Nghiên cứu Việt Nam – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 15 Nov 2024 03:40:54 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 “Giấc mộng Trung Hoa” và tham vọng “độc chiếm” Biển Đông của TQ             https://biendong.net/2024/10/15/giac-mong-trung-hoa-va-tham-vong-doc-chiem-bien-dong-cua-tq/ Tue, 15 Oct 2024 01:35:00 +0000 https://biendong.net/?p=140169 Ngày 16/10/2022, phát biểu tại phiên khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố rất rõ ràng về mục tiêu của đất nước này là vươn lên vị trí số 1 thế giới vào năm 2049, trở thành cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại mang đặc sắc Trung Quốc, hoàn thành “Giấc mộng Trung Hoa” mà mấy thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từ Tôn Trung Sơn đến Mao Trạch Đông, Tập Cận Bình… ôm ấp.

Và để “giấc mộng” trên thành hiện thực, “độc chiếm” Biển Đông lại là lựa chọn chiến lược để Bắc Kinh xây dựng cường quốc biển, một trong những thành tố chủ chốt để trở thành cường quốc toàn diện. Bởi vậy, “Giấc mộng Trung Hoa” và “độc chiếm” Biển Đông đang thôi thúc Bắc Kinh bất chấp mọi nguyên tắc pháp lý và đạo lý trong quan hệ quốc tế để thực hiện bằng được tham vọng của mình. Hãy xem “Giấc mộng” của họ là gì và cách thức tiến hành “độc chiếm” của Trung Quốc ra sao.

“Giấc mộng Trung Hoa” thực chất là tư tưởng Đại Hán, phục hồi tư cách “đệ nhất thiên hạ” trước đây dưới dạng thức mới

Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Trung Hoa có lịch sử rất rất huy hoàng, nhiều giai đoạn đã vươn lên đứng đầu thế giới với nhiều thành tựu rực rỡ, đến mức các triều đại phong kiến Trung Quốc đã cho mình là trung tâm của thế giới, là “Thiên triều”, “Đệ nhất thiên hạ”, còn các nước khác, nhất là những nước nhỏ, láng giềng xung quanh chỉ là man di, mọi rợ, là “tiểu đệ” của Trung Quốc, phải thần phục và có nghĩa vụ phục tùng, cống nạp cho “Thiên triều”. Đây chính là nguồn gốc của tư tưởng dân tộc Đại Hán, ăn sâu bám rễ vào nhận thức của các thế hệ lãnh đạo và người dân Trung Quốc.

Thế nhưng, thời kỳ lịch sử huy hoàng đó đã phải tạm khép lại khi đất nước Trung Quốc bị các thế lực thực dân phương Tây xâm chiếm, trở thành “miếng bánh ngon” cho các nước đế quốc xâu xé. Người Trung Quốc coi những khoảng thời gian đó là những năm tháng đất nước bị sỉ nhục, đè nén và cũng từ đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vốn mang nặng tư tưởng chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, đã lấy đó làm “ngọn cờ” để tập hợp các phong trào của dân chúng nhằm chống lại sự xâm lăng và ảnh hưởng từ bên ngoài. Thậm chí cho đến ngày nay, tư tưởng đó luôn xuất hiện trong các quyết sách lớn của Trung Quốc, nổi bật nhất là tham vọng “Giấc mộng Trung Hoa”.

Sau khi Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949, trải qua nhiều biến cố, năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã phát động công cuộc hiện đại hóa đất nước, đưa Trung Quốc từng bước phát triển mạnh mẽ. Đến lúc này, khi Trung Quốc đã tích lũy được tiềm lực lớn về kinh tế cũng như quân sự, cộng thêm có một nền văn hóa lâu đời với đặc trưng như đã nêu trên, một xã hội đã có kết cấu tương đối ổn định, thì rất nhiều người Trung Quốc, nhất là giới lãnh đạo, đã mơ chung một giấc mơ, đó là đưa dân tộc Trung Hoa trở lại thời kỳ huy hoàng mà ông cha họ đã từng có trước đây.

Từ sau Đại hội 18 đến nay, ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã đưa “Giấc mộng Trung Hoa” trở thành chiến lược, quốc sách cụ thể, thổi vào trong đó quyết tâm chính trị lớn của cả giới lãnh đạo cũng như của dân tộc Trung Hoa. Theo đó, “Giấc mộng Trung Hoa” có 4 mục tiêu và cũng là 4 nội dung chính: 1/ Xây dựng một nước Trung Quốc hùng mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao và khoa học công nghệ; 2/ Có nền văn minh cao, bao gồm các khái niệm tự do, bình đẳng, công bằng, giàu về văn hóa và cao về đạo đức; 3/ Phát triển hài hòa, bao gồm hài hòa giữa các vùng miền, giữa các giai cấp và giữa các dân tộc; 4/ Đất nước sạch đẹp, ít ô nhiễm về môi trường. “Giấc mộng” trên kêu gọi mọi người đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, con đường duy nhất có khả năng thực hiện “giấc mơ tột cùng” của đất nước Trung Hoa thời hiện đại.

“Giấc mộng Trung Hoa” đã được Trung Quốc triển khai thực hiện bằng nhiều kế hoạch chiến lược trung hạn và dài hạn khác nhau, gắn với việc nhằm đạt được hai mục tiêu 100 năm (Song Bách) đầy tham vọng. Đó là, xây dựng Trung Quốc trở thành xã hội khá giả toàn diện vào năm 2021, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hiện đại hóa Trung Quốc vào năm 2049, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đưa Trung Quốc trở thành nước phát triển toàn diện và đầy đủ. Mục tiêu thứ nhất, Trung Quốc đã tuyên bố hoàn thành; mục tiêu thứ hai, hạn thời gian còn 25 năm nữa.

Không biết tới hạn thời gian đó, “Giấc mộng Trung Hoa” có thành công không để biết Trung Hoa có trở lại làm “Thiên triều” hay không, nhưng ngay từ bây giờ, tư tưởng Đại Hán đã bộc lộ trong tham vọng của Bắc Kinh đối với Biển Đông. Một vùng biển thuộc Đông Nam Á cách không xa Trung Quốc.

Biển Đông là một trong những lựa chọn chiến lược của Trung Quốc để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”

Trong bước đi hoạch định các kế hoạch chiến lược trung hạn và dài hạn nhằm hiện thực hóa “giấc mộng” trên, giới lãnh đạo Bắc Kinh luôn cho rằng phải “thu hồi” Biển Đông, đưa vùng biển này “trở về chủ quyền” của họ thì may ra mới “có cửa” phấn đấu thành “Đệ nhất thiên hạ” được. Bởi họ cho rằng:

Một là, với việc thế giới có tới 2/3 dân số sinh sống trên các khu vực địa lý ven biển, cùng với đó là hơn 80% hoạt động quá cảnh toàn cầu liên quan đến biển, đại dương, nên biển, đại dương ngày càng trở thành yếu tố sống còn của các quốc gia, đóng vai trò thiết yếu trong quá trình toàn cầu hóa. Các vùng biển và đại dương rất giàu hydrocarbon, khoáng sản và các nguồn lợi thủy sản khác cần thiết cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia cũng như cả thế giới. Hơn thế, biển và đại dương còn có giá trị rất lớn đối với các hoạt động quốc phòng – quân sự của các nước, nhất là các nước lớn. Tất cả các cuộc chiến tranh nổ ra trên thế giới trong lịch sử, cũng như hiện tại đều có liên quan đến biển và xuất phát rất nhiều từ biển. Biển cả và đại dương đã và đang trở thành địa bàn chiến lược cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn. Trung Quốc không thể không dựa vào biển, đại dương.

Hai là, biển cả và đại dương có vai trò lớn như vậy, trong khi đó đất nước “Trung Hoa vĩ đại” lại ở vào thế “hãm địa”, không có đường phát triển. Trong bốn hướng địa lý tiếp giáp của nước này thì các hướng bắc và tây trông sang lục địa châu Á, bị các nước lớn như Nga, Ấn Độ án ngữ; hướng đông giáp biển Hoa Đông thì vớ ngay phải Nhật Bản và Đài Loan chặn đường, hết cửa; chỉ còn lại hướng nam là lối thoát thuận lợi nhất để Trung Quốc vươn ra thế giới, trở thành “cường quốc biển”, tiến tới trở thành “cường quốc thế giới”. Biển Đông vì thế được Trung Quốc xác định là “cửa ngõ” để đi ra ngoài.

Ba là, “cửa ngõ” này lại là cầu nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, có giá trị rất lớn về địa chính trị, kinh tế, quân sự đối với các nước trong và ngoài khu vực. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Biển Đông đã trở thành nơi bùng phát những yêu sách đối nghịch về chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo, đá và rạn san hô. Những yêu sách này chủ yếu đến từ các quốc gia trong khu vực, tiêu biểu là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Việt Nam và Đài Loan. Lợi dụng yếu tố này, nhiều nước lớn ngoài khu vực, nhất là Mỹ, đã đẩy mạnh can dự vào đây, làm cho vấn đề Biển Đông không còn là vấn đề của khu vực nữa, mà đã trở thành địa bàn chiến lược cạnh tranh giữa các nước lớn. Những hoạt động của Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông thời gian qua đã trở thành nhân tố chủ yếu nhất chi phối mức độ “nóng” hay “lạnh” về an ninh ở vùng biển này.

 Như vậy, nếu mở được “cánh cửa” Biển Đông, sẽ giúp Trung Quốc đạt được các lợi ích sau: Về kinh tế, sẽ đảm bảo cho sự tiếp tục các hoạt động đánh bắt thủy hải sản, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng rất phong phú ở đây để phục vụ cho sự tăng trưởng liên tục của Trung Quốc; đảm bảo an toàn cho các tuyến hàng hải, nhất là các tuyến đường thương mại hàng hóa Trung Quốc qua lại giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Nếu không có các tuyến đường thương mại này, Trung Quốc “chỉ là người khổng lồ chân đất sét”. Về an ninh, lợi ích về quốc phòng – an ninh bao giờ cũng gắn với lợi ích kinh tế, là công cụ để bảo vệ lợi ích kinh tế. Do đó, mở được “cánh cửa” Biển Đông, có nghĩa là Trung Quốc chiếm cứ được Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Vừa giành được chủ quyền, lại vừa để: 1/ Ngăn chặn tự do đi lại trên biển của các chiến hạm nước ngoài, nhất là của các đối thủ, ngoài giới hạn 12 hải lý từ đường cơ sở. Nhờ đó, Trung Quốc có thể đẩy mối đe dọa an ninh từ biển ra xa bờ biển, các tàu chiến, tàu do thám của Mỹ và nước khác chỉ có thể “ngưỡng vọng” bờ biển Trung Quốc mà thôi. 2/ “Mở lối” đi ra đại dương xanh cho Hải quân Trung Quốc trong điều kiện biển Hoa Đông bị Mỹ và đồng minh Nhật Bản kiểm soát, thêm Đài Loan được Mỹ hậu thuẫn, “ngáng đường” ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương của các hạm đội Trung Quốc. Chỉ có thông qua Biển Đông thì Trung Quốc mới ra được tới các đại dương xanh, lúc đó mới có thể đưa chiến hạm ngầm và nổi của mình “tung hoành” trên các đại dương hay áp sát Mỹ, Ấn Độ và các đối thủ tiềm tàng khác. Về văn hóa, lịch sử: Vốn mang trong mình dòng máu của tư tưởng dân tộc Đại Hán, cùng với đó là việc luôn cho rằng, Trung Quốc đã xác lập “chủ quyền” ở Biển Đông từ xa xưa trong lịch sử, nhưng “chủ quyền” đó cũng như các lợi ích liên quan khác đang bị xâm phạm, nên giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay coi việc chiếm cứ, làm chủ Biển Đông không chỉ để thực hiện tham vọng trên, mà còn là cách giúp họ lấy lại “thể diện” của quốc gia, dân tộc đã từng có trong lịch sử, tạo động lực chính trị, tinh thần to lớn cho toàn thể dân tộc trong việc thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”

Phương cách để Trung Quốc “độc chiếm” Biển Đông

Biển Đông rõ ràng là “lối thoát” thuận lợi nhất, cũng là “bàn đạp” để Trung Quốc vươn lên trở thành cường quốc thế giới.

Thế nhưng, Biển Đông không phải là “ao nhà” của Trung Quốc. Vì thế, để “mở cánh cửa” Biển Đông, Trung Quốc đã bất chấp tất cả, kể cả luật pháp quốc, trong đó có UNCLOS 1982, văn kiện pháp lý quan trọng bậc nhất thế giới về biển mà Trung Quốc đã ký kết. Bắc Kinh đã vận dụng phương châm “mèo vàng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” từ “Thuyết con Mèo” do Đặng Tiểu Bình đưa ra từ năm 1962 để “mở cửa” Biển Đông, vươn ra khống chế vùng biển này, thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”. Theo đó:

Thứ nhất, ra sức biện minh tư tưởng cho toàn dân thông qua phong trào “Phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” để tiến hành cuộc “thập tự chinh” nhằm lấy lại những gì Trung Quốc “đã có” và “đã mất” trong lịch sử, trong đó có vấn đề chủ quyền. Đây là trụ cột tư tưởng chính mà Bắc Kinh luôn theo đuổi để thống nhất đất nước. Nhưng sự “Phục hưng” này phải được hiểu là mang tính chu kỳ, nghĩa là “Hợp cửu tất phân, phân cửu tất hợp” – tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan. Lịch sử Trung Hoa được ghi dấu bằng một logic là cứ sau mỗi sự phân chia là đến sự thống nhất. Sau bao nhiêu năm “giấu mình chờ thời”, nay là lúc Trung Quốc có điều kiện và cần trỗi dậy để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”. Cách mà lãnh đạo Trung Quốc làm, nhất là từ khi Tập Cận Bình lên nắm quyền là, đưa ra những phát ngôn chính thức nhằm “nhắc nhở” người dân về những “sự tủi nhục, bị bức hại và đau khổ trong hàng chục năm bị nước ngoài chiếm đóng”, từ đó kêu gọi toàn dân cùng chung sức “rửa nhục”, phục hưng đất nước, thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”. Đỉnh cao của “Giấc mộng” là, Trung Quốc giữ vị trí trung tâm và trị vì trong tương lai đối với “tất cả những gì dưới gầm trời này”.

Có thể đưa ra đây một vài ví dụ về cách làm trên của Bắc Kinh. Tại mục 3, chương đầu tiên trong Luật Lãnh hải năm 1992 của Trung Quốc, đã khẳng định: “Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông phần lớn được cộng đồng quốc tế thừa nhận”. Hay như sau khi Tòa trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) ra phán quyết hủy bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông, Bắc Kinh đã hùng hồn tuyên bố: “Các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông đã có hơn 2.000 năm lịch sử. Chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông và các quyền lợi được hưởng trong khu vực này có một quá trình lịch sử và dựa trên những nền tảng vững chắc cả về mặt lịch sử lẫn pháp lý”. Thủ đoạn biện minh này cho thấy, giới lãnh đạo Bắc Kinh đã “nhồi sọ” cho người dân Trung Quốc hiểu rằng, Biển Đông xưa nay là của Trung Quốc. Từ đó, họ đã phớt lờ luật pháp quốc tế, tiến hành theo đuổi các hoạt động hăm dọa, quân sự hóa và tôn tạo trái phép nhiều thực thể, biến chúng thành các căn cứ quân sự nổi trên Biển Đông.

Thứ hai, lấy cái mà Trung Quốc gọi là “quyền lịch sử” để lập luận, biện hộ cho các yêu sách phi lý của mình ở Biển Đông. Họ dựa vào các văn bản dưới các triều đại phong kiến nhà Tống, nhà Thanh để nói rằng, Trung Quốc đã có sự “chiếm đóng” và “hiện diện” từ lâu ở Biển Đông. Thế nhưng, tất cả các tấm bản đồ cổ đó rất mơ hồ, chung chung, trong khi các hoạt động hàng hải của Trung Quốc diễn ra trong lịch sử trên vùng biển này đều ghi nhận, lãnh thổ xa nhất của Trung Quốc ở phía nam chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam. Hiện nay, “chứng cứ lịch sử” duy nhất mà Trung Quốc đang “bám vào” để khẳng định chủ quyền của mình ở Biển Đông lại là tấm bản đồ “đường chín khúc” chiếm hơn 80% diện tích vùng biển này. Năm 2009, họ đã trưng bản đồ này ra thế giới. Tuy nhiên, đây là tấm bản đồ không có bất cứ một tiêu chí nào phù hợp với luật pháp quốc tế. Chính giới nghiên cứu Trung Quốc cũng đã thừa nhận sự yếu kém về mặt pháp lý của cái gọi là chủ quyền theo “đường chín khúc”. Học giả Lý Lệnh Hoa, cựu thành viên Trung tâm Tin tức hải dương quốc gia Trung Quốc, đã kêu gọi Chính phủ Trung Quốc cần phải hủy bỏ “đường chín khúc”, bởi việc làm này sẽ khiến Trung Quốc trở nên “không thể chấp nhận được, vì không có nước nào chấp nhận cái đường vô lý” do Trung Quốc tự vẽ ra. Năm 2016, PCA đã ra phán quyết trong vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, trong đó khẳng định, các lập luận của Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông theo bản đồ “đường chín khúc” là không có cơ sở pháp lý. Bắc Kinh đã ngang ngược bác bỏ phán quyết của tòa quốc tế. Hành động này chẳng những trái với tư cách là thành viên của UNCLOS 1982, mà còn đi ngược với những tuyên bố mà Bắc Kinh từng đưa ra, rằng: “Trung Quốc bảo vệ vững chắc thẩm quyền và vị thế của Liên hợp quốc, hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ được giao… là người xây dựng hòa bình thế giới không biết mệt mỏi, góp phần vào phát triển toàn cầu và bảo đảm trật tự quốc tế”.

Thứ ba, đưa Biển Đông vào nhóm “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. “Lợi ích cốt lõi” là một khái niệm mà Bắc Kinh thường dùng để chỉ vấn đề chủ quyền quốc gia liên quan đến các “điểm nóng” như Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan mà tại đó Trung Quốc sẽ không “thỏa hiệp”, “có thể dùng vũ lực nếu cần thiết”. Trung Quốc xếp Biển Đông tương đương như các “điểm nóng” trên và nhiều lần công khai luận điểm này. Tháng 8/2011, Tân Hoa Xã Trung Quốc đăng bài khẳng định rằng, Trung Quốc có “3 triệu km2 lãnh hải” ở Biển Đông, thuộc “chủ quyền không thể tranh cãi” và là một phần trong “lợi ích cốt lõi”.  Cách làm trên chỉ nhằm thể hiện một ý đồ duy nhất: Bắc Kinh quyết tâm “độc chiếm” Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình.

Thứ tư, “luật hóa” chủ quyền nhằm đặt các đối thủ cạnh tranh trước “sự đã rồi” để giành vị trí thống trị ở Biển Đông. Đây là bước đi liên tục của lộ trình kiểm soát, làm chủ, tiến tới “độc chiếm” hoàn toàn Biển Đông. Năm 1996, ngay sau khi ký UNCLOS 1982, Trung Quốc lập tức thông qua Hiệp định phê chuẩn Công ước này, với điều khoản bảo lưu “các quyền lịch sử” thuộc về “dân tộc Trung Hoa” trước các quy định của UNCLOS. Họ đồng thời đưa “đường chín khúc” vào sách giáo khoa nhằm đẩy mạnh tuyên truyền “chủ quyền” ở Biển Đông. Năm 2012, bước “pháp lý hóa” chủ quyền leo thang lên một nấc mới, đó là ngày 21/6/2012, Quốc vụ Viện Trung Quốc công bố thành lập cái gọi là “Thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa, trực thuộc chính quyền trung ương, có quyền hạn “quản lý” đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đúng sáu tháng sau, Bắc Kinh đưa “đường chín khúc” vào mẫu hộ chiếu phổ thông điện tử – một hành động sai trái trong quan hệ quốc tế, bị nhiều nước phản đối.

Thứ năm, “xâm lấn” Biển Đông bằng các hoạt động kinh tế biển. Đây là hành động làm chủ từng bước, dựa trên luận điểm hoạt động kinh tế biển đến đâu thì chủ quyền xác lập đến đó. Cùng với việc đầu tư mạnh cho các lực lượng chấp pháp trên biển, như ngư chính, hải cảnh, hải giám…theo hướng tăng cường tiềm lực và hiện đại hóa tàu thuyền, hệ thống thông tin, Trung Quốc khuyến khích ngư dân khai thác tại những ngư trường xa thuộc các vùng chồng lấn, thậm chí là thuộc chủ quyền của các nước khác, thông qua ưu đãi về vốn, thiết bị định vị vệ tinh. Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh Hải Nam được sự đồng ý của trung ương, hàng năm đều đưa ra các lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông hết sức phi lý. Đặc biệt, Bắc Kinh rất chú trọng “đẩy” các tập đoàn dầu khí quốc gia “vươn vòi” ra Biển Đông. Ngày 23/6/2012, Tập đoàn dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) mời thầu quốc tế 9 lô đầu khí, tổng diện tích lên đến 160.129 km2, nằm sâu trong thềm lục địa của Việt Nam. Ngày 01/5/2014, CNOOC đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hành động này đã bị dư luận khu vực và quốc tế phản đối mạnh mẽ. Tháng 7/2019, họ lại đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông. Tháng 5/2023, tiếp tục đưa tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhiều nước khác ven Biển Đông cũng chung cảnh ngộ như Việt Nam.

Thứ sáu, phá vỡ nguyên trạng Biển Đông theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Đây là bước đi có tính hệ thống, nhằm “thu hồi chủ quyền” theo phương thức “tằm ăn dâu” thông qua chiến thuật “tạo sự đã rồi”. Thậm chí sử dụng cả thủ đoạn vũ lực. Năm 1956, Trung Quốc đánh chiếm một phần và đến năm 1974, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1988, họ một lần nữa đưa quân đánh chiếm đảo Gạc Ma trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo một kịch bản tương tự, tháng 2/1995, Trung Quốc đưa 7 tàu đến chiếm đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa và duy trì hiện diện từ đó đến nay. Đầu năm 2013, Bắc Kinh lại “gây rối” ở Trường Sa bằng việc “chiếm đóng thực tế” trái phép tại bãi cạn Scarborough mà Philippines tuyên bố chủ quyền. Tất cả những hành động trên đều nhằm “thay đổi nguyên trạng” có lợi cho Bắc Kinh.

Thứ bảy, tăng cường sức mạnh hải quân nhằm “răn đe quân sự”, tạo sức ép trong các yêu sách “chủ quyền” theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Dựa trên sức mạnh kinh tế vượt trội, Trung Quốc không ngừng tăng cường tiềm lực quân sự, nhất là sức mạnh hải quân, đặc biệt trên hướng Biển Đông. Đầu thế kỷ XXI, Bắc Kinh đã có sự “lật cánh” khi bố trí Hạm đội Nam Hải trở thành hạm đội mạnh nhất trên biển, thay thế Hạm đội Bắc Hải mạnh nhất trước đây. Hạm đội Nam Hải được trang bị các tàu chiến lớn, hiện đại, nhất là tàu ngầm, tàu khu trục. Cùng với đó, căn cứ hải quân Tam Á của Hạm đội này liên tục được mở rộng, đủ khả năng tiếp nhận các tàu ngầm hạt nhân, kể cả tàu sân bay.

Thứ tám, đưa ra các “sáng kiến”, chiến lược khác nhau để vừa thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” vừa che giấu những hành vi và việc làm sai trái ở Biển Đông. Trong bối cảnh thế giới “biến động chóng mặt” với nhiều nghịch cảnh, Bắc Kinh không ngừng đưa ra các chiến lược, “sáng kiến” với quy mô toàn cầu, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền ra thế giới rằng, sự “trỗi dậy” và vị thế ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc là “tích cực và hòa bình”, dựa trên sự hợp tác và hạnh phúc của các dân tộc trên thế giới. Theo họ, sáng kiến “Cộng đồng chung vận mệnh” là để xây dựng một cộng đồng các quốc gia có chung vận mệnh, cùng chia sẻ, cùng thắng; sáng kiến “An ninh toàn cầu” là hướng tới “sự gắn kết trong lĩnh vực an ninh, phục vụ sự nghiệp cao cả vì nền hòa bình và sự phát triển trên thế giới”; sáng kiến “Vành đai và con đường” là nhằm cùng nhau xây dựng một tương lai rạng ngời… Tuy nhiên, những gì họ nói lại khác rất xa với thực tế mà họ đã làm ở Biển Đông. Tất cả các hoạt động hướng đến yêu sách “đường chín khúc” trên Biển Đông của Trung Quốc đều là nguồn gốc của hầu hết những căng thẳng ở khu vực Đông Nam Á. Bản chất đằng sau những hoạt động này là nhằm thực hiện một đường lối sô vanh nước lớn, được ngụy trang dưới “Giấc mộng Trung Hoa”. Bắc Kinh “đeo mặt nạ” dưới các mỹ từ vô cùng đẹp đẽ, mệnh danh bởi các “sáng kiến”, chiến lược để che đậy những khiếm khuyết, những xấu xa của mình trước cộng đồng quốc tế, nhưng họ lại không biết rằng, những hệ lụy mà các “sáng kiến”, chiến lược trên để lại, cũng như các hoạt động hăm dọa, cưỡng ép với các nước nhỏ ven Biển Đông đã làm cho thế giới ngày càng nhìn thấy rõ hơn bộ mặt thật và bản chất nham hiểm của Trung Quốc. Như vậy, để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, Trung Quốc đang sử dụng nhiều biện pháp, hướng đi, trong đó Biển Đông là một hướng lựa chọn chiến lược. Các phương cách, thủ đoạn Bắc Kinh tiến hành ở Biển Đông chính là nhằm áp đặt về một “trật tự mới” do Trung Quốc nắm quyền thống trị. Từ “cuộc chiến pháp lý” đến chiến thuật “gặm nhấm” theo kiểu “sự đã rồi”, thông qua một nghệ thuật ngoại giao “đánh lừa thị giác”, kết hợp với sức mạnh của bộ máy thông tin tuyên truyền, xuyên tạc, có thể thấy phương cách hoạt động này của Trung Quốc ở Biển Đông đã giành được những kết quả và lợi thế đáng kể, phạm vi và khả năng kiểm soát toàn bộ vùng biển này của họ đang dần được mở rộng. Bắc Kinh sẽ không dừng lại mà sẽ tiếp tục leo thang hơn nữa trong những hành vi nhằm hiện thực hóa tham vọng “độc chiếm” Biển Đông. Vùng biển này vì thế sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường hơn trước tham vọng khôn cùng của Trung Quốc, cộng với đó là sự can dự của các nước lớn ngoài khu vực, đặc biệt là hoạt động của Mỹ và đồng minh.

                                                                               Hàn Lương

]]>
Đánh giá về sáng kiến an ninh toàn cầu của TQ và những hệ lụy đối với Biển Đông https://biendong.net/2024/06/24/danh-gia-ve-sang-kien-an-ninh-toan-cau-cua-tq-va-nhung-he-luy-doi-voi-bien-dong/ Mon, 24 Jun 2024 03:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=131220 Báo cáo Công tác Chính phủ thường niên của Trung Quốc tại kỳ họp Quốc hội đầu tháng 3 năm nay một lần nữa nhấn mạnh 3 sáng kiến then chốt là Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI), Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (GDI) và Sáng kiến Văn minh Toàn cầu (GCI) phản ánh tầm nhìn của Trung Quốc về một chương mới của quan hệ toàn cầu.

Trong đó, giới chuyên gia đặc biệt quan tâm tới  Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI) bởi nó thể hiện cách tiếp cận của Trung Quốc đối với các thách thức an ninh trong phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc và trên toàn cầu.

Nhìn sơ bộ Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI) của Trung Quốc là nhằm hướng tới một thế giới hòa bình và phát triển bền vững, song trên thực tế giới phân tích đang có những đánh giá khác nhau về mục tiêu thực sự của Bắc Kinh liên quan đến sáng kiến này bởi lời nói thường không đi đôi với việc làm của giới cầm quyền ở Bắc Kinh. Trong khi một số quốc gia hoan nghênh GSI như một công cụ tích cực giúp giảm xung đột và đối đầu thì một số khác hoài nghi về động cơ, tính toán chiến lược của Trung Quốc nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng khi thúc đẩy GSI. Chúng ta cùng đi nghiên cứu sâu hơn về Sáng kiến An ninh Toàn cầu của Trung Quốc để có sự đánh giá một cách thực tế hơn.

Sáng kiến An ninh toàn cầu (GSI) được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đưa ra tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, tỉnh Hải Nam hôm 21/4/2022 (được tổ chức dưới hình thức trực tuyến). Trong đó ông Tập đề cao “nguyên tắc an ninh không thể tách rời, xây dựng cấu trúc an ninh cân bằng, hiệu quả và bền vững, đồng thời phản đối một nước xây dựng an ninh quốc gia trên cơ sở gây mất an ninh cho các nước khác”. Đáng chú ý, ông Tập nhấn mạnh thế giới nên tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mọi quốc gia, đồng thời chú ý tới những quan ngại “chính đáng” về an ninh của tất cả các nước. Tuy nhiên, Chủ tịch Trung Quốc không đề cập chi tiết cách thức thực hiện sáng kiến an ninh này.

Giới phân tích chỉ ra rằng nguyên tắc “an ninh không thể tách rời” thường được hiểu là an ninh của một quốc gia không thể tách biệt với các nước khác trong khu vực. Khái niệm này từng được Tổng thống Nga Vladimir Putin viện dẫn khi phản đối NATO mở rộng về phía đông để phát động chiến dịch quân sự ở nước láng giềng Ukraine. Các nhà phân tích lưu ý đây là lần đầu Trung Quốc đề cập tới “an ninh không thể tách rời” bên ngoài bối cảnh cuộc khủng hoảng Nga – Ukraine, dường như nhằm ám chỉ các hoạt động của Mỹ tại châu Á.

Tiếp đó, vào tháng 7/2022, tại Jakarta, trong khuôn khổ chuyến công du một số nước Đông Nam Á, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã có bài phát biểu giới thiệu Sáng kiến An ninh toàn cầu (GSI). Ông Vương Nghị bày tỏ Bắc Kinh sẽ làm việc với các nước ASEAN để thực hiện hợp tác GSI trong các lĩnh vực ưu tiên như chống khủng bố, tìm kiếm và cứu nạn hàng hải chung, quản lý thiên tai và chống tội phạm xuyên quốc gia, qua đó nâng cao hợp tác an ninh giữa Trung Quốc-ASEAN. Kể từ khi Tập Cận Bình chính thức đưa ra sáng kiến này, đây là lần đầu tiên người đứng đầu ngành ngoại giao Trung Quốc đưa ra những giải thích về GSI với các nước Đông Nam Á. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang tìm cách tranh thủ ASEAN trong việc thúc đẩy sàng kiến này.

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra những sáng kiến mang tính bao trùm lên khu vực và toàn cầu. Ngay từ những năm 1990, Trung Quốc đã đưa ra Khái niệm An ninh mới nhằm thâm nhập có chọn lọc tại từng quốc gia Đông Nam Á. Dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã đưa ra sáng kiến “Vành đai, Con đường” nhằm mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc ra khắp các châu lục. Mối khi đưa ra các sáng kiến, các giới chức Bắc Kinh đều đưa ra những lời giải thích “mỹ miều” nhằm thể hiện cái gọi là “tinh thần hợp tác thiện chí” của Bắc Kinh. Tuy nhiên, trên thực tế không phải vậy, sáng kiến “Vành đai, Con đường” đã trở thành “bẫy nợ” đối với nhiều quốc gia, thậm chí đã đưa một số nước trở thành “thuộc địa kiểu mới” của Trung Quốc. Sáng kiến An ninh toàn cầu mà Tập Cận Bình đưa ra cũng có cùng mục tiêu là đưa Trung Quốc trở thành cường quốc số 1 thế giới. Do vậy, giới chuyên gia cho rằng Sáng kiến ​​An ninh Toàn cầu của Trung Quốc chính là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh toàn cầu, đồng thời cảnh báo rằng thế giới đừng tin vào những gì Trung Quốc nói mà hãy xem họ làm những gì.

Một là, Trung Quốc thường “nói một đằng làm một nẻo”. Trong một động thái hướng tới chủ nghĩa toàn cầu do Trung Quốc lãnh đạo, ông Tập nói rằng thế giới nên “chấp nhận một triết lý quản trị toàn cầu” và  các quốc gia phải “bảo vệ vững chắc hệ thống quốc tế với cốt lõi là Liên hợp quốc và trật tự quốc tế với nền tảng là luật pháp quốc tế”. Thế nhưng Bắc Kinh lại chính là kẻ vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế khi sử dụng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974; gây ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc Việt Nam năm 1979 và tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm 6 cấu trúc ở quần đảo Trường Sa năm 1988. Đặc biệt, thường xuyên uy hiếp đe dọa sử dụng vũ lực đánh chiếm Đài Loan.

