minh họa từ Internet )

Theo BBC, một ngôi làng của người Eskimo ước khoảng 500 năm tuổi vừa được phát hiện phía dưới khối băng khổng lồ vừa tan rã. Đây là ngôi làng cổ của người Eskimo Yup’ik, bộ lạc hiện vẫn đang sinh sống ở Alaska, là một trong những nhóm người Eskimo cuối cùng còn bắt gặp cho tới nay.

Vào thời hưng thịnh, xã hội Yup’ik Eskimo là một trong những nền văn minh phát triển mạnh nhất ở Bắc Cực.

Nhóm nghiên cứu của trường Đại học Aberdeen đã tìm được hàng ngàn di vật từ ngôi làng cổ, phần lớn trong số đó được “bảo quản tốt” sau hàng thế kỷ bị vùi lấp trong băng giá. Những di vật được tìm thấy rất đa dạng và là những thứ gắn bó với cuộc sống thường ngày như lông thú, đồ dệt từ cỏ, những bức tượng hay thậm chí cả tóc người.

Ngôi làng này được biết đến với cái tên Nunalleq và có thể hình thành trong giai đoạn 1350 – 1650 sau Công nguyên. Trong thời gian đó, khu vực này được cho là chịu ảnh hưởng của “Kỷ băng hà nhỏ”. Trái ngược với xu hướng khí hậu đang nóng lên hiện nay, nền văn minh Yup’ik xưa kia chịu những tác động của sự giảm nhiệt độ nhanh chóng, và các khối băng ngày càng bành trướng.

Nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ khám phá cách làm thế nào người Yup’ik thay đổi thói quen của họ để thích nghi với những biến đổi về môi trường. Các nhà khoa học dự định sẽ phân tích mẫu tóc tìm thấy, để giải đáp câu hỏi người Eskimo đã thay đổi chế độ ăn như thế nào cho phù hợp với sự thay đổi về nhiệt độ.

“Đây không phải là một phát hiện có ý nghĩa quan trọng về văn hóa nhưng dựa vào đó, chúng ta có thể có những dự đoán về những gì sẽ xảy ra trong các thập kỷ tới”, tiến sĩ Rick Knecht nói với BBC.

BDN (Theo BBC)

]]>
Marianas- Vực biển sâu nhất thế giới https://biendong.net/2012/04/03/marianas-vc-bin-sau-nht-th-gii/ Tue, 03 Apr 2012 08:58:15 +0000 http://localhost/wp/2012/04/03/marianas-vc-bin-sau-nht-th-gii/ BienDong.Net: Vực biển là những vùng trũng xuống của đáy đại dương, nơi nước có độ sâu rất lớn. Trên ý nghĩa đó, Rãnh Las Marianas, còn gọi là vũng Marianas, là vực đại dương sâu nhất, và điểm sâu nhất của nó cũng là nơi sâu nhất trong lớp vỏ Trái đất được biết đến cho tới nay.

Nằm trên phần đáy của khu vực tây bắc Thái Bình Dương, ở phía đông quần đảo Marianas, Rãnh Marianas kéo dài tới gần Nhật Bản, là nơi mảng kiến tạo Thái Bình dương bị đè lún xuống dưới mảng kiến tạo Philippines, được cho là một trong những tác nhân gây ra những trận động đất thường xuyên trong khu vực.

 

Rãnh Marianas phân bố theo hình vòng cung đông bắc và đông nam, có chiều dài khoảng 2.550 km, nhưng chiều rộng trung bình chỉ vào khoảng 70 km. Độ sâu tối đa của rãnh này là 10.971 m dưới mực nước biển theo phép đo gần đây nhất ( số liệu của mạng Universomarino ghi là 11.034 km ).

Khi tính đến vĩ độ của nó và sự lồi ra ở khu vực xích đạo của Trái Đất thì nó nằm ở khoảng cách 6.366,4 km so với tâm Trái Đất.

Bắc Băng Dương, có độ sâu chỉ khoảng 4-4,5 km, nhưng tính từ đáy của nó thì lại ở khoảng cách chỉ xấp xỉ 6.352,8 km từ tâm Trái Đất, tức gần tâm Trái Đất hơn so với điểm sâu nhất của rãnh Mariana 13,6 km.

Được tàu Challenger II của Hải quân Hoàng gia Anh khảo sát lần đầu tiên năm 1951, do đó người ta đã đặt tên cho phần sâu nhất của rãnh Marianas là vực thẳm Challenger. Sử dụng kỹ thuật phản xạ sóng âm, tàu Challenger II đã đo được độ sâu 10.900 m tại tọa độ 11°19′ Bắc và 142°15′ Đông.

Năm 1957, tàu Vityaz của Nga báo cáo độ sâu 11.034 m, tại chỗ lõm sâu Marianas; cuộc đo đạc này đã không được thực hiện lặp lại nên khó có thể coi là chính xác.

Năm 1962, tàu hải quân Spencer F. Baird của Mỹ báo cáo độ sâu lớn nhất là 10.915 m. Năm 1984, Nhật Bản gửi tàu Takuyo, một tàu khảo sát chuyên nghiệp hóa cao tới rãnh Marianas để thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng các máy thu sóng âm phản xạ nhiều tia và hẹp; họ báo cáo độ sâu cực đại là 10.924 m. Các phép đo chính xác nhất đã được thực hiện trên máy dò Kaiko của người Nhật vào ngày 24 tháng 3 năm 1995 cho kết quả độ sâu 10.911 m .

Năm 2003, các nhà khoa học đã tìm được dọc theo rãnh Mariana một số điểm có độ sâu như vực thẳm Challenger, thậm chí có thể sâu hơn.

