Hải quân các nước – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 31 Oct 2025 03:15:21 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Canada tăng cường hiện diện ở khuc vực, thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/canada-tang-cuong-hien-dien-o-khuc-vuc-that-chat-quan-he-quoc-phong-voi-philippines-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 01:10:00 +0000 https://biendong.net/?p=158982 Nhằm thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương được thông qua năm 2022, thời gian gần đây Canada tăng cường sự hiện diện tại khu vực này và thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines để làm bàn đạp can dự sâu hơn vào khu vực.

Từ đầu năm 2025, Hải quân Canada điều tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa thực hiện nhiệm vụ “thúc đẩy hòa bình, ổn định và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vốn được biết đến với tên gọi “Chiến dịch Horizon” của các lực lượng vũ trang Canada. Tháng 1/2025, tàu này đã tiến hành cuộc tập trận chung với Hải quân Mỹ ở Biển Đông và đi gần bãi cạn Scarborough, một điểm nóng căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines. Tàu khu trục HMCS Ottawa cũng tham gia tập trận La Perouse 25 – một cuộc tập trận đa quốc gia do Pháp dẫn đầu – tại vùng biển gần quần đảo Indonesia.

Tàu hải quân Canada

Tàu HMCS Ottawa bắt đầu năm 2025 bằng cuộc tập trận chung với tàu chiến Mỹ ở Biển Đông. Bộ tư lệnh tác chiến chung Canada ra thông báo trên trang X cho biết từ ngày 8-11/1/2025, tàu hải quân Canada HMCS Ottawa đã hoàn thành cuộc tập trận chung với tàu khu trục USS Higgins của Hải quân Mỹ trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông, cuộc tập trận có mật danh là “Noble Wolverine”. Theo thông báo, cả hai tàu đều “di chuyển qua vùng biển quốc tế của Biển Đông trong khi tiến hành các cuộc tập trận liên lạc, hoạt động bay và huấn luyện tác chiến chống tàu ngầm”.

Tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa cũng đã di chuyển gần bãi cạn Scarborough, nơi hải cảnh Trung Quốc và lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã tham gia vào trò chơi mèo vờn chuột trong nhiều tuần. Chuỗi rạn san hô đang tranh chấp nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines nhưng nằm dưới sự kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc từ năm 2012. Bắc Kinh đã triển khai tàu Hải cảnh lớn nhất của mình, được gọi là “Quái vật” vì kích thước khổng lồ của nó, đến khu vực này kể từ đầu năm, mà Manila coi là “một hành động đe dọa, cưỡng ép và xâm lược”.

Theo tuyên bố của Hạm đội 7 Mỹ, “Noble Wolverine” chứng minh “cam kết chung của hai nước Mỹ và (Canada) đối với một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, đồng thời nói thêm rằng các hoạt động song phương như vậy mang lại “cơ hội có giá trị để huấn luyện, thực hành và phát triển khả năng tương tác chiến thuật” giữa các lực lượng hải quân đồng minh và đối tác trong khu vực.

Từ ngày 1 đến 4/2/2025, tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa của Hải quân Canada, với 240 thủy thủ đoàn, đã cập Cảng tự trị Sihanoukville thực hiện chuyến thăm đầu tiên tới Campuchia. Adriano Lozer, Chỉ huy trưởng tàu HMCS Ottawa, đánh giá cao chuyến thăm này và coi đây là minh chứng cho sự can dự ngày càng tăng của Canada vào khu vực khi nhấn mạnh: “Chuyến thăm này cho phép chúng tôi chứng minh rõ ràng cam kết quốc phòng lâu dài đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và tăng cường vai trò của Canada như một đối tác quốc tế đáng tin cậy”.

Thong Mengdavid, nhà phân tích địa chính trị và Giáo sư tại Viện Quan hệ quốc tế và Nghiên cứu chính sách công thuộc Đại học Hoàng gia Phnom Penh cho rằng: “Chuyến thăm đánh dấu một cử chỉ thiện chí và nỗ lực tăng cường quan hệ song phương giữa Campuchia và Canada. Mặc dù Campuchia trước nay vẫn cẩn thận duy trì sự cân bằng trong các hoạt động quân sự với các cường quốc nước ngoài, nhưng những chuyến thăm như vậy có thể thúc đẩy nhận thức tích cực về hợp tác quân sự quốc tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực như an ninh hàng hải, hỗ trợ nhân đạo và xây dựng năng lực”. Ông Thong Mengdavid nói thêm rằng chuyến thăm này phù hợp với mục tiêu rộng lớn hơn của Canada là tăng cường sự hiện diện của mình tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, như đã nêu trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Bằng cách hợp tác với Campuchia, Canada thể hiện cam kết của mình đối với an ninh khu vực, hợp tác đa phương và tăng cường quan hệ ngoại giao.

Chỉ huy tàu Adriano Lozer nhấn mạnh: “Là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Campuchia đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định khu vực. Chuyến thăm của HMCS Ottawa giúp củng cố quan hệ của chúng tôi và đẩy mạnh cam kết chung của chúng tôi đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Là một quốc gia Thái Bình Dương, củng cố quan hệ mạnh mẽ với các đối tác khu vực là một ưu tiên, và chúng tôi đặc biệt sốt sắng hợp tác với Campuchia trong tương lai”.

Tàu HMCS Ottawa tham gia cuộc tập trận đa quốc gia La Perouse 25 – cuộc tập trận hàng hải có sự tham gia của 9 quốc gia do Hải quân Pháp dẫn đầu vào ngày 24/1/2025. Cuộc tập trận diễn ra tại Eo biển Malacca, Sunda và Lombok, nơi nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Có 13 tàu từ các nước Australia, Canada, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, Anh, Mỹ và nhóm tác chiến tàu sân bay Charles De Gaulle của Pháp đã tham gia cuộc tập trận, trong đó tập trung vào nội dung huấn luyện an toàn hàng hải. Sau khi kết thúc cuộc tập trận La Perouse 25, tàu HMCS Ottawa đã ghé thăm Indonesia trước khi thăm Campuchia.

Cùng với việc điều tàu chiến tới hoạt động dài ngày ở khu vực, Canada còn tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines. Theo thông báo của Bộ Quốc phòng Philippines và Bộ các vấn đề toàn cầu Canada, Manila và Ottawa đã kết thúc các cuộc đàm phán liên quan tới thỏa thuận về Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) giữa hai bên vào tháng 3/2025, cho phép lực lượng hai nước tiến hành các cuộc tập trận chung và tăng cường hợp tác. Các cuộc đàm phán này được tổ chức sau khi hai nước đã ký bản ghi nhớ Hợp tác quốc phòng hồi tháng 1/2024.

Việc Canada và Philippines cùng phối hợp về SOVFA nói trên sẽ cho phép mỗi bên cùng hợp tác trong các lĩnh vực chung có lợi cho pháp quyền, hợp tác quốc phòng và an ninh, cũng như hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Canada Bill Blair, việc hoàn tất thỏa thuận này là dấu mốc quan trọng đối với mối quan hệ song phương Canada-Philippines khi hai nước kỷ niệm 75 năm quan hệ ngoại giao trong năm 2024.

Theo Bộ Quốc phòng Philippines, thỏa thuận với Canada “sẽ thiết lập một khuôn khổ hợp tác gia tăng, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quốc phòng và quân sự, nâng cao khả năng tương tác giữa các lực lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tập trận chung hiệu quả hơn cũng như các hoạt động nâng cao năng lực”. Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro cho biết Philippines sẽ tiếp tục xây dựng các liên minh an ninh nhằm ngăn chặn sự gây hấn của Trung Quốc. Ông Teodoro nhấn mạnh các hành động thù địch của Bắc Kinh có thể dẫn đến việc hạn chế hoạt động trên Biển Đông, một tuyến đường thương mại quan trọng đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong số các lĩnh vực mà biên bản ghi nhớ về Hợp tác quốc phòng đề cập tới có giáo dục quân sự, trao đổi đào tạo, chia sẻ thông tin, hoạt động gìn giữ hòa bình và ứng phó thảm họa. Văn bản này là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy Canada sẵn sàng hợp tác với Philippines và nó tiếp nối một thỏa thuận khác được ký năm 2023, mở rộng quyền truy cập Hệ thống phát hiện tàu ẩn (Dark Vessel Detection System) của Canada cho Trung tâm giám sát bờ biển quốc gia Philippines. Theo đó, Canada cung cấp cho Philippines quyền truy cập vào Hệ thống phát hiện tàu ẩn, sử dụng công nghệ vệ tinh để theo dõi các tàu bất hợp pháp ngay cả khi chúng vô hiệu hóa thiết bị phát tín hiệu định vị. Do vậy, lực lượng tuần duyên Philippines đã sử dụng công nghệ của Canada để theo dõi các tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu đánh cá trên Biển Đông.

 Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) là yêu cầu pháp lý để Philippines hợp tác với quân đội Canada trong các cuộc tập trận quân sự chung và các sự kiện liên quan đến quân sự khác mà không vi phạm hiến pháp. Theo khoản 25, Điều 18, Hiến pháp Philippines không công nhận sự hiện diện của quân đội hay căn cứ nước ngoài trừ khi có một hiệp ước được cả Thượng viện và Hạ viện nước này chính thức phê chuẩn. Giới chuyên gia nhận định việc hoàn tất SOVFA giữa Philippines và Canada tạo điều kiện cho Hải quân Canada tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông nhằm thúc đảy trật tự dựa trên luật lệ.

Việc phê chuẩn SOVFA do đó cho phép lực lượng vũ trang Philippines có cơ hội huấn luyện và phối hợp cùng với các đối tác của họ trong lực lượng vũ trang Canada. Ngoài ra, nó còn cho phép Philippines có cơ hội đa dạng hóa các đối tác an ninh của họ và giảm sự phụ thuộc vào Mỹ trong bối cảnh căng thẳng hàng hải đang diễn ra trên Biển Đông. Vào tháng 8/2024, lực lượng Hải quân và Không quân Canada và Philippines đã tham gia cùng Australia và Mỹ trong các cuộc diễn tập không quân và hải quân nhằm đảm bảo hoạt động đi lại không bị cản trở trên vùng biển quốc tế thuộc Biển Đông và thúc đẩy khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở.

Đây không phải là động thái duy nhất mà Manila thực hiện để tìm kiếm quyền tự chủ chiến lược lớn hơn. Philippines và Nhật Bản đã ký thỏa thuận Tiếp cận Đối ứng (RAA) vào tháng 7/2024 và Thượng viện Philippines đã phê chuẩn văn kiện này ngày 16/12/2024 (nhưng Quốc hội Nhật Bản hiện vẫn chưa thông qua). Ngoài ra, Philippines và New Zealand đã hoàn tất đàm phán SOVFA giữa hai nước hôm 20/1/2025 và đã ký kết hiệp định này vào tháng 4/2025. Philippines cũng đang thảo luận về một thỏa thuận tương tự với Pháp. Bộ trưởng Quốc phòng Teodoro cho biết Philippines có thể tìm kiếm các SOVFA với các quốc gia khác như Đức, Ấn Độ và Singapore.

Canada sẽ được hưởng lợi khi có được một đồng minh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, qua đó hoàn thành một trong những mục tiêu của Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của mình, trong đó kêu gọi xây dựng các mối quan hệ hợp tác mới dựa trên an ninh. Đối với Philippines, Canada được coi là đối tác an ninh đáng tin cậy và là một đồng minh sẵn sàng ủng hộ Philippines qua các kênh ngoại giao trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông.

Việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực cũng như nâng cấp quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, giới phân tích nhận định với việc hoàn tất SOVFA giữa Manila và Ottawa, Philippines được coi là mắt xích quan trọng để Canada can dự sâu hơn vào Biển Đông. Việc thắt chặt quan hệ quốc phòng giữa Philippines và Canada trở thành yếu tố quan trọng để Manila đối phó với những hành vi hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, góp phần thúc đẩy trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Thứ hai, thêm một đồng minh quan trọng của Mỹ tham gia sâu vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra cục diện đa phương trong việc ngăn chặn sự mở rộng bành trướng của Bắc Kinh. Mỹ không chỉ một mình cùng đồng minh Philippines trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông mà sẽ có sự tham gia của nhiều đồng minh tới. Với việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Philippines, Canada sẽ tham gia nhiều hơn vào các cuộc tuần tra, tập trận song phương và đa phương ở Biển Đông để kiềm chế Trung Quốc.

Thứ ba, việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực và ký với Philippines SOVFA sẽ khích lệ các đồng minh khác của Mỹ ở châu Âu như Anh, Đức, Ý, Hà Lan… tham gia vào “mặt trận” chống bành trướng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng. Canada và các đồng minh châu Âu khác của Mỹ cũng có thể mở rộng hợp tác quốc phòng với các đối tác khác ven Biển Đông, góp phần quốc tế hoá, đa phương hoá các tranh chấp ở Biển Đông.

]]>
Năng lực kiểm soát dưới mặt nước của TQ bất lợi cho các nước ven Biển Đông https://biendong.net/2025/04/15/nang-luc-kiem-soat-duoi-mat-nuoc-cua-tq-bat-loi-cho-cac-nuoc-ven-bien-dong/ Tue, 15 Apr 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=148499 Tháng 3/2013, Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc họp, chính thức đưa vấn đề phát triển hải dương trở thành chiến lược quốc gia, nhấn mạnh xây dựng “cường quốc biển” là lựa chọn tất yếu để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, hướng đến mục tiêu “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”.

Sâu xa hơn của chiến lược này là nhắm đến địa vị “cường quốc thế giới”, bởi theo quy luật lịch sử, hầu hết những nước đã trở thành cường quốc thế giới, “bá chủ” thiên hạ, đều từng trải qua giai đoạn làm “bá chủ” đại dương. Vì thế hơn mười năm qua, Trung Quốc ngày càng quyết liệt và cứng rắn xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và lợi ích của các nước xung quanh Biển Đông. Họ không những nỗ lực kiểm soát Biển Đông trên mặt nước mà còn gia tăng cả sức mạnh dưới nước hòng “kiểm soát” tuyệt đối vùng biển này.

