Thâm cung bí sử – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Sun, 14 Dec 2025 14:29:13 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Việt Nam trên báo Mỹ: Cuộc chiến “châu chấu đá voi” ở Việt Nam https://biendong.net/2025/12/14/viet-nam-tren-bao-my-cuoc-chien-chau-chau-da-voi-o-viet-nam/ Sun, 14 Dec 2025 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=161575 Tạp chí Phương Đông giới thiệu tới bạn đọc bài viết của nhà báo Mỹ Neil Sheehan đăng trên báo New York Times tháng 5/2017, trong series bài nhìn lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam vào năm 1967, một năm bản lề của cuộc chiến. Trong bài, tác giả đã sử dụng hình tượng chiến binh David bé nhỏ đối đầu với người khổng lồ Goliath để lý giải vì sao một cường quốc quân sự hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ lại thất bại trước một đối thủ nhỏ bé hơn nhiều về tiềm lực như Việt Nam. Ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để độc giả tham khảo.

Trẻ em Củ Chi tham gia làm chông tre bảo vệ vùng giải phóng, năm 1968.

Có những sự kiện chỉ có thể được hiểu bằng góc nhìn của thời gian. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một ví dụ.

Ngày 21/6/1989, tôi được phỏng vấn một người đàn ông vóc dáng nhỏ nhắn với 4 ngôi sao trên cầu vai của chiếc áo quân phục màu xanh lá. Chúng tôi đang nói chuyện tại nơi từng là dinh thự của Toàn quyền Pháp ở Hà Nội thời thuộc địa. Người đàn ông đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài quân sự Việt Nam đã lãnh đạo đất nước ông đến chiến thắng, đầu tiên là chống lại âm mưu tái lập chế độ thuộc địa của Pháp sau Thế chiến II, sau đó là chống lại sức mạnh vô song của Hoa Kỳ khi sau đó Hoa Kỳ tìm cách chia cắt vĩnh viễn Việt Nam và lập nên một nhà nước chư hầu ở Sài Gòn.

“Những người lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng dũng cảm thôi là chưa đủ”, Đại tướng Giáp nói. “David nhỏ bé giết được gã khổng lồ Goliath không chỉ bởi ông ấy dũng cảm. Ông nhìn lên Goliath và nhận ra rằng nếu ông dùng kiếm tấn công Goliath, hắn sẽ giết chết ông. Nhưng nếu ông nhặt một hòn đá và đặt vào ná, ông có thể bắn vào đầu Goliath, hạ gục và giết chết hắn. David đã sử dụng “cái đầu” khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng vậy khi phải chiến đấu với người Mỹ”.

Đối thủ người Mỹ của Tướng Giáp, Tướng William C. Westmoreland, chắc chắn rằng ông ta nắm trong tay công thức chiến thắng ở Việt Nam. Tướng Westmoreland dường như hội tụ tất cả những gì người ta mong muốn ở một vị tướng chỉ huy. Ông ta cao lớn, đẹp trai và ăn nói lưu loát. Ông đã chỉ huy một trung đoàn không quân chiến đấu xuất sắc trong Chiến tranh Triều Tiên, và đã thu hút sự chú ý của vị tướng được Tổng thống John F. Kennedy yêu mến, Maxwell D. Taylor. Dưới sự bảo trợ của Taylor, Tướng Westmoreland đã giành được quyền chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam.

Tướng Westmoreland khoe khoang rằng ông ta sẽ vắt kiệt máu của người Việt Nam đến chết bằng cỗ máy giết người khổng lồ mà ông ta đang triển khai ở đất nước họ. Lính Bộ binh và Thủy quân Lục chiến được huấn luyện tinh nhuệ sẽ áp đảo người Việt Nam khi các phi đội trực thăng vận tải “gọn nhẹ” nhanh chóng đưa họ từ chiến trường này sang chiến trường khác với khả năng cơ động chưa từng có. Khi hạ cánh, họ sẽ được bảo vệ bởi một phi đội trực thăng thứ hