Nghiên cứu quốc tế – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Thu, 19 Sep 2024 12:58:40 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Biển Đông sẽ ra sao nếu Donald Trump trở lại Nhà Trắng? https://biendong.net/2024/09/09/bien-dong-se-ra-sao-neu-donald-trump-tro-lai-nha-trang/ Mon, 09 Sep 2024 05:53:00 +0000 https://biendong.net/?p=136849 Ngày 28/6/2024, ông Trump và ông Biden đã lần đầu tiên tranh luận trực tiếp trong cuộc đua vào Nhà Trắng. Với việc ông Donald Trump trở thành ứng cử viên của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới, triển vọng chiến thắng của ông Trump cũng là chủ đề tranh luận của giới tinh hoa Trung Quốc.

Họ lo ngại việc ông Trump trở lại Nhà Trắng sẽ dẫn đến một cuộc chiến thương mại thậm chí còn nóng hơn, với những thiệt hại kinh tế tiềm tàng rất lớn. Giới chuyên gia nhận định mối lo ngại của Bắc Kinh là điều dễ hiểu bởi ông Donald Trump luôn là người khó đoán định, trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, chính ông Trump là người phát động cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và được tiếp tục triển khai dưới thời Tổng thống Biden, khiến Bắc Kinh đối mặt với nhiều khó khăn.

Vậy vấn đề Biển Đông sẽ ra sao nếu ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng cũng được giới phân tích hết sức quan tâm, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hăng trong việc cưỡng ép, bắt nạt láng giềng ven Biển Đông. Chúng ta còn nhớ tại Diễn đàn cấp cao APEC tháng 11/2017, ông Trump chính thức đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở. Hiện Biển Đông và Eo biển Đài Loan đang trở thành tâm điểm căng thẳng địa chính trị ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương do những hành động hung hăng ngày càng leo thang của Trung Quốc trong những năm gần đây. Trong bối cảnh đó, Mỹ đã đảm nhận một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và cân bằng quyền lực.

Tuy nhiên, với những bấp bênh xung quanh khả năng cựu Tổng thống Donald Trump sẽ có một nhiệm kỳ thứ hai, đã có những câu hỏi quan trọng được đặt ra về định hướng chính sách tương lai của Mỹ trong khu vực. Chính quyền trước đây của Trump đã theo đuổi chiến lược can dự và răn đe chiến lược để chống lại hành vi hung hăng của Trung Quốc, bao gồm các hoạt động tự do hàng hải và hiện diện quân sự ở Biển Đông. Tuy nhiên, cách tiếp cận của ông cũng được định hình bởi sự khó đoán và mang tính ngoại giao kiểu giao dịch, làm dấy lên lo ngại về tính nhất quán và hiệu quả trong chính sách của Mỹ.

Trong bối cảnh chính trị thay đổi, các bên liên quan đang theo dõi chặt chẽ đường hướng can dự của Mỹ vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thừa nhận những tác động quan trọng của hành động can dự đó đối với sự ổn định và an ninh khu vực.

Những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông đã gây ra mối lo ngại rộng rãi đối với các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế. Bất chấp phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) có lợi cho Philippines và vô hiệu hóa các yêu sách lãnh thổ mở rộng của Trung Quốc trong khu vực, Bắc Kinh vẫn khẳng định yêu sách đối với gần như toàn bộ Biển Đông và luôn tìm mọi cách để thực hiện các yêu sách này. Trong số đó phải kể đến việc Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo và các cơ sở quân sự, làm gia tăng căng thẳng với các quốc gia láng giềng cũng có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông như Việt Nam, Philippines và Malaysia. Việc Trung Quốc coi thường chủ quyền của các quốc gia khác đã dẫn đến việc quân sự hóa gia tăng và làm dấy lên lo ngại về khả năng xảy ra xung đột. Đặc biệt, trong hơn một năm trở lại đây, Trung Quốc không ngừng gia tăng các hoạt động gây hấn với Philippines từ bắn tia lazer cấp độ quân sự nguy hiểm đến việc phun vòi rồng, đâm va vào các tàu công vụ của Philippines, thậm chí gây thương tích cho thủy thủ trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines gần khu vực Bãi Cỏ Mây.

Tương tự, căng thẳng ở Eo biển Đài Loan đã leo thang khi Trung Quốc gia tăng áp lực buộc Đài Loan phải chấp nhận nguyên tắc “Một Trung Quốc” của mình. Bắc Kinh đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự gần Đài Loan và tăng cường cô lập ngoại giao đối với hòn đảo này nhằm mục đích ép buộc hòn đảo phải tuân theo ý mình. Những hành động như vậy nhấn mạnh quyết tâm của Trung Quốc trong việc khẳng định quyền kiểm soát đối với hòn đảo tự trị Đài Loan.

Căng thẳng gia tăng ở cả hai khu vực đặt ra những thách thức đáng kể đối với sự ổn định và an ninh khu vực, làm dấy lên lo ngại về khả năng đối đầu quân sự và sự cần thiết phải có nỗ lực ngoại giao nhằm giảm căng thẳng và tìm kiếm giải pháp hòa bình cho những tranh chấp lâu năm này. Để đáp lại những hành động hung hăng của Trung Quốc, Mỹ đã áp dụng chính sách can dự và răn đe chiến lược trong khu vực. Cách tiếp cận này bao gồm việc tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) và duy trì sự hiện diện quân sự rõ ràng để duy trì luật pháp quốc tế, hỗ trợ các đồng minh và ngăn chặn mọi nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan. Bằng cách thể hiện cam kết của mình đối với sự ổn định và an ninh khu vực, Mỹ nhắm tới mục tiêu cân bằng ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc và ngăn chặn căng thẳng leo thang.

Giới phân tích nhận định dù ai là ông chủ Nhà Trắng thì mục tiêu của chính quyền Washington vẫn là bảo vệ các lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó tự do biển cả được coi là giá trị lâu nay của Mỹ thì bất cử Tổng thống nào của Mỹ cũng phải bảo vệ. Hơn thế nữa, nhìn lại 4 năm cầm quyền của cựu Tổng thống Trump, có thể thấy Washington đã làm được nhiều việc mang tính đột phá đối với Biển Đông

Chính trong thời cầm quyền của ông Trump, Mỹ đã lần đầu tiên đưa ra một quan điểm pháp lý rõ ràng nhất đối với Biển Đông qua việc Washington gửi công hàm lên Liên hợp quốc đầu tháng 6/2020 và ra tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định lập trường pháp lý đối với các tranh chấp Biển Đông, bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc và yêu cầu tuân thủ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực. Điều này đã tạo ra một cuộc chiến pháp lý xung quanh các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông với sự tham gia của nhiều đồng minh của Mỹ như Úc, Anh, Pháp, Đức, Newzealand….tạo cơ sở pháp lý cho việc can dự mạnh mẽ của Mỹ và các đồng minh của Mỹ vào Biển Đông trong giai đoạn Donald Trump cầm quyền. Hơn thế nữa, cựu Tổng thống Trump cũng chính là người đã tiến hanh các biện pháp trừng phạt đối với những cá nhân và tổ chức liên quan tới việc bồi đắp mở rộng và quân sự hóa các thức thể ở Biển Đông.

Mặt khác, giới phân tích cho rằng hiện quan điểm của những người trong chính quyền Mỹ dưới thời cựu Tổng thống Trump trước đây và có thể tiếp tục tham gia chính phủ mới nếu ông Trump tái cử  vẫn rất “thù địch” với Trung Quốc. Tiêu biểu là ông Robert Lighthizer, đại diện thương mại có ảnh hưởng của Trump. Trong giai đoạn từ 2017-2021, ông Lighthizer đã mở cuộc điều tra về hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ của Trung Quốc và viện dẫn Điều 301 của luật thương mại của Mỹ, để ông Trump trừng phạt các đối tác thương mại không chơi công bằng và tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo quan điểm của ông Lighthizer, Trung Quốc gây ra mối nguy hiểm lớn hơn bao giờ hết đối với nước Mỹ. Trong cuốn sách “Không có thương mại nào là tự do” (“No Trade is Free”) xuất bản năm 2023, ông Lighthizer cho rằng Trung Quốc là “mối đe dọa lớn nhất mà nước Mỹ và hệ thống chính phủ dân chủ tự do phương Tây phải đối mặt kể từ Cách mạng Mỹ”. Cuốn sách nêu một số đề xuất cứng rắn, bao gồm sàng lọc các khoản đầu tư của Trung Quốc không chỉ vì lý do an ninh, mà còn vì “tác hại kinh tế lâu dài”; đồng thời đề xuất một đợt tăng thuế lớn nữa với mục tiêu “thương mại cân bằng” – nghĩa là không có thâm hụt thương mại hàng hóa nào cả.

Giới quan sát nhận định một khi ông Trump trở thành ông chủ Nhà Trắng nhiệm kỳ thứ 2, ông Lighthizer sẽ là một cánh tay đắc lực của ông Trump và một chính sách cứng rắn hơn nữa với Trung Quốc sẽ trở thành hiện thực, thậm chí thuế đánh vào hàng hóa Trung Quốc có thể lên tới 60%. Trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức rất lớn hiện nay, điều này sẽ là “một cơn ác mộng” đối với Bắc Kinh và chắc chắn nó sẽ tác động nhiều mặt tới an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông.

Tuy nhiên, điều khiến giới quan sát có phần lo ngại là mối quan hệ căng thẳng của Trump với các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và châu Á có thể làm suy yếu sự gắn kết với họ về chính sách Trung Quốc nếu ông tái đắc cử. Với tư cách ông chủ Nhà trắng trong nhiệm kỳ thứ 2, liệu ông Trump có tiếp tục thúc đẩy những tiểu đa phương đang được hình thành ở khu vực dưới thời Tổng thống Biden hay không đang là câu hỏi được đặt ra đối với các nhà phân tích bởi các tiểu đa phương này đang là những yếu tổ quan trọng ngăn chặn sự hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông và trong khu vực.

Cách tiếp cận của cựu Tổng thống Trump đối với khu vực đã tạo ra những yếu tố khó lường thông qua chính sách ngoại giao kiểu giao dịch của ông. Trong khi chính quyền trước đây của ông có lập trường cứng rắn chống lại Trung Quốc với các biện pháp như áp thuế và trừng phạt các thực thể Trung Quốc, ông Trump cũng theo đuổi mối quan hệ cá nhân với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Điều này gây ra những biến động trong chính sách của Mỹ, với những thời điểm hợp tác xen kẽ với những thời kỳ căng thẳng gia tăng.

Nếu cựu Tổng thống Trump tái đắc cử vào tháng 11/2024, chính sách của ông đối với Biển Đông và Eo biển Đài Loan được cho là sẽ tiếp tục duy trì các lợi ích then chốt của Mỹ trong khu vực. Trong số đó sẽ bao gồm những ưu tiên về tự do hàng hải, bảo vệ luật pháp quốc tế và hỗ trợ các đồng minh như Đài Loan. Tuy nhiên, trong khi chính quyền trước đây của Trump thể hiện lập trường mạnh mẽ chống lại sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, quan hệ cá nhân của ông với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình làm dấy lên lo ngại về tính liên tục trong cách tiếp cận của ông trong nhiệm kỳ thứ hai. Trump gần đây từng nói với Fox News: “Tôi rất thích Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông ấy là một người bạn rất tốt trong nhiệm kỳ của tôi”.

Xu hướng ưu tiên những lợi ích ngắn hạn của Trump và việc ông sẵn sàng tham gia vào các cuộc đàm phán có đi có lại với các đối thủ có thể làm suy yếu những nỗ lực nhằm duy trì một môi trường an ninh ổn định và có thể dự đoán được trong khu vực. Do đó, mặc dù các mục tiêu chiến lược tổng thể trong chính sách của Mỹ ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan có thể vẫn nhất quán, nhưng cách thức theo đuổi chúng có thể thay đổi tùy thuộc vào các quyết định chiến thuật của Trump cũng như các cuộc đàm phán sâu rộng hơn với Trung Quốc.

Việc quản lý hiệu quả xung đột tiềm ẩn ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan đòi hỏi một cách tiếp cận cân bằng, tập trung vào sự ổn định, tuân thủ luật pháp quốc tế và hợp tác giữa các bên liên quan. Mặc dù Mỹ đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự cân bằng trong khu vực, nhưng tính nhất quán và rõ ràng về mặt chiến lược trong chính sách của nước này là điều tối quan trọng.

Trong bối cảnh có khả năng ông Trump sẽ có nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai, chính sách của Mỹ có thể tiếp tục ưu tiên răn đe và can dự chiến lược với Trung Quốc. Tuy nhiên, cách tiếp cận ngoại giao và quan hệ cá nhân của Trump với Tập Cận Bình có thể dẫn tới nhiều điều không chắc chắn, gây nguy hiểm cho cách tiếp cận mang tính nguyên tắc và chiến lược cần thiết để bảo vệ lợi ích của Mỹ khi nước này thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng trong khu vực.  Ông Tập Cận Bình sẽ theo dõi chặt chẽ cuộc bầu cử Mỹ vào tháng 11 tới: hai ứng viên có khả năng sẽ đặt ra cho Trung Quốc những thách thức rất khác nhau. Nhưng ngay cả khi chờ đợi kết quả, ông Tập cũng đã biết rằng dù nền chính trị Mỹ có bị chia rẽ đến đâu, sự thù địch đối với Trung Quốc hiện là vấn đề được cả lưỡng đảng ủng hộ và đã ăn sâu vào tâm lý người Mỹ. Đối với ông Tập và đối với nước Mỹ, chu kỳ bầu cử giờ đây là một phần của cuộc đấu tranh lâu dài. Trong dư luận Trung Quốc, có những ý kiến cho rằng Trump sẽ làm tăng khả năng xảy ra chiến tranh, thậm chí có người còn thốt lên trên mạng rằng thế giới sẽ “không bao giờ hòa bình” khi có ông Trump ở bên cạnh. Tóm lại, một tâm lý lo ngại việc ông Trump trở lại Nhà Trắng đang lan rộng ở Trung Quốc. Chúng ta cùng chờ xem điều gì sẽ xảy ra đối với Biển Đông.

]]>
Phân tích “Thỏa thuận tạm thời” giữa Bắc Kinh và Manila https://biendong.net/2024/09/03/phan-tich-thoa-thuan-tam-thoi-giua-bac-kinh-va-manila/ Tue, 03 Sep 2024 01:39:00 +0000 https://biendong.net/?p=136840 Sau một loạt vụ việc đối đầu giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu công vụ Philippines ở Biển Đông trong thời gian qua mà đỉnh điểm là vụ va chạm ngày 17/7/2024 khi tàu hải cảnh Trung Quốc chủ động đâm vào tàu Philippines với tốc độ cao và lực lượng hải cảnh Trung Quốc dùng dao, gậy nhọn, rìu tấn công nhân viên trên tàu Philippines khiến một thuỷ thủ Philippines bị mất ngón tay và tàu của Philippines bị hư hỏng nặng, Manila và Bắc Kinh đã đạt được “thỏa thuận” tạm thời về giảm căng thẳng ở khu vực bãi Cỏ Mây.

Ngày 21/7/2024, Bộ Ngoại giao Philippines xác nhận nước này và Trung Quốc đã nhất trí về một “thỏa thuận” liên quan sứ mệnh tiếp tế cho quân đội Philippines đóng tại bãi Cỏ Mây ở Biển Đông. Bộ Ngoại giao Philippines cho biết: “Philippines và Trung Quốc đã đạt được sự hiểu biết về thỏa thuận tạm thời liên quan đến sứ mệnh tiếp tế nhu yếu phẩm hàng ngày và các phái đoàn luân chuyển tới (con tàu) BRP Sierra Madre ở bãi cạn Ayungin (bãi Cỏ Mây)”.

Năm 1999, Hải quân Philippines đã cho tàu BRP Sierra Madre mắc cạn để duy trì yêu sách lãnh thổ của Philippines đối với bãi Cỏ Mây nằm cách đảo Palawan của Philippines khoảng 200km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 1.000km. Trong bối cảnh Bắc Kinh tăng cường nỗ lực thúc đẩy các yêu sách phi pháp với gần như toàn bộ Biển Đông, bãi Cỏ Mây trở thành điểm nóng của các cuộc đụng độ giữa tàu Trung Quốc và Philippines từ tháng 8/2023.

“Thoả thuận tạm thời” mà hai nước có thể chấp nhận được mà không phải nhượng bộ về lập trường của mình đã đạt được trong ngày 21/7 sau một loạt cuộc gặp giữa quan chức ngoại hai nước tại Manila. Thông cáo ngắn của Bộ Ngoại giao Philippines được đưa ra sau khi đạt được thỏa thuận nêu rõ: “Cả hai phía tiếp tục nhận thức nhu cầu giảm căng thẳng tình hình tại Biển Đông, giải quyết bất đồng thông qua đối thoại, tham vấn, và đồng ý với nhau rằng thỏa thuận sẽ không tạo nên thiên lệch về quan điểm vị thế của mỗi bên tại khu vực biển đó”.

