Tài nguyên Biển – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 04 Jul 2025 07:11:49 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Nhận diện những lợi thế của TQ trong tham vọng kiểm soát nguồn năng lượng ở Biển Đông https://biendong.net/2025/06/20/nhan-dien-nhung-loi-the-cua-tq-trong-tham-vong-kiem-soat-nguon-nang-luong-o-bien-dong/ Fri, 20 Jun 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=152112 Hầu hết những nhà nghiên cứu có am hiểu về Biển Đông đều thừa nhận, ngoài giá trị vô cùng quan trọng về địa chiến lược, Biển Đông còn có giá trị rất lớn về địa kinh tế, nghĩa là vùng biển này chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, có tính chất sống còn đối với sự phát triển kinh tế của các nước trong và ngoài khu vực.

Riêng về lĩnh vực năng lượng, Biển Đông được đánh giá là một trong năm “rốn” dầu lớn nhất của thế giới với các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí rất khả quan là các bồn trũng Brunei – Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Bằng chứng là hiện nay, bên cạnh Trung Quốc, hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đều có các hoạt động khai thác và sản xuất dầu khí từ Biển Đông, trong đó Indonesia là thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC).

Theo Bộ Năng lượng Mỹ, trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông là khoảng 11 tỷ thùng và 5.380 tỷ mét khối khí đốt tự nhiên. Còn theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Trong khi các chuyên gia Nga lại cho biết, khu vực Hoàng Sa và Trường Sa còn “cất giấu” lượng lớn khí đốt đóng băng được gọi là băng cháy. Loại tài nguyên này trên toàn cầu có trữ lượng ngang bằng với dầu khí và được xem là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Ngoài ra, nhiều thông tin tiết lộ, Biển Đông có nguồn đất hiếm “khủng” hơn gấp hàng trăm lần lượng đất hiếm trên đất liền của Trung Quốc. Điều này cho thấy, giá trị kinh tế của Biển Đông không chỉ có trên mặt nước, trong lòng biển, trên không, mà lớn hơn cả là những nguồn tài nguyên nằm sâu dưới đáy biển. Do đó, không ít nhà nghiên cứu đã cho rằng, “cuộc chiến” về năng lượng mới là “căn nguyên” chính của vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Hiện nay, chưa có đánh giá nào khẳng định quốc gia nào chiếm được nhiều nguồn năng lượng nhất ở Biển Đông. Nhưng Trung Quốc đang là nước có nhiều lợi thế hơn cả trên khía cạnh địa lý và sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ phục vụ cho hoạt động thăm dò, khai thác các nguồn năng lượng ở Biển Đông. Ngoài ra, Bắc Kinh còn có một lợi thế chủ quan khác là đã tận dụng thời cơ, sử dụng sức mạnh để “chiếm đoạt” chủ quyền hợp pháp của các nước khác trong khu vực Biển Đông, tạo ra “sự đã rồi”, đặt các nước này vào thế rất khó để giành lại. Ví dụ điển hình là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam hay bãi cạn Scarbrough của Philippines đã bị họ chiếm đoạt. Thế rồi, Trung Quốc lại dựa vào sự “chiếm đoạt” và “cưỡng chế” trên để lấn tới trong tham vọng giành quyền kiểm soát nguồn năng lượng ở Biển Đông. Theo cách hiểu đó, Trung Quốc đã và đang nắm giữ các lợi thế cơ bản sau.

Thứ nhất, lợi thế về địa lý tự nhiên và việc sớm ra tay thực hiện tham vọng về “chủ quyền”

Xem xét về mặt khách quan, Biển Đông nằm ở phía nam lục địa Trung Hoa, có đường tiếp giáp với đất liền Trung Quốc rất dài, khoảng 14.500km. Dọc theo đường bờ biển này, Trung Quốc có 34 cảng biển chính, hơn 2.000 cảng biển nhỏ, là một trong các quốc gia có cảng biển nhiều nhất thế giới. Đây rõ ràng là lợi thế rất lớn cho Trung Quốc thuận lợi khai thác “cửa ngõ” thông ra biển để triển khai các hoạt động thăm dò, khai thác và vận chuyển các nguồn tài nguyên tiềm năng dưới đáy biển nói chung trong đó có năng lượng như dầu mỏ, khí đốt tự nhiên ở Biển Đông nói riêng.

Về mặt chủ quan, bằng cách sớm thực hiện tham vọng “độc chiếm Biển Đông” trong nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc đã tạo ra thêm nhiều lợi thế hơn trong việc mở rộng quyền kiểm soát nguồn năng lượng ở Biển Đông, đồng thời gây ra bất lợi cho nhiều nước khác. Ngay từ năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Bắc Kinh đã chớp cơ hội cộng đồng quốc tế họp bàn phân chia lại chủ quyền, lãnh thổ các nước châu Á bị phát xít Nhật chiếm đóng để đưa ra tuyên bố đầu tiên về vấn đề này. Yêu sách đó được Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa đẩy lên cao hơn vào năm 1997, khi đòi “ôm” lấy cả vùng lãnh thổ Borneo của Malaysisa và tuyên bố rằng, “chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông là điều không thể đàm phán”. Song dù “lớn tiếng” như vậy, Bắc Kinh không hề có “bằng chứng hữu hiệu” về “chủ quyền” này. Phải đến ngày 07/5/2009, một ngày sau khi Malaysia và Việt Nam đệ trình Báo cáo chung đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía Nam Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (CLCS), Bắc Kinh mới “trưng” ra cái gọi là “chứng cứ lịch sử”: Họ gửi công hàm lên Liên hợp quốc phản đối Báo cáo chung của Malaysia và Việt Nam, trong đó đính kèm tấm bản đồ “đường chín khúc”, bao trùm hơn 80% diện tích Biển Đông, chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Song thực chất, đó là tấm bản đồ “đường mười một đoạn”, do chính quyền Tưởng Giới Thạch thời Cộng hòa Trung Hoa “phóng tác” năm 1947, không có tọa độ cụ thể nào cả, trong đó “hai đoạn” bao trùm Vịnh Bắc Bộ đã bị xóa bỏ vào năm 1953. “Chứng cứ lịch sử” này phi lý đến mức ngay cả một số học giả nghiên cứu có tiếng ở Trung Quốc cũng phải thừa nhận là “không thể chấp nhận được, vì đây là một cái đường vô lý do Trung Quốc tự vẽ ra”.

Không dừng lại ở đó, Bắc Kinh còn dùng khái niệm “lợi ích cốt lõi” thuộc chủ quyền quốc gia và quy thuộc Biển Đông nằm trong phạm vi khái niệm này, tương tự như các điểm nóng Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan mà tại đó, họ xác định sẽ không “thỏa hiệp”, “có thể sử dụng vũ lực nếu thấy cần thiết”.

Để thúc đẩy tham vọng của mình, Bắc Kinh còn quyết tâm biến Biển Đông thành “ao nhà” thông qua triển khai nhiều giải pháp hành động thực tế khác nhau, đó là: 1/ Luật hóa chủ quyền nhằm hướng lái dư luận trong nước và quốc tế. Năm 1996, ngay sau khi ký UNCLOS 1982, Trung Quốc lập tức đưa ra điều khoản bảo lưu “các quyền lịch sử” thuộc về “dân tộc Trung Hoa” trước các quy định của UNCLOS; đưa vấn đề ‘chủ quyền” ở Biển Đông vào sách giáo khoa nhằm đẩy mạnh tuyên truyền về “đường chín khúc”; ngày 21/6/2012, công bố thành lập cái gọi là “Thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm, có quyền hạn “quản lý” đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tiếp đó, Bắc Kinh đưa “đường chín khúc” vào mẫu hộ chiếu điện tử phổ thông hòng “luật hóa” chủ quyền ở Biển Đông (tháng 12/2012)…2/ Xâm lấn chủ quyền bằng hoạt động kinh tế biển. Dựa trên luận điểm “hoạt động kinh tế biển đến đâu thì chủ quyền xác lập đến đó” nhằm “làm chủ từng bước” trên thực tế, Trung Quốc chú trọng “đẩy” các tập đoàn dầu khí quốc gia “vươn vòi” ra Biển Đông. Điển hình: Ngày 23/6/2012, Tập đoàn dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) cho mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí có tổng diện tích lên đến 160.129 km2 nằm sâu trong thềm lục địa của Việt Nam; ngày 01/5/2014, CNOOC đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây ra sự phản ứng quyết liệt của Việt Nam, sự phản đối mạnh mẽ của dư luận khu vực và quốc tế; ngày 08/5/2023, đưa tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 (XYH-10) xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam… 3/ Phá vỡ nguyên trạng bằng hành động vũ lực nhằm “thu hồi chủ quyền” theo phương thức “tằm ăn dâu”. Năm 1956, Trung Quốc đánh chiếm một phần và đến năm 1974, chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1988, họ lại đưa quân đánh chiếm đảo Gạc Ma trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và đến tháng 02/1995, chiếm đóng đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa rồi duy trì hiện diện từ đó đến nay. Đầu năm 2013, Bắc Kinh một lần nữa “gây rối” ở Trường Sa với các hành động “chiếm đóng thực tế” trái phép bãi cạn Scarborough mà Philippines tuyên bố chủ quyền và làm thay đổi hiện trạng tranh chấp. 4/ Tăng cường sức mạnh hải quân để “răn đe quân sự”, tạo sức ép cho các yêu sách chủ quyền theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trên cơ sở tiềm lực kinh tế tăng nhanh liên tục, Bắc Kinh đã tập trung đầu tư xây dựng Hạm đội Nam Hải từ vị trí yếu nhất trở thành mạnh nhất trong số hạm đội của Hải quân Trung Quốc, được trang bị các tàu chiến lớn nhất, hiện đại nhất, trong đó bao gồm nhiều tàu ngầm hạt nhân, tàu khu trục. Cùng với đó là liên tục mở rộng, nâng cấp căn cứ hải quân Tam Á trên đảo Hải Nam đủ sức tiếp nhận nhiều tàu ngầm hạt nhân, kể cả tàu sân bay. Tất cả đều nhằm hướng tới mục tiêu kiểm soát hoàn toàn Biển Đông bằng sức mạnh vũ trang.

Như vậy, dựa vào lợi thế về địa lý tự nhiên và sự “ủ mưu” về tham vọng lãnh thổ rồi hành động từ rất sớm mà đến nay, có thể nói Bắc Kinh đã đạt được một số thành quả địa kinh tế đối với Biển Đông. Bao gồm: 1/ Tạo ra một vùng biển tranh chấp rộng lớn, gây khó khăn cho các quốc gia khác tại khu vực trong việc thăm dò, khai thác tài nguyên năng lượng ngay chính trên vùng biển của mình xét theo luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982; 2/ Tạo ra một môi trường răn đe đối với xung quanh, khiến các nước có tuyên bố chủ quyền khác ngần ngại trong việc triển khai các hoạt động năng lượng trong vùng biển của mình, nhưng Bắc Kinh lại tuyên bố là “chủ quyền” của họ; 3/ Dựa trên tuyên bố “chủ quyền” của mình, Trung Quốc ngang nhiên tiến hành các hoạt động thăm dò và khai thác năng lượng đơn phương trong các khu vực mà các quốc gia khác cũng tuyên bố chủ quyền, từ đó tiếp cận các nguồn tài nguyên. 4/ Gây khó khăn cho việc thiết lập các cơ chế hợp tác đa phương trong khu vực về khai thác tài nguyên năng lượng. Các nước trong và ngoài khu vực nếu tham gia vào các thỏa thuận năng lượng với Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp với nước khác thì “mắc mưu” thừa nhận chủ quyền theo “đường chín khúc” của Trung Quốc. Còn tham gia thỏa thuận năng lượng với nước khác không có Trung Quốc lại phải chịu sức ép từ Bắc Kinh, thậm chí phải rời đi như Mỹ, Tây Ban Nha…đã từng phải rút các dự án hàng tỷ USD ra khỏi Việt Nam, Philippines…; 5/ Chủ động và tăng cường tiến hành các hoạt động nghiên cứu, thăm dò các nguồn năng lượng mới như băng cháy, đất hiếm trong các khu vực mà họ kiểm soát hoặc tuyên bố “chủ quyền”, tạo ra tiềm năng và lợi thế lâu dài.

 Không phải ngẫu nhiên, ông Bill Hayton – chuyên gia Viện nghiên cứu quốc tế Hoàng gia Anh, tác giả cuốn sách “Biển Đông: Cuộc đấu giành quyền lực ở châu Á” đã nhận xét: “Trung Quốc đã thiết lập quyền phủ quyết trên thực tế đối với các hoạt động mới nhằm khai thác dầu mỏ trong đường chín khúc”.

Thứ hai, lợi thế về sức mạnh quân sự

Hiện nay, cùng với các căn cứ quân sự hiện đại trên đất liền hướng ra Biển Đông, nhất là các căn cứ ở đảo Hải Nam, Trung Quốc còn đang kiểm soát một số lượng lớn các đảo, đá ở Biển Đông, bao gồm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Theo đó, ngoài các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã xây dựng, nhất là tại các đảo Quang Hòa, Phú Lâm, thì trên quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã cải tạo, biến 7 bãi cạn nửa chìm nửa nổi mà họ xâm chiếm trái phép của Việt Nam thành các căn cứ quân sự quan trọng, đưa các loại vũ khí, khí tài và các phương tiện quân sự hiện đại bố trí trên đó. Đặc biệt, không chỉ duy trì sức mạnh quân sự trên mặt nước hơn hẳn các nước trong khu vực, Trung Quốc còn chiếm thế “thượng phong” về năng lực kiểm soát dưới mặt nước ở Biển Đông. Điều này không chỉ có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng – an ninh, mà còn tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho Bắc Kinh giành quyền kiểm soát các nguồn năng lượng dưới đáy Biển Đông.  

Đối với các bãi cạn nửa nổi nửa chìm đang có xu thế nổi, như An Nhơn, Đá Ba Đầu, Én Đất và Tri Lễ còn chưa chiếm được, Trung Quốc đã sử dụng lực lượng dân quân biển để “kiểm soát” trên thực tế, gây sức ép với Philippines và Việt Nam. Trong tương lai, Bắc Kinh rất có thể sẽ “chiếm” nốt những thực thể này, tạo thành các điểm đóng quân mới nhằm mở rộng việc kiểm soát, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên trái phép dưới đáy Biển Đông.