Bản đồ khu vực rãnh Marianas do các nhà khoa học Mỹ vẽ ( ảnh báo El Mundo )

Hàng loạt các cuộc đo đạc đều cho thấy nơi sâu nhất trong vực Las Marianas có độ sâu lớn hơn chiều cao của đỉnh núi Evest nổi tiếng.

Ở độ sâu này, đáy biển hoàn toàn không có ánh sáng, lúc đầu người ta cho là không có sự sống, nhưng sau đó các nhà khoa học đã phát hiện một loài mực khổng lồ thuộc loài Architeuthis. Thiết bị thăm dò Kaiko của Nhật bản ở độ sâu 10.896 m đã phát hiện tới 200 dạng sinh vật đơn bào, trong đó có vi khuẩn, sinh vật phù du một số loài chưa được biết đến, sống trong lớp bùn dưới đáy vực.

Trong nỗ lực thăm dò đáy biển phục vụ cho việc tuyên bố khu Vùng kinh tế đặc quyền 200 dặm, Trung tâm bản đồ Bờ biển và Đại dương(CCO) Mỹ, được sự tài trợ của Bộ Ngoại giao đã tiến hành đo đạc, vẽ bản đồ chi tiết vùng vực Marianas gần với Guam và quần đảo Bắc Marianas thuộc Mỹ.

Trên thực tế, những núi và thung lũng ngầm dưới đáy biển đều được vẽ tổng quát trên bản đồ nhờ sử dụng vệ tinh và các tàu thăm do bằng sóng âm thanh, tuy nhiên cho đến nay con người mới chỉ thăm dò và đo đạc chi tiết được 5% diện tích đáy đại dương, trong khi tỉ lệ này trên đất liền, thậm chí trên Mặt Trăng, sao hoả hay sao Mộc lớn hơn nhiều.

Hiện tại đang có một cuộc chạy đua thám hiểm các vùng đáy biển trong nỗ lực nhằm lấp đầy những vùng trắng trên bản đồ, xuất phát từ đòi hỏi nghiên cứu về biển, do tầm quan trọng lớn lao của đại dương đối với sự sống, khí hậu và nền kinh tế thế giới.

Bạch Đằng ( tổng hợp )

]]>
La Nina hình thành trở lại trên Thái Bình Dương https://biendong.net/2011/11/25/la-nina-hinh-thanh-tr-li-tren-thai-binh-dng/ Fri, 25 Nov 2011 09:28:04 +0000 http://localhost/wp/2011/11/25/la-nina-hinh-thanh-tr-li-tren-thai-binh-dng/ BienDong.Net: Theo Tổ chức khí tượng Thế giới (WMO), từ tháng 8, La Nina đã hình thành trở lại một cách yếu ớt trên vùng biển nhiệt đới của Thái Bình Dương sau một thời kì thời tiết trung tính vào tháng 5/2011, và tình hình này có thể sẽ tiếp diễn tới cuối năm và đầu năm tới.

Các chuyên gia dự báo la Nina hiện nay có thể sẽ mạnh lên đôi chút, nhưng sẽ yếu hơn đáng kể so với la Nina năm 2010-11. Trong bối cảnh này, El Nino sẽ khó có thể hình thành trước tháng 4 năm 2012.

La Nina là hiện tượng nước biển lạnh đi ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, trái ngược với hiện tượng El Nino (tăng nhiệt độ nước biển bất thường ở vùng xích đạo của Thái Bình Dương). Cả hai trạng thái này đều phá vỡ những mô hình thời tiết thông thường và gây tác động khó lường trên diện rộng tới nhiều nơi trên thế giới.

Băng tuyết xuất hiện bất thường ở Mẫu Sơn, Lạng Sơn hồi tháng 1/2011 ( Ảnh Yến Yến )

Năm nay, La Nina mới kết thúc hồi tháng 5, giờ lại có khả năng xuất hiện trở lại là minh chứng cho thấy trạng thái khí quyển trong thời gian gần đây bị biến động rất mạnh do biến đổi khí hậu toàn cầu; quá trình chuyển từ pha nóng sang pha lạnh hoặc tái xuất hiện pha lạnh trên vùng nhiệt đới Thái Bình dương diễn ra với nhịp độ ngắn hơn nhiều so với trước.

Theo các chuyên gia khí tượng Thủy văn Việt Nam, Từ năm 1950 đến nay, tổng cộng có 13 lần La Nina tác động trực tiếp đến thời
tiết Việt Nam. Trong những năm có La Nina, điển hình là các năm 1964, 1970, 1996, 1998, 2006, 2009, số lượng các trận bão, áp thấp nhiệt đới và mưa lũ ảnh hưởng tới nước ta không chỉ tăng mà còn có xu hướng tăng lên vào năm kế tiếp (hậu La Nina), nếu như liền sau đó không xuất hiện El Nino.

Trong những năm xảy ra La Nina, sự hình thành lốc xoáy nhiệt đới, cùng với lưỡi cao áp cận nhiệt đới dịch chuyển theo hướng tây qua Tây Thái Bình Dương, làm tăng nguy cơ sụt lở đất.

Bên cạnh thiên tai mưa lũ, nghiên cứu của các nhà khoa học cũng nhận thấy có mối liên hệ giữa hiện tượng La Nina và các bệnh liên quan đến muỗi như sốt xuất huyết và sốt rét do thay đổi về thời tiết và chế độ mưa ảnh hưởng đến cơ chế sinh trưởng của chúng.

Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn Trung ương, do la Nina là hiện tượng có tính toàn cầu, từ khi quan sát được đến lúc biểu hiện đều có độ trễ từ 3-6 tháng, nên trước mắt chưa thấy dấu hiệu Việt Nam bị ảnh hưởng bởi hiện tượng này. Trả lời phỏng vấn Vnexpress ông Lê Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm dự đoán nửa cuối mùa đông này Bắc Bộ Việt Nam sẽ xảy ra khoảng 4-5 đợt rét đậm, rét hại nhưng không kéo dài. Từ nay đến hết mùa đông ( tháng 2-3/ 2012) khí hậu ở trạng thái trung tính ( không El Nino, không La Nina ).

Ông Hải  cũng dự báo, từ nay đến hết năm 2011, bão và áp thấp nhiệt đới vẫn còn khả năng xuất hiện và hoạt động trên khu vực Biển Đông và còn khoảng 1-2 cơn có khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam, chủ yếu tới Trung Bộ.

Sông Hương ( tổng hợp )

]]>
Một hòn đảo đang hình thành gần quần đảo Canarias? https://biendong.net/2011/11/16/mt-hon-o-ang-hinh-thanh-gn-qun-o-canarias/ Wed, 16 Nov 2011 07:33:17 +0000 http://localhost/wp/2011/11/16/mt-hon-o-ang-hinh-thanh-gn-qun-o-canarias/ BienDong.Net: Một núi lửa nằm ở dưới lòng biển ngoài khơi quần đảo Las Canarias của Tây Ban Nha hiện đang phun trào dung nham cao 20m lên trên mặt biển sau một trận động đất có cường độ 4,3 richter cùng hàng chục dư chấn tiếp theo..

Đây là lần phun trào đầu tiên cùa núi lửa ở vùng El Hierro kể từ năm 1971 và người dân địa phương cho rằng đợt phun trào này có thể hình thành một núi lửa mới với miệng núi hiện đã cao 200 mét so với mặt biển..

Hoạt động phun trào đã thu hút sự chú ý của các du khách hiếu kì, song giới chức Tây Ban Nha cũng cảnh báo núi lửa phun cả khí độc vào không khí, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Vùng nước xoáy sôi sùng sục, nơi ngọn núi lửa dưới lòng biển phun trào


Những hòn đá nóng do núi lửa phun lên

Một đảo mới đang nổi lên mặt nước ?

Du khách hiều kì chiêm ngưỡng cảnh núi lửa phun trào

Núi lửa ngầm dưới đại dương thường phun trào theo hai giai đoạn. Giai đoạn đầu chúng tạo ra vùng nước xoáy sôi sung sục, làm nhiệt độ nước biển xung quanh tăng thêm tới 10 độ C, thỉnh thoảng có những đợt phun trào nham thạch và đá nóng.

Giai đoạn hai, núi lửa hoạt động mạnh, liên tục phun lên hơi nước, tro và nham thạch. Đây là giai đoạn có thể hình thành một hòn đảo mới trên mặt nước biển.

Quần đảo Canarias gồm bảy hòn đảo có nguồn gốc núi lửa ở Đại Tây Dương, ngoài khơi phía Tây Bắc châu Phi. Các hòn đảo này thuộc Tây Ban Nha và là một khu vực tự trị của nước này.

Ngọc Hồi ( theo báo chí TBN )

 

]]>
Bắc Cực: Cơ hội hợp tác mới? https://biendong.net/2011/10/05/bc-cc-c-hi-hp-tac-mi-sp-27168/ Wed, 05 Oct 2011 10:33:51 +0000 http://localhost/wp/2011/10/05/bc-cc-c-hi-hp-tac-mi-sp-27168/ Phần 2. Lập trường của các nước ven biển

Nga

Hội đồng an ninh Nga xác định 4 ưu tiên của Nga tại Bắc Cực: sử dụng khu vực Bắc Cực của Nga như một nguồn lợi chiến lược để phát triển kinh tế xã hội đất nước; bảo vệ Bắc Cực là khu vực hòa bình và hợp tác; bảo vệ hệ thống sinh thái độc nhất; sử dụng như một tuyến đường phục vụ giao thông vận tải biển. Ngoài những tài liệu và tuyên bố, Nga thèm khát một vùng Bắc Cực khi yêu sách 20% lãnh thổ Bắc Cực và ngày nay không do dự tuyên bố phần lớn chủ quyền Bắc Cực.

Nga đã đưa ra yêu sách đầu tiên năm 2001 về tham vọng này, song được cho là chưa hoàn chỉnh. Các nghiên cứu kỹ thuật bổ sung sẽ được đặt ra. Nga tiếp tục thu thập nhiều số liệu để tạo dựng một hồ sơ mới.

Chính sách của Nga tại Bắc Cực rất thực dụng, kiên quyết bảo vệ lợi ích địa kinh tế và địa chiến lược, cũng như uy tín của mình bằng cách khuyến khích hợp tác và giải quyết các tranh chấp lãnh thổ qua Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982 (UNCLOS).

 

Mỹ – Nga hợp tác khai thác dầu ở Bắc Băng Dương

Tuổi Trẻ – Exxon Mobil, tập đoàn dầu khí lớn nhất của Mỹ, đã ký kết một thỏa thuận thăm dò dầu khí tại vùng Bắc Băng dương thuộc lãnh hải Nga với Rosneft, tập đoàn dầu khí lớn nhất của Nga.


Giàn khoan dầu tại khu vực Sakhalin-I, Nga với sự liên doanh của Rosneft, Exxon Mobil và Công ty dầu khí Nhật Sakhalin – Ảnh: Bloomberg

Người phát ngôn của Rosneft cho biết hợp đồng này được ký kết hôm 30-8 tại Sochi bên bờ biển Đen của Nga.