Tàu ngầm Trung Quốc

Sự thay đổi trong bố trí, xây dựng sức mạnh cho lực lượng hải quân Trung Quốc trên biển

Vốn là quốc gia có biển kéo dài từ bắc xuống nam, nên từ rất sớm, Trung Quốc đã bố trí lực lượng hải quân của họ thành ba hạm đội là Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải, đảm nhiệm ba hướng bắc, đông và nam trông ra biển. Trong ba hạm đội trên, Hạm đội Đông Hải ngay từ đầu được biên chế và xây dựng thành hạm đội mạnh nhất. Nhưng kể từ khi xác định Biển Đông là “cửa ngõ” đi ra bên ngoài, phục vụ cho chiến lược hải dương thì Bắc Kinh có sự thay đổi bằng cách tập trung đầu tư lớn cho Hạm đội Nam Hải, đưa hạm đội này trở nên mạnh nhất hiện nay và đồng thời, chuyển nó về trực thuộc Chiến khu miền Nam để cùng phối hợp với các lực lượng của chiến khu này tăng cường khả năng tác chiến liên hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông; ngăn chặn đối phương tiếp cận từ hướng Nam; phong tỏa Biển Đông, các tuyến đường huyết mạch phía Nam Trung Quốc; tạo điều kiện để Trung Quốc “đi ra bên ngoài”, trở thành “cường quốc biển”, trước khi trở thành “cường quốc thế giới”, hoàn thành “giấc mộng Trung Hoa”.

Thực trạng và khả năng trong tương lai về năng lực kiểm soát dưới mặt nước của Trung Quốc ở Biển Đông dưới góc độ quân sự

Năng lực kiểm soát dưới mặt nước của Trung Quốc ở Biển Đông là tổng hợp sức mạnh trên các lĩnh vực quốc phòng – an ninh, kinh tế, khoa học công nghệ… như thăm dò khai thác năng lượng, khoáng sản, xây dựng cáp ngầm… cho đến bố trí lực lượng quân sự dưới mặt nước biển và đáy biển phục vụ cho tác chiến, với sự tham gia của các lực lượng thuộc các ngành nghề, lĩnh vực liên quan trong đó có lực lượng hải quân. Từ khi triển khai chiến lược hải dương đến nay, Trung Quốc đã chú trọng đầu tư nguồn lực khá lớn cũng như huy động khá đông đảo lực lượng tham gia vào hoạt động dưới mặt nước biển và đáy biển ở Biển Đông. Riêng về lĩnh vực quốc phòng – an ninh, năng lực kiểm soát dưới mặt nước Biển Đông của Trung Quốc thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau:

Một là, hoạt động của lực lượng tàu ngầm.

Hiện nay, tất cả các cường quốc quân sự trên thế giới đều xác định tàu ngầm là vũ khí chiến lược cực kỳ bí mật, bất ngờ và đầy hiệu quả trong tác chiến hiện đại. Quân đội các nước Nga, Mỹ, Anh, Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á có biển đang nỗ lực đẩy nhanh việc nghiên cứu phát triển, mua sắm và triển khai các tàu ngầm, bởi vì tàu chiến đấu mặt nước hay máy bay chiến đấu, dù có tối tân đến đâu cũng khó tránh được hệ thống tên lửa diệt hạm và tên lửa phòng không. Vì thế, tăng cường lực lượng tàu ngầm để tiến công và phòng thủ là xu thế của hải quân nhiều nước.

Do tàu ngầm có vai trò đa năng như vậy nên tại Biển Đông, Trung Quốc đã đầu tư mạnh mẽ cho lực lượng tàu ngầm của Hạm đội Nam Hải. Được biết, Hải quân Trung quốc hiện nay có 03 lữ đoàn tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân và 06 lữ đoàn tàu ngầm chạy bằng năng lượng diesel – điện, được bố trí đều cho ba hạm đội. Trung Quốc hiện có tất cả 73 tàu ngầm, gồm 20 tàu ngầm hạt nhân và 53 tàu ngầm diesel – điện. Riêng Hạm đội Nam Hải có 27 tàu ngầm, số lượng tàu tương đương với hai hạm đội Bắc Hải và Đông Hải. Nhưng điều đáng chú ý là, để gia tăng năng lực kiểm soát dưới mặt nước ở Biển Đông, ngoài sự vượt trội về các tàu trên mặt nước cả về số lượng và chất lượng, Trung Quốc còn bố trí tại Hạm đội Nam Hải 10 tàu ngầm hạt nhân, chiếm một nửa trong tổng số tàu ngầm hạt nhân hiện có của họ. Và trong 10 tàu ngầm hạt nhân này, có đến 06 tàu ngầm lớp Tấn (Type 094), loại được coi là hiện đại nhất hiện nay của Trung Quốc Các tàu ngầm lớp Tấn này “gần như liên tục” làm nhiệm vụ tuần tra ở vùng biển từ đảo Hải Nam đến Biển Đông. Chúng được kết nối với hệ thống liên lạc dưới nước và vệ tinh Bắc Đẩu, giúp duy trì khả năng tấn công hạt nhân từ Biển Đông, đe dọa trực tiếp đến các đối thủ. Đáng chú ý, Trung Quốc đang trên đà sản xuất để đưa tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo lớp Thanh (Type 096) vào hoạt động trước cuối thập kỷ này, với những đột phá mới nhờ công nghệ tiên tiến của Nga.

Sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng của tàu ngầm Trung Quốc ở Biển Đông không chỉ làm cho các nước trong khu vực, mà ngay cả Mỹ cũng lo ngại về khả năng răn đe và kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng của Trung Quốc, đồng thời gây khó khăn cho hoạt động của lực lượng hải quân các nước khác trong khu vực.

Hai là, về triển khai công nghệ giám sát ngầm và thông tin liên lạc dưới mặt nước.

Trung Quốc đã và đang triển khai công nghệ giám sát ngầm và thông tin liên lạc dưới nước rộng khắp ở Biển Đông để thực hiện mục đích kép, đó là vừa phục vụ nghiên cứu khoa học; vừa tăng cường khả năng kiểm soát quân sự, nhất là theo dõi, phát hiện các tàu ngầm và tàu chiến đấu của các quốc gia khác. Hệ thống giám sát ngầm dưới nước ở Biển Đông của Trung Quốc bao gồm nhiều loại thiết bị khác nhau, nổi bật là:

1/ Mạng lưới định vị thủy âm dưới đáy biển, được ví là “Vạn lý trường thành dưới biển”, bao gồm các thiết bị sau: (i) Hệ thống định vị dưới nước (UGPS). Hệ thống này có thể đặt ở phần sâu nhất của đại dương, làm nhiệm vụ định vị trên biển, hỗ trợ kỹ thuật quan trọng cho mạng lưới các thiết bị hoạt động dưới biển của Trung Quốc, đặc biệt là các tàu lặn. (ii) Các cảm biến thủy âm. Dùng để thu thập dữ liệu âm thanh, giúp định vị và theo dõi các tàu ngầm và các phương tiện khác của đối phương. (iii) Trung tâm dữ liệu dưới đáy biển. Dùng để xử lý dữ liệu từ các cảm biến thủy âm và cung cấp thông tin định vị. (iv) Mạng lưới cáp quang biển. Được lắp đặt dưới đáy biển để truyền dữ liệu giữa các cảm biến thủy âm, các trung tâm dữ liệu và các trạm điều khiển trên đất liền, phục vụ cho cả mục đích dân sự và quân sự. (v) Hệ thống vệ tinh Bắc Đẩu. Dùng để cung cấp thông tin định vị toàn cầu, hỗ trợ cho mạng lưới định vị thủy âm dưới đáy biển.

Những thiết bị trên được liên kết, phối hợp với nhau tạo thành một mạng lưới định vị thủy âm rộng khắp Biển Đông, có khả năng theo dõi và định vị các phương tiện dưới nước của quốc gia khác, nhất là hoạt động của tàu ngầm. Mạng lưới này được cho là một phần của “Mạng lưới thông tin biển xanh” của Trung Quốc.

2/ Thiết bị cảm biến sóng nội. Là loại thiết bị dùng để phát hiện và giám sát sóng nội, tức là những dòng chảy ngầm có thể gây nguy hiểm cho tàu ngầm; có khả năng dự đoán sự hình thành, lan truyền và sức mạnh của sóng nội tại Biển Đông và theo dõi những thay đổi về địa hình dưới đáy biển. Thiết bị này nặng 1,4 tấn, có thể hoạt động trong nhiều tuần; được trang bị các cảm biến có thể thu thập dữ liệu về vận tốc và hướng của dòng chảy; có thể nổi lên mặt nước khi nhận được tín hiệu từ tàu mẹ. Điều mà các chuyên gia nước ngoài lo ngại là, ngoài việc theo dõi tàu ngầm của các quốc gia khác, thông qua sử dụng thiết bị này, Trung Quốc sẽ nắm rõ được “đường đi, lối lại” ở Biển Đông để tăng cường sự hiện diện nhiều hơn của lực lượng tàu ngầm tại vùng biển này. Vì thế, các nước trong và ngoài khu vực không thể không theo dõi kế hoạch triển khai và sử dụng thiết bị này ở Biển Đông của Trung Quốc.

3/ Hệ thống phao và tàu lượn không người lái dưới nước. Đây là hệ thống dùng để thu thập dữ liệu về môi trường biển, bao gồm nhiệt độ, độ mặn và dòng chảy. Những dữ liệu này phục vụ cho cả mục đích dân sự và quân sự (theo dõi tàu ngầm và các hoạt động hàng hải khác).

4/ Các nền tảng giám sát cố định. Đó là một hệ thống phức tạp và bí mật, bao gồm các thành phần cơ bản sau: (i) Mạng lưới cảm biến dưới đáy biển: Đây là thành phần cốt lõi, bao gồm các thiết bị định vị thủy âm (sonar) và các cảm biến khác được đặt dưới đáy biển. Mục đích chính là để theo dõi tàu ngầm, tàu mặt nước và các hoạt động dưới nước khác của đối phương. (ii) Các tháp cảm biến trên mặt nước: Nền tảng giám sát này được trang bị một loạt các cảm biến và thiết bị liên lạc, bao gồm: Tháp cảm biến điện quang/hồng ngoại, radio tần số cao, vòm radar lớn. Các nền tảng này thường không có người điều khiển và ít phải bảo trì. (iii) Hệ thống thông tin liên lạc: Hệ thống này cho phép truyền dữ liệu từ các cảm biến dưới nước và trên mặt nước về các trung tâm chỉ huy trên đất liền. Trung Quốc đang phát triển một hệ thống định vị dưới nước (UGPS) sử dụng tín hiệu sóng âm thanh thay vì sóng vô tuyến, cho phép định vị tàu ngầm và thiết bị lặn không người lái ở vùng nước sâu. Năm 2021, Trung Quốc đã thử nghiệm thành công hệ thống liên lạc đường dài dưới nước ở khu vực biển sâu 3.800m giữa quần đảo Đông Sa và Hoàng Sa, cho phép duy trì sự kết nối trên diện tích 30.000 km2. Công nghệ này không chỉ hỗ trợ tàu ngầm Type 094 mang tên lửa JL-3 ẩn náu an toàn, mà còn tạo điều kiện cho UUV hoạt động độc lập, thu thập dữ liệu và độ mặn nước biển. Hệ thống này là nền tảng để Trung Quốc triển khai các căn cứ ngầm, như kế hoạch xây dựng trạm tiếp nhiên liệu cho UUV dự kiến hoạt động vào năm 2025. Kết hợp với mạng lưới radar SIAR trên đảo Hải Nam, Tri Tôn và Xu Bi. Trung Quốc sẽ hình thành “vành đai giám sát” xuyên Biển Đông, phát hiện các mục tiêu tàng hình của đối phương và điều phối tác chiến đa chiều. (iv) Tàu ngầm robot và thiết bị lặn không người lái (UUVs): Các thiết bị này được sử dụng để khảo sát đáy biển, thu thập dữ liệu về môi trường biển và thực hiện các nhiệm vụ khác. Chúng hoạt động như các phòng thí nghiệm di động, phân tích mẫu vật và gửi thông tin về mặt nước. Các nền tảng này là một phần của “Vạn lý trường thành dưới biển”, với một mạng lưới giám sát rất rộng, cho phép Trung Quốc kiểm soát các hoạt động dưới mặt nước của các nước ở Biển Đông chặt chẽ và hiệu quả hơn.

Ba là, về hoạt động nghiên cứu và khảo sát dưới mặt nước.

Trung Quốc đã triển khai nhiều tàu nghiên cứu và khảo sát hiện đại, bao gồm cả UUV để thu thập dữ liệu về địa hình, địa chất và thủy văn dưới đáy Biển Đông. Các hoạt động này diễn ra ở nhiều khu vực trên Biển Đông, bao gồm cả những vùng có tranh chấp chủ quyền. Ngay từ năm 2019, Trung Quốc đã triển khai 12 UUV ở Biển Đông, với mục đích công khai là nghiên cứu khoa học, nhưng thực tế là chúng được sử dụng để trinh sát và thu thập dữ liệu quân sự. Mẫu UUV HSU-001, ra mắt 2019, có khả năng hoạt động liên tục 60 ngày đêm, tích hợp camera có độ phân giải cao và cảm biến âm thanh, hỗ trợ phát hiện tàu ngầm đối phương rất hiệu quả. Các UUV này còn tham gia vào “chiến thuật vùng xám” khi Trung Quốc sử dụng lực lượng dân quân biển và tàu cá làm “lá chắn” nhằm tránh để hải quân của họ đối đầu trực tiếp với hải quân các nước. Sự kiện Trung Quốc thu giữ UUV của Mỹ ở Biển Đông năm 2016 và trao trả sau đó cho thấy, Trung Quốc coi đây là công cụ tranh chấp hiệu quả, vừa gây sức ép, vừa duy trì trạng thái không leo thang.