Tập Cận Bình nói về việc ủng hộ Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế nhưng Bắc Kinh đã từ chối lên án cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine hoặc cuộc đảo chính ở Myanmar đã lật đổ người đạt giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi. Khi đề cập an ninh toàn cầu và cải cách “hệ thống quản trị an ninh của thế giới”, Nhà lãnh đạo Trung Quốc đã sử dụng cụm từ “toàn vẹn lãnh thổ”, song chính Bắc Kinh là kẻ không tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ với các nước láng giềng khi đã từng xâm lần, gây ra tranh chấp, xung đột với hầu hết các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc, thậm chí đã phát động chiến tranh xâm phạm lãnh thổ và vùng biển của các nước láng giềng.

Nói về tôn trọng luật pháp quốc tế và bảo vệ Liên hợp quốc, song chính Trung Quốc là kẻ phá hoại Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 khi xuyên tạc, bóp méo những nội dung của UNCLOS; không chấp nhận các cơ chế giải quyết tranh chấp của Liên hợp quốc; phản đối phán quyết năm 2016 về Biển Đông của Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS. Một số chuyên gia cho rằng xét cục diện ở Biển Đông thì Trung Quốc lại chính là kẻ phạm luật pháp quốc tế nhiều, thậm chí trà đạp lên luật pháp quốc tế.

Hai là, thông qua Sáng kiến này, Trung Quốc tham vọng thiết lập vai trò lãnh đạo toàn cầu của mình một cách toàn diện hơn. Điều này đã và đang thách thức cấu trúc an ninh toàn cầu do Mỹ và các đồng minh thiết lập từ nhiều năm nay. Giới phân tích nhận định trong tương lai, chính sách đối ngoại của Trung Quốc sẽ ngày càng được xác định rõ ràng hơn bằng sự khẳng định lợi ích của nước này và khám phá những con đường mới dẫn đến sức mạnh toàn cầu, vượt qua được các điểm nghẽn do phương Tây kiểm soát.

Trong khi không tiếc lời đổ lỗi cho Mỹ về hầu hết các tệ nạn trên thế giới, bao gồm cả những ‘thói xấu’ mà Trung Quốc mắc phải, Bắc Kinh không ngừng ca ngợi Sáng kiến An ninh toàn cầu của Tập. Trong bài phát biểu khai mạc tại Diễn đàn Bác Ngao và các tuyên bố sau đó được đăng tải trên truyền thông nhà nước Trung Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Quốc không ngượng ngùng ca ngợi về Sáng kiến ​​An ninh toàn cầu khi nói rằng “sáng kiến ​​này đóng góp trí tuệ của Trung Quốc để bù đắp cho thâm hụt hòa bình hiện nay”.

Vào hùa với những giọng điệu đó, truyền thông Trung Quốc còn lớn tiếng nói rằng “Trung Quốc sẽ không bao giờ tuyên bố quyền bá chủ, tìm kiếm sự bành trướng hoặc phạm vi ảnh hưởng, cũng như không tham gia vào một cuộc chạy đua vũ trang”. Thế nhưng trên thực tế Bắc Kinh liên tục có những hành vi xâm phạm vùng biển của các nước láng giềng ven Biển Đông, uy hiếp đe dọa tàu thuyền nước ngoài trên Biển Đông, ngăn cản các hoạt động thăm dó khai thác dầu khí hợp pháp của các nước ở Biển Đông.

Ba là, Trung Quốc tăng mạnh ngân sách quốc phòng với tham vọng đưa Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc thành lực lượng mạnh hàng đầu thế giới phải chăng là để thúc đẩy Sáng kiến An ninh toàn cầu như ông Tập Cận Bình đề ra? Giới chuyên gia quân sự đều cho rằng mục tiêu hiện đại hóa mạnh mẽ quân đội của Trung Quốc, nhất là lực lượng hải quân là nhằm phục vụ cho cái gọi là “Giấc mộng Trung Hoa” do chính ông Tập đề ra, tiến tới thống trị toàn cầu, đưa Trung Quốc trở thành “trung tâm của thế giới.

Giới quan sát cho rằng thực chat Sáng kiến An ninh toàn cầu của Tập Cận Bình không có gì mới mẻ và rất mơ hồ. Ông Jude Blanchette, chuyên gia về Trung Quốc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế ở Washington, cho rằng Sáng kiến mới này của ông Tập có thể là nỗ lực quảng bá chính sách đối ngoại của Bắc Kinh như một giải pháp cho bất ổn toàn cầu hiện nay để ngụy biện cho những toan tính bá quyền, đaị hán của giới cầm quyền ở Bắc Kinh.

Với Biển Đông, việc đẩy mạnh quân sự hóa của Trung Quốc đồng thời tìm cách đẩy Mỹ và các nước khác ra khỏi Biển Đông không phải là để đảm bảo an ninh cho khu vực mà là để Bắc Kinh dễ bề hoành hành bắt nạt, cưỡng ép các nước nhỏ bé trong khu vực. Giới phân tích cảnh báo với Sáng kiến An ninh toàn cầu mà ông Tập đưa ra, Bắc Kinh có thể theo gót Moscow viện dẫn cái gọi là “an ninh không thể tách rời” để phát động chiến dịch quân sự ở Biển Đông. Ông Li Mingjiang, phó giáo sư Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore nói rằng “Nếu Trung Quốc cho rằng Mỹ và đồng minh phớt lờ quan ngại an ninh của Bắc Kinh trong vấn đề Đài Loan và Biển Đông, họ có thể viện dẫn khái niệm ‘an ninh không thể tách rời’ để tìm biện pháp đáp trả”. Từ góc độ này có thể thấy Sáng kiến An ninh toàn cầu đang tạo ra mối đe dọa đối với an ninh ở Biển Đông.

Trên thực tế, kể từ khi Tập Cận Bình đưa ra Sáng kiến An ninh toàn cầu, tình hình Biển Đông hoàn toàn không bình yên mà ngược lại căng thẳng giữa Bắc Kinh và Manila trong 1 năm qua không ngừng leo thang, các tàu hải cảnh của Trung Quốc nhiều lần phun vòi rồng, đâm va vào các tàu công vụ đang thực hiện nhiệm vụ tiếp tế ở Biển Đông, thậm chí làm bị thương các thủy thủ trên tàu của Philippines. Giới chuyên gia cho rằng trọng tâm của GSI là ưu tiên chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, do vậy Trung Quốc sẽ không từ bỏ các yêu sách phi lý của họ ở Biển Đông mà sẽ dùng mọi thủ đoạn để thực hiện tham vọng của mình. Các nước ven Biển Đông không thể ảo tưởng về những lời mỹ miều của Tập Cận Bình trong GSI. Những lời mĩ miều trong GSI chỉ là để che đậy, lấp liếm cho những hành vi hung hăng của Bắc Kinh đang thực hiện với các nước láng giềng ven Biển Đông và những gì đang diễn ra trong vùng biển của Philippines là minh chứng rõ ràng nhất.

Ngay cả Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim – người luôn khẳng định Malaysia sẽ tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc – khi nói về Sáng kiến An ninh toàn cầu của Trung Quốc thì một mặt thừa nhận tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc đối với khu vực, mặt khác khẳng định kiên quyết bảo vệ chủ quyền đất nước. Các nhà phân tích cho rằng nền tảng giúp Bắc Kinh triển khai thành GSI công phụ thuộc vào niềm tin của các quốc gia đối với việc Trung Quốc sẽ hiện thực hóa các cam kết, cũng như các nguyên tắc chung mang tính cốt lõi của sáng kiến. Và để cải thiện niềm tin đó, trước hết Trung Quốc cần dừng ngay các hành vi hung hăng, cưỡng ép, bắt nạt các nước láng giềng, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các nước ven Biển Đông được xác định theo UNCLOS. Đây là yếu tố quyết định cho sự thành công của Sáng kiến An ninh toàn cầu mà ông Tập đưa ra. Đánh giá về Sáng kiến An ninh toàn cầu của Trung Quốc, Giáo sư chính trị quốc tế Brad Glosserman, Đại học Tama ở Tokyo, kiêm cố vấn tại Diễn đàn Thái Bình Dương (Pacific Forum), cho rằng một nước Trung Hoa vẫn rao giảng về “một thế giới thịnh vượng, hài hòa và hòa bình” đang hành động ngược lại với “những hù dọa, quấy rối bằng vũ trang ngày càng gia tăng” trong khu vực. Đây phải chăng là một nhận định khách quan nhất.

]]>
Quốc hiệu Việt Nam: Bí ẩn về người đặt tên và lời sấm truyền 300 năm trước https://biendong.net/2024/05/15/quoc-hieu-viet-nam-bi-an-ve-nguoi-dat-ten-va-loi-sam-truyen-300-nam-truoc/ Wed, 15 May 2024 03:51:47 +0000 https://biendong.net/?p=128380 Từ bao đời nay, “Việt Nam” đã là quốc hiệu thiêng liêng của dân tộc ta. Nhưng ít ai biết rằng, danh xưng này ẩn chứa một bí mật lịch sử vô cùng đặc biệt, liên quan đến lời sấm truyền cách đây 300 năm của một vị danh nhân lỗi lạc.

Vua Gia Long là người đặt tên nước ta là Việt Nam

Dân tộc ta luôn cảm thấy tự hào về hai tiếng “Việt Nam”, không phân biệt vị trí địa lý. Chủ nhân đầu tiên gắn tên này cho đất nước là hoàng đế Gia Long. Vào năm 1802, khi mới đăng quang, ông thấy rằng việc củng cố cơ cấu quản lý triều đình là việc làm quan trọng hàng đầu. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ này, ông đã suy nghĩ về việc đặt tên cho quốc gia, nhằm khẳng định sự đoàn kết của một vương triều mới.

Một năm tiếp theo, hoàng đế Gia Long mong muốn nhận sự chấp thuận từ triều đình nhà Thanh để đặt tên quốc gia của mình là Nam Việt. Nhưng ý định này không thành do lo ngại sự nhầm lẫn với quốc gia Nam Việt của Triệu Đà từ thời cổ. Sau nhiều lần trao đổi và thuyết phục qua thư từ, cuối cùng tên gọi Việt Nam đã được chấp nhận.

Vào tháng 2 năm 1804, hoàng đế Gia Long đã phát hành chiếu thư công bố tên mới của đất nước là Việt Nam. Chiếu thư thời bấy giờ ghi rõ: “Vị vua sáng lập quốc gia cần phải coi trọng Quốc hiệu như một biểu tượng của sự thống nhất. Nhìn lại những vị vua sáng suốt trước đây, đã xây dựng và phát triển lãnh thổ từ Việt Thường trải dài về phía Nam, từ đó chọn lựa chữ Việt để đặt tên cho quốc gia… quyết định từ ngày 17 tháng 2 của năm này, trình bày trước Thái miếu, chính thức sửa đổi Quốc hiệu thành Việt Nam, với mong muốn xây dựng một nền tảng vững chắc, truyền bá rộng rãi. Mọi vấn đề liên quan đến Quốc hiệu và các văn thư giao tiếp với quốc tế của đất nước, đều phải sử dụng Việt Nam làm tên gọi chính thức, không còn sử dụng cái tên cũ là An Nam nữa”.

Tên gọi Việt Nam đã được sử dụng trong suốt 34 năm dưới thời kỳ của triều đình nhà Nguyễn, từ năm 1804 đến năm 1838. Sau đó, dưới thời vua Minh Mạng, quốc hiệu đã được thay đổi thành Đại Nam. Đến ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố nền độc lập của đất nước, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó, quốc hiệu Việt Nam được nhắc đến một cách rộng rãi với ý nghĩa sâu sắc, thiêng liêng và toàn vẹn nhất.

Do đó, vào năm 1804, tên gọi chính thức của đất nước chúng ta là Việt Nam được thiết lập. Tuy nhiên, cụm từ trang trọng này đã xuất hiện từ 300 năm trước, trong những lời tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, với câu nói: “Việt Nam khởi tổ gầy nên”. Khi đó, quốc danh mà chúng ta sử dụng vẫn là Đại Việt.

Hơn nữa, cụm từ “Việt Nam” không chỉ được nhắc đến như trên, mà còn xuất hiện trong bài thơ chữ Hán “Sơn hà hải động thường vịnh”, nghĩa là ca ngợi cảnh đẹp của non sông đất nước Việt Nam.

Trong bức thư gửi đến trạng nguyên Giáp Hải, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nhắc đến: “Tiền trình vĩ đại quân tu ký, Thùy thị phương danh trọng Việt Nam” (Nên nhớ rằng sự nghiệp lớn lao đang chờ đợi, Danh tiếng nào sẽ được trân trọng ở Việt Nam?), và “Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại, Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam” (Cùng nhau ngước nhìn ngôi sao sáng, Ánh hào quang sẽ chiếu rọi Việt Nam từ trước đến sau).

Mặc dù vậy, theo một số nguồn tài liệu khác, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là người đầu tiên sử dụng cụm từ “Việt Nam”. Người ta đã phát hiện ra cụm từ này trên các tấm bia đá từ thế kỷ 16-17 tại các ngôi chùa như Bảo Lâm ở Hải Dương, Cam Lộ ở Hà Nội và Phúc Thánh ở Bắc Ninh. Đặc biệt, trên bia Thủy Môn Đình ở biên giới Lạng Sơn, có ghi chép: “Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan” (nơi này là huyết mạch quan trọng của Việt Nam, là chốt phòng thủ ở cửa ngõ phía Bắc). Còn có tài liệu nói rằng vào năm 1792, dưới thời vua Quang Trung, quốc hiệu “Việt Nam” đã được sử dụng. Phan Huy Ích là người đã biên soạn “Tuyên cáo đặt mới quốc hiệu”.

Tuy nhiên, theo dấu mốc lịch sử được xác định sớm nhất, cụm từ “Việt Nam” đã xuất hiện ngay trong thế kỷ 14, cụ thể là trong tác phẩm “Việt Nam thế chí” do Học giả Hàn lâm viện Hồ Tông Thốc biên soạn. Thông tin này đã được Thạc sĩ Lương Đức Hiển nghiên cứu và chia sẻ trên tờ báo Giáo Dục vào năm 2018.

T.P

]]>
Indonesia trong chiến thuật “vùng xám” của TQ https://biendong.net/2022/10/10/indonesia-trong-chien-thuat-vung-xam-cua-tq/ Mon, 10 Oct 2022 03:33:23 +0000 https://biendong.net/?p=95940 Nhằm thúc đẩy tham vọng xây dựng cường quốc biển tiến tới thống trị các đại dương, Trung Quốc đang ráo riết áp đặt các chiến thuật “vùng xám” trên các vùng biển, trước hết là ở Biển Đông, eo biển Đài Loan và biển Hoa Đông bằng việc sử dụng lực lượng dân sự và bán quân sự để thực hiện các hành vi xâm lấn mà không tạo ra một cuộc xung đột toàn diện, trong đó khu vực Biển Bắc Natuna của Indonesia cũng không phải là ngoại lệ. Trung Quốc theo đuổi các mục tiêu này với nhận thức rằng Indonesia sẽ không thể đáp trả một cách thích đáng.

Từ năm 2019 đến đầu 2020 đã chứng kiến các tàu cá của Trung Quốc, với sự hậu thuẫn của lực lượng tuần duyên và dân quân hàng hải, xâm nhập vào Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia. Các quan chức thực thi pháp luật hàng hải của Indonesia khẳng định những cuộc xâm nhập này đã diễn ra liên tục sau đó, dù chúng ít được công bố hơn. Trung Quốc đã tăng cường chiến dịch này vào tháng 8/2021 khi một tàu khảo sát của Trung Quốc đã dành 7 tuần để vẽ bản đồ đáy biển trong khu vực EEZ của Indonesia. Jakarta đã tương đối im lặng về vấn đề này mặc dù có tới 9 tàu tuần tra của hải quân và tàu tuần duyên Indonesia theo dõi sự xâm lấn này dưới mệnh lệnh rõ ràng là không can thiệp. Giới học giả cho rằng Trung Quốc đã vượt qua “lằn ranh đỏ” của Indonesia một cách rõ ràng khi yêu cầu Indonesia ngừng khoan dầu trong khu vực.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng thống Indonesia Joko Widodo

Trung Quốc cho rằng họ có “những quyền lợi hàng hải bị chồng chéo” với Indonesia, theo cách hiểu của họ về một “nhận thức chung không chính thức” đạt được với Jakarta về lãnh thổ hàng hải trong những năm 1990. Nhưng hành vi của Bắc Kinh không nhằm mục đích gây ra một tranh chấp pháp lý, thay vào đó nó là một nỗ lực chiến lược từng bước để khiến Jakarta vô tình hoặc mặc nhiên công nhận các quyền hàng hải của Trung Quốc. Giờ đây, khi Trung Quốc kiểm soát các khu vực chiến lược quan trọng ở Biển Đông, họ cảm thấy tự tin hơn trong việc vượt qua những giới hạn.

Các cường quốc bá quyền được cho là sẽ mở rộng lãnh thổ cho đến chừng nào họ không thể chiếm thêm bất kỳ lãnh thổ nào nữa hoặc đối mặt với sự kháng cự quá lớn – nhưng Indonesia đã tỏ ra mềm yếu trong việc đẩy lùi sức ảnh hưởng của Trung Quốc. Phản ứng ngoại giao của nước này đối với vụ việc rất mờ nhạt, ngay cả khi các quan chức khăng khăng cho rằng họ đã kín đáo bày tỏ sự bất bình của mình. Phản ứng an ninh của nước này cũng lộn xộn, không nhất quán và chỉ mang tính biểu tượng. Chắc chắn không có phản ứng kinh tế hoặc chính trị mạnh mẽ nào từ Jakarta.

Các nhà hoạch định chính sách Indonesia hiện chưa có nhận thức rõ ràng về mục đích phản đối Trung Quốc. Một số người tin rằng việc khiến Trung Quốc từ bỏ yêu sách “Đường 9 đoạn” đối với Biển Đông là một mục tiêu có thể đạt được. Những người khác như Tổng thống Indonesia Joko Widodo chọn cách giải quyết khủng hoảng hơn là ngăn ngừa để tránh ảnh hưởng đến các chiến lược trong nước của ông. Nhiều người tin rằng hành vi của Trung Quốc chỉ là vấn đề về việc thực thi pháp luật, chứ không phải là một vấn đề về chiến lược.

Sự thiếu rõ ràng này là dấu hiệu đầu tiên của một thất bại chiến lược. Thay vì theo đuổi một mục tiêu rõ ràng và có thể đạt được là ngăn chặn các cuộc xâm nhập bất hợp pháp của Trung Quốc vào Biển Bắc Natuna, các nhà hoạch định chính sách Indonesia lại lựa chọn một phản ứng nhạt nhòa. Những hành động vô nghĩa này, chẳng hạn như tổ chức cuộc họp nội các trên tàu chiến, có thể thể hiện cho người dân trong nước thấy rằng họ đang “khẳng định mạnh mẽ” chủ quyền của Indonesia.

Cách tư duy như vậy một phần là do các nhà hoạch định chính sách Indonesia khăng khăng rằng nước này không liên quan tới các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Indonesia có một mối quan hệ song phương mạnh mẽ với Trung Quốc và vị thế của nước này ở Biển Đông được công nhận một cách hợp pháp theo luật pháp quốc tế. Điều này có nghĩa là các nhà hoạch định chính sách Indonesia có xu hướng coi việc xâm nhập “vùng xám” là các vấn đề thực thi pháp luật hàng hải ngắn hạn, thay vì là một ván cờ chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc.

Sự thiếu rõ ràng cũng kéo theo tình trạng thiếu đi sự gắn kết chiến lược cần thiết để kết hợp hàng loạt công cụ ngoại giao, quân sự và kinh tế thành một phản ứng toàn diện chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Thay vào đó, Indonesia đã ngăn chặn vấn đề bằng cách tách quan hệ song phương với Trung Quốc khỏi vấn đề Biển Bắc Natuna, tranh chấp trên Biển Đông và việc theo đuổi quyền lực để đạt được an ninh của Trung Quốc. Cách tiếp cận này bề ngoài có vẻ là hợp lý nếu xét trên tính chất phức tạp của những vấn đề đó và thực tế rằng Trung Quốc là vấn đề gây chia rẽ nội bộ nhiều nhất trong chính sách đối ngoại hiện nay.

Giới thượng lưu Indonesia cũng ngày càng phụ thuộc vào các lợi ích cá nhân và hàng hóa công mà Trung Quốc cung cấp, đặc biệt là những lợi ích trong thời kỳ đại dịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh họ ngày càng lo ngại về thái độ hoài nghi của công chúng đối với các giao dịch với Trung Quốc, chính sách chiến lược của Indonesia trở nên kém minh bạch hơn. Chiến lược “vùng xám” của Trung Quốc đã thành công khi Indonesia thiếu sự minh bạch. Các nhà hoạch định chính sách dường như không thể hình dung được phạm vi của các lựa chọn giữa việc “bỏ cuộc” lặng lẽ hay là đấu tranh trong vấn đề đánh bắt.

Những thiếu sót này giải thích sự thất bại của Jakarta trong việc đưa ra một phản ứng có ý nghĩa đối với chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh. Các nhà hoạch định chính sách Indonesia vẫn chưa nghiêm túc xem xét các lựa chọn khác nhau, chẳng hạn như thành lập các cơ chế tiểu đa phương về hàng hải hoặc cân nhắc các dự án trong Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Nhưng nếu Widodo không quan tâm đến việc thúc đẩy một phản ứng chiến lược chung, thì mỗi bên liên quan – từ lực lượng hải quân và tuần duyên cho đến bộ ngoại giao – sẽ phát triển các kế hoạch hành động riêng của mình.

Một phản ứng lý tưởng sẽ bao gồm việc các nhà hoạch định chính sách Indonesia nêu rõ mục tiêu có thể đạt được là đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Bắc Natuna. Với các mục tiêu cụ thể, Indonesia có thể xác định rõ hơn các công cụ thích hợp để đạt được chúng. Nhưng quan trọng hơn, Indonesia cần phải tích hợp – chứ không chỉ phối hợp – những công cụ của năng lực quản lý này để đưa ra phản ứng hợp lý. 

Những kết quả mong muốn này sẽ khó có thể đạt được trong tương lai gần. Các cuộc “chạm trán” và “khủng hoảng” trên biển giữa Indonesia và Trung Quốc rồi sẽ tái diễn. Sự xâm nhập dần dần của Trung Quốc sẽ tiếp tục ngay cả khi Indonesia tuyên bố chiến thắng trong mỗi trường hợp cụ thể. Thành công của Trung Quốc trong chiến thuật “vùng xám” nằm ở sự ảo tưởng chiến lược mà Indonesia duy trì.

Giới phân tích lý giải cách ứng xử của Indonesia đối với chiến lược “vùng xám” của Bắc Kinh tỏ ra yếu thế bởi nền kinh tế hiện nay của Indonesia đang phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc như:

Một là, Indonesia tham gia quá sâu vào Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Bắc Kinh. Trung Quốc hiện đang xây dựng nhà máy thủy điện lớn nhất Indonesia trị giá 17 tỷ USD ở Borneo – một dự án cơ sở hạ tầng đặc trưng trong khuôn khổ BRI của Trung Quốc ở Indonesia; tuyến đường sắt Jakarta-Bandung, có thể được hoàn thành vào đầu năm tới. Nhiều dự án cơ sở hạ tầng khác cũng nằm trong chương trình nghị sự hợp tác kinh tế song phương.

Hai là, Trung Quốc cũng là đối tác thương mại số 1 của Indonesia, với các mối quan hệ được thiết lập để phát triển hơn nữa sau khi Quốc hội Indonesia phê chuẩn Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực vào tháng trước. Trong bối cảnh đại dịch, Trung Quốc đã cung cấp cho Indonesia các loại vaccine rất cần thiết và trở thành nhà cung cấp thiết bị bảo hộ cá nhân chính cho Indonesia. Hình ảnh ông Widodo tiêm vaccine với thương hiệu Sinovac của Trung Quốc nổi bật trên kênh truyền hình trực tiếp như một cách lan tỏa sự tin tưởng đối với công chúng Indonesia. 

Sự nhún nhường của Jakarta đối với Bắc Kinh còn thể hiện qua chuyến thăm của Tổng thống Indonesia Widodo tới Trung Quốc hồi cuối tháng 7 vừa rồi, nơi Tổng thống Widodo đã có các cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường. Tuyên bố chung kết thúc chuyến thăm nhấn mạnh 2 nhà lãnh đạo đã đạt được “sự đồng thuận quan trọng” trong việc thảo luận về “một loạt vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm”; nêu rõ Indonesia sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để “đảm bảo hòa bình và ổn định thông qua đối thoại và ngoại giao”, đồng thời lưu ý rằng ông Joko Widodo và ông Tập Cận Bình đã chỉ đạo các bộ trưởng ngoại giao của họ thảo luận về các yếu tố và nguyên tắc của mục tiêu này. Chuyến công du của ông Widodo đến Trung Quốc một lần nữa cho thấy chính phủ dân sự của Indonesia tiếp tục coi Bắc Kinh là đối tác quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế. Giới phân tích nhận định nếu Indónesia không từng bước hạn chế sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế thì họ khó có thể kiên quyết đấu tranh với những hành động xâm lấn hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông mà sẽ ngày càng chìm sâu vào chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới lợi ích của Indonesia ở Biển Đông mà còn gây hệ lụy xấu với cục diện dựa trên pháp luật ở Biển Đông.

]]>
Cảnh giác trước các công trình quân sự núp dưới vỏ bọc kinh tế ở Campuchia https://biendong.net/2022/06/09/canh-giac-truoc-cac-cong-trinh-quan-su-nup-duoi-vo-boc-kinh-te-o-campuchia/ Thu, 09 Jun 2022 04:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=81627 Sự hiện diện của Trung Quốc tại Campuchia ngày càng đậm nét, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, với các dự án xây dựng khổng lồ được Bắc Kinh tài trợ tại nhiều vị trí chiến lược trên toàn bộ lãnh thổ của CPC. Điều đáng lo ngại nhất là nhiều cơ sở mà Bắc Kinh được quyền kiểm soát này có thể dễ dàng biến thành căn cứ quân sự.

Giới chuyên gia nhận định ảnh hưởng lan rộng nhanh chóng của Trung Quốc tại xứ Chùa Tháp với những toan tính quân sự và tham vọng độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh không chỉ khiến các nước ven Biển Đông  lo ngại mà đang thu hút sự quan tâm lớn của Washington và các nước ngoài khu vực.

Nhiều công trình của Trung Quốc tại Campuchia có thể dễ dàng trở thành căn cứ quân sự

Tại Dara Sakor, tỉnh Koh Kong, miền Tây Nam Campuchia, cạnh Vịnh Thái Lan, thông qua UDG – một tập đoàn tư nhân có trụ sở ở Thiên Tân, từ năm 2008 đến nay Bắc Kinh đã rót khoảng 2 tỷ USD để xây dựng một tổ hợp gồm các cơ sở du lịch như sòng bạc, khách sạn, sân golf, và nhất là một sân bay quốc tế có khả năng tiếp nhận loại phi cơ chuyên chở hành khách cỡ lớn. Trong số các công trình này, còn có dự án xây một hải cảng cho tàu 100.000 tấn.

Năm 2016, Phnom Penh tham gia sáng kiến “Con đường Tơ lụa mới” của Trung Quốc  thuộc sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) và năm 2019, Dara Sakor trở thành một trong 19 “dự án trọng điểm” của “Con đường Tơ lụa” ở Campuchia, dưới tên gọi chính thức là “khu thí điểm cho đầu tư và phát triển toàn diện giữa Campuchia và Trung Quốc”. Cách đó khoảng 40km đường chim bay là thành phố cảng Sihanoukville, tỉnh Preah Sihanouk, toàn bộ tỉnh này đã được công nhận là đặc khu kinh tế theo mô hình Thâm Quyến ở Trung Quốc vào năm 2021.

Công việc xây dựng rầm rộ ở Dara Sakor đã gióng lên hồi chuông báo động tại Washington về các mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh trên dải bờ biển giữa Thái Lan và Việt Nam. Tập đoàn UDG đã bị Bộ Tài chính Mỹ áp đặt lệnh trừng phạt vào tháng 9/2020, dưới thời Tổng thống Mỹ Donald Trump, với các cáo buộc “cưỡng bức trục xuất người dân Campuchia” và “phá hoại môi trường” khi tiến hành xây dựng ở Dara Sakor. Ngoại trưởng Mỹ khi đó Mike Pompeo đã phát biểu rằng theo những “thông tin đáng tin cậy”, Dara Sakor “có thể được sử dụng để chứa các cơ sở quân sự của Trung Quốc” như hải cảng và phi trường. Đường băng dài 3,4 km của dự án Dara Sakor có thể đón một chiếc Boeing 777. Theo công bố của Phnom Penh, đường băng này phù hợp để phát triển “thành phố toàn cầu về du lịch sang trọng và công nghệ cao” trong tương lai này, tuy nhiên đường băng này cũng có thể được sử dụng cho mọi loại máy bay chiến đấu hoặc máy bay ném bom của Trung Quốc.

Năm 2016, Tập đoàn Luyện Kim Trung Quốc (MCC) – một tập đoàn nhà nước Trung Quốc đã ký “thỏa thuận hợp tác với Bộ Quốc phòng Campuchia” để mở rộng “căn cứ hải quân Ream” của Campuchia, diện tích của căn cứ là 19.000 m2, cách Sihanoukville 25 km về phía Đông Nam. Căn cứ này là nơi chứa các tàu tuần tra do Bắc Kinh cho tặng Phnom Penh vào năm 2007. Trang mạng của MCC đã thông báo về việc xây dựng một ụ tàu 5.000 tấn, một ụ cơ khí 1.500 tấn, một bến tàu mở, một xưởng sửa chữa và gần 2 ha đất lấn biển. Dù vậy, cảng Ream không đủ độ sâu để tiếp nhận các tàu lớn. Hai tàu chiến Trung Quốc lần đầu tiên ghé cảng Campuchia vào năm 2016 đã phải cập bến Sihanoukville. Mỹ theo dõi sát sao những công trình cải tạo bí ẩn tại khu vực này, nơi mà hai nhà chứa tàu “chiến thuật” trước đây do Mỹ cung cấp đã bị chính quyền Campuchia tháo dỡ vào năm 2020.

Giữa tháng 01/2022, hai tàu nạo vét xuất hiện ngoài khơi căn cứ hải quân Ream cho thấy dấu hiệu của các công trình cải tạo đang diễn ra. Trung Quốc chính là nhà tài trợ và triển khai các hoạt động thi công nạo vét để biến nơi đây thành cảng nước sâu phục vụ các tàu quân sự lớn hơn có thể cập cảng. Các tàu nạo vét này có thể nhìn thấy được từ các bức ảnh do chính phủ Campuchia công bố gần đây và hình ảnh vệ tinh thương mại.

Tổ chức Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ ngày 21/1 đưa lại các thông tin về 2 tàu nạo vét hoạt động ở ngoài khơi căn cứ hải quân Ream và nhận định “việc nạo vét các cơ sở cảng nước sâu hơn sẽ là cần thiết để các tàu quân sự lớn hơn cập cảng tại Ream và là một phần của thỏa thuận bí mật giữa Trung Quốc và Campuchia mà các quan chức Mỹ báo cáo đã phát hiện vào năm 2019”.

Hoạt động của 2 tàu nạo vét có thể đánh dấu một sự nâng cấp đáng kể về năng lực của căn cứ hải quân Ream. Một cảng nước sâu sẽ khiến nó trở nên hữu ích hơn rất nhiều cho cả hải quân Campuchia và Trung Quốc. Theo tổ chức AMTI thuộc CSIS, việc giải phóng mặt bằng ở một số địa điểm ở phía Tây Nam của căn cứ hải quân Ream đã được tiến hành kể từ mùa Thu năm 2021, hiện hoạt động thi công vẫn tiếp tục trên bờ. Điều này cho thấy căn cứ đang được chuẩn bị cho những nâng cấp cơ sở hạ tầng đáng kể.

Sakor và quân cảng Ream, chính quyền Phnom Penh luôn tìm cách giải thích rằng đây chỉ là các dự án kinh tế dân sự, không phải là các công trình quân sự và càng không phải là các căn cứ quân sự của Trung Quốc vì Hiến pháp Campuchia quy định không cho phép nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Campuchia. Tuy nhiên những gì đang diễn ra trên thực tế cho thấy chính quyền Phnom Penh đã thực sự nằm trong quỹ đạo và sự kiểm tỏa của Bắc Kinh.

Các chuyên gia quân sự đã cảnh báo rằng các công trình được Trung Quốc tài trợ triển khai ở Dara Sakor và quân cảng Ream mang tính lưỡng dụng, vừa phục vụ mục triêu phát triển kinh tế, vừa có thể sử dụng cho mục đích quân sự. Đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, biến các cấu trúc ở Biển Đông thành các đồn điền quân sự để phục vụ tham vọng độc chiếm Biển Đông thì việc Bắc Kinh sử dụng các công trình được xây dựng ở khu vực Tây Nam Campuchia cho các mục tiêu quân sự ở Biển Đông là nguy cơ lớn nhất đối với các nước ven Biển Đông.

