Văn hoá – Thể thao Biển – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Wed, 27 May 2015 03:10:24 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Văn hoá biển trong đời sống tinh thần của người Việt https://biendong.net/2015/05/27/van-hoa-bien-trong-doi-song-tinh-than-cua-nguoi-viet/ Wed, 27 May 2015 03:10:24 +0000 http://localhost/wp/2015/05/27/van-hoa-bien-trong-doi-song-tinh-than-cua-nguoi-viet/ vanhoabien

BienDong.Net: Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển với khoảng 20 triệu cư dân có cuộc sống gắn liền với biển. Từ hàng ngàn năm qua, người Việt đã sống chung, khai thác và chinh phục biểnBiển giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của người Việt từ bao đời nay. Theo TS Trần Thị Mai An (Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng). trong số các yếu tố cấu thành nên văn hoá Việt, yếu tố biển giữ một vai trò quan trọng, ngày càng được bộc lộ đậm nét.

Trong bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 6 (41), TS Mai An cho rằng văn hoá bản địa của những cộng đồng Việt đầu tiên chịu sự chi phối và mang các đặc điểm chung của cơ tầng văn minh Đông Nam Á. Đó là một nền văn minh nông nghiệp lúa nước với một phức thể văn hoá gồm 3 yếu tố: Văn hoá đồng bằng, văn hoá núi và văn hoá biển. Các biểu hiện của 3 yếu tố ấy không phải xuất hiện cùng một lúc mà có cái trước, cái sau, và đan cài vào nhau trong quá trình tồn tại, phát triển. Như vậy, nghiên cứu văn hoá Việt Nam không thể không khẳng định rằng nền văn hoá nông nghiệp lúa nước là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu hình thành nên văn hoá bản địa, nhưng những yếu tố văn hoá biển – vốn là kết quả ứng xử của cư dân nông nghiệp khi họ từ các cửa sông vươn ra biển cũng là những cơ sở hình thành tính cách độc đáo của con người Việt Nam: tính cách thâm trầm, kín đáo, quyết liệt ở bên trong mà ôn nhu, mềm dẻo, đôn hậu với bên ngoài.

Các yếu tố cội nguồn văn hóa biển

Sẽ là không đầy đủ nếu không nói về nguồn gốc yếu tố biển trong cộng đồng người Việt. Theo GS. Ngô Đức Thịnh, người Việt không có nguồn gốc biển mà cơ bản là cư dân sống ở vùng trước núi (gồm cả trung du) tràn xuống khai thác đồng bằng lầy trũng, rồi lấn biển và khai thác biển. Có cái gì tạm gọi là truyền thống biển ở người Việt là do, hoặc là giao tiếp, tiếp thu từ các tộc láng giềng (cư dân nam Đảo) hay hình thành nên trong quá trình khai thác và lấn biển sau này.

vanhoabien2

Biển là nguồn sinh kế của hàng triệu người Việt (Ảnh minh họa của BienDong.Net)

Nghiên cứu và tìm hiểu nguồn gốc yếu tố biển trong văn hoá người Việt đang là một đề tài thách thức các nhà khảo cổ học, ngôn ngữ học, lịch sử hay nhân học… Có ý kiến cho rằng từ cách đây khoảng 3000 – 4000 năm, cùng đồng thời với văn hoá khảo cổ tiền Đông Sơn và Đông Sơn, trên cơ tầng Mon – Khơme, một trong những chủ nhân quan trọng của các nền văn hoá bấy giờ, cư trú ở Bắc khu IV cũ đã tiếp xúc với cư dân nói ngôn ngữ Tày – Thái cổ ở phía Bắc và cư dân Nam Đảo ở ven biển phía Đông (có thể là tổ tiên người Hạ Long, Hoa Lộc). Kết quả của quá trình giao tiếp đó đã hình thành người Việt cổ. Họ – chủ nhân văn hoá Đông Sơn đã đạt tới trình độ văn minh hình thành nhà nước, sau khi tiếp xúc với người Hán và văn minh Trung Hoa; từ đó định hình tộc người Việt hiện đại và đạt tới đỉnh cao (thể hiện qua văn hoá Lý Trần rực rỡ, mở đầu nền văn minh Đại Việt).

Đi theo giả thiết này các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm tòi những yếu tố biển mà người Việt cổ đã tiếp thu từ cư dân nói ngôn ngữ Nam Đảo láng giềng, qua các địa danh từ vựng, huyền thoại… và cũng như vậy tìm hiểu những ảnh hưởng của Tày – Thái cổ trong người Việt cổ. Tuy nhiên dù có giao tiếp và ảnh hưởng đến đâu thì người Việt cổ, chủ nhân văn hoá Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng và sông Mã vẫn cơ bản là cư dân nông nghiệp. Đó là một nền văn hoá – văn minh mang đậm yếu tố sông nước chứ không phải yếu tố biển.

Và trong quá trình phát triển, nhất là khi “lấn biển” và “nam tiến” thì “chất biển” trong văn hoá người Việt được tăng lên. Nguyên nhân thứ nhất là vì, họ từ trung du xuống khai thác đồng bằng lầy trũng sông Hồng rồi tiến ra lấn biển làm nông nghiệp và khai thác biển, nhân tố đó đặt họ ở thế “đứng trước biển”. Và vì thế, “quai đê lấn biển” nhằm khai phá những vùng sình lầy, phù sa ven biển đã trở thành truyền thống của người Việt cổ.

Tác giả Từ Chi và Phạm Đức Dương trong bài nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh đến hình thức trồng khoai lang trên bãi cát là một dạng trồng trọt nông nghiệp khá đặc thù ở miền duyên hải. Ở đây khoai trở thành lương thực chính, có năng suất cao, vì người trồng đã biết kết hợp một cách khéo léo sự xử lý các yếu tố kỹ thuật của một không gian đồng bằng vào không gian biển trong cách trồng trọt. Và bên cạnh đó, các tác giả còn nhấn mạnh đến một sản phẩm nông nghiệp rất có giá trị được trồng trong các vùng sình lầy do phù sa của sông đổ ra là cây Cói. Đây là loại cây chứng minh cho sự “quai đê lấn biển” để trồng trọt của người Việt. Thứ hai, người Việt đã tiếp nhận truyền thống biển từ người Chăm và không loại trừ một bộ phận không nhỏ người Chăm từ sau thế kỷ XI trở đi, đã Việt hoá, tức người Việt gốc Chăm. Điển hình của sự trao nhận này được thể hiện nhiều ở kỹ thuật đóng thuyền, mà cụ thể là thông qua chiếc chiếc ghe bầu ở Quảng Nam – Đà Nẵng, ở tri thức dân gian về các hiện tượng thiên nhiên của biển, về các loài cá và kỹ thuật đánh bắt hải sản, ở các phong tục, tín ngưỡng và lễ nghi của cộng đồng những người đi biển…

Hình tượng cơ bản của yếu tố biển trong tri thức dân gian

Trước khi dòng tri thức bác học ra đời gắn với hệ thống chữ viết, trong dòng tri thức dân gian, các nhà nghiên cứu đã chú ý đến những chi tiết truyện cổ, truyền thuyết mang dấu ấn vùng biển.

Việc tìm hiểu, thờ phụng Chử Đồng Tử trong biểu tượng Tứ bất tử ở Việt Nam là một trong những chi tiết đáng chú ý nhất. Cho đến nay người ta vẫn chưa rõ quan niệm và tên gọi “Tứ bất tử” có từ bao giờ, do ai đặt ra… và ngay trong con số bốn vị thánh bất tử ấy thì cũng chưa thật thống nhất. Nhưng nhìn chung, hình tượng của Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh được xem là Tứ thánh bất tử phổ biến ở Việt Nam. Trong đó Thánh Tản Viên là sự biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng và khẳng định sức mạnh ấy trước tự nhiên, chống lại các yếu tố mưa, gió, lũ lụt, bảo vệ và mở rộng lãnh thổ cộng đồng. Thánh Gióng là biểu tuợng cho sức mạnh đoàn kết của cộng đồng trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ và quyền sống của dân tộc. Chử Đồng Tử, biểu tượng cho ước muốn xây dựng một xã hội ổn định, cân bằng, khoan hoà trong những mối quan hệ xã hội mà trong đó con người trở về với những trạng thái tự nhiên ban đầu của nó trong tình yêu, hôn nhân, đối nhân xử thế, cứu độ chúng sinh, đảm bảo sự trường tồn của cộng đồng trong quá trình chinh phục đồng bằng lầy trũng, phát triển ngành nghề, giao lưu buôn bán, mang lại phồn vinh cho cộng đồng. Thánh Mẫu Liễu Hạnh, hình ảnh của một vị thần linh gần gũi với đời sống trần tục, trong đó chứa đựng khát vọng sống của con người, nhất là người phụ nữ thoát khỏi những ràng buộc khắc nghiệt của xã hội Nho giáo, đạt tới ước mơ hạnh phúc gia đình.

Xung quanh hình ảnh của Thánh Chử Đồng Tử, bắt nguồn từ câu chuyện tình yêu tuyệt đẹp của chàng trai nghèo Chử Đồng Tử và Tiên Dung – con gái yêu của vua Hùng thứ 18. Câu chuyện thể hiện ước nguyện mãnh liệt và bất diệt của con người muốn chiến thắng số phận. Tình yêu của họ đã vượt qua ranh giới rào cản của tầng lớp giàu nghèo trong xã hội. Tuy thấm nhuần triết lý vô vi của Đạo Lão, hình tượng Chử Đồng Tử và Tiên Dung toát lên tính nhân bản sâu sắc, gần gũi với đời thường. Họ là thần tiên nhưng không cách biệt với nhân gian con người. Theo lời Gs Ngô Đức Thịnh, sự gặp gỡ giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử dường như là sự “gặp gỡ” của 2 cách sống, 2 luồng văn hoá nông nghiệp trên đồng ruộng và chài lưới trên sông nước. Hình ảnh Chử Đồng Tử dường như là hình ảnh của một chàng trai thoát thai từ hình tượng của cá, rắn, thuồng luồng của thế giới sông nước như nhiều dân tộc bản địa Đông Nam Á, kết duyên với Nàng Tiên mang biểu tượng núi, đất liền. Và phải chăng câu chuyện này cũng là sự thể hiện và mang màu sắc lịch sử của quy luật kết hợp giữa rồng và Tiên của tộc Việt xa xưa. Trong thực tế, những chi tiết được nhắc tới trong câu truyện Tiên Dung – Chử Đồng Tử gợi nhắc mọi người nghĩ đến môi trường sinh thái dọc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng: Chử Xá (Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội), Tự Nhiên (Hồng Châu, Thường Tín, Hà Tây), Đa Hoà (Bình Minh, Châu Giang, Hưng Yên), Dạ Trạch (Yên Vĩnh, Châu Giang, Hưng Yên)…, nơi vùng trũng nhiều đầm hồ ở gần cửa sông Hồng. Ở đây tiềm ẩn bên dưới sự hiện hữu lớp văn hoá sông nước của các làng thuỷ cơ và đâu đó là các dấu lớp văn hoá biển biểu hiện qua tục lệ thờ Càn Hải Đại Vương, Tứ Vị Thánh Nương (tích vết xa xưa của nó có thể là tục thờ cá Voi, thờ thần biển).

Hình thức sinh kế biển sơ khai của dân tộc Việt

Như vậy, “Quai đê lấn biển” là cách ứng xử đầu tiên của người Việt khi từ vùng trung du xuống khai phá những vùng sình lầy, phù sa ven biển nhưng vẫn mang trong mình các tố chất của một cư dân nông nghiệp, cần cù, sáng tạo, khôn khéo. Và cách ứng xử thứ hai là trong khi áp dụng mô hình nông nghiệp vào vùng duyên hải, người Việt đã nhận ra giá trị của biển nên đã dần mở rộng không gian của một làng nông nghiệp đồng bằng thành một không gian gồm nhiều làng và có sự đan xen sản xuất nông nghiệp, phát triển nghề đánh bắt cá, nghề làm muối…; trong tổ chức đời sống xã hội tạo đuợc những “hội” của những người đi biển bên cạnh cơ cấu xã hội nông nghiệp cổ truyền… Và như vậy, cho dù sinh hoạt trên đất liền và hướng về mô hình nông nghiệp truyền thống, nhưng những cư dân sống ở vùng đồng bằng lầy trũng đã và vẫn mang tư tưởng “khai thác biển” trong sinh kế của mình. Và dĩ nhiên, trong tâm tưởng họ, biển là nguồn tài nguyên vô giá về các loài cá, là sự đại diện cho một thế lực siêu nhiên huyền bí mà con người vừa muốn chinh phục lại vừa sợ hãi. Do đó trong tâm thức người Việt, song song với những chuyến đi khai thác biển, là sự hình thành và phát triển hệ thống tín ngưỡng thờ thần Biển rất phong phú. Phổ quát nhất có lẽ là hình ảnh thờ cá Ông (cá Voi), Tứ Vị Thánh Nương (Thần Độc Cước, Dương Không Lộ, Long Vương, Thuỷ thần) của ngư dân ven biển.