Thời gian qua, Trung Quốc đã tiến hành một số hoạt động nghiên cứu và khảo sát điển hình ở Biển Đông, như đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 và Hướng Dương Hồng 10 cùng các tàu hộ tống, xâm nhập trái phép nhiều ngày vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; triển khai mạng lưới thiết bị bay không người lái (UAV) rộng khắp ở Biển Đông nhắm đến nhiều mục tiêu, trong đó có việc giám sát dưới mặt nước để kiểm soát việc đánh bắt cá, thăm dò dầu khí và các hoạt động dưới mặt nước khác của các nước. Như vậy, đằng sau mục đích dân sự, hoạt động nghiên cứu và khảo sát này còn phục vụ cho các mục đích quân sự. Có nghĩa là, thông qua nghiên cứu và khảo sát, dữ liệu thu thập được sẽ được sử dụng để tối ưu hóa hoạt động của tàu ngầm, bao gồm cả việc tìm kiếm và theo dõi tàu ngầm đối phương; hỗ trợ cho việc triển khai các hệ thống cảm biến và vũ khí dưới nước; giúp xác định các vị trí tiềm năng để xây dựng các căn cứ quân sự dưới nước. Những hoạt động trên, cùng với sự không minh bạch của Trung Quốc khi đưa tàu khảo sát vào vùng biển thuộc chủ quyền của nước khác chính là một trong những nguyên nhân làm cho Biển Đông có thời điểm rất căng thẳng, thậm chí có nguy cơ xảy ra xung đột.

Bốn là, về xây dựng căn cứ quân sự.

Theo số liệu từ “Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á” (AMTI) cho biết, Trung Quốc đã nạo vét và bồi đắp hơn 12 km² đất đá ở Biển Đông để xây dựng các đảo nhân tạo. Phần lớn hoạt động này diễn ra trong giai đoạn 2013 – 2017. Những đảo nhân tạo này đã được Trung Quốc xây dựng trở thành các căn cứ quân sự, với các đường băng, cảng, hệ thống radar, các công trình phòng thủ và nhiều loại vũ khí tiên tiến, như tên lửa phòng không, tên lửa chống hạm, máy bay chiến đấu… Việc làm này cho phép Trung Quốc tăng cường khả năng kiểm soát và “thống trị” quân sự ở Biển Đông cả trên không, trên mặt nước và dưới mặt nước. Riêng đối với lực lượng tàu ngầm, những căn cứ quân sự này mang lại một số lợi ích chiến lược sau: (i) Cho phép tàu ngầm Trung Quốc triển khai nhanh chóng và hiệu quả hơn ở Biển Đông và tới các khu vực lân cận như Ấn Độ Dương. (ii) Cung cấp các điểm triển khai lực lượng, giảm thời gian di chuyển và tăng thời gian hoạt động của tàu ngầm trong khu vực. (iii) Cung cấp cơ sở vật chất để bảo trì, sửa chữa và tiếp tế cho tàu ngầm, bao gồm cả nhiên liệu và vũ khí, nhờ đó kéo dài thời gian hoạt động và tăng cường khả năng chiến đấu cho tàu ngầm. (iv) Tạo điều kiện cho việc triển khai tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo (SSBN), cung cấp cho Trung Quốc khả năng răn đe hạt nhân trên biển. Có thể hiểu, các căn cứ quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông cung cấp một mạng lưới hỗ trợ quan trọng cho lực lượng tàu ngầm của nước này, tăng cường khả năng chiến đấu, khả năng răn đe và khả năng kiểm soát khu vực. Như vậy có thể thấy, năng lực kiểm soát dưới mặt nước ở Biển Đông của Trung Quốc đã có nhiều bước tiến “vượt bậc”, thể hiện tham vọng “độc chiếm” Biển Đông của Bắc Kinh ngày càng lớn hơn. Năng lực này sẽ: 1/ Giúp Trung Quốc tăng cường khả năng răn đe đối với các quốc gia trong khu vực và các lực lượng hải quân nước ngoài. 2/ Giúp Trung Quốc bảo vệ các tuyến đường biển huyết mạch quan trọng trên Biển Đông, đồng thời gây áp lực lên các đối thủ tiềm tàng. 3/ Tạo điều kiện cho Trung Quốc ngày càng “tự do” hơn trong thực hiện các hoạt động dưới nước một cách hiệu quả. Điều này chắc chắn sẽ gây ra nhiều tác động bất lợi cho các nước ven Biển Đông trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình trước tham vọng phi lý và ngày càng ngang ngược hơn của Trung Quốc.

]]>
Mỹ đẩy nhanh áp chế quân sự nhằm vào TQ https://biendong.net/2025/03/27/my-day-nhanh-ap-che-quan-su-nham-vao-tq/ Thu, 27 Mar 2025 02:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=147284 Mỹ liên tục có nhiều động thái để tăng cường năng lực tác chiến quân sự ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương giữa sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Quân đội Mỹ phóng thử PrSM Increment 1 vào ngày 19.3


Tối 24.3, tạp chí Newsweek đưa tin quân đội Mỹ vừa thử nghiệm tên lửa tấn công chính xác PrSM Increment 1 tại một căn cứ ở California. Được bắn đi từ Hệ thống pháo binh cơ động cao (HIMARS), tên lửa thử nghiệm đã bắn đến mục tiêu ở khoảng cách xấp xỉ 500 km.

Chiến lược mới của Mỹ
PrSM Increment 1 lần đầu tiên được chuyển giao cho quân đội Mỹ vào tháng 12.2023, nhằm thay thế dòng tên lửa ATACMS vốn có tầm bắn chỉ khoảng 300 km. PrSM có 3 phiên bản gia tăng khác nhau gồm: tên lửa tấn công tàu chiến, tên lửa tải trọng cao và loại được trang bị hệ thống đẩy mới để mở rộng tầm bắn lên 1.000 km. Tờ Newsweek dẫn thông tin cho hay loại tên lửa vừa được thử nghiệm để hướng đến chuyên dụng cho tác chiến ở Thái Bình Dương trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Trả lời Thanh Niên ngày 25.3 về đánh giá động thái trên của Mỹ, TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) cho rằng có 3 đặc điểm của loại tên lửa mới giúp nhận diện chiến lược mới của Mỹ đối với Trung Quốc.

Cụ thể, TS Nagao nêu: “Đầu tiên và quan trọng nhất là về tầm bắn. Lần này, tên lửa thử nghiệm đã tấn công mục tiêu cách xa khoảng 500 km. Tuy nhiên, chương trình phát triển đang hướng đến mở rộng tầm bắn lên 1.000 km. Vì tên lửa hiện tại ATACMS chỉ có tầm bắn 300 km, nên việc mở rộng đến 1.000 km sẽ cải thiện đáng kể khả năng tác chiến. Với tầm bắn 1.000 km, tên lửa Mỹ từ Nhật Bản hay Đài Loan có thể đủ sức vươn đến Thượng Hải. Chương trình phát triển tên lửa trên cũng có đầu đạn chống hạm, nên còn có thể tấn công tàu chiến”.

Thứ hai, theo ông Nagao, tên lửa này có thể phóng từ hệ thống HIMARS, vốn đã được triển khai rộng rãi. Nhờ đó, Mỹ có thể dễ dàng triển khai loại tên lửa mới một cách nhanh chóng. Trung Quốc đang hiện đại hóa tên lửa với tốc độ nhanh chóng, nên Mỹ cũng cần tăng cường tốc độ triển khai để cạnh tranh nhằm duy trì thế cân bằng.

“Thứ ba, hệ thống HIMARS có thể di chuyển linh hoạt, nên có thể tác chiến linh hoạt trước mạng lưới tên lửa dày đặc của Trung Quốc. Hiện nay, Mỹ đang tái tổ chức lực lượng lục quân và thủy quân lục chiến có khả năng tác chiến tên lửa hiệu quả. Nên loại tên lửa mới có thể trở thành vũ khí chính cho 2 lực lượng này của Mỹ”, vị chuyên gia nhận định.

Hàng loạt động thái
Thực tế gần đây, Mỹ liên tục nâng cao năng lực tác chiến ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tờ South China Morning Post ngày 19.3 đưa tin Mỹ chuẩn bị tích hợp tên lửa tấn công tàu tầm xa vào máy bay chiến đấu của mình để tăng cường khả năng phát động các cuộc không kích trong một cuộc chiến tiềm năng với Trung Quốc ở Thái Bình Dương.

Cụ thể, quân đội Mỹ tích hợp tên lửa chống hạm tầm xa AGM-158C (LRASM) vào máy bay chiến đấu F-16. Loại tên lửa này có tầm bắn 200 dặm (322 km) và có một số tính năng tiên tiến, bao gồm lập kế tuyến đường tự động được hỗ trợ bởi một loạt các ứng dụng điện tử trên tàu cho phép tên lửa tự động thay đổi hướng di chuyển để đối phó với các mối đe dọa bất ngờ, cũng như theo dõi mục tiêu tốt hơn thông qua phát xạ tần số vô tuyến. Vì thế, việc tích hợp LRASM vào F-16 có thể sẽ thúc đẩy khả năng chống hạm của không quân Mỹ, bởi chiến đấu cơ F-16 hiện nay chủ yếu trang bị tên lửa AGM-84 Harpoon có tầm hoạt động chỉ khoảng 120 km.

Từ năm ngoái, Mỹ cũng đã triển khai hệ thống phóng tên lửa Typhon đến Philippines. Đây là hệ thống phóng tên lửa chiến lược tầm trung có thể phóng cả tên lửa hành trình thông minh Tomahawk và tên lửa phòng không SM-6. Trong đó, tên lửa SM-6 không chỉ có thể đánh chặn chiến đấu cơ, máy bay không người lái mà cả các tên lửa đối hải. Chính vì thế, đây là hệ thống góp phần khắc chế chiến lược phong tỏa, chống tiếp cận (A2/AD) mà Trung Quốc đang hình thành ở Thái Bình Dương nhằm hạn chế tiềm lực quân sự của Mỹ ở khu vực.

T.P

]]>
Ý nghĩa của việc Hải quân Pháp triển khai nhóm tàu sân bay ở khu vực https://biendong.net/2024/12/09/y-nghia-cua-viec-hai-quan-phap-trien-khai-nhom-tau-san-bay-o-khu-vuc/ Mon, 09 Dec 2024 01:51:00 +0000 https://biendong.net/?p=141853 Từ đầu năm 2024 tới nay, Pháp có nhiều hoạt động thể hiện sự can dự mạnh mẽ hơn vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cùng với việc thúc đẩy ký kết một thoả thuận quốc phòng mới với Philippines, Pháp gia tăng các hoạt động hợp tác quân sự với nước này để qua đó can dự sâu hơn vào Biển Đông.

Mới đây, Hải quân Pháp thông báo Paris đang chuẩn bị triển khai tàu sân bay chỉ huy Charles de Gaulle trong đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương vào cuối năm nay.

Trong thông cáo báo chí Hải quân Pháp cho biết, các thuyền viên trên tàu sân bay Charles de Gaulle đã thực hiện khoá huấn luyện ba tuần từ ngày 04 đến 25/10/2024 hoạt động sau một thời gian ngưng hoạt động kỹ thuật để tái trang bị kéo dài gần bốn tháng. Các thuỷ thủ giờ đây bước vào việc chuẩn bị hoạt động và hậu cần bốn tuần cuối trên bờ trước đợt triển khai mới của tàu trong nhóm tàu tác chiến bao gồm tàu sân bay. Trước đó, một sĩ quan cấp cao của Pháp tuyên bố rằng, nhóm tàu sân bay sẽ sớm bắt đầu một nhiệm vụ kéo dài nhiều tháng mang tên Clemenceau 25, bao gồm khu vực phía đông Địa Trung Hải, Biển Đỏ, Ấn Độ Dương “và có thể vươn xa tới Thái Bình Dương”, trong đó có Đông Nam Á; đợt triển khai sẽ bao gồm các chuyến thăm cảng đến Philippines và Nhật Bản.

Một nguồn tin từ Paris cho biết, nhóm tàu tấn công bao gồm tàu sân bay có thể sẽ có chuyến thăm lịch sử đầu tiên tới Nhật Bản và Philippines. Nhóm tàu tác chiến dự kiến sẽ có tàu sân bay Charles de Gaulle, 1 tàu khu trục phòng không, 2 khinh hạm, 1 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân và 1 tàu hậu cần. Phi đội không quân có thể bao gồm 24 máy bay chiến đấu Rafale Marine, 4 trực thăng và 2 máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye AEW. Khoảng 3.000 thuỷ thủ và phi công sẽ tham gia vào nhiều cuộc tập trận trong lần triển khai này, bao gồm cả một cuộc tập trận chung quốc tế “tập trung vào chủ đề an ninh biển ở eo Indonesia”.

Nhiệm vụ có thể bao gồm các cuộc tập trận chung với Hải quân Ấn Độ và các cuộc tập trận với một số đối tác Thái Bình Dương, bao gồm Indonesia, Malaysia, Singapore, Australia và Nhật Bản. Một quan chức quân sự Pháp nhấn mạnh rằng nhiệm vụ này không đặt ra “bất kỳ giới hạn nào cho trí tưởng tượng” và có ý định “huấn luyện xa nhất và thực tế nhất có thể”.

Ông Benjamin Blandin, người điều phối của Hội đồng Yokosuka nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương, nhận định: “Kể từ sau thông báo về Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương của Pháp vào năm 2019, sự hiện diện quân sự của Pháp trong khu vực đã thực sự gia tăng và đa dạng hoá. Lần triển khai này có ý nghĩa lớn vì nó đánh dấu một sự mở rộng quan trọng sự hiện diện của Pháp ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương”.