Theo dõi quan hệ giữa Trung Quốc – Campuchia và xâu chuỗi những vụ việc liên quan đến thái độ của chính quyền Phnom Penh trên vấn đề Biển Đông những năm qua, giới quan sát đánh giá, đối với Trung Quốc, Campuchia là một chỗ dựa chính trị hàng đầu ở Đông Nam Á, cung cấp cho Bắc Kinh một vị trí chiến lược trong tranh chấp Biển Đông và nhất là cuộc cạnh tranh với sự hiện diện của Mỹ trong khu vực. Do đó, Trung Quốc có thể đang ở trong quá trình “thử nghiệm các hình thức đối tác quân sự mới và bảo đảm các lợi ích chiến lược của mình”.

Mỹ, quốc gia đang tìm cách ngăn các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ rộng lớn và sự bành trướng quân sự của Bắc Kinh ở Biển Đông, gần đây đã nhắc lại “những lo ngại nghiêm trọng” của họ về hoạt động nạo vét, thi công và sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tại Ream. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh: “Những diễn biến này đe dọa lợi ích của Mỹ và các đối tác, an ninh khu vực và chủ quyền của Campuchia”; đồng thời, kêu gọi Campuchia “hoàn toàn minh bạch về ý định, bản chất và phạm vi của dự án tại Ream và vai trò của quân đội Trung Quốc trong việc thi công, khơi lên lo ngại về mục đích sử dụng của căn cứ hải quân này”.

Trên thực tế, Campuchia là một trong những nước kém phát triển nhất trong ASEAN nên việc chính quyền Phnom Penh tranh thủ sự hỗ trợ từ bên ngoài, trong đó có Trung Quốc để phát triển đất nước là điều cần thiết và hết sức bình thường. Ngược lại, mối quan tâm của Trung Quốc đối với khu vực miền Tây Nam Campuchia không phải là không có tính kinh tế. Đó là cách kiếm lợi từ việc giải tỏa được các địa điểm du lịch ở vùng biển này. Ông Kin Phea, Giám đốc Viện Quan hệ quốc tế tại Học viện Hoàng gia Campuchia, xác nhận: “Nếu không có Trung Quốc, chúng tôi không thể phát triển nhanh như vậy. Chúng tôi không thể chờ đợi. Phương Tây liên tục nói về dân chủ, nhân quyền, nhưng trong thực tế chúng tôi lái xe trên đường của Trung Quốc”.

Điều đáng nói ở đây là Bắc Kinh đã lợi dụng những nhu cầu phát triển kinh tế của Phnom Penh để thực hiện những mưu đồ chính trị và quân sự ở khu vực. Các công trình được Bắc Kinh triển khai ở Campuchia đều được gắn nhãn mác “Vành đai và Con đường” mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xướng để thực hiện tham vọng “Giấc mộng Trung Hoa”. Tiền của Trung Quốc bỏ ra để triển khai các dự án đã từng bước buộc Campuchia lệ thuộc vào Trung Quốc cả về kinh tế, chính trị, quân sự. Trong khuôn khổ “Vành đai và Con đường”, một công thức Trung Quốc triển khai giống nhau ở mọi nơi, đó là bỏ tiền ra thúc đẩy các dự án cơ sở hạ tầng rồi đẩy các nước này vào thế không thể trả nợ được, phải gán nợ hoặc để Bắc Kinh sử dụng vào mục đích quân sự. Giới học giả gọi đây chính là chính sách “thuộc địa kiểu mới” của Bắc Kinh. Giới phân tích nhận định thực chất các công trình mà Trung Quốc đang thực hiện ở Campuchia, nhất là ở khu vực ven biển Tây Nam nước này không nằm ngoài công thức này. Đặc biệt, một số cơ sở mà Bắc Kinh được quyền kiểm soát đều nằm ở các vị trí chiến lược và có thể dễ dàng biến thành căn cứ quân sự. Các nước ven Biển Đông cần hết sức cảnh giác trước các công trình quân sự đang núp dưới vỏ bọc kinh tế của Trung Quốc ở Campuchia.

]]>
TQ đang chĩa mũi nhọn gây sức ép lên Việt Nam https://biendong.net/2020/11/07/tq-dang-chia-mui-nhon-gay-suc-ep-len-viet-nam/ Sat, 07 Nov 2020 08:15:11 +0000 http://localhost/wp/2020/11/07/tq-dang-chia-mui-nhon-gay-suc-ep-len-viet-nam/ Trước những động thái mới của Trung Quốc ở Biển Đông và trong quan hệ với các nước ASEAN gần đây, các nhà quan sát đều cho rằng Trung Quốc đang chĩa mũi nhọn gây sức ép lên Việt Nam nhằm buộc Việt Nam đi theo quỹ đạo của Bắc Kinh.

1. Trên Biển Đông, Trung Quốc đang lợi dụng tình hình đại dịch Covid-19 để củng cố sự hiện diện quân sự ở Biển Đông, mở rộng các yêu sách của họ vào sâu hơn vùng biển của các nước láng giềng. Đặc biệt, Trung Quốc triển khai nhiều hoạt động ở Biển Đông nhằm vào Việt Nam. Thời gian qua, Trung Quốc liên tục tiến hành tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, nơi tranh chấp chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc và trong Vịnh Bắc Bộ, nơi mà Việt Nam và Trung Quốc đã phân định vùng biển từ năm 2000.

Từ ngày 25 đến 28/7/2020, lực lượng không quân Chiến khu miền Nam, Trung Quốc tiến hành diễn tập quân sự ở Vịnh Bắc Bộ. Từ ngày 25/7 đến 02/8/2020 một cuộc tập trận khác lấy tên “cuộc diễn tập tấn công mục tiêu bắn đạn thật” được Trung Quốc tiến hành ở vùng biển phía Tây bán đảo Lôi Châu, cực Nam tỉnh Quảng Đông, phía Tây hướng vào Vịnh Bắc Bộ và phía Đông hướng ra Biển Đông. Trong cuộc tập trận, lực lượng Hải quân của Bộ Tư lệnh Tác chiến Miền Nam Trung Quốc bắn đạn thật xuống mục tiêu trên biển. Cùng với các cuộc tập trận, Trung Quốc ngang nhiên điều máy bay tiêm kích – ném bom JH-7 và chiến đấu cơ J-11B đến đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Từ ngày 12 đến 14/8, Trung Quốc tiến hành tập trận bắn đạn thật ở Vịnh Bắc Bộ. Đây là lần thứ hai Trung Quốc tiến hành tập trận ở vịnh Bắc Bộ trong vòng 2 tuần lễ. Các nhà quan sát cho rằng việc Trung Quốc liên tiếp tiến hành tập trận trong vịnh Bắc Bộ làm cho tình hình trên biển ngày càng căng thẳng, nhất là trong bối cảnh cả thế giới đang phải tập trung ứng phó với đại dịch.

Đáng chú ý nhất là cuộc tập trận quy mô lớn với khu vực diễn ra tập trận rộng gần 49.000 km2 được Trung Quốc tiến hành ở khu vực quần đảo Hoàng Sa từ ngày 24 đến 29/8 và Đông Nam đảo Hải Nam. Đây là lần thứ hai Trung Quốc tổ chức tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa trong vòng hai tháng. Trong cuộc tập trận này, Trung Quốc đã bắn hai tên lửa đạn đạo diệt hạm từ tỉnh Thanh Hải và Chiết Giang của Trung Quốc ra vùng biển giữa đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa. Tên lửa DF-26B được phóng từ tỉnh Thanh Hải có tầm bắn 4.000 km và có thể mang đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường, có thể dùng để tấn công mục tiêu trên mặt đất và trên biển. Tên lửa DF-21D được phóng từ Chiết Giang có tầm bắn khoảng 1.800 km và truyền thông nhà nước Trung Quốc mô tả phiên bản DF-21D là tên lửa đạn đạo diệt hạm đầu tiên trên thế giới hay “sát thủ diệt tàu sân bay”.

Việc Bắc Kinh phóng tên lửa đạn đạo trong cuộc tập trận khiến Washington hết sức bất bình, lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ động thái này của Bắc Kinh. Trong tuyên bố được đưa ra, Lầu Năm Góc nhấn mạnh: “Cuộc tập trận quân sự này (của Trung Quốc ở khu vực Hoàng Sa) là hành động mới nhất trong một chuỗi dài các hành động của CHND Trung Hoa nhằm khẳng định các yêu sách hàng hải trái pháp luật và gây bất lợi cho các nước láng giềng Đông Nam Á trên Biển Đông”; “các hành động này của Bắc Kinh, bao gồm cả các vụ thử tên lửa, càng gây thêm bất ổn cho tình hình ở Biển Đông”.

Cuối tháng 9/2020, Bắc Kinh tiến hành 5 cuộc tập trận đồng thời trên vùng biển bao quanh Trung Quốc, trong đó có hai cuộc gần quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông.

Gần đây nhất là cuộc tập trận bắn đạn thật trong vịnh Bắc Bộ từ ngày 21 dến 22/10/2020. Đài CCTV của Trung Quốc ngày 23/10 đưa tin lực lượng không quân, hải quân thuộc Chiến khu miền Nam của Trung Quốc đã bắn hàng chục tên lửa không đối không trong cuộc tập trận ở Vịnh Bắc Bộ trong hai ngày 20 và 21/10. Tài khoản weibo của kênh CCTV Quân sự đăng tải một đoạn clip và cho biết gần 100 phi công đã tham gia cuộc tập trận bắn đạn thật ở phía Tây đảo Hải Nam này.

Trước đó, Cục Hải sự tỉnh Hải Nam liên tiếp đưa ra hai thông báo cho biết Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận bắn đạn thật ở Vịnh Bắc Bộ từ ngày 18 đến ngày 21/10 (thông báo ngày 17/10 cho biết cuộc tập trận được tiến hành ở khu vực phía tây Hải Nam từ 18 đến 19/10, trong khi thông báo ngày 19/10 cho biết cuộc tập trận sẽ tiếp tục diễn ra ở cùng khu vực trong ngày 20 và 21/10).

Các nhà quan sát nhận định việc Bắc Kinh dồn dập tiến hành diễn tập quân sự bắn đạn thật ở Vịnh Bắc Bộ và khu vực quần đảo Hoàng Sa (những nơi chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc), kể cả bắn tên lửa đạn đạo là nhằm hù dọa và gây sức ép lên Hà Nội. Cuộc tập trận bắn đạn thật của Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ diễn ra khi Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide đang có mặt tại Việt Nam trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên kể từ khi nhậm chức từ ngày 18 đến 20/10. Nhiều khả năng cuộc tập trận này là cách Trung Quốc bày tỏ thái độ đối với chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản, trong đó bao gồm thỏa thuận về việc xuất khẩu vũ khí và công nghệ quốc phòng giữa hai nước.

Bên cạnh đó, Trung Quốc thường xuyên cho các tàu hải cảnh, tàu khảo sát, tàu dân quân biển, tàu cá xâm nhập sâu vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam từ Bắc xuống Nam, có lúc vào cách bờ biển Việt Nam chỉ vài chục hải lý. Mặt khác, các tàu Trung Quốc thường xuyên uy hiếp, đe dọa tàu cá Việt Nam đang hoạt động tại các vùng biển của Việt Nam, thậm chí đâm chìm hoặc đâm hư hỏng tàu cá Việt Nam.

2. Với các nước ASEAN, Bắc Kinh đang tìm cách phân hóa, chia rẽ các nước nhằm cô lập Việt Nam. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, các quan chức ngoại giao, quốc phòng hàng đầu Trung Quốc đã lần lượt thăm 9 nước ASEAN trừ Việt Nam. Ông Dương Khiết Trì, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Trung Quốc thăm Singapore tháng 8/2020; Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa thăm Brunei, Malaysia, Indonesia và Philippines tháng 9/2020; ông Vương Nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc thăm 5 nước Campuchia, Malaysia, Singapore, Lào và Thái Lan trung tuần tháng 10/2020. Đặc biệt, trung tuần tháng 1/2020, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thăm Myanmar, đây được coi là công du nước ngoài hiếm hoi của ông Tập trong năm 2020.

Một chủ đề quan trọng trọng các chuyến thăm kể trên là Trung Quốc kêu gọi các nước Đông Nam Á không ngả theo Mỹ. Các giới chức lãnh đạo Bắc Kinh đã cáo buộc chiến lược của Mỹ khuấy động một cuộc cạnh tranh địa chính trị tại Biển Đông cũng như ở nhiều nơi khác trong khu vực; hối thúc các nước ASEAN “cảnh giác” với những rủi ro mà chiến lược của Mỹ mang lại.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc không có bất cứ chuyến thăm nào tới Việt Nam ngoại trừ một cuộc gặp ngắn giữa Ngoại trưởng hai nước ở khu vực biên giới nhân kỷ niệm 20 năm ký kết Hiệp ước biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc hồi cuối tháng 8/2020. Điều đáng nhấn mạnh ở đây Việt Nam lại là Chủ tịch luân phiên của ASEAN trong năm 2020, đồng thời đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Giới chức Bắc Kinh luôn bày tỏ ủng hộ Việt Nam hoàn thành trọng trách Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, song lại không có bất cứ quan chức cao cấp nào của Trung Quốc đến Hà Nội là điều rất không bình thường khiến dư luận hết sức quan tâm.

Với động thái kể trên, nhiều chuyên gia nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi phải chăng Bắc Kinh đang tìm cách “cô lập” Hà Nội về mặt ngoại giao, đồng thời hoài nghi về thiện chí của Bắc Kinh trong việc ủng hộ Việt Nam hoàn thành các trọng trách khu vực và quốc tế trong năm 2020. Thậm chí các ý kiến còn cho rằng Bắc Kinh đang tập trung gây áp lực với Việt Nam để làm giảm uy tín của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới.

3. Vì sao Bắc Kinh lại chĩa mũi nhọn sức ép lên Hà Nội vào lúc này, một số nhà quan sát đã đưa ra những phân tích ban đầu:

Một là, Việt Nam là nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc ở Biển Đông, lại là nước có lập trường kiên định nhất, không chịu khuất phục trước áp lực từ Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông. Giới cầm quyền Bắc Kinh cho rằng Việt Nam là nước “cứng đầu, cứng cổ nhất” ở khu vực, nếu ép được Hà Nội đi theo quỹ đạo của Bắc Kinh thì việc các nước khác sẽ đơn giản, do vậy họ tìm cách phân hóa chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng khác, tập trung chĩa mũi nhọn gây sức ép lên Hà Nội.

Hai là, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hoành hành trên toàn cầu, Việt Nam vẫn phát huy được vai trò nước chủ nhà các hội nghị ASEAN, tổ chức thành công các Hội nghị trong khuôn khổ ASEAN dưới hình thức trực tuyến mặc dù các múi giờ giữa Hà Nội và các đối tác của ASEAN rất khác nhau. Đặc biệt, Việt Nam đã thành công trong việc tạo đồng thuận trong ASEAN trên vấn đề Biển Đông ở mức độ cao hơn trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Điều này rõ ràng làm giới cầm quyền Bắc Kinh không hải lòng. Một số nhà phân tích cho rằng Bắc Kinh tập trung các cuộc tập trận và các hoạt động trên biển nhằm vào Việt Nam và phân hóa Việt Nam với các nước khác nhằm chuyển đi thông điệp cảnh cáo, răn đe giới chức ở Hà Nội.

Ba là, trong khi Trung Quốc tìm mọi cách để đẩy Mỹ, Nhật và các nước khác ra khỏi Biển Đông, ra khỏi khu vực thì quan hệ giữa Việt Nam và những nước này lại không ngừng phát triển, đồng thời Việt Nam hoan nghênh sự đóng góp và khuyến khích các nước này phát huy vai trò tích cực đối với khu vực, bao gồm Biển Đông. Trong khi các nước, nhất là Mỹ, Nhật coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam không chỉ ở Biển Đông hay khu vực Đông Nam Á mà còn cả trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thì Trung Quốc lại không hài lòng với điều này. Rõ ràng một Việt Nam không làm theo yêu cầu của Bắc Kinh sẽ là “cái gai” trong con mắt của giới cầm quyền Trung Quốc.

Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng cách làm nói trên của Bắc Kinh chỉ càng làm cho Hà Nội thấy rõ bản chất bá quyền của Bắc Kinh và đẩy Việt Nam xích lại gần hơn với Mỹ, Nhật và các nước khác. Điều này không làm uy tín, vị thế Việt Nam giảm đi mà trái lại các nước lại càng coi trọng Việt Nam hơn. Giới chức Bắc Kinh không thăm Việt Nam thì Thủ tướng mới của Nhật Bản Suga lại chọn Việt Nam là nước thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị Thủ tướng. Mới đây nhất, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo lại bất ngờ thăm chính thức Hà Nội khi chưa lên kế hoạch trước bất chấp đại dịch Covid-19. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ rất tức tối, hằn học trước những chuyến thăm Hà Nội này của lãnh đạo Nhật, Mỹ. Nhưng họ hãy xem lại cách hành xử của mình nếu không sẽ lại càng làm xấu thêm hình ảnh của Bắc Kinh. Những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông cùng với sự khác biệt mà Bắc Kinh thể hiện ra trong cách đối xử với Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác sẽ chỉ là “gậy ông đập lưng ông” mà thôi.