“Một chân trời mới đang mở ra” – Thủ tướng Nga Vladimir Putin mô tả và cho biết hợp đồng này cũng cho phép Rosneft tiếp cận các khu vực dầu mỏ trong vịnh Mexico, Texas và phát triển các mỏ dầu phía tây Siberia.

Theo thỏa thuận, hai công ty sẽ chi 3,2 tỉ USD đầu tiên trong tổng đầu tư 500 tỉ USD cho việc thăm dò dầu khí tại vùng nước sâu thuộc khu vực đông Prinovozemelsky của biển Kara cũng như tại biển Đen của Nga.

Đây là các khu vực ít được thăm dò dầu khí nhất trên thế giới mà theo Exxon Mobil mô tả là: “triển vọng nhất với tiềm năng dầu và khí cao”.

Theo ước tính của BP, vùng biển Kara có thể sản xuất 100 tỉ thùng dầu.

ANH THƯ (Theo Bloomberg, BBC)

Canađa

Canađa là nước thứ hai có nhiều lãnh thổ trong khu vực biển Bắc Cực. Chiến lược của Canađa đối với Bắc Cực dựa trên 4 nguyên tắc: bảo vệ chủ quyền tại Bắc Cực; khuyến khích phát triển kinh tế xã hội; bảo vệ môi trường; cải thiện và phân quyền quản lý.

Canađa muốn giành quyền quản lý Bắc Cực nhiều hơn, song đang phải tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải với Mỹ và Đan Mạch. Trước những lợi ích trên, sau nhiều thập kỷ lơ là với Bắc Cực, Chính phủ Canađa đã bắt đầu thức tỉnh bằng tham vọng củng cố sự hiện quân sự tại Bắc Cực trong những năm tới, đặc biệt là việc thiết lập một hệ thống rađa, đóng các tàu phá băng quân sự và xây dựng hai cảng nước sâu tại đảo Baffin; đã đầu tư đóng từ 6-8 tàu tuần tra biển có trang bị pháo hạng nặng có khả năng đi trên băng dày từ 1-2 mét; sẽ tuyển thêm những người bản xứ từ 4100 lên 5000 người để tăng cường tuần tra vùng biên giới phía Bắc; đã phóng vệ tinh RadarSat2 với hy vọng nắm được tình hình Bắc Cực cũng như hoạt động của các tàu lạ; đã đầu tư hệ thống nghe dưới nước phát hiện tàu ngầm và đầu tư máy bay không người lái giám sát không phận; tăng cường tập trận quân sự.

Đan Mạch

Đan Mạch cũng đã tổ chức các cuộc thám hiểm trong khu vực để yêu sách chủ quyền đối với một số khu vực đáy biển Bắc Cực. Đan Mạch và Nga đang tranh chấp chủ quyền “dãy núi ngầm” Lomonossov. Bộ Quốc phòng Đan Mạch dự định sáp nhập các sở chỉ huy tại đảo Groenland với đảo Faeroe và thành lập lực lượng phản ứng nhanh Bắc Cực cùng các máy bay chiến đấu tuần tra trên lãnh thổ Groenland. Đan Mạch dự định đóng mới các tàu chiến từ nay đến 2013. Mặc dù còn nghi ngờ song Đan Mạch đã tham gia các cuộc tập trận quân sự chung với Canađa . Đối với Đan Mạch, ván bài có thể thay đổi nếu đảo Groenland hưởng một quy chế tự trị lớn hơn và có thể giành được độc lập trong những năm tới.

Mỹ

Mỹ liên quan trực tiếp đến những thách thức tại Bắc Cực. Mỹ đã kín đáo tiến hành những nghiên cứu địa lý để có thể yêu sách mở rộng EEZ của mình. Tuy nhiên, do chưa phê chuẩn Công ước LHQ về luật biển, Mỹ bị tước mất quyền yêu sách các khu vực. Do đó, Chính quyền Bush và Obama đã khuyến nghị Thượng viện Mỹ phê chuẩn Công ước luật biển, cách duy nhất để Oasinhtơn có thể đưa ra những yêu sách lãnh hải của mình. Ngoài ra, những tranh chấp lãnh thổ với Canađa , với Nga liên quan tới biển Bering cũng đã xảy ra. Đối với Oasinhtơn, tương lai của những tuyến hàng hải qua Bắc Cực là một trong những ưu tiên được bảo vệ. Ngoài ra còn các vấn đề về phòng thủ tên lửa và cảnh báo sớm, việc triển khai các hệ thống bảo vệ trên không và trên biển hỗ trợ giao thông hàng hải chiến lược, răn đe chiến lược, sự hiện diện của hải quân và các chiến dịch an ninh hàng hải, việc bảo đảm tự do thông thương và hàng không. Mỹ sẽ đơn phương bảo vệ các lợi ích tại Bắc Cực khi cần thiết và ưu tiên hợp tác quốc tế. Hải quân Mỹ đang thiếu các phương tiện quân sự cần thiết. Lực lượng bảo vệ bờ biển của Mỹ có 3 tàu phá băng, song chỉ có 1 chiếc là USGC Healy còn hoạt động. Tàu Polar Star được mua từ năm 1976 hiện đang trong quá trình hiện đại hóa và sẽ có thể hoạt động vào năm 2013. Trước những thiếu thốn này, lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ và Lầu Năm Góc rất cần đầu tư để tăng cường sức mạnh quân sự tại Bắc Cực. Mỹ phải đầu tư đóng các tàu phá băng mới và điều này sẽ mất nhiều năm để có thể đưa vào sử dụng. Một vấn đề nữa là Bắc Cực hiện đang đặt dưới sự kiểm soát của 3 bộ chỉ huy khác nhau (PACOM, EUCOM và NORTHCOM). Ngoài ra, Mỹ dự định đặt 36 máy bay tiêm kích F-22 tại Anchorage và tăng cường khả năng phòng thủ tên lửa. Lầu Năm Góc cũng tổ chức các cuộc tập trận quân sự, trong đó có cả phối hợp với Canađa . Đảo Groenland với căn cứ quân sự Thulé đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phòng thủ tên lửa mà Mỹ cũng không thể bỏ quên. Một lĩnh vực quan trọng nữa mà Mỹ dự định đầu tư đó là hậu cần và cơ sở hạ tầng cứu hộ trước sự gia tăng các tàu thương mại, du lịch… trong khu vực.