Đáng chú ý, theo Bộ Quốc phòng Đài Loan, cuối tháng 10 vừa qua một tàu của hải quân Pháp đã đi qua Eo biển Đài Loan từ phía nam lên phía bắc. Tàu khu trục hạng Floreal là Prairial (F731) của Hải quân Pháp đã đi qua phần phía tây của đường ranh giới gần với Trung Quốc, không giống như các tàu của Mỹ và Canada thường chỉ đi qua phần phía đông của đường ranh giới gần với Đài Loan. Bắc Kinh không đưa ra phản đối ngay lập tức với chuyến đi này nhưng tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc có bài viết lên án việc triển khai nhóm tàu sân bay Charle d Gaulle đến khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Sau qua đi qua Eo biển Đài Loan, tàu khu trục Prairial của Pháp đã thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn để giám sát và can thiệp vào các nỗ lực của Triều Tiên trong việc thực hiện các chuyến vận chuyển hàng hóa bất hợp pháp trên biển. Ngày 5/11 ghé thăm cảng Maizuru thuộc tỉnh Kyoto của Nhật Bản. Chuyến thăm cho Nhật Bản thấy rằng Pháp đang tham gia vào khu vực này và đây cũng là một thông điệp gửi đến Mỹ với sự trở lại của Trump. Ông chuyên gia về các vấn đề quân sự và là giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại học Daito Bunka nói: “Các cường quốc châu Âu đang chỉ ra rằng họ không chỉ can dự vào Ukraine mà còn cam kết bảo vệ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và bảo vệ nguyên trạng khu vực”.

Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời các nhà phân tích nói rằng việc triển khai này là “một nỗ lực của NATO nhằm mở rộng vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương, phá hoại hoà bình và ổn định khu vực”. Ông Zhang Junshe (Trương Quân Xã), một chuyên gia quân sự của Trung Quốc nói với Hoàn Cầu Thời Báo rằng dù Pháp là nước duy nhất ngoài Mỹ có tàu sân bay chạy bằng hạt nhân, sức mạnh của Pháp trong lĩnh vực này vẫn còn hạn chế. Zhang Junshe cảnh báo rằng “không có quốc gia hay người dân nào ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương muốn các lực lượng từ bên ngài vào xây dựng sự hiện diện quân sự trong khu vực để gieo bất đồng và làm gia tăng căng thẳng trong khu vực”.

Pháp đã có một lịch sử can thiệp lâu dài vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có hơn 60 năm đô hộ Việt Nam và thay mặt nhà nước phong kiến Việt Nam quản lý 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông. Sau một giai đoạn khá yên lặng, dường như nước này đang thực hiện một sự quay lại chiến lược. Pháp có nhiều thoả thuận về vũ khí ở châu Á – Thái Bình Dương, với Indonesia và Singapore, và gần đây nhất là dự án trợ giúp trị giá 438 triệu đô la nhằm cung cấp 40 tàu tuần duyên và trợ giúp hậu cần cho Tuần duyên Philippines. Ông Benjamin Blandin nhận định: “Philippines có thể coi đây là bước quan trọng trong sự hiện diện chiến lược của Pháp ở khu vực”.

Pháp và Philippines đã đồng ý sẽ tăng cường hợp tác vào tháng 12/2023, và vị trí tham tán quân sự của Pháp đã được thiết lập ở Philippines vào tháng 5 năm nay. Tàu khu trục Vendémiaire đã tham gia cuộc tập trận Balikatan (Vai Kề Vai) vào tháng 4 và khu trục hạm Bretagne đã ghé cảng ở Manila từ ngày 31/5 đến ngày 4/6 vừa qua. Tàu khu trục Prairial trước khi đi qua Eo biển Đài Loan cũng đã thực hiện một chuyến thăm thiện chí đến Cebu (Philippines) từ ngày 22 đến 25/10. Quân đội Pháp đang trong quá trình đàm phán về một thoả thuận cho các chuyến thăm tới Philippines, hy vọng sẽ hoàn tất vào quý đầu năm 2025. Ông Benjamin Blandin nhận định: “Paris muốn đặt tên của mình trở lại vào bản đồ khu vực”.

Chuyên gia Garren Mulloy nhận định động thái mới này của Pháp thể hiện cam kết của Pháp đối với một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở và là thông điệp quan trọng gửi đến các đối tác. Ông Mulloy nói với chuyên mục “châu Á tuần này” của báo “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” rằng: “Thông điệp đằng sau đợt triển khai mới nhất này của Pháp không chỉ nhằm vào một quốc gia, mặc dù ưu tiên có thể là Trung Quốc, mà còn cả các quốc gia khác nữa”.

Ông Mulloy nhận định ngoài việc cải thiện khả năng tương tác và tăng cường năng lực với các quốc gia đồng minh, đợt triển khai này được thiết kế “để gửi nhiều lớp thông điệp” đến các đối tác và đối thủ. Ông Garren Mulloy nói: “Khuôn mẫu triển khai của các quốc gia châu Âu đã thay đổi trong khoảng 5 năm trở lại đây và những chuyến thăm Nhật Bản diễn ra thi thoảng trước đây đã trở thành những chuyến thăm khá thường xuyên hiện nay, ngày càng tăng về quy mô và phạm vi tương tác với lực lượng Nhật Bản”. 

Giáo sư Mulloy lưu ý rằng hạm đội Pháp có thể tham gia các cuộc tập trận với quân đội các nước đang vướng vào tranh chấp với Trung Quốc về chủ quyền các đảo ở Biển Đông. Một số thành phần hạm đội cũng có thể đi qua Eo biển Đài Loan để củng cố sự ủng hộ của quốc tế đối với quyền tự do hàng hải. Ngoài ra, ông Mulloy tin rằng các tàu chiến của Pháp sẽ tham gia vào các hoạt động gần Bán đảo Triều Tiên liên quan đến lệnh trừng phạt quốc tế đối với Triều Tiên vì phát triển hạt nhân và tên lửa.  Tóm lại, việc Hải quân Pháp triển khai nhóm tàu sân bay tới khu vực không chỉ là dấu môc quan trọng triển khai chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh Biển Đông. Động thái này của Paris rõ ràng là nhằm vào những hành động quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực. Giới phân tích nhận định trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực còn nhiều yếu tố chưa được xác định khi Donal Trump trở thành ông chủ Nhà Trắng trong nhiệm kỳ 2 thì việc nhóm tàu sân bay của Hải quân Pháp đến châu Á-Thái Bình Dương có ý nghĩa quan trọng cổ vũ chính quyền của tân Tổng thống Donal Trump cùng các nước châu Âu khác tiếp tuc đóng góp vào việc duy trì trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông và trong khu vực.

]]>
Lý do Philippines đẩy mạnh hiện đại hóa hải quân https://biendong.net/2024/11/01/ly-do-philippines-day-manh-hien-dai-hoa-hai-quan/ Fri, 01 Nov 2024 01:11:00 +0000 https://biendong.net/?p=140571 Nhằm thực hiện mục tiêu của Tổng thống Marcos Jr. đề ra là “không để mất một tấc lãnh thổ” của đất nước, bên cạnh việc củng cố quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác đa phương với các đồng minh của Mỹ, chính quyền Manila xác định nhiệm vụ cấp bách là nâng cao tiềm lực quốc phòng của đất nước, trong đó có việc đẩy mạnh hiện đại hoá lực lượng Hải quân Philippines.

Sau những căng thẳng với Trung Quốc về Bãi cạn Scarborough trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines và Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn này năm 2012, Philippines đã cam kết hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Mặc dù vậy, nhiều giai đoạn của quá trình hiện đại hoá quân đội của Philippines (mang tên gọi Horizons) vẫn chưa hoàn thành.

Vào năm 2023, Manila quyết định hợp nhất các nỗ lực hiện đại hóa của mình thành “Re-Horizon 3”. Với sự tập trung ngày càng tăng vào việc bảo vệ lãnh thổ, Hải quân Philippines dự kiến sẽ nhận được tài trợ cho nhiều tàu chiến và hệ thống hơn. Vào tháng 1/2024, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã phê duyệt chương trình hiện đại hóa quân đội “Re-Horizon 3” với dự tính chi phí 2 nghìn tỷ peso (35,6 tỷ USD), và sẽ được thực hiện trong thời gian vài năm.

Ông Roy Trinidad, Người phát ngôn của lực lượng Hải quân phía Tây Philippines, nhấn mạnh giai đoạn hiện đại hóa thứ 3 (“Re-Horizon 3”) phản ánh sự thay đổi trong chiến lược của Philippines từ phòng thủ bên trong sang phòng thủ bên ngoài. Ông Trinidad cho biết, trong khi giai đoạn đầu tiên và thứ 2 của kế hoạch hiện đại hóa quân đội Philippines lấy “lục địa làm trung tâm”, còn giai đoạn thứ ba sẽ tìm cách tăng cường khả năng quân sự trên biển, bao gồm việc mua tàu ngầm đầu tiên, để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Ông nói: “Chúng tôi có thể không phải là một lực lượng hải quân lớn… nhưng chúng tôi sẽ có một lực lượng hải quân có thể bảo vệ các quyền về lãnh thổ và chủ quyền”. Ông Roy Trinidad không cho biết Manila sẽ mua bao nhiêu tàu ngầm nhưng khẳng định rằng nước này “chắc chắn sẽ mua nhiều hơn một chiếc”.

Câu chuyện mua tàu ngầm của Philippines được giới chuyên gia quân sự hết sức quan tâm. Các chuyên gia cho rằng Philippines cần mua ít nhất 3 tàu nếu muốn có 1 tàu ngầm luôn hoạt động, sẵn sàng tác chiến bởi thông thường thì 1 đang vận hành, một đang huấn luyện và một đang tái trang bị hoặc bảo trì. Ông Felix Chang, thành viên cấp cao tại Viện Nghiên cứu chính sách Đối ngoại có trụ sở tại Mỹ cho rằng, dù không thể ngăn chặn Bắc Kinh thách thức các yêu sách hàng hải của Manila hay ngăn các tàu Trung Quốc đi vào vùng biển của Philippines, nhưng việc Philippines có tàu ngầm sẽ thể hiện rằng lực lượng hải quân nước này có thể chủ động hành động, buộc lực lượng Trung Quốc phải hành động thận trọng hơn.

Trong số những ứng cử viên hàng đầu Philippines hướng tới là tàu ngầm lớp Scorpène của Pháp. Ngoài ra, cũng có một số đề nghị chào hàng từ phía Hàn Quốc, Tây Ban Nha và Italy. Tham vọng của Philippines cũng không chỉ dừng lại ở việc mua tàu ngầm mà còn mong muốn tăng cường khả năng đào tạo, vận hành, đảm bảo một lực lượng vũ trang đủ mạnh và tự chủ. Tổng thống Philippines Ferdinand R. Marcos Jr. thừa nhận tầm quan trọng của nỗ lực này trong một cuộc phỏng vấn với báo giới tại lễ kỷ niệm 125 năm thành lập Hải quân Philippines: “Chúng ta đã có kế hoạch, nhưng hiện tại kế hoạch này vẫn đang trong quá trình phát triển. Vận hành tàu ngầm là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải đào tạo chuyên sâu, trang bị chuyên dụng và đảm bảo các yêu cầu vận hành quan trọng”.

Thực hiện kế hoạch này, Hải quân Philippines đã cử lực lượng đến Pháp để đào tạo nâng cao trước khi đàm phán mua tàu ngầm. Động thái này cho thấy có khả năng cao Philippines sẽ chọn tàu ngầm lớp Scorpène nổi tiếng do Tập đoàn công nghiệp quốc phòng Pháp Naval Group sản xuất. Theo một số nguồn tin, trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội “Re-Horizon 3”, Manila dành ra một khoản ngân sách từ 70 đến 100 tỷ Peso (1,25-1,80 tỷ USD) để mua tàu ngầm, cho thấy nỗ lực tăng cường năng lực hải quân của Philippines.

Tương tự những chiếc tàu ngầm lớp Scorpène do Brazil vận hành, biến thể Philiipines nhắm tới sẽ được trang bị 6 ống phóng với 18 quả ngư lôi và có thể triển khai tên lửa chống hạm SM 39 Exocet và ngư lôi hạng nặng F21. Tàu ngầm lớp Scorpène có chiều dài từ 60m đến 82m, gồm nhiều biến thể như tàu ngầm chạy điện-diesel thông thường CM-2000, biến thể sử dụng động cơ đẩy không khí độc lập (không phụ thuộc vào không khí ngoài) AM-2000, biến thể ven biển cỡ nhỏ CA-2000.

Bên cạnh việc mua sắm tàu ngầm, Philippines trú trọng tới việc phát triển tên lửa chống hạm. Vào năm 2022, Phó Đô đốc Toribo Adaci Jr. trở thành Tư lệnh thứ 40 của Hải quân Philippines, một lực lượng đã bắt đầu hiện đại hóa khi đất nước chuyển trọng tâm từ chống nổi loạn trên bộ sang phòng thủ lãnh thổ trên biển và trên không. Kể từ thời điểm đó, Tư lệnh Adci đã giám sát vụ phóng tên lửa chống hạm đầu tiên của đất nước và tăng cường hợp tác đa phương với các đồng minh ở Biển Đông. Tư lệnh Adaci tuyên bố rằng: “Chúng tôi mong muốn chương trình này (hiện đại hoá Hải quân) được triển khai. Chúng tôi hy vọng sẽ có được các nền tảng và hệ thống hiện đại cho Hải quân của mình”.