Cá Voi là hình ảnh của một vị thần hiển linh của biển cả, luôn gần gũi giúp đỡ con người trước sự huyền bí của đại dương. Vì thế với cư dân nghề biển, cá Voi không những đuợc kính trọng trong tâm tưởng mà khi chết còn được cư dân cải táng một cách trang trọng, bài bản với các lễ tiết kéo dài và nghiêm trang.

Tục thờ cá Voi được nhắc đến khá nhiều trong các ghi chép cổ ở Việt Nam như Đại Nam Nhất Thống Chí, hay trong nghiên cứu về ngư dân Nguồn Sơn của Linh mục L. Cadiere… Khi gặp cá còn sống, ngư dân phải nghiêng mình kính cẩn lạy tạ, xin Đức Ngài cho đánh được tôm cá, ra khơi yên ổn bình an. Còn khi cá Voi chết tấp vào bờ phải tổ chức lễ tang cho Cá. Lễ chôn cất cá Ông có một điểm giống nhau trong mọi địa phương là người thấy xác cá Ông đầu tiên trên bãi biển, trong đám tang phải mặc tang phục như một trưởng nam và trong lúc đưa đám phải đi lùi trước linh cữu. Cá Voi thường được chôn sau miếu thờ Đức ngư, nơi giống như một nghĩa trang với kích thước ngôi mộ khoảng từ 15 – 20cm, rộng 5m và cao 3m. Cũng giống như lễ tang con người, việc chôn cá Voi cung theo trình tự lễ chôn, lễ mở cửa mả… một cách trọng thể.

Như vậy, những cư dân nghề biển, họ không những tôn sùng cá Voi như một vị thần linh mà còn là một “con người” có thật. “Con người” ấy biết sống bao dung nhân ái, và giúp đỡ cộng đồng khi gặp hoạn nạn. Kiểu quan niệm đó dường như đã làm cho mối quan hệ giữa người và thần gần gũi hơn và quan điểm huyền bí của họ cũng được lý giải một cách hiện thực hơn. Sự tôn sùng và chôn cất xác cá Ông được tấp vào bờ dường như là một sự trả ơn mang màu sắc huyền bí nhưng đồng thời cũng phù hợp với đạo lý “nhớ ơn” của người Việt. Tục thờ cá Ông quả thật là một trong những biểu hiện của tín ngưỡng dân gian độc đáo không thể thiếu được trong đời sống của ngư dân ven biển Việt Nam.

Các yếu tố “đô thị” biển trong lịch sử

Một dấu vết khác của yếu tố biển trong văn hoá Việt Nam biểu hiện qua sự xuất hiện của các đô thị xưa, mà cụ thể là Vân Đồn, phố Hiến, Hội An,… Vân Đồn (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh). là thành phố đảo ngoại thương lớn nhất nước ta vào cuối thế kỷ XIII. Từ thế kỷ XV cho đến thế kỷ XVII, Vân Đồn là một trong những trung tâm thương mại, mậu dịch nổi tiếng ở vùng Đông Bắc Á, Đông Nam Á. Đồ gốm sứ, trầm hương, ngọc trai, ngà voi, gỗ lim, tơ lụa từ Việt Nam đã xuất cảng sang Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Philippines…

Phố Hiến là đô thị phát triển cực thịnh thời nhà Lê, thế kỷ XV. Câu nói dân gian được phổ biến lúc bấy giờ là “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” Phố Hiến (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là một thành phố thương mại lớn nằm ở đồng bằng Bắc bộ, nơi thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan,… thường xuyên lui tới.

Hội An là thương cảng lớn vào loại bật nhất ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á vào đầu thế kỷ XVII. Hội An (thuộc tỉnh Quảng Nam) nằm ở cửa sông Thu Bồn, nơi tiếp giáp với Biển Đông và một thương cảng đông đúc người Hoa, người Nhật, người phương Tây.

Chúng ta còn có thể kể thêm nhiều phố cảng như Thanh Hà, Bao Vinh ở Thừa Thiên – Huế, Nước Mặn (Bình Định)… nhưng một vài phố cảng nêu ở trên cũng đủ minh chứng rằng người Việt từ rất sớm đã biết hướng ra biển để mở rộng giao lưu buôn bán với bên ngoài.

PGS.TS. Nguyễn Quang Ngọc đã có lý khi nêu lên con đường phát triển đô thị ở nước ta thời trung cổ đại là từ kinh kỳ xuôi về biển: Kẻ Chợ (Kinh Kỳ – Hà Nội), Phố Hiến (cảng Thị, cửa ngõ của Kinh kỳ) và Doméa (cảng biển ở vùng cửa ngõ trấn giữ Biển Đông).

Rõ ràng người Việt hướng ra biển, tiếp nhận sự mặn mòi của biển không chỉ về nguồn lợi hải sản, mà còn nguồn lợi về giao lưu buôn bán, về tầm nhìn và quan hệ thông thương với thế giới bên ngoài.

TS Mai An cho rằng với một vài phác thảo về yếu tố biển trong chân dung văn hóa Việt Nam ở trên, chúng ta thấy biển tuy không nổi bật, không lấn lướt các yếu tố núi và đồng bằng, nhưng rõ ràng sự hiện hữu của nó là điều khẳng định. Người Việt luôn hướng và tiến ra biển để ngọn gió trong lành của nó mang đến những điều tốt đẹp cho con người: lấn biển mở đồng bằng, nguồn lợi cá tôm, nguồn lợi giao lưu buôn bán và nguồn lợi về một tầm nhìn thoáng mở… Chính vì thế, việc nghiên cứu yếu tố biển trong dải tầng của văn hóa Việt Nam càng lý thú, cần thiết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Từ Chi – Phạm Đức Dương, Vài nhận xét về cách ứng xử của người Việt trước biển, Tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ, Số 1. 1996, Viện Văn hóa dân gian.

[2] Vũ Ngọc Khánh – Ngô Đức Thịnh (1990), Tứ Bất tử, NXB Văn hoá Dân tộc. Hà Nội.

[3] Ngô Đức Thịnh, Phụng thờ Chử Đồng Tử trong biểu tượng Tứ bất tử Việt Nam, T/c Văn hóa dân gian số 2 (70)/2000.

[4] Viện nghiên cứu Văn hoá dân gian (2000), Văn hoá dân gian làng ven biển, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội.

BDN

]]>
Khai quật những con tàu cổ tại Quảng Ngãi: “Con đường tơ lụa” trên Biển Đông https://biendong.net/2014/10/16/bai-1-3/ Thu, 16 Oct 2014 06:57:06 +0000 http://localhost/wp/2014/10/16/bai-1-3/ BienDong.Net: Các nhà khảo cổ học dưới nước vừa phát hiện các mảnh vỡ gốm sứ và các phiến đá cổ ở vùng biển đảo Bé (Lý Sơn, Quảng Ngãi) được cho là dấu tích của hai con tàu cổ đắm nằm lại ở vùng biển này.

Những phát hiện mới nhất cho một hình dung rõ hơn về “con đường tơ lụa” trên Biển Đông, mở ra hướng nghiên cứu cho các nhà khảo cổ, cũng như tiềm năng phát triển du lịch biển ở Quảng Ngãi.

 

Vị trí phát hiện dấu tích tàu cổ chở gốm, sứ ở vùng biển Lý Sơn. Ảnh: Công ty Đoàn Ánh Dương cung cấp

Phong phú di sản văn hóa dưới nước

Từ năm 1999 đến nay, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện 10 xác tàu cổ đắm ở các vùng biển Quảng Ngãi, tập trung nhiều nhất ở khu vực Bình Châu (H. Bình Sơn, gần đảo Lý Sơn). Theo quan điểm của các chuyên gia khảo cổ, vùng biển Bình Châu – Bình Sơn thực sự là một “nghĩa địa tàu cổ đắm” với những phát lộ liên tục trong những năm qua.

Theo tiến sỹ Nguyễn Đăng Vũ – Giám đốc Sở VH – TT – DL Quảng Ngãi – từ xa xưa cư dân Đông Nam Á đã đóng được những con tàu vượt biển, đi lại và buôn bán với các nước trên thế giới, vùng Biển Đông Nam Á là nơi neo đậu tàu thuyền của các nhà buôn Phương Tây và Phương Đông. Con đường hàng hải trên Biển Đông là con đường giao thương và truyền giáo quan trọng. Những năm qua, dấu tích của các con tàu cổ đắm được phát hiện nằm rải rác ở các vùng biển Việt Nam. Riêng khu vực miền Trung và Quảng Ngãi có đường bờ biển dài và nhiều đảo, là cầu nối quan trọng kết nối các nền văn hóa trên thế giới.

Điều này gợi lại ký ức về con đường hải hàng từng tồn tại nhiều thế kỷ trước. Theo miêu tả của William Dampier trong cuốn “Một chuyến du hành đàng ngoài” năm 1688, hòn Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) và các đảo ven bờ khác có nhiều tàu thuyền tới lui để giao thương buôn bán. William Dampier cũng đề cập tới những con tàu bị đắm và giới cai trị khét tiếng với việc nô dịch hà khắc những thủy thủ bị chìm tàu.

Ngày 13.10, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ngãi phối hợp tổ chức trưng bày triển lãm “Di sản văn hóa dưới nước” tại bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi. Hơn 500 hiện vật là di sản được trục vớt ở Quảng Nam, Quảng Ngãi là di sản của văn hóa Chăm Pa, gốm sứ Chu Đậu thời Lê thế kỷ XV, đồ đồng triều Tuyên Đức (thời Minh – Trung Quốc) (1426 – 1435), gốm sứ thời Minh thế kỷ XV, súng đạn thần công triều Nguyễn thế kỷ XIX…

Ông Nguyễn Đăng Vũ cho rằng ngoài những di sản đã được phát hiện, trục vớt, vùng biển Quảng Ngãi còn chứa đựng trong lòng nó nhiều điều bí ẩn cần được nghiên cứu sâu hơn.

Các nhà khảo cổ học quốc tế đến Lý Sơn khảo sát

Từ 14 – 16.10, Hội thảo khoa học quốc tế: “Khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam và Đông Nam Á: Hợp tác để phát triển” sẽ được tổ chức Quảng Ngãi. Hội thảo có 170 đại biểu trong nước và quốc tế, trong đó có 48 nhà khoa học nước ngoài đến từ 17 quốc gia, vùng lãnh thổ nước ngoài. PGS.TS Nguyễn Giang Hải – Viện trưởng Viện Khảo cổ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam – cho biết, các nhà khoa học nước ngoài sẽ chia sẻ về kinh nghiệm khảo cổ dưới nước, cũng như cách bảo tồn và phát huy tiềm năng các di sản này theo điều kiện đặc thù của mỗi nước.

 

Các nhà khảo cổ học quốc tế tranh luận về niên đại các đồng tiền cổ được tìm thấy trong xác tàu đắm. Ảnh: L.P

 Trong khuôn khổ chương trình, các nhà khoa học sẽ khảo sát vùng biển Vũng Tàu (Bình Châu, Bình Sơn), cảng Sa Kỳ và đảo Lý Sơn, để có cái nhìn chân thực hơn về di sản văn hóa dưới nước nằm lại ở các vùng biển này.

Một câu hỏi quan trọng cần lời giải là cân nhắc 2 phương án: Giữ hiện trạng các hiện vật dưới lòng biển, hay đưa vào bảo tàng để phục vụ nghiên cứu, tham quan du lịch. Ông Nguyễn Giang Hải cho rằng, điều này tùy thuộc vào từng loại hiện vật cụ thể, nhưng xác tàu cổ đắm thì phương án để nguyên hiện trạng dưới nước là lựa chọn tối ưu hơn. Giáo sư Mark Standiforth – chuyên gia khảo cổ học đến từ Đại học LA TROBE, Australia – cho rằng cần nghiên cứu sâu các di sản này để lựa chọn bảo tồn dưới nước hay đưa lên trên cạn.