]]>
Tuyên bố của Mỹ về Biển Đông có giá trị pháp lý rất cao https://biendong.net/2020/07/17/tuyen-bo-cua-my-ve-bien-dong-co-gia-tri-phap-ly-rat-cao/ Fri, 17 Jul 2020 12:00:21 +0000 http://localhost/wp/2020/07/17/tuyen-bo-cua-my-ve-bien-dong-co-gia-tri-phap-ly-rat-cao/ PGS-TS Vũ Thanh Ca – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo – nhận định, tuyên bố của Mỹ ngày 13.7 bác bỏ hầu hết các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu dựa trên phán quyết của Tòa trọng tài thường trực (PCA), Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 và các văn bản luật pháp quốc tế khác, nên có giá trị pháp lý rất cao.

PGS.TS. Vũ Thanh Ca – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo. Ảnh: NVCC

Phù hợp với lập trường của Việt Nam về Biển Đông

Theo ông, nội dung nào là đáng chú ý nhất trong tuyên bố ngày 13.7 của Bộ Ngoại giao Mỹ?

– Tôi cho rằng, nội dung trong tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ đều rất mạnh mẽ, thẳng thắn và quan trọng. Tuy nhiên, những nội dung dưới đây là đáng chú ý nhất:

Thứ nhất, các yêu sách của Bắc Kinh với nguồn tài nguyên ngoài khơi tại hầu hết Biển Đông, cũng như chiến dịch bắt nạt để kiểm soát các nguồn tài nguyên đó, là hoàn toàn bất hợp pháp.

Thứ hai, Trung Quốc không có căn cứ pháp lý nào để đơn phương áp đặt ý chí của họ lên khu vực với yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý.

Thứ ba, Trung Quốc không thể khẳng định một cách hợp pháp một yêu sách hàng hải – bao gồm bất cứ vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) nào từ bãi Scarborough và quần đảo Trường Sa. Vì thế, Mỹ bác bỏ bất kỳ yêu sách hàng hải nào của Trung Quốc với các vùng biển quanh bãi Tư Chính (ngoài khơi Việt Nam), cụm bãi Luconia (ngoài khơi Malaysia), vùng biển thuộc EEZ của Brunei và Natuna Besar (ngoài khơi Indonesia). Bất cứ hành động nào của Trung Quốc nhằm quấy rối hoạt động đánh bắt cá hay phát triển dầu khí của các quốc gia khác trong những vùng biển này – hay đơn phương thực hiện các hành động đó – đều là bất hợp pháp.

Thứ tư, thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông như đế chế hàng hải của riêng mình. Mỹ ủng hộ các đồng minh và đối tác tại Đông Nam Á trong bảo vệ quyền chủ quyền với các nguồn tài nguyên ngoài khơi, thống nhất với các quyền và nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế. Mỹ ủng hộ cộng đồng quốc tế trong bảo vệ tự do trên biển và tôn trọng chủ quyền, và bác bỏ bất cứ đòi hỏi nào nhằm áp đặt “chân lý thuộc về kẻ mạnh” ở Biển Đông hoặc ở khu vực rộng lớn hơn.

Nội dung trong tuyên bố của Mỹ đã bác bỏ hầu hết những yêu sách phi lý mà Trung Quốc áp đặt trên Biển Đông. Các điểm nêu trên trong tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ phù hợp với luật pháp quốc tế và cũng phù hợp với lập trường của Việt Nam về Biển Đông nói chung, đặc biệt là trong Công hàm số 22/HC-2020 mà Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc gửi lên Tổng thư ký Liên Hợp Quốc ngày 30.3.2020.

Tuyên bố của Mỹ có tác động như thế nào tới các bên tranh chấp ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam, thưa ông?

– Cần lưu ý, tranh chấp trên Biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước xung quanh Biển Đông khác gồm tranh chấp đảo (vùng lãnh thổ) và tranh chấp biển.

Tranh chấp lãnh thổ hiện chưa được giải quyết thông qua tòa án quốc tế nên Mỹ chủ trương trung lập với vấn đề này. Tuy nhiên, tranh chấp biển về cơ bản đã được giải quyết theo phán quyết của Tòa trọng tài thường trực (PCA) thành lập theo UNCLOS. Tuyên bố của Mỹ chủ yếu dựa trên phán quyết này, UNCLOS và các văn bản luật pháp quốc tế khác nên có giá trị pháp lý rất cao.

Vì Mỹ là cường quốc biển hùng mạnh nhất thế giới, tuyên bố của Mỹ sẽ có tác động rất lớn theo hướng có lợi tới Việt Nam và các quốc gia xung quanh Biển Đông khác trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích quốc gia trên Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế.

Ngay sau tuyên bố của Mỹ, Bộ Quốc phòng Philippines lập tức ra tuyên bố ủng hộ phán quyết của PCA. Ngoài ra, chắc chắn sẽ có nhiều nước khác, nhất là các cường quốc, ra tuyên bố ủng hộ tuyên bố của Mỹ.

Sự đồng thuận quốc tế này sẽ tạo ra những sức ép lớn với Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải dè chừng, thậm chí phải tính toán rất kỹ trước khi xâm phạm vùng biển, cưỡng ép, bắt nạt các nước khác.

Không ai được phép độc chiếm Biển Đông

Theo ông, lập trường của Mỹ về Biển Đông đã thay đổi thế nào trong 25 năm qua?

– Tôi cho rằng, trong 25 năm qua, chính sách của Mỹ với Trung Quốc ở Biển Đông khá nhất quán. Mỹ chưa bao giờ cho rằng một quốc gia nào đó được phép vi phạm luật pháp quốc tế, độc chiếm Biển Đông.

Ngay từ 1995, sau khi Trung Quốc chiếm đóng trái phép Vành Khăn và trước đó, chiếm đóng trái phép một số đảo, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Mỹ kêu gọi các nước giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và khẳng định Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì tự do hàng hải, hàng không, hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Trong những năm sau đó, song hành với những bước leo thang vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, Mỹ cũng tăng cường phê phán và lên án Trung Quốc.

Sau sự kiện Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines năm 2012 và khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 xâm phạm và khoan thăm dò trong vùng biển Việt Nam năm 2014, trong các trao đổi riêng, trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, Mỹ liên tục phản đối các hành động đơn phương, sử dụng sức mạnh để thay đổi nguyên trạng, áp đặt yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, ủng hộ mạnh mẽ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Ngày 10.7.2014, Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết S.RES.412 về Biển Đông, khẳng định sự ủng hộ của Mỹ với quyền tự do hàng hải, hàng không ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và yêu cầu Trung Quốc phục hồi nguyên trạng Biển Đông như trước ngày 1.5.2014.

Khi Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo, Mỹ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải theo đúng quy định của UNCLOS để phủ nhận những tuyên bố chủ quyền trái phép của Trung Quốc.

Đặc biệt, thời gian gần đây, khi Trung Quốc tiếp tục có những hành động leo thang gây căng thẳng, bắt nạt, khảo sát, thăm dò trái phép tại vùng biển các nước xung quanh Biển Đông như Việt Nam, Malaysia, Philippines, Mỹ liên tục lên án Trung Quốc và tăng cường hiện diện quân sự trên Biển Đông.

Thực chất, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ lần này chỉ là tổng hợp và tiếp nối những tuyên bố trước đó của Mỹ về Trung Quốc ở Biển Đông.

]]>
Cuộc chiến 2/1979: Sự thật phơi bày thất bại của TQ https://biendong.net/2019/03/06/cuoc-chien-2-1979-su-that-phoi-bay-that-bai-cua-tq/ Wed, 06 Mar 2019 10:30:57 +0000 http://localhost/wp/2019/03/06/cuoc-chien-2-1979-su-that-phoi-bay-that-bai-cua-tq/ Mâu thuẫn nội bộ, khả năng tác chiến yếu kém là những nguyên nhân khiến Trung Quốc thảm bại trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, xâm lược Việt Nam năm 1979.

 

Trong kỳ trước với tiêu đề:“Cuộc chiến 1979: Trung Quốc tự xếp vào vị trí thứ 3…”chúng ta đã tìm hiểu nguyên nhân vì sao Việt Nam giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc vào tháng 2/1979. Trong kỳ này, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về thất bại của Trung Quốc và nguyên nhân thất bại của Bắc Kinh.

Thiệt hại của hai bên trong cuộc chiến

Sau khi cuộc chiến tranh xâm lược kết thúc, Tướng Ngũ Tu Quyền, Phó tổng tư lệnh Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã tuyên bố rằng, số quân Việt Nam bị thương vong là 50.000, trong khi con số tương ứng của Trung Quốc là 20.000.

Một số nguồn tin khác của Trung Quốc còn tuyên bố chiến thắng vĩ đại của quân đội nước này với tổn thất rất ít là 8.531 người chết và khoảng 21.000 bị thương.

Tuy nhiên, những công bố này đã nhanh chóng bị phản bác bởi chính những cựu quân nhân Trung Quốc và những học giả quốc tế, những phóng viên chiến trường người Liên Xô, người Pháp… đã từng lăn lộn trên biên giới Việt-Trung năm 1979.

Theo nhà sử học người Pháp Gilles Férier viết trong cuốn “Gilles Férier. Les trois guerres d’Indochine” (tạm dịch:“Gilles Férier. Ba cuộc chiến tranh ở Đông Dương”) do Nhà xuất bản Đại học Lyon xuất bản năm 1993, có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút.

Còn Đại tá Russell D. Howard thuộc Học Viện An Ninh Quốc Gia của Không Quân Hoa Kỳ cho rằng, quân Trung Quốc thương vong cỡ 60.000 người, trong đó số thiệt mạng là 26.000. Cuộc chiến tuy ngắn ngày nhưng cũng đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD.

Một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc. Trong đó, nhà nghiên cứu King Chen (Đài Loan, Trung Quốc) cho biết, chỉ tính riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc.

Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam công bố tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người, phía Việt Nam có hàng nghìn binh lính và dân thường chết và bị thương.

Con số này tương đối phù hợp với đánh giá của Tạp chí Time của Mỹ. Theo tạp chí này, có khoảng dưới 10.000 quân nhân Việt Nam thiệt mạng, còn Trung Quốc là trên 20.000.

Theo tuyên bố chính thức của phía Việt Nam, quân đội ta đã diệt 62.500 tên địch (bình quân mỗi ngày có 1 trung đoàn Trung Quốc bị loại khỏi vòng chiến); phá hủy 280 xe tăng, xe thiết giáp và 270 xe quân sự các loại, 115 khẩu pháo cối và dàn phóng hỏa tiễn các loại. Trung Quốc đã tiêu hao mất 1,06 triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu viên đạn cá nhân.

Mặt trận Lạng Sơn:Diệt 19.000 lính Trung Quốc, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn (có hơi khác biệt so với kí sự Sư đoàn Sao Vàng).

Mặt trận Cao Bằng:Diệt 18.000 lính Trung Quốc, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn.

Mặt trận Hoàng Liên Sơn(Khi đó bao gồm Lào Cai và Yên Bái, chiến sự chỉ diễn ra ở Lào Cai): Diệt 11.500 lính Trung Quốc, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn.

Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên:(Khi đó gồm Hà Giang và Tuyên Quang, chiến sự diễn ra ở Hà Giang) diệt 14.000 lính Trung Quốc, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch.

Tuy nhiên, để có được những thắng lợi đó, cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về quân sự và kinh tế cho Việt Nam, mà hậu quả của nó chúng ta đã phải mất tới hàng chục năm mới khắc phục được.

Các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường (Lào Cai) bị hủy diệt hoàn toàn, khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên ải bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống; 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp.

Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia.

Nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy, gây khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này. Các cơ sở hạ tầng 6 tỉnh biên giới bị tàn phá rất lâu mới khôi phục được, đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Ngoài ra, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do chính sách thù địch, vây hãm mà Trung Quốc và những đồng minh mới của Bắc Kinh gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Những nguyên nhân thất bại của Trung Quốc

Sự chia rẽ trong nội bộ Trung Quốc

Tác giả Edward C. O’Dowd đã nhận xét trong cuốn sách “Chiến lược quân sự Trung Quốc trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ 3” rằng, chính sách dân vận của quân đội Trung Quốc đã thất bại trước tinh thần yêu nước, thấm nhuần tư tưởng chính trị, sự giỏi chịu đựng, không dễ bị lung lạc của quân dân Việt Nam.

Chiến tranh tâm lý của Bắc Kinh với lực lượng phòng thủ của Việt Nam cũng thất bại. Trong suốt cuộc chiến, không có đơn vị nào của Việt Nam rã đám mà ngược lại, càng ngày càng đánh trả quân Trung Quốc quyết liệt hơn.

Tựu chung lại, những đánh giá của các học giả nước ngoài tuy vẫn chưa liên hệ đến chiều sâu lịch sử văn hóa Việt Nam-Trung Quốc, chưa bao quát và chỉ ra được cốt lõi của vấn đề là: Bắc Kinh đã thất bại vì họ lại một lần nữa tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa với nước ta.

Xuyên suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử, lịch sử của cả 2 nước đều thể hiện rõ ràng một sự thật: Việt Nam chưa bao giờ là bên chủ động gây chiến mà ngược lại, Trung Quốc đã hàng chục lần huy động đại quân tấn công xâm lược đất nước nhỏ bé ở phương Nam, nhưng đều thảm bại.

Những hành động tàn phá, giết chóc dân thường, cũng như ngược đãi tù binh của quân Trung Quốc đã khiến cuộc chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc núp dưới chiêu bài “Chiến tranh phản kích tự vệ” chống “Tiểu bá Việt Nam”, nhanh chóng bị lật tẩy là một cuộc chiến tranh xâm lược, bị cộng đồng quốc tế lên án, ngay cả một số nhà lãnh đạo và đông đảo nhân dân nước này phản đối.

 

Nội bộ Trung Quốc chia rẽ vì cuộc chiến tranh xâm lược năm 1979 (Ảnh: Cựu binh Trung Quốc 1979 biểu tình đòi quyền lợi sau chiến tranh)

Mâu thuẫn trong tầng lớp lãnh đạo chính trị và quân sự

Giáo sư Đại học Harvard Ezra Feivel Vogel trong cuốn “Thời đại Đặng Tiểu Bình” do Nhà xuất bản Đại học Trung Văn – Hồng Kông đã cho biết, Đặng bị nhiều Ủy viên quân ủy trung ương phản đối, bao gồm cả Nguyên soái Diệp Kiếm Anh và Đại tướng Túc Dụ, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội.

Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (lúc đó là Chủ tịch nước-Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, tức nhân vật số 2 của Trung Quốc) đã chỉ trích mục đích của cuộc chiến là báo thù hộ Mỹ: “Mỹ muốn báo thù Việt Nam bằng máu Trung Quốc. Không được dùng máu của người Trung Quốc để phục hận cho người Mỹ…”.

Ông cho rằng, cuộc chiến này chẳng khác gì sự kiện Gia Cát Lượng năm lần bảy lượt Bắc phạt Tư Mã Ý [thời Tam Quốc] và chỉ rõ rằng, Trung Quốc không thể đánh thắng một đội quân cơ động ngay trong nhà của họ.

Ngay cả nhà lãnh đạo số 1 Trung Quốc lúc bấy giờ là Hoa Quốc Phong vốn không đồng tình, nhưng không cưỡng nổi uy thế của Đặng Tiểu Bình, nên sau này, cho dù khi thấy được tính chất nghiêm trọng của cuộc chiến nhưng ông cũng không thể chống lại.

Thậm chí ông Trương Thắng, Cục trưởng Cục Tác chiến (con trai nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trương Ái Bình) cũng thừa nhận trong hai cuốn sách “Đi ra từ chiến tranh” và “Đặc công cuối cùng náu mình ở Đại lục” rằng, ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng khi đó cũng không rõ vì sao ta phải tiến hành cuộc chiến tranh ấy.

Một số quan chức cấp cao trong quân đội cũng như ngoài dân sự cho rằng việc đánh Việt Nam là không khôn ngoan, một số khác công khai phản đối việc tấn công một nước láng giềng xã hội chủ nghĩa. Một số thì lo ngại xung đột sẽ dẫn tới hậu quả là Việt Nam thù địch lâu dài với Trung Quốc.