So với các lực lượng hải quân trong khu vực, Philippines đã tụt hậu từ lâu với các tàu chiến thời Thế chiến thứ hai và thiếu các khả năng hiện đại; trước đây Hải quân Philippines lại chỉ được trang bị các loại tàu pháo. Đa số các tàu chiến trong biên chế của Hải quân Philippines là hàng cũ được chuyển giao từ Mỹ. Vì vậy, Năm 2022, chính quyền Manila quyết định mua 2 tàu hộ vệ tên lửa lớp Jose Rizal và 6 tàu tuần tra ngoài khơi của công ty đóng tàu Hàn Quốc Hyundai Heavy Industries. Đây là 2 tàu hộ vệ tên lửa hiện đại đầu tiên của Philippines, có khả năng chống hạm, chống tàu ngầm và tác chiến phòng không, giúp tăng cường tính tương thích và khả năng tác chiến với các phương tiện vũ khí hiện có của Philippines.

Lực lượng Hải quân Philippines đã đưa vào biên chế 2 tàu chiến hiện đại đầu tiên của mình với tên gọiBRP Jose Rizal (FF-150) và BRP Antonio Luna (FF-151) vào năm 2022 và chỉ mới cho “nghỉ hưu” phần lớn hạm đội cũ kỹ của mình gần đây. Tư lệnh Hải quân Adaci nói: “Chúng tôi đã cố chạy lại các tàu cũ của mình và hiện đang sử dụng các tàu hiện đại. Chúng tôi rất phấn khích khi có thêm nhiều nền tảng hiện đại hơn trong vài năm tới. Đây là một điều tốt, vì chúng tôi còn phải bắt kịp về mặt hiện đại hóa”.

Trong khi một số tàu cũ vẫn đang hoạt động, chủ yếu là tàu đổ bộ tăng, hạm đội đã loại bỏ tàu chiến cuối cùng của Thế chiến thứ hai vào năm 2021. Quá trình hiện đại hóa này cũng đã đưa hạm đội vào cái mà Tư lệnh Adaci gọi là “thời đại tên lửa”. Điều quan trọng nhất đã xảy ra dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Adaci đó là tên lửa được đưa vào biên chế của Hải quân. Ông Adaci nhấn mạnh tầm quan trọng của các vụ phóng tên lửa đầu tiên của lực lượng “bởi vì đó là điều mới mẻ đối với Hải quân Philippines”. Tư lệnh Adaci nói: “Thật thú vị vì giờ đây chúng ta có thể coi mình đang ở trong thời đại tên lửa, đã phóng tên lửa C-Star, tên lửa SPIKE ER, tên lửa SPIKE NLOS” khi ám chỉ đến các vụ phóng trên tàu Jose Rizal trong tập trận Balikatan 2024.

Cần lưu ý rằng ngoài các hệ thống của Hàn Quốc và Israel, lực lượng Hải quân đã nhận được tên lửa hành trình chống hạm siêu thanh BrahMos đầu tiên từ Ấn Độ vào đầu năm nay. Giới phân tích quân sự đánh giá khi các hệ thống tên lửa BrahMos của lực lượng này đi vào hoạt động sẽ tăng thêm đáng kể sức mạnh của Hải quân Philippines.

So với Cảnh sát biển, Hải quân Philippines đã đảm nhận vai trò hỗ trợ theo cách mà Adaci mô tả là “cách tiếp cận trắng-trắng”. Tại Biển Tây Philippines (cách Philippines gọi một phần của Biển Đông, bao gồm Vùng đặc quyền kinh tế của nước này), Manila đã quyết định triển khai Lực lượng Bảo vệ bờ biển và các cơ quan dân sự khác tại những điểm nóng tranh chấp với Trung Quốc. Bắt đầu từ năm 2023, hạm đội hạn chế gồm 13 tàu tuần tra trên biển của Lực lượng Bảo vệ bờ biển đã bị lực lượng Trung Quốc dùng vòi rồng và đâm va gây hư hại. Tàu chiến chủ lực của lực lượng này, BRP Teresa Magbanua (MRRV-9701), đã phải rút khỏi Bãi cạn Sa Bin sau khi bị lực lượng Trung Quốc phong tỏa và đâm va nhiều lần.

Tư lệnh Hải quân Philippines nhấn mạnh rằng Hải quân “luôn ở đó trong hậu trường để cung cấp hỗ trợ” và họ đã sẵn sàng hỗ trợ và dẫn đầu tại Biển Tây Philippines nếu được yêu cầu. BRP Antonio Luna (FF-151), tàu chiến hiện đại thứ hai của lực lượng này, đã phải hủy bỏ việc triển khai tới Australia cho cuộc diễn tập Kakadu 2024 do những lo ngại cấp bách hơn xảy ra trong nước. Tư lệnh Adaci nhấn mạnh giá trị của đào tạo nước ngoài, tiến hành tuần tra hàng hải để đảm bảo quốc phòng của đất nước luôn được ưu tiên. Ông Adaci cho biết: “Chỉ là vào thời điểm đó, có nhiều mối quan tâm cấp bách hơn đòi hỏi phải sử dụng tàu của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi ưu tiên tiến hành tuần tra thay vì gửi chúng ra nước ngoài để tập trận”.

 Về việc tăng cường hợp tác của lực lượng với các đồng minh và đối tác, Tư lệnh Hải quân Philippines đã đánh giá cao những nỗ lực của các quốc gia cùng chí hướng trong việc giúp Philippines khẳng định chủ quyền của nước này ở Biển Đông đang có tranh chấp. Ông nói: “Điều đó thật tốt vì chúng ta chia sẻ cùng một lợi ích và bạn thấy hiệu quả của các quốc gia cùng chí hướng và các nước đang cùng nhau vì một mục đích duy nhất. Tất cả chúng ta đều muốn thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên luật lệ, tôn trọng luật pháp quốc tế và tự do hàng hải và hàng không. Đó là điều mà tất cả các quốc gia, không chỉ Philippines, Australia, Mỹ, Nhật Bản và một số quốc gia châu Âu, đều nên sẵn sàng bảo vệ luật pháp quốc tế”.

Trong hầu hết lịch sử của mình, Hải quân Philippines chỉ tiến hành các cuộc tập trận song phương với Mỹ. Tuy nhiên, kể từ năm 2023 khi mà Trung Quốc gia tăng các hành động hung hăng nhằm vào Philippines ở Biển Đông, Manila đã tăng cường các hoạt động hợp tác an ninh hàng hải với một số quốc gia khác ngoài khu vực. Thời gian gần đây, Philippines đã cùng Mỹ tiến hành các cuộc tập trận và tuần tra hàng hải đa phương với các nước Australia, Nhật Bản, Canada, Pháp, Anh ở Biển Đông.

Tư lệnh Hải quân Adaci cho biết: “Trong thời kỳ chúng tôi thiếu các hoạt động hợp tác đa phương (MCA), trước đây chỉ là các cuộc tập trận song phương với Mỹ. Nhưng giờ đây, việc nhìn thấy các tàu của Hải quân Philippines, tàu của Hải quân Mỹ, tàu của Hải quân Australia, tàu của Hải quân Nhật Bản, tàu của Pháp cùng nhau đi biển là điều bình thường. Đó là sự hợp tác liên tục, tôi chắc chắn rằng sẽ có nhiều MCA hơn trong tương lai”. Giới chuyên gia nhận định với một nền kinh tế còn kém phát triển, chính quyền của Tổng thống Marcos đã phải gồng mình lên để mua sắm các vũ khí, trang thiết bị hiện đại, bao gồm tàu ngầm, tên lửa chống hạm là nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines ở Biển Đông trước sự bành trướng của Bắc Kinh. Hiện Philippines đang nhận được sự ủng hộ của Mỹ và các đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Pháp, Đức, Hàn Quốc… trong việc hiện đại hoá quân đội. Tóm lại, lý do khiến Philippines phải đẩy mạnh hiện đại hoá quân đội và hải quân chính là sự hiếu chiến của Bắc Kinh.

]]>
Giữa lúc căng thẳng với Bắc Kinh ở Biển Đông leo thang Manila quyết định mua tàu ngầm https://biendong.net/2023/09/20/giua-luc-cang-thang-voi-bac-kinh-o-bien-dong-leo-thang-manila-quyet-dinh-mua-tau-ngam/ Wed, 20 Sep 2023 13:10:00 +0000 https://biendong.net/?p=114546 Trước những diễn biến căng thẳng trên Biển Đông và các hành động o ép của Trung Quốc đối với Philippines như trong giai đoạn vừa qua, Philippines không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải củng cố tiềm lực quốc phòng của mình trong đó có việc mua tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ và mới đây đã quyết định mua chiếc tàu ngầm đầu tiên.

Tập đoàn Hải quân Pháp, một trong những ứng cử viên hàng đầu được chọn, đã đề nghị bán tàu ngầm Scorpene để biến Hải quân Philippines thành một lực lượng quan trọng trong khu vực. Quốc gia Đông Nam Á này cũng nhận được những đề xuất từ DSME của Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga để phát triển tàu ngầm cho Hải quân Philippines. Cùng với kế hoạch mua tàu ngầm, Philippines cũng nghiên cứu khả năng đào tạo lực lượng. Trong một cuộc họp báo nhân lễ kỷ niệm 125 năm thành lập Hải quân Philippines, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã phát biểu: “Hiện có một kế hoạch. Nhưng kế hoạch đó vẫn đang trong quá trình triển khai. Vận hành một tàu ngầm không phải là chuyện nhỏ. Đó là một trách nhiệm và cam kết to lớn do nó đòi hỏi cần có đào tạo chuyên sâu, thiết bị chuyên dụng và các yêu cầu vận hành quan trọng”.

Theo một số nguồn tin, Hải quân Philippines đã gửi quân nhân của họ tới Pháp để được đào tạo theo theo yêu cầu trước khi mua tàu ngầm. Điều này cho thấy Tập đoàn Hải quân Pháp chính là lựa chọn hàng đầu, với mẫu tàu ngầm diesel-điện (SSK) lớp Scorpene được đề xuất. Mẫu tàu ngầm này đã được Brazil, Chile, Ấn Độ và Malaysia lựa chọn. Hải quân Philippines đã bắt đầu phát triển lực lượng tàu ngầm từ năm 2015 khi cử nhân viên sang đào tạo tại cơ sở của Tập đoàn Tư vấn công nghiệp quốc phòng Pháp (Tập đoàn DCI). Một đoàn gồm 31 thủy thủ sẽ được huấn luyện để điều khiển tàu ngầm Scorpene mà Tập đoàn Hải quân Pháp đang đề xuất bán cho Hải quân Philippines. Con tàu này có khả năng hoạt động trên biển trong 80 ngày. Biến thể tàu ngầm này tương tự như những chiếc do Brazil vận hành. Tàu này được trang bị 6 ống phóng ngư lôi và có thể triển khai tổng cộng 18 quả đạn. Tàu còn được trang bị tên lửa chống hạm SM 39 Exocet và ngư lôi hạng nặng F21.

Mặc dù đã có ý định từ lâu, song kế hoạch mua tàu ngầm của Philippines vẫn chưa được thực hiện do ngân sách quốc phòng hạn chế. Ước tính ngân sách để mua 2 tàu ngầm vào khoảng 70-100 tỷ Peso Philippines (1,25-1,8 tỷ USD). Việc mua sắm này là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa hải quân Horizon 3 (giai đoạn 2023-2028). Sau khi thỏa thuận được ký kết, sẽ phải mất 5 năm hoặc hơn để chiếc tàu ngầm đầu tiên chính thức gia nhập hạm đội của Philippines. Tập đoàn Hải quân Pháp không đồng ý đóng tàu ở Philippines, song tập đoàn này đề xuất cung cấp khóa đào tạo chuyên sâu kéo dài 4 năm cho các nhân viên của Philippines. 

Là nước có tranh chấp lớn thứ 2 với Trung Quốc ở Biển Đông, song so với các nước ven Biển Đông khác như Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Singapore thì Philippines là nước có sức mạnh quân sự kém nhất. Trong khi các nước đó đều có tàu ngầm (Việt Nam có 6 tàu ngầm Kilo; Indonesia có 4 tàu ngầm tấn công diesel-điện; Malaysia có 2 tàu ngầm và đã có kế hoạch mua thêm 2 tàu ngầm; Singapore sở hữu 4 tàu ngầm tấn công diesel-điện, gồm 2 chiếc lớp Challenger, 2 chiếc lớp Archer và đang đặt mua thêm 4 tàu ngầm lớp Invincible của Đức)  thì Philippines chưa có tàu ngầm. Hải quân của Philippines không thể so sánh với Hải quân các nước ven Biển Đông khác như Việt Nam, Singapore, Malaysia, Indonesia, do vậy thời gian gần đây Philippines là nước bị Bắc Kinh bắt nạt nhiều nhất.

Trong bối cảnh, Bắc Kinh đang “chĩa mũi dùi” của sự gây hấn hung hăng vào Manila ở Biển Đông do nước này tăng cường quan hệ quân sự mạnh mẽ với Mỹ thì việc chính quyền Tổng thống Marcos Jr. đưa ra quyết định mua sắm tàu ngầm vào thời điểm này là khá hợp lý. Giới chuyên gia cho rằng chiến thuật hiếu chiến của “gã khổng lồ châu Á” cũng đã khiến Marcos Jr. chuyển hướng mạnh sang Mỹ như Bộ Ngoại giao Philippines mới đây cho biết mối quan hệ song phương với Mỹ “hiện đang ở trạng thái rất tốt”; ngoài ra, Manila còn chủ động thúc đẩy quan hệ quốc phòng và an ninh biển với 2 đồng minh của Mỹ là Nhật Bản và Úc.