Theo ông Nguyễn Giang Hải, hội thảo khoa học sẽ thảo luận các vấn đề hàn lâm, vì các nhà khảo cổ học đến đây đều là các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Nhưng ông Hải cũng nhấn mạnh đến mục tiêu “khảo cổ học cộng đồng”, tức người dân tham gia vào việc phát hiện, bảo tồn và được hưởng lợi vì việc bảo tồn di sản. Các nghiên cứu hàn lâm sẽ được ứng dụng vào thực tiễn để phát triển du lịch.

BDN (theo LĐ)

]]>
Bè mảng Sầm Sơn và hành trình vượt Thái Bình Dương https://biendong.net/2014/03/13/be-mng-sm-sn-va-hanh-trinh-vt-thai-binh-dng/ Thu, 13 Mar 2014 09:30:24 +0000 http://localhost/wp/2014/03/13/be-mng-sm-sn-va-hanh-trinh-vt-thai-binh-dng/ BienDong.Net: Cách đây 21 năm, một chiếc bè mảng bằng tre luồng xuất phát từ bãi biển Sầm Sơn do Tim Severin, một nhà bác học về biển người Ireland chỉ huy bắt đầu chuyến hành trình vượt Thái Bình Dương.

Mục đích của chuyến đi là để chứng minh một giả thiết mà nhiều nhà khoa học đã đề xuất: Từ hàng nghìn năm trước đây đã có những cuộc vượt biển từ vùng Đông Nam Á, từ bán đảo Đông Dương, từ phía Nam Trung Quốc… bằng các phương tiện thô sơ, tạo nên cuộc giao thoa văn hóa giữa Châu Á và vùng Trung Nam Châu Mỹ.

 

Chiếc mảng được làm từ những cây luồng đã chịu đựng với sóng biển suốt hàng nghìn hải lý.

Khác với các mảng đánh cá thông thường, mảng vượt biển Sầm Sơn được tăng cường bởi ba lớp tre luồng với tổng cộng 550 cây và hàng nghìn mối buộc lạt mây. Mảng phải làm theo lối cổ xưa, khi không có những đinh sắt hay dây thép dây ni lông chằng buộc, không có những miếng foam hỗ trợ cho bè mảng khỏi chìm. Chiếc bè mảng là thành quả lao động trong gần sáu tháng trời của gần một trăm người thợ phường Trường Sơn thị xã Sầm Sơn ngày nay.

Sau khi hoàn tất và được hạ thủy an toàn trong một nghi lễ đầy màu sắc dân gian tại đền Độc Cước, chiếc mảng được kéo ra Bãi Cháy Hạ Long. Tại đây, bè được lắp ba cánh buồm nâu được may cắt công phu bởi những người thợ tài hoa vùng Phong Cốc Hà Nam, Yên Hưng Quảng Ninh.

Từ Hạ Long, chiếc mảng được cẩu lên tàu của Công Ty Vận Tải Biển Việt Nam chạy sang Hongkong để hoàn tất công việc chuẩn bị, và ngày 17/05/1993, chiếc mảng bắt đầu chuyến hành trình ven theo đảo Đài Loan, ghé qua Nhật Bản sau đó hướng thẳng sang phía Đông vượt Thái Bình Dương.

Tim Severin, người chỉ huy cuộc hành trình 5 người này đã thực hiện nhiều chuyến thám hiểm nhằm lặp lại những chuyến đi của người xưa. Ngay từ thời còn là sinh viên, ông đã cùng bạn bè lặp lại chuyến đi của Marco Polo, nhà thám hiểm người Ý thế kỷ 13 đã vượt sa mạc sang Trung Quốc. Sau Tim, một thành viên thứ hai không kém phần quan trọng, đại diện cho những người đã làm nên chiếc mảng khổng lồ và là người thông thạo nhất kỹ thuật dân gian trong việc chế tạo và điều khiển mảng, đó là anh Lường Viết Lợi, (sinh năm 1959), người Việt Nam duy nhất trên chuyến hành trình đó. Chưa từng lên tới Hà Nội, không biết một chữ tiếng Anh, chàng trai 34 tuổi người Sầm Sơn không choáng ngợp trước ánh đèn Hongkong hay các đô thị Nhật Bản, hết sức tự tin hòa mình cùng tập thể đoàn thám hiểm trong suốt 6 tháng trời lênh đênh, trải qua bao sóng gió, hiểm nguy và cả cướp biển. Và chuyến đi này đã được nhà thám hiểm Tim Severin ghi lại chi tiết trong cuốn sách “Hành trình qua Thái Bình Dương bằng tre luồng”.

 

Ông Lường Văn Lợi với những kí ức của hành trình vượt biển

“Trên hành trình vượt Thái Bình Dương, chúng tôi đã gặp 4 trận bão, 2 lần suýt đụng tàu lớn và một lần gặp hải tặc. Theo phân công thì mỗi đêm một người trực hai tiếng, tôi nhớ hôm đó là giờ của tôi trực, nhưng Tim bảo để ông ấy trực cho. Do mảng chúng tôi không có điện, không có sắt thép nên tàu đi ngược chiều không thể phát hiện, khi kịp phát hiện thì nó đã ở gần rồi. Khi đó, mọi người tỉnh dậy bật toàn bộ điện, và tôi liền chạy lại nhấc tay lái cho mảng chệch sang một bên sườn của con tàu đang lao tới, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm”, ông Lợi nhớ lại.

Thực phẩm chuẩn bị cho nhóm thám hiểm ngoài đồ hộp, anh em còn dùng cung để bắn cá… Mảng được trang bị các thiết bị cứu sinh và liên lạc hiện đại, hệ thống điện năng lượng mặt trời và pin. Trong căn lều đơn sơ trên bè mảng, hàng ngày ông Tim chịu trách nhiệm liên lạc về đất liền qua vệ tinh và cập nhật thông tin về thời tiết.

Khi chiếc mảng còn cách bờ biển bang California, Mỹ khoảng 1.000 hải lý, nghe tin sắp có bão lớn và một số cây luồng đã bị tuột khỏi các nút buộc thì cả đoàn buộc phải rời mảng lên tàu trở về Tokyo kết thúc chuyến hành trình vượt Thái Bình Dương với hơn 5.000 hải lý. “Theo kinh nghiệm của tôi, chiếc mảng vẫn còn đi tốt, nhưng bên Nhật gọi điện sang đưa toàn bộ người lên tàu khác về, còn bỏ lại mảng”, ông Lợi kể.

Mặc dầu mới vượt được 85% khoảng cách Thái Bình Dương ngăn cách Châu Á và Châu Mỹ, hành trình 6 tháng trời với 5.500 hải lý đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của chiếc mảng sầm Sơn.

Chiếc mảng do Tim chỉ huy vượt Thái Bình Dương được chế tạo theo mẫu bè dân gian Sầm Sơn nhưng đã được nâng cao lên bởi khoa học hiện đại mà người thiết kế chính là kỹ sư đóng tàu người Anh Colin Mudie. Đó là một cái tên khá nổi tiếng mà bất cứ người nào làm công tác huấn luyện hải quân trên thế giới đều biết. Ông là tác giả của rất nhiều tàu buồm huấn luyện cho hải quân nhiều nước như Anh, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản…

 

Bè mảng Sầm Sơn trên biển Thái Bình Dương (Ảnh: Đỗ Thái Bình)

Colin tỏ ra rất thích thú với bất kỳ thử thách kỹ thuật lạ thường nào, và ông đã phát huy hàng loạt những kỹ năng đáng nể. Là một nhà thiết kế hàng đầu các tàu buồm huấn luyện, ông còn có cả một lượng kiến thức bách khoa về các loại thuyền buồm truyền thống và những con tàu buồm lịch sử. Nhờ đó ông đã lập được vô số bản thiết kế cho bất kể loại thuyền nào, từ bản sao chiếc thuyền buôn của thế kỷ 17 cho đến chiếc thuyền buồm cánh dơi.

Theo đề nghị của Tim, ông đã sẵn sàng để làm một bản thiết kế sơ bộ cho một chiếc mảng tre vượt đại dương dựa theo các số liệu đã thu thập được tại Sầm Sơn, cũng như là tham khảo các mẫu bè cổ và thuyền buồm trong sử sách. Để cẩn thận hơn, ông đã cùng vợ là bà Rosemary đã viết và cho chạy một chương trình máy tính nhằm nghiên cứu tính ổn định lý thuyết của mảng khi chịu các tải trọng khác nhau. Colin có một thái độ nể trọng sâu sắc đối với các dân tộc bản địa đã xây dựng và phát triển các phương tiện đường thủy của mình theo các bước tiến hóa trải qua hàng thế kỷ. Vì vậy, Tim và Colin đã nhất trí tiến hành công việc theo từng bước với sự tham gia sát sao của những người thợ làm mảng ở Sầm Sơn.

Đầu tiên, Colin đưa ra bản thiết kế sơ bộ để làm một mô hình mảng dài khoảng nửa mét, chính xác đến từng chi tiết. Tim đem mô hình này đến gặp những người dân chài ở Sầm Sơn và nhờ họ làm một mảng mẫu, với chiều dài bằng phân nửa chiếc mảng thật. Với cách làm này, Tim và Colin đã học hỏi được thêm vài điều về các kỹ thuật cần thiết để làm một chiếc mảng lớn hơn rất nhiều so với mảng tre Sầm Sơn. Và Tim đã dùng chiếc mảng mẫu này để đi thử. Sau khi Colin đưa thêm vào các chi tiết cho bản thiết kế cuối cùng, Tim tiến hành làm mảng tre với kích thước thật dành cho chuyến đi xuyên đại dương. Đó là chiếc mảng dài 18,3 m; rộng 4,6 m; mớn không xiếm 0,41; mớn có xiếm 1,3 m; buồm 75 m2; đáy 3 lớp luồng buộc lạt mây tre.

BDN (theo Dân trí và Tia Sáng)

]]>
Thăm Phòng trưng bày tài nguyên biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa https://biendong.net/2014/02/12/thm-phong-trng-bay-tai-nguyen-bin-o-hoang-sa-trng-sa/ Wed, 12 Feb 2014 09:51:37 +0000 http://localhost/wp/2014/02/12/thm-phong-trng-bay-tai-nguyen-bin-o-hoang-sa-trng-sa/ BienDong.Net: TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng cho rằng chiến lược “phát triển kinh tế biển” phải gắn liền với “bảo tồn văn hóa biển”.

Để bảo tồn văn hóa biển, theo TS Sơn, nước ta cần xây dựng ít nhất 3 bảo tàng là: bảo tàng về hàng hải, bảo tàng ngành đóng tàu, bảo tàng văn hóa biển đảo; tiến hành kiểm kê, xếp loại và đánh giá toàn bộ di sản văn hóa biển trên cả nước; ưu tiên nguồn vốn tôn tạo, khảo cứu, các di tích lịch sử, văn hóa liên quan đến quá trình khai thác, chinh phục, xác lập và giữ gìn chủ quyền biển đảo; xây dựng các chương trình quảng bá di sản văn hóa biển Việt Nam đến với cộng đồng trong nước và quốc tế.

alt

Phòng trưng bày tài nguyên biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Trước khi các bảo tàng như ý tưởng của TS Trần Đức Anh Sơn trở thành hiện thực, đã có không ít những nỗ lực nhằm lưu giữ di sản văn hóa biển Việt Nam, trong đó phải kể đến Phòng trưng bày tài nguyên biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa mới được khánh thành cách nay hơn 2 năm tại Viện Hải dương học Nha Trang.