Thứ ba, lợi thế về tiềm lực kinh tế và khoa học công nghệ

Tuy chưa bằng Mỹ, nhưng có thể nói Trung Quốc là nước sở hữu nhiều lợi thế kinh tế và công nghệ trong việc khai thác các nguồn năng lượng dưới đáy biển nói chung, ở Biển Đông nói riêng, đặc biệt là dầu khí, băng cháy, gần đây là uranium từ nước biển, tương lai là đất hiếm.

Về kinh tế, có thể kể đến mấy lợi thế sau: 1/ Trung Quốc có nhu cầu năng lượng rất khổng lồ, đặc biệt là trong bối cảnh mở rộng hạ tầng năng lượng hạt nhân và công nghiệp sản xuất. Ví dụ, năm 2024, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 13.000 tấn uranium tự nhiên, trong khi sản lượng nội địa chỉ đạt 1.700 tấn. Nhu cầu uranium dự kiến vượt 40.000 tấn vào năm 2040. Nhu cầu khổng lồ trên tuy chỉ là yếu tố gián tiếp, nhưng chính đây lại là động lực trực tiếp mạnh mẽ để Trung Quốc mở rộng khai thác các nguồn năng lượng mới như băng cháy, uranium từ nước biển. 2/ Nguồn lực tài chính dồi dào và khả năng đầu tư lớn vào các dự án thăm dò, khai thác năng lượng ở Biển Đông. Các tập đoàn nhà nước, như Tập đoàn Hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC), CNOOC và các liên minh nghiên cứu, như Liên minh Đổi mới công nghệ khai thác uranium từ nước biển chẳng hạn, là những đơn vị nhận được sự hỗ trợ rất mạnh mẽ cả về nguồn vốn và chính sách từ chính phủ. Năm 2019, Trung Quốc có kế hoạch xây dựng 20 trạm hạt nhân nổi có thể di chuyển trên Biển Đông để cung cấp năng lượng cho các giàn khoan đẩy nhanh việc khai thác dầu, khí đốt tự nhiên cũng như băng cháy dưới đáy biển. Do có nguồn lực kinh tế dồi dào nên hiện nay, Trung Quốc là nước có nhiều phương tiện, giàn khoan đang hoạt động hoặc đang được sản xuất nhằm phục vụ cho mục đích thăm dò và khai thác năng lượng ở Biển Đông, như giàn khoan Hải Dương 981, tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8, tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10…

Về công nghệ, Trung Quốc có mấy lợi thế sau: 1/ Đã đạt những thành tựu đáng kể trong khai thác băng cháy. Năm 2017, Trung Quốc lập kỷ lục thế giới khi khai thác hơn 300.000m³ băng cháy trong 60 ngày tại khu vực gần Hong Kong, ở độ sâu 1.266m. Công nghệ mới giúp ngăn cát xâm nhập dây chuyền sản xuất, khắc phục vấn đề mà các quốc gia như Nhật Bản gặp phải. 2/ Đạt đột phá trong khai thác uranium từ đại dương với hiệu suất gấp 40 lần so với phương pháp truyền thống. Công nghệ này tận dụng trữ lượng uranium khổng lồ trong nước biển (khoảng 4,5 tỷ tấn, gấp 1.000 lần trên đất liền), hỗ trợ phát triển điện hạt nhân với chi phí thấp và ít phát thải khí CO₂. 3/ Công nghệ 5G đã được áp dụng tại gần 2.000 nhà máy ở Trung Quốc, hỗ trợ quản lý và tối ưu hóa các hoạt động khai thác năng lượng, từ dầu khí đến năng lượng tái tạo. Điều này giúp tăng hiệu quả và giảm chi phí vận hành. 4/ Đã thành lập các liên minh nghiên cứu với sự tham gia của nhiều viện nghiên cứu hàng đầu như Liên minh Đổi mới công nghệ khai thác uranium từ nước biển (thành lập năm 2019) đặt mục tiêu xây dựng nhà máy quy mô lớn vào năm 2035 và sản xuất công nghiệp vào năm 2050. 5/ Dựa vào kinh nghiệm lâu năm trong thăm dò và khai thác dầu khí ở Biển Đông, kết hợp với các dự án hợp tác quốc tế, giúp Trung Quốc tích lũy nhiều công nghệ và kỹ năng cần thiết để khai thác ở vùng biển sâu. Ngày 17/11/2024, Trung Quốc chính thức đưa tàu khoan biển sâu đầu tiên mang tênMeng Xiang vào hoạt động. Đây là tàu khoan biển duy nhất trên thế giới có khả năng khoan ở độ sâu 11.000m, được thiết kế đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn trước siêu bão cấp 16 và hoạt động bình thường trong điều kiện biển động, có khả năng thực hiện các sứ mệnh toàn cầu ở mọi vùng biển.

Như vậy, so với các nước trong khu vực, Trung Quốc là quốc gia đang có lợi thế hơn cả trong “cuộc chiến” giành quyền kiểm soát nguồn năng lượng ở Biển Đông. Lợi thế này chắc chắn sẽ được Trung Quốc củng cố và phát triển hơn trong tương lai. Sự kết hợp giữa vị trí địa lý chiến lược, tham vọng chủ quyền, sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng tăng, sẽ đưaTrung Quốc tiến gần hơn đến mục tiêu kiểm soát hiệu quả khu vực này và các nguồn tài nguyên quý giá của nó. Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế, nước này cũng gặp phải không ít khó khăn, như bối cảnh địa chính trị toàn cầu chi phối; sự phản đối từ các nước khác có chủ quyền, lợi ích bị xâm phạm, chèn ép; sự can dự, cản trở, gây sức ép của các đối thủ cạnh tranh; các yếu tố bất ổn tiềm ẩn trong quá trình khai thác, nhất là đối với nguồn tài nguyên băng cháy, uranium từ nước biển, đất hiếm… sẽ tạo ra những thách thức đáng kể cho tham vọng của Trung Quốc. Và trên tất cả, những gì không phải của mình mà cứ cố tình chiếm lấy, thì rồi cũng “xôi hỏng bỏng không” mà thôi.

]]>
Malaysia đối phó với TQ trong vấn đề năng lượng dầu khí ở Biển Đông                 https://biendong.net/2025/04/23/malaysia-doi-pho-voi-tq-trong-van-de-nang-luong-dau-khi-o-bien-dong/ Wed, 23 Apr 2025 02:11:00 +0000 https://biendong.net/?p=148506 Malaysia là quốc gia có nguồn tài nguyên dầu khí phong phú ở Biển Đông với các lô dầu khí có trữ lượng lớn đều nằm dọc theo thềm lục địa, nhất là ở cụm bãi cạn Luconia và ngoài khơi bang Sarawak.

Dựa vào nguồn tài nguyên này và thông qua việc triển khai hơn 40 giàn khoan hoạt động chủ yếu tại Biển Đông, Malaysia đã trở thành nhà sản xuất dầu khí lớn thứ hai tại khu vực Đông Nam Á. Và chính ngành dầu khí đã đóng góp từ 25% đến 40% kim ngạch xuất khẩu và hơn 25% ngân sách cho chính phủ Malaysia.

Những năm gần đây, hoạt động khai thác năng lượng dầu khí của nước này tại Biển Đông thường phải đối đầu với những tranh cãi và căng thẳng từ phía Trung Quốc do vấn đề tranh chấp chủ quyền trên vùng biển này, thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế và khu vực. Song, bằng sự khôn khéo của mình, Kuala Lumpur vẫn bảo vệ, giữ vững được chủ quyền quốc gia, vẫn tiến hành khai thác được tài nguyên ở Biển Đông, trong khi quan hệ với Bắc Kinh vẫn không quá căng thẳng. Phải chăng, đây cũng là một phương cách góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Tổng quan về chính sách và hoạt động khai thác năng lượng dầu khí của Malaysia ở Biển Đông

Thứ nhất, chính sách và hoạt động khai thác năng lượng dầu khí của Malaysia ở Biển Đông là một vấn đề bao gồm các yếu tố phức tạp cả về địa chính trị, kinh tế, pháp lý, ngoại giao, trong đó có bốn yếu tố chính chi phối, định hình nên chính sách này gồm: 1/ Về quyền chủ quyền và lợi ích kinh tế, Malaysia luôn kiên quyết khẳng định một cách nhất quán và rõ ràng về việc bảo vệ quyền chủ quyền đối với các vùng biển và tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình ở Biển Đông, bao gồm cả các mỏ dầu khí. Chính phủ Malaysia quyết tâm bảo vệ bằng được nguồn lợi ích thu được từ dầu khí vì đây là nguồn thu nhập quan trọng đối với nền kinh tế Malaysia. 2/ Về yếu tố tranh chấp trên Biển Đông, Malaysia là một trong những quốc gia có tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông, trong đó có tranh chấp với Trung Quốc – nước có tham vọng chủ quyền gần hết Biển Đông, nhất là ở những khu vực có giàu tài nguyên, nên Kuala Lumpur cho rằng cần phải có chính sách phù hợp, tránh gây xung đột, gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia – dân tộc. 3/ Về luật pháp quốc tế, Malaysia ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Malaysia cũng đã nhiều lần khẳng định, phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) là phán quyết cuối cùng và có tính ràng buộc pháp lý. 4/ Về nhu cầu thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông, là một quốc gia nằm trên Biển Đông, sự thịnh vượng về kinh tế của Malaysia phụ thuộc vào dòng chảy thương mại tự do trên biển thông qua eo biển Malacca và Biển Đông.

Thứ hai, về chủ trương chung và chính sách năng lượng dầu khí quốc gia, Malaysia chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại trung lập và không liên kết, tìm cách duy trì quan hệ tốt đẹp với tất cả các quốc gia trong khu vực, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Những năm gần đây, Chính phủ Malaysia đã và đang tập trung vào các chính sách năng lượng dầu khí với các nội dung: 1/ Xem xét và điều chỉnh các chính sách liên quan đến ngành thiết bị và dịch vụ dầu khí (OGSE), để ngành này có thể vươn ra toàn cầu, phát triển bền vững, linh hoạt và khác biệt hơn. Việc điều chỉnh này nhằm thích ứng với xu hướng các nước trên thế giới giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. 2/ Đầu tư mạnh vào các hoạt động lọc dầu để đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm dầu mỏ bằng nguồn cung trong nước. Tính đến năm 2022, ngành dầu khí Malaysia có công suất lọc dầu khoảng 955.000 thùng/ngày tại 7 cơ sở lọc dầu trải rộng trên khắp đất nước. Tuy nhiên, năng lực này đang giảm dần. 3/ Tập trung vào việc thúc đẩy sản xuất dầu khí trong nước và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Do nhu cầu về khí đốt tự nhiên ngày càng tăng trong khi khai thác trong nước không còn đủ để đáp ứng, nên Malaysia đang nỗ lực thúc đẩy đầu tư vào lĩnh vực dầu khí, đặc biệt là khí đốt.

Thứ ba, về hoạt động khai thác năng lượng dầu khí ở Biển Đông, những năm qua, Malaysia đã triển khai nhiều hoạt động dầu khí trên Biển Đông theo các quan điểm và phương hướng sau: 1/ Đối với chủ quyền và quyền khai thác, Malaysia kiên quyết bảo vệ chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của mình ở Biển Đông. Khẳng định, sẽ tiếp tục các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng biển của mình, bất chấp sự phản đối từ các bên tranh chấp khác. Đối với Trung Quốc, do có tranh chấp chủ quyền giữa hai nước tại một số khu vực giàu tài nguyên ở Biển Đông, nên Chính phủ Malaysia tìm cách cân bằng giữa việc bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc. 2/ Về hợp tác với bên ngoài, Malaysia chủ trương tìm kiếm sự hợp tác với các công ty dầu khí quốc tế để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông. Chính phủ Malaysia cũng sẵn sàng đàm phán với các bên liên quan để giải quyết các tranh chấp, bất đồng một cách hòa bình và hợp tác cùng phát triển. 3/ Về phát triển ngành công nghiệp dầu khí quốc gia, Chính phủ xác định Petronas – Công ty dầu khí quốc gia của Malaysia, là công ty đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện chính sách khai thác dầu khí ở Biển Đông. Chính phủ Malaysia sẽ đầu tư vào việc phát triển cơ sở hạ tầng và công nghệ để hỗ trợ cho hoạt động khai thác dầu khí. 4/ Về đa dạng hóa các nguồn năng lượng, những năm qua, Malaysia đã có những bước chuyển mình trong việc đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo, hướng tới các nguồn năng lượng thay thế khác, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng dầu khí. 5/ Đối với các vấn đề đang có tranh chấp, chủ trương của Malaysia là tiếp tục tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng biển của mình; sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc về khai thác nhiên liệu của nước này.

Thái độ và hành xử của Trung Quốc đối với hoạt động khai thác dầu khí của Malaysia ở Biển Đông

Hiện nay, Malaysia có một số mỏ dầu khí có trữ lượng lớn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của mình, nhưng lại bị Trung Quốc tuyên bố là chủ quyền của họ dựa trên “đường đứt khúc” phi lý. Đó là cụm bãi cạn Luconia, nằm ngoài khơi bang Sarawak, có trữ lượng dầu khí đáng kể; là mỏ Kasawari nằm trong lô SK316, ngoài khơi Sarawak, có trữ lượng ước tính khoảng 3 nghìn tỷ mét khối; mỏ Timi và mỏ Jerun, nằm ngoài khơi Sarawak.