Nauy

Năm 2006, Ôxlô công bố chiến lược tại Bắc Cực với những ưu tiên: Kiểm soát Bắc Cực một cách tin cậy, vững chắc, có tính dự báo; đi đầu trong việc ủng hộ các nỗ lực quốc tế nâng cao hiểu biết trong khu vực; tăng cường hợp tác với Nga; thiết lập phạm vi phát triển các hoạt động dầu khí; tôn trọng truyền thống và văn hóa của các dân tộc bản xứ.

Cuối tháng 4/2010, Nauy và Nga ký thỏa thuận giải quyết tranh chấp biên giới trên biển. Theo đó hai nước chia sẻ công bằng từng phần đối với 176000 km2 còn tranh chấp. Thách thức vẫn còn lớn bởi các mỏ tài nguyên còn nằm đâu đó trong khu vực này, như mỏ khí Shtokman (phía Nga) còn Snoehvit và Goliat (phía Nauy). Hiện hai nước còn tranh chấp đảo Spitzbergen ( Svalbard ). Nauy đang ngày càng đầu tư hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm, hạm đội nổi (mua tàu hộ tống lớp Fridtjof Nansen), không quân (dự định mua khoảng 40 máy bay F-35); đã quyết định di chuyển một phần bộ chỉ huy quân đội lên phía Bắc đất nước.

Liên minh châu Âu

EU liên quan trực tiếp đến Bắc Cực vì một số nước thành viên của khối này (Thụy Điển, Phần Lan và Đan Mạch) và các nước châu Âu khác không là thành viên (Nauy và Aixơlen). EU đánh giá Bắc Cực là khu vực duy nhất và dễ bị tác động gần EU. Bắc Cực sẽ có tác động quan trọng đến các thế hệ người dân châu Âu tương lai. EU sẽ tăng cường hợp tác về Bắc Cực để mở ra triển vọng mới với các Nhà nước Bắc Cực; mong muốn tăng cường ổn định, quản lý đa phương Bắc Cực nhờ vào đội ngũ cán bộ tư pháp hiện có và cân bằng giữa bảo vệ môi trường với khai thác bền vững các nguồn tài nguyên tự nhiên, trong đó có khí đốt. Khí hậu biến đổi, môi trường, năng lượng, nghiên cứu, ngư nghiệp và giao thông hàng hải có tác động trực tiếp đến Bắc Cực. Do đó, EU đã đề ra ba mục tiêu: bảo vệ Bắc Cực hài hòa với dân cư tại đây; khuyến khích khai thác bền vững các nguồn tài nguyên; góp phần quản lý đa phương Bắc Cực một cách hiệu quả. Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu này, EU đề xuất: a, xây dựng các cơ sở nghiên cứu mới; b, kiểm soát các hóa chất; c, tăng cường hợp tác phòng chống thiên tai; d, Tổ chức thường xuyên các cuộc đối thoại có sự tham gia của người dân bản xứ Bắc Cực; e, mở rộng Bắc Cực trong khung cảnh quy chế liên quan đến các khu vực ngư nghiệp; f, tăng cường giám sát biển; g, khuyến khích áp dụng các quy chế hiện có và tăng cường các tiêu chuẩn về môi trường và an ninh của Tổ chức Hàng hải quốc tế; h, tăng cường quản lý đa phương Bắc Cực, đặc biệt thông qua đối thoại chính trị trên cơ sở Công ước LHQ về luật biển; i, đặt các vấn đề Bắc Cực nằm trong số những vấn đề ưu tiên của quốc tế và Ủy ban châu Âu cần hỗ trợ Hội đồng Bắc Cực để đạt được quy chế quan sát viên thường trực.

Những quan tâm của EU đối với Bắc Cực cho thấy liên minh này ưu tiên thực hiện chính sách đối ngoại đa phương trong cách tiếp cận với Bắc Cực, một hồ sơ tiềm năng gây bất ổn. Thay vì phô trương sức mạnh và gia tăng ảnh hưởng như những cường quốc khác trong cuộc chạy đua tại Bắc Cực, EU duy trì cách thức truyền thống, ưu tiên giải quyết bằng các quy chế hơn là sức mạnh.