Phòng trưng bày được đặt trong đường hầm xuyên qua núi Bảo Đại dài khoảng 34 m, chiều rộng 4,5 m, cao 4,5 – 6 m. Tại đây trưng bày hàng chục nhóm mẫu vật các loài thủy hải sản được khai thác từ Hoàng Sa và Trường Sa như các mẫu ốc, san hô cứng dạng nấm, san hô gai, các bể cá sống, các mẫu cá khổng lồ…

Ngoài ra còn trưng bày các văn bản quản lý Hoàng Sa của chính quyền sau năm 1945, hình ảnh về lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở đảo Lý Sơn, hình ảnh về những sinh hoạt đời thường và các công trình xây dựng trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa…

Phòng trưng bày còn lưu giữ những thư tịch cổ, văn bản triều Nguyễn về Hoàng Sa, Trường Sa, hình ảnh của đội thuyền Hoàng Sa thế kỷ 17 – 18 và nhiều tài liệu lịch sử về quá trình khảo sát, quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam qua các thời kỳ.

Ngoài ra, với hàng nghìn mẫu địa chất và các loài sinh vật sống đặc trưng cho 2 quần đảo này, người xem sẽ ngỡ ngàng vì vùng biển Hoàng Sa – Trường Sa có nhiều tài nguyên đa dạng và trù phú đến như vậy.

TS Võ Sỹ Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hải dương học cho biết: Bảo tàng sinh vật biển của Viện có khoảng 10.000 mẫu sinh vật lấy từ Trường Sa, Hoàng Sa và một số vùng biển khác trong nước. Đó là kết quả của sự miệt mài nghiên cứu, khổ công sưu tầm của những cán bộ nghiên cứu của Viện Hải dương học qua các thời kỳ, những người thường xuyên bôn ba trên Biển Đông từ những năm đầu của thế kỷ 20.

 

Cá thu song ở Trường Sa – Ảnh: Thuận Thắng

Viện Hải Dương học ra đời từ năm 1922, là cơ quan nghiên cứu khoa học về biển có bề dày lịch sử lâu dài nhất nước ta. Đây là nơi quản lý, lưu giữ có hệ thống các công trình, kết quả nghiên cứu về biển Việt Nam. Từ khi mới ra đời, hoạt động khảo sát, nghiên cứu của Viện đã gắn liền với vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa. Chỉ trong vòng 6 năm, từ năm 1927 đến năm 1933 tàu De Lanessan đã 3 lần đến vùng biển Trường Sa để khảo sát, điều tra. Ngoài những nghiên cứu về hải dương học và khai thác phốt phát trên đảo, năm 1938, Viện đã thành lập một trạm quan trắc hải dương học tại đảo Pattle trong quần đảo Hoàng Sa (sau này vì chiến tranh nên trạm này tạm dừng hoạt động).

alt 

Mốc chủ quyền Việt Nam trên đảo Song Tử Tây, quần đảo Trường Sa (ảnh BienDong.Net)

Thời gian đầu thế kỷ 20, các hoạt động của De Lanessan đã thu nhiều kết quả, tuy nhiên sau đó tàu này phải về Sài Gòn để sửa chữa. Thế chiến II bùng nổ phần nào làm các hoạt động nghiên cứu của Viện Hải dương học gặp khó khăn. Tuy vậy, các thế hệ nhân viên của Viện vẫn luôn gắn bó với công việc tìm hiểu, làm rõ nhiều vấn đề khoa học về biển đảo Việt Nam.

Ngoài ra, các mẫu sinh vật, địa chất được lấy từ 2 quần đảo trên và khu nuôi sinh vật biển sống tại vùng biển thuộc 2 quần đảo cũng được trưng bày. Trong đó nổi bật là bom núi lửa, tức tảng dung nham có hình thoi hoặc hình quả lê từ miệng núi lửa tung lên trời rồi rơi xuống đất đông cứng lại lấy ở đảo Phan Vinh năm 1989, vỏ sò dài 1 m, nặng 145 kg lấy từ đảo Sinh Tồn năm 1991, mẫu cá mặt trăng đuôi nhọn lấy từ Trường Sa năm 1998, mẫu cá thu Song khổng lồ nặng 70 kg dài 4 m lấy ở Trường Sa đầu năm 2011… Một số sinh vật như loài cá Demo (khoang cổ) có bố mẹ lấy từ Trường Sa, được Viện đem về nhân giống, sinh sản nhân tạo và nhiều loài san hô, cá quý hiếm khác cũng được Viện đem ra trưng bày.

TS Bùi Hồng Long – viện trưởng Viện Hải dương học – cho biết: “Để góp phần thực hiện Chiến lược biển đến năm 2020, Viện sẽ là địa chỉ cho các du khách, nhà khoa học đến nghiên cứu, tìm hiểu biển đảo Việt Nam. Phòng trưng bày tài nguyên biển Hoàng Sa – Trường Sa sẽ giúp du khách, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu hơn về hai quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc, có những nhận thức đúng đắn về biển, đảo qua đó nâng cao lòng tự hào dân tộc, ý thức về chủ quyền quốc gia. Trong tương lai chúng tôi sẽ cố gắng mở rộng đường hầm, biến phòng trở thành trung tâm trưng bày, để Hoàng Sa – Trường Sa không còn xa nữa mà luôn gần gũi quanh chúng ta”.

BDN (biên tập theo Tuổi Trẻ và TTVH)

]]>
Ghe câu: Phương tiện chinh phục biển của đội Hoàng Sa https://biendong.net/2014/01/14/ghe-cau-phng-tin-chinh-phc-bin-ca-i-hoang-sa/ Tue, 14 Jan 2014 10:05:14 +0000 http://localhost/wp/2014/01/14/ghe-cau-phng-tin-chinh-phc-bin-ca-i-hoang-sa/ BienDong.Net: Đội Hoàng Sa là thiết chế đầu tiên trong lịch sử thực thi chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Điều ấy đã được minh chứng trong thực tế và qua các văn bản cổ còn lưu giữ được.

Có một điều độc đáo là những hùng binh tuân lệnh vua đi làm nhiệm vụ khi ấy không sử dụng những chiếc ghe bầu có kích cỡ lớn rất thông dụng thời đó, mà lại dùng những chiếc ghe câu…

alt 

Chuẩn bị thả ghe câu trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa năm 2013 tại đảo Lý Sơn (Ảnh BienDong.Net)

Ông Võ Hiển Đạt 83 tuổi ở đảo Lý Sơn là hậu duệ của cai đội Võ Văn Thiết hồi tưởng: “Tổ tiên đã truyền đời kể cho chúng tôi nghe về những con thuyền từng vượt Biển Đông ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Thời thơ ấu của tôi ở Lý Sơn, loại thuyền ngược xuôi trên biển cũng không khác xưa. Chúng nhỏ gọn nhưng chắc chắn và rất tiện dụng trên vùng biển có nhiều bãi cát, rạn san hô như Hoàng Sa, Trường Sa…”.

Mùa ra khơi năm 2011, ông Đạt là trưởng nhóm nghiên cứu, đóng lại chiếc thuyền của những đội hùng binh nước Việt năm xưa sử dụng để chinh phục đại dương. Là bậc cao niên hiếm hoi còn thông thạo chữ nho ở Lý Sơn, ông Đạt cũng từng tiếp cận nhiều tài liệu, thư tịch, sắc phong cổ ở Lý Sơn để hiểu rõ về những con thuyền của cha ông mình.

Theo ông Võ Hiển Đạt, cho đến nửa đầu thế kỷ 20 dân đảo Lý Sơn vẫn còn nghèo lắm. Người đi biển đều sử dụng những chiếc thuyền buồm. Người đi buôn dùng ghe bầu. Ngư dân có ghe câu. Hai loại thuyền đôi nét khác nhau về kích cỡ, nhưng đều giống nhau ở chỗ di chuyển nhờ sức gió thổi buồm và khả năng xoay xở rất tốt ở những vùng biển nông dễ mắc cạn.

alt 

Mô hình ghe câu tại nhà trưng bày đội Hoàng Sa – Bắc Hải trên đảo Lý Sơn (Ảnh BienDong.Net)

Khi phục dựng lại thuyền đi Hoàng Sa thuở xưa, ông Đạt đã cẩn thận gặp thêm nhiều bậc cao niên ở Lý Sơn để cùng bàn bạc. Thật ra ông và các bạn vẫn nhớ rõ đến nửa đầu thế kỷ 20, ngư dân ở Lý Sơn và dọc bờ biển Quảng Ngãi vẫn truyền đời đi biển bằng loại thuyền gọi dân dã là ghe câu. Đây cũng là tên thuyền thông dụng mà tổ tiên họ ngày xưa đã sử dụng để vượt biển ra Hoàng Sa. Ngoài ra, một cơ sở khác để họ có thể phục dựng chính xác loại thuyền này chính là hình mẫu chiếc thuyền cúng trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Ngay thời hải đội Hoàng Sa còn hoạt động, lễ tế này đã được thực hiện để yên lòng người ra đi vì Tổ quốc và hình mẫu chiếc thuyền buồm trong lễ tế vẫn được truyền đời thực hiện đến ngày nay.

Với ghi chép tỉ mỉ của Lê Quý Đôn thì không chỉ đội Hoàng Sa mà ngay cả đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản cũng chinh phục đại dương bằng loại thuyền nhỏ này. Khu vực mà hải đội Bắc Hải hoạt động chính là quần đảo Hoàng Sa và trải dài vào các đảo phía Nam.

Trong một chỉ thị cho đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt động, triều đình Tây Sơn năm 1786 ghi rõ: “Sai Hội Đức Hầu, cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn thuyền câu vượt biển, thẳng đến Hoàng Sa…”. Còn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cũng ghi chép về loại thuyền này khi nhắc đến đội Hoàng Sa: “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương thực đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy… Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo Hà Tiên… “.

Và loại thuyền câu đó chính là thuyền mà ngư dân Lý Sơn đã truyền đời cưỡi trên đầu sóng ngọn gió.

Đặc biệt, nhiều nhà du hành, thương nhân nước ngoài khi đến Đàng Trong cũng nhắc đến loại thuyền độc đáo của ngư dân Việt mặc dù họ có một vài cách định danh khác nhau. Nhà sư Thích Đại Sán, người Trung Hoa khi đi thuyền đến xứ Đàng Trong năm 1696 đã có nhiều ghi chép trong tập Hải ngoại ký sự về loại thuyền “điếu xá” rất nhanh của người vương quốc này. Trong khi chiếc thuyền lớn xuất phát từ Quảng Đông của nhà sư Thích Đại Sán bị mắc cạn thì ông ta lại rất ngưỡng mộ loại thuyền “điếu xá” có cánh buồm như hình chiếc rìu lướt gió rất nhanh đã nhìn thấy ở vùng biển Hoàng Sa. Đây chính là loại thuyền mà chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử ra đón nhà sư Trung Hoa này ở Cù Lao Chàm (thuở đó còn gọi Tiên Bích Sa). Và chính sử nước Việt lẫn tư liệu hàng hải quốc tế cũng ghi nhận nhà Nguyễn còn nhiều lần cử thuyền đi cứu hộ tàu nước ngoài bị đắm, trong đó có cả tàu của Hà Lan, Anh, Pháp…

Bí quyết tốc độ

Nhà sư Thích Đại Sán đã ngưỡng mộ loại thuyền nhỏ của người Việt này được cơn gió thuận thì lướt nhanh gấp 10 lần những chiếc thuyền gỗ lớn nặng nề. Đó cũng chính là bí quyết độc đáo của chiếc ghe câu. Thời đại máy móc ngày nay đã “chuyển giao” những chiếc ghe câu một thuở kiêu hãnh ngang dọc Biển Đông vào lịch sử, nhưng ở miền Trung mà đặc biệt là Quảng Ngãi vẫn còn nhiều người từng đóng hoặc am hiểu loại thuyền vượt biển độc đáo của người Việt này.

Ông Võ Hiển Đạt kể năm 1945, Pháp giải thể các xưởng đóng thuyền ở đảo Lý Sơn. Khi đó ông mới 15 tuổi, hay mày mò vào các xưởng đóng tàu trên đảo để tìm hiểu, học nghề. Ngoài ra, dòng họ ông cũng có nhiều người đi biển, làm nghề cá bằng ghe câu mà mãi đến những năm 1970 mới nâng cấp dần lên được máy móc. Chiếc ghe câu một thời không chỉ là phương tiện mưu sinh mà còn là bạn của nhiều gia đình ở Lý Sơn.