Trước đó, ngày 17/7, hãng tin Reuters dẫn nguồn tin ngoại giao không nêu tên và một tài liệu của Philippines cho biết Philippines và Trung Quốc sẽ thiết lập 3 kênh liên lạc mới về vấn đề trên biển, để hỗ trợ giải quyết những tranh chấp ở khu vực Biển Đông. Giới quan sát nhận định việc thiết lập 3 kênh liên lạc và “thỏa thuận tạm thời” nói trên là những kết quả cụ thể mà hai bên đạt được theo tinh thần nhận thức chung mà hai bên đã nhất trí tại cuộc gặp giữa Thứ trưởng Ngoại giao hai nước hồi đầu tháng 7 nhằm giảm căng thẳng ở Biển Đông.

Một ngày sau khi Manila thông báo đạt một “thỏa thuận tạm thời” với Bắc Kinh về việc tiếp tế cho quân đội Philippines đang đồn trú ở bãi Cỏ Mây, ngày 22/7/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố: “Nếu Philippines cần gửi nhu yếu phẩm cho những người đồn trú trên tàu chiến đó, Trung Quốc sẵn sàng hỗ trợ với tinh thần nhân đạo nếu Philippines thông báo trước và sau khi (Trung Quốc) xác minh tại chỗ”. Trái lại, Bắc Kinh “tuyệt đối sẽ không chấp nhận” việc Philippines chuyển số lượng lớn vật liệu xây dựng đến khu vực đó, với ý đồ “xây dựng các công trình cố định hoặc tiền đồn lâu dài”

Cũng trong ngày 22/07/2024, Bộ Ngoại giao Philippines tuyên bố chính quyền Manila sẽ tiếp tục “khẳng định các quyền của mình” đối với bãi Cỏ Mây. Trong thông cáo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Teresita Daza khẳng định Manila “sẽ tiếp tục khẳng định các quyền và quyền tài phán” của Philippines trong các vùng biển của mình, bao gồm bãi Cỏ Mây (tên tiếng Anh là Second Thomas).

Người phát ngôn Teresita Daza nhấn mạnh: “Các nguyên tắc và cách thức tiếp cận được đặt ra trong thỏa thuận là kết quả của hàng loạt cuộc tham vấn thận trọng và tỉ mỉ giữa đôi bên, mở đường cho việc thể hiện các quan điểm chung, mà không ảnh hưởng đến lập trường của mỗi nước”. Bà Daza bác bỏ khẳng định của Bắc Kinh về quy định “thông báo trước” trong thỏa thuận, xem đây là thông tin “không chính xác”.

Trong khi đó, Cố vấn an ninh quốc gia Philippines Eduardo Ano cho biết thỏa thuận này không bao gồm đồng ý cho các tàu Trung Quốc tiến hành kiểm tra “tại chỗ”. Phát biểu tại một diễn đàn, Ông Ano nhấn mạnh: “Không có chuyện kiểm tra tại chỗ. Những điều mà hai bên đồng ý thật sự là hiểu biết chung”; “Hai bên nhất trí căng thẳng sẽ giảm… để ngăn xung đột, bất cứ điều gì có thể gây thương tích, gây hại cho binh lính hay bất kỳ ai”. Ông Ano khẳng định: “Chúng tôi (Philippines) không đồng ý bất cứ điều gì làm suy yếu vị thế của chúng tôi”, đông thời cho biết chi tiết về thỏa thuận sẽ được giữ bí mật trừ khi cả hai bên đồng ý công khai.

Dù mỗi bên có giải thích khác nhau về “thỏa thuận tạm thời” đạt được hôm 21/7, song thoả thuận này có thể giúp giảm căng thẳng ở khu vực bãi Cỏ Mây trong thời gian sắp tới hay không phụ thuộc vào cách ứng xử của cả hai bên. Giới phân tích nhận định khi mà những vụ va chạm giữa tàu của Trung Quốc và Philippines đã đạt tới “giới hạn đỏ” nếu không có biện pháp “xì hơi” giảm căng thẳng có thể dẫn tới xung đột bất cứ lúc nào. Các chuyên gia cũng chỉ ra lý do mà hai bên đi tới thoả thuận tạm thời.

Thứ nhất, cả Manila và Bắc Kinh đều nhận thấy cần phải xuống thang căng thẳng ở Biển Đông và giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại và tham vấn. Mặc dù có nhu cầu phải tiếp tế cho binh sĩ để duy trì con tàu BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây, song đương nhiên Philippines luôn muốn tránh một cuộc xung đột với Trung Quốc. Do vậy, chính quyền Manila sẽ nỗ lực hết sức không để xung đột quân sự xảy ra. Một thoả thuận tạm thời, theo đó Philippines vẫn tiếp tế được cho binh sĩ mà tránh được chiến tranh là phù hợp với lợi ích của Manila.

Bắc Kinh đang phải đối mặt với những khó khăn trong chiến tranh thương mại, công nghệ với Mỹ và phương Tây, kinh tế trong nước phát triển chậm. Hội nghị Trung ương 3 khoá XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc được giới chuyên gia đánh giá là chưa đưa ra được giải pháp hữu hiệu để vực dậy nền kinh tế đang bị trì trệ. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc chắc chắn không muốn một cuộc xung đột xảy ra ảnh hưởng đến môi trường hoà bình phát triển của Trung Quốc.

Thứ hai, để đạt được “thỏa thuận tạm thời” giữa Philippines và Trung Quốc có vai trò nhất định của Mỹ. Một số chuyên gia cho rằng sở dĩ Bắc Kinh ngồi trao đổi với Manila là do phản ứng rất mạnh mẽ của Mỹ trước việc lực lượng hải cảnh Trung Quốc dùng gậy nhọn, dao, rìu tấn công tàu và thuỷ thủ Philippines gây thương tích đối với thuỷ thủ (mất một ngón tay) và hư hỏng nặng tàu của Philippines. Ngoài phát biểu công khai lên án, Washington lần đầu tiên gửi công hàm tới Bắc Kinh lên án hành động thô bạo của hải cảnh Trung Quốc. Mặc dù nội dung công hàm không được tiết lộ, nhưng một số nguồn tin cho biết Mỹ đã nói rõ con tàu BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây nằm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines năm1951; Mỹ kiên quyết ủng hộ Philippines tiếp tế cho binh sĩ trên tàu BRP Sierra Madre.

Phát biểu tại Diễn đàn An ninh Aspen ở Colorado hôm 19/7/2024, Cố vấn An ninh quốc gia Nhà Trắng Jake Sullivan cho biết Mỹ đã nói rõ với Trung Quốc rằng Hiệp ước phòng thủ chung với Philippines áp dụng cho tàu Sierra Madre. Ông Sullivan nhấn mạnh: “Điều quan trọng nhất hiện nay là nhìn thấy việc xuống thang căng thẳng và khả năng của Philippines thực hiện việc tiếp tế”; Mỹ “sẽ làm những gì cần thiết” để bảo đảm Philippines có thể tiếp tế cho một nhóm nhỏ quân nhân đồn trú trên tàu chiến Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây.

Sau phát biểu nói trên của Cố vấn An ninh Nhà Trắng Jake Sullivan, ngày 21/07/2024, Hội đồng An ninh Quốc gia Philippines đã gián tiếp từ chối đề xuất “hỗ trợ” của Mỹ, ông Jonathan Malaya, Phó Người phát ngôn của Hội đồng An ninh Quốc gia Philippines, khẳng định: “Về RORE (nhiệm vụ luân chuyển và tiếp tế), chúng tôi coi đây là hoạt động hoàn toàn của Philippines, sử dụng tàu, nhân sự và lãnh đạo Philippines”. Theo ông Jonathan Malaya, “đây là đường lối và chính sách hiện tại” dù sau này có thể thay đổi tùy theo quyết định của cấp cao. Philippines đánh giá cao đề nghị của Mỹ và sẽ tiếp tục tham vấn với tư cách là đồng minh.

Việc ông Jonathan Malaya tuyên bố Manila trước mắt tự đảm nhiệm việc tiếp tế cho binh sĩ trên tàu Sierra Madre (và điều này có thể thay đổi theo như tuyên bố của Phó Người phát ngôn Jonathan Malaya) vào đúng ngày Manila thông báo về một “thỏa thuận tạm thời” giữa Philippines và Trung Quốc liên quan đến giảm căng thẳng ở khu vực bãi Cỏ Mây là điều rất đáng lưu ý. Đây có thể là sự mặc cả mà Manila đưa ra trong đàm phán với Bắc Kinh, đặt những nhà đàm phán Trung Quốc trước hai sự lựa chọn: một là, hai bên cùng hoà hoãn, hải cảnh Trung Quốc dừng các hoạt động gây hấn hung hăng để Philippines tiếp tục tự mình tiếp tế cho binh sĩ của mình ở bãi Cỏ Mây; hoặc hai là, Philippines phải nhờ đến sự hỗ trợ của Mỹ trong việc tiếp tế cho binh sĩ của mình.

Giới phân tích cho rằng trong 2 sự lựa chọn trên rõ ràng Bắc Kinh sẽ chọn phương án đầu tiên để Philippines tự tiếp tế cho binh sĩ của mình bởi với phương án thứ 2, Mỹ sử dụng máy bay, tàu chiến hỗ trợ cho Philippines trong các hoạt động tiếp tế sẽ tạo ra một tiền lệ không có lợi cho Trung Quốc. Lâu nay, Trung Quốc tìm mọi cách đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông. Nếu để Hải quân và Không quân Mỹ hỗ trợ Philippines chuyển tiếp tế cho binh lính trên bãi Cỏ Mây thì vô hình chung tạo điều kiện cho Mỹ can dự sâu hơn vào Biển Đông.

Xem ra có sự phối hợp chặt chẽ giữa Manila và Washington trong quá trình Philippines tiến hành đàm phán với Trung Quốc về “thỏa thuận” liên quan đến bãi Cỏ Mây để tránh căng thẳng leo thang. Từ những thông tin tiết lộ về công hàm của Mỹ gửi Trung Quốc và những phát biểu công khai của Cố vấn An ninh Nhà Trắng Jake Sullivan cho đến việc Phó Người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Philippines cám ơn nhã ý hỗ trợ của Mỹ và tuyên bố Manila tự tiếp tế cho binh sĩ, song vẫn để ngỏ khả năng có thể thay đổi, tất cả điều này cho thấy có sự phối hợp khá đồng bộ giữa hai bên.

Điều đáng chú ý là sau khi đạt được “thỏa thuận tạm thời” với Bắc Kinh, chính quyền Manila lại tiếp tục khẳng định các quyền của mình đối với bãi Cỏ Mây, đồng thời bác bỏ việc nước này phải thông báo trước mỗi lần tiếp tế và lưu ý phát biểu về cái gọi là “thông báo trước” của phía Trung Quốc là thông tin sai lệch; Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines cho biết, không có bất cứ gì điều khoản nào trong thỏa thuận nàylàm suy yếu vị thế của Manila. Điều này cho thấy về tổng thể, Manila đã đạt được điều mình mong muốn trong thỏa thuận này mà chưa phải từ bỏ điều gì liên quan đến các quyền của mình ở khu vực bãi Cỏ Mây.

Giới phân tích nhận định trên thực tế cả Trung Quốc và Mỹ đều muốn tránh phải đối đầu trực tiếp. Việc Washington đưa con tàu BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây vào phạm vi Hiệp ước phòng thủ chung và tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ Manila tiếp tế cho binh sĩ của Philippines ở bãi Cỏ Mây là nhằm chuyển tới Bắc Kinh một thông điệp rõ ràng về quyết tâm của Mỹ trong việc đồng hành với Philippines để bảo vệ con tàu BRP Sierra Madre ở bãi Cỏ Mây. Liên quan tới vấn đề này, Trung Quốc ở thế yếu về mặt pháp lý vì phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài đã khẳng định bãi Cỏ Mây là thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Philippines và nếu Mỹ có hỗ trợ Philippines thì không những phù hợp với Hiệp ước phòng thủ chung song phương mà còn phù hợp với luật pháp quốc tế. Xem ra Trung Quốc đã phải có sự thoả hiệp nhất định trong thỏa thuận với Philippines hôm 21/7/2024. “Thỏa thuận tạm thời” có thể giúp hạ nhiệt ở Biển Đông trong thời gian trước mắt, tuy nhiên qua cách giải thích khác nhau của mỗi bên về thỏa thuận này có thể thấy sự chưa thống nhất giữa hai bên về các vấn đê liên quan đến thỏa thuận. Việc triển khai thoả thuận này ra sao còn cần tiếp tục theo rõi trong những ngày tới.

]]>
Giới chuyên gia đánh giá về mưu đồ TQ và cách ứng xử của Việt Nam ở Biển Đông https://biendong.net/2024/05/30/gioi-chuyen-gia-danh-gia-ve-muu-do-tq-va-cach-ung-xu-cua-viet-nam-o-bien-dong/ Thu, 30 May 2024 21:56:00 +0000 https://biendong.net/?p=130670 Thời gian qua, Trung Quốc thường xuyên cho tàu khảo sát xâm nhập và hoạt động bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam, nhất là ở khu vực Bãi Tư Chính thuộc vùng đặc quyền kinh tế phía Nam Việt Nam. Theo các hình ảnh vệ tinh, các tàu khảo sát của Trung Quốc thường di chuyển không theo một lộ trình cố định trên vùng biển.

Nghiên cứu về các hình ảnh vệ tinh, ông Raymond Powell, Giám đốc Dự án SeaLight thuộc Trung tâm Gordian Knot về sáng kiến an ninh quốc gia thuộc Đại học Standford Mỹ cho biết lý do các tàu khảo sát của Trung Quốc khi xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam đường đi theo mô hình ngang và dọc đều đặn như hình bàn cờ không có ý nghĩa nhiều về mặt kỹ thuật phục vụ việc vẽ bản đồ đáy biển hay để khảo sát địa chất. Việc làm này có thông điệp chính trị nhiều hơn, ông Powell nhận định: “Nhìn vào mô hình đường đi khảo sát của các tàu khảo sát trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ trước tới nay, chúng ta ngạc nhiên về đường đi kì lạ của nó. Theo tôi, lời giải thích hợp lý duy nhất là Trung Quốc thực sự muốn vẽ một ký tự trong chữ Trung Quốc, chữ ‘Trung’, nghĩa là ‘Trung Quốc’.

Trên thực tế, từ đầu năm 2024, tàu hải cảnh lớn nhất của Trung Quốc mang số hiệu CCG 5901 đã nhiều lần xâm nhập vùng biển Việt Nam ở khu vực Bãi Tư Chính. Theo ông Powell, nhằm giữ hòa khí với Trung Quốc là chiến lược điển hình của Việt Nam đối với cường quốc phía bắc trong nhiều năm qua. Trừ một số vụ việc điển hình, về cơ bản gần đây Hà Nội ít chỉ trích các hành động của Bắc Kinh ở Biển Đông thông qua việc kiểm soát truyền thông về các hoạt động cưỡng bách của Trung Quốc trên Biển Đông. Điều này khác xa so với cách đây 10 năm khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế miền Trung Việt Nam.

Chuyên gia Raymond Powell cho biết: “Tôi đã ở Hà Nội vào năm 2014 trong cuộc khủng hoảng giàn khoan HD 981. Lúc đó Việt Nam thực hiện chiến lược ngược lại. Việt Nam đã tung ra các video về tất cả cảnh đâm tàu và bắn vòi rồng của Trung Quốc xung quanh giàn khoan dầu. Tôi nghĩ vào thời điểm đó, tình hình căng thẳng với Trung Quốc đã leo thang. Nó gây ra một số vấn đề trong nội bộ Việt Nam khi một số cuộc biểu tình vượt quá tầm kiểm soát. Nhưng tôi nghĩ vào thời điểm đó, điều đó cũng khiến Trung Quốc ngạc nhiên. Đièu đó đã mang lại cho Việt Nam một số đòn bẩy. Tôi tin rằng Trung Quốc đã rút giàn khoan sớm hơn dự định”.

Ông Greg Poling, Giám đốc Chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, đánh giá: “Trung Quốc và Việt Nam không có cơ chế giải quyết xung đột. Họ đã có một số nỗ lực giải quyết xung đột và những nỗ lực đó có nhiều thành công khác nhau. Họ có các cuộc tuần tra chung hàng năm của Cảnh sát biển ở Vịnh Bắc Bộ mà cả hai bên đã công bố rộng rãi. Nhưng tất nhiên những điều đó chẳng làm được gì cả. Họ thậm chí chưa giải quyết được vấn đề chồng lấn ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ”.

Ngay cả việc Việt Nam đã ký với Trung Quốc về Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ từ năm 2000, song đến nay vẫn còn đối diện với những thách thức từ Trung Quốc ở khu vực này. Trong những năm qua, nhiều lần Trung Quốc đã tiến hành diễn tập quân sự, kể cả bắn đạn thật trong Vịnh Bắc Bộ tất nhiên là trong  vùng biển của họ theo đường phân định ở Vịnh Bắc Bộ, song rõ ràng điều này tạo mối nguy hiểm đối với Việt Nam. Đáng chú ý, mới đây nhất hôm 01/3/2024, Trung Quốc đưa ra đường cơ sở mới ở Vịnh Bắc Bộ.