Trung Quốc

Trung Quốc cũng ngày càng tăng cường chính sách hướng đến Bắc Cực khi thấy trước những tuyến hàng hải mới và những mỏ dầu khí tiềm năng. Mặc dù thận trọng trong tuyên bố và mục đích của mình, Trung Quốc ngày càng cho thấy có những hoạt động công khai và mờ ám đối với khu vực. Bắc Kinh đã cử nhiều đoàn thám hiểm đến Bắc Cực (1999, 2003, 2008, 2010); đang sở hữu tàu phá băng Xuelong mua của Ucraina năm 1993 và hiện đang đóng mới một tàu khác, có thể hoạt động vào năm 2013. Tại đảo Svalbard, từ lâu Bắc Kinh đã có một trạm nghiên cứu và hiện đang tiến gần đến các nước phương Bắc, như Aixơlen, nơi Bắc Kinh đã xây dựng một tòa đại sứ lớn để trong dài hạn biến các nước này thành phương tiện quá cảnh hàng hải trong khu vực. Tại Trung Quốc, các trung tâm nghiên cứu và trường đại học ngày nay đang tập trung vào vấn đề Bắc Cực theo nghĩa rộng. Các công ty Trung Quốc đang xem xét thành lập các công ty liên danh với phía Nga, tuy nhiên công nghệ của Trung Quốc còn chưa phát triển đủ để làm việc trong các điều kiện phức tạp như tại Bắc Cực. Tuyến hàng hải mới cho phép tạo thuận lợi phát triển kinh tế khu vực Đông-Bắc Trung Quốc. Bắc Cực cũng thu hút Trung Quốc trong dự án Northern East West Freight Corridor với mục đích nối lãnh thổ Trung Quốc với cảng Narvik (Nauy) thông qua Cadắcxtan và Nga), tiếp đó nhằm mục đích nối với Bắc Mỹ. Các tuyến hàng hải mới sẽ giúp Trung Quốc tránh được các nút thắt truyền thống như eo biển Malắcca. Trung Quốc không phải là Nhà nước quanh địa cực nên cách tiếp cận của nước này vẫn còn cần đến quốc tế hóa vấn đề khi lên án phần nào chính sách của “5 nước Bắc Cực” và vận động các nước không giáp ranh.

Ấn Độ

Ấn Độ cũng ý thức được tầm quan trọng của Bắc Cực và đã lập trạm nghiên cứu Himadri ở Ny Alesund, trên hòn đảo Svalbard thuộc Nauy năm 2007. Niu Đêli đã thực hiện các cuộc thám hiểm khoa học và hiện đầu tư đóng một tàu phá băng, có khả năng hoạt động vào năm 2012. Tuy nhiên, sự hiện diện và lợi ích của Ấn Độ trong khu vực Bắc Cực còn hạn chế.

Hàn Quốc

Hàn Quốc đã lập một trạm nghiên cứu ở Ny Alesund và ngày càng can dự vào Bắc Cực với mục đích chính là nghiên cứu sự biến đổi của thời tiết, song cũng như các nước khác thèm muốn tuyến hàng hải. Hàn Quốc có thế mạnh đóng tàu. Tập đoàn Samsung Heavy Industry đang đóng các tàu chở dầu loại trung bình (70000 đến 120000 tấn) để vận chuyển dầu tại các vùng biển Bắc của Nga.

Hàn Quốc và Nga thảo luận tuyến vận tải biển qua Bắc cực

TTXVN

Các quan chức cho hay trong hai ngày 6-7/9 tại Mátxcơva, Hàn Quốc và Nga sẽ có các cuộc gặp bàn về hàng hải, trong đó thảo luận việc Xơun triển khai và sử dụng các tuyến vận tải biển mới đi qua Bắc Băng Dương.

Theo thông cáo báo chí của Bộ Đất đai, Giao thông Vận tải và Hàng hải Hàn Quốc: “Cuộc gặp trên diễn ra theo đề xuất của Chính phủ Hàn Quốc nhằm phát triển các tuyến vận tải mới đi qua Bắc Băng Dương, thay thế các tuyến hàng hải qua Ấn Độ Dương vốn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm vì hải tặc, đồng thời cũng giảm bớt chi phí vận tải”.

Theo bộ trên, hiện phải mất khoảng 30 ngày để vượt qua quãng đường biển dài 20.100 km từ thành phố cảng Busan của Hàn Quốc, qua Ấn Độ Dương tới cảng Rotterdam của Hà Lan. Với tuyến vận tải mới trên Bắc Băng Dương qua Nga, đường đi sẽ rút xuống chỉ còn 12.700 km và thời gian cũng chỉ còn 10 ngày. Tuy nhiên, chi phí vận tải sẽ giảm không đáng kể vì Hàn Quốc phải trả thù lao cho việc sử dụng các tàu phá băng của Nga cũng như phải đóng tiền bảo hiểm cao hơn. Mặc dù vậy, một tuyến vận tải mới qua Bắc Băng Dương sẽ giúp gia tăng đáng kể các trao đổi giữa Hàn Quốc và Nga, trong khi cũng khai thông một tuyến vận tải mới với chi phí hợp lý để vươn tới các thị trường ở Bắc Âu.
Hàn Quốc có kế hoạch triển khai các hoạt động bước đầu trên tuyến hàng hải qua Bắc Băng Dương từ đầu tháng 7/2012, tiếp sau các cuộc đàm phán hàng hải với Na Uy dự kiến diễn ra vào đầu năm 2012.

 

NATO

NATO ngầm liên quan đến Bắc Cực do 4/5 nước giáp ranh là thành viên của tổ chức này. Cuối tháng 1/2009, NATO đã tổ chức một cuộc họp về Bắc Cực tại Reykjavik với hy vọng một sự hiện diện quân sự tại đây là cần thiết, song chưa đưa ra một văn bản cụ thể nêu rõ chiến lược đối với Bắc Cực. Sự can dự của NATO chắc chắn sẽ làm nảy sinh cạnh tranh giữa các nước thành viên do họ có những kế hoạch khác nhau. Điều này làm hạn chế quy mô và hiệu quả hoạt động của NATO.

Hội đồng Bắc Cực

Hội đồng Bắc cực ra đời năm 1996, là một diễn đàn liên chính phủ gồm 8 nước (Canađa, Đan Mạch, Phần Lan, Aixơlen, Nauy, Nga, Thụy Điển và Mỹ) cùng 6 tổ chức bản địa. Pháp, Đức, Ba Lan, Hà Lan, Tây Ban Nha và Anh có quy chế quan sát viên thường trực, trong khi Trung Quốc là quan sát viên đặc biệt và Hàn Quốc, Nhật Bản đang mong muốn được hưởng quy chế quan sát viên.