Vừa rồi, ông Đạt đóng chiếc ghe câu đi Hoàng Sa là mô hình thu nhỏ cho Bảo tàng Quảng Ngãi. Còn kích cỡ thật của nó dài 12 – 18 m, rộng 2,5 – 3 m và sâu khoảng 1,8 đến hơn 2 m. Điểm nhận diện đặc biệt của chiếc ghe câu này là thường đóng bằng cả gỗ và tre. Trong đó, gỗ dùng làm khung sườn và phần trên ghe, còn tre được đan thành mê bao bọc phần dưới ghe để chống nước xâm nhập bên trong. Và tre chính là bí quyết làm chiếc thuyền câu của người Việt trở nên nhẹ nhàng để đạt được tốc độ cao.

Theo ông Đạt và các bậc cao niên ở Lý Sơn, nhờ thuyền nhẹ nên các hùng binh Hoàng Sa dễ dàng đổ bộ lên các rạn san hô, đảo cát trải dài thoai thoải ở Hoàng Sa mà tàu lớn không vào được. Đặc biệt, khi cần thủy chiến, những ghe câu này cũng nhanh chóng phát huy tốc độ để tấn công đối phương.

Mê tre, sự sáng tạo của người Việt

Ông Võ Hiển Đạt kể khi được tỉnh Quảng Ngãi giao phục dựng chiếc ghe câu một thời, ông hào hứng nhận ngay mà không chút băn khoăn. Những người ở tuổi 80 như ông trên đảo đều biết rõ, thậm chí nhiều người từng tự tay đóng hoặc đi biển trên những chiếc ghe đó. “Không sử dụng nhiều gỗ như bây giờ vì phần thân dưới ghe là mê tre, nhưng người thợ đóng loại ghe đó phải biết dựng nên khung sườn gỗ chắc chắn để kết hợp với độ dẻo dai của tre mà chống chịu bão gió trên biển… ”

Ông Nguyễn Tấn Trà, ở xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi đã từng đóng cả trăm chiếc ghe. 60 năm tuổi nghề, ông là hậu duệ của dòng họ có ít nhất sáu đời đã đóng ghe câu. Tiếp nối nghề này mãi đến năm 1968 ông mới chuyển qua đóng tàu máy. Ông Trà bảo: “Đời nay có thể nói chiếc ghe câu xưa lạc hậu. Nhưng với những thợ cả đời đóng tàu như chúng tôi thì chiếc ghe đó là cả công trình nghệ thuật, một sự hun đúc kinh nghiệm đi biển bao đời mới có được. Nó như chính con người Việt nhỏ nhắn nhưng không dễ khuất phục, mềm mại nhưng dẻo dai, bền bỉ…”.

Ông Trà tâm sự chỉ riêng tấm mê tre chịu nước dưới ghe cũng thể hiện kinh nghiệm độc đáo của người Việt. Thợ làm mê phải có kinh nghiệm lựa tre già, lóng tốt, không thối gốc, cụt ngọn, sau đó mới chọn đoạn dài đẹp nhất giữa thân. Việc chẻ tre thành từng thanh nan cũng đòi hỏi rất khéo tay. Nan tre phải đạt độ dày và lớn đều nhau để mắt đan liên kết chặt chẽ. Nan tre đan mê ghe không cần ngâm nước trước, nhưng phải phơi đủ vài nắng tươi. Thợ phải có kinh nghiệm mới được đan mê ghe để đều tay, xít chặt. Mắt mê cũng không không đan song song hay thẳng đứng với mặt nước mà theo chiều xéo góc để có độ dẻo dai, chống chịu được sóng gió. Mê tre sau khi đan xong được quét phân trâu bò để trét kẽ nan, rồi lại tiếp tục phủ lớp dầu rái (cây rái trên rừng). Theo ông Trà, tấm mê tre có vẻ mỏng manh so với gỗ nhưng dẻo dai, khó gãy. Khi gặp sóng gió có thể lún vào rồi lại căng ra bình thường. Mê tre cũng rẻ tiền, dễ thay sau mỗi hải trình xa xôi, nếu được quét dầu rái cẩn thận có thể bền hơn ba năm.

Ưu điểm lớn nhất của mê tre chính là sự nhẹ nhàng. Thường mê tre chỉ nặng bằng 1/5 so với gỗ. Nhờ đó mà chiếc ghe câu hay ghe bầu vận tải của người Việt xưa đã đạt tốc độ rất cao.

Ông Trà kể: “Tổ tiên đã truyền cho tôi kinh nghiệm chọn loại gỗ cứng nhưng dẻo dai như sao, chò, kiền kiền để đóng phần ghe dưới nước, đặc biệt là xỏ lái trước mũi và ‘con lươn’ chịu lực chính dọc theo đáy ghe”. Chỉ cách đây già nửa thế kỷ, gần như toàn bộ công việc đóng tàu vẫn được làm bằng tay. Tùy cỡ ghe họ có thể đóng mất 200 – 300 ngày công.

Thời ông Trà, thợ cả giàu kinh nghiệm chỉ nhìn lượng gỗ có thể tính chính xác mực nước ghe mình đóng. Ghe câu thường gồm khoang đốc phía sau, khoang lòng và khoang mũi. Loại ghe câu nhỏ của đội Hoàng Sa mà về sau vẫn được con cháu họ là ngư dân Lý Sơn sử dụng thì dùng hai hoặc ba cột buồm. Trong đó cột chính (dân đi biển quen gọi là cột lòng) bằng các loại gỗ kiền, lim cao khoảng 9 m, cột buồm mũi cao khoảng 7 m và cột buồm lái phía sau. Ghe câu thường chỉ dài 11 – 16 m, rộng 2,5 – 3 m và sâu 1,8 – 2,5 m. Thủy thủ đoàn 8 – 10 người, phù hợp với các tài liệu cổ ghi chép suất đội đi Hoàng Sa được tìm thấy ở Lý Sơn. Từ đảo này họ đi ba ngày ba đêm thì đến Hoàng Sa. Tốc độ chính nhờ sức gió thổi buồm, nhưng ghe vẫn thường được trang bị thêm bốn chèo ngang và một chèo lái.

Xuất phát từ tháng hai và trở về đất liền vào tháng tám hàng năm, để sinh tồn sáu tháng lênh đênh trên biển, ghe được trang bị các khạp gỗ đựng gạo, nước, củi. Trong bộ sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ của nhà Nguyễn cho thấy trên mạn thuyền của Đội Hoàng Sa có trồng 7 loại rau là rau lang, rau muống, rau húng, hành, hẹ, tỏi, me đất và đến đời Tự Đức thứ 12 thì có thêm rau sam bay. Ngoài ra, đội còn mang theo món thịt thưng và cám gạo, vốn là bí mật quân lương của cả triều Nguyễn và triều Tây Sơn. Ngoài gạo, thức ăn thêm của đội Hoàng Sa là cá mú bắt được trên biển và các loại trứng chim, rùa có rất nhiều trên các đảo.

Thủy thủ đoàn cũng không thể thiếu khạp dầu rái dự phòng cho trường hợp phải trét sửa ghe dọc đường. Đặc biệt, họ mang theo cả giáo mác cán gỗ để phòng thân.

Theo lời cụ Võ Hiển Đạt, xưa kia các bậc tiền nhân vâng mệnh triều đình đi làm nhiệm vụ tại Hoàng Sa nhiều người có đi mà không có về. Để tưởng nhớ những người đã bỏ mình trên biển, hàng năm, vào khoảng tháng Hai âm lịch, các tộc họ ở Lý Sơn đều tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Khao lề là lễ tế sống các hùng binh, là sự tôn vinh và tri ân những người đã hi sinh nước. Từ năm 2013, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa đã trở thành di sản văn hóa quốc gia.

BDN (tổng hợp từ Tuổi Trẻ và các báo quốc nội)

]]>
Người làm chủ biển phải là nhân dân https://biendong.net/2013/11/11/ngi-lam-ch-bin-phi-la-nhan-dan/ Mon, 11 Nov 2013 02:40:44 +0000 http://localhost/wp/2013/11/11/ngi-lam-ch-bin-phi-la-nhan-dan/ BienDong.Net: Theo GS.TS.Trần Ngọc Thêm, một dân tộc được coi là có văn hóa biển khi văn hóa biển là một thành tố hữu cơ không thể thiếu của vốn văn hóa dân tộc.

Điều đó đạt được khi hội đủ 4 điều kiện: Khu vực sinh tồn nhờ biển đủ lớn để cộng đồng biết đến và thừa nhận; Cư dân sống trên biển đủ đông để trở nên một lực lượng quan trọng không thể xem thường của cộng đồng; Đóng góp kinh tế – xã hội của nghề biển đủ nhiều để cộng đồng biết đến và thừa nhận; và chủ thể ấy tồn tại trong không gian ấy với những đóng góp ấy một thời gian đủ dài để trở thành truyền thống và đi vào tâm thức cộng đồng.

Nếu thừa nhận 4 tiêu chí trên thì có thể nói, trong lịch sử, Việt Nam thời Đông Sơn và sau đó, có thể đến hết thời kỳ chống Bắc thuộc, từng có văn hóa biển, thậm chí là một quốc gia biển ở quy mô khu vực.

alt

Những người giữ Biển Đảo Việt Nam: Nụ cười người lính trẻ Trường Sa (ảnh BienDong.Net)

Về nền văn hóa biển thời Đông Sơn của Việt Nam ông Thêm khẳng định rằng có rất nhiều bằng chứng, trong đó hiển nhiên nhất, hay được nhắc đến nhất là hình vẽ tàu thuyền trên các trống đồng Đông Sơn. Nhưng các nhà nghiên cứu cũng chú ý đến một chi tiết là các tàu thuyền này dường như chỉ đi sông chứ không đi biển, vì chúng không có buồm. Thuyền đi biển thời Nguyễn, như hình vẽ trên các cửu đỉnh chẳng hạn, thì có buồm, nhưng thuyền thời Đông Sơn hầu như thân dài và có mái chèo.

Tuy nhiên, theo sách Trung Quốc, người Trung Quốc từ thời Hán đến thời Tùy Đường đều khẳng định người Việt đi sông đi biển rất giỏi. Có thể nhận định truyền thống đi biển là có chung ở cư dân Bách Việt, từ Nam Trung Hoa đến Việt Nam. Các nhà nghiên cứu phương Tây cũng ghi nhận điều này. Thời Óc Eo, đầu Công nguyên, đã có nhiều giao dịch từ Óc Eo lên Bắc Bộ, cũng như đến La Mã, với phương Tây, được ghi lại trên các bản đồ cổ của phương Tây. Đến thế kỷ 15, thời Christophe Colomb, việc này vẫn được nhắc nhiều.

Những nghiên cứu sau này, ví dụ của học giả gốc Hoa Wang Gungwu, về lịch sử ngoại thương trên Biển Đông cũng nhận định đến hết thời Bắc thuộc, mọi hoạt động hàng hải trên vùng biển này chủ yếu do người Giao Chỉ thực hiện, vai trò của người Việt là rất lớn, Quảng Châu chỉ nắm một phần nhỏ.

alt 

Những người chủ của Biển Đảo Việt Nam: Những em bé Trường Sa (ảnh của BienDong.Net chụp tại đảo Song Tử Tây)

Tuy thiên, theo lập luận của giáo sư Thêm, từ thế kỷ X trở lại đây, Việt Nam chỉ có văn hóa sông nước và một số yếu tố của văn hóa biển, không còn văn hóa biển như là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống văn hóa dân tộc.

Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng do hạn chế về tư liệu, ghi chép lịch sử nên rất khó so sánh văn hóa biển thời đó với thời nay, nhưng theo miêu tả trong các dấu tích còn lại, văn hóa biển của chúng ta thời xưa khá hùng mạnh. Trải qua thời gian cũng có những thay đổi. Thời Trần, thương cảng Vân Đồn chỉ là điểm dừng chân chứ không phải nơi để đi ra nước ngoài. Phố Hiến, Hội An là điểm giao lưu buôn bán với thương nhân nước ngoài những mặt hàng có lợi cho ta, triều đình nhà Nguyễn còn coi đây là nơi thu nhập nhờ đánh thuế.

Văn hóa đi ra chinh phục biển khơi của người Việt có nhưng ở mức độ thấp. Nhà Nguyễn rất có ý thức về chủ quyền đã cử người ra Hoàng Sa, Trường Sa để thu thập, ghi chép, kiểm kê. Nhưng chính ở những người đó tâm lý sợ biển cũng rất rõ. Lễ khao lề thế lính thực chất là nghi lễ tế sống những người ra đi không biết có trở về không. Mỗi người chuẩn bị sẵn hai cái chiếu bó xác, bảy cái nẹp, bảy dây mây. Ông Thêm cũng cho rằng với người Việt, biển là cái gì cực kỳ nguy hiểm, ghê gớm, chúng ta chưa có tâm thế làm chủ.