Trong tuyên bố ngày 01/3/2024, Trung Quốc đưa ra 7 “điểm cơ sở” khi nối với nhau tạo thành một đường cơ sở mới nhằm tuyên bố lãnh hải ở Vịnh Bắc Bộ. Các điểm cơ sở này không tồn tại trước đây (trong 49 điểm cơ sở mà Trung Quốc công bố ngày 15/5/1996 để tính chiều rộng lãnh hải từ Hải Nam tới Thanh Đảo không có phía bắc Vịnh Bắc Bộ). Giới chuyên gia đang đặt câu hỏi không rõ tại sao Trung Quốc đưa ra tuyên bố tại thời điểm này?

Không hiểu rõ ý đồ của Bắc Kinh trong việc công bố điểm cơ sở ở Vịnh Bắc Bắc nên ngày 14/4 Hà Nội đã phải lên tiếng yêu cầu “Trung Quốc tôn trọng và tuân thủ Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ ký năm 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc”; nhấn mạnh: “các quốc gia ven biển cần tuân thủ UNCLOS 1982 khi xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia khác”.

Đánh giá về cách ứng xử của Việt Nam trước các hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, ông Greg Poling cho rằng niềm tin nhất quán của Việt Nam là nước này có quan hệ gần gũi với Trung Quốc nhưng cũng có lịch sử xung đột lâu dài với Trung Quốc. Hai bên vẫn xảy ra nhiều vụ đụng độ bạo lực thường xuyên hơn ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đặc biệt liên quan đến ngư dân Việt Nam. Hai bên tin rằng tranh chấp không thể giải quyết được trong ngắn hạn và trung hạn.

Ông Poling chỉ ra rằng Việt Nam tiếp tục phát triển mỏ dầu khí ở Bãi Tư Chính bất chấp tàu hải cảnh Trung Quốc có mặt ở đó hàng ngày, bất chấp Trung Quốc tung các tàu nghiên cứu để khảo sát thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế  của Việt Nam. Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc vẫn đang neo đậu 270 ngày một năm ở Trường Sa mà không làm gì cả.

Chuyên gia Greg Poling nhận xét mặc dù chính quyền Việt Nam im lặng trên truyền thông, những hành vi cưỡng bức của Trung Quốc vẫn khiến nước này ngày càng ít được ưa chuộng trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng và giới thượng lưu trong toàn khu vực Đông Nam Á, nhất là ở Việt Nam – nước có hàng ngàn năm lịch sử. Các hành vi đó của Trung Quốc cũng thúc đẩy một mạng lưới quan hệ an ninh và ngoại giao mới nhằm cân bằng với một Trung Quốc hung hãn hơn.

Giới chuyên gia nhận định một số nước ven Biển Đông không lên án mạnh mẽ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông chẳng qua họ không muốn làm mất thể diện của giới lãnh đạo Bắc Kinh và không muốn đối đầu trực diện với Trung Quốc, song các nước đều hiểu rõ tham vọng và ý đồ của Trung Quốc ở Biển Đông và luôn có sự cảnh giác cao trước sự bành trướng của Bắc Kinh. Thời gian gần đây, Philippines thẳng thừng vạch mặt những hành vi hung hăng của Trung Quốc trên quốc tế bởi Bắc Kinh chĩa mũi nhọn gây hấn vào Manila. Chính những hành vi hung hăng của Bắc Kinh đã đẩy các nước khu vực tìm kiếm sự hợp tác từ các nước ngoài khu vực để làm đối trọng.

Bình luận về vấn đề này, chuyên gia Greg Poling bày tỏ: “Chúng ta có thể cảm ơn Trung Quốc một phần, bởi vì mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có thể đã không hình thành nếu không có một Trung Quốc hung hãn. Chúng ta có thể cảm ơn Trung Quốc vì đã tái sinh một Liên minh Hoa Kỳ – Philippines. Chúng ta có thể cảm ơn Trung Quốc vì nhờ họ mà xuất hiện ý tưởng về Bộ Quy tắc ứng xử mới của Philippines với việc hợp tác Cảnh sát biển giữa một số nước trong khu vực. Tất cả điều này đã xảy ra vì Trung Quốc. Rõ ràng, Trung Quốc đang làm suy yếu lợi ích của chính mình và nước này không còn giành thêm được bất kỳ vị trí nào ở Biển Đông trong ít nhất hai năm qua”.

Ông Poling cho rằng Việt Nam sẽ tiếp tục âm thầm hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình, tiếp tục xây dựng cơ sở quân sự ở quần đảo Trường Sa nhiều hơn bất kỳ bên tranh chấp nào khác để ngăn chặn Trung Quốc. Đồng thời, Việt Nam cũng cố gắng giải quyết căng thẳng bằng ngoại giao để không lan sang một cuộc xung đột mà cuối cùng sẽ không có ích gì cho lợi ích quốc gia của mình.

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gay gắt, mỗi quốc gia ven Biển Đông có cách xử lý khác nhau trên vấn đề Biển Đông tùy vào từng thời điểm, song có một điểm chung là các nước đều không khuất phục trước sự bành trướng của Bắc Kinh, không chấp nhận để Trung Quốc thôn tính, độc chiếm Biển Đông. Dù không chọn muốn chọn bên, song các nước ven Biển Đông đều nhận thức rõ sự cần thiết phải có sự tham gia của các nước ngoài khu vực vào việc duy trì an ninh và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Trên thực tế, các nước ven Biển Đông đều cố gắng tăng cường hợp tác với nhau trên các vấn đề an ninh ở Biển Đông, đông thời tranh thủ mở rộng hợp tác mọi mặt, bao gồm hợp tác về an ninh biển hay hợp tác quốc phòng với các nước ngoài khu vực vừa để tăng cường thực lực quốc gia, vừa để tạo lợi ích đan xen giữa các nước ở Biển Đông. Đây là cách làm phù hợp để đối phó với một Trung Quốc ngày càng hung hăng. Mẫu số chung giữa các nước ven Biển Đông và các nước ngoài khu vực chính là đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, bao gồm UNCLOS và phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài. Giới chuyên gia cho rằng nếu Trung Quốc không thay đổi cách hành xử với các nước láng giềng ven Biển Đông mà tiếp tục hung hăng, hiếu chiến thì vô hình chung sẽ đẩy các nước khu vực về phía Mỹ và các đồng minh như đã và đang xảy ra đối với Philippines.

]]>
Làm gì để xóa“ma trận” “đường chín đoạn” phi pháp của TQ ở Biển Đông? https://biendong.net/2023/09/25/lam-gi-de-xoama-tran-duong-chin-doan-phi-phap-cua-tq-o-bien-dong/ Mon, 25 Sep 2023 02:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=114562 Những năm 50 của thế kỷ trước, giới tướng lĩnh Tưởng Giới Thạch sau khi tháo chạy từ lục địa Trung Hoa ra đảo Đài Loan đã phải lên ngay kế hoạch bảo vệ hòn đảo trong trường hợp bị quân đội Trung Hoa lục địa tấn công giải phóng Đài Loan. Trên bản đồ tác chiến phòng ngự chống bị Bắc Kinh tấn công trên hướng nam Đài Loan, giới tướng lĩnh này tác nghiệp khu vực chiến sự xảy ra bằng đường đứt khúc 11 đoạn vạch ra một cách vô thức trên Biển Đông.

Thế mà, giới chức “bá quyền” ở Trung Nam Hải vớ được ý tưởng đó, liền “sáng tác” ngay ra “đường chín đoạn” trên Biển Đông và nhận là “đường biên giới” trên biển của mình mà “quên” không đánh dấu vị trí tọa độ của từng đường đứt đoạn. Sau đó, Bắc Kinh liền soạn ngay công hàm gửi Liên hợp quốc để “tuyên bố” cũng như “đăng ký” chủ quyền trên Biển Đông của mình mà không đếm xỉa gì đến việc cái “đường chín đoạn” đó xâm phạm chủ quyền của các nước ven Biển Đông như thế nào, cũng chẳng quan tâm đến tọa độ của “đường chín đoạn” cũng như những bằng chứng về thực hiện chủ quyền theo nó ra sao.

Chính vì thế, cái “đường chín đoạn” oái ăm đó đã đẩy Trung Quốc vào thế thất bại hiển nhiên trên mặt trận pháp lý khi không có đủ bằng chứng xác đáng chứng minh chủ quyền của mình và bị Tòa Trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) bác bỏ thẳng thừng vào năm 2016 trong vụ kiện của Philippines. Thế nhưng, tham vọng đã vạch ra rồi thì khó từ bỏ, Bắc Kinh đã vẫn cố bám lấy ý tưởng “ma mị” của đám quan quân Tưởng Giới Thạch để xây dựng ra cái “ma trận” về “đường chín đoạn” phi pháp trên Biển Đông nhằm tạo ra “sức mạnh mềm” trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, báo chí, truyền thông để kết hợp với “sức mạnh cứng” mà họ tạo ra trên biển. Chính cái “ma trận” “đường chín đoạn” trên đang xúc phạm lòng tự tôn, truyền thống văn hóa dân tộc, đồng thời gây tổn hại đến chủ quyền quốc gia và an ninh văn hóa của Việt Nam và các nước có chủ quyền khác ở Biển Đông. Khiến không chỉ Việt Nam mà cả những nước là “nạn nhân” của “ma trận” này cũng rất bức xúc, kiên quyết đấu tranh chống lại.

Sở dĩ Trung Quốc ra sức xây dựng “ma trận” “đường chín đoạn” trên Biển Đông thông qua lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, truyền thông, giải trí… là vì họ tin vào những luận điểm sau:

Thời Lênin còn sống, vào lúc đêm trước của Cách mạng Tháng Mười Nga, vị lãnh tụ kiệt xuất này đã nói: “Trong các loại hình nghệ thuật đối với chúng ta, quan trọng nhất là điện ảnh”. Luận điểm này của Lênin cho thấy, điện ảnh là một thứ vũ khí tinh thần, có khả năng cổ vũ, tuyên truyền mạnh mẽ nhất tới đông đảo quần chúng nhân dân. Vũ khí ấy ngày nay được gọi là “sức mạnh mềm”. Những vị “học trò” của Lênin ở Trung Nam Hải đã không quên luận điểm của Lênin để vận dụng vào trường hợp của mình, ra sức tận dụng điện ảnh và sau này là truyền hình, Internet… để tuyên truyền về “đường chín đoạn” phi pháp do họ vạch ra.

Thế rồi, vào cuối những năm 1990, giáo sư Joseph Nye ở trường Đại học Havard, Mỹ, người được giới nghiên cứu tôn vinh là “cha đẻ” của học thuyết “quyền lực mềm” đã diễn giải rằng, “sức mạnh mềm” là một thuật ngữ dùng để chỉ những ảnh hưởng, tác động, can thiệp… thuộc về những nhân tố văn hóa – xã hội, kể cả những nhân tố tín ngưỡng, tâm lý, truyền thống, giá trị… Một quốc gia sẽ có được “quyền lực mềm” khi họ tạo ra được sức hấp dẫn từ nền văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của mình bao gồm cả đối nội và đối ngoại một cách hợp lý, hợp pháp, nhân văn… chứ không phải từ sự cưỡng ép. Cũng chính giáo sư Joseph Nye có phát biểu rằng, quốc gia nào “kể được câu chuyện của mình” một cách hấp dẫn, khiến thế giới tin tưởng thì quốc gia ấy sẽ chiến thắng. Quan sát cách mà Trung Quốc đã và đang thực hiện trong việc tuyên truyền về “đường chín đoạn” phi pháp trên Biển Đông thông qua lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, truyền thông, giải trí… có vẻ như quốc gia này đang “kể câu chuyện Biển Đông” theo cách của họ hòng đạt được tham vọng về chủ quyền ở vùng biển này.

Lại nữa, trong cuốn sách “tương lai của quyền lực” (The Future Of Power) được xuất bản năm 2011, giáo sư Joseph Nye đã đưa ra các dự báo về tương lai của quyền lực trong quan hệ quốc tế. Theo đó, nếu như trước đây, các quốc gia có quyền lực đều là những nước kiểm soát các “tuyến đường biển” thì hiện nay và tương lai, quyền lực sẽ đến từ việc điều khiển các “tuyến thông tin” trên không gian mạng và kiểm soát những “câu chuyện” có thể ảnh hưởng đến mọi người xung quanh. Những gì diễn ra hiện nay cho thấy, Trung Quốc cũng đang cố làm những điều như giáo sư Joseph Nye diễn giải. Họ đang tìm mọi cách điều khiển các “tuyến thông tin” trên không gian mạng về Biển Đông thông qua việc phát tán hình ảnh “đường chín đoạn” và những thông tin sai sự thật về vùng biển có tầm quan trọng bậc nhất thế giới này. Bắc Kinh cũng nỗ lực kiểm soát các “câu chuyện” về Biển Đông, tìm cách kể lại “câu chuyện” mà họ tưởng tượng ra để gây ảnh hưởng đến dư luận và công chúng quốc tế. Tất cả đều nhằm phục vụ cho mục tiêu nắm giữ và thực thi quyền kiểm soát Biển Đông.

Như vậy có thể thấy, Bắc Kinh đang cố gắng “hiện thực hóa” các luận điểm về “sức mạnh mềm” mà họ học hỏi được vào vấn đề chủ quyền ở Biển Đông, trong khi không hề lãng quên “sức mạnh cứng”. Họ một mặt dựa vào sức mạnh của nền kinh tế đứng thứ hai thế giới để xây dựng một lực lượng quân sự có ảnh hưởng vượt khỏi khu vực Biển Đông, đó chính là “sức mạnh cứng”, là “cây gậy” để răn đe khi cần. Mặt khác, họ cũng không quên sử dụng “củ cà rốt”, sử dụng “sức mạnh mềm” thông qua các hoạt động giao lưu, trao đổi văn hóa để từ đây lập “ma trận” về “đường chín đoạn” phi pháp trên Biển Đông mà tuyên truyền ra thế giới. “Ma trận” đó chính là việc cài cắm hình ảnh “đường chín đoạn” và tấm bản đồ “đường chín đoạn” trên Biển Đông vào hầu hết các sản phẩm phim ảnh, sách vở, trò chơi điện tử, quần áo, túi xách… thậm chí đến cả những quả bóng bay được bán cho trẻ em để “găm” vào tâm thức của mọi người. Bắc Kinh còn hiểu rõ một điều rằng nếu như họ vẫn đứng ngoài “sân chơi” của Hollywood với những hãng phim đình đám như Dream Works, Warner Bros, Sony Pictures Studio vốn chi phối ghê gớm nền điện ảnh thế giới thì “sức mạnh mềm” của họ tạo ra đến đâu cũng còn kém xa. Thế nên, ngày càng nhiều tên tuổi diễn viên được “lăng xê” thành thần tượng của khán giả Trung Quốc và cả những dòng vốn đầu tư, tài trợ khổng lồ từ Trung Quốc “chảy” về phim trường Hollywood – trung tâm của nền điện ảnh thế giới. Và đằng sau đó, dưới sự “sai khiến” của Bắc Kinh, “ma trận” “đường chín đoạn” phi lý được chuyển tải ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn vào những thước phim tưởng chừng như vô hại, từ phim viễn tưởng, hành động đến phim hoạt hình, phim tâm lý xã hội… mà những phim ấy sẽ được công chiếu ra toàn thế giới. Đây chính là cách Bắc Kinh gây ảnh hưởng lên nhận thức của công chúng trong nước và quốc tế, tạo luồng dư luận ủng hộ quan điểm về chủ quyền của Trung Quốc, gây nhiễu tất cả quan điểm trái chiều với quan điểm của họ về Biển Đông hòng thực hiện mưu đồ “không đánh mà thắng” trong tranh chấp vùng biển này. Đòi hỏi tất cả các nước có chủ quyền ở Biển Đông cũng như các nước có liên quan khác phải tỉnh táo, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Vậy làm gì để xóa “ma trận” “đường chín đoạn” phi pháp trên của Trung Quốc? Đây là vấn đề rất lớn, nhưng cũng không thiếu gì giải pháp cần thiết và quan trọng để mang lại hiệu quả. Xin đơn cử như sau:

Một là, điều đầu tiên cần làm là phải xác định rõ “đối tượng” cần phải đấu tranh, tức là phải làm cho mọi người dân Việt Nam cũng như người dân các nước khác, nhất là giới trẻ hiểu rằng “đường chín đoạn” do Trung Quốc vạch ra trên Biển Đông là phi pháp, không dựa trên một cơ sở pháp lý quốc tế nào cả, đã bị toà án quốc tế bác bỏ vào năm 2016. Việc Bắc Kinh tuyên truyền “đường chín đoạn” ra thế giới, trong đó có Việt Nam là hành động xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia của nhiều nước trong khu vực. Người Việt có câu: “Nói phải củ cải cũng nghe”, hàm ý của thành ngữ này là nói phải, đúng đạo lý thì ai cũng chấp nhận. Lẽ phải ở đây không có nghĩa là cậy quyền, cậy tiền, cậy sức mạnh để ức hiếp người khác. Khi đã nhận thức và hiểu rõ “đường chín đoạn” là phi lý, phi pháp thì dù Bắc Kinh có lươn lẹo, mánh khóe, ngụy biện kiểu gì đi nữa thì mọi người cũng sẽ nhận ra bản chất, ý đồ sâu xa đằng sau của việc làm sai trái này và sẽ bác bỏ. Trung Quốc đã làm một việc sai trái, giờ lại lấy cái sai đó tuyên truyền ra bên ngoài, tức là lại sai thêm nữa, việc làm đó có ai tin? Những người có nhận thức, có hiểu biết chắc chắn sẽ không tin.