Những năm gần đây, Trung Quốc tăng cường thực thi yêu sách phi lý ở Biển Đông trên mọi phương diện, từ chính trị – ngoại giao đến quốc phòng – an ninh, tuyên truyền, pháp lý… Trên thực địa, tàu thuyền Trung Quốc thường xuyên xâm nhập trái phép vào vùng biển thuộc chủ quyền của các nước ven Biển Đông như Philippines, Malaysia, Indonesia và Việt Nam, liên tục quấy nhiễu và cản trở hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của các nước này. Riêng đối với Malaysia, theo số liệu của tổ chức “Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á”  (AMTI) cho biết, từ năm 2019 đến nay, Bắc Kinh liên tục cho các tàu, từ tàu hải cảnh, hải quân đến tàu cá, đi vào các vùng biển thuộc chủ quyền của Malaysia để quấy nhiễu hoạt động dầu khí trên Biển Đông của nước này.

Ngoài ra, Trung Quốc còn kết hợp với các biện pháp khác như, đưa ra các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông dưới các “chiêu trò” khác nhau dựa trên yêu sách “đường đứt khúc”; gửi công hàm qua kênh ngoại giao yêu cầu Malaysia dừng các hoạt động; tăng cường hiện diện và gây sức ép về quân sự; sử dụng các hoạt động trong “chiến thuật vùng xám” để cản trở hoạt động của Malaysia.

Lựa chọn phản ứng và đối phó của Malaysia với Trung Quốc

Trước các hành động của Trung Quốc, Malaysia lựa chọn phương thức  “ngoại giao thầm lặng” để đối phó, nhưng “kiên quyết và nhất quán” về nguyên tắc trong bảo vệ chủ quyền và hoạt động năng lượng dầu khí ở Biển Đông. Theo đó, Kuala Lumpur hạn chế tối đa việc công khai các hành vi gây hấn của Bắc Kinh, cũng như các phản ứng trên thực địa và phản đối ngoại giao; chỉ chủ động công khai phản đối những sự vụ trên biển mà chính phủ nước này cho là “nghiêm trọng”, chưa có tiền lệ. Trong các phát biểu công khai trên các diễn đàn, Malaysia luôn khẳng định sẽ ưu tiên giải quyết vấn đề với Trung Quốc qua các kênh song phương. Đặc biệt, Malaysia không bao giờ phát biểu tán đồng với Mỹ hay có bất cứ động thái nào có thể hiểu là “chọn bên”, ngay cả khi các tuyên bố, hành động của Mỹ có vẻ như thể hiện ủng hộ lập trường của Malaysia. Bên cạnh đó, khi chỉ trích các động thái của tàu Trung Quốc, Malaysia thường nhắc đến tàu chiến nói chung, với hàm ý phản đối cả sự có mặt của tàu chiến Mỹ trong các vùng biển của Malaysia. Theo Kuala Lumpur, sự có mặt của tàu chiến của một bên nào đó ở vùng biển của họ, sẽ kéo theo tàu chiến của bên khác đến, sẽ làm gia tăng căng thẳng. Chính vì thế, Malaysia không ủng hộ các chiến dịch “Tự do hàng hải” (FONOPS) của Mỹ. Ngoài cách tiếp cận song phương trên, Malaysia cũng tranh thủ diễn đàn ASEAN để xử lý vấn đề Biển Đông một cách hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế.

Mặc dù vậy, những khi buộc phải công khai phản đối các hành vi xâm phạm của Trung Quốc, các quan chức Malaysia luôn thể hiện lập trường, nguyên tắc nhất quán về việc kiên quyết bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia hợp pháp trên biển; coi việc duy trì các hoạt động dầu khí là “giới hạn đỏ” của mình trên Biển Đông; Chính phủ Malaysia cũng luôn thể hiện quan điểm rõ ràng trong tất cả các tuyên bố là, sẽ tiếp tục tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng biển của mình, kể cả tại những khu vực mà Trung Quốc có yêu sách.

Tuy nhiên, phương thức “ngoại giao thầm lặng” không hẳn là một giải pháp được nội bộ Malaysia đồng thuận hoàn toàn. Trong khi Bộ Ngoại giao kiên trì và nhất quán với cách tiếp cận này, thì Quân đội Malaysia, đặc biệt là Hải quân Hoàng gia Malaysia, lại muốn chính phủ có cách tiếp cận kiên quyết, có những tuyên bố mạnh mẽ hơn trong bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển. Bên cạnh đó, các bang ở Đông Malaysia như Sabah và Sarawak, nơi có các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển bị ảnh hưởng trực tiếp từ các động thái của Trung Quốc, cũng mong muốn chính quyền có những hành động mạnh mẽ hơn nhằm bảo vệ các hoạt động này. Nhiều học giả Malaysia cho rằng, phương cách “ngoại giao thầm lặng” của Malaysia có thể khiến quốc gia này bị dư luận hiểu là Kuala Lumpur đang “ủng hộ Trung Quốc”, cũng như làm cho nước này mất đi những sự lựa chọn trong việc đối phó với các động thái làm gia tăng căng thẳng của Trung Quốc. Trên thực tế, cách thức phản ứng của Malaysia đối với sự quấy nhiễu của Trung Quốc đã đạt được một số hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, hiệu quả này chỉ mang tính tương đối do sự chi phối từ các yếu tố địa lý, cũng như các diễn biến trên thực địa. Theo đó: (i) Thực tế cho thấy, mặc dù phản đối Malaysia, nhưng từ trước đến nay, Trung Quốc chưa có hành động “cứng rắn” nào nhằm ngăn chặn các hoạt động dầu khí của Malaysia trên Biển Đông như đã từng làm với Việt Nam, Philippines. Bắc Kinh cũng chưa có động thái cắt cáp tàu thăm dò hay ngang nhiên hạ đặt giàn khoan như đã làm trong vùng biển của Việt Nam, hay ngăn chặn tàu Malaysia tiếp cận Luconia như đã làm với tàu Philippines tại khu vực Scarborough, khiến cho Malaysia phải “chùn bước”. (ii) Mặc dù trong nội bộ Trung Quốc có ý kiến cho rằng, trong số các bên tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông thì Malaysia là bên “cướp” được nhiều tài nguyên dầu khí của Trung Quốc nhất, nhưng số đông khác lại cho rằng, ở một mức độ nào đó, Trung Quốc “hài lòng” với cách tiếp cận “ngoại giao thầm lặng” của Malaysia. Thậm chí, tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc còn “khuyên” Malaysia không nên từ bỏ cách tiếp cận này. (iii) Tuy Bắc Kinh nhiều lần gây sức ép để Malaysia “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nhưng sức ép này chưa đến mức buộc Kuala Lumpur phải “cúi đầu” chấp nhận. Đến nay, Malaysia vẫn chưa có bất cứ động thái hoặc tuyên bố nào thể hiện sẽ chấp nhận hoặc xem xét cho Trung Quốc cùng khai thác trong vùng biển của mình. Điều này không những cho thấy sức ép của Trung Quốc chưa lớn, mà còn thể hiện lập trường rất kiên quyết của Malaysia là không công nhận yêu sách “đường đứt khúc” phi lý của Bắc Kinh. (iv) Malaysia và Indonesia là hai nước nằm ở cực Nam của Biển Đông, cách xa Trung Quốc. Vị trí địa lý này thuận lợi hơn so với Philippines và Việt Nam trong quản lý xung đột với Trung Quốc trên Biển Đông. Hơn nữa, diện tích chồng lấn giữa vùng biển của Malaysia với yêu sách “đường đứt khúc” của Trung Quốc cũng nhỏ hơn so với Philippines và Việt Nam nên mức độ xung đột ít hơn. Về mặt quân sự, Malaysia cũng lo ngại về việc Trung Quốc xây dựng các căn cứ quân sự ở Trường Sa. Tuy nhiên, do có ưu thế về vị trí địa lý, Malaysia cũng phần nào “tự tin” trong đối phó với Trung Quốc bằng sức mạnh của lực lượng không quân và hải quân nếu xung đột xảy ra. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Bắc Kinh phải cân nhắc khi gây sức ép bằng quân sự với Malaysia trên Biển Đông.

]]>
Những tranh cãi trong nội bộ Malaysia về vấn đề năng lượng trong quan hệ với TQ https://biendong.net/2023/07/02/nhung-tranh-cai-trong-noi-bo-malaysia-ve-van-de-nang-luong-trong-quan-he-voi-tq/ Sun, 02 Jul 2023 02:24:45 +0000 https://biendong.net/?p=109861 Thời gian gần đây, vấn đề năng lượng ở Biển Đông đang nổi lên thành vấn đề nóng trong quan hệ giữa Malaysia – Trung Quốc. Khi Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim có chuyến thăm chính thức Trung Quốc đầu tiên đầu tháng 4 vừa qua, giới chức Bắc Kinh đã đặt câu hỏi về hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước này ở Biển  Đông.

Theo giới phân tích, những trao đổi trong chuyến công du Trung Quốc của Thủ tướng Malaysia cho thấy Bắc Kinh không ngừng gia tăng áp lực buộc Kuala Lumpur dừng khai thác các nguồn năng lượng tại khu vực mà Trung Quốc cho rằng “có yêu sách”, bất chấp mong muốn làm sâu sắc thêm mối quan hệ Malaysia-Trung Quốc của nhà lãnh đạo Đông Nam Á.

Nhà nghiên cứu Collin Koh, làm việc tại Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng có trụ sở ở Singapore, nhận định: “Với thực tế đây là chuyến thăm đầu tiên của Anwar tới Bắc Kinh trên cương vị thủ tướng mới, Trung Quốc có thể đã tìm thấy cơ hội để cố gắng thuyết phục Malaysia ngừng hoạt động năng lượng ở những khu vực liên quan, đặc biệt là ngoài khơi Sarawak”. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Malaysia trong 14 năm liên tiếp, với kim ngạch thương mại song phương năm 2022  đạt 203,6 tỷ USD. Theo đánh giá của ông Collin Koh, Bắc Kinh nhận thức được mối quan hệ kinh tế sâu sắc của Malaysia với Trung Quốc và đòn bẩy kinh tế mà nước này có thể sử dụng để gây sức ép với Kuala Lumpur về vấn đề khai thác năng lượng ở Biển Đông.

Mặc dù, địa điểm cụ thể mà phía Trung Quốc đã đề cập trong chuyến thăm của Thủ tướng Anwar không được tiết lộ, song nhiều người hiểu rằng vấn đề đang vướng vào tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông chính là mỏ khí đốt Kasawari nằm cách bờ biển bang Sarawak trên đảo Borneo khoảng 200 km. Trong những năm gần đây, tàu thuyền và máy bay Trung Quốc đã nhiều lần đi vào vùng biển lân cận mỏ khí đốt này, những vụ việc vấp phải sự phản đối của Kuala Lumpur. Năm 2021, Ngoại trưởng Malaysia khi đó là Saifuddin Abdullah cho rằng sẽ có thêm nhiều tàu thuyền Trung Quốc đi vào vùng biển của Malaysia “chừng nào” Petronas còn phát triển các dự án tại mỏ khí đốt được phát hiện vào năm 2011, ước tính chứa tới 3.000 tỷ feet khối tài nguyên khí đốt có thể thu hồi.

Ông Greg Polling, Giám đốc chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á có trụ sở tại Washington từng nhận định: “Kasawari chắc chắn là nơi phải chịu nhiều áp lực (từ tàu Trung Quốc) như mọi mỏ khí đốt khác ở Biển Đông… Chúng ta đã nhiều lần chứng kiến Hải cảnh Trung Quốc cố tình quấy rối các tàu tiếp tế ngoài khơi làm nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động cho các giàn khoan và tàu khoan”. Theo ông, các tàu Trung Quốc cố ý mạo hiểm va chạm để gây áp lực buộc các công ty phải ngừng nhận hợp đồng bảo dưỡng hạ tầng trong khu vực. Hải cảnh Trung Quốc đã nhiều lần làm gián đoạn hoạt động tại Kasawari của Malaysia, mỏ khí đốt Nam Côn Sơn của Việt Nam và mỏ khí đốt Tuna (Cá ngừ) của Indonesia vì đây là những dự án lớn duy nhất phát triển bên trong “Đường 9 đoạn”.

Bắc Kinh một mặt luôn tìm cách thúc đẩy yêu sách bành trướng ở Biển Đông, mặt khác tuyên bố họ mong muốn hợp tác với Malaysia để giải quyết những bất đồng thông qua đối thoại và tham vấn. Theo Nhà nghiên cứu Collin Koh, có vẻ như Bắc Kinh và Kuala Lumpur cũng đã nỗ lực kiềm chế bất chấp nhiều khác biệt. Ông nhận định: “Hai bên đều chưa có hành động quyết liệt nào ngoài việc bố trí lực lượng hàng hải, trong khi hoạt động ngoại giao được tiến hành âm thầm qua các kênh phụ, tránh khỏi tầm mắt của công chúng để hạn chế gây thêm căng thẳng… Trung Quốc rất muốn một chính phủ Malaysia thân thiện dưới thời Anwar, và có vẻ như cả 2 nước sẽ tiếp tục nhấn mạnh cái gọi là ‘bức tranh tổng thể’ về mối quan hệ toàn diện, bao gồm cả những lĩnh vực 2 bên có thể hòa hợp, chứ không để tranh chấp Biển Đông chi phối”.

Tiềm năng của mỏ Kasawari, nơi Giám đốc điều hành Petronas Tengku Muhammad Taufik Tengku Aziz tuyên bố là đủ lớn để đảm bảo công ty này tiếp tục là 1 trong 5 nhà xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng hàng đầu thế giới, chứng tỏ các rủi ro và nguy cơ ở Biển Đông đã trở nên lớn hơn như thế nào. Theo Cơ quan Phát triển Đầu tư Malaysia, ngành dầu khí hiện là là trụ cột chính của nền kinh tế nước này, chiếm khoảng 20% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Giáo sư kinh tế Yeah Kim Leng, làm việc tại Đại học Sunway Malaysia, thành viên ủy ban cố vấn cho Thủ tướng Anwar, cho biết mỏ khí Kasawari ước tính có trữ lượng khí thu hồi khoảng 3.000 tỷ feet khối. Ông nói: “Mỏ khí đốt dự kiến chính thức được đưa vào khai thác trong năm nay, vì thế đây là tài sản trọng yếu để duy trì thu nhập từ xuất khẩu dầu khí của đất nước và đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước, cả trực tiếp và gián tiếp, thông qua nhập khẩu”.