Xung quanh chiến lược phát triển văn hóa biển trong thời kỳ hiện đại, giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng trước hết ta phải thực sự làm chủ biển. Đó phải là một chiến lược đi từ trên xuống, có sự hỗ trợ tối đa của nhà nước. Nhưng người làm chủ biển phải là nhân dân, quân đội chỉ là một phần. Quân đội đủ mạnh để giữ biển mà nhân dân không đủ khả năng khai thác biển thì chưa thể nói là làm chủ biển.

Cũng cần một sự giáo dục bằng nhiều phương cách đa dạng, như đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường, vào các bảo tàng, trên các phương tiện truyền thông đại chúng… để người dân hiểu rằng chúng ta đã từng có một truyền thống văn hóa biển đáng tự hào, rằng biển là một kho tài nguyên quý giá vô tận.

Nếu không làm chủ được biển, ta sẽ lãng phí một phần tài nguyên lớn. Nếu ta không kịp làm chủ biển, có thể các nước khác sẽ tranh giành mất. Đó sẽ là tội lỗi lớn của ta với các thế hệ mai sau.

BDN (theo Tuần Việt Nam)

]]>
Lái lặn – những người tầm ngư bằng tai https://biendong.net/2013/11/04/lai-ln-nhng-ngi-tm-ng-bng-tai/ Mon, 04 Nov 2013 02:54:56 +0000 http://localhost/wp/2013/11/04/lai-ln-nhng-ngi-tm-ng-bng-tai/ BienDong.Net: Sống với biển và sống nhờ biển, trong làng ngư dân Việt có những nhân vật kì tài, có khả năng lặn xuống nước để nghe luồng cá, đánh giá được đàn cá đang bơi gần đó là loài gì, số lượng bao nhiêu, đang đi theo hướng nào…

Họ là những lái lặn, những người tầm ngư bằng tai để hướng dẫn ghe tàu đến bủa lưới.

Lần đầu tiếp xúc với báo chí nhưng Tèo, một “ngôi sao” trẻ của nghề lái lặn không lấy gì làm ngạc nhiên. Tèo nói: “Em biết thế nào có ngày nghề này cũng lên báo hay truyền hình, vì nó rất là siêu… “.

Trông Tèo không có vẻ là một thợ lặn mà ra vẻ là một giáo viên dạy thể dục thể thao hơn: áo thun, quần thể dục, bỏ áo vô quần nghiêm chỉnh. Chỉ có mái tóc vàng hoe và đôi mắt ngầu đỏ là phần nào cho biết anh làm nghề lưới lặn, nghề truyền thống nổi tiếng ở Phước Hải, Long Hải thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

alt 

Anh Hiếu, một lái lặn nổi tiếng ở Quảng Trị có thể “nghe” được âm thanh của nhiều loài cá

Năm Nhàn, một lái lặn có hơn 30 năm trong nghề, giải thích: “Các loại cá sống ở đáy như cá ngao, cá đù, các sóc, cá lò… ở dưới biển thường tụ tập thành bầy như học trò đi học ở trường vậy”.

Chín Ky, một ngư dân chuẩn bị theo ghe lưới lặn kể: tháng giêng năm ngoái, ghe của anh đi, có lái lặn Mười Mùa, đánh được một mẻ cá nổi tiếng ở Sông Ðốc với trên 3 tấn cá, trong đó 2,2 tấn cá sóc nanh, loại cá xuất khẩu có giá hai mươi mấy ngàn một ký, mỗi bạn được chia đến 2 triệu đồng…

Dân Phước Hải thường ví chuyện làm nghề lưới lặn như chuyện lập một đoàn cải lương, cần có bầu đoàn, có “ngôi sao” ca cổ. Ba Tăng, một chủ ghe từng nhiều năm làm nghề, nói: “Nồi cơm của các gia đình chủ ghe, bạn chài đều lệ thuộc vào anh lái lặn, nên ảnh mà giỏi thì được nhờ, làm eo làm xách gì cũng phải chịu”.

Năm năm trước, Năm Nhàn đã từng được một chủ ghe ở Vàm Láng nghe tiếng, mời về hợp tác. Ông Năm kể: “Hôm đó 28 tết, chủ ghe ứng cho 3 triệu đồng, đến mồng hai họ lên rước về làm”. Bước đầu hợp tác thật trọng vọng: chủ ghe khoản đãi nào cà phê, thuốc ba số năm, bia Saigon, mùng chiếu mới… “Có lúc đi vệ sinh mà chủ ghe cũng canh, họ sợ mình trốn”, ông Năm nói.

Mấy tháng làm ăn, Năm Nhàn đem lại mức lợi 190 triệu đồng cho chủ, nhưng chỉ được chia 9 triệu đồng. Bất mãn, ông quay về Phước Hải. Năm Nhàn than: “Họ ăn chia không theo luật”.

Theo Nam Nhàn, thông thường, nếu ăn chia bổ đồng thì khi bạn được một phần, lái lặn được hai. Nếu tính lưới, lái được đem theo 10 tấm lưới, gấp đôi bạn, còn được gửi theo chủ 2 tấm (chủ có số lưới bằng tổng số lưới của bạn, mỗi tấm lưới dài 30 sải, nối với nhau). Khi bủa, tùy may rủi, cá “đóng” vào lưới ai thì người nấy hưởng. Một lái lặn giỏi có thể dẫn theo 1 – 2 ghe đánh “ăn theo”, mỗi ghe anh ta gửi được thêm 5 tấm lưới.

Ở Phước Hải, nói đến lái lặn Mừng, biệt danh Chí Tâm, thì không ai không biết. Anh thợ lặn thuộc hàng “siêu sao” này có biệt danh lấy theo tên của một danh ca vọng cổ, và cái tật lười tắm của mình (Chí Tâm là chữ nói lái của tắm chi).

“Ổng là người lội giỏi nhất vùng, khi nhảy xuống nước rồi là theo đàn cá đến mất tăm, ghe chạy theo kiếm mệt nghỉ”, Tèo cho biết. Chí Tâm từng dám thách mọi lái lặn của vùng lặn thi, ai thua người đó chỉ việc… chặt mất cái đầu của mình. Rất nhiều chủ ghe trọng vọng, dẫn đi ăn chơi nhậu nhẹt riết thành tật, nghề nghiệp của danh lặn này mấy năm gần đây có phần kém sút.

Thời của lái trẻ

Năm Nhàn nói: “Lũ nhỏ bây giờ nổi lên dữ quá”. Nghề lái lặn tưởng đã bị mai một, nhưng vài năm gần đây lại phát triển mạnh hơn trước. Phước Hải có trên 100 ghe, với khoảng 50 lái lặn. “Giá thu mua cá gần đây trở nên cao hơn nên nhiều người nhảy ra làm đại, rồi từ từ con cá nó dạy mình nghề, nên ngày càng có nhiều lái”, Tèo giải thích.

Khi mới 19 tuổi, Tèo vào nghề do nhận lấy trách nhiệm với gia đình. Anh tâm sự: “Của nhà mà, làm cực lắm nhưng cũng phải làm”. Mới 4 – 5 giờ sáng là các lái lặn đã xuống nước, bất kể trời mùa nghịch, “nước biển lạnh như nước đá”. Lúc đầu xuống lặn, Tèo thường đánh chệch luồng cá, nhưng chỉ 4 – 5 tháng sau anh đã vững nghề. Dân biển mà đào ở đâu ra một người không uống rượu, không hút thuốc như anh quả là hiếm. Rượu và thuốc lá dễ bị lầm tưởng là giúp cho ngư dân bớt lạnh, kỳ thực làm cho những lái lặn lớp trước ngày càng sợ nước và các giác quan ngày càng kém tinh nhạy hơn những lái lặn trẻ.

Tèo nói: “Nghề này mà thành công là nhờ bà độ và mình biết độ biển”. “Ðộ biển” là khả năng ước đoán đường đi của luồng cá trên biển. “Nghề lặn tranh hơn tranh thua rất dữ, mình đánh chệch luồng cá mà người ta đánh trúng, họ sẽ cười vô mặt mình”, Tèo nói. Hai chiếc ghe cùng đến một địa điểm để lặn, có khi hơn thua với nhau chỉ một hơi lặn của lái là một chiếc định được hướng cá, chiếc còn lại lái lặn chỉ nghe được tiếng máy tàu của “đối thủ” chạy đi bủa lưới.

BDN (biên tập theo SGTT)

]]>
Cá voi trong đời sống văn hoá – tâm linh của người Việt https://biendong.net/2013/10/28/ca-voi-trong-i-sng-vn-hoa-tam-linh-ca-ngi-vit/ Mon, 28 Oct 2013 06:38:00 +0000 http://localhost/wp/2013/10/28/ca-voi-trong-i-sng-vn-hoa-tam-linh-ca-ngi-vit/ BienDong.Net: Sáng 11.10, trong lúc đánh bắt thủy hải sản tại bãi biển thuộc khóm Sân Chim, phường 2, nhiều ngư dân Sóc Trăng đã phát hiện một con cá voi có chiều dài gần 13 m, chiều ngang gần 2 m, ước chừng trên 10 tấn đang mắc cạn.

Mặc dù được nỗ lực giải cứu nhưng cá voi đã chết và xác của cá voi đã được ngư dân đưa về một ngôi chùa để an táng và chôn cất theo phong tục địa phương.

 

Hàng nghìn người dân ven biển miền Tây kéo về chùa Sala Pô Thi Sêrây SaKô ở thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng) để xem cá voi nặng hơn 10 tấn được phát hiện nằm trên bãi bồi ven biển sáng 11.10. Đến chiều cùng ngày nước biển chưa dâng lên, người dân địa phương dùng bạt che nắng cho cá. (Ảnh Vnexpress)

Cá ông trong đời sống văn hoá tâm linh ngư dân Việt

Tục thờ cá Ông (tức cá voi) là một tín ngưỡng dân gian vùng duyên hải miền Trung  miền Nam Việt Nam. Đây là một tín ngưỡng dân gian hình thành trong quá trình tiến biến văn hóa Việt – Chăm diễn ra từ đèo Ngang trở vào.

Trong chiều sâu tâm thức, người đi biển đặt niềm tin vào sinh vật khổng lồ vừa “hiền” vừa “thiêng” là loài cá voi, mà họ gọi một cách kính trọng là cá Ông, hoặc Ông, dù rằng sự cứu giúp đó mang tính huyền thoại nhiều hơn là hiện thực.

Có rất nhiều danh từ để gọi cá voi với sự cung kính: Ông Nam Hải, Ông Lớn hay Ông Cậu để chỉ những cá voi to lớn, Ông Khơi để chỉ cá voi sống ngoài biển khơi, Ông Lộng để chỉ cá voi sống gần bờ. Ngoài ra còn có những cách gọi khác nhau như ông Thông, Ông Chuông, Ông Máng với ý nghĩa tôn kính.

Cá chết thị gọi là Ông “lụy”. Khi phát giác có Ông lụy ngoài biển, người ta đưa thuyền ra dìu xác cá vào bờ rồi tổ chức lễ chôn cất rất long trọng.

alt 

Đền thờ cá Ông trên đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi (ảnh BienDong.Net)

Nơi thờ cá Ông được gọi là miếu Ông, đền thờ Ông, nhưng thông dụng nhất là Lăng ông. Việc thờ cá Ông được quan niệm như là một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả của đạo Phật, coi cá Ông như là một vị thần hộ mạng giữa biển khơi đầy sóng gió. Niềm xác tín ấy được phản ánh trong nội dung các bài tế văn tế bằng Hán Nôm, trong các bài hát bả trạo (còn gọi là hát đưa linh) và cả trong một số bài vè lưu hành trong cư dân ven biển. Nếu như trong các văn tế nghinh ông của các ngư dân miền Trung nghiêng về phần ngợi ca và gửi gắm niềm tin ở Ông về việc cứu người cứu thuyền trong cơn lâm nạn, thì nội dung văn tế trong nghinh Ông từ Bà Rịa trở vào đến Cà Mau, Hà Tiên thường nhấn mạnh đến sự “phù hộ của Ông” để cho được mùa đánh bắt, tôm cá đầy khoang, ghe thuyền ra khơi vào lộng an toàn.