Hai là, nâng cao ý thức và khơi dậy tinh thần yêu nước của mỗi người dân trong bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia dân tộc. Trước sự “xâm lăng” văn hóa ngày càng tăng của Trung Quốc, hơn lúc nào hết phải tuyên truyền, giáo dục để mỗi người dân nhận rõ mối nguy hại đó. Khi tự thân mỗi cá nhân nhận thức rõ mối nguy hại này thì ngọn lửa yêu nước trong họ sẽ bùng cháy, triệt tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn trong hoạt động tuyên truyền về “đường chín đoạn” phi pháp của Trung Quốc. Đó là cái gốc để bảo vệ nền văn hóa dân tộc, cũng là bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước…”.

Ba là, phải chủ động tấn công vào “ma trận” “đường chín đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông. Có một thực tế phải nhận thấy, hiện nay phía Việt Nam và các nước có chủ quyền ở Biển Đông vẫn ở vào thế đối phó một cách thụ động với những hành động và việc làm của Trung Quốc, xảy ra trường hợp nào thì “thổi còi” trường hợp ấy nên chưa giải quyết được vấn đề một cách hiệu quả, triệt để và lâu dài. Vì thế, giải pháp kiểm duyệt các sản phẩm văn hóa mặc dù là rất cần thiết nhưng chưa đủ vì nó vẫn mang nặng tính phòng ngự, đối phó. Theo các chuyên gia, cách hay nhất mà Việt Nam cũng như cộng đồng “thượng tôn pháp luật” của thế giới cần làm là phải chủ động tiến công, không để thông tin, hình ảnh, các yêu sách sai lệch của Trung Quốc về Biển Đông “chiếm sóng”, lấn át sự thật. Thế giới rất khó ép buộc Trung Quốc dừng phát tán “đường chín đoạn” và tuyên truyền về nó, nhưng nếu như công chúng Việt Nam và các nước khác trên thế giới có nhận thức đúng đắn về luật pháp quốc tế, được tiếp cận thường xuyên những thông tin chuẩn xác về Biển Đông, hiểu biết sâu sắc về những “chiêu trò” của Bắc Kinh nhằm lợi dụng văn hóa phẩm như phim ảnh, sách báo để phát tán các yêu sách bất hợp pháp thì “đường chín đoạn” sẽ dễ dàng bị phát hiện và bị phản đối. Muốn vậy, việc chủ động truyền thông yêu sách, quan điểm của Việt Nam về Biển Đông và sự tuân thủ của Việt Nam với luật pháp quốc tế để bạn bè các nước nắm bắt, ủng hộ là rất cần thiết. Bên cạnh đó, cần chủ động xây dựng chiến lược dài hơi, đẩy mạnh các biện pháp đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trong học thuật và văn hóa. Đồng thời đẩy mạnh, nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý văn hóa về sự nguy hiểm của những “chiêu trò” này. Việc này không chỉ giúp chia sẻ, phát hiện thông tin sai lệch, độc hại mà còn thúc đẩy nhận thức chung về Biển Đông, cùng với phản đối yêu sách của Trung Quốc một cách hiệu quả hơn.

Bốn là, khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân. Trước “ma trận” ngày càng tinh vi và dày đặc của việc phát tán hình ảnh “đường chín đoạn” phi pháp, việc kiểm duyệt các sản phẩm văn hóa, khoa học ngày càng khó khăn, một lãnh đạo ngành Điện ảnh Việt Nam cho biết số lượng phim ảnh ngày càng lớn, công tác kiểm duyệt phải mất rất nhiều thời gian và chịu nhiều áp lực. Vì vậy, cần tận dụng mọi nguồn lực có được để đấu tranh chống lại những hoạt động sai trái. Nguồn lực mạnh nhất mà chúng ta có thể huy động là thế trận toàn dân. Người dân là “tai mắt” của cơ quan nhà nước, là những người kiểm duyệt “đường chín đoạn” đông đảo nhất mà không bộ máy, cơ quan nào có thể sánh được, sẽ giúp Nhà nước nhanh chóng phát hiện những vi phạm. Các cơ quan nhà nước cần phải có các bộ phận tiếp thu và xử lý ngay, triệt để và công khai các vấn đề mà người dân phát hiện nhằm ngăn chặn kịp thời các vi phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Để hỗ trợ người dân, các cơ quan nhà nước cũng phải tăng cường các hoạt động tuyên truyền, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, cùng với phản bác các tuyên bố sai trái của nước ngoài, đặc biệt là của Trung Quốc. Thế trận đấu tranh toàn dân đã mang lại thắng lợi cho chúng ta trong các cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước trước đây, chắc chắn việc phát huy nó sẽ giúp Việt Nam có thể đấu tranh một cách hiệu quả chống lại “ma trận” mới này của Trung Quốc.

Năm là, những gì Trung Quốc làm được trong sử dụng, lợi dụng “sức mạnh mềm” để tạo ra “ma trận” “đường chín đoạn” phi pháp trên lĩnh vực văn hóa, truyền thông, báo chí, điện ảnh, truyền hình… thì Việt Nam cũng không phải không làm được. Chúng ta tuy tiềm lực có yếu hơn, nhưng chúng ta có chính nghĩa, có lẽ phải, có đồng thuận dân tộc, cớ sao không làm được. Rất tiếc là trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc, truyền thông… xuất hiện rất ít những tác phẩm chuyển tải, lan tỏa những lý lẽ, hình ảnh, bằng chứng khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam, bác bỏ luận điệu, hình ảnh sai trái của Trung Quốc, cũng rất ít những phương cách để tác động đến những tổ chức, cá nhân bên ngoài mà vô tình hay hữu ý tiếp tay hoặc đồng lõa với Bắc Kinh trong việc xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Việt Nam ngày nay không phải là Việt Nam của hơn 20 năm trước, chúng ta đang có cơ đồ và vị thế chưa từng có trên trường quốc tế, nên tận dụng vị thế, cơ đồ đó cho việc đấu tranh xóa bỏ “ma trận” “đường chín đoạn” của Trung Quốc. Giá như ai đó sáng tác được những tác phẩm nghệ thuật nói về chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông mang sức lan tỏa rộng rãi và chiếm được cảm tình sâu sắc của cộng đồng khán, thính giả quốc tế như bài hát và điệu nhảy “see tình” của Hoàng Vũ Linh thì chắc chắn lẽ phải của chúng ta sẽ được nhiều người biết đến và công nhận. 

Sáu là, cần khai thác và tạo tiếng nói đồng thuận hơn nữa sức mạnh của công luận quốc tế. Đến lúc này, việc “cài cắm” hình ảnh “đường chín đoạn” phi pháp vào các ấn phẩm văn hóa, nhất là điện ảnh, ngoài việc chưa mang lại hiệu quả như Trung Quốc mong muốn, thậm chí nó còn có tác dụng ngược. Bởi không ít người, trong đó có giáo sư Joseph Nye cho rằng, hành động này đang gặp phải sự phản đối hơn là ủng hộ, sự quay lưng hơn là đồng hành và không có nước nào tin vì câu chuyện này là do Trung Quốc cố tình “sáng tác” và phát tán. Không chỉ Việt Nam mà một số nước trong khu vực thời gian qua cũng cấm công chiếu nhiều bộ phim, ngăn phát tán nhiều văn hóa phẩm có hình ảnh “đường chín đoạn”. Báo chí quốc tế cũng phân tích rất nhiều, trong đó chỉ ra cái sai của Trung Quốc khi ban hành yêu sách “đường chín đoạn”, nhắc lại phán quyết của PCA năm 2016. Việc làm này cho thấy, cộng đồng quốc tế đang ngày càng thận trọng, tỉ mỉ hơn trước Trung Quốc. Nếu Việt Nam và các nước ven Biển Đông khác cùng với dư luận thế giới cùng lên tiếng, cùng phản đối thì đó chắc chắn sẽ là một sức ép mà Bắc Kinh buộc phải suy nghĩ kỹ về những gì họ làm. Nếu nhiều quốc gia “nói không” với các nhà làm phim như Hollywood với lý do phát tán hình ảnh “đường chín đoạn” phi pháp thì việc “cài cắm” này ắt sẽ dần suy giảm.

“Ma trận” “đường chín đoạn” phi pháp được tuyên truyền trên các nền tảng số là biểu hiện của việc Trung Quốc đang sử dụng “sức mạnh mềm” hòng đạt được mục đích của họ ở Biển Đông. Có nhiều giải pháp để xóa bỏ “ma trận” này, trong đó cốt lõi nhất là phát huy sức mạnh truyền thống văn hóa Việt Nam vì đây là yếu tố cơ bản, đã giúp dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Còn nhớ năm 2010, khi Joseph Nye đến thăm Việt Nam, ông có nói rằng: “Một quốc gia dù là cường quốc số một thế giới cũng không thể đạt được điều mình mong muốn nếu không nhận được sự đồng tình, giúp đỡ của các nước khác”, trong khi đó “Việt Nam là một câu chuyện rất hấp dẫn trong lịch sử về sự dũng cảm của con người cũng như văn hóa. Việt Nam có tiềm năng lớn về sức mạnh mềm, Việt Nam cần tận dụng điều đó cho sự trường tồn và phát triển của mình”. Bằng vào sự thông minh, sáng tạo và khéo léo của mình, chúng ta nhất định sẽ có nhiều giải pháp, cách làm để xóa bỏ “ma trận” “đường chín đoạn” phi pháp của Trung Quốc.

Minh Sáng

]]>
Nước Anh gia tăng hoạt động quân sự ở Biển Đông, nguyên do từ đâu và dự báo tác động https://biendong.net/2023/07/02/nuoc-anh-gia-tang-hoat-dong-quan-su-o-bien-dong-nguyen-do-tu-dau-va-du-bao-tac-dong/ Sun, 02 Jul 2023 03:36:43 +0000 https://biendong.net/?p=109955 Từ năm 2018 đến nay, giới quan sát quốc tế chứng kiến Vương quốc Anh bắt đầu có các bước đi và hoạt động quân sự tại Biển Đông, trái ngược hẳn với sự “bàng quan” trước đây của quốc đảo Đại Tây Dương này đối với vùng biển nằm tại Tây Thái Bình Dương xa tít với họ.

Không những có bước đi và hành động quân sự công khai ở Biển Đông mà dường như người Anh còn muốn khẳng định họ đang có sự chuyển hướng mạnh hơn sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm triển khai chiến lược then chốt “Nước Anh toàn cầu” trong “kỷ nguyên hậu Brexit”, trong đó có cả việc thực hiện điều chỉnh chính sách đối với Biển Đông. Điều này khiến không ít người phải thắc mắc, vì sao Anh lại hành động như thế và Biển Đông sẽ ra sao?

Trước hết, cần thấy rằng gần đây, nước Anh đã và đang có những bước đi và hoạt động quân sự mạnh mẽ tại Biển Đông. Đặc biệt, sau khi chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ được triển khai, tính từ năm 2018 đến nay, 2 tàu khu trục và 1 tàu đổ bộ của Hải quân Anh đã nhiều lần đi vào vùng biển châu Á – Thái Bình Dương và đi qua Biển Đông. Trong đó, tàu đổ bộ HMS Albion thậm chí còn đi vào vùng biển 12 hải lý của các đảo và đá ở quần đảo Hoàng Sa. Động thái này đánh dấu việc Anh trở thành nước thứ hai sau Mỹ đưa lực lượng quân sự tiến vào vùng biển có các đảo do Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng trái phép ở Biển Đông. Tháng 5/2021, lần đầu tiên Anh triển khai đội hình tàu sân bay Queen Elizabeth ra nước ngoài, điều tàu khu trục HMS Defender, khinh hạm HMS Richmond, tàu chở dầu RFA Tidespring, tàu tiếp tế RFA Fort Victoria và tàu ngầm hạt nhân HMS Audacious, cùng với tàu khu trục USS The Sullivan của Hải quân Mỹ và khinh hạm Vincent của Hải quân Hà Lan, cùng nhau thành lập Nhóm tác chiến tàu sân bay 21, tiến đến châu Á – Thái Bình Dương, đi qua Biển Đông và thăm viếng nhiều nước. Trong chuyến đi này, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace còn nói rằng “Trung Quốc sẽ không thể xua đuổi chúng tôi ra khỏi vùng biển quốc tế”, đồng thời nhấn mạnh, Anh ủng hộ phán quyết của Tòa trọng tài Thường trực quốc tế về luật biển (PCA).

Ngoài hành động quân sự đơn phương, Anh cũng nỗ lực liên kết quân sự, tổ chức hoặc tham gia nhiều cuộc tập trận chung trên các vùng biển liên quan ở Biển Đông. Tháng 10/2018, Anh điều khinh hạm HMS Argyle tham gia cuộc tập trận Bersama Lima do quân đội Australia tổ chức ở Biển Đông dựa theo quy định trong hiệp ước phòng thủ 5 nước gồm Anh, Australia, New Zealand, Malaysia và Singapore ký năm 1971. Tháng 1/2019, khinh hạm HMS Argyle của Anh và tàu khu trục USS McCampbell của Hải quân Mỹ đã tiến hành tập trận chung ở Biển Đông với các chủ đề chính là diễn tập liên lạc, trao đổi chiến thuật và nhân sự, nhằm “giải quyết các ưu tiên an ninh hàng hải mà hai bên cùng quan tâm, tăng cường khả năng tương tác và tiếp tục làm sâu sắc thêm mối quan hệ hợp tác giữa hải quân hai nước”. Đây là dấu mốc quan trọng đối với quan hệ Mỹ – Anh trong vấn đề Biển Đông. Tháng 2/2019, tàu hộ vệ HMS Montrose của Hải quân Anh và tàu chở dầu USNS Guadalupe của Bộ Chỉ huy Vận tải Quân đội Mỹ cùng tiến hành diễn tập an ninh hàng hải và huấn luyện tiếp tế hậu cần ở Biển Đông. Tháng 7/2021, Nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth sau khi qua eo biển Malacca để tiến vào Biển Đông, đã chia thành nhiều tốp nhỏ, lần lượt tiến hành tập trận chung với hải quân các nước như Thái Lan, Malaysia và Singapore. Tháng 10 cùng năm, khi nhóm tác chiến tàu sân bay của Anh đến thăm Singapore, lực lượng hải quân, không quân của Anh và Singapore đã tiến hành một cuộc tập trận quy mô lớn ở vùng biển phía Nam Biển Đông. Theo thống kê cho thấy, trong năm 2021, Mỹ tiến hành 75 cuộc tập trận quân sự song phương, đa phương ở Biển Đông và vùng phụ cận, thì Anh có 8 lần tham gia, trở thành đối tác lớn thứ ba của Mỹ trong các cuộc tập trận ở Biển Đông, sau Nhật Bản và Australia.

Bên cạnh đó, Anh một mặt tích cực tham gia khuôn khổ an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, một mặt tìm cách “lấy lòng” các nước trong khu vực Đông Nam Á có liên quan đến Biển Đông. Theo đó, ngày 15/9/2021, Mỹ, Anh và Australia tuyên bố thành lập liên minh an ninh ba bên (AUKUS) để giúp Hải quân Australia đóng tàu ngầm hạt nhân và duy trì “truyền thống chung của quốc gia biển dân chủ”, từ đó tăng cường hơn nữa hợp tác trên các phương diện như năng lực không gian mạng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử và các năng lực dưới biển khác. Mặc dù AUKUS không đề cập rõ tranh chấp ở Biển Đông, nhưng chắc chắn nó báo hiệu rằng ba nước Mỹ, Anh và Australia sẽ dựa trên khuôn khổ của liên minh để tăng cường hơn nữa năng lực can thiệp quân sự ở các vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông. Tháng 12/2017, Anh gia tăng tương tác với Philippines bằng việc ký Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng giữa hai bên, đặt nền tảng và khuôn khổ quan trọng cho việc cùng thúc đẩy hợp tác thực chất trong lĩnh vực an ninh biển. Tháng 2/2020, chính quyền Duterte tuyên bố ý định chấm dứt “Thỏa thuận lực lượng thăm viếng” được ký kết giữa Mỹ và Philippines năm 1998, nhưng lại bày tỏ mong muốn đạt được các thỏa thuận quân sự với Anh. Tháng 10/2021, khi Quốc vụ khanh phụ trách các vấn đề châu Á của Bộ Ngoại giao và Phát triển Anh Amanda Milling đến thăm Manila, bà bày tỏ với Philippines rằng, Anh có ý định triển khai thường trực 2 tàu xa bờ ở Đông Nam Á “dựa trên cam kết lâu dài với khu vực châu Á – Thái Bình Dương”. Ngoài Philippines, Anh cũng có nhiều hoạt động liên quan đến Biển Đông với các nước khác như Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam.

Như vậy, bằng các bước đi và hành động quân sự kể trên, có thể khẳng định, Anh đã và đang trở thành quốc gia châu Âu tích cực nhất trong việc triển khai các hoạt động quân sự ở Biển Đông.