Hội đồng Bắc Cực đề cập đến các vấn đề như bảo vệ môi trường, phát triển bền vững song không có khuynh hướng đề cập đến các vấn đề an ninh quốc phòng.

Hội nghị tháng 5/2008 giữa 5 nước giáp ranh họp tại Ilulissat (Groenland) đã đi đến tuyên bố tái khẳng định giải quyết các vấn đề lãnh thổ dựa trên UNCLOS và khuyến khích hòa bình, hợp tác và không cần thiết phải thành lập cơ quan quốc tế khác.

Một số nước đánh giá hội nghị trên muốn chứng minh các nước và tổ chức khác không có quyền can dự vào Bắc Cực. Hội nghị các ngoại trưởng của nhóm 5 nước cuối tháng 3/2010 tại Chelsea (Canađa) một lần nữa chứng minh các nước này, trong đó nổi bật là Nga và Canađa, muốn thành lập một “trung tâm độc quyền không chính thức” với mục đích không phải để thay thế Hội đồng Bắc Cực mà trong một số trường hợp để tổ chức các hội nghị thượng đỉnh “đặc trưng riêng”.

Kết luận

Thách thức tại Bắc Cực gồm nhiều vấn đề: địa kinh tế (nguồn nguyên liệu), địa chính trị (kiểm soát các tuyến hàng hải) và địa chiến lược (củng cố và sắp đặt lại các phương tiện quân sự). Việc tiếp cận các nguồn tài nguyên của Bắc Cực hiện chưa thực tế song là tham vọng trong tương lai. Giai đoạn đầu, mỗi nước đều đang tăng cường hiện diện tại Bắc Cực, cũng như tìm kiếm các lý lẽ tư pháp để khi thời điểm thích hợp cộng với tương quan lực lượng sẽ đòi hỏi chủ quyền Bắc Cực. Mỗi nước liên quan đều có chiến lược riêng. 5 nước giáp ranh có cách tiếp cận thực tế, đặc biệt là Canađa và Nga, hai nước liên quan nhiều nhất. Mặc dù có sự hợp tác giữa các Nhà nước, song ở cấp độ song phương còn có những mối nghi ngờ, do vậy làm dấy lên các cuộc chạy đua vũ trang không cần thiết.

Giai đoạn thứ hai xuất hiện mối quan hệ có tính hợp tác hơn ở cấp “5 nước giáp ranh cộng 3” hay Hội đồng Bắc Cực, nhấn mạnh một sự hợp tác đa chính phủ, song mới chỉ dừng lại ở lợi ích thứ hai (môi trường, cứu hộ).

Vào giai đoạn thứ ba, các đối tác ngoại vi quan tâm đến Bắc Cực có xu hướng đưa ra cách tiếp cận vấn đề tự do hơn, muốn quốc tế hóa vấn đề qua một thể chế hay hình thức quản lý toàn cầu (EU và Trung Quốc), song trước tiên lại mang tính chiến lược.

 

Khí hậu trái đất nóng lên

Khí hậu nóng lên khiến băng tan chảy sẽ làm gia tăng mạnh mẽ những căng thẳng địa chính trị trên khi mở ra các cơ hội tiếp cận các hòn đảo mới, cho đến nay chưa thể xâm nhập hay chúng chưa hiện ra, kéo theo những yêu sách chủ quyền lãnh thổ do phát hiện ra những hòn đảo như tranh chấp giữa Nauy và Đan Mạch liên quan tới đảo Tobias được phát hiện năm 1993 là một minh chứng.

Những hậu quả của biến đổi khí hậu: Liệu các nước có dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang và các nguồn nguyên liệu mới? Liệu mọi sự hợp tác đều bị loại trừ? Những thách thức thực sự là gì?

Ngày nay, khí hậu trái đất nóng lên càng ít được cộng đồng các nhà khoa học tranh luận, trừ một số nhà khoa học hoài nghi không khoan nhượng lên án một cách chung chung nguyên nhân do con người hay do tự nhiên-hay do quan hệ nhân quả gắn khí hậu nóng lên với một số hiện tượng thời tiết “cực đoan”. Nhìn chung, các nước sẽ phải cám ơn điều này. Bằng cách trút nghi ngờ lên những kết luận do không chỉ Nhóm liên chính phủ về biến đổi khí hậu (GIEC), mà còn của nhiều trường đại học độc lập đưa ra, theo dòng thời gian các nước đã đẩy các nhà nghiên cứu phải thay đổi hình thức đánh giá để đưa ra các kết quả ít tranh cãi hơn. Từ nay, tiêu chuẩn đánh giá số học cho phép đánh giá những thay đổi phức tạp nhất để đưa ra các kết luận ngày càng có tính tin cậy hơn. Bản báo cáo thứ 4 và là cuối cùng của GIEC được đưa ra vào năm 2007 đến nay vẫn là văn bản quốc tế chính thức cuối cùng về các số liệu và triển vọng khí hậu trái đất nóng lên. Cũng liên quan đến Bắc Cực, bản báo cáo trên nêu rõ: Bắc Cực đang nóng lên. Nhưng khí hậu trái đất nóng lên không phải là một hiện tượng thuần nhất và rõ nét. Các quan sát và kết luận của các nhà khoa học cho thấy dường như biển Bắc Cực là khu vực chịu tác động nhiều nhất của khí hậu trái đất nóng lên. Nói cách khác, Bắc Cực đang nóng dần lên và nhanh hơn phần còn lại của trái đất. Khu vực này xuất hiện như một trạm tiền tiêu để quan sát một hiện tượng khi được xác nhận có thể sẽ làm xáo trộn hoàn toàn hệ sinh thái của chúng ta trong những thập kỷ tới. Từ 1955-2005, nhiệt độ trung bình tại Pari (Pháp) chỉ tăng 1°C trong khi tại đảo Groenland là 3°C. Cộng đồng các nhà khoa học lúc này đánh giá sẽ rất khó tránh được mức nhiệt độ trung bình tăng 2°C so với giai đoạn tiền công nghiệp. Theo GIEC, kịch bản này sẽ làm mực nước biển tăng 40 cm và có nghĩa là toàn bộ các tảng băng sẽ tan vào mùa hè trong giai đoạn 2050-2070.