Lễ hội nghinh Ông là loại lễ hội nước lớn nhất của ngư dân. Có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ cầu ngư, lễ tế cá “Ông”, lễ cúng “Ông”, lễ nghinh “Ông”, lễ nghinh ông Thủy tướng. Thời gian tổ chức lễ giữa nơi này và nơi khác có thể chênh nhau, nhưng thường diễn ra trước mùa đánh bắt ở biển.

Nếu như tín ngưỡng thờ Thành Hoàng chỉ diễn ra trong khuôn viên của đình làng, thì tín ngưỡng thờ cá Ông và lễ hội Nghinh Ông lại vừa diễn ra ở lăng thờ cá Ông và cả trên mặt biển. Do đó, không khí của phần lễ cũng như của phần hội ở đây thường diễn ra sôi động và cuồng nhiệt hơn.

Trong tâm linh của người dân đi biển, lễ hội Nghinh Ông không chỉ là dịp để họ bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đối với một sinh vật linh thiêng mà còn gửi gắm vào đó cả niềm tin và hy vọng ở một vị thần hộ mạng sẵn sàng cứu giúp họ trong cơn hoạn nạn, trong những lúc hiểm nghèo giữa nơi biển cả.

Sự thờ cúng cá Ông tạo ra một lễ hội trong đời sống văn hóa các xã vùng biển. Tại Bến Tre, ngày lễ hội Nghinh Ông là ngày tưng bừng đối với người dân vùng biển. Không khí náo nức, tràn trề hưng phấn bắt đầu khi chờ đợi “Ông lên vọi” ngoài khơi, khi thấy việc xin ông làm chứng đã hoàn tất qua động tác xin keo của ông chánh bái. Dọc đường đoàn ghe ra khơi nghinh Ông trở về, hai bên bờ sông các ghe thuyền đều chăng kết hoa, bày lễ cúng và đốt pháo giòn giã. Ở tại nhà suốt ngày hôm ấy, các ngư dân mời mọc nhau, kể cả khách từ xa đến, cùng nhau ăn uống vui chơi, trò chuyện thân tình.

BDN (theo bentre.gov.vn và tài liệu trên Internet)

]]>
Khai quật khảo cổ con tàu gần 700 năm tuổi tại vùng biển Bình châu, Quảng Ngãi https://biendong.net/2013/07/05/khai-qut-kho-c-con-tau-gn-700-nm-tui-ti-vung-bin-binh-chau-qung-ngai/ Fri, 05 Jul 2013 07:42:17 +0000 http://localhost/wp/2013/07/05/khai-qut-kho-c-con-tau-gn-700-nm-tui-ti-vung-bin-binh-chau-qung-ngai/ BienDong.Net: Sau gần 1 tháng làm đê vây, hút thổi cát, các chuyên gia khai quật theo phương pháp như trên cạn đã làm lộ diện con tàu cổ chìm ở vùng biển Bình Châu, Quảng Ngãi từ cách đây khoảng 700 năm.

Phần đuôi và mũi tàu cổ phát lộ với những phiến gỗ dày màu đen. Bên mạn tàu dính nhiều mảnh gốm cháy đen nham nhở.

 

Phương pháp khai quật tàu đắm như trên cạn (ảnh Đất Việt)

Hiện vật khai quật khá đa dạng, gồm đồ tráng men nâu, ngọc, ánh trăng, men lam… “Hoa văn trên hiện vật được vẽ ngược chiều, mang đậm đặc trưng của dòng gốm niên đại cuối thời Nguyên (Trung Quốc) thế kỷ 14”. Ngoài ra, các nhà khảo cổ thống kê có khoảng 19 loại tiền xu khác nhau, là loại tiền đồng mặt tròn lỗ vuông.

PGS.TS Nguyễn Đình Chiến, Phó giám đốc Bảo tàng lịch sử Việt Nam nhận định, tàu cổ từng vận chuyển hàng hóa gốm sứ đi trên “con đường tơ lụa “, gặp hỏa hoạn nên bị chìm ở vùng biển gần bờ.

 

Xác tàu cổ lộ diện sau gần 700 năm chìm dưới đáy biển Bình Châu. (Ảnh: Trí Tín).

Tàu làm bằng chất liệu gỗ tốt với từng phiến dày. “Căn cứ vào những vết cháy đen trên hiện vật gốm sứ, rõ ràng con tàu bị chìm do hỏa hoạn. Nguyên nhân cháy có thể do sự cố ngẫu nhiên hoặc gặp cướp biển và điều này cần tiếp tục nghiên cứu”, ông Chiến nói.

Con tàu còn nguyên vẹn bánh lái, đáy và be tàu còn nguyên khối, có niên đại sớm hơn nhiều so với các con tàu đắm từng được phát hiện ở vùng biển Việt Nam và ẩn chứa nhiều điều bí ẩn gây kinh ngạc cho giới nghiên cứu, khảo cổ học, ông Đoàn Ngọc Khôi, phó giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi nhận định.

Cũng theo ông Khôi, con tàu này dài gần 25m, đáy tàu rộng 5m nhưng bề ngang bên trên rộng khoảng 9m bị chìm theo phương thẳng đứng. Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương đã hoàn tất khai quật “kho cổ vật” bên trong lòng con tàu và đang huy động đội ngũ thợ lặn tiếp tục trục vớt cổ vật trong phạm vi 600 m2 xung quanh con tàu đắm. Dự kiến đến ngày 15.7, việc khai quật khảo cổ học ở vùng biển Bình Châu sẽ kết thúc.

 

Các chuyên gia vui mừng khi cổ vật còn nguyên vẹn (ảnh Đất Việt)

Cuộc khai quật khảo cổ học tàu đắm Bình Châu là cuộc khai quật con tàu cổ thứ 6 trong vùng biển Việt Nam và việc khai quật theo phương pháp như trên cạn là hiện tượng chưa từng có trong khai quật khảo cổ học dưới nước. Kết quả khai quật lần này góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu con đường tơ lụa trên Biển Đông, lịch sử thương mại, kĩ thuật đóng tàu thuyền từ nhiều thế kỉ trước”, TS Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và du lịch Quảng Ngãi nhận định.

Trong khi đó, TS Nguyễn Việt, giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á cho rằng đây là lần đầu tiên ở Châu Á, một con tàu cổ được phát hiện còn nguyên vẹn cụm bánh lái hiếm hoi. Con tàu cổ này bị chìm ở vùng biển này chứng tỏ xưa kia nơi đây là điểm giao thương sầm uất, giữ vai trò thương mại quan trọng của khu vực Châu Á”, TS Việt khẳng định.

Cũng theo TS Việt, phương pháp đóng thuyền buồm như con tàu cổ bị đắm tại Bình Châu cần được nghiên cứu kỹ, bởi thông qua kết cấu gỗ và thân tàu cho thấy kỹ thuật đóng tàu ở thời kỳ này khá phát triển, địa điểm đóng con tàu này phải là vùng có nhiều loại gỗ quý’ TS Nguyễn Việt khẳng định.

alt 

Tiền xu tìm được trong xác tàu đắm (ảnh Vnexpress)

Ông Đoàn Sung, đại diện Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương đơn vị trúng thầu khai quật con tàu chia sẻ, so với nhiều đợt khảo sát, khai quật các con tàu đắm ở các vùng biển trong cả nước, con tàu chứa cổ vật ở Bình Châu có giá trị rất lớn. “Sau khi các chuyên gia xử lý xong, chúng tôi sẽ trưng bày cổ vật phục vụ khách tham quan. Còn xác con tàu sẽ được khoanh vùng, bảo tồn tại vùng biển Bình Châu kết nối với tour lặn biển tạo điều kiện việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương với loại hình dịch vụ, du lịch sinh thái biển”.

BDN (Theo Vnexpress và Đất Việt)

]]>
Con đường tơ lụa trên Biển Đông https://biendong.net/2013/02/22/con-ng-t-la-tren-bin-ong/ Fri, 22 Feb 2013 06:28:33 +0000 http://localhost/wp/2013/02/22/con-ng-t-la-tren-bin-ong/ BienDong.Net: Việt Nam có lịch sử ngàn năm mở đất và mở nước. Mở đất là cương thổ, mở nước là biên đảo và còn có cả những chuyến hải trình vạn dặm của tổ tiên ta mà các bảo vật khai quật được từ những con tàu đắm dưới đáy Biển Đông đã phần nào nhắc lại nỗ lực phi thường ấy.

1. Những phát hiện khảo cổ trong các con tàu chìm Rang Kwian (vịnh Thái Lan), Turiang (Malaysia), Padanan (Philippines) từ năm 1976 đến 1993 đã cho thấy phần nào bức tranh tuyệt đẹp về gốm cổ Việt Nam và phác họa lại con đường tơ lụa trên biển. Bức tranh đó càng rực rỡ khi khai quật tàu cổ Cù Lao Chàm.

Theo TS Nguyễn Văn Cường, ở ngoài khơi Hội An, cách Cù Lao Chàm 14 hải lý về phía đông bắc, một cuộc khai quật dưới biển với quy mô chưa từng có trong những năm 1997-2000 đã phát hiện được một khối lượng khổng lồ, khoảng 150.000 đồ gốm hoa lam hầu như còn nguyên vẹn trên một con tàu đắm, có niên đại khoảng giữa thế kỷ XV. Những đồ gốm này là sản phẩm của các lò gốm ở tỉnh Hải Dương, cho thấy con tàu này đã mua gốm từ một thương cảng nào đó ở Bắc Bộ và đang trên đường đi xuống phía nam đến các nước Đông Nam Á hải đảo để tiêu thụ thì bị đắm.


Bình gốm hoa lam vẽ Thiên Nga, Kendi và đĩa được tìm thấy trong lòng con tàu cổ Cù Lao Chàm

Tàu nằm ở độ sâu 70-72m dưới mực nước biển. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Visal và Công ty Saga Horizon (Malaysia) đã tiến hành khai quật cùng với nhiều chuyên gia khảo cổ học của Anh, Séc và một số chuyên viên lặn nước ngoài. Con tàu dài 29,4m, rộng 7,2m, trong lòng chia thành 19 khoang, gỗ đóng tàu là loại gỗ tếch còn tốt và các thanh dầm ngăn cách các khoang được ghép rất chắc chắn, dù đã chìm trong lòng biển 5 thế kỷ.

Trong tàu cổ này còn có một số đồ gốm sứ Trung Quốc và Thái Lan là đồ dùng của thủy thủ đoàn. Một người tham dự cuộc khai quật hệ trọng này đã kể rằng, các chuyên gia ngồi trên mạn tàu và chỉ đạo cho thợ lặn lấy đồ trong lòng tàu đắm qua các camera hiển thị. Và tất cả những thước phim ấy hiện vẫn còn được lưu giữ.

2. Cố GS Trần Quốc Vượng từng nhận xét rằng, có một thời ở phương Tây đồ gốm chỉ được coi là đối tượng của nghệ thuật thứ cấp, nếu so sánh với kiến trúc và điêu khắc. Trong khi đó, ở phương Đông, nhất là ở Trung Hoa, từ xưa đồ gốm đã được coi là loại hình nghệ thuật cấp trưởng. Cũng đã từng có thời, từ nửa cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, giới Đông phương học Âu Tây chỉ coi Việt Nam là một “Trung Hoa bé tí xíu”, do vậy họ cũng coi đồ gốm sứ Việt Nam chỉ là một nhánh nhỏ của cây đại thụ gốm sứ Trung Hoa.

Nửa sau thế kỷ XX, sau khi đi sâu nghiên cứu, bàn luận về công nghệ lò nung rồi sự diễn tiến về kiểu dáng và men, nhiều chuyên gia đã ngỡ ngàng nhận ra rằng, Việt Nam có lịch sử lâu dài nhất về sản xuất gốm tráng men ở Đông Nam Á.