Vậy, lý do nào để Vương quốc Anh có các bước đi và hoạt động quân sự tại Biển Đông như trên. Điều này không phải “từ trên trời rơi xuống” mà xuất phát từ cả một quá trình thay đổi nhận thức và tư duy chíến lược của nước này. Bao gồm:

Một là, xuất phát từ yêu cầu của chiến lược “Nước Anh toàn cầu” trong “kỷ nguyên hậu Brexit”. Trước những nghi ngờ của cộng đồng quốc tế về việc liệu Brexit có đồng nghĩa với việc Anh sẽ quay lưng lại với châu Âu, hay quay về với chủ nghĩa biệt lập, năm 2016, Ngoại trưởng Anh lúc đó là ông Boris Johnson đã đề xuất chiến lược “Nước Anh toàn cầu”, tuyên bố Brexit tuyệt đối không dẫn đến một nước Anh khép kín. Thay vào đó, với vai trò là một “nhân vật chính” trên trường quốc tế, chiến lược “Nước Anh toàn cầu” chủ trương sẽ đưa Anh hướng ngoại và hội nhập thế giới hơn bao giờ hết, đồng thời theo đuổi chính sách đối ngoại toàn cầu hóa một cách thực chất hơn. Trải qua giai đoạn phát triển và không ngừng được làm phong phú dưới thời Thủ tướng Theresa May và Johnson, chiến lược “Nước Anh toàn cầu” dần trở thành nội dung cốt lõi trong chiến lược đối ngoại của Anh, mang cấu trúc chiến lược, kinh tế và quân sự tương đối hoàn chỉnh. Chiến lược trên không chỉ coi trọng tầm quan trọng về kinh tế ngày càng tăng trong thập kỷ tới của khu vực Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương, mà còn coi khu vực này là mục tiêu quan trọng trong bố cục chiến lược đối ngoại của Anh. Thực tiễn quan hệ đối ngoại của Anh trong những năm gần đây cho thấy, Anh đã thực sự coi việc “xoay trục sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” và “ứng phó với một Trung Quốc đang trỗi dậy” là hai khía cạnh chính trong chính sách đối ngoại của nước này ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời nhấn mạnh hơn sự cần thiết của việc can thiệp vào các vấn đề ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thông qua các biện pháp thực chất. Chiến lược “Nước Anh toàn cầu” cũng lưu tâm đến xem Biển Đông như là “đấu trường” để các nước lớn tranh giành lợi ích. Trong giai đoạn hiện tại và thời gian tới, Anh có ít nhất 3 sự cân nhắc chiến lược để can dự vào vấn đề Biển Đông: 1/ Đáp ứng và phối hợp với yêu cầu của Mỹ về cạnh tranh chiến lược, kiềm chế và gây sức ép với Trung Quốc, góp sức vào sự phát triển của mối quan hệ đồng minh Anh – Mỹ và hợp tác liên minh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; 2/ Lợi dụng vấn đề Biển Đông có liên quan đến nhiều nước trong và ngoài khu vực để tham gia vào các vấn đề của Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; 3/ Thể hiện vai trò, vị thế của chính mình trong cấu trúc an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời củng cố con bài chính trị để điều chỉnh kịp thời quan hệ Trung – Anh, cũng như quan hệ với ASEAN và các quốc gia thành viên. Như vậy, sự chuyển đổi chính sách mà Anh thể hiện trong vấn đề Biển Đông là nhằm điều chỉnh trọng tâm chiến lược của nước này theo chiến lược “Nước Anh toàn cầu”, đồng thời phát đi tín hiệu rằng Anh sẽ duy trì sự hiện diện lâu dài ở Biển Đông.

Hai là, xuất phát từ vai trò, vị trí địa chiến lược, kinh tế, quốc phòng – an ninh của Biển Đông đối với chiến lược “Nước Anh toàn cầu”. Biển Đông là vùng biển có tiềm năng về tài nguyên, có vị thế giao thông quốc tế và giá trị địa chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của các nước trong và ngoài khu vực. Sự tranh chấp biển ở Biển Đông không chỉ gây ảnh hưởng xấu đối với các nước trong khu vực mà còn cả ngoài khu vực, khiến cho nơi đây trở thành tâm điểm chú ý của các nước lớn trên thế giới.

Đối với nước Anh, sự quan tâm đối với Biển Đông trước đây chủ yếu đi theo đường hướng của Liên minh châu Âu (EU), song Biển Đông lại không phải là trọng tâm trong chính sách đối ngoại và an ninh của EU đối với Đông Á. Sự tham gia hạn chế của EU vào các vấn đề của Biển Đông thời gian qua chủ yếu tập trung nhiều vào ngoại giao hơn là chính trị và quân sự. Hiện tại, Anh mặc dù là nước lớn ở châu Âu, có lợi ích toàn cầu và là cường quốc thương mại hàng hải, nhưng trên thực tế, ngoài các căn cứ hải quân ở Singapore, Học viện tác chiến trong rừng và Tiểu đoàn Gurkha ở Brunei, đảo quốc này không có sự hiện diện quân sự thường trực nào khác ở Biển Đông và khu vực Đông Nam Á. Đây là hạn chế đáng kể để Anh gia tăng ảnh hưởng chính trị và quân sự trong khu vực. Ngoài ra, ý tưởng về “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” và chính sách Biển Đông của Anh vẫn có sự tách biệt với khuôn khổ chiến lược Đông Á của EU, nên mức độ can dự và khả năng định hình của nước này đối với vấn đề Biển Đông trong ngắn hạn khó sánh ngang với các nước lớn ngoài khu vực. Bối cảnh đó cho thấy, để đáp ứng với yêu cầu “Nước Anh toàn cầu” trong “kỷ nguyên hậu Brexit”, Anh cần phải sử dụng các biện pháp chính trị, kinh tế và quân sự “vượt tiêu chuẩn” của EU nhằm đạt được mục tiêu cạnh tranh với các cường quốc khu vực và thế giới khác như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông, sau đó mở rộng và củng cố tối đa lợi ích riêng của mình. Là một phần quan trọng của khu vực Tây Thái Bình Dương, đồng thời là đầu mối giao thông đường biển và đường hàng không nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Biển Đông rõ ràng đóng vai trò “đầu mối” then chốt kết nối các phần của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với nhau. Do đó, việc Anh tích cực can thiệp vào tranh chấp Biển Đông và các vấn đề của khu vực này sẽ giúp London tăng cường hơn nữa giao lưu và hợp tác với các nước ven Biển Đông và các nước láng giềng, từ đó tìm kiếm được càng nhiều “điểm tựa” đáng tin cậy ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để hỗ trợ cho việc thực hiện chiến lược “Nước Anh toàn cầu”.

Ba là, xuất phát từ mối quan hệ đồng minh giữa Anh và Mỹ. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, mối quan hệ này được mệnh danh là “quan hệ đặc biệt”. Tháng 10/1948, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đề xuất chính sách “ngoại giao 3 vòng tròn”, theo đó trật tự thế giới sẽ được tạo thành từ các nước dân chủ tự do gồm 3 vòng tròn lớn: (1) Vòng tròn thứ nhất gồm Khối thịnh vượng chung, Đế quốc Anh và những nước thuộc địa; (2) Vòng tròn thứ hai là thế giới nói tiếng Anh bao gồm Mỹ, Canada, Vương quốc Anh và các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung khác; (3) Vòng tròn thứ ba là khối châu Âu thống nhất. Khái niệm này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Mỹ trong thế giới các nước nói tiếng Anh, là cơ sở quan trọng cho chính sách ngoại giao của Anh theo hệ thống Yalta. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mối “quan hệ đặc biệt” này vẫn tồn tại. Hai nước không những coi nhau là đồng minh, đối tác thân thiết nhất mà còn nỗ lực tăng cường hợp tác an ninh trong khuôn khổ Liên minh xuyên Đại Tây Dương Mỹ – châu Âu và NATO. Đặc biệt, hai nước đã có sự phối hợp chặt chẽ trong nhiều hoạt động quân sự ở nước ngoài, như Chiến tranh vùng Vịnh, Chiến tranh Afghanistan và Chiến tranh Iraq. Những năm gần đây, Anh đã lựa chọn “đường ai nấy đi” với EU và tìm cách xây dựng một “Nước Anh toàn cầu”, mối quan hệ đặc biệt giữa Anh và Mỹ càng được coi trọng. Tháng 2/2019, khi nêu rõ tầm nhìn quốc phòng và chiến lược quân sự trong kỷ nguyên “Nước Anh toàn cầu”, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Gavin Williamson cho rằng, ngoài việc tiếp tục coi các thỏa thuận phòng thủ tập thể và các hoạt động quân sự của NATO là nền tảng quốc phòng, Anh cần tận dụng triệt để các cơ chế an ninh đa phương cũng như mở rộng ảnh hưởng toàn cầu của mình với các thỏa thuận quốc phòng và dự án hợp tác trong khuôn khổ “quan hệ đặc biệt” Anh – Mỹ. Tháng 3/2021, chiến lược “Nước Anh toàn cầu trong thời đại cạnh tranh” do chính quyền Johnson công bố đã chỉ rõ, ảnh hưởng toàn cầu của Anh sẽ được mở rộng nhờ các liên minh lớn mạnh hơn và quan hệ đối tác rộng lớn hơn, trong đó “quan trọng hơn cả là mối quan hệ với Mỹ”. Không khó để nhận thấy rằng, dựa trên địa vị chủ chốt của mối quan hệ Anh – Mỹ đối với chiến lược toàn cầu của Anh, với điểm tựa là tiếp tục đi theo và phối hợp với “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ, thì việc không ngừng duy trì và phát triển mối “quan hệ đặc biệt” này trở thành lựa chọn tất yếu trong chiến lược đối ngoại của Anh trong “kỷ nguyên hậu Brexit”. Trong khi đó, để chia sẻ áp lực an ninh – quân sự ngày càng tăng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cũng như để chống lại sức mạnh đang gia tăng nhanh chóng ở Biển Đông của Trung Quốc, những năm gần đây Mỹ đã không ngừng kêu gọi đồng minh EU chia sẻ chi phí ngoại giao ở khu vực Biển Đông và cùng công khai lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Do có nhu cầu thực tế là muốn làm sâu sắc hơn mối quan hệ đặc biệt với Mỹ trong bối cảnh nỗ lực xây dựng “Nước Anh toàn cầu”, nên việc đi theo chính sách Biển Đông trong “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do rộng mở” của Mỹ đã trở thành lựa chọn tất yếu của nước Anh cả trong hiện tại và tương lai.

Chính vì ba lý do trên mà Anh đã có sự thay đổi lập trường, chính sách trong vấn đề Biển Đông. Sự thay đổi đó diễn ra từ từ nhưng theo hướng khó đảo ngược trở lại như trước. Bằng chứng là tháng 8/2022, Chính phủ Anh sau 8 năm kể từ năm 2014, một lần nữa công bố “Chiến lược An ninh biển Quốc gia”, củng cố đáng kể nhận thức về tầm quan trọng địa chiến lược của Biển Đông, tuyên bố rằng “một Biển Đông ổn định và an toàn là rất quan trọng đối với nước Anh”, đồng thời bày tỏ Anh sẽ không chỉ sử dụng một loạt công cụ để thúc đẩy và bảo vệ tinh thần của UNCLOS 1982, mà còn tiếp tục nêu quan ngại về “hành vi quân sự hóa, cưỡng ép và đe dọa” ở khu vực Biển Đông, cũng như sẽ hợp lực với các đồng minh để hỗ trợ các đối tác ASEAN củng cố năng lực luật hàng hải và an ninh biển trong khu vực. Rõ ràng, Anh đã coi tranh chấp ở Biển Đông là mối đe dọa thực sự đối với các lợi ích an ninh quốc gia của mình.

Những thay đổi trên không chỉ đặt nền tảng chiến lược cho sự chuyển đổi chính sách của Anh ở khu vực Biển Đông, mà còn tác động đáng kể đến khu vực này, bước đầu có thể chỉ ra như sau:

Việc Anh triển khai các chính sách ở Biển Đông sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nước ven Biển Đông hội nhập với một đối tác có tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ, quốc phòng – an ninh để phát triển hơn các ngành, lĩnh vực trong vùng biển này, như khai thác, thăm dò tài nguyên biển, bảo đảm tự do hàng không, hàng hải, mở rộng quan hệ đối ngoại… Đặc biệt, sự kiện nước Anh cùng Pháp và Đức gửi công hàm chung lên Liên hợp quốc, ủng hộ phán quyết của PCA, phản đối tất cả các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông là động thái cho thấy, Biển Đông không chỉ là vấn đề riêng giữa ASEAN với Trung Quốc, mà còn là mối quan tâm của hầu hết các nước trên toàn thế giới; để giải quyết mọi tranh chấp trên vùng biển này, con đường phù hợp nhất là phải dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982. Chỉ có như vậy thì Biển Đông mới thực sự có hòa bình, hợp tác, phát triển và cùng thắng. Xu hướng này được tuyệt đại đa số các nước trên thế giới ủng hộ. Tuy nhiên, đi cùng với thuận lợi nói trên thì việc Anh tiến vào Biển Đông cũng sẽ gây ra những phức tạp cho khu vực, bởi vì: Hiện nay, cùng với nhiều vấn đề, lĩnh vực khác nhau, Biển Đông đang trở thành “trọng điểm” trong cạnh tranh Trung – Mỹ. Anh là đồng minh thân cận nhất của Mỹ, ủng hộ và tham gia hầu như tất cả các chiến lược, chính sách toàn cầu của Mỹ, do đó ở một góc độ nào đó, chắc chắn Anh sẽ có sự “hợp lực”với Mỹ và một số đồng minh khác của Mỹ trong vấn đề Biển Đông để bao vây, kiềm chế Trung Quốc. Đây sẽ là sức ép rất lớn cho các nước trong khu vực, nhất là trong việc tìm kiếm, tập hợp lực lượng, biện pháp phù hợp nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, an ninh của đất nước. Song, do Anh có những hạn chế nhất định bởi thực lực quốc gia và nhu cầu duy trì cục diện chung của quan hệ Trung – Anh, cộng với việc các nước ASEAN ngày càng phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, nên những tác động của sự thay đổi chính sách của Anh đối với Biển Đông nhìn chung là chưa thực sự lớn.

                                                                            Chí Bảo

]]>
Làm gì để vô hiệu hóa chiến thuật vùng xám của Bắc Kinh https://biendong.net/2023/07/01/lam-gi-de-vo-hieu-hoa-chien-thuat-vung-xam-cua-bac-kinh/ Sat, 01 Jul 2023 02:05:09 +0000 https://biendong.net/?p=109841 Các hoạt động vùng xám là một phần không thể thiếu trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông; và nó tiếp tục thách thức mọi giải pháp mang tính chính trị, hải quân hoặc pháp lý. Cựu Phó Chánh án Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio đã chỉ ra rủi ro nếu điều này vẫn chưa được giải quyết: “Trật tự pháp lý được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) năm 1945 đang bị đe dọa, rằng không quốc gia nào được sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp với quốc gia khác mà chỉ được sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp đó…. [Chúng ta] phải ngăn chặn Trung Quốc đảo ngược nguyên tắc cơ bản này, [nếu không], chúng ta sẽ quay trở lại trật tự ‘lẽ phải thuộc về kẻ mạnh’ vốn từng chiếm ưu thế trước đây”.

Ông Hunter Stires thuộc Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ đã mô tả các chiến thuật vùng xám như một “cuộc nổi dậy trên biển” khi nhấn mạnh: “Một chiến dịch nhằm gây suy yếu và cuối cùng là lật đổ cơ chế hiện hành của luật pháp quốc tế chi phối việc triển khai các hoạt động hàng hải ở Biển Đông. Đây là một ‘trận chiến của các cơ chế pháp lý’, một cuộc tranh giành ý chí chính trị thể hiện trong cuộc đấu tay đôi giữa hai hệ thống quyền lực cạnh tranh nhau – hệ thống tự do hàng hải do Mỹ bảo trợ đấu với tầm nhìn của Trung Quốc về một vùng biển khép kín, lấy Trung Quốc làm trung tâm và không tự do”.

Còn trong cuốn sách “Chiến tranh chống nổi dậy: Lý thuyết và Thực tiễn”, David Galula đã đánh giá một cuộc nổi dậy là “…một cuộc đấu tranh lâu dài được tiến hành một cách có phương pháp, từng bước một, nhằm đạt được các mục tiêu trung gian cụ thể dẫn đến lật đổ trật tự hiện hành”. Trung Quốc được coi là “lực lượng nổi dậy” khi họ triển khai chiến lược vùng xám để từng bước thôn tính Biển Đông mà không cần chiến tranh. Những nước đang đấu tranh chống lại các hoạt động vùng xám của Trung Quốc được coi là “lực lượng chống nổi dậy” và trong trường hợp này chính là các nước có cùng chí hướng.

Ông Galula cho rằng: “Việc thúc đẩy rối loạn là mục tiêu chính của lực lượng nổi dậy. Nó giúp phá vỡ nền kinh tế, tạo ra sự bất mãn; làm suy yếu sức mạnh và uy quyền của lực lượng chống nổi dậy. Điều này dễ dàng tạo ra, nhưng lại khó ngăn chặn”. Đồng thời, cảnh báo rằng “Một khi lực lượng nổi dậy thành công trong việc giành được các cơ sở về mặt địa lý, thì trên thực tế, họ sẽ trở thành người thúc đẩy mạnh mẽ trật tự trong khu vực của họ, để cho thấy sự khác biệt giữa tính hiệu quả của sự cai trị của họ với sự kém cỏi của đối thủ”.