 Bất chấp việc Trung Quốc đã cam kết đầu tư 170 tỷ RM vào Malaysia trong chuyến thăm của Thủ tướng Anwar Ibrahim, việc ông Anwar tỏ ý Malaysia “sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc” về những lo ngại của họ đối với các hoạt động năng lượng do Tập đoàn dầu khí quốc gia Petronas triển khai ở Biển Đông đã khiến nội bộ Malaysia nổi lên những tranh cãi xung quanh vấn đề khai thác năng lượng của Malaysia ở Biển Đông. Các đối thủ chính trị chỉ trích chính quyền của ông Anwar Ibrahim khuất phục trước Trung Quốc về các yêu sách tranh chấp ở Biển Đông. Hôm 6/4, Chủ tịch phe đối lập PN Muhyiddin Yassin, cựu Thủ tướng Malaysia đã chỉ trích ông Anwar vì những nhận xét “bất cẩn” về Biển Đông; cho rằng tuyên bố của ông Anwar về việc Malaysia sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc có thể đe dọa chủ quyền quốc gia.

Giới chuyên gia Malaysia đã có những cuộc tranh luận xung quanh việc nên hành xử thế nào với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông và các nhà phân tích đã có sự chia rẽ về việc liệu Malaysia nên áp dụng cách tiếp cận cứng rắn hay ôn hòa, tránh đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông. Chúng ta cùng đi phân tích 2 luồng quan điểm khác biệt này.

Thứ nhất, đại diện cho phái có quan điểm diều hâu, Nhà phân tích chiến lược và an ninh của Đại học Malaya (Malaysa) Collins Chong là người ủng hộ lập trường cứng rắn, phản đối việc đàm phán với Trung Quốc về Biển Đông. Theo ông Chong, Malaysia không nên chọn con đường đàm phán mà thay vào đó nên kiên định với các quyền được đảm bảo theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) để tiếp tục thăm dò dầu khí và các sinh vật biển khác. Ông cho rằng: “Bằng cách đồng ý đàm phán với Trung Quốc, điều đó sẽ khiến Malaysia trông yếu thế hơn”.

Với quan điểm cứng rắn, Nhà phân tích Chong cho rằng Malaysia nên chơi lá bài an ninh Mỹ như Tổng thống Phliippines Marcos đang làm để đối phó với Trung Quốc. Ông Chong gợi ý rằng là cường quốc nhỏ, Malaysia phải tăng cường lợi thế thương lượng của mình đối với Trung Quốc, đồng thời lý giải: “Điều này có nghĩa là tái cấu trúc các định hướng kinh tế nhằm giảm sự phụ thuộc ngắn hạn vào Bắc Kinh và liên kết với phương Tây”.

Ông Chong cho phân tích sự thay đổi như vậy sẽ bổ trợ cho động thái của Philippines, quốc gia gần đây đã ký thỏa thuận cho phép Mỹ tiếp cận thêm 4 căn cứ quân sự ở nước này, như một đối trọng với Trung Quốc ở Biển Đông. Ông Chong cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, Bắc Kinh sẽ phải “ve vãn” Kuala Lumpur để không ngả theo Washington bởi một khi Malaysia dựa vào sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông sẽ là điều “hủy hoại tham vọng to lớn” của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo Nhà phân tích Collins Chong, khi ngày càng bị dồn vào chân tường bởi sự hiện diện mới của Mỹ tại Philippines, gia tăng các đề nghị với Việt Nam và mối quan hệ quân sự mạnh mẽ hiện có với Thái Lan và Singapore, Malaysia vẫn là một nhân tố chủ chốt cần được Bắc Kinh bảo vệ bằng mọi giá để tránh bị Mỹ bao vây. Ông Chong chỉ ra rằng khả năng Malaysia rơi vào vòng tay Mỹ là một kịch bản ác mộng đối với Trung Quốc, do vậy Kuala Lumpur phải khai thác điều này, chơi “lá bài Mỹ” để có thể củng cố vai trò của Malaysia trong bất kỳ cuộc đàm phán nào với Trung Quốc về các khu vực tranh chấp.

Thứ hai, những người có quan điểm ôn hòa ủng hộ cách làm của chính quyền Thủ tướng Anwar trong việc đối phó với Trung Quốc. Luồng quan điểm này cho rằng Trung Quốc là đối tác thương mại số một của Malaysia, do đó việc tham gia liên minh chống Trung Quốc do Mỹ dẫn đầu sẽ giống như “tự sát” kinh tế. Nếu Anwar làm điều đó, Malaysia có thể sẽ nói lời tạm biệt với cam kết đầu tư 170 tỷ RM từ Trung Quốc. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng Malaysia nên học hỏi từ “sai lầm chiến lược” của Úc khi đối đầu với Trung Quốc dưới thời chính quyền Thủ tướng Scott Morrison. Điều này dẫn đến việc Trung Quốc đưa ra các biện pháp trả đũa làm tê liệt xuất khẩu từ Úc sang Trung Quốc, ảnh hưởng nặng đến nền kinh tế Úc.

Ủng hộ cho quan điểm ôn hòa, một nhà phân tích nhận định trong khi tình hình ở Biển Đông có thể trở nên gay gắt hơn, hành động cân bằng của Malaysia có thể được coi là “câu giờ” trong việc giải quyết tranh chấp. Ông James M Dorsey, Trợ lý thành viên cấp cao của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (Singapore) cho rằng Malaysia rốt cuộc sẽ phải đưa ra quyết định cơ bản về những yêu sách này và sự dứt khoát về khả năng tranh chấp. Theo đó, tránh né vấn đề hiện nay là vì lợi ích của cả Trung Quốc và Malaysia. Kuala Lumpur không muốn bị coi là chọn phe trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung trong khi Trung Quốc muốn đạt được mục tiêu của mình mà không làm leo thang xung đột.

Ông James M Dorsey nhấn mạnh việc nhượng bộ lãnh thổ sẽ là điều khó khăn đối với Thủ tướng Anwar vì sẽ phải đối mặt với sự phản đối đáng kể từ công chúng Malaysia. Ông nhận định: “Giọng hòa giải của Anwar, trong đó nói rằng Malaysia sẵn sàng đàm phán, là không rõ ràng. Ý ông ấy là Malaysia bảo vệ quyền lợi của mình và sẵn sàng nói về vấn đề đó, hay đang tìm kiếm sự thỏa hiệp?”, đông thời giải thích, với việc Petronas thăm dò ở những khu vực tranh chấp trên Biển Đông, Malaysia được xem là đã đưa ra tuyên bố về quyền của mình. Tập đoàn Petronas đang tiến hành khoan hoặc thăm dò, tức là Malaysia đang làm điều gì đó dựa trên yêu sách của mình.

Những người theo quan điểm này cho rằng để đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã đẩy mạnh quan hệ đồng minh với Mỹ bằng cách cho phép Mỹ tiếp cận các căn cứ quân sự của nước này, điều này có thể sẽ gây ra những rủi ro cho đất nước. Thủ tướng Anwar không nên vội vàng sử dụng lá bài Mỹ, vì chỉ cần giữ nó trong tay cũng đã tạo đòn bẩy đáng kể cho Malaysia trong bất kỳ cuộc đàm phán nào trong tương lai với Trung Quốc. Với một Trung Quốc ngày càng quyết đoán và hung hăng cần xử lý vấn đề Biển Đông như thế nào luôn là một bài toán làm đau đầu lãnh đạo các nước ven Biển Đông, trong đó có Malaysia. Để có một chính sách đúng đắn, vì lợi ích quốc gia, chính quyền của Thủ tướng Anwar Ibrahim cần tiếp thu và nghiên cứu kỹ toàn diện các quan điểm như trên trước khi có bất cứ quyết định nào trong vấn đề Biển Đông.

]]>
Liệu Philippines có thể khai thác nguồn năng lượng ở Biển Đông hay không? https://biendong.net/2023/07/02/lieu-philippines-co-the-khai-thac-nguon-nang-luong-o-bien-dong-hay-khong/ Sun, 02 Jul 2023 02:14:41 +0000 https://biendong.net/?p=109854 Giới học giả cho rằng trong lúc các nước ven Biển Đông khác như Việt Nam, Indonesia, Malaysia tiếp tục triển khai các hoạt động dầu khí ở Biển Đông bất chấp sự ngăn cản, gây áp lực của Trung Quốc thì Philippines không triển khai được các hoạt động dầu khí ở Biển Đông trong cái gọi là yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc là do sự thiếu nhất quán của chính quyền Manila dưới thời cựu Tổng thống Duterte. Sự nhún nhường của cựu Tổng thống Duterte đối với Bắc Kinh trong suốt 6 năm cầm quyền đã khiến Philippines không khai thác được nguồn năng lượng ở Biển Đông phục vụ phát triển kinh tế đất nước.

Sau khi lên cầm quyền năm 2016, với mong muốn nhận được sự hỗ trợ của Trung Quốc trong phát triển kinh tế ông Duterte đã thi hành một chính sách ngả hẳn sang Bắc Kinh, thậm chí ông Duterte đã gác lại phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông. Chính điều này đã  cho phép Trung Quốc gây sức ép với Philippines nhiều hơn ở Biển Đông, kể cả trong hợp tác năng lượng. Có thể thấy an ninh năng lượng của Philippines dưới thời cựu Tổng thống Duterte đối mặt với 2 thách thức: một là, cố gắng đi theo con đường đàm phán về hợp tác chung với Bắc Kinh, chắc chắn sẽ thất bại do các ràng buộc về Hiến pháp của Philippines; hai là, không bảo vệ các hoạt động thăm dò tại các khu vực có triển khai doanh nghiệp làm dịch vụ dầu khí ở Bãi Cỏ Rong khỏi sự quấy rối của hải cảnh Trung Quốc.

Mỏ khí đốt Malampaya dự kiến sẽ cạn kiệt vào quý đầu tiên của năm 2027. Tuy nhiên, những nỗ lực tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế đang vấp phải nhiều rào cản bởi Philippines tự đặt mình vào tình thế trở thành “con tin” trong thỏa thuận khai thác chung với Trung Quốc. Đây là một phần trong Biên bản ghi nhớ về Hợp tác phát triển dầu khí được 2 bên ký hồi năm 2018, sau đó chấm dứt vào tháng 6/2022 do việc Bắc Kinh cương quyết không từ bỏ yêu sách phi lý của mình đối với Bãi Cỏ Rong (Reed Bank), cho dù đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines.

Dù Philippines đàm phán một cách thiện chí, nhưng Trung Quốc lại triển khai các lực lượng hải quân để buộc chính quyền Manila nhượng bộ. Trước sức ép của Trung Quốc, ngày 4/4/2022, Bộ Năng lượng Philippines buộc phải ngừng mọi hoạt động thăm dò tại 2 lô SC 75 và SC 72 ở Bãi Cỏ Rong sau khi tàu hải cảnh Trung Quốc tấn công tàu Geo Coral và Mariska G được Tập đoàn PXP Energy ký hợp đồng để tiến hành khảo sát địa chấn trong khu vực, ngoài khơi bờ biển phía Tây Palawan. Rõ ràng, các hoạt động mang tính cưỡng ép của Trung Quốc đã khiến các công ty đa quốc gia do dự trong việc việc đầu tư vào các dự án dầu khí trong vùng biển của Philippines. Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng Trung Quốc đang âm thầm ngăn cản các công ty này tham gia đàm phán liên doanh với Philippines.

Vậy dưới thời của Tổng thống Marcos liệu Philippines có thể khai thác được nguồn năng lượng của mình để phục vụ phát triển đất nước hay không là vấn đề đang được giới phân tích quan tâm. Manila hoàn toàn có thể làm được điều này nếu họ thực sự kiên quyết hơn trên vấn đề Biển Đông và cần phải thoát khỏi “cái bẫy cùng khai thác” mà Bắc Kinh đang nỗ lực thúc ép các nước ven Biển Đông thực hiện. Để triển khai được việc khai thác nguồn năng lượng trong Vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp của mình, chính quyền Manila cần làm một số việc sau đây:

Trước hết, chính quyền Manila cần có những điều chỉnh về mặt quy định theo hướng “giải phóng” các hạn chế đối với lực lượng hàng hải, gồm hải quân và cảnh sát biển, bằng cách hủy bỏ các chính sách và chỉ thị đã ngăn cản họ bảo vệ tính mạng, tài sản cũng như các hoạt động trên biển của người dân Philippines.

Mặt khác, Philippines cần thể hiện rõ lập trường kiên định trong đàm phán với Trung Quốc về hợp tác ở Biển Đông theo hướng: không chấp nhận cái gọi là “cùng khai thác” theo chủ trương của Bắc Kinh trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán được xác định theo Công ước liên hợp về Luật biển 1982 (UNCLOS); sẵn sàng ưu tiên cho các doanh nghiệp Trung Quốc hợp tác với các doanh nghiệp Philippines khảo sát, khai thác dầu khí trong vùng thềm lục địa của Philippines theo quy định của luật pháp của Philippines. Hay nói cách khác Philippines không được trở thành “con tin” trong thỏa thuận hợp tác dầu khí chung với Trung Quốc.

Thứ hai, từ góc độ hải quân, an ninh năng lượng phải dựa trên khả năng khẳng định quyền kiểm soát tại các vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Philippines ở Biển Đông nói chung và các khu vực ký hợp đồng hợp tác dầu khí nói riêng. Điều này đòi hỏi việc triển khai các hạm đội ở Bãi Cỏ Rong và cả các vùng biển lân cận. Nhờ sự hiện diện bền vững của lực lượng thực thi pháp luật của Philippines, niềm tin của các công ty đa quốc gia hy vọng sẽ được cải thiện và truyền cảm hứng cho sự quan tâm đến hoạt động thăm dò quy mô hơn ở Bãi Cỏ Rong để tìm các nguồn năng lượng có thể khai thác.