80 năm trước, thế giới hiện đại vẫn nhầm tưởng rằng, dòng gốm hoa lam được sản xuất không nơi nào khác ngoài Trung Quốc. Nhưng sau khi L.R.Hobson phát hiện dòng minh văn ghi trên vai chiếc bình gốm hoa lam tuyệt đẹp cao 54cm trưng bày ở Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) vào năm 1933-1934 (có dòng chữ ghi rõ “Đại Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Bùi thị hý bút” – năm Đại Hòa thứ 8 – 1450 đời Lê Nhân Tông – thợ gốm châu Nam Sách họ Bùi vẽ chơi) – đã mở rộng cánh cửa cho một lĩnh vực nghiên cứu mới.

Từ đó, người ta quan tâm tới một địa danh có tên là Nam Sách, ở đâu đó bên lưu vực sông Hồng thuộc Đồng bằng Bắc Bộ, nơi có thể có những lò sản xuất gốm vốn nằm trong thái ấp của các đại quý tộc triều Trần. Họ gọi đây là “gốm An Nam” và coi đó là “một hiện tượng mới” trong lịch sử gốm phương Đông. Nhưng phải đợi 52 năm sau, những bí ẩn về nơi sản xuất chiếc bình gốm hoa lam đẹp nổi tiếng ấy mới được khám phá.

Từ những thông tin của ông Mokoto Anabuky, Đại sứ Nhật Bản tại Hà Nội về chiếc bình Topkapi, các cán bộ Bảo tàng Hải Hưng (nay là Hải Dương), do ông Tăng Bá Hoành phụ trách, đã lần tìm và phát hiện ra di tích gốm Chu Đậu tại châu Nam Sách xưa, vào đầu năm 1983. Và cũng từ đó, người ta mới biết dòng gốm hoa lam cũng được sản xuất ở Việt Nam từ hơn 500 năm trước.

Làng gốm Chu Đậu (nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) là một trung tâm sản xuất gốm lớn nhất của nước ta, ra đời vào thế kỷ XIV và phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XV-XVI. Chu Đậu thường sản xuất những dòng gốm cao cấp, gốm mỹ nghệ phục vụ cho tầng lớp trên, phục vụ tôn giáo, tín ngưỡng và xuất khẩu ra nước ngoài.

Dòng gốm Chu Đậu có sự kết hợp nhiều kỹ thuật trang trí như đắp nổi, chạm, dán ghép, khắc chìm. Men sử dụng với nhiều màu khác nhau hết sức phong phú: men trắng hoa lam, men nâu, xanh lục, men ngọc, men trắng vẽ tam thái hoặc kết hợp vẽ vàng kim trên men. Sự chuyển đổi kỹ thuật dùng bút lông để vẽ hoa văn bằng màu dưới men đã đem lại cho công nghệ gốm Việt Nam những nét mới mẻ và dẫn tới sự ra đời của gốm hoa lam. Gốm hoa lam hiện đã phổ biến và trở thành thuật ngữ quốc tế, dùng để chỉ những đồ gốm có men trắng được vẽ màu xanh cobalt dưới men.

Sau khi có quyết định của Chính phủ Việt Nam, 10% hiện vật trong tàu cổ Cù Lao Chàm đã được lựa chọn và “chia phần” tương đối đều cho các bảo tàng: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 4.362 hiện vật cùng 779 hiện vật độc bản, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP HCM 4.362 hiện vật, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam 4.362 hiện vật, Bảo tàng tỉnh Quảng Nam 5.562 hiện vật, Bảo tàng tỉnh Hải Dương 5.562 hiện vật.

Càng nghiên cứu, nghệ thuật của người xưa càng hiển lộ. Chủ đề trang trí có hình tượng con người, động vật, côn trùng, thủy tộc, hoa lá, phong thủy… kết hợp kỹ thuật trang trí nổi bằng bút lông với vẽ lam hay vẽ nhiều màu trên men. Mỗi loại hoa văn lại có nhiều bố cục, nhiều cách thể hiện, đa dạng chưa từng biết đến cho thấy tài khéo vô cùng của người thợ gốm xưa.

Đó là một bút pháp điêu luyện tuyệt vời: khi thì tỉa vẽ thật chi tiết, khi thì phóng bút nhanh và thoáng. Lối thể hiện không gian ba chiều, luật viễn cận trong hội họa đều như được sử dụng rất nhuần nhụy và từ đó phô diễn một cách kỳ lạ, sinh động, đa dạng đời sống xã hội và cả thế giới của một miền nhiệt đới thế kỷ XV.

3. Theo GS Misugi Takatoshi (Nhật Bản), con đường tơ lụa trên biển hình thành rất sớm, từ khi kỹ thuật đóng thuyền buồm bọc gió vượt biển được xác lập từ đầu công nguyên và ngày càng phát triển khi kỹ thuật la bàn được phát minh, tạo điều kiện cho những thương thuyền cỡ lớn chuyên chở hàng lụa, hồ tiêu, hương liệu, trầm hương, sản phẩm sành sứ… thay thế dần các đoàn lữ hành bằng lạc đà trên lục địa đầy trắc trở và hoang vắng.

Song song với sự hưng thịnh rực rỡ của nền văn minh Lưỡng Hà vào thế kỷ IX-XI, hàng hóa từ Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia… đã được đưa đến các xứ Ai Cập cổ đại để mua bán, trong đó có hàng “sành sứ An Nam”, đặc biệt loại bát chén men ngọc được người Vịnh Ba Tư rất ưa chuộng, xem là một dụng cụ để kiểm tra thuốc độc trong thức ăn (poisoning test) trong thời kỳ các nước và bộ tộc tranh chấp ác liệt và truyền thuyết đó vẫn được lưu lại cho đến ngày nay.


Bản đồ mô tả con đường tơ lụa trên bộ và trên biển. Tại Việt Nam, các thương thuyền có thể cập bến hoặc xuất phát ở Luy Lâu, Hà Nội, Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An, Cù Lao Chàm, Vijaya (Thị Nại), Óc Eo (vương quốc cổ Phù Nam)

Tổ tiên chúng ta đã vượt biển như thế nào? Nhà hàng hải George Windsor Earl khen ngợi không tiếc lời trong sổ nhật ký của ông trên đường dẫn lộ một chiếc thương thuyền đến Singapore vào đầu thế kỷ thứ XVIII như sau: “…Bão táp thật dữ dội ngoài biển khơi, thiếu chút nữa thì thương thuyền của chúng tôi bị gẫy đổ cả cột buồm. Thời tiết đã tiếp tục xấu như thế trong nhiều ngày. Vậy mà khi đang thận trọng dẫn tàu vào eo biển, chúng tôi chợt nhận ra 6 chiếc thuyền nhỏ của người Việt Nam đang giương hết mọi cánh buồm tiến thẳng tới trước… Tôi nghĩ mấy người Việt đó đang lèo lái những con thuyền bé nhỏ mà cách thức để vượt sóng lượn gió thật là tài tình. Tài ba của họ không thua kém bất cứ một thủy thủ đoàn hạng nhất nào của toàn khu vực Âu châu.

Đoàn thuyền bé tí teo đó không có một chiếc nào vượt quá 50 tấn, vậy mà những người đi biển này có thể đè bẹp cả sóng gió Biển Đông vào giữa mùa bão tố. Họ rất can đảm khi xuất dương. Thuyền họ lại không trang bị vũ khí và như thế có thể là miếng mồi ngon cho bọn hải tặc”.

Còn bác sĩ John Crawfurd, người được Chính phủ Anh đề cử làm “lưỡng quốc” đại sứ tại hai kinh đô Bangkok và Huế năm 1822 nhận xét: “Nếu như người Việt Nam được phép tự do viễn dương thì người ta không thể tìm đâu ra được một sắc dân nào nữa ở Á Đông mà lại có đầy đủ những đức tính để trở thành các nhà hàng hải siêu đẳng như vậy… Tính họ không những cương quyết, năng hoạt động, tôn trọng hạn kỳ, mà lại luôn luôn vui vẻ chiều lòng khách hàng… Ghe tàu của họ được các nhà chuyên môn xét đoán và mô tả như là những loại thuyền tốt nhất trong khu vực Đông Nam Á, kiến trúc rất chắc chắn, đủ sức hải hành ngay cả những khi thời tiết xấu nhất”.

Thuyền trưởng John White, một trong những nhà hàng hải Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1820 thì kinh ngạc khi thấy những hải xưởng Việt Nam thời đó lại có đầy đủ vật liệu cho việc đóng những loại tàu lớn nhất như Frigate (tức loại chiến hạm chủ lực của Hải quân Hoa Kỳ sử dụng vào đầu thế kỷ XIX).

4. Mầm mống ngoại thương nằm trong lịch sử giao lưu lâu dài giữa Việt Nam và thương nhân từ nhiều nước đã đến buôn bán tại Việt Nam. Vậy mà mãi đến thế kỷ XX, người ta mới phát hiện gốm Việt Nam trong hàng hóa xuất khẩu tại Tây Á, lục địa và hải đảo Đông Nam Á, cũng như Nhật Bản. Vô số gốm hoa lam Việt Nam tìm thấy ở Đông Nam Á là thành phẩm của hoạt động mậu dịch đáng nể này.

Qua đó Việt Nam dành được cho mình một vị trí bền vững trong lịch sử gốm hoa lam trong giai đoạn sớm. Còn ở Tây Á, sự có mặt của gốm đã gián tiếp cho biết Việt Nam có mặt trong các thương vụ buôn bán đường dài. “Sự có mặt của gốm hoa lam Việt Nam trong những sưu tập có uy tín cho biết chúng đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật và khiếu thẩm mỹ của khách hàng sành sỏi và giàu có nhất thế giới” – Kerry Nguyễn Long trong cuốn “Gốm hoa lam trong bối cảnh xuất khẩu” đã viết như vậy.

Còn Bùi Minh Trí trong cuốn “Gốm hoa lam Việt Nam” nhận xét: Một trong những tiêu chí đánh giá về sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật gốm Việt Nam thời kỳ này phải kể đến các bức vẽ về động vật. Đây là những đồ án đẹp được thể hiện rất cầu kỳ, sinh động, với bút pháp điêu luyện có thần, mang tính hiện thực cao. Có thể nói không quá rằng, những bức vẽ chim, cá có chất lượng cao so với đồ sứ thời Minh cùng thời, thì dường như đã vượt qua độ tinh xảo, chứng tỏ bước phát triển rất cao về nghệ thuật trang trí.

Sự cầu kỳ của chiếc bình gốm vẽ hoa mẫu đơn dây ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, chiếc bát vẽ hoa sen dây ở Bảo tàng Hà Nội, chiếc đĩa lớn vẽ hoa sen dây và hai con sư tử vờn quả cầu lửa ở Bảo tàng Pusat Jakarta (Indonesia), chiếc bình dáng con tiện vẽ rồng là vật báu của gia đình tướng quân Togugawa (Nhật Bản) trước đây hay những chiếc bình hình dáng gần giống đàn tỳ bà vẽ hoa lá, chim phượng và rồng là những ví dụ điển hình hơn cả.

Nhưng TS Nguyễn Văn Cường lại đưa ra một minh chứng khác mà anh cho rằng thuyết phục hơn cả. Đó là chiếc bình vẽ Thiên Nga được làm bằng chất liệu gốm men, cao 56,5cm, đường kính miệng 23,8cm, đường kính đáy 25,8cm, nặng 15,6kg, có dáng búp sen, miệng loe tròn, gờ miệng phẳng, thân phình thuôn dần xuống đáy – chiếc bình gốm có kích thước lớn nhất, có đề tài trang trí hoành tráng nhất trong số những hiện vật độc bản quý hiếm từ đợt khai quật tàu đắm Cù Lao Chàm.

Anh lưu ý rằng, nó còn cao lớn hơn cả chiếc bình Topkapi nổi tiếng hiện đang “lưu lạc” ở Thổ Nhĩ Kỳ. Những đề tài trang trí ở đây đã thoát ra khỏi khuôn mẫu của đề tài kinh điển Trung Hoa, phóng khoáng hơn, sáng tạo hơn, đậm chất dân gian, hồn quê đất Việt vùng Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, như một sứ giả về từ quá khứ, cho ta hình dung phần nào về vẻ đẹp của quê hương đất nước Việt Nam thời Lê Sơ thế kỷ XV, một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á lúc bấy giờ. Và nó là một minh chứng tuyệt mỹ của con đường tơ lụa trên biển.

Biển Đông che giấu trong lòng nước nhiều bí ẩn hơn chúng ta tưởng rất nhiều.

BDN ( Nguồn: PetroTimes )

]]>