Trong khi đó, nhà quân sự nhận định cho dù Philippines đã nhận được sự cam kết mạnh hơn về bảo đảm an ninh từ Mỹ ở Biển Đông sau khi Washington công bố “Hướng dẫn phòng thủ song phương” Mỹ – Philippines hồi đầu tháng 5, song nếu Philippines không có một lực lượng quốc phòng, nhất là hải quân đủ mạnh thì Manila cũng khó mà ứng phó được với sự lấn lướt của Bắc Kinh. Đây chính là lý do vì sao Philippines tập trung tăng cường tiềm lực quốc phòng trong thời gian gần đây từ mua tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ đến quyết định mua tàu ngầm đầu tiên.

]]>
Thấy gì qua việc Mỹ được phép sử dụng thêm bốn căn cứ quân sự mới của Philippines                       https://biendong.net/2023/07/12/thay-gi-qua-viec-my-duoc-phep-su-dung-them-bon-can-cu-quan-su-moi-cua-philippines/ Wed, 12 Jul 2023 01:43:43 +0000 https://biendong.net/?p=109831 Ngày 2/2/2023, Bộ Quốc phòng Mỹ và Philippines ra tuyên bố chung, theo đó phía Philippines đã đồng ý cho phép Quân đội Mỹ sử dụng thêm 4 căn cứ quân sự mới của Philippines, đồng thời cho biết, Mỹ sẽ thúc đẩy việc xây dựng và đưa vào sử dụng 5 căn cứ quân sự đã được xác định theo Thỏa thuận hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) mà hai bên đã ký năm 2014.

Sự kiện này đã và đang được giới quan sát và các chuyên gia nghiên cứu khu vực quan tâm và tìm hiểu. Liệu đây có phải là động thái mới của Mỹ nhằm phối hợp với Philippines để “kiềm chế” Trung Quốc ở Biển Đông? Mặc dù chính quyền mới ở Philippines không đề cập gì tới vấn đề Biển Đông và chỉ giải thích rằng, 4 căn cứ mới mà Philippines cho phép Mỹ sử dụng “rất thích hợp và có lợi cho cả đôi bên”, nhất là trong các chiến dịch cứu hộ, cứu nạn và cứu trợ nhân đạo khi xảy ra thiên tai và “tình huống khẩn cấp”, song người ta vẫn hiểu rằng đó có thể là một phần nằm trong tính toán chiến lược của cả Mỹ và Philippines. Điều này được thể hiện qua mấy căn cứ sau:

Thứ nhất, Philippines là đồng minh của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai nước đã ký Hiệp định phòng thủ chung (1951) và Philippines cũng ủng hộ các chính sách của Mỹ ở khu vực, từng tham gia vào cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam. Sau Chiến tranh Lạnh, Philippines là quốc gia nằm trong “nhóm” đồng minh mà Mỹ thành lập ở châu Á cùng với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, đồng thời cũng là một “mũi nhọn” trong chính sách mở rộng ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Điều này phần nào giải thích cho những ưu tiên về mặt quân sự mà Washington giành cho Manila trong nhiều năm qua. Đặc biệt, hiện nay quan hệ Mỹ – Trung đang trong thời kỳ có nhiều mâu thuẫn căng thẳng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, đến quốc phòng – an ninh, trong đó có vấn đề Biển Đông. Vì vậy, việc Mỹ được phép sử dụng thêm 4 căn cứ quân sự mới, đưa tổng số căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippines lên 9 căn cứ, không chỉ để lợi dụng vị trí địa chiến lược quan trọng của Philippines trong việc thực hiện chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” nói chung, mà còn lợi dụng Philippines trong các vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông nói riêng để chi phối khu vực và “kiềm chế” Trung Quốc.

Thứ hai, trong thời kỳ Tổng thống B.Obama cầm quyền, Mỹ đã thực hiện chiến lược “tái cân bằng” sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Philippines được Mỹ coi là “đồng minh ngoài NATO” ở châu Á để thực hiện chiến lược trên, trong đó vấn đề Biển Đông được Mỹ quan tâm, đặt ra trong chiến lược này nhưng chưa có nhiều hoạt động cụ thể mạnh mẽ trên thực địa cũng như trên mặt trận chính trị, ngoại giao, pháp lý. Sự kiện Philippines bị mất bãi cạn Scarborough năm 2012 cho thấy, chính quyền Mỹ lúc đó đã không ra tay ngăn chặn kịp thời, để cho Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát bãi cạn này, tạo điều kiện để sau đó Bắc Kinh ồ ạt mở rộng xây dựng các công trình quân sự trái phép trên Biển Đông mà không vấp phải bất kỳ một sự can thiệp đáng kể nào về mặt quân sự của Mỹ.

Dưới thời Tổng thống D.Trump, Mỹ triển khai chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, vấn đề Biển Đông được Mỹ quan tâm nhiều hơn cả trên thực địa lẫn trên mặt trận pháp lý. Đặc biệt, Mỹ đã ủng hộ và triệt để khai thác thắng lợi của Philippines trong vụ Manila kiện Trung Quốc ở Biển Đông do Tòa Trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) phân xử. Theo đó, dựa trên phán quyết của PCA, Mỹ ra tuyên bố phản đối và phủ nhận các yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, trên thực địa, Mỹ vẫn thiếu nhiều căn cứ quân sự, cơ sở hậu cần để triển khai mạnh mẽ hơn các hoạt động tại Biển Đông. Vì thế, giới quân sự Mỹ cho rằng, thế và lực của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á nói chung, Biển Đông nói riêng vẫn “lép vế” hơn nhiều so với Trung Quốc.

Sau khi ông J.Biden lên nắm quyền, Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, nhưng có sự điều chỉnh cụ thể và sát thực tế hơn nhằm khôi phục vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ. Đối với khu vực Biển Đông, Mỹ đã: 1/ Tăng cường triển khai lực lượng chiến lược tuyến đầu, làm mới lại quan hệ với các đồng minh và đối tác, xây dựng khuôn khổ an ninh đa phương hẹp bao gồm các quốc gia trong và ngoài khu vực để củng cố lợi thế so sánh của mình và thực hiện sự “kiềm chế” đối với Trung Quốc ở  Biển Đông, không để Bắc Kinh mở rộng không gian địa chính trị. Philippines là một trong những quốc gia “trụ cột” trong tuyến đầu của Mỹ ở Biển Đông đã được quan tâm, điều này thể hiện rất rõ qua các chuyến thăm liên tục của các quan chức cấp cao trong chính quyền Mỹ tới Philippines trong năm 2022, như Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin, Ngoại trưởng Antony Blinken, Phó Tổng thống Kamala Harris. 2/ Duy trì sự hiện diện quân sự ở tuyến đầu với cường độ cao thông qua các lực lượng tác chiến và phương thức tác chiến mới; ký kết các thỏa thuận song phương với một số nước Đông Nam Á, trong đó có Philippines; định kỳ và gia tăng các hoạt động tập trận chung với các nước trong khu vực; triển khai kế hoạch nâng cao năng lực bảo vệ chủ quyền biển cho một số nước; tổ chức các chuyến thăm tới các cảng và sử dụng các căn cứ của một số nước là đồng minh, đối tác. So với trước đây, sự hiện diện của Mỹ ở các nước trong khu vực nói chung, ở Biển Đông nói riêng ngày càng nhiều hơn và có xu hướng được “bình thường hóa”. Một số chuyên gia cho rằng, trong tương lai, không loại trừ khả năng Mỹ sẽ hợp tác với các quốc gia và khu vực lân cận ở Biển Đông, cũng như ký kết các thỏa thuận quan sát viên trên tàu với một số nước để “thực thi luật pháp” tại các vùng biển tranh chấp ngày càng nhiều hơn. Việc Mỹ được quyền tiếp cận thêm 4 căn cứ quân sự mới của Philippines là sự thể hiện chủ trương này của Washington.

Thứ ba, tuy không nói thẳng ra, nhưng ẩn chứa đằng sau các hành động và tuyên bố ngoại giao của cả hai bên vừa qua cho thấy, việc Philippines cho phép Mỹ sử dụng thêm 4 căn cứ quân sự mới sẽ giúp Manila có chỗ dựa để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông trước các hành động ngày càng cứng rắn hơn của Trung Quốc. Còn về phía Mỹ, động thái này sẽ giúp Mỹ có thêm cơ sở, điều kiện để tiếp cận gần Trung Quốc hơn ở Biển Đông. Như đã biết, phán quyết cuối cùng của PCA năm 2016 đã tạo cơ sở pháp lý cho Philippines đấu tranh với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines lúc đó là ông Rodrigo Duterte đã gạt phán quyết này sang một bên, ngả về phía Trung Quốc để tìm kiếm các lợi ích về kinh tế. Chủ trương này đã không mang lại kết quả như ông Duterte mong muốn, nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc đổ vào Philippines quá ít so với những gì Bắc Kinh cam kết. Thất vọng với “ông bạn khổng lồ” này nên vào cuối nhiệm kỳ của mình, ông Duterte đã tỏ ra cứng rắn hơn với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông khi thẳng thừng đề cập đến phán quyết của PCA tại Liên hợp quốc, đồng thời chủ động trực tiếp phản đối những hành vi phi pháp của Trung Quốc tại vùng biển của Philippines cả ở cấp độ song phương lẫn đa phương nhằm tìm kiếm sự ủng hộ từ bên ngoài  trên mặt trận pháp lý cũng như trên thực địa. 

Tổng thống Ferdinand Marcos Jr sau khi lên nắm quyền ở Philippines, mặc dù chủ trương giữ cân bằng quan hệ giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ và Trung Quốc, nhưng vẫn lo lắng và chú trọng đến việc không để Trung Quốc chà đạp lên chủ quyền của Manila. Đối với Trung Quốc, một mặt, ông vẫn chủ trương duy trì quan hệ thương mại với đối tác hàng đầu này bằng việc đã thông qua 12 thỏa thuận về thương mại và du lịch được ký kết trong chuyến công du Bắc Kinh của ông vào đầu tháng 01/2023. Mặt khác, ông cũng đề cập với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình những quan ngại về chủ quyền, quyền đánh bắt của ngư dân Philippines ở những ngư trường truyền thống và những công trình quân sự được Bắc Kinh xây dựng trên những thực thể mà nước này chiếm đóng trái phép ở Biển Đông, trong đó có các căn cứ nằm trong vùng biển của Philippines. Mặc dù đã được Trung Quốc trấn an về vấn đề này, nhưng Manila vẫn không yên tâm. Trả lời phỏng vấn báo Financial Times ngày 19/01/2023, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr không giấu diếm sự “lo lắng” về tình hình Đài Loan và những căng thẳng diễn ra giữa tàu chiến Trung Quốc và Mỹ trong khu vực, đồng thời thừa nhận rằng, “căng thẳng trên Biển Đông khiến tôi trằn trọc từng đêm”. Trước đó, ngày 16/1/2023, tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos ở Thụy Sỹ, ông từng cảnh báo nếu xảy ra tình huống xấu trên Biển Đông, các nước trong vùng sẽ là những bên trực tiếp “gánh chịu”. Đối với Mỹ, đầu tháng 5/2023, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr đã có chuyến thăm Mỹ. Trước khi hội đàm song phương với người đồng cấp là Tổng thống Mỹ J.Biden, hai vị tổng thống đã có phát biểu ngắn gọn trước báo chí. Ông J.Biden nhấn mạnh đến cam kết không gì lay chuyển của Mỹ trong việc bảo vệ Philippines, kể cả tại khu vực Biển Đông”, đồng thời hứa sẽ “hỗ trợ việc hiện đại hóa Quân đội Philippines”. Đặc biệt, Mỹ dự trù sẽ chuyển các phi cơ quân sự đến Philippines và giúp Manila tăng cường phi đội máy bay chiến đấu. Về phần mình, Tổng thống Marcos Jr cho rằng, Philippines ở trong một khu vực mà đang ngày càng trở nên  “phức tạp hơn” về mặt địa chính trị, cho nên Manila phải hướng về quốc gia duy nhất đã ký hiệp ước phòng thủ chung với Philippines, đó là Mỹ. Tuy không nêu đích danh, nhưng rõ ràng cả hai Tổng thống Mỹ và Philippines đều nghĩ đến Trung Quốc, trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông gia tăng trong thời gian gần đây. Vụ việc mới nhất xảy ra hôm 23/04/2023 vừa qua, khi các tàu của Trung Quốc và Philippines suýt nữa đã đụng nhau trên biển tại khu vực cách đảo Palawan của Philippines khoảng 200km. Điều cần lưu ý là, quan hệ đồng minh Mỹ – Phi hiện nay được ràng buộc bởi các trụ cột chính, đó là: (1) Hiệp ước Phòng thủ chung (MDT) được ký năm 1951, quy định hai bên sẽ bảo vệ nhau trong trường hợp một bên bị lực lượng nước ngoài tấn công; (2) Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) được ký năm 1998, có hiệu lực từ năm 1999; (3) Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA) được ký năm 2014, cho phép Quân đội Mỹ sử dụng 5 căn cứ quân sự trên lãnh thổ Philippines. Những thỏa thuận trên chính là cơ sở pháp lý để hàng nghìn binh sĩ Mỹ cùng các phương tiện được luân phiên đồn trú tại Philippines và cho phép quân đội hai nước tiến hành các cuộc tập trận chung thường niên, tổ chức huấn luyện quân sự cũng như triển khai hoạt động hỗ trợ nhân đạo… Theo thống kê, mỗi năm Quân đội Mỹ có khoảng 300 hoạt động như vậy tại quốc gia Đông Nam Á này, bao gồm cả những chuyến thăm viếng của các tàu chiến.