Việc Philippines không thể tiếp cận Bãi Cỏ Rong an toàn không chỉ liên quan đến quyền thực thi các quyền chủ quyền trong EEZ. Quan trọng hơn, đây là vấn đề an ninh năng lượng của đất nước, điều sẽ kéo theo cả các vấn đề tồn tại liên quan đến đời sống như việc làm, mức sống, an ninh lương thực,… Theo các cuộc thăm dò gần đây, hơn 80% người dân Philippines muốn chính phủ khẳng định các quyền của đất nước mình tại Biển Đông. Đã đến lúc chính quyền cần nhận thức được điều này, và cần nhớ rằng thời gian không đứng về phía Philippines.

Thứ ba, việc chính quyền Tổng thống Marcos tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ trong thời gian gần đây và nhận được sự cam kết mạnh mẽ cam kết bảo vệ ở Biển Đông thông qua “Hướng dẫn phòng thủ song phương” Mỹ – Philippines được Lầu Năm Góc công bố hồi đầu tháng 5 trong chuyến thăm Mỹ của Tổng thống Marcos được giới chuyên gia cho rằng có thể giúp Philippines khai thác nguồn năng lượng trong EEZ ở Biển Đông. Đặc biệt, việc Philippines cho phép quân đội Mỹ tiếp cận căn cứ quân sự ở Palawan nằm không xa khu vực Bãi Cỏ Rong có thể là một bảo đảm về an ninh cho Philippines triển khai các hoạt động khai thác dầu khí ở khu vực giầu tiềm năng này.

Mặc dù theo Hiệp ước Phòng thủ chung Mỹ – Philippines năm 1951, bao gồm “Hướng dẫn phòng thủ song phương” vừa được công bố không đề cập đến các hoạt động kinh tế trên biển, song một khi Philippines triển khai lực lượng hải quân hay lực lượng bảo vệ bờ biển bảo vệ các hoạt động dầu khí ở những vùng biển thuộc quyền tài phán của Philippines trên Biển Đông sẽ được bảo vệ trước sự tấn công từ các thế lực bên ngoài, kể cả Trung Quốc. Điều này có thể giúp các lực lượng chấp pháp của Philippines có thể mạnh mẽ và kiên quyết hơn trong việc bảo vệ các hoạt động dầu khí của mình.

Đáng chú ý, đầu tháng 6 này các lực lượng bảo vệ bờ biển của Mỹ, Nhật Bản và Philippines tổ chức diễn tập hàng hải ba bên lần đầy tiên ở Biển Đông. Nếu Philippines có thể thúc đẩy các cuộc tuần tra chung với hải quân Mỹ và các lực lượng đối tác khác một cách thường xuyên hơn tại Biển Đông sẽ tạo ra hiệu ứng răn đe mạnh mẽ hơn để chống lại các chiến thuật cưỡng chế của Trung Quốc tại các khu vực mà Manila trao quyền cho doanh nghiệp khai thác.

Một số chuyên gia còn đưa ra gợi ý rằng cùng với đà phát triển mạnh mẽ của quan hệ quân sự giữa Mỹ và Philippines, chính quyền Manila có thể cân nhắc việc hợp tác với các tập đoàn năng lượng của Mỹ trong hoạt động khai thác nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông, trước hết là tại các 2 lô SC 75 và SC 72 ở khu vực Bãi Cỏ Rong. Một khi các doanh nghiệp năng lượng Mỹ hợp tác với Philippines ở khu vực này sẽ là một đảm bảo về an ninh cho các hoạt động dầu khí bởi lẽ các doanh nghiệp và người dân Mỹ đều là đối tượng nằm dưới sự bảo vệ của các lực lượng quân sự Mỹ. Vấn đề là ở chỗ chính quyền Manila có đủ mạnh mẽ thoát ra khỏi sự chi phối của Bắc Kinh trong các cuộc đàm phán về hợp tác năng lượng ở Biển Đông mà chính quyền cựu Tổng thống Duterte theo đuổi trong suốt những năm cầm quyền hay không? Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những thách thức trên vấn đề năng lượng, nhất là kể từ sau cuộc khủng hoảng Ucraine, không loại trừ khả năng sẽ có sự phối hợp nào đó giữa Philippines với Mỹ và các đồng minh của Mỹ trong việc khai thác năng lượng ở Biển Đông.

]]>
Nguy cơ hiện hữu cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam https://biendong.net/2022/03/22/nguy-co-hien-huu-cho-tap-doan-dau-khi-viet-nam/ Tue, 22 Mar 2022 02:50:00 +0000 https://biendong.net/?p=76773 Sự sụt giảm của dầu thô khai thác trong nước thể hiện rất rõ trong những năm gần đây. Nếu làm thêm nhà máy lọc dầu mới thì cũng sẽ phải nhập dầu thô từ nước ngoài về lọc.

Khai thác dầu thô giảm mạnh

Kể từ năm 2018, Việt Nam bắt đầu nhập một lượng dầu thô đáng kể nhằm cấp nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu Nghi Sơn.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, tổng sản lượng khai thác dầu khí trong 5 năm (2016-2020) đạt 121,14 triệu tấn quy dầu, trong đó khai thác dầu đạt 71,27 triệu tấn. Trong số 71,27 triệu tấn này, khai thác trong nước đạt 61,45 triệu tấn, bằng 122,9% so với quy hoạch giai đoạn 2016-2020; ở nước ngoài đạt 9,82 triệu tấn, bằng 98,2% so với quy hoạch.

Sản lượng khai thác dầu thô trong nước này một phần được cung cấp cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất và xuất khẩu sang các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Australia,… Những năm gần đây, xuất khẩu dầu thô ngày càng giảm và nhập khẩu dầu thô (từ các nước như Mỹ, Nigeria, Kuwait…) tăng nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn.

Sản lượng khai thác dầu thô trong nước chỉ còn 9,65 triệu tấn (năm 2020), trong khi riêng liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn công suất đã lên tới 10 triệu tấn dầu thô/năm, còn lọc dầu Dung Quất công suất ở mức tối đa 6,5 triệu tấn dầu thô/năm.

Như vậy, nhu cầu dầu thô lên đến 16,5 triệu tấn dầu thô/năm của 2 nhà máy này đã cao gần gấp đôi so với lượng khai thác trong nước. Đó là chưa kể đến dự án Tổ hợp hóa dầu Long Sơn công suất 2,7 triệu tấn nguyên liệu/năm, dự kiến hoàn thành vào năm 2022 của nhà đầu tư Thái Lan. Như vậy việc phải nhập khẩu dầu thô để về lọc là điều tất yếu và còn liên quan đến công nghệ lọc, bài toán kinh tế của các nhà máy lọc dầu.

So với nhu cầu xăng dầu trong nước khoảng 18 triệu tấn/năm thì sản lượng xăng dầu sản xuất trong nước hiện đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu.

Nếu xây thêm nhà máy lọc dầu mới, nguồn cung dầu thô trong nước cũng sẽ rất căng thẳng và tiếp tục phụ thuộc vào nhập khẩu. Trong khi đó, việc tìm kiếm thăm dò các mỏ dầu mới ở trong nước lại có những dấu hiệu báo động.

Cảnh báo khó khăn tìm kiếm mỏ dầu mới

Số liệu được Bộ Công Thương tổng hợp cho thấy, gia tăng trữ lượng dầu khí 5 năm 2016-2020 đạt 61,4 triệu tấn quy dầu, trung bình đạt 12,28 triệu tấn quy dầu/năm, bằng 122,8% quy hoạch giai đoạn 2016-2020 (10-20 triệu tấn quy dầu/năm).

Việc phát hiện dầu khí mới đang có những dấu hiệu đáng báo động. Giai đoạn 2011-2015 có 24 phát hiện dầu khí mới, trong đó có nhiều phát hiện dầu khí quan trọng.

Thế nhưng bước sang giai đoạn 2016-2020 chỉ có 7 phát hiện dầu khí mới, gồm Phong Lan Dại (Lô 06-1, năm 2016), Cá Trích (Lô 11-2, năm 2018), Mèo Trắng Đông – 1X (Lô 09-1), Thổ Tinh Nam-1X (Lô 05-3/11, năm 2018), Lô 06-1 (năm 2019), Kèn Bầu (Lô 114- năm 2020), Sói Vàng (Lô 16-1/15, VSP năm 2020).

“Đặc biệt, kết quả giếng khoan Kèn Bầu-1X Lô 114, Eni (2019) đã xác minh hệ thống dầu khí của lô, đồng thời định được 5 tầng chứa dầu khí có trữ lượng tại chỗ khả quan. Đây là giếng khoan quan trọng, là tiền đề để mở ra triển vọng thăm dò/thẩm lượng trong khu vực lô hợp đồng cũng như khu vực Trung tâm bể Sông Hồng”, theo đánh giá được Bộ Công Thương tổng hợp.

Hợp đồng dầu khí được ký mới cũng có dấu hiệu suy giảm. Giai đoạn 2011-2015 có 21 hợp đồng dầu khí được ký mới, trong đó có nhiều hợp đồng dầu khí ở các lô nước sâu, xa bờ. Thế nhưng sang giai đoạn 2016-2020 chỉ có 3 hợp đồng dầu khí được ký mới, gồm : PSC Lô 16-1/15 (năm 2016) và PSC Lô 125&126 (năm 2017), PSC Lô 15-2/17 (năm 2019).

Cùng với đó, nguồn lực đầu tư cho tìm kiếm thăm dò ngày càng giảm. Giai đoạn 2011-2015 đạt 4,728 tỷ USD (trung bình 946 triệu USD/năm), trong đó đầu tư phía nước ngoài 56,9%. Tuy nhiên, giai đoạn 2016-2019 đầu tư cho tìm kiếm thăm dò chỉ đạt 1,11 tỷ USD (trung bình 279 triệu USD/năm; bằng 29,5% trung bình giai đoạn 2011-2015), trong đó đầu tư nước ngoài chiếm 66,7%.

Trong năm vừa qua, công tác kêu gọi, thu hút đầu tư vào lĩnh vực tìm kiếm thăm dò gặp nhiều khó khăn. Các lô dầu khí mở có tiềm năng dầu khí hạn chế, trữ lượng nhỏ, nằm tại vùng nước sâu, xa bờ hoặc có cấu trúc địa chất phức tạp, kết hợp với giá dầu thế giới tuy đã phục hồi khả quan hơn nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, khiến các nhà đầu tư ít hoặc không quan tâm đến việc ký các hợp đồng dầu khí mới – Bộ Công Thương lý giải khi soạn thảo chiến lược năng lượng đến năm 2030.

Bộ này cho rằng, việc gia tăng trữ lượng dầu khí, bù đắp vào sản lượng khai thác hàng năm, đảm bảo sự phát triển bền vững là một thách thức vô cùng to lớn. Các khu vực truyền thống có tiềm năng dầu khí đã được thăm dò khá chi tiết, nhất là ở bể Cửu Long nên các phát hiện phần lớn đều nhỏ, do vậy đòi hỏi phải mở rộng hoạt động tìm kiếm thăm dò ra các khu vực nước sâu, xa bờ. Tiềm năng dầu khí chưa phát hiện còn lại được đánh giá tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu, xa bờ.

Trong khi đó, những người làm trong ngành dầu khí cho rằng cơ chế chính sách cho thăm dò tìm kiếm đang rất vướng mắc bởi lĩnh vực này rất rủi ro và tốn kém, khả năng phát hiện mỏ dầu mới cũng không thể nói trước được.

Ông Trần Sỹ Thanh, khi còn là Chủ tịch HĐTV PVN, đã nhấn mạnh khâu tìm kiếm thăm dò chính là mối lo lớn nhất cho việc đảm bảo an ninh năng lượng đất nước. “Xưa hút 1 tấn dầu thì gia tăng 1,5 đến 2 lần. Còn chúng tôi giờ hút 1 nhưng chỉ bù đắp 0,3-0,4. Nên nói thẳng là chúng ta đang ăn vào công sức của ngày trước”, ông Thanh nói trong một hội thảo năm 2019.

]]>
3 kịch bản của giá dầu thế giới trong năm 2016 https://biendong.net/2015/12/31/3-kich-ban-cua-gia-dau-the-gioi-trong-nam-2016/ Thu, 31 Dec 2015 11:01:16 +0000 http://localhost/wp/2015/12/31/3-kich-ban-cua-gia-dau-the-gioi-trong-nam-2016/ Giá dầu thế giới đã hồi phục với mức tăng hơn 8% trong tuần vừa qua, tuy nhiên, mức giá này đã tiệm cận mức thấp nhất năm 2004. Điều này không có nghĩa giá dầu đã chạm đáy.

Helima Croft, Trưởng ban Chiến lực Hàng hóa Toàn cầu của Ngân hàng đầu tư Canada RBC Capital Markets, đã đưa ra 3 kịch bản cho giá dầu thế giới trong năm 2016.

Kịch bản sáng sủa nhất, theo Croft là giá dầu có thể tăng giá trong năm 2016 với mức giá bình quân là 60 USD/thùng nếu hơn 1 triệu thùng dầu được tiêu thụ.

Kịch bản xấu nhất có thể xảy ra trong trường hợp sản lượng dầu thô từ OPEC, Ả rập Xê út, Iran và Lybia tăng đột biến cùng lúc, sẽ đẩy giá dầu tụt dốc sâu hơn. Hôm Thứ 5 vừa rồi, ngày giao dịch cuối cùng trước lễ Giáng sinh, giá dầu ngọt Mỹ và giá dầu Brent đều tăng hơn 1%, nhưng chưa đạt đến mức 40 USD/thùng.

“Giá dầu ngọt nhẹ ở Mỹ giảm xuống tầm 35 USD/thùng là kịch bản xấu nhất,” Croft nhận định.

Theo Croft, kịch bản có thể xảy ra nhiều nhất là sự cân bằng trên thị trường vào 6 tháng cuối năm 2016.

“Chúng tôi hy vọng giá dầu trên thị trường Mỹ có thể tăng 30% so với mức giá hiện nay. Và giá dầu sẽ bắt đầu khởi sắc vào quý 4 năm,” Croft nói.

Tuy nhiên, Steve Grasso, giám đốc kinh doanh Stuart Frankel, cho rằng, không loại trừ khả năng giá dầu chạm mức 20 USD/thùng.