10 năm sau, Thượng tướng Trần Tích Liên, nguyên là Tư lệnh Binh chủng pháo binh, Tư lệnh Đại Quân Khu Thẩm Dương, Tư lệnh Đại Quân khu Bắc Kinh, nguyên Phó Thủ tướng Trung Quốc đã thẳng thắn tuyên bố rằng: “…đây là cuộc chiến dốt nát, là cuộc chiến ngu xuẩn, là cuộc chiến điên rồ, lính chết đầy ra đấy nhưng không ai dám kêu oan”.

Cuộc chiến tranh không rõ nguyên nhân, mục đích

Vào thời điểm năm 1979, mặc dù đã được đả thông tư tưởng bằng những cuộc diễn thuyết vu cáo Việt Nam đàn áp người Hoa, xâm lấn biên giới Trung Quốc… nhưng phần lớn binh lính và sĩ quan cấp thấp đều không hiểu rõ mục đích của cuộc chiến tranh.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, hàng chục năm sau những cựu binh và người dân Trung Quốc vẫn không hiểu nổi cuộc vì sao phải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và cuộc chiến này rốt cuộc là nhằm mục đích gì.

Một cựu binh Trung Quốc tự xưng là “Tây Hồ kiếm khách” đã viết bài “Chiến tranh Phản kích Tự vệ chống Việt Nam – một cuộc chiến tranh gây tranh cãi” trên trang mạng “Tianya.cn” của Trung Quốc ngày 6/4/2012.

“Tây Hồ kiếm khách” nêu lên “11 vấn đề bên trong cuộc chiến tranh cần được làm sáng tỏ” mà vấn đề đầu tiên chính là yếu tố được đánh giá quan trọng nhất trong mỗi cuộc chiến tranh, đó là “Vì sao phải tiến hành cuộc chiến tranh với Việt Nam?”. Tác giả cho rằng, về nguyên nhân gây chiến, đến nay vẫn chưa được giải thích công khai, rõ ràng.

“Một cuộc chiến tranh vô nghĩa, kỳ quặc” là tiêu đề bài viết khác của một cựu binh Trung Quốc khác đăng trên trang tin điện tử “Thiết Huyết” (Tiexue.net) ngày 18/7/2013.

Tác giả viết: “Chiến tranh Triều Tiên chúng ta đạt được lợi ích là kìm chế quân Mỹ ở phía Nam vĩ tuyến 38; Chiến tranh Giải phóng, chúng ta giải phóng được Trung Quốc đại lục. Tôi thực sự không hiểu trong cuộc chiến tranh kỳ quặc năm 1979, rốt cục Trung Quốc đạt được cái gì? Chả được gì cả!”.

Trong bài viết có tiêu đề “Nhìn lại Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam” trên báo mạng “Botanwang.com” ngày 30/5/2013, tác giả Thường Thanh viết rằng, chiến tranh Việt-Trung năm 1979 có lẽ là cuộc chiến khiến mọi người Trung Quốc hiểu biết sự thật khó mở miệng nhất trong mọi cuộc chiến tranh với nước ngoài kể từ năm 1949…

Tác giả cho biết, ngay khi thấy hàng ngũ trùng điệp những chàng trai Trung Quốc tuổi 18-20 kéo ra tiền tuyến, đã có rất nhiều người nghĩ khác với chính quyền về giá trị của cuộc chiến tranh này.

  

Những người lính Trung Quốc không hiểu gì về mục đích của cuộc chiến 1979 (Ảnh: Tù binh Trung Quốc)

Một điều bất thường là khi chiến tranh kết thúc chả ai biết, cũng không có cảnh cả nước ăn mừng thắng lợi, chỉ biết nó đã kết thúc rồi… và sau đó là hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ được xây dựng san sát trong các nghĩa trang ở biên giới Tây Nam.

Theo tác giả, đa phần những người ngã xuống đã không biết mình đổ máu vì cái gì và sở dĩ chiến tranh kết thúc mà không ai ăn mừng bởi chính quyền không thể nói rõ ràng cho quốc dân về tính chất của cuộc chiến tranh đó.

Trong dân chúng cũng có nhiều người hoài nghi về cuộc chiến tranh này. Nhiều báo tường chữ lớn ở Bắc Kinh ví dụ như trên tường ở khu Tây Đơn (trung tâm thủ đô Bắc Kinh) đã thẳng thắn phê phán Đặng Tiểu Bình và cho rằng Quân đội Trung Quốc đã thất bại thảm hại.

Những yếu kém về tác chiến của quân đội Trung Quốc

Xét trên nhiều phương diện, trong cuộc chiến tranh này, Quân đội Trung Quốc phải trả cái giá thê thảm nặng nề. Kế hoạch ngông cuồng “chiếm 5 tỉnh thành lớn của Việt Nam sau 1 tuần, thậm chí đánh đến Hà Nội” của Đặng Tiểu Bình cùng các tướng lĩnh thân tín bị nhanh chóng thất bại.

Những yếu kém về tác chiến của quân Trung Quốc được đánh giá ở những điểm như sau:

Một là: Không nắm được khả năng tác chiến của đối thủ

Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cho thấy, Trung Quốc đã không lường trước được sự khó khăn khi triển khai cuộc chiến tranh xâm lược đối với một nước có thế trận chiến tranh nhân dân sáng tạo.

Thiếu thốn thông tin từ lâu về một đồng minh truyền thống đã là một thách thức lớn cho việc lập kế hoạch chiến tranh và kế hoạch tác chiến của Bắc Kinh. Mặc dù trước chiến tranh một thời gian, Trung Quốc đã cử nhiều thám báo, gián điệp sang nằm vùng, nắm tình hình nhưng điều đó là không đủ.

Do đó, trước khi tấn công Việt Nam, Quân đội Trung Quốc nắm được rất ít binh pháp và chiến thuật tác chiến chính quy cũng như nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, dẫn đến đánh giá thấp và không đầy đủ khả năng chiến đấu của đối thủ.

 

Sau khi cuộc chiến kết thúc, hàng chục năm sau những cựu binh và người dân Trung Quốc vẫn không hiểu nổi cuộc vì sao phải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và cuộc chiến này rốt cuộc là nhằm mục đích gì.

Một cựu binh Trung Quốc tự xưng là “Tây Hồ kiếm khách” đã viết bài “Chiến tranh Phản kích Tự vệ chống Việt Nam – một cuộc chiến tranh gây tranh cãi” trên trang mạng “Tianya.cn” của Trung Quốc ngày 6/4/2012.

“Tây Hồ kiếm khách” nêu lên “11 vấn đề bên trong cuộc chiến tranh cần được làm sáng tỏ” mà vấn đề đầu tiên chính là yếu tố được đánh giá quan trọng nhất trong mỗi cuộc chiến tranh, đó là “Vì sao phải tiến hành cuộc chiến tranh với Việt Nam?”. Tác giả cho rằng, về nguyên nhân gây chiến, đến nay vẫn chưa được giải thích công khai, rõ ràng.

“Một cuộc chiến tranh vô nghĩa, kỳ quặc” là tiêu đề bài viết khác của một cựu binh Trung Quốc khác đăng trên trang tin điện tử “Thiết Huyết” (Tiexue.net) ngày 18/7/2013.

Tác giả viết: “Chiến tranh Triều Tiên chúng ta đạt được lợi ích là kìm chế quân Mỹ ở phía Nam vĩ tuyến 38; Chiến tranh Giải phóng, chúng ta giải phóng được Trung Quốc đại lục. Tôi thực sự không hiểu trong cuộc chiến tranh kỳ quặc năm 1979, rốt cục Trung Quốc đạt được cái gì? Chả được gì cả!”.

Trong bài viết có tiêu đề “Nhìn lại Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam” trên báo mạng “Botanwang.com” ngày 30/5/2013, tác giả Thường Thanh viết rằng, chiến tranh Việt-Trung năm 1979 có lẽ là cuộc chiến khiến mọi người Trung Quốc hiểu biết sự thật khó mở miệng nhất trong mọi cuộc chiến tranh với nước ngoài kể từ năm 1949…

Tác giả cho biết, ngay khi thấy hàng ngũ trùng điệp những chàng trai Trung Quốc tuổi 18-20 kéo ra tiền tuyến, đã có rất nhiều người nghĩ khác với chính quyền về giá trị của cuộc chiến tranh này.

  

Những người lính Trung Quốc không hiểu gì về mục đích của cuộc chiến 1979 (Ảnh: Tù binh Trung Quốc)

Một điều bất thường là khi chiến tranh kết thúc chả ai biết, cũng không có cảnh cả nước ăn mừng thắng lợi, chỉ biết nó đã kết thúc rồi… và sau đó là hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ được xây dựng san sát trong các nghĩa trang ở biên giới Tây Nam.

Theo tác giả, đa phần những người ngã xuống đã không biết mình đổ máu vì cái gì và sở dĩ chiến tranh kết thúc mà không ai ăn mừng bởi chính quyền không thể nói rõ ràng cho quốc dân về tính chất của cuộc chiến tranh đó.

Trong dân chúng cũng có nhiều người hoài nghi về cuộc chiến tranh này. Nhiều báo tường chữ lớn ở Bắc Kinh ví dụ như trên tường ở khu Tây Đơn (trung tâm thủ đô Bắc Kinh) đã thẳng thắn phê phán Đặng Tiểu Bình và cho rằng Quân đội Trung Quốc đã thất bại thảm hại.

Những yếu kém về tác chiến của quân đội Trung Quốc

Xét trên nhiều phương diện, trong cuộc chiến tranh này, Quân đội Trung Quốc phải trả cái giá thê thảm nặng nề. Kế hoạch ngông cuồng “chiếm 5 tỉnh thành lớn của Việt Nam sau 1 tuần, thậm chí đánh đến Hà Nội” của Đặng Tiểu Bình cùng các tướng lĩnh thân tín bị nhanh chóng thất bại.

Những yếu kém về tác chiến của quân Trung Quốc được đánh giá ở những điểm như sau:

Một là: Không nắm được khả năng tác chiến của đối thủ

Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cho thấy, Trung Quốc đã không lường trước được sự khó khăn khi triển khai cuộc chiến tranh xâm lược đối với một nước có thế trận chiến tranh nhân dân sáng tạo.

Thiếu thốn thông tin từ lâu về một đồng minh truyền thống đã là một thách thức lớn cho việc lập kế hoạch chiến tranh và kế hoạch tác chiến của Bắc Kinh. Mặc dù trước chiến tranh một thời gian, Trung Quốc đã cử nhiều thám báo, gián điệp sang nằm vùng, nắm tình hình nhưng điều đó là không đủ.

Do đó, trước khi tấn công Việt Nam, Quân đội Trung Quốc nắm được rất ít binh pháp và chiến thuật tác chiến chính quy cũng như nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, dẫn đến đánh giá thấp và không đầy đủ khả năng chiến đấu của đối thủ.

 
 
 
]]>
Chiến tranh biên giới 2/1979: Những bài học lớn https://biendong.net/2019/03/01/chien-tranh-bien-gioi-2-1979-nhung-bai-hoc-lon/ Fri, 01 Mar 2019 03:00:19 +0000 http://localhost/wp/2019/03/01/chien-tranh-bien-gioi-2-1979-nhung-bai-hoc-lon/ Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới Việt-Trung 40 năm trước (17/02/1979) đã đem lại cho Việt Nam nhiều bài học lớn.

40 năm trước đây, vào ngày 17/2/1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã bất ngờ huy động hơn 60 vạn quân mở cuộc tấn công xâm lược trên toàn tuyến biên giới Việt-Trung; bất chấp việc thời điểm đó là 2 nước là anh em trong Khối Xã hội Chủ nghĩa nên một cuộc chiến tranh giữa hai bên sẽ trở thành một biến cố cực lớn trong khối, dẫn đến sự rạn nứt nội khối và sự thay đổi cả về nền tảng lí luận ý thức hệ.

Vậy những nguyên nhân sâu xa nào đã thúc đẩy Trung Quốc đi đến quyết định tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam gây chấn động thế giới, được phương Tây mô tả là “Cuộc chiến tranh đỏ” hay “Cuộc chiến cùng ý thức hệ”?

Điều này có phải đơn thuần là xuất phát chủ yếu từ giấc mộng bá quyền của nhà cầm quyền Bắc Kinh và tư tưởng “cậy lớn bắt nạt bé” được “di truyền” lại suốt lịch sử hay không?

Thực chất, đây không phải là một nguyên nhân, mà nó là định hướng tư tưởng xuyên suốt của giới cầm quyền Bắc Kinh. Việc Trung Quốc xua quân xâm lược Việt Nam bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa khác, có liên quan đến quan hệ quốc tế chứ không gói gọn trong quan hệ song phương giữa hai nước.

Quan hệ Trung-Mỹ: Sự ngã giá…

 

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979 gắn liền với tư tưởng cải cách mở cửa của Trung Quốc, với sự giúp đỡ đắc lực của Hoa Kỳ. Thực chất là sự ngã giá của Bắc Kinh với Washington đổi lấy 10 năm Mỹ hỗ trợ Trung Quốc cải cách và phát triển lớn mạnh.

Sau khi đánh đổ bè lũ 4 tên và trở lại cầm quyền năm 1977, Đặng Tiểu Bình ấp ủ kế hoạch “Bốn hiện đại hoá” kinh tế và mở cửa ra thế giới bên ngoài, đưa Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu vào cuối thế kỷ.

Theo sách lược này, Hoa Kỳ được xem là tấm gương để học tập các ý tưởng và công nghệ tiên tiến, đồng thời là tấm gương thích hợp nhất về hiện đại hoá. Ông Đặng Tiểu Bình tin rằng, nếu Bắc Kinh mở cửa với các nước khác nhưng cự tuyệt Washington thì chính sách mới sẽ không có hiệu quả.

Do đó, muốn “Cải cách, mở cửa” có hiệu quả thì phải bắt tay với Mỹ, tận dụng nguồn vốn và kỹ thuật của phương Tây để tăng tốc độ phát triển. Thế nhưng, trở ngại chính giữa hai bên là “lòng tin” và Đặng Tiểu Bình đã quyết định mở cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam để chứng minh “thành ý” với Mỹ.

Sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hợp tác Hữu nghị (tháng 11/1978), Trung Quốc hạ quyết tâm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam để xây dựng lòng tin với “đồng minh mới”.

Vào ngày 15/12/1978, Mỹ và Trung Quốc công bố việc bình thường hoá quan hệ từ ngày 01/01/1979 và một tháng sau Đặng Tiểu Bình đã sang thăm Mỹ. Bắc Kinh đã nhận được những cam kết giúp đỡ của Washington trong việc theo dõi động tĩnh quân sự của Liên Xô và Việt Nam, đồng thời sẽ không lên án hoặc ra nghị quyết phản đối Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc.

Với cam kết của Washington, Đặng Tiểu Bình triệu tập cuộc họp quân uỷ Trung ương vào ngày 10/2/1979, ra quyết định tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, nhằm “dạy cho Việt Nam bài học”, khoác dưới cái vỏ bọc mỹ miều là “Cuộc chiến tranh phản kích tự vệ”..

Quan hệ Trung-Xô: Mượn Liên Xô làm công cụ phát triển

Để hiểu được bản chất mối quan hệ Xô-Trung, vấn đề đầu tiên chúng ta cần phải bàn đến là “thực chất về tư tưởng Xã hội Chủ nghĩa và con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội của nhà cầm quyền Bắc Kinh” (được mô tả là “theo màu sắc Trung Quốc”, hay “đặc sắc của Trung Quốc”).

Cuộc xâm lược được Bắc Kinh được tiến hành trên hai hướng. Cánh đông do Thượng tướng Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou), Tư lệnh Đại quân khu Quảng Châu chỉ huy có 18 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 3 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị dân binh.

Hỗ trợ cho hướng này là 6 trung đoàn xe tăng, 2 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không. Cánh quân này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh của Việt Nam, trong đó trọng điểm là Cao Bằng và Lạng Sơn.

Chien tranh 1979: Bo doi dia phuong doi dau quan banh truong

Cánh tây do Thượng tướng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), Tư lệnh Đại quân khu Vũ Hán chỉ huy có 10 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 4 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị dân binh. Hỗ trợ cho hướng này là 1 trung đoàn xe tăng, 1 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không.

Lực lượng này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai), Lai Châu của Việt Nam, trong đó trọng điểm là Hoàng Liên Sơn.

Đương đầu với đạo quân xâm lược hùng hậu của Trung Quốc là các lực lượng vũ trang tại chỗ cùng nhân dân 6 tỉnh biên giới Việt Nam.

Đóng góp vào thế trận phòng thủ chung trên địa bàn 6 tỉnh biên giới còn có các đơn vị binh chủng (pháo cối, ĐKZ, cao xạ, trinh sát, công binh, thông tin, quân y, vận tải) của các BCHQS tỉnh và huyện, thị; lực lượng công an, cảnh sát và đông đảo dân quân, tự vệ ở khắp các làng bản, huyện thị, nông lâm trường và nhà máy xí nghiệp… được tổ chức ở quy mô từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn.