Thứ tư, xét về vị trí của 4 căn cứ quân sự mới Mỹ được phép sử dụng ở Philippines. Trước đây, Mỹ đã được phép sử dụng 5 căn cứ quân sự tại  Philippines, bao gồm: Căn cứ Antonio Bautista ở Palawan, Cesar Basa ở Pampanga, Magsaysay ở Nueva Ecija, Benito Ebuen ở Cebu và Lumbia ở Mindanao. Đây là những căn cứ được Quân đội Mỹ sớm xây dựng, nhưng do cựu Tổng thống Rodrigo Duterte không “mặn mà” với sự hiện diện của Quân đội Mỹ, nên ngoài việc xây dựng một nhà kho bên trong căn cứ không quân Cesar Basa, các dự án xây dựng ở các căn cứ còn lại luôn ở trong trạng thái bị đình trệ. Điều này khiến Mỹ rất lo lắng, cho rằng sự trì trệ này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc điều chỉnh sức mạnh quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung, Biển Đông nói riêng. Lần này, ngoài việc được phép sử dụng thêm 4 căn cứ quân sự mới, Mỹ sẽ chi 66,5 triệu USD trong năm 2023 để thúc đẩy việc xây dựng và đưa vào sử dụng 5 căn cứ này. Còn 4 căn cứ quân sự mới được phép gồm: 1 căn cứ nằm ở tỉnh Cagayan, cực Bắc của đảo Luzon, 2 căn cứ nằm ở vịnh Subic thuộc tỉnh Zambales trên đảo Luzon, tỉnh Isabela ở phía Đông Bắc đảo Luzon và 1 căn cứ nằm ở tỉnh Palawan nằm trong vùng Biển Đông. Đáng chú ý, trong số 4 căn cứ quân sự trên, có 2 căn cứ nằm ở vị trí cực kỳ quan trọng, đó là: Căn cứ hải quân Camilo Osias tại Santa Ana ở tỉnh Cagayan, chỉ cách Đài Loan khoảng 400km (250 hải lý) và căn cứ không quân trên quần đảo Balabac ở Palawan, ngay sát Biển Đông, gần khu vực quần đảo Trường Sa. Hai căn cứ này đều nằm gần những “điểm nóng” đang hiện hữu tại khu vực có liên quan đến quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Việc Mỹ có quyền tiếp cận 2 căn cứ quân sự mới này của Philippines sẽ mang lại lợi thế không nhỏ cho Washington khi cần phải can thiệp, đối phó với Trung Quốc trong trường hợp Đài Loan hay Biển Đông “có biến”. Nó tạo điều kiện cho Mỹ có chỗ trú quân tạm thời và lưu trữ vũ khí sát những điểm có khả năng xảy ra “đụng độ”. Về phía Philippines, việc cho phép Mỹ tiếp cận những nơi này cũng là một phương án khả dĩ nhằm đối phó với tham vọng của Bắc Kinh luôn “nhòm ngó” các khu vực trên Biển Đông, nơi mà Manila cũng có tuyên bố chủ quyền một phần, trong khi đương kim Tổng thống Philippines đã từng khẳng định, rằng ông sẽ không để Bắc Kinh chà đạp lên các quyền lợi trên biển của Manila.

Như vậy, sau gần 10 năm, đến thời điểm hiện nay, Mỹ đã được phép tiếp cận đến 9 căn cứ quân sự của Philippines. Nhiều căn cứ này từng nằm trong chuỗi thành trì thế giới tự dokéo dài từ Nhật Bản, Hàn Quốc xuống Philippines trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tất cả những căn cứ được Washington lựa chọn đều có vị trí “đắc địa” trong trường hợp xảy ra xung đột ở Đài Loan hoặc ở Biển Đông. Đặc biệt, căn cứ mới nằm trên đảo Palawan, đối diện với quần đảo Trường Sa ở Biển Đông, nơi đã từng được Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đến thăm hòn đảo này vào tháng 11/2022.

Từ đầu năm 2022 đến nay, hợp tác quốc phòng Mỹ – Phi tăng lên từng ngày. Tháng 6/2022, Cơ quan hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ thông báo,  Bộ Ngoại giao Mỹ đang chuẩn bị bán cho Philippines 12 máy bay chiến đấu F-16, 10 bộ tên lửa chống hạm Harpoon, 24 bộ tên lửa không đối không “Rắn đuôi chuông” AIM-9 với tổng trị giá 2,9 tỷ USD. Ngày 15/10/2022, Mỹ tuyên bố viện trợ quân sự cho Manila 100 triệu USD. Cuối tháng 11/2022, sau chuyến thăm Philippines, Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris tuyên bố, Mỹ sẽ viện trợ thêm 7,5 triệu USD cho các cơ quan thực thi pháp luật trên biển của Philippines để nâng cao năng lực chống đánh bắt cá bất hợp pháp, giám sát trên biển và hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn. Tháng 3/2022, Mỹ và Philippines đã tổ chức cuộc tập trận “Vai kề vai” có quy mô lớn nhất trong lịch sử, với sự tham gia của 3.800 binh sĩ Philippines và 5.100 binh sĩ Mỹ. Nhận định các hoạt động trên của hai nước Mỹ – Phi, nhất là động thái Philippines cho phép Mỹ tiếp cận thêm 4 căn cứ quân sự mới, giáo sư Alexander Vuving thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Honolulu, Mỹ cho rằng: “Việc Philippines củng cố vị thế ở Biển Đông, bằng cách gia tăng hợp tác với Mỹ và không ngần ngại lên án các hoạt động phi pháp của Trung Quốc trong vùng biển này, sẽ khuyến khích các nước tranh chấp khác trong khối Đông Nam Á mạnh dạn hơn trong việc bảo vệ quyền của họ ở Biển Đông”. Song ông cũng dự báo, Manila có thể trở thành mục tiêu chính trong các biện pháp trả đũa của Bắc Kinh. Rất có thể Trung Quốc sẽ hung hăng và cứng rắn hơn đối với Philippines ở Biển Đông để “trắc nghiệm” sự yểm trợ của Mỹ, trong khi vẫn giữ thái độ “xác quyết” đối với các nước có tranh chấp khác để răn đe các nước này đừng theo gương Philippines. Biển Đông vì thế sẽ còn có nhiều diễn biến phức tạp hơn trong thời gian tới.

]]>
Nguy cơ va chạm tàu ngầm hạt nhân gia tăng ở Biển Đông https://biendong.net/2023/07/02/nguy-co-va-cham-tau-ngam-hat-nhan-gia-tang-o-bien-dong/ Sun, 02 Jul 2023 02:20:35 +0000 https://biendong.net/?p=109858 Các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) của Trung Quốc hiện đang lảng vảng suốt ngày đêm ở Biển Đông gây nguy cơ va chạm với các hoạt động hàng hải trong khu vực.

Sáu tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân Type 094 của Trung Quốc hiện đang thực hiện các cuộc tuần tra gần như liên tục từ Hải Nam đến Biển Đông và được cho là được trang bị một tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) tầm xa mới có thể tấn công lục địa Mỹ. Tên lửa mới này được cho là JL-3, với tầm bắn được cho là lên đến 10.000 km và cho phép Trung Quốc tấn công lục địa Mỹ từ các pháo đài được bảo vệ ở Biển Đông.

Theo một báo cáo của Lầu Năm Góc, lần đầu tiên Trung Quốc liên tục duy trì trên biển ít nhất một tàu ngầm hạt nhân được trang bị tên lửa đạn đạo, gây thêm áp lực cho Mỹ và các đồng minh. Tài liệu này cho biết hạm đội gồm 6 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo lớp Jin của Trung Quốc đang tiến hành tuần tra “gần như liên tục” từ Đảo Hải Nam tới Biển Đông. Các nhà phân tích cho biết, được trang bị tên lửa đạn đạo mới với tầm bắn xa hơn, chúng hoàn toàn có thể vươn tới lục địa Mỹ từ vùng ven biển của Trung Quốc.

Phát biểu trong một phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ vào tháng 3 vừa qua, Tướng Anthony Cotton, chỉ huy Bộ Tư lệnh Chiến lược Mỹ cho rằng các tàu ngầm Trung Quốc hiện đang được trang bị tên lửa thế hệ thứ ba JL-3. “Các cuộc tuần tra răn đe” của Bắc Kinh giúp họ đưa ra cảnh báo về một cuộc phản công hạt nhân ngay cả khi các hệ thống và tên lửa trên đất liền bị phá hủy. Theo học thuyết hạt nhân cổ điển, điều đó giúp ngăn kẻ thù tiến hành tấn công phủ đầu.

Trước đây, các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân Type 094 của Trung Quốc, được trang bị tên lửa SLBM JL-2, cần phóng từ Tây Thái Bình Dương và phía Đông Hawaii thì mới tấn công được lục địa Mỹ. Điều đó đòi hỏi phải đi qua các nút thắt trên biển như Eo biển Miyako, Kênh Bashi và Biển Sulu, khiến các SSBN dễ bị lực lượng hải quân Mỹ và đồng minh đánh chặn.

Theo giới chuyên gia quân sự diễn biến mới này cho thấy sự cải thiện nhanh chóng của Trung Quốc trong lĩnh vực hậu cần, chỉ huy và kiểm soát cũng như vũ khí để duy trì khả năng răn đe hạt nhân trên biển. Trung Quốc đang bắt đầu triển khai tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân tương tự như cách các cường quốc hạt nhân như Mỹ, Anh, Pháp và Nga đã làm trong nhiều thập kỷ. Sự tiến triển này sẽ buộc các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN) của Mỹ phải liên tục theo dõi các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc, khiến gia tăng nguy cơ leo thang hạt nhân.

Tháng 2 vừa qua, tờ “Asia Times” lưu ý rằng mỗi nhà máy trong số 13 nhà máy đóng tàu hải quân của Trung Quốc đều có công suất lớn hơn tất cả 7 nhà máy đóng tàu hải quân của Mỹ cộng lại, khiến Mỹ cảm thấy lúng túng trước năng lực đóng tàu đang lên của Trung Quốc. Việc cắt giảm ngân sách và các vấn đề khác gần đây đã khiến các xưởng đóng tàu của hải quân Mỹ sa thải công nhân lành nghề, khiến các tàu chiến của Mỹ đang được sữa chữa phải nán lại xưởng đóng tàu lâu hơn. Điều này khiến năng lực đóng tàu đang chịu sức ép lại càng quá tải và kho tàu ngầm gặp khó khăn.

Giới phân tích quân sự nhận định sự ra đời của JL-3 có thể cho phép Trung Quốc thực hiện thành công “chiến lược pháo đài” ở Biển Đông, loại bỏ sự cần thiết phải đưa các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của họ di chuyển vào Tây Thái Bình Dương để phóng SLBM. Thay vào đó, trong chiến lược pháo đài, Trung Quốc sẽ sử dụng Biển Đông như “một khu bảo tồn” tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân được bảo vệ bởi tên lửa đặt trên đất liền, máy bay, lực lượng hải quân và các đảo cũng như thực thể kiên cố của nó.

Địa hình nửa kín của Biển Đông khiến nó trở thành một khu vực lý tưởng cho chiến lược pháo đài. Từ góc độ hậu cần, Trung Quốc có thể dễ dàng duy trì các cuộc tuần tra tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân tầm ngắn trên các vùng nước mở với các cơ sở chỉ huy và kiểm soát tương đối gần đó. Hơn nữa, do Biển Đông nằm giữa các tuyến liên lạc trên biển (SLOC), môi trường tiếng ồn dưới nước có thể khiến các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc khó bị phát hiện hơn. Tiếng ồn có thể được khai thác cùng với các tính năng âm thanh và nhiệt độc đáo của khu vực để có thể duy trì sự ẩn nấp cho tàu.

Hans Kristensen, Giám đốc dự án thông tin hạt nhân của Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ nhận định với sự ra đời của tên lửa JL-3, các chiến lược gia Trung Quốc sẽ giữ các tàu ngầm tên lửa đạn đạo của họ ở vùng nước sâu của Biển Đông – nơi Trung Quốc đã xây dựng một loạt các căn cứ – thay vì mạo hiểm tuần tra ở Tây Thái Bình Dương. Collin Koh, nhà nghiên cứu an ninh tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam của Singapore, cho rằng Trung Quốc có thể giữ các tàu ngầm tên lửa đạn đạo của họ trong một “pháo đài” ở vùng biển được bảo vệ gần bờ biển của họ. Ông nói: “Nếu tôi là người lập kế hoạch, tôi sẽ muốn giữ các tài sản răn đe chiến lược của mình càng gần tôi càng tốt và Biển Đông là nơi hoàn hảo cho điều đó”. Nga được cho là đang giữ phần lớn trong số 11 tàu ngầm được trang bị tên lửa đạn đạo của họ ở các căn cứ ngoài khơi bờ biển Bắc Cực, trong khi các tàu của Mỹ, Pháp và Anh được triển khai rộng rãi hơn.

Sự phát triển năng lực của tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân có thể gắn liền với việc Trung Quốc liên tục mở rộng kho vũ khí hạt nhân của mình. Theo một số nguồn tin quân sự, Trung Quốc có kế hoạch mở rộng kho vũ khí hạt nhân từ khoảng 400 đầu đạn hiện nay lên 1.500 đầu đạn vào năm 2035, với kho vũ khí lớn hơn và đa dạng hơn giúp tăng khả năng tấn công đáp trả của Trung Quốc và đặt nước này vào vị thế tốt hơn để đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Một số nhà quân sự cho rằng 700 đầu đạn hạt nhân có khả năng đủ để Trung Quốc duy trì năng lực tấn công đáp trả, với các lựa chọn cho các cuộc tấn công hạt nhân ở cấp độ hạn chế. Kho vũ khí hạt nhân lớn hơn và đa dạng hơn giúp Trung Quốc có thể gây nguy hiểm cho các nhóm tác chiến tàu sân bay và căn cứ đảo của Mỹ nằm rải rác trên Thái Bình Dương, bao gồm Hawaii và Guam.