Sự thâm hiểm trong chiến lược vùng xám của Trung Quốc ở Biển Đông là gia tằng sức ép và cưỡng bức buộc các nước ven Biển Đông phải phục tùng sự chi phối điều hành của Bắc Kinh. Trong trường hợp này, nếu các nước láng giềng ven Biển Đông mềm yếu, nhân nhượng sẽ khiến Bắc Kinh càng lấn tới. Chẳng hạn như “chính sách nhân nhượng” của cựu Tổng thống Philippines Duterte trong 6 năm cầm quyền đã cho phép Trung Quốc thách thức việc thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền trong vùng biển trong các vùng biển hợp pháp của Philippines ở Biển Đông. Rút bài học từ chính quyền tiền nhiệm, Tổng thống Marcos đã thi hành một chính sách khác biệt trên vấn đề Biển Đông trên cơ sở thúc đẩy hợp tác đa phương với các nước trong khu vực; tăng cường quan hệ an ninh quốc phòng với Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Nhằm tạo sự đồng thuận, giúp chính quyền của Tổng thống Marcos vững tâm trong việc triển khai các chính sách ở Biển Đông, Viện Nghiên cứu chiến lược và Quốc tế Stratbase ADR (ADRi) Philippines đã tổ chức diễn đàn về “các hoạt động vùng xám” ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thảo luận về các biện pháp ứng phó với chiến thuật vùng xám của Bắc Kinh. Tại diễn đàn, các chuyên gia an ninh và hàng hải Philippines đã chỉ ra sự nguy hiểm của chiến thuật vùng xám mà Trung Quốc đang triển khai ở Biển Đông và các vùng biển xung quanh; đồng thời hối thúc chính phủ đứng lên chống lại chiến thuật vùng xám của Trung Quốc ở Biển Đông.

Phát biểu tại diễn đàn, Chỉ huy Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines (PCG) Jay Tarriola nói rằng vai trò quan trọng nhất của PCG trong những tuần gần đây ở Biển Tây Philippines (Biển Đông) là vạch trần ý đồ của Trung Quốc đối với các vùng biển của Philippines. Ông nhấn mạnh: “Sự hiện diện liên tục của PCG trong việc tuần tra các vùng biển tranh chấp, đồng thời ghi lại các hoạt động của Trung Quốc đã cho phép cộng đồng quốc tế chỉ trích các hành động của Bắc Kinh là vi phạm luật pháp quốc tế và vi phạm trật tự dựa trên các quy tắc quốc tế”.

Các chuyên gia về an ninh quốc gia, luật hàng hải và địa chính trị cũng cho rằng Philippines nên tham gia vào các hoạt động răn đe tập thể với các đồng minh có cùng chí hướng để chống lại hành vi xâm lược lãnh thổ của Trung Quốc. Giáo sư Jay Batongbacal, chuyên gia luật hàng hải, cho biết các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông hiện đang “ngày càng trở nên thù địch và hiếu chiến hơn”. Để chứng minh cho nhận định này ông Jay Batongbacal đã viện dẫn vụ việc Lực lượng hải cảnh Trung Quốc ngày 8/2/2023 chiếu “tia laser cấp độ quân sự” vào một tàu PCG đang thực hiện nhiệm vụ tiếp tế cho binh lính Philippines đang đóng tại Bãi Cỏ Mây.

Giáo sư Batongbacal đã kêu gọi chính phủ Philippines “đừng ngại xem xét các phản ứng tương xứng và thích đáng” đối với các mối đe dọa nhằm vào Philippines trong vùng Biển Đông. Ông Batongbacal nhấn mạnh: “Chúng ta không nên né tránh mỗi khi họ (Trung Quốc) thực hiện các động thái đe dọa và sau đó chúng ta ‘rụt vòi’ vì sợ bị khiêu khích. Không nên có vùng xám nữa. Chúng ta cần bắt đầu xóa vùng xám. Chúng ta cần bắt đầu hành động và đứng lên bảo vệ các quyền hàng hải hợp pháp của mình”.

Chủ tịch Viện nghiên cứu ADRi của Philippines, ông Dindo Manhit, kêu gọi chính quyền Tổng thống Marcos Jr hợp tác với các quốc gia cùng chí hướng trong việc tiến hành các cuộc tuần tra chung và các chiến dịch nâng cao nhận thức về lĩnh vực hàng hải. Ông Manhit nhấn mạnh: “Philippines và các quốc gia khác ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương phải tham gia vào các chiến lược mà cuối cùng sẽ thay đổi hành vi của Trung Quốc để trở nên cộng sinh với trật tự dựa trên luật lệ được quốc tế thiết lập. Thay vì ép buộc, các quốc gia phải tăng cường hợp tác bằng các biện pháp song phương, đa phương và tiểu đa phương. Các hoạt động của Trung Quốc trong lãnh thổ Philippines, bị kích động bởi tham vọng bành trướng và quân sự hóa, không thể được phép xảy ra”.

Trong số các hoạt động hiếu chiến của Trung Quốc được đề cập tại diễn đàn là các tàu đánh cá và dân quân biển Trung Quốc tràn vào vùng biển Philippines; truy đuổi, uy hiếp tàu cá và ngư dân Philippines; phun vòi rồng, ngăn chặn các nhiệm vụ tiếp tế, bám đuôi ngăn cản các tàu nghiên cứu khoa học…. Ông Manhit bày tỏ: “Chúng ta không thể để hành động hung hăng này tiếp diễn”.

Theo giáo sư Renato de Castro, việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ các đồng minh là cần thiết để ngăn chặn hành vi gây hấn của Trung Quốc. Ông de Castro nói: “Để hạn chế khả năng Trung Quốc tiến hành các hoạt động vùng xám chống lại Philippines, đòi hỏi Manila, Washington, Canberra và Tokyo truyền đi những tín hiệu mạnh mẽ về cam kết hỗ trợ lẫn nhau thông qua các thỏa thuận an ninh, triển khai quân, chuyển giao vũ khí và tập trận đa quốc gia, từ đó làm xoa dịu tâm lý bất an của Philippines”.

Ông Raymond Powell – Đại tá đã nghỉ hưu và hiện là thành viên của Trung tâm Đổi mới An ninh Quốc gia Gordian Knot của Philippines – đã thúc giục chính phủ thu hút công chúng tham gia vào vấn đề này bằng cách thúc đẩy thông tin. Ông Powell khẳng định: “Vạch trần là chìa khóa để ngăn chặn và xây dựng khả năng phục hồi”, đồng thời cho biết thêm rằng việc cung cấp dữ liệu hàng hải cho các nhà phân tích độc lập đáng tin cậy, những người có ảnh hưởng và giới truyền thông là rất quan trọng. Ông Powell cũng đề nghị đưa các nhà báo lên các tàu PCG để chứng kiến và ghi lại hành vi xâm lược lãnh thổ của Trung Quốc. Ông nói: “Công chúng tham gia là chìa khóa để ngăn chặn các tác nhân vùng xám và xây dựng khả năng phục hồi quốc gia”. Tóm lại, Trung Quốc đang thực hiện một “cuộc nổi dậy trên biển” với chiến thuật vùng xám hết sức nguy hiểm nhằm thực hiện mục tiêu khống chế, thôn tính Biển Đông, đẩy Mỹ và các nước ngoài khu vực ra khỏi Biển Đông. Tuy nhiên, điểm yếu trong chiên lược vùng xám của Bắc King là không chỉ xâm phạm quyền và các lợi ích của các quốc gia ven biển mà còn đe dọa an toàn tự do hàng hải trên tuyến đường vận tải biển huyết mạch ở Biển Đông; đe dọa tính mạng và an toàn của ngư dân các nước. Giới chuyên gia nhất trí cho rằng “cuộc nổi dậy trên biển” của Bắc Kinh với chiến thuật vùng xám có một lỗ hổng và nó có thể bị đánh bại nếu khu vực cùng nhau hợp tác. Các ý kiến đề xuất của các chuyên gia an ninh hang hải Philippines cần được các nước khác ven Biển Đông cùng phối hợp triển khai để tạo ra sức mạnh trong việc vô hiệu hóa chiến thuật vùng xám của Trung Quốc.

]]>
Phân tích lệnh cấm đánh bắt cá của TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2023/07/01/phan-tich-lenh-cam-danh-bat-ca-cua-tq-o-bien-dong/ Sat, 01 Jul 2023 01:59:56 +0000 https://biendong.net/?p=109838 Ngày 13/3/2023, Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Trung Quốc (MOA) đã công bố sửa đổi quy định thời gian cấm đánh bắt cá hàng năm sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/4/2023. Lệnh cấm đánh bắt áp dụng cho tất cả các loại tàu đánh cá, bao gồm cả tàu phụ trợ đánh cá. Lệnh cấm đánh bắt cá bắt đầu áp dụng từ ngày 1/5 và kéo dài không dưới 3 tháng. Thời gian dỡ bỏ lệnh cấm đánh bắt do cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh xác định và báo cáo Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Trung Quốc. Lệnh cấm đánh bắt cá này áp dụng đối với các tàu cá từ bất kỳ quốc gia nào đánh bắt cá ở các khu vực Biển Bột Hải, Hoàng Hải, Biển Hoa Đông và Biển Đông và do lực lượng Hải cảnh Trung Quốc thực hiện việc cấm này.

Từ năm 1999, Trung Quốc đã đơn phương đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá. Tuy nhiên, trước đây, lệnh cấm này chỉ kéo dài 2 tháng, còn vài năm trở lại đây, lệnh cấm này được phía Trung Quốc kéo dài tới hơn 3 tháng. Theo giải thích từ phía Trung Quốc, lệnh cấm đánh bắt cá này là “một phần trong nỗ lực của nước này nhằm thúc đẩy phát triển nghề cá trên biển một cách bền vững và góp phần cải thiện hệ sinh thái biển”. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy.

Thứ nhất, giới quan sát nhận định mục đích thực sự của lệnh cấm đánh bắt cá mà Trung Quốc đơn phương đưa ra không phải là nhằm bảo vệ sự phát triển của nguồn lợi biển mà là để củng cố các yêu sách biển phi lý của Bắc Kinh. Hay nói cách khác chính sách cấm đánh bắt cá của Trung Quốc không thực sự dựa trên mối quan tâm đối với việc bảo vệ môi trường biển; đó thực chất chỉ là một chiến lược cho phép Trung Quốc chèn ép các đối thủ và thể hiện chủ quyền của họ đối với khu vực.

Tính đến năm 2008, trữ lượng thủy sản của Biển Đông đã giảm mạnh. Đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo dõi (IUU) là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đánh bắt quá mức này và góp phần làm suy thoái môi trường biển. Theo đánh giá của các chuyên gia ngành thủy sản, Trung Quốc lại là quốc gia đứng đầu trong danh sách các đội tàu đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo dõi (IUU) trên thế giới. Hầu hết các hoạt động đánh bắt IUU của Trung Quốc được thực hiện bởi các đội tàu đánh bắt xa bờ, đội tàu lớn nhất thế giới. Dữ liệu chính thức cho biết đội tàu này của Trung Quốc có khoảng 2.600 tàu. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của Viện Phát triển Hải ngoại cho thấy số lượng tàu đánh bắt xa bờ của Trung Quốc lên tới gần 17.000 tàu. Các ước tính khác cho biết tổng số tàu đánh bắt cá xa và gần bở của Trung Quốc vào khoảng từ 200.000 đến 800.000 tàu.

Các đội tàu của Trung Quốc đã tiến hành đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo dõi (IUU) ở các khu vực biển thuộc quyền tài phán của các quốc gia láng giềng, chẳng hạn như ở Biển Đông, Hoàng Hải và Biển Nhật Bản, và ở các ngư trường xa bờ khắp thế giới, chẳng hạn như Đông Thái Bình Dương và Tây Đại Tây Dương ngoài khơi Nam Mỹ, Tây và Trung tâm Thái Bình Dương, Đông Nam Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương ngoài khơi châu Phi. Các đội tàu của Trung Quốc còn thường xuyên bị lên án dùng các phương thức đánh bắt mang tính hủy diệt. Do vậy, không thể nói lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc là để bảo vệ nguồn cá trên Biển Đông bởi nếu thực sự quan tâm đến bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bắc Kinh trước hết phải ngăn chặn các tàu cá của họ chấm dứt đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo dõi (IUU).

Thứ hai, việc Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động nạo vét, bồi lấp xây đảo nhân tạo và quân sự hoá các thực thể tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong hơn một chục năm qua đã phá huỷ rất nhiều rạn san hô, dẫn đến môi trường biển bị tàn phá. Một nghiên cứu năm 2016 của các nhà khoa học đã cho biết: “… di sản thiên nhiên phong phú của Biển Đông, từ lâu bị đe dọa bởi đánh bắt quá mức, giờ đây phải đối mặt với một mối nguy sinh thái mới. Một chiến dịch của Trung Quốc nhằm xây dựng các đảo nhân tạo trên các rạn san hô đang tranh chấp ở Trường Sa và các nơi khác trên biển. Sáng kiến xây dựng đảo của Trung Quốc báo hiệu một lập trường hiếu chiến nhằm đảm bảo sự thống trị ở Biển Đông, một khu vực chiến lược có một số tuyến đường vận chuyển nhộn nhịp nhất thế giới và là một nguồn trữ lượng dầu mỏ tiềm năng”.

Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục 7 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 kết luận rằng việc Bắc Kinh nạo vét, bồi đắp các cấu trúc, xây dựng các đảo nhân tạo ở Biển Đông – đã gây ra sự tổn hại nghiêm trọng đối với môi trường đá ngầm hình thành từ san hô, đồng thời vi phạm nghĩa vụ của Bắc Kinh về việc bảo tồn và bảo vệ hệ sinh thái mong manh và môi trường sống của những loài sinh vật đã bị hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng; khi tiến hành các hoạt động cải tạo đất quy mô lớn và xây dựng đảo nhân tạo, Bắc Kinh đã hủy hoại vĩnh viễn bằng chứng về điều kiện tự nhiên của các thực thể tranh chấp. Đây là minh chứng rõ nhất mang tính pháp lý về việc Trung Quốc phá hoại môi trường Biển Đông và việc Trung Quốc nói cấm đánh bắt cá để “bảo vệ môi trường sinh thái biển” chỉ là sự ngụy biện.

Nếu thực sự muốn bảo vệ môi trường biển và nguồn cá trên Biển Đông, thì Trung Quốc cần phải tự chấn chỉnh lại các hành động tàn phá của nước này. Chính vì vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới thấy rằng Trung Quốc đang lợi dụng chính sách môi trường như một công cụ để thể hiện sức mạnh ở Biển Đông, bắt nạt các nước láng giềng. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã tăng cường khả năng giám sát đánh bắt cá trong khu vực bằng việc đơn phương ban hành các bộ luật trao cho các cơ quan chức năng của những quyền trái với các quy định của luật pháp quốc tế khi hoạt động trên biển, đặc biệt Bắc Kinh trao cho lực lượng Hải cảnh Trung Quốc thẩm quyền có thể bắn và lai dắt các tàu nước ngoài.

Từ năm 2018, quyền kiểm soát lực lượng Hải cảnh Trung Quốc đã được chuyển từ Quốc vụ viện sang Quân uỷ Trung ương và một số tàu có khả năng chiến đấu trước đây thuộc thẩm quyền Hải quân Trung Quốc gần đây đã được chuyển giao cho lực lượng Hải cảnh của nước này. Những động thái này đã tạo cho lực lượng Hải cảnh Trung Quốc mang “đặc điểm quân sự rõ ràng”, “tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa đơn phương và gây hấn ở các vùng biển tranh chấp”.

Thứ ba, lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế. Theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 mà Trung Quốc là thành viên, các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia có quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được xác định theo UNCLOS; Việt Nam, Philippines… được hưởng và có quyền đánh bắt cá trong vùng biển thuộc EEZ của mình theo quy định của UNCLOS 1982. Như vậy, đương nhiên Trung Quốc không có tư cách để tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá ở khu vực này, hay nói cách khác Biển Đông không phải là một phần lãnh hải của Trung Quốc để họ đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá.

Trung Quốc nêu yêu sách về vùng biển trong phạm vi “Đường 9 đoạn” ở Biển Đông. Tuy nhiên, yêu sách này theo luật pháp quốc tế là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Việc Trung Quốc đưa ra khái niệm “Tứ Sa”, tuyên bố chủ quyền đối với 4 nhóm thực thể ở Biển Đông và các vùng biển xung quanh cũng không có căn cứ pháp lý. Không có bằng chứng nào cho thấy Trung Quốc trong lịch sử đã thực hiện quyền kiểm soát độc quyền đối với các đảo và vùng biển của Biển Đông. Theo Phán quyết năm 2016 của Toà trọng tài vụ Philippines kiện Trung Quốc, thì cái gọi là “quyền lịch sử” dù có tồn tại từ trước của Trung Quốc đều bị thay thế bởi chúng không tương thích với UNCLOS 1982. Do đó, mọi yêu sách của Trung Quốc đối với Biển Đông và sự hiện diện quân sự của họ trong vùng biển tranh chấp là bất hợp pháp vi phạm trắng trợn những quy định của luật pháp quốc tế.