Tuy nhiên, những dự báo trên bị nhiều nhà khoa học cho là quá lạc quan. Họ đánh giá các kết luận của GIEC dựa trên những công việc và xem xét một số lượng lớn những biến đổi ngày nay. Bản báo cáo năm 2007 không chú ý đến động thái hợp nhất các sông băng lục địa Groenland và Bắc Cực. Theo một nghiên cứu được giáo sư Eelco Rohling, thuộc Đại học Southampton công bố tháng 12/2007 trên tạp chí Nature Geoscience, những dự báo của GIEC đánh giá nhiệt độ trung bình từ nay đến cuối thế kỷ tăng 2°C có thể so sánh với những thay đổi thời tiết của trái đất trong giai đoạn cuối cùng của “kỳ tan băng”. Theo nghiên cứu này, mực nước biển trong cùng giai đoạn tăng 1,6m, tức cao gấp 4 lần dự báo hiện nay của GIEC. Các kết luận của nghiên cứu này cho thấy những dự báo của GIEC về đánh giá mực nước biển là quá lạc quan. Công trình nghiên cứu “Những khó khăn trong việc dự báo mực nước biển dâng” của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp công bố ngày 8/10/2007 đã làm cơ sở cho thấy sự đánh giá thấp quy mô mực nước biển tăng từ nay đến cuối thế kỷ.

Nghiên cứu cho biết đánh giá mực nước biển tăng 40cm bị cho là quá chủ quan. Các tảng băng Bắc Cực tan biến vào mùa hè ban đầu được dự kiến vào giai đoạn 2050-2070 đã được rút ngắn lại ở giai đoạn 2030-2050. Năm 2007, diện tích khối băng vào mùa hè ghi nhận một mức kỷ lục mới, chỉ có 4,28 triệu km2 so với 5,32 triệu km2 năm 2005. Chỉ trong hai năm, diện tích các khối băng trên biển đã giảm ¼, tức bằng diện tích hai lần nước Pháp. Nếu các lớp vỏ băng suy giảm do hậu quả dễ thấy từ việc khí hậu nóng lên thì các lớp băng Bắc Cực mỏng đi cũng là điều cần chú ý. Sự mỏng đi này không thể trực tiếp đo đạc được qua các hình ảnh chụp từ vệ tinh, mà điều này chỉ làm cho việc đánh giá thêm phức tạp. Tuy nhiên, những phương pháp đo đạc khác nhau hiện nay đang cho phép cộng đồng các nhà khoa học thực hiện các phép đo chính xác. Các kết quả đạt được cho thấy thích đáng hơn bởi chúng quy tụ được những đánh giá và ghi nhận độc lập hơn so với phương pháp đã sử dụng. Các nghiên cứu khác cũng ăn khớp: các lớp băng mỏng đi nhanh chóng. Trong giai đoạn 1958-1976 và thập kỷ 1990, các lớp băng suy giảm từng khu vực theo thứ tự từ 37% lên 55%.

Các lớp băng mất dần gây hậu quả thay đổi toàn bộ bề mặt địa chính trị của trái đất. Chính sách đối ngoại của các nước từng phần luôn tương ứng với vị trí địa lý của họ. Sự biến đổi trên ảnh hưởng đến môi trường hoạt động của các nước liên quan và xa hơn nữa là các nước sử dụng quân bài “Bắc Cực” trong chính sách đối ngoại. Lập luận này nối tiếp tư tưởng của K. Haushofer khi ông nhấn mạnh “địa chính trị” nghiên cứu cách thức mà các số liệu địa lý “quyết định” chính sách của một quốc gia… Hậu quả chính của băng tan chính là mang lại cho các Nhà nước những nguồn tài nguyên-nhân tố giúp phát triển đến nay chưa tiếp cận được. Những yếu tố giúp phát triển này có thể đã hoặc chưa đánh giá được trữ lượng. Trong cả hai trường hợp, tác động tiềm tàng từ việc kiểm soát chúng do một chính quyền cũng có thể gây ra những căng thẳng xuyên nhà nước liên quan tới trật tự địa chính trị của các lãnh thổ liên quan. Vì vậy, Bắc Cực là một thách thức địa chính trị, một minh chứng về tầm nhìn chiến lược của các nước và họ ý thức được những đối thủ ngày nay đối với nguồn tài nguyên của ngày mai. Đối với các nước chủ chốt của hệ thống quốc tế, sức mạnh kinh tế – cơ sở của sức mạnh chính trị – gắn liền với việc tiếp cận các nguồn tài nguyên, một thách thức lớn. Cuộc cạnh tranh tỏ ra có ưu thế đối với hai trong số các nước quan trọng là Nga và Mỹ, những nước giáp ranh khu vực Bắc Cực./.

Mai Trang tổng hợp báo chí quốc tế và quốc nội.

]]>