“Tôi cho rằng bất kỳ ai theo dõi giá dầu hiện nay nên xem xét đến khả năng giá dầu chạm mức 20 USD/thùng. Vào thời điểm giá dầu ở mức 110 USD/thùng thì không ai ngờ rằng giá cả có thể giảm xuống 80 USD/thùng, và cũng không ai nghĩ giá dầu có thể tiếp tục giảm xuống mức 65 USD/thùng” Steve Grasso nói.

Thực tế, giá dầu chưa bao giờ thấp hơn 20 USD/thùng trong suốt hơn 1 thập kỷ qua, theo số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng.

]]>
Xuống biển “săn” nhum https://biendong.net/2014/07/28/xung-bin-qsnq-nhum/ Mon, 28 Jul 2014 08:37:48 +0000 http://localhost/wp/2014/07/28/xung-bin-qsnq-nhum/ BienDong.Net: Đến Sa Huỳnh (Đức Phổ), những thực khách xuýt xoa khen ngợi các món ăn được chế biến từ nhum.

Cách đấy không xa, nhiều bóng người cứ ẩn hiện sau những con sóng lặn bắt từng con nhum cố bám vào ghềnh đá ven bờ biển. Cơ thể họ tím tái vì ngâm lâu trong làn nước lạnh.

Nhọc nhằn mưu sinh

Trưa nắng như đổ lửa, nhưng cơ thể anh Phan Văn Định ở thôn Vĩnh Tuy, xã Phổ Châu, huyện Đức Phổ cứ tím tái, run cầm cập. Chỉ tay vào rổ nhum đen, anh cười tươi: “Bấy nhiêu về đưa cho vợ bổ đôi và gỡ được khoảng 1kg thịt, bán được 200.000 đồng”.

 

Anh Chinh đang chuẩn bị rời ghe xuống nước lặn nhum

Đấy là thành quả sau hơn 4 giờ đồng hồ ngụp lặn dưới độ sâu từ 2 – 5m trong làn nước lạnh. Cứ 7 giờ sáng, anh lại mang dụng cụ: kính lặn, móc sắt, chiếc rổ gắn phao ra biển lặn xuống bắt nhum bám vào ghềnh đá ven bờ. Khi phát hiện, anh dùng móc sắt giật mạnh để nhum rơi khỏi đá và nhặt lấy rồi ngoi lên bỏ vào rổ nổi bồng bềnh trên mặt nước. “Có người ráng sức lặn cả ngày, may mắn kiếm được gần cả triệu đồng. Nhưng đến tối thì cơ thể đau nhức phải gồng mình chịu đựng. Nhiều người chỉ lặn được vài ngày thì phải bỏ nghề” – anh nói

Mặc bộ đồ lặn cùng bình dưỡng khí vào người, anh Nguyễn Chinh vội rời chiếc ghe nan lao xuống ngụp lặn trong làn nước. Phần trên cơ thể của anh cứ ẩn hiện giữa những con sóng đang xô vào bờ.

Anh Chinh là người lặn nhum “chuyên nghiệp” nhất ở vùng biển Sa Huỳnh khi trang bị cho mình chiếc ghe nan cùng với thiết bị lặn trên 12 triệu đồng. Sau cả ngày lặn ngụp cùng với người vợ ra sức bổ đôi lớp vỏ, gỡ lấy thịt, vợ chồng anh thu được khoảng 4kg thịt nhum, với giá từ 600.000 – 800.000 đồng. “Nghề này thu nhập cao, nhưng chỉ dành cho trai tráng và những người có sức khỏe mới chịu đựng nổi. Cả ngày cứ ngụp lặn dưới nước bám vào ghềnh đá tìm nhum. Nhiều lúc nước đục, bắt phải nhum bắn gai làm tê buốt cả cánh tay” – anh cho biết.

Chị Võ Thị Thúy, vợ anh Chinh, chìa đôi bàn tay sưng tấy do bị nước bẩn bào mòn da vì phải luôn tiếp xúc với nhum. Cùng hoàn cảnh với chị còn có hàng chục người mẹ, người vợ nơi đây phải chịu đau buốt mỗi khi dùng dao bổ đôi lớp vỏ để lấy phần thịt bên trong. Họ khéo léo tách vỏ rồi dùng mảnh tre nhỏ vót mỏng khều lấy phần thịt màu vàng tựa gạch cua bên trong lớp vỏ lởm chởm gai nhọn. Chỉ cần sơ sẩy tí chút, thịt nhum sẽ lẫn với ruột và gân máu, khi chế biến món ăn rất tanh. Vì vậy, họ được xem là những người quyết định hương vị ngon – dở của loài nhuyễn thể được xem là đặc sản bậc nhất ở vùng biển này. “Đâu chỉ mấy ổng phải chịu khổ cực, phụ nữ tụi tui cũng chịu nhiều vất vả khi làm nhum đấy. Nhiều ông lặn giỏi đến mấy đi nữa, nhưng ở nhà không có người làm thì cũng đành phải bỏ nghề” – chị Thúy nói.

Nức danh đặc sản

Có giai thoại kể rằng, thời vua Minh Mạng, người dân Quảng Ngãi, mỗi năm phải tiến cống mắm nhum cho triều đình và bắt buộc phải cống bằng vật phẩm, không được thay thế bằng tiền. Xem ra món mắm nhum ngon nức tiếng mới được vua chúa, chuyên ăn sơn hào hải vị, để tâm đến thế.

 

Thành quả sau hơn 4 giờ ngụp lặn của anh Định

Nhum còn được chế biến nhiều món ăn ngon: nấu cháo, nướng, tráng với trứng, thịt nhum tươi vắt tí nước cốt chanh ăn kèm với rau thơm… đặc biệt là nhum ngâm rượu. Nhum bạc để nguyên con bỏ vào hũ rượu ngâm 2 – 3 ngày rồi sau đó thay rượu mạnh vào hũ. Thế là đã có được loại rượu cánh mày râu thường hay rỉ tai nhau là “ông uống bà khen”. Nhiều du khách khi đến Sa Huỳnh thường tìm mua rượu ngâm nhum bạc để về… khoe với vợ.

Nhum thuộc loại nhuyễn thể sống ở những gành đá ven bờ biển nước ấm. Chúng còn có tên khác là nhím biển, cầu gai vì thân tròn, nhiều gai nhọn và dễ gãy. Thời điểm bắt nhum chủ yếu ở vùng biển Sa Huỳnh (Đức Phổ) là từ tháng 3 – 7 âm lịch hằng năm.

Dẫu nức tiếng từ thời vua Minh Mạng, nhưng “số phận” của loài hải sản này cũng lắm thăng trầm, cuộc sống của những người săn bắt vẫn bao đời cơ cực.

Anh Nguyễn Quang Thơ, người có thâm niên hơn 30 năm lặn bắt nhum kể: Khoảng 20 năm trở về trước, cứ từ tháng 3 – 6 âm lịch thì ven biển Sa Huỳnh xuất hiện nhum nhiều vô kể. Khi ấy, mỗi ngày lặn bắt từ 8 – 9kg nhum thịt, sau khi bóc vỏ. Thịt nhum được mẹ anh muối mắm và cuốc bộ hàng chục kílômét gánh rong vào tận các huyện phía bắc tỉnh Bình Định để đổi gạo ăn qua ngày. Cứ mỗi bát mắm nhum đổi được một lon gạo hoặc ít khoai.

Giờ thì mắm nhum đã trở thành món khoái khẩu của nhiều người, theo chân Việt kiều và du khách đến tận những phương trời xa. Thay vì đổi gạo như thuở trước, mỗi ký thịt nhum bán với giá từ 150.000 – 250.000 đồng, tùy từng thời điểm. Vì thế, lượng nhum ngày càng giảm hẳn. “Chẳng biết vài chục năm sau liệu còn tìm thấy nhum không nữa?” – anh Thơ lo lắng nhìn về phía những ghềnh đá nhấp nhô tung bọt sóng trắng xóa.

Lang thang dưới bóng mát của rừng thùy dương, tôi được nghe nhiều du khách ngồi trong hàng quán ven biển xuýt xoa khen ngợi các món ăn tỏa hương thơm phức vừa được chế biến từ nhum. Cách đấy không xa, nhiều bóng người cứ ẩn hiện, ngụp lặn trong nước. Biển vẫn vậy và họ vẫn thế mặc cho thùy dương vi vu như đang tự tình với gió từ khơi xa thổi vào bờ.

BDN (theo Trang Thy, Báo Quảng Ngãi)

]]>
Để cá ngừ đại dương trở thành sản phẩm chiến lược của ngành thủy sản Việt Nam https://biendong.net/2014/06/17/ca-ng-i-dng-tr-thanh-sn-phm-chin-lc-ca-nganh-thy-sn-vit-nam/ Tue, 17 Jun 2014 08:59:54 +0000 http://localhost/wp/2014/06/17/ca-ng-i-dng-tr-thanh-sn-phm-chin-lc-ca-nganh-thy-sn-vit-nam/ BienDong.Net: Để cá ngừ đại dương thực sự trở thành sản phẩm chiến lược của Việt Nam, các chuyên gia cho rằng, phương tiện đánh bắt cá ngừ cần phải được hiện đại hóa để đáp ứng yêu cầu bảo quản cá được tốt, đồng thời khâu bắt cá từ dưới biển lên tàu phải được thực hiện đúng quy trình.

Tiếp nhận công nghệ câu cá của Nhật Bản

Chính vì lí do này, ngày 10/6, tại xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, UBND tỉnh Bình Định đã tổ chức bàn giao 5 bộ thiết bị câu cá ngừ đại dương nhập từ Nhật Bản về cho một tổ tàu thuyền 5 chiếc tại huyện Hoài Nhơn.

 

Thiết bị thu thả câu của Nhật Bản được lắp đặt trên tàu của ngư dân Bình Định (ảnh Trường Đăng)

Theo chuyên gia thủy sản của Nhật, thân nhiệt cá ngừ bình thường khoảng 18oC, khi rượt đuổi mồi tăng lên 50oC. Lâu nay ngư dân Việt Nam câu bằng tay nên khi cá cắn câu thì kéo mạnh lên thuyền ngay, thịt cá đang ở thân nhiệt cao nên trắng bệch, không đảm bảo chất lượng. Hiện giá cá ngừ đại dương xuất khẩu vào thị trường Nhật của Philippines và Indonesia là 1.000 yen/kg, trong khi đó giá cá Việt Nam chỉ bằng một nửa.

TS. Irawa – Công ty Yanmar (Nhật Bản), đại diện đơn vị chuyên tư vấn, cung cấp các giải pháp khoa học công nghệ trong khai thác cá ngừ đại dương cho biết, chất lượng cá ngừ của Việt Nam thấp ngoài lý do về bảo quản, sơ chế còn do cách thức khai thác cá ngay từ ngoài biển.

Việc ngư dân Việt Nam dùng chày gỗ đập vào đầu cá ngừ cho chết có thể ảnh hưởng đến chất lượng cá. Chính vì vậy, nếu tổ chức sản xuất tốt thì tương lai không xa, cá ngừ sẽ là sản phẩm thủy sản số 1 của Việt Nam”, TS. Irawa đánh giá.

Hệ thống câu cá ngừ đại dương theo phương pháp của Nhật Bản có 2 bộ phận chính là máy thu câu (MSW – 1DR 130) và máy tạo xung (xung điện – tuna shocker). Dây câu được đưa qua máy thu câu để câu cá. Khi cá mắc câu, hệ thống sẽ tự xả dây khi lực cá lớn và tự thu dây khi lực cá yếu. Khi thu cá về gần mạn tàu, ngư dân sẽ dùng máy tạo xung để làm cá bị tê liệt trước khi đưa lên tàu và sơ chế, ướp lạnh.

 

Ông Masakazu Shoga hướng dẫn ngư dân Việt cách sơ chế cá ngừ (ảnh Tuổi Trẻ)

Là người trực tiếp hướng dẫn ngư dân, chuyên gia Masakazu Shoga cho biết do đã có 10 năm làm thuyền trưởng khai thác cá ngừ đại dương cho một công ty thủy sản của Tập đoàn Nippon nên ông rất hiểu là cần cung cấp những kỹ năng gì cho ngư dân ở Bình Định.

“Ngư dân ở địa phương này thật ra cũng không khác ngư dân Nhật, họ hiểu và tiếp thu nhanh, nắm rõ yêu cầu khắt khe về kỹ thuật. Tôi tin họ sẽ làm tốt và sử dụng bộ câu hiệu quả” – ông Masakazu Shoga nhận xét.

Các chuyên gia Nhật, đại diện cho Công ty Kato Hitoshi General Office, đơn vị sẽ mua lô hàng cá ngừ đầu tiên của bà con ngư dân Bình Định để xuất sang Osaka (Nhật) trong thời gian tới thông báo: Nếu không có gì thay đổi, cá ngừ Bình Định sẽ chính thức xuất hiện trong những phiên chợ đấu giá cá ngừ ở Osaka để bán cho các nhà hàng. Hi vọng đây là sự khởi đầu tốt đẹp giúp ngư dân Bình Định có thu nhập khá hơn”.

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Lê Hữu Lộc cho biết trước mắt ngư dân câu cá ngừ đại dương bằng bộ câu và kỹ thuật của Nhật sẽ được Công ty cổ phần Thủy sản Bình Định mua sản phẩm với giá cao hơn 20% so với mức giá cao nhất hiện nay. Sau đó, toàn bộ số cá ngừ sẽ được vận chuyển bằng máy bay từ Bình Định vào TP.HCM và chuyển sang Nhật trong ngày.

“Phải đảm bảo thời gian cá ngừ Bình Định đưa sang Osaka dưới mười ngày kể từ khi câu được trên biển. Công ty Kato Hitoshi General Office sẽ giúp tiêu thụ cá ngừ Bình Định tại Osaka và tiếp tục chia sẻ lợi ích này một lần nữa cho ngư dân” – ông Lộc nói.

Bình Định cùng với Phú Yên và Khánh Hòa là 3 tỉnh đánh bắt cá ngừ đại dương chủ yếu của cả nước. Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, ông Lê Hữu Lộc cho rằng, việc hỗ trợ 5 bộ ngư cụ này là bước khởi đầu giúp ngư dân Bình Định thay đổi phương pháp đánh bắt, đảm bảo được chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Từ đây tỉnh sẽ tiếp tục mở rộng cho ngư dân, hướng cho người dân tự trang bị và đánh bắt hoàn toàn theo phương pháp hiện đại.