Ngoài ra, phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài cũng khẳng định rằng Trung Quốc đã vi phạm quyền của Philippines ở những vùng lãnh hải ở ngoài bờ biển của Philippines khi cản trở các hoạt động đánh bắt cá của ngư dân và hoạt động khai thác dầu khí của Manila. Điều này càng cho thấy việc Bắc Kinh đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông, trùm lên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Philippines là bất hợp pháp.

Hầu như mỗi năm khi Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông đều vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các quốc gia ven Biển Đông, đặc biệt là Philippines và Việt Nam, lần này cũng vậy. Phát biểu tại cuộc họp báo hôm 20/4, Phó người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định lại lập trường nhất quán của Hà Nội đối với lệnh cấm đánh bắt cá “trái phép” của Bắc Kinh đã được nhấn mạnh nhiều lần suốt những năm qua. Theo đó, lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế được xác lập theo UNCLOS 1982; Việt Nam yêu cầu Trung Quốc “tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của Việt Nam và không làm phức tạp thêm tình hình, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Cùng Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã có nhiều văn bản phản đối Trung Quốc, đồng thời động viên ngư dân bám biển, sản xuất bình thường trong vùng biển phù hợp với luật pháp quốc tế của Việt Nam. Ngày 21/4/2023, Hội Nghề cá Việt Nam kịch liệt phản đối Lệnh cấm đánh bắt cá sai trái, ngang ngược nói trên của phía Trung Quốc. Yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngày lệnh cấm đánh bắt cá phi lý này. Đồng thời, Hội Nghề cá Việt Nam đề nghị các cơ quan chức năng phản đối mạnh mẽ và có những biện pháp quyết liệt, ngăn chặn lệnh cấm đánh bắt cá phi lý nói trên của Trung Quốc, nhằm bảo vệ tài nguyên biển, nguồn lợi thủy sản đăng cho từng khu vực biển, bảo vệ an toàn cho ngư dân Việt Nam khi sản xuất trên vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.

Philippines thường lên tiếng phản đối muộn hơn so với Việt Nam, nhưng cũng rất quyết liệt. Trong các năm trước, Bộ Ngoại giao Philippines đều gửi công hàm phản đối lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines ở Biển Đông. Đáng chú ý là tháng 6/2022, Mỹ lên tiếng ủng hộ các nước ven Biển Đông phản đối lệnh đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price nêu rõ trên Twitter: “Lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc tại Biển Đông không phù hợp với phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016 và luật pháp quốc tế”.

Việc các nước không ngừng phản đối lệnh cấm đánh bắt cá làm cho lệnh này trở nên vô giá trị ở Biển Đông, khiến Bắc Kinh không thể thực hiện được mưu đồ dùng lệnh cấm đánh bắt cá để thúc đẩy các yêu sách về vùng biển ở Biển Đông. Tuy nhiên, với sự hung hăng ngày càng gia tăng, không loại trừ một số cơ quan chức năng của Trung Quốc sẽ lấy cớ truy đuổi, bắt bớ tàu thuyền ngư dân các nước ven Biển Đông. Ngư dân cần hết sức cảnh giác khi ra khơi đánh bắt, nên đi tập trung thành từng đoàn để có thể cùng ứng phó, vạch trần những hành vi hiều chiến của Trung Quốc ở Biển Đông.

]]>
Phải chẳng Philippines đang trên tuyến đầu chống TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2023/04/10/phai-chang-philippines-dang-tren-tuyen-dau-chong-tq-o-bien-dong/ Mon, 10 Apr 2023 02:57:00 +0000 https://biendong.net/?p=109907 Thời gian gần đây, một số ý kiến đặt câu hỏi phải chăng Philippines đang đứng trên tuyến đầu chống Trung Quốc ở Biển Đông dưới chính quyền của Tổng thống Ferdinand Marcos Jr., nhất là sau những diễn biến gần đây xung quanh quan hệ Philippines với Mỹ, Nhật, Úc và động thái Manila liên tiếp phản đối mạnh mẽ các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Chúng ta cùng đi tìm lời giải đáp xung quanh câu chuyện này.

Trên thực tế không phải là bây giờ Philipinnes mới đi đầu trong việc chống lại Trung Quốc ở Biển Đông. Manila đã từng đứng trên tuyến đầu chống Trung Quốc trên hồ sơ Biển Đông khi chính quyền của cố Tổng thống Benigno Aquino khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; nỗ lực theo đuổi vụ kiện 3 nẵm rưỡi bất chấp những áp lực và trừng phạt kinh tế của Bắc Kinh (Trung Quốc dừng nhiều hoạt động kinh tế với Philippines, không nhập nhiều mặt hàng nông sản từ Philippines). Lúc bấy giờ nhiều ý kiến lo ngại Philippines gặp phải những rủi ro khi đơn phương đứng ra khởi kiện, nhưng với sự kiên trì của chính quyền Manila và sự công tâm của Tòa Trọng tài, cuối cùng Philippines đã giành được thắng lợi gần như tuyệt đối trong phán quyết cuối cùng của Tòa Trọng tài vào năm 2016.

Giờ đây, nhìn lại vụ kiện của Philippines trên hồ sơ Biển Đông, giới chuyên gia đều cho rằng việc Philippines đi đầu trong sử dụng cơ chế pháp lý để đối đầu với Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng, mở ra tiến trình pháp lý để đấu tranh với Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó có cuộc chiến công hàm xung quanh vấn đề Biển Đông với sự tham gia của các nước trong và ngoài khu vực. Mặc dù Trung Quốc không thừa nhận và không thực thi, nhưng phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài đã trở thành một cơ sở pháp lý quan trọng để duy trì trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Sử dụng phán quyết trọng tài năm 2016 như một thứ vũ khí dự phòng, chính quyền của Tổng thống Rodrigo Duterte đã làm Bắc Kinh phải nhiều phen chạy theo mình khi phát biểu tại Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc khẳng định giá trị của Phán quyết, nêu vấn đề Phán quyết trong việc gặp gỡ với Lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc. Với chính sách “thân” Bắc Kinh, ông Duterte đã tạm gác lại phán quyết năm 2016 nhằm đổi lấy sự hỗ trợ về kinh tế từ Trung Quốc, song cuối cùng ông Duterte đã thất bại, không những không đạt được mục tiêu đề ra trong hợp tác kinh tế với Bắc Kinh mà vẫn tiếp tục bị Bắc Kinh xâm lấn, cưỡng bức ở Biển Đông.

Tuy nhiên, cựu Tổng thống Rodrigo Duterte có phần làm giảm nhẹ liên minh Philippines-Mỹ và tìm kiếm mối quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc khiến nhiều người cho rằng Philippines đã giảm việc đối đầu với Trung Quốc. Tân Tổng thống Ferdinand Marcos Jr mặc dù mới lên nắm quyền, thực hiện một cách tiếp cận cân bằng hơn khi khẳng định Manila là “bạn của tất cả, không phải là kẻ thù”. Với phương châm đó, bên cạnh việc tiếp tục coi trọng quan hệ với Bắc Kinh (qua chuyến thăm tới Trung Quốc tháng 1/2023) chính quyền của ông Marcos cũng đã mở rộng quan hệ quốc phòng với Washington, mới đây nhất là thông báo về vị trí của 4 căn cứ quân sự bổ sung sẽ được sử dụng bởi quân đội Mỹ.

Sau những động thái của Philippines củng cố quan hệ đồng minh Philippines và nỗ lực thúc đẩy quan hệ quốc phòng với Nhật Bản, Úc thời gian gần đây, giới quan sát nhận định chính quyền của Tổng thống Marcos đã thực hiện một bước ngoặt ngoại giao và sự thay đổi trong chính sách của Manila là rõ ràng; nguyên nhân của sự thay đổi này là do sự hung hăng ngày càng gia tăng của Bắc Kinh ở Biển Đông. Ông Greg Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á có trụ sở tại Mỹ, nhận xét Manila đang cho rằng “về cơ bản, Philippines không thể làm gì để xoa dịu Trung Quốc”. Ông Poling cho rằng: “Nếu một chính phủ Philippines muốn bảo vệ các quyền của Philippines, thì cách duy nhất có thể là ngăn chặn và điều đó đồng nghĩa với việc tăng cường liên minh với người Mỹ”.

Chuyến thăm tới Bắc Kinh hồi tháng 1, nơi ông Marcos và Tập Cận Bình kêu gọi giải quyết tranh chấp hàng hải một cách “thân thiện”, đã không ngăn được tranh cãi nổ ra vài tuần sau đó khi Manila cáo buộc một tàu hải cảnh của Trung Quốc sử dụng đèn laser cấp độ quân sự chống lại một tàu tiếp tế của Philippines.

Kể từ khi nhậm chức tháng 7/2022, Tổng thống Marcos đã tiếp đón một số quan chức hàng đầu của Mỹ, trong đó có Phó Tổng thống Kamala Harris. Tại các cuộc gặp, họ đã nhấn mạnh cam kết “cứng rắn” và “không lay chuyển” của Mỹ trong việc bảo vệ Philippines theo hiệp ước phòng thủ chung đã tồn tại hơn 5 thập kỷ giữa hai nước. Ông Jay Batongbacal, Giám đốc Viện Các vấn đề Hàng hải và Luật Biển của Đại học Philippines, nhận xét: “Có một cảm giác lạc quan rằng chính phủ Philippines… hiện đang làm điều đúng đắn. Bắc Kinh có thể cố gắng trừng phạt Philippines, nhưng sự thật là quan hệ kinh tế của Philippines với Mỹ, Nhật Bản và các đối tác truyền thống khác vẫn vượt xa Trung Quốc”.

Tháng 2 năm nay, Manila và Washington đã đạt được sự nhất trí cho phép các lực lượng Mỹ tiếp cận thêm nhiều căn cứ quân sự của Philippines với việc mở rộng Thỏa thuận Tăng cường Hợp tác Quốc phòng, hay EDCA. EDCA đã được ký kết vào năm 2014 dưới thời người tiền nhiệm của ông Duterte, cố Tổng thống Benigno Aquino, và cho phép các lực lượng Mỹ luân chuyển qua 5 căn cứ và sử dụng chúng để cất giữ các thiết bị và vật tư quốc phòng. Tuy nhiên, dưới thời của ông Duterte thỏa thuận này đã bị đình trệ, thậm chí bị đe dọa hủy bỏ.

Lên nắm quyền, ông Marcos tìm cách đẩy nhanh việc thực hiện thỏa thuận này, thậm chí đã đồng ý cho lực lượng Mỹ hiện diện nhiều hơn ở nước này trước sự thất vọng của Trung Quốc. Và ngày 03/4 vừa qua, chính quyền của ông Marcos đã công bố cụ thể 4 địa điểm mới mà quân đội Mỹ có thể tiếp cận, trong đó có 3 căn cứ nằm ở cực Bắc đảo chính Luzon của Philippines (gồm căn cứ Hải quân Camilo Osias ở Santa Ana, tỉnh Cagayan; Sân bay Lal-lo ở Cagayan; và Trại Melchor Dela Cruz ở Gamu, tỉnh Isabela), sát với Đài Loan và 1 căn cứ trên Đảo Balabac ở phía Tây Nam tỉnh Palawan giáp với Biển Đông.

Hôm 11/4, Bộ trưởng Quốc phòng Philippiné Carlito Galvez và Ngoại trưởng Enrique Manalo đã tới Washington cùng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd J. Austin, Ngoại trưởng Antony Blinken tiến hành Đối thoại 2+2 lần thứ 3 sau 7 năm bị trì hoãn.  Thông cáo chung Mỹ-Philippines được đưa ra sau cuộc đối thoại đã chỉ đích danh các “mưu đồ gần đây” Trung Quốc nhằm cản trở các hoạt động hợp pháp của Philippines tại và xung quanh khu vực Bãi Cỏ Mây, cũng như việc các tàu dân quân biển Trung Quốc liên tục tập trung ở một số nơi trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines.

Mỹ-Philippines kêu gọi Trung Quốc “tuân thủ đầy đủ Phán quyết của Tòa trọng Tài thường trực năm 2016 về Biển Đông”. Hai đồng minh nhấn mạnh phán quyết năm 2016 dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, có giá trị cuối cùng và ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên, đồng thời xác nhận quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines đối với EEZ và thềm lục địa của nước này.

Thông cáo báo chí của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết hai bên tái khẳng định các cam kết liên minh vững chắc theo Hiệp ước phòng thủ chung (MDT) năm 1951, để tự vệ “chống lại mọi cuộc tấn công vũ trang tại Thái Bình Dương, bao gồm cả Biển Đông”. Bộ trưởng Quốc phòng hai nước cũng đã thảo luận về kế hoạch nhanh chóng đưa vào hoạt động 4 căn cứ mới mà Philippines vừa mở cửa cho Mỹ theo Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA). Cùng với Biển Đông, việc“duy trì hòa bình và ổn định tại Eo biển Đài Loan” được hai bên khẳng định “như một yếu tố không thể thiếu đối với thịnh vượng và an ninh toàn cầu”.

Cùng ngày với cuộc Đối thoại 2+2, hôm 11/4 Mỹ và Philippines đã khởi động cuộc tập trận lớn nhất từ trước đến nay kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh dưới tên gọi “Balikatan 2023” ngoài khơi phía Bắc đảo Luzon và ở Biển Đông. Cuộc tập trận  kéo dài đến ngày 28/4, với sự tham gia của 17.000 quân từ nhiều quốc gia đồng minh. Trong đó có 12.200 quân nhân Mỹ, 5.400 quân nhân Philippines và 111 binh sĩ Australia. Theo nguồn tin quân sự, cuộc tập trận bao gồm một cuộc diễn tập bắn đạn thật để bắn phá và đánh chìm một con tàu đã bị loại biên ở Biển Đông. Các tàu chiến, máy bay chiến đấu của Mỹ cũng như tên lửa Patriot, bệ phóng tên lửa HIMARS và tên lửa chống tăng Javelin được phô diễn trong cuộc tập trận. Trong thời gian cuộc tập trận, Mỹ và Philippines tién hành diễn tập một cuộc đổ bộ lên đảo Palawan ở phía Tây đối diện với Biển Đông. Đây cũng sẽ là lần đầu tiên các tàu khu trục của hải quân Philippines và Mỹ khai hỏa vũ khí về phía Biển Đông từ vùng biển ngoài khơi tỉnh Zambales, phía Bắc Manila.

Với những diễn biến dồn dập trong quan hệ Mỹ-Philippines thời gian gần đây, giới quan sát cho rằng Philippines đang đứng trên tuyến đầu chống Trung Quốc không chỉ ở Biển Đông mà cả ở eo biển Đài Loan. Lý giải cho điều này, các nhà phân tích nhận định: một là, tham vọng thống trị, độc chiếm Biển Đông và sự hung hăng ngày càng gia tăng của Trung Quốc đã đẩy Philippines xích lại gần Mỹ. Trong bối cảnh sức ép trên Biển Đông không ngừng gia tăng, Manila tin rằng mối quan hệ đối tác mạnh mẽ với Washington có thể giúp nước này ngăn chặn Trung Quốc chà đạp lên các quyền của Manila ở Biển Đông; hai là, kể từ tháng 8 năm ngoái, Bắc Kinh liên tiếp cho máy bay, tàu chiến áp sát, uy hiếp Đài Loan khiến tình hình eo biển Đài Loan leo thang căng thẳng. Việc Philippines có vị trí gần Đài Loan có khả năng khiến nước này trở thành một “nạn nhân” trong trường hợp Trung Quốc phát động một cuộc tấn công quân sự xâm chiếm Đài Loan.

Những động thái mới trong quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines khiến Trung Quốc phản ứng dữ dội, họ cáo buộc Mỹ “gây nguy hiểm cho hòa bình và ổn định khu vực”. ngoài khơi phía Bắc đảo Luzon và ở Biển Đông. Ngày 12/4, Trung Quốc cảnh báo một liên minh an ninh ngày càng sâu rộng giữa Mỹ và Philippines không được làm tổn hại đến an ninh và lợi ích lãnh thổ của bất cứ nước nào, cũng như không can thiệp vào các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. 

Tại cuộc họp báo thường kỳ hôm 12/4, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân nhấn mạnh Trung Quốc hết sức quan ngại và phản đối mạnh mẽ tuyên bố chung Mỹ-Philippines liên quan Biển Đông. Lưu ý rằng Trung Quốc “có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận”, ông Uông Văn Bân cho rằng tuyên bố chung Mỹ-Philippines “xuyên tạc và làm mất uy tín các hoạt động hợp pháp cũng như việc thực thi pháp luật trên biển hợp pháp của phía Trung Quốc và thậm chí đưa ra những cáo buộc sai trái chống lại Trung Quốc, mà Bắc Kinh cực lực phản đối”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn ngang ngược nói cái gọi là “phán quyết trọng tài về Biển Đông” vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS. Phán quyết này là bất hợp pháp, vô hiệu và quan điểm của Trung Quốc về việc không chấp nhận hoặc công nhận phán quyết này là rõ ràng và kiên quyết. Ông Uông Văn Bân lên án việc Mỹ và Philippines khẳng định trong tuyên bố chung rằng họ sẽ “hỗ trợ vận hành nhanh chóng 4 địa điểm mới”; cho rằng ý đồ đằng sau những địa điểm đó rõ ràng là nhằm vào Trung Quốc.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn lên giọng “dạy dỗ” rằng: “Chúng tôi muốn một lần nữa nhắc nhở các quốc gia liên quan trong khu vực rằng việc ‘chiều chuộng’ các thế lực bên ngoài khu vực sẽ không mang lại an ninh tốt hơn mà ngược lại sẽ gây ra căng thẳng, đặt hòa bình và ổn định khu vực vào nguy cơ rủi ro và cuối cùng là phản tác dụng” Giới phân tích cho rằng phản ứng mạnh mẽ này của Bắc Kinh cho thấy rõ Philippines đang ở tiền tuyến đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông và eo biển Đài Loan.