Diễn biến đến ngày 17/2/1979

 

Từ tháng 1-1979, đối phương bắt đầu ráo riết đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang dọc biên giới. Chỉ trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, phía Trung Quốc đã gây ra 230 vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn, khiêu khích cho tới phục kích, giết hại, bắt cóc người đưa về Trung Quốc, tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của công an, dân quân Việt Nam cũng như các cơ sở sản xuất của nhân dân.

Theo số liệu thống kê của lực lượng biên phòng Việt Nam, trong những vụ xâm phạm này, lính Trung Quốc đã giết hại trên 40 dân thường và chiến sĩ, làm bị thương hàng trăm người và bắt đi hơn 20 người.

Đặc biệt có những vụ diễn ra sâu trong lãnh thổ Việt Nam tới 5km như vụ tập kích trạm gác của dân quân ở Bản Lầu (Hoàng Liên Sơn) ngày 14/1, có những vụ quy mô lớn như huy động 1 tiểu đoàn chính quy tấn công bình độ 400 ở Thanh Lòa, Cao Lộc (Lạng Sơn) ngày 10/2, có những vụ pháo kích lớn đã sử dụng cả tới pháo 85mm, súng cối, ĐKZ… Cùng với đó là hàng chục lần tốp máy bay và tàu thuyền xâm phạm vùng trời, vùng biển của Việt Nam.

Rạng sáng ngày 17/2/1979, pháo binh Trung Quốc bất ngờ khai hỏa bắn phá các mục tiêu trong lãnh thổ Việt Nam, mở màn cuộc xâm lược. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân Việt Nam chính thức bắt đầu.

Trên mặt trận Lai Châu

Trên mặt trận Lai Châu, phía Trung Quốc sử dụng Sư đoàn bộ binh 31 Quân đoàn 11 và Sư đoàn bộ binh 33 địa phương quân Vân Nam, tổ chức thành 2 mũi tiến công. Mũi chủ công đảm nhiệm tiến công Ma Ly Pho, Pa Nậm Cúm vào ngã ba Phong Thổ. Mũi thứ hai tiến công từ Huổi Luông, Pa Tần (Sìn Hồ). Ngoài ra địch còn sử dụng một lực lượng đánh chiếm khu vực bắc Dào San và Mù San (Phong Thổ).

Trước tình hình này, Bộ tư lệnh Quân khu 2 điều động lực lượng của Trung đoàn 98 Sư đoàn 316 và Trung đoàn 46 Sư đoàn 326 tăng cường cho khu vực phòng thủ Pa Tần. Tại đây chiến sự diễn ra ác liệt, hai bên giành giật từng điểm chốt như ở cao điểm 805, 551 hay 553 bắc Pa Tần.

Sau nhiều đợt tiến công liên tục, ngày 3-3, quân Trung Quốc chiếm được Thị trấn Phong Thổ, Pa Tần và đến 5/3 chiếm được Dào San. Đến 10/3 trên mặt trận Lai Châu địch rút về bên kia biên giới.

 

Trên hướng Quảng Ninh, ngày 17/2/1979, quân Trung Quốc huy động một bộ phận địa phương quân, biên phòng, dân binh của tỉnh Quảng Tây tiến đánh một số trận địa phòng ngự do các đơn vị thuộc Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Trung đoàn 43 và 244 bộ đội địa phương, Đồn biên phòng Pò Hèn… đảm nhiệm ở khu vực Hoành Mô, Đồng Văn (Bình Liêu), Thán Phún (Hải Ninh) và pháo kích vào Thị xã Móng Cái.

Trong các trận tiến công này địch chiếm được bình độ 300, Đồn Pò Hèn và điểm cao 1050 Cao Ba Lanh nhưng đến chiều 19/2 ta phản kích khôi phục lại trận địa 1050.

Ngày 26/2, địch mở đợt tiến công mới nhằm vào khu vực chốt của Trung đoàn 288 Sư đoàn 325B ở điểm cao 1050, 585, đồi Cây Xanh, đồi Không Tên… và ngày 28/2 đánh vào trận địa Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B ở điểm cao 500, 600, 781, đồi Khẩu Hiệu… Các đợt tiến công này đều bị đánh bại.

Ngày 28/2, Tư lệnh Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Quảng Ninh do Thiếu tướng Nguyễn Sùng Lãm mới được cử về làm Phó tư lệnh quân khu đứng đầu.

Ngày 1/3, quân Trung Quốc đồng loạt tiến công vào các điểm tựa của Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Tiểu đoàn 130 Bình Liêu, Đồn biên phòng Hoành Mô, Đồng Văn, Móng Cái và Đại đội 6 công an vũ trang… chiếm được đồn Hoành Mô và một phần điểm cao 600 và 781 nhưng bị chặn lại trên các hướng khác.

Ngày 4/3, địch tập trung đánh chiếm điểm cao 1050 nhưng một lần nữa bị đẩy lui với thiệt hại nặng nề. Cũng trong ngày hôm đó Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B phản kích lấy lại điểm cao 600 và 781. Đến đây, mọi nỗ lực tấn công vào tuyến biên giới Quảng Ninh của Trung Quốc đã chính thức bị bẻ gãy.

Ngày 5/3, Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Chiến sự trên hướng Quảng Ninh tạm thời chấm dứt.

Trên mặt trận Hà Tuyên

Hà Tuyên là hướng phối hợp, địch không tiến công lớn mà chỉ sử dụng Trung đoàn biên phòng 12 và dân binh Tỉnh Vân Nam đánh vào các chốt của ta ở Xã Thượng Phùng, Lũng Làn (Mèo Vạc), Lũng Cú, Ma Ly (Đồng Văn), Nghĩa Thuận (Quản Bạ), Thanh Thủy, Lao Chải (Vị Xuyên), Bản Păng, Bản Máy (Xìn Mần), Na Khê (Yên Minh).

 

Tại đây bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ đã phối hợp chặn địch. Ngoài ra lực lượng vũ trang Hà Tuyên còn chủ động tổ chức một số trận đánh ngay vào vị trí xuất phát tiến công của đối phương như trận đánh ngày 23/2 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122 vào điểm cao 1875 hoặc trận ngày 25/2 của Tiểu đoàn 1 Mèo Vạc tập kích địch đột nhập Xã Thượng Phùng và tập kích Đồn Hoà Bình.

Từ 4/3, để hỗ trợ cho hai cánh quân trên hướng Hoàng Liên Sơn và Lai Châu, ở Hà Tuyên địch đẩy mạnh các hoạt động tiến công cấp đại đội, tiểu đoàn nhằm vào các đồn biên phòng và các xã biên giới:

Ngày 5/3 tiến công đồn Lũng Làn và điểm cao 1379 Phìn Lò (Mèo Vạc), ngày 6 và 7/3 đánh Bản Păng, Bản Máy (Xín Mần); ngày 8 và 9/3 đánh Phó Bảng (Đồng Văn); ngày 11/3 tiến công khu vực Lao Chải (Vị Xuyên); ngày 13/3 tiến công điểm tựa của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122… đều bị đẩy lui.

Đến ngày 14/3 chiến sự tạm dừng. Trong đợt chiến đấu này lực lượng vũ trang Hà Tuyên đã tham gia chiến đấu 61 trận, có 1 cá nhân và 1 đơn vị công an biên phòng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Theo công bố chính thức, trên cả ba mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên, các lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến 14.000 quân Trung Quốc (trong đó Hà Tuyên tiêu diệt khoảng 1.000 địch), đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch, phá hủy 4 xe tăng và 6 xe quân sự.

(còn tiếp)

]]>
Cuộc chiến 2/1979: Lính TQ không biết chiến đấu vì cái gì https://biendong.net/2019/03/01/cuoc-chien-2-1979-linh-tq-khong-biet-chien-dau-vi-cai-gi/ Fri, 01 Mar 2019 01:30:15 +0000 http://localhost/wp/2019/03/01/cuoc-chien-2-1979-linh-tq-khong-biet-chien-dau-vi-cai-gi/ Có cựu binh Trung Quốc đã từng thừa nhận, trong cuộc chiến năm 1979, họ không hiểu được mình đã đổ máu vì cái gì, để đạt mục đích gì!


Trung Quốc tung hô chiến thắng nhưng lòng đầy cay đắng

Suốt 40 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, mỗi năm giới truyền thông Trung Quốc đều có đến 600-800 bài báo viết về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng 02 năm 1979.

Mặc dù đông đảo các chính khách và học giả các nước đều nhận định, cuộc chiến năm 1979 là “Chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam” và “Trung Quốc đã thất bại thảm hại”, nhưng từ lịch sử cho đến văn học Trung Quốc đều viết theo một nội dung được định hướng sẵn là “Bắc Kinh chỉ tự vệ trước Hà Nội” và “Trung Quốc là người chiến thắng”, khiến một bộ phận lớp trẻ nước này hiểu sai lệch về bản chất của cuộc chiến.

Tuy nhiên, theo thời gian, sự thật đã được làm sáng tỏ. Lịch sử là một dòng chảy khách quan và bất tận, không thể dễ dàng như xé bỏ một trang viết này hay viết lại một trang kia.

Những tài liệu nội bộ của Bắc Kinh bị rò rỉ, được giới học giả và chính các cựu quan chức Trung Quốc công bố trong thời gian gần đây đã phơi bày sự thật về “sự chính nghĩa” và “chiến thắng của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.

 Không chỉ những học giả nước ngoài mà ngay cả trong giới chức lãnh đạo của nước này như Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh…, tuy bề ngoài vẫn tuyên bố là “chiến thắng”, “đạt mục đích đề ra” nhưng trong nội bộ cũng đã buộc phải thừa nhận thất bại cay đắng của quân đội Trung Quốc.

Theo bản dịch bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình trong hội nghị quân chính nội bộ ngày 16/3/1979, của ông Dương Danh Dy (nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu từ 1993 đến 1996) dịch vào năm 2011, Đặng Tiểu Bình đã bày tỏ thái độ “rất không hài lòng” về kết quả yếu kém của cuộc chiến tranh xâm lược.

Đặng Tiểu Bình chỉ trích gay gắt các quan chức chính quyền và các lãnh đạo quân đội: “Đánh lần này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1…” nhưng “…thương vong của chúng ta gấp 4 lần so Việt Nam, thần thoại của chúng ta đã bị hủy diệt” (ý nói về uy thế của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc).

Theo Giáo sư Đại học Harvard Ezra Feivel Vogel viết trong cuốn “Thời đại Đặng Tiểu Bình” do Nhà xuất bản Đại học Trung Văn Hồng Kông xuất bản, Đặng bị nhiều Ủy viên Quân ủy Trung ương phản đối, bao gồm cả nhà lãnh đạo Hoa Quốc Phong, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh và Đại tướng Túc Dụ, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội.

Trong bài viết “Có phải hành động ‘trừng phạt’ của Trung Quốc thất bại hay không?”, được xuất bản tháng 4/2013, cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger cũng xác nhận thái độ bất đồng của Hoa Quốc Phong, lãnh đạo cao nhất Trung Quốc, với Đặng Tiểu Bình.

Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (lúc đó là Chủ tịch nước-Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, tức nhân vật số 2 của Trung Quốc) vốn đã bất bình nói rằng: “Diễu võ dương oai đánh Việt Nam thì được gì? Không khác gì Gia Cát Lượng Bắc phạt Tư Mã Ý, đánh vào nơi nào và làm sao đánh thắng được?”.

Ông Diệp còn cho rằng, Trung Quốc không thể đánh thắng một đội quân cơ động ngay trong nhà của họ và chỉ trích “Mỹ muốn báo thù Việt Nam bằng máu Trung Quốc. Không được dùng máu của người Trung Quốc để phục hận cho người Mỹ…”

Ông Trương Thắng, Cục trưởng Cục Tác chiến (con trai nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trương Ái Bình) đã thừa nhận trong hai cuốn sách “Đi ra từ chiến tranh” và “Đặc công cuối cùng náu mình ở Đại lục” rằng, ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng khi đó cũng không rõ vì sao Trung Quốc phải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Còn Thượng tướng Trần Tích Liên, nguyên Tư lệnh Lực lượng pháo binh, nguyên Tư lệnh Đại Quân Khu Thẩm Dương, nguyên Tư lệnh Đại Quân khu Bắc Kinh, nguyên Phó Thủ tướng Trung Quốc đã chỉ trích kịch liệt cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc năm 1979.

Thượng tướng Trần Tích Liên là một trong số lãnh đạo cao cấp nhất của quân đội Trung Quốc cũng phải thừa nhận chiến xâm lược Việt Nam năm 1979 đã thất bại thảm hại, trong cuốn sách “Trong nội bộ Đảng cần để mọi người phát biểu, nói lên sự thực” xuất bản tháng 1/1988.

Ông này tuyên bố, nên tránh tung hô thái quá, thực sự trung thực trong tuyên truyền, phải thực sự cầu thị khi tổng kết các chiến lệ trong chiến tranh, tránh tâng bốc, không được sợ lãnh đạo mà không dám nói và cũng không nên nể người đã mất (Hứa Thế Hữu chết năm 1985) mà bỏ qua không nói.

“Nếu nói tuyến phía Đông trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung, thì Hứa Thế Hữu là tên điên, là kẻ làm càn, mê muội, nói vậy có đồng chí nào phản đối không? Ba quân đoàn, mười mấy sư đoàn, 60% là bộ binh cơ giới, khi đột phá trung tâm thì một tuyến phòng ngự cũng không có, để cuối cùng bị phản kích đánh cho thảm hại”.

 Vị thượng tướng này bức xúc nói: “Đây gọi là tác chiến kiểu gì? Là cuộc chiến dốt nát, là cuộc chiến ngu xuẩn, là cuộc chiến điên rồ, lính chết đầy ra đấy nhưng không ai dám kêu oan”.
  

Binh lính Trung Quốc không hiểu mình chiến đấu vì điều gì (Ảnh: Tù binh Trung Quốc và dân quân Việt Nam tại Cao Bằng ngày 26/2/1979)

Những lời nói đầy cay đắng của viên tướng này mới chính là sự thật về “thắng lợi” mà nội bộ Trung Quốc đã từng nói đến.

Sự hoài nghi về mục đích của cuộc chiến không chỉ tồn tại ở thời điểm đó mà nó đã đeo đẳng các cựu binh Trung Quốc gần một phần tư thế kỷ sau, về “Một cuộc chiến tranh gây tranh cãi” hay “Một cuộc chiến tranh vô nghĩa, kỳ quặc” hoặc “Một cuộc chiến không thể hiểu được mục đích”.

Trung Quốc không thể che dấu nhân dân nước mình

Một số học giả đã đúc kết rằng, việc tuyên truyền rùm beng về “cuộc chiến phản kích tự vệ” và “chiến thắng vĩ đại” của quân đội nước này, Trung Quốc đã che dấu mục đích thực sự của cuộc chiến đối với nhân dân nước mình.

Mặc dù bị định hướng bằng 600-800 bài viết mỗi năm về “Cuộc chiến Phản kích Tự vệ”, với nội dung na ná giống nhau về cuộc chiến tranh chống “Tiểu bá Việt Nam”, nhưng Dư luận Trung Quốc vẫn bày tỏ sự nghi ngờ về mục đích thật sự của cuộc chiến, về những thất bại kinh hoàng mà họ phải gánh chịu mà không biết nguyên nhân.

Những cựu binh Trung Quốc và những người có lương tri đã nghĩ rất khác với chính quyền về giá trị và mục đích của cuộc chiến tranh năm 1979.

Một cựu binh Trung Quốc đã cay đắng viết rằng, trái ngược với cảnh hàng ngũ trùng điệp những chàng trai Trung Quốc tuổi 18-20 kéo ra tiền tuyến lúc ban đầu, hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ được xây dựng san sát trong các nghĩa trang ở biên giới Tây Nam Trung Quốc, sau khi cuộc chiến kết thúc. Nhưng khủng khiếp hơn là phần lớn những người ngã xuống đã không biết mình đổ máu vì cái gì, cuộc chiến tranh kết thúc chả ai biết, cũng không có cảnh cả nước ăn mừng thắng lợi, chỉ biết nó đã kết thúc rồi…

Một cựu binh khác thừa nhận rằng, nếu so với các cuộc Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh giải phóng [Trung Quốc], từ thời điểm đó đến nay, chính quyền Bắc Kinh vẫn chưa giải thích công khai, rõ ràng về nguyên nhân gây chiến với Việt Nam.

Phần lớn binh lính và sĩ quan cấp thấp đều không hiểu rõ mục đích của cuộc chiến tranh, không biết họ hy sinh để đạt được mục đích gì. Những thắc mắc đó họ đã không thể nói ra vào thời điểm đó.

]]>