Theo chương trình này, Công ty đóng tàu Nha Trang, thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thủy, đã ký kết đóng mới 2 tàu vỏ thép cho 2 ngư dân thôn Thiện Chánh, xã Tam Quan Bắc (huyện Hoài Nhơn) là ông Lê Văn Lùng và Bùi Thanh Mến. Đây sẽ là những tàu vỏ thép đầu tiên của ngư dân tỉnh Bình Định.

BDN (tổng hợp từ các báo trong nước)

]]>
Việt Nam: Năng lượng gió biển bắt đầu cung cấp điện https://biendong.net/2014/02/12/vit-nam-nng-lng-gio-bin-bt-u-cung-cp-in/ Wed, 12 Feb 2014 09:59:12 +0000 http://localhost/wp/2014/02/12/vit-nam-nng-lng-gio-bin-bt-u-cung-cp-in/ BienDong.Net: Ngày 9.2, Công ty TNHH Công Lý khởi động xây dựng các trụ móng tua bin điện gió dọc theo tuyến ven biển xã Vĩnh Trạch Đông và xã Hiệp Thành (TP Bạc Liêu) để tiến tới lắp đặt 52 bộ tua bin trị giá gần 2.000 tỷ đồng được nhập khẩu về từ Mỹ.

Toàn bộ tua bin điện gió được sản xuất với cấu tạo thép đặc biệt không gỉ, cao 80 m, đường kính 4 m, nặng trên 200 tấn, cánh quạt bằng nhựa đặc biệt dài 42 m, có hệ thống điều khiển tự gập lại để tránh hư hỏng khi bão lớn.

Theo kế hoạch, 52 tua bin điện gió này sẽ hòa lưới điện quốc gia vào cuối năm 2015.

Tua bin điện gió ven biển Bạc Liêu

Trước đó, vào ngày 29 – 5 – 2013, 10 tua bin điện gió đầu tiên có công suất 16 MW, sản lượng điện năng khoảng 56 triệu kWh/năm của nhà máy điện gió Bạc Liêu đã hòa lưới điện quốc gia.

Nhà máy điện gió Bạc Liêu được đặt dọc theo đê Biển Đông, kéo dài từ phường Nhà Mát đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng và chiểm tổng diện tích gần 500 ha. Khi hoàn thành toàn bộ, nhà máy sẽ có tổng công suất là 99,2 MW, dự kiến mỗi năm phát lên lưới điện quốc gia khoảng 320 triệu kWh.

Cùng với nhà máy điện gió ở Bình Thuận, nhà máy ở Bạc Liêu có thể xem là điểm đột phá mở đường xây dựng nền công nghiệp phong điện non trẻ, nhưng được kỳ vọng là một nguồn điện trụ cột trong tương lai ở Việt Nam.

Với điều kiện địa lý thuận lợi có bờ biển dài, lượng gió nhiều và phân bổ khá đều quanh năm, tính đến cuối tháng 1 năm 2012 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đã xây dựng 16 dự án điện gió với tổng công suất dự tính khoảng 1.300 MW.

Trong số 16 dự án nói trên, Dự án Nhà máy điện gió Tuy Phong, đặt tại xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận do Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN) đầu tư được triển khai đầu tiên và đi vào hoạt động từ ngày 18/4/2012. Theo kế hoạch, giai đoạn 2 của dự án xây dựng và lắp đặt 60 trụ điện gió (hay tua bin), sẽ nâng tổng công suất của toàn bộ Nhà máy Phong điện Tuy Phong lên 120 MW.

Ở tỉnh Bình Thuận, sau Dự án Tuy Phong, dự án điện gió ở đảo Phú Quý với 3 tua bin, tổng công suất 6 MW đã lắp đặt xong và thử vận hành an toàn, góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện sinh hoạt và sản xuất cho 33.000 dân trên đảo và giảm chi phí sản xuất điện do giảm thời gian vận hành của nhà máy điện Diesel..

Ngoài ra, cũng ở Bình Thuận, một dự án điện gió tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình cũng trong giai đoạn thi công và một số dự án khác đang chuẩn bị triển khai. 

Với các dự án nói trên, tỉnh Bình Thuận đang đi đầu trên con đường phát triển điện gió ở Việt Nam.

Năng lượng gió nhiều tiềm năng

alt

Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, thuỷ điện và phong điện hay điện gió được xem là nguồn điện sạch, ít gây ô nhiễm môi trường. Nhưng, nếu thuỷ điện ẩn chứa những hiểm hoạ đối với các cộng đồng dân cư, thì điện gió thân thiện và hiền hoà đối với con người.

Mặc dù điện gió bắt đầu được thế giới để ý đến từ 25 năm trước, nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây nó mới khẳng định được vị trí trên thị trường năng lượng thế giới khi sản lượng điện gió tăng trưởng một cách ngoạn mục với tốc độ 28%/năm, cao nhất trong tất cả các nguồn năng lượng hiện có. Sự phát triển thần kỳ này của điện gió có được là nhờ vào một số thay đổi quan trọng trong thời gian qua.

Đầu tiên phải kể đến những tiến bộ về công nghệ có tính đột phá đã giúp giảm giá thành điện gió xuống nhiều lần, đồng thời tăng công suất, hiệu quả, và độ tin cậy của các trạm điện gió. Cụ thể là nếu như vào năm 1990, công suất trung bình của một trạm điện gió ở Đan Mạch và Đức chỉ vào khoảng 200 KW, thì đến năm 2002 đã lên tới 1,5 MW và hiện nay các nước này đang phát triển các tuốc bin lớn cỡ 5 – 10 MW nhằm phát triển các trạm điện gió trên thềm lục địa. Hiệu quả của các trạm điện gió này cũng được cải thiện từ 2 đến 3% mỗi năm, góp phần vào việc giảm 30% giá thành điện gió trong vòng 12 năm.

Một lý do quan trọng nữa giải thích sự phát triển đột biến của điện gió trong 10 năm trở lại đây là nguy cơ khủng hoảng năng lượng của các nước đã phát triển cũng như mối quan tâm ngày càng cao của các nước này về bảo vệ môi trường, điều này đã tiếp thêm sức mạnh cho những nỗ lực tìm kiếm các dạng năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường, trong đó điện gió hiển nhiên là một ứng cử viên sáng giá.

Trong các nước chủ trương phát triển năng lượng gió, Đức vẫn là nước dẫn đầu với công suất vào cuối năm 2004 lên tới 16.649 MW, chiếm hơn 30% tổng công suất điện gió của thế giới. Ngay sau Đức là Tây Ban Nha và Mỹ lần lượt chiếm 19% và 16% tổng công suất điện gió thế giới. Một điều đáng lưu ý là không chỉ các nước đã phát triển mà cả một số nước đang phát triển (đặc biệt là những nước đông dân như Ấn Độ và Trung Quốc) cũng quyết định đầu tư để phát triển điện gió.

Việt Nam có tiềm năng điện gió khá dồi dào, lĩnh vực này cũng được các nhà đầu tư trong và ngoài nước rất quan tâm. Tuy nhiên, để khai thác được tối đa nguồn tiềm năng này, cùng với những cơ chế, chính sách hỗ trợ, nếu giải quyết được vấn đề giá thành sản phẩm hay cơ chế mua bán điện sẽ khiến các nhà đầu tư yên tâm hơn khi rót vốn làm điện gió.

Theo báo điện tử Chinhphu.vn, với chiều dài bờ biển hơn 3.000 km, Việt Nam có tiềm năng điện gió rất lớn. Nếu khai thác hết tiềm năng này, tổng công suất điện gió có thể gấp 20 lần tổng công suất điện hiện tại của Việt Nam.

Thời gian qua, Ngân hàng Thế giới đã tiến hành xây dựng bản đồ tiềm năng gió cho Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia. Theo kết quả của bản đồ năng lượng gió này, tiềm năng năng lượng gió Việt Nam có thể hơn 500.000 MW.

Theo đánh giá của các chuyên gia ngành năng lượng, Việt Nam có mật độ năng lượng tại đảo khoảng 800 – 1.400 kWh/m2/năm, mật độ năng lượng tại 500 – 1000 kWh/m2/năm tại các vùng ven biển miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam, mật độ tại các vùng khác thấp hơn 500kWh/m2/năm.

Các địa phương được đánh giá là giàu tiềm năng về năng lượng gió là Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Bình Định, Sóc Trăng.

Ngay trong Quy hoạch Điện VII, điện gió cũng là lĩnh vực được ưu tiên phát triển với mục tiêu: “Ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện, tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng này lên mức 4,5% vào năm 2020 và 6% vào năm 2030”. Trong đó, đưa tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay lên 1.000 MW vào năm 2020, khoảng 6.200 MW vào năm 2030.

Mặc dù tiềm năng và quy hoạch là vậy, nhưng do suất đầu tư cao và giá phát điện chưa hợp lý nên đến nay cả nước mới có hơn 20 dự án đang triển khai tại Bình Thuận, Ninh Thuận, Bạc Liêu, Lâm Đồng…

Cần những đòn bẩy

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu cung cấp điện năng ngày càng lớn. Và điện gió đang được kỳ vọng như là một trong những nguồn điện của tương lai, xếp hàng sau điện hạt nhân nhưng đứng trước các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện sinh khối v.v…

Trong Tổng sơ đồ điện VII, nhà nước Việt Nam đã đưa ra mục tiêu nâng tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 1.000 MW (tương đương công suất 1 lò phản ứng hạt nhân) vào năm 2020, và khoảng 6.200 MW (tương đương công suất 6 lò phản ứng hạt nhân) vào năm 2030; tức điện năng sản xuất từ nguồn điện gió sẽ chiếm tỷ trọng từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030.

Mục tiêu đó so với nhu cầu còn khiêm tốn, nhưng thực hiện cũng hoàn toàn không dễ, nếu tính đến những yếu điểm về công nghệ, về tính kinh tế và cả về mặt tác động môi trường của loại điện năng này. Để đạt các chỉ tiêu trong Tổng sơ đồ điện VII không thể thiếu những biện pháp đòn bẩy, trước hết là một loạt chính sách đầu tư và khuyến khích của nhà nước.

Ông Nguyễn Hoàng Dũng, Trưởng phòng Dự án Lưới điện, thuộc Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng điện 3 nhìn nhận đặc điểm chung của các dự án điện gió là quy mô nhỏ, mức đầu tư lớn, trong khi giá mua điện gió rất thấp (khoảng 7,8 cent/kWh). Từ đó, nhà đầu tư khó đảm bảo được bài toán kinh tế. Theo tính toán, giá tua bin gió chiếm 60% chi phí đầu tư toàn bộ hệ thống và theo các chuyên gia, nếu sử dụng công nghệ Châu Âu,thì suất đầu tư cho điện gió tính theo công suất đã lên tới 2.250 USD/kW, còn nếu sử dụng công nghệ Trung Quốc, thì suất đầu tư cũng là 1.700 USD/kW. 

Với suất đầu tư này, giá điện gió bình quân tối thiểu cũng ở mức 10,68 cent/kW với thiết bị Châu Âu và Mỹ. Còn với thiết bị Trung Quốc, giá bán điện cũng phải 8,6 cent/kW. Giá bán này cũng được tính tới thời gian hoàn vốn lên tớixấp xỉ 20 năm, thời gian khấu hao thiết bị là 12 năm.

Với suất đầu tư lớn, giá thành sản xuất khá cao, thời gian thu hồi vốn lâu,giá phát điện chưa hợp lý cũng khiến nguồn năng lượng này rất khó cạnh tranh với các nguồn điện khác.

Về phần mình, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam Trần Viết Ngãi cho rằng một trong những giải pháp cho sự phát triển của điện gió là các nhà đầu tư cần chủ động hơn trong việc nội địa hóa các thiết bị. 

Chẳng hạn như như trụ đỡ tua bin bằng ống bê tông nhà đầu tư có thể tự xây dựng, cánh gió cũng có thể tự chế tạo để giảm giá thành; nhà đầu tư chỉ cần mua tua bin và thiết bị điều khiển điện, đồng thời tự đào tạo công nhân lắp ráp thay cho phải thuê chuyên gia nước ngoài…

Ngoài việc nội địa hóa thiết bị sản phẩm, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) cũng cho rằng để phát triển nguồn năng lượng từ điện gió Chính phủ cần cho phép dự án điện gió được hưởng các ưu đãi theo quy định hiện hành về tín dụng đầu tư của Nhà nước; được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án; thuế suất và chính sách miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án điện gió áp dụng như đối với dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư.

Thêm vào đó, chính phủ phải có những đột phá về chính sách giá năng lượng để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực này. Với mặt bằng giá năng lượng thấp như hiện nay thì khả năng huy động nguồn vốn rất khó khăn, cũng như không khuyến khích được các nhà đầu tư. 

Đó là chưa nói đến việc đơn vị mua điện duy nhất hiện nay vẫn là EVN nên các nhà đầu tư càng khó đàm phán được giá điện hợp lý.

Ông Oliver Massmann (Công ty trách nhiệm hữu hạn Luật Duane Morris Việt Nam) cho rằng, hiện đầu tư sản xuất điện gió ở Việt Nam sẽ không hề dễ dàng mặc dù theo cam kết WTO, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư bằng nhiều hình thức khác nhau như liên doanh hay 100% vốn nước ngoài. Song với giá điện thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á như hiện nay, Việt Nam sẽ khó thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành điện.

Để giải bài toán này, ông Oliver Massmann cho rằng, Chính phủ Việt Nam phải coi đây là các dự án ưu tiên đầu tư, bảo đảm giá đầu ra cho sản phẩm dự án, như thuế thu nhập doanh nghiệp, quỹ đất, đồng thời các nhà đầu tư sản xuất điện gió nên kết hợp phát triển du lịch “xanh” trên vùng đất thực hiện dự án thì khả năng thành công sẽ lớn.