Mỹ có một lịch sử phức tạp với thuộc địa cũ của mình là Philippines, và sự hiện diện quân sự của họ ở quần đảo này vẫn là một vấn đề nhạy cảm. Trước đây, Mỹ có 2 căn cứ quân sự lớn trên đảo chính Luzon, nhưng chúng đã bị đóng cửa vào đầu những năm 1990 sau nhiều năm bị phản đối và không phải ai cũng ủng hộ việc cho quân đội Mỹ tiếp cận các căn cứ của Philippines. Việc Philippines thắt chặt quan hệ quân sự với Mỹ lần này gặp phải những phản ứng trái chiều từ ngay nội bộ Philippines.

Ủng hộ việc làm của chính quyền Tổng thống Marcos, ông Rommel Jude Ong, cựu Phó Tư lệnh Hải quân Philippines, nói: “Tôi  nghĩ thông điệp mà chúng tôi muốn truyền tải là Eo biển Luzon và các tỉnh phía Bắc là của chúng tôi, và chúng tôi có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ các khu vực chiến lược này, để tự phòng vệ trước những tham vọng hàng hải của Trung Quốc”.

Trong khi đó, nhà hoạt động Liza Maza, 65 tuổi, người đã vận động chống lại các căn cứ của Mỹ hơn 30 năm trước, cho biết: “Mỹ đang kéo chúng tôi vào cuộc chiến với Trung Quốc”. Manuel Mamba, Thống đốc Cagayan, một tỉnh của Philippines nằm ngay ở phía Nam Đài Loan, đã phản đối việc tổ chức các căn cứ theo EDCA trong tỉnh của mình vì sợ gây nguy hiểm cho đầu tư của Trung Quốc và trở thành mục tiêu tấn công của Bắc Kinh. Về phần mình, Tổng thống Marcos dường như đã nhận thức rõ ràng cần phải khôi phục quan hệ quốc phòng truyền thống với Washington làm chỗ dựa để chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh và coi sự can dự không thể tránh khỏi của đất nước mình trong trường hợp xảy ra chiến tranh ở Đài Loan. Ngay từ hồi tháng 2 ông Marcos nói với tờ báo Nhật Bản Nikkei Asia: “Thật khó để tưởng tượng một kịch bản mà bằng cách nào đó Philippines có thể không can dự. Chúng tôi cảm thấy rằng chúng tôi rõ ràng đang ở tiền tuyến”. Phát biểu của người đứng đầu Philippines là minh chứng cho nhận định của giới chuyên gia “Philippines đang ở trên tiền tuyến”.

]]>
Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN mở ra cơ hội bỏ phiếu phê chuẩn UNCLOS https://biendong.net/2022/05/05/hoi-nghi-thuong-dinh-my-asean-mo-ra-co-hoi-bo-phieu-phe-chuan-unclos/ Thu, 05 May 2022 03:58:49 +0000 https://biendong.net/?p=79287 Dịp Tổng thống Joe Biden và Nhà Trắng chào đón các lãnh đạo Đông Nam Á vào ngày 12 tháng 5 để bắt đầu Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN kéo dài hai ngày, đáng chú ý cũng là thời điểm hai bên kỷ niệm 45 năm quan hệ, đồng thời là cơ hội để khẳng định Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Chính quyền Biden cũng như đề ra định hướng tương lai của quan hệ Mỹ – ASEAN.

Nếu một trong những mục tiêu của các nước ASEAN (Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) trong việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh lần này là đảm bảo sự tham gia vào liên kết “hòa bình kiểu Mỹ” Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hoặc “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” để kiềm chế sức mạnh gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, thì còn thời điểm nào tốt hơn để Mỹ tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN diễn ra vào ngày 12/5 tới đây

Nếu một trong những mục tiêu của các nước ASEAN (Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) trong việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh lần này là đảm bảo sự tham gia vào liên kết “hòa bình kiểu Mỹ” Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hoặc “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” để kiềm chế sức mạnh gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, thì còn thời điểm nào tốt hơn để Mỹ tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Trong bối cảnh Washington đang điều chỉnh lại chính sách đối ngoại với NATO nhằm đối phó với xung đột Nga – Ukraine, Chính quyền và các lợi ích của Quốc hội Mỹ cũng có thể đạt được lợi ích bằng cách bỏ phiếu phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), công cụ pháp lý được thừa nhận để xử lý các vấn đề liên quan đến chủ quyền, lãnh hải, các quyền và nghĩa vụ của một quốc gia có biển.

Trong lúc Hội nghị Thượng đỉnh lần này nhằm khẳng định vai trò của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, qua đó củng cố cam kết tuân thủ luật pháp quốc tế, việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển sẽ thuyết phục các thành viên ASEAN rằng Mỹ không còn chỉ đưa ra những lời hứa suông và hùng biện địa chính trị.

Những hoạt động gây hấn và quân sự hóa các tiền đồn ở Biển Đông của Trung Quốc không chỉ làm nổi bật sự cần thiết của việc Thượng viện Mỹ phê chuẩn UNCLOS. Hai tháng trước, Hạ viện Mỹ đã thông qua Đạo luật Cạnh tranh Mỹ năm 2022 nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh kinh tế của Mỹ với Trung Quốc. Dự luật bao gồm một điều khoản sửa đổi trong phần “Đánh giá của Quốc hội”, trong đó quy định rằng việc chính thức phê chuẩn UNCLOS là tốt nhất cho lợi ích quốc gia.

Hiệp ước Luật Biển trước đây được gọi là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ ba được thông qua vào năm 1982. Một trăm sáu mươi hai quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc và Nga, là các bên ký kết hiệp ước quản lý các đại dương trên thế giới. Mỹ thì không.
Ngay cả khi nhận được sự nhất trí trước đó của các Tổng thống Mỹ như Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama, dự luật cũng không thể được thúc đẩy thông qua.

Thật không may, một số nhà quan sát chính sách của Washington không cho rằng nghị quyết gần đây của Hạ viện Mỹ sẽ tác động đáng kể đến việc thông qua UNCLOS.

Theo Gregory Poling, thành viên cấp cao về Đông Nam Á và Giám đốc Tổ chức Minh bạch Hàng hải Châu Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington, DC, “Chính quyền Biden tỏ ra không quan tâm đến việc xem xét lại Công ước, và ngay cả khi họ làm vậy, việc tham gia UNCLOS cũng sẽ thất bại. Lần cuối cùng Mỹ cố gắng xem xét Công ước là vào năm 2012 khi John Kerry giữ chức Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và đảng Dân chủ chiếm đa số 53 ghế.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người ủng hộ lập luận rằng thỏa thuận này sẽ giúp Mỹ có thêm công cụ trong việc gây áp lực buộc các quốc gia khác phải làm điều tương tự. Hải quân và Cảnh sát biển Mỹ đã phần lớn tuân theo các quy tắc hàng hải mà Công ước đề ra.

Đã đến lúc gạt chính trị đảng phái sang một bên và tập trung vào lợi ích quốc gia. Trong khi Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ tiếp tục củng cố quyền tự do trong các điểm nóng ở Biển Đông, Công ước chính thức xác định giới hạn lãnh hải của một quốc gia, thiết lập các quy tắc rõ ràng cho việc đi lại qua “eo biển quốc tế” và “vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)”.

Với việc phê chuẩn UNCLOS, Mỹ sẽ có tư cách pháp lý để đưa bất kỳ khiếu nại nào lên cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế và do đó tránh được sự đối đầu có thể xảy ra với lực lượng hải quân và tàu đánh cá bán quân sự của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.

Các nước ASEAN có tranh chấp với Trung Quốc ngày càng quan ngại, lên tiếng mạnh mẽ hơn trước các động thái gây hấn của Trung Quốc. Trong số đó, Việt Nam, Chủ tịch ASEAN 2020 và đối tác toàn diện của Mỹ, là một trong những nước chỉ trích mạnh mẽ nhất các hành động quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông, sớm ủng hộ UNCLOS như một công cụ quan trọng để duy trì hòa bình, an ninh, tự do hàng hải và hàng không tại vùng biển “điểm nóng”.

Philippines, đồng minh chiến lược của Mỹ và Malaysia, đối tác quan trọng của Mỹ trong ASEAN, cũng có nhiều động thái cứng rắn để bảo vệ chủ quyền trước sự bắt nạt của Trung Quốc. Philippines, Malaysia và Việt Nam ngày càng mất kiên nhẫn hơn khi chờ đợi Quốc hội Mỹ phê chuẩn tham gia UNCLOS nhằm giải quyết và quản lý hiệu quả các hành động gây hấn hiện nay của Trung Quốc, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ở vùng biển tranh chấp.
Ngày càng có sự đồng thuận giữa các lãnh đạo từ Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, các giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ, ngành dầu khí, các chuyên gia về chính sách đại dương và các nhóm môi trường để thông qua Công ước tại Thượng viện.

Mỹ sẽ tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)?

Hiện tại, Mỹ công nhận hầu hết các nội dung của UNCLOS như cơ sở của tập quán quốc tế, đây là yếu tố quan trọng hơn nhiều so với việc phê chuẩn và là một điều khiến Mỹ nhận được nhiều ý kiến chỉ trích từ Trung Quốc – nước đã tham gia Công ước. Đối với nhiều nhà lãnh đạo ASEAN, việc Mỹ không tham gia Công ước sẽ làm suy yếu các cam kết của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Các hoạt động của Mỹ như tự do hàng hải, chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUFF) sẽ bị suy yếu nếu Mỹ không tham gia UNCLOS.

Chính sách đối ngoại Mỹ nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa đa phương và bác bỏ chủ trương của TQ đàm phán song phương với các quốc gia Đông Nam Á trong xử lý vấn đề Biển Đông. Chắc chắn, Mỹ sẽ mất đi tính chính danh nếu không phê chuẩn được cơ chế toàn diện nhất để giải quyết các tranh chấp hàng hải đa phương.

Hơn nữa, Công ước cung cấp cơ chế thúc đẩy hợp tác với các quốc gia khác, bởi hầu hết tất cả các đồng minh, láng giềng và bạn bè của Mỹ đều là thành viên của Công ước. Câu thần chú chính trị rất rõ ràng và đơn giản: Mỹ yêu cầu quyền tự do tối đa cho cả tàu hải quân và tàu thương mại để di chuyển và hoạt động ngoài khơi bờ biển nước ngoài mà không bị can thiệp.

Với sự chấp thuận của Quốc hội, Mỹ có thể tự tin đảm bảo quyền tự do hàng hải và quyền tiếp cận toàn cầu cho tàu quân sự và thương mại, máy bay và cáp quang biển. Mỹ hiện khẳng định các quyền đối với tự do hàng hải thông qua luật pháp quốc tế, những điều có thể thay đổi và thông qua diễn giải ngoại giao.

Hiện tại, Mỹ công nhận hầu hết các nội dung của UNCLOS như cơ sở của tập quán quốc tế, đây là yếu tố quan trọng hơn nhiều so với việc phê chuẩn và là một điều khiến Mỹ nhận được nhiều ý kiến chỉ trích từ Trung Quốc – nước đã tham gia Công ước. Đối với nhiều nhà lãnh đạo ASEAN, việc Mỹ không tham gia Công ước sẽ làm suy yếu các cam kết của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Các hoạt động của Mỹ như tự do hàng hải, chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUFF) sẽ bị suy yếu nếu Mỹ không tham gia UNCLOS.

Chính sách đối ngoại Mỹ nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa đa phương và bác bỏ chủ trương của TQ đàm phán song phương với các quốc gia Đông Nam Á trong xử lý vấn đề Biển Đông. Chắc chắn, Mỹ sẽ mất đi tính chính danh nếu không phê chuẩn được cơ chế toàn diện nhất để giải quyết các tranh chấp hàng hải đa phương.

Hơn nữa, Công ước cung cấp cơ chế thúc đẩy hợp tác với các quốc gia khác, bởi hầu hết tất cả các đồng minh, láng giềng và bạn bè của Mỹ đều là thành viên của Công ước. Câu thần chú chính trị rất rõ ràng và đơn giản: Mỹ yêu cầu quyền tự do tối đa cho cả tàu hải quân và tàu thương mại để di chuyển và hoạt động ngoài khơi bờ biển nước ngoài mà không bị can thiệp.

Với sự chấp thuận của Quốc hội, Mỹ có thể tự tin đảm bảo quyền tự do hàng hải và quyền tiếp cận toàn cầu cho tàu quân sự và thương mại, máy bay và cáp quang biển. Mỹ hiện khẳng định các quyền đối với tự do hàng hải thông qua luật pháp quốc tế, những điều có thể thay đổi và thông qua diễn giải ngoại giao.

Việc phê chuẩn UNCLOS sẽ cho phép Mỹ lấy lại vị trí chiến lược đúng đắn của mình ở Thái Bình Dương và biến những lời hùng biện thành hành động.

Giống như cái cách mà thế giới theo dõi, chờ đợi xem hành động và lời nói của Mỹ như thế nào để giúp Ukraine, thì Mỹ cũng cần đưa ra quyết định táo bạo khi phê chuẩn UNCLOS để thể hiện cam kết làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với các nước Đông Nam Á.

Việc phê chuẩn UNCLOS sẽ cho phép Mỹ lấy lại vị trí chiến lược đúng đắn của mình ở Thái Bình Dương và biến những lời hùng biện thành hành động.

Giống như cái cách mà thế giới theo dõi, chờ đợi xem hành động và lời nói của Mỹ như thế nào để giúp Ukraine, thì Mỹ cũng cần đưa ra quyết định táo bạo khi phê chuẩn UNCLOS để thể hiện cam kết làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với các nước Đông Nam Á.

]]>
Chính sách “Zero Covid” khiến nhiều địa phương ở TQ ” lâm nguy” https://biendong.net/2022/03/22/chinh-sach-zero-covid-khien-nhieu-dia-phuong-o-tq-lam-nguy/ Tue, 22 Mar 2022 01:49:58 +0000 https://biendong.net/?p=76770 Truyền thông Hồng Kông chỉ ra rằng các nhà chức trách nhấn mạnh vào “zero covid” để ngăn chặn dịch bệnh, nhưng do chi phí cao của các biện pháp như sàng lọc tổng thể (xét nghiệm axit nucleic toàn diện), nhiều chính quyền địa phương đang phải đối mặt với áp lực tài chính, và các khu vực nghèo đói đang đơn giản là bất lực.

Tờ “Bưu điện Hoa nam Buổi sáng” của Hồng Kông ngày 19 đưa tin chính quyền Bắc Kinh kiên quyết áp dụng các biện pháp như đóng cửa nghiêm ngặt, sàng lọc chung và cô lập bắt buộc, khiến các khoản chi liên quan tiếp tục tăng. Vào năm 2020, Chính phủ Trung ương Trung Quốc đã từng trợ cấp cho các chính quyền địa phương chi phí chống dịch, nhưng các khoản tài trợ liên quan đã bị ngừng kể từ năm 2021.

Lấy thành phố Tô Châu làm ví dụ. Thành phố này báo cáo vào tháng trước rằng kể từ ngày 13 tháng 2, 120 triệu nhân dân tệ đã được chi cho các nỗ lực chống dịch, hầu hết được sử dụng để bổ sung thiết bị bảo hộ, xét nghiệm axit nucleic và chăm sóc y tế.

Báo cáo cho biết chi phí xét nghiệm axit nucleic ở Trung Quốc dao động từ 24 đến 48 nhân dân tệ tương đương từ 86.000 đến 172.000 đồng, nhiều chính quyền địa phương không đủ khả năng chi trả với dân số hơn một triệu người và chi phí y tế hàng năm không quá 200 nhân dân tệ hay 718.000 đồng cho mỗi người. Ở tỉnh Ninh Hạ nghèo khó, Ngân Xuyên, thủ phủ của nó, chi tiêu dưới 30 nhân dân tệ tương đương 107.000 đồng mỗi người một năm để chăm sóc y tế.

Hiện tại, nguồn thu từ đất đai của các chính quyền địa phương khác nhau đã bị thu hẹp đáng kể do thị trường bất động sản chững lại và các khoản nợ địa phương đang tăng cao. Trung Quốc đang thắt chặt kiểm soát đối với nợ của chính quyền địa phương để ngăn chặn sự sụp đổ tài chính.

Moody’s đã chỉ ra vào ngày 16 rằng nếu dịch bệnh tiếp tục lây lan, sẽ có thêm nhiều yếu tố bất lợi cho nền kinh tế Trung Quốc trong quý 1. Nếu chính sách đóng cửa của ĐCSTQ tiếp tục, nỗi đau kinh tế sẽ tiếp tục.

]]>