Theo Hạm đội Thái Bình Dương, Hải quân Mỹ duy trì khoảng 20 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân trên khắp Thái Bình Dương, bao gồm cả ở đảo Guam và Hawaii. Trong khuôn khổ AUKUS, các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của Mỹ và Anh sẽ được triển khai ở ngoài khơi phía Tây Úc từ năm 2027. Các tàu ngầm như vậy là vũ khí cốt lõi để săn các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, được hỗ trợ bởi các tàu hoạt động trên mặt nước và máy bay giám sát P-8 Poseidon. Mỹ cũng có các cảm biến đáy biển ở các tuyến đường biển quan trọng để giúp phát hiện tàu ngầm.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ngày càng quyết liệt ở Biển Đông và khu vực, để tiếp tục duy trì ưu thế quân sự tại khu vực, Washington đã triển khai nhiều biện pháp với các đồng minh. Tháng 9 năm 2021, nguyên thủ 3 nước Mỹ, Anh, Úc tuyên bố thành lập liên minh AUKUS, theo đó, Mỹ và Anh sẽ giúp Úc xây dựng một hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Một số nhà quân sự tiết lội các tàu ngầm tấn công mà Mỹ, An sẽ giúp Australia xây dựng được thiết kế riêng để tiêu diệt tàu chiến của đối phương mà cụ thể là các tàu chiến của Trung Quốc. Các tàu ngầm hạt nhân sẽ giúp cho Úc có nhanh chóng xuất hiện ở Biển Đông khi cần thiết và có thể hiện diện ở đó trong nhiều ngày hơn.

Ngày 13/3/2023, Tổng thống Mỹ Joe Biden, Thủ tướng Anh Rishi Sunak và Thủ tướng Úc Albanese, lãnh đạo 3 thành viên AUKUS đã gặp nhau tại bang California và tuyên bố thông qua thoả thuận cung cấp tàu ngầm USS Missouri chạy bằng năng lượng hạt nhân cho Úc. Tổng thống Biden cho biết lần đầu tiên sau 65 năm, Mỹ sẽ chia sẻ công nghệ trung tâm của tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN), cho phép Úc chế tạo và phát triển các hạm đội tàu ngầm có khả năng đối đầu với tàu ngầm Trung Quốc ở khu vực Biển Đông. Phát biểu của ông Biden cho thấy rõ mục tiêu của AUKUS là nhằm ứng phó với tốc độ phát triển mạnh của tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc.

Một số chuyên gia quân sự đã đề cập đến việc Hải quân Mỹ triển khai “tuyến phòng thủ dưới biển hình móc câu”, theo đó Mỹ xây dựng một mạng lưới liền mạch gồm các ống nghe dưới nước, cảm biến và thiết bị được đặt ở vị trí chiến lược trải rộng từ bờ biển phía Bắc Trung Quốc và chạy đến Đài Loan, Philippines và Indonesia. Hệ thống đó đảm bảo rằng các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc không thể rời khỏi Biển Đông mà không bị phát hiện, loại bỏ lợi thế về không gian và khoảng cách mà đại dương mang lại cho việc che giấu các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Bắc Kinh.

Mặt khác, ngay cả khi các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc lảng vảng trên Biển Đông suốt ngày đêm, chúng có thể không an toàn trước các máy lén dưới nước và những con mắt theo dõi trên bầu trời. Dù các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc có thể không cần phải ra khỏi Biển Đông để phóng tên lửa và đe dọa đất liền Mỹ, nhưng chúng vẫn bị bao quanh bởi những vùng nước, cho phép việc theo dõi chúng dễ dàng hơn thông qua các phương tiện khác. Giới quân sự cho rằng Mỹ và các đồng minh có thể sử dụng mạng lưới vệ tinh theo kế hoạch của Úc để theo dõi tàu ngầm Trung Quốc. Mạng lưới này sở hữu những tiến bộ trong công nghệ cảm biến như hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao và radar khẩu độ tổng hợp, kết hợp với giám sát thủy âm và thông tin tình báo nguồn mở, tất cả sẽ khiến các đại dương trở nên “trong suốt” từ nay đến năm 2050, qua đó loại bỏ mọi lợi thế tàng hình mà tàu ngầm hiện có. Việc Trung Quốc triển khai nhiều tàu ngầm hơn ở Biển Đông, tất nhiên người Mỹ sẽ không ngồi yên nhìn Bắc Kinh. Lầu Năm Góc đang cố gắng thâm nhập vào “pháo đài” Biển Đông để xem họ có thể làm gì và cần làm gì. Điều này đồng nghĩa với việc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và quân đội Mỹ ngày càng “cọ xát” với nhau nhiều hơn, làm tăng khả năng va chạm tàu ngầm, vì vậy căng thẳng có thể gia tăng và các sự cố có thể xảy ra.

]]>
Mỹ phản ứng khi TQ tuyên bố xua đuổi tàu Mỹ ở Trường Sa https://biendong.net/2022/11/30/my-phan-ung-khi-tq-tuyen-bo-xua-duoi-tau-my-o-truong-sa/ Wed, 30 Nov 2022 12:11:14 +0000 https://biendong.net/?p=92686 Hải quân Mỹ đã bác bỏ những cáo buộc của Trung Quốc rằng Washington tiến hành tuần tra trái phép gần quần đảo Trường Sa.

Tàu tuần dương USS Chancellorsville của Mỹ

Sau nhiệm vụ của tàu tuần dương USS Chancellorsville, Chiến khu miền Nam của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã đưa ra tuyên bố cáo buộc tàu Mỹ đi vào lãnh hải của họ và lực lượng Hải quân Trung Quốc đã xua đuổi tàu.

Tổ chức Sáng kiến tình hình chiến lược Biển Đông (SCSPI) có trụ sở tại Bắc Kinh cùng ngày cũng đề cập tới bản đồ cho thấy tàu tuần dương USS Chancellorsville di chuyển gần đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp trái phép ở Đá Chữ Thập (thuộc quần đảo Trường Sa nằm trong chủ quyền của Việt Nam – PV) cùng một máy bay giám sát hàng hải P-8A Poseidon của Mỹ. Phía Trung Quốc cho rằng P-8A “có thể cung cấp hoạt động do thám do con tàu này”.

Theo trang Taiwan News, Hạm đội 7 của Mỹ ra tuyên bố bác bỏ, nhấn mạnh những bình luận của Quân khu miền Nam PLA là “động thái mới nhất trong một chuỗi dài các hành động của Trung Quốc nhằm xuyên tạc hoạt động hàng hải hợp pháp của Mỹ và khẳng định các yêu sách hàng hải quá mức và phi pháp của nước này” đối với Biển Đông.

Hạm đội 7 lưu ý thêm: “Chừng nào một số quốc gia tiếp tục tuyên bố chủ quyền và đòi giới hạn đối với các quyền vượt quá thẩm quyền của họ theo luật pháp quốc tế, Mỹ sẽ tiếp tục bảo vệ các quyền và tự do trên biển cho tất cả”.

Liên quan đến tuyên bố của Trung Quốc rằng họ đã xua đuổi tàu Chancellorsville ra khỏi lãnh hải (Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền trái phép trên Biển Đông), người phát ngôn Lầu Năm Góc, Tướng Patrick Ryder khẳng định: “Tôi biết có một số thông tin nói rằng Trung Quốc về cơ bản đã đuổi tàu của chúng tôi ra khỏi khu vực. Điều đó không đúng”.

Ông nhắc lại rằng “một lần nữa, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa thuyền, máy bay và hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã nhiều lần khẳng định: “Lập trường của Việt Nam về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và vấn đề Biển Đông nói chung là rõ ràng và nhất quán. Việt Nam đề nghị các bên tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 trong mọi hoạt động ở khu vực trên Biển Đông, không có hành động làm phức tạp tình hình, góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và trật tự pháp lý trên biển tại khu vực”.

T.P

]]>
Hải quân TQ bắt đầu xóa ‘ranh giới’ ở eo biển Đài Loan? https://biendong.net/2022/09/01/hai-quan-tq-bat-dau-xoa-ranh-gioi-o-eo-bien-dai-loan/ Thu, 01 Sep 2022 10:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=87478 Trong gần 70 năm, một đường tưởng tượng chạy dọc eo biển Đài Loan giữa Đài Loan và Trung Quốc đã giúp giữ hòa bình nhưng cái gọi là đường trung tuyến này ngày càng trở nên vô nghĩa khi hải quân Trung Quốc gia tăng sức mạnh.

Một tàu quân sự Đài Loan được nhìn thấy từ một tàu hải quân thuộc Chiến khu Đông bộ của Trung Quốc trong cuộc tập trận ở vùng biển xung quanh Đài Loan vào ngày 5.8.2022.

Trung Quốc chưa bao giờ chính thức công nhận đường trung tuyến nói trên mà một vị tướng Mỹ đã vạch ra vào năm 1954, khi tình trạng thù địch trong Chiến tranh lạnh giữa Trung Quốc và Đài Loan lên đỉnh điểm, theo Reuters. Trong nhiều năm, Bắc Kinh đã ngầm thừa nhận đường trung tuyến nhưng vào năm 2020, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố đường đó “không tồn tại”.

“Làm tăng nguy cơ xung đột ngẫu nhiên”

Hiện nay, Đài Loan đang đối mặt tình trạng tàu chiến Trung Quốc thường vượt qua đường trung tuyến như là một phần của các bước Bắc Kinh thực hiện nhằm phản đối chuyến thăm Đài Bắc của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi từ tối 2.8 đến ngày 3.8.

Trong những ngày gần đây, các tàu khu trục và khinh hạm của hai bên đã chơi trò mèo vờn chuột, với tàu Trung Quốc cố tìm cách di chuyển xung quanh các tàu tuần tra Đài Loan để vượt qua đường trung tuyến, theo Reuters. Nhiều máy bay chiến đấu của Trung Quốc cũng đã vượt qua đường trung tuyến trong tháng này, điều mà lực lượng Không quân Trung Quốc hiếm khi làm trong quá khứ.

“Họ muốn gia tăng sức ép lên chúng tôi với mục tiêu cuối cùng là khiến chúng tôi từ bỏ đường trung tuyến. Họ muốn biến điều đó thành sự thật”, Reuters dẫn lời một quan chức Đài Loan am hiểu an ninh khu vực. Vị quan chức cho rằng Đài Bắc sẽ phải phản ứng quân sự nếu các lực lượng Trung Quốc tiến vào vùng lãnh hải 12 hải lý của Đài Loan.

Các quan chức Đài Loan cảnh báo rằng sự hiện diện của hải quân Trung Quốc gần lãnh hải Đài Loan sẽ gây căng thẳng cho lực lượng phòng vệ Đài Loan và làm cho bất kỳ cuộc phong tỏa hoặc tấn công của Trung Quốc trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Eo biển Đài Loan rộng khoảng 180 km và ở chỗ hẹp nhất của eo biển, đường trung tuyến cách vùng biển của Đài Loan khoảng 40 km.

Nhà phân tích an ninh Yết Trọng từ tổ chức nghiên cứu NPF ở Đài Bắc cho rằng việc “phá vỡ” sự đồng thuận về đường trung tuyến đã làm tăng nguy cơ xung đột ngẫu nhiên. Với tình trạng này, ông Yết cho rằng các quy tắc giao tranh dành cho lực lượng tuần duyên và lực lượng phòng vệ Đài Loan nên được xem xét lại để trao cho họ thêm quyền hạn và sự bảo vệ hợp pháp trong việc đối phó những thách thức ngày càng phức tạp từ các lực lượng Trung Quốc.

Lập trường của Đài Loan, Mỹ

Trong một cuộc họp báo gần đây, Trưởng Cơ quan Đối Ngoại Đài Loan Ngô Chiêu Nhiếp nhấn mạnh một sự thay đổi về hiện trạng ở eo biển Đài Loan là không thể chấp nhận được. “Chúng ta cần chung tay với các đối tác có cùng chí hướng để đảm bảo rằng đường trung tuyến vẫn ở đó, để bảo vệ hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan”, ông Ngô nhấn mạnh.

Vấn đề là liệu sự hỗ trợ của quốc tế dành cho Đài Loan có đủ để ngăn cản Trung Quốc tuần tra ở vùng biển thuộc phía Đài Loan hay không, hoặc liệu các bạn bè của Đài Loan có giúp vùng lãnh thổ này duy trì đường trung tuyến hay không.

Những tàu của Hải quân Mỹ và các hải quân phương Tây khác đi qua eo biển Đài Loan để duy trì tình trạng quốc tế của eo biển, chứ không phải để thực thi nghiêm ngặt đường trung tuyến mang tính tưởng tượng không có giá trị pháp lý, theo Reuters.

Trong vòng vài tuần, các tàu chiến Mỹ dự kiến ​​sẽ đi qua eo biển Đài Loan, thể hiện lập trường của Mỹ xem eo biển này là tuyến đường thủy quốc tế. Việc này có thể gây khó chịu cho Trung Quốc, vốn tuyên bố chủ quyền và các quyền khác đối với eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, các tàu Mỹ được cho là sẽ không thách thức các tàu Trung Quốc ở hai bên đường trung tuyến ở eo biển Đài Loan.

Ba quan chức Mỹ, không muốn tiết lộ danh tính, nhận định với Reuters rằng việc tàu, máy bay Trung Quốc vượt qua đường trung tuyến không có nhiều ý nghĩa về mặt chiến thuật. “Đó là một đường tưởng tượng mang tính biểu tượng”, một quan chức Mỹ trong số đó nhấn mạnh. Họ cho rằng Mỹ không cần phải duy trì hiện trạng của đường trung tuyến hoặc đẩy lùi các động thái của Trung Quốc.

Ngoài ra, học giả Christopher Twomey tại Trường Sau đại học Hải quân Mỹ ở bang California, cho hay ông tin rằng Hải quân Mỹ xem đường trung tuyến ở eo biển Đài Loan là một “đồ tạo tác chính trị” hơn là một thứ hợp pháp, theo Reuters. Ông Twomey cho rằng không nên phóng đại những nguy hiểm mà cần công nhận và sử dụng eo biển Đài Loan như là một tuyến đường thủy quốc tế.

T.P

]]>