BDN (tổng hợp theo VNN và các báo quốc nội)

]]>
Tìm hiểu hệ sinh thái rạn san hô https://biendong.net/2013/12/19/tim-hiu-h-sinh-thai-rn-san-ho/ Thu, 19 Dec 2013 07:41:20 +0000 http://localhost/wp/2013/12/19/tim-hiu-h-sinh-thai-rn-san-ho/ BienDong.Net: Trong số các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rạn san hô có một vai trò đặc biệt. Các rạn san hô đa dạng tham gia hình thành và bảo vệ hàng ngàn hòn đảo.

Chúng cũng có tầm quan trọng ở nhiều đảo lớn và vùng bờ biển trong việc bảo tồn đất đai và sự tồn tại của con người.

Theo RFI, các nhà khoa học thống kê có khoảng 1.200 đến 1.300 loài san hô trên toàn thế giới. Một nửa số loài này là nằm trong các rạn san hô. Phần còn lại sống tách biệt dưới nước sâu, khiến việc tìm hiểu chúng trở nên khó khăn. San hô là một loài động vật, chứ không phải là một khoáng chất như nhiều người vẫn nghĩ. Loài động vật này cần mẫn xây dựng thế giới của chúng trong tự nhiên. Các vành đai san hô mà chúng ta thấy là kết quả của khoảng 18.000 năm đến 20.000 năm xây dựng.

alt

San hô có nguồn gốc từ loài sinh vật đa tế bào xuất hiện sớm thứ hai tại các vùng nước của Trái Đất. Điều kỳ lạ là nhờ ở việc cộng sinh với loài tảo đơn bào, làm công việc quang hợp, mà san hô có được khả năng tạo ra bộ xương carbonatic. Bộ phận sống động là lớp vỏ rất mỏng ở bên ngoài của san hô, còn bộ xương của san hô thì giống như sỏi đá.

San hô có 3 nhóm chính là san hô cứng, san hô mềm và san hô sừng. San hô cứng có bộ xương bằng đá vôi và thường tăng trưởng rất chậm, có loại chỉ vào khoảng 1 cm/năm. San hô cứng được xem là thành phần chính cấu tạo nên rạn san hô. Chúng chỉ phân bố hạn chế ở những vùng biển nông, ấm áp và cấu trúc đá vôi do chúng liên kết lại tạo thành rạn san hô.

Thế giới hiện có hàng ngàn rạn san hô, giới hạn phân bố của chúng chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trải dài từ khoảng 30 độ vĩ tuyến bắc đến 30 độ vĩ tuyến nam nơi mà nhiệt độ nước biển hiếm khi xuống dưới 18 độ C. Qua nhiều quá trình biến động của địa chất biển, đã hình thành các kiểu rạn hô khác nhau: – Rạn riềm (fringing reef): rất phổ biến xung quanh các đảo nhiệt đới và đôi khi dọc theo bờ đất liền. Rạn dạng nền (platform reef): là một cấu trúc đơn giản đặc trưng bởi sự cách biệt với đường bờ và có thể thay đổi lớn về hình dạng. Kích thước của chúng có thể rất lớn, đến 20 km2 chiều ngang. – Rạn chắn (barrier reef): được phát triển trên gờ của thềm lục địa và nằm xa bờ. Rạn san hô vòng (atoll): là những vùng rạn rộng lớn nằm ở vùng biển sâu. Mỗi một đảo san hô vòng là tập hợp của các đảo nổi và bãi ngầm bao bọc một lagoon rộng lớn với đường kính có thể lên đến 50 km.

Cũng như những sinh vật khác, san hô đòi hỏi cả thức ăn và chất dinh dưỡng vô cơ. Thức ăn cho san hô có thể lơ lửng trong nước biển như những mảnh nhỏ bao gồm cả sinh vật đang sống. Cũng như những nơi khác, trên rạn có những sinh vật ăn các sinh vật này và bị ăn bởi các sinh vật khác và như thế chuỗi thức ăn được hình thành, trong đó tất cả các động thực vật đều liên hệ với nhau. Tảo cộng sinh đáp ứng cho san hô tới 80% nhu cầu thức ăn tổng số của chúng.

Hầu hết các rạn san hô tồn tại trong môi trường nghèo chất dinh dưỡng nhưng chúng lại có năng suất xấp xỉ như rừng nhiệt đới. Nhiều tác giả đánh giá hệ sinh thái san hô là cơ sở dinh dưỡng hữu cơ, và là nguồn cung cấp thức ăn không chỉ cho bản thân sinh vật sống trong rạn mà còn cho cả vùng biển chung quanh. Theo TS Nguyễn Văn Trai (Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh), các rạn san hô được coi là một trong những hệ sinh thái có năng suất cao nhất trên thế giới. Chúng chiếm khoảng 0,1% diện tích bề mặt quả đất, nhưng nghề cá liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với rạn san hô mang lại khoảng 10% sản lượng nghề cá thế giới. Sức sản xuất sơ cấp của rạn san hô thường cao hơn vùng ngoài rạn đến hàng trăm lần.

Rạn san hô thường gắn bó chặt chẽ với rừng ngập mặn, thảm cỏ biển nên chúng tạo cho thủy vực năng suất cao. Hàng năm, rạn san hô cung cấp hàng triệu tấn carbon cho các vùng nước lận cận phục vụ cho quá trình sống trong đại dương.

Rạn san hô cũng được coi là hệ sinh thái quan trọng nhất, chúng bao gồm nhiều loài đặc trưng đại diện cho hầu hết các nhóm động vật biển. Một số lượng lớn các hang hốc trên rạn cung cấp nơi trú ẩn cho cá, động vật không xương sống đặc biệt là cá con. Nhiều sinh vật rạn san hô như cá, rùa, tôm hùm, bạch tuộc, trai ốc và rong đỏ được khai thác làm thực phẩm. Nguồn khai thác nhiều nhất là cá. Sản lượng lớn nhất của cá khai thác quanh rạn thuộc về các nhóm cá di cư, chỉ vào rạn theo mùa như cá thu, cá ngừ… Những loài cá này phân bố rộng trong đại dương nhưng trong một thời gian chúng đến gần các rạn để kiếm thức ăn và trong một số trường hợp là để sinh sản. Các loài cá trải qua cả cuộc đời trong rạn như cá mú, cá hồng… có thể đánh bắt quanh năm nhưng sản lượng không lớn. Tôm hùm là nguồn lợi gắn liền với rạn. Các nguồn lợi khác sinh sống tại vùng rạn là bạch tuộc, trai tai tượng, trai ốc, cá cảnh…

Các loại rong biển cũng được khai thác nhiều ở rạn san hô. Một số trong chúng có giá trị dinh dưỡng cao do chứa nhiều vitamin và muối khoáng. Một số sinh vật như các loài trai ốc được khai thác làm đồ lưu niệm, trang sức. Các loài rắn biển cũng được khai thác cho mục đích y học.

Các rạn san hô được coi là kho dược liệu dưới đáy biển do có mặt nhiều nhóm sinh vật có hoạt tính sinh học hoặc độc tố có giá trị dược liệu. Các loài san hô sừng, san hô mềm cho nhiều hoạt chất có giá trị dược liệu. Tính đa dạng của các loài trên san hô cao đến mức rạn được coi là “kho dự trữ” gien. Chúng lưu trữ nhiều chứng cứ để chúng ta có thể hiểu được các quần thể động thực vật phát triển như thế nào và có chức năng gì, cũng như chúng có thể có những giá trị tiềm ẩn trong tương lai.

Sự phức tạp về quá trình hình thành, sự khác nhau về hình dạng, màu sắc và trạng thái của sinh vật đã làm cho rạn có vẻ đẹp hiếm có và lôi cuốn đối với con người. Rạn là nguồn cảm hứng và đối tượng cho các nhà nhiếp ảnh dưới nước và của các nhà khoa học. Rạn cũng là nguồn lợi to lớn phục vụ cho giải trí và du lịch và được coi là có một giá trị văn hóa hiện đại.

Bơi và lặn là một cơ sở cho việc phát triển kinh tế đối với nhiều vùng đảo nhỏ, nơi mà tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là ánh nắng mặt trời, biển và thủy sản. Trước đây, câu và săn cá rạn là môn thể thao chính trên rạn, giờ đây xem và chụp ảnh sinh vật rạn trở nên hấp dẫn hơn. Trong vài thập niên gần đây do nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí tăng cao, rạn trở thành nguồn thu lớn cho ngành du lịch sinh thái. Các nguồn thu từ du lịch rạn san hô ở Australia (Great Barrier Reefs) hàng năm thu gần 2 tỷ đô la Australia. Các rạn của Florida thu mỗi năm thu 1,6 tỷ USD, chỉ riêng du lịch lặn ở Caribe và Hawaii thu khoảng 300 triệu USD.

Du lịch lặn ở Việt Nam bắt đầu khởi sắc từ cuối những năm 1990. Thành phố Nha Trang được coi là trung tâm của du lịch biển Việt Nam, nơi có rạn san hô đa dạng và tuyệt đẹp. Năm 2003, khách du lịch đến Nha Trang mang về cho tỉnh Khánh Hòa khoảng 300 tỷ đồng Việt Nam. Khánh Hòa cũng là nơi đầu tiên ở Việt Nam khai thác rạn san hô như là nguồn cảm hứng cho các cuộc thi chụp ảnh. Tham quan rạn san hô cũng phát triển ở Côn Đảo, nhưng còn ở quy mô nhỏ và chưa trở thành hoạt động du lịch chính thức. Cù Lao Chàm đang định hướng phát triển du lịch biển song song với thiết lập khu bảo tồn biển. Khách du lịch cũng góp phần quan trọng cho sự phát triển của huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang trong những năm gần đây.

Hệ sinh thái rạn san hô đang đứng trước đe dọa nghiêm trọng, trong đó có tình trạng xâm thực sinh học. Từ giai đoạn ấu trùng đến tập đoàn trưởng thành, san hô bị bao vây bởi một loạt các sinh vật ăn san hô. Nổi bật nhất trong chúng là Sao biển gai, nhiều khi trở thành đại dịch tiêu diệt những vùng san hô rộng lớn. Tuy nhiên, địch hại nghiêm trọng nhất đối với san hô là cá, nhiều loài có răng thích hợp để ăn các polyp san hô.

Tuy nhiên, mối đe dọa lớn nhất chính là các hoạt động của con người. Cụ thể, đó là sự ô nhiễm và lạm dụng nghề cá, sự phá hoại về vật lý đối với các rạn san hô do giao thông hàng hải và tình trạng khai thác san hô làm vật liệu xây dựng và nguyên liệu công nghiệp gây ra. Ngành kinh doanh hải sản tươi sống đã được xem là một nguyên nhân của sự suy thoái do việc sử dụng xyanua và các hóa chất khác khi đánh bắt các loài cá nhỏ. Cuối cùng, nhiệt độ nước cao hơn bình thường do các hiện tượng khí hậu như El Niño và sự ấm lên toàn cầu có thể làm san hô bị chết.

Một công trình nghiên cứu mới đây cho thấy khoảng 50% rạn san hô trên toàn thế giới đã bị phá hủy trong 30 năm qua. Và mỗi năm, từ 1 – 2% rạn san hô trên toàn thế giới lại bị phá hủy do sự ô nhiễm bờ biển và sự biến đổi khí hậu. Theo The Nature Conservancy, nếu sự phá hủy tăng lên theo tốc độ hiện hành, 70% các rạn san hô trên thế giới sẽ biến mất trong vòng 50 năm tới. Sự mất mát này sẽ là một thảm họa kinh tế đối với những đất nước ở vùng nhiệt đới. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau đối với các hệ thống rạn san hô. Có nhiều nhân tố, trong đó có hiện tượng biển nhiễm điôxít cacbon, axít hóa đại dương, ảnh hưởng của bão cát, các chất ô nhiễm, ảnh hưởng của sự bùng nổ tảo.

Các rạn san hô là các cấu trúc sinh học phù hợp với những vùng nước dinh dưỡng thấp. Tình trạng phá hủy của rừng đước cũng như sự suy giảm diện tích các vùng đất ngập mặn đều được xem là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nước tại các rạn san hô ngoài biển, ảnh hưởng đến các rạn san hô.

Hiện trạng rạn san hô Việt Nam

Vùng biển Việt Nam tập trung khoảng 340 loài san hô trong tổng số 800 loài của thế giới, phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam. Rạn san hô biển tập trung với mật độ cao ở vùng biển Nha Trang, Trường Sa, Hoàng Sa, biển Hòn Mun – Khánh Hòa. Sống cùng với hệ sinh thái này là trên 2000 loài sinh vật đáy và cá trong đó khoảng 400 loài cá san hô cùng nhiều hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm… Ở vịnh Hạ Long, phát hiện được 205 loài san hô cứng, 27 loài san hô mềm. Ở Côn Đảo, có 219 loài san hô, tập trung thành khu vực lớn kèm theo 160 loài cá san hô.

Tuy nhiên, hệ sinh thái rạn san hô Việt Nam đang đối diện với những de dọa từ con người như đánh bắt cá bằng thuốc nổ, hóa chất độc, khai thác san hô bừa bãi, hoạt động du lịch và các hoạt động kinh tế xã hội khác.

Người ta cho rằng, chín phần mười trong số hơn 1000 km2 rạn san hô ở Việt Nam đang ở tình trạng nguy cấp. 96% san hô bị đe dọa, trong đó 75% bị đe dọa nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Năm 1985, san hô có mặt ở hầu khắp các vùng ven đảo ở vịnh Hạ Long. Đến năm 1998, diện tích san hô chỉ còn 2/3 so với năm 1985. Một khảo sát vào tháng 6 năm 2006 cho thấy hầu như không còn san hô tại các vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Đi cùng với sự suy thoái của san hô trong vùng là sự vắng bóng của các loài hải sản quý và sự suy giảm sản lượng đánh bắt thủy sản nói chung.

Các nhà môi trường và bảo tồn thiên nhiên cảnh báo: Nếu hệ sinh thái rạn san hô bị mất, biển nước ta có nguy cơ sẽ trở thành “thủy mạc” không còn tôm cá nữa.

BDN (tổng hợp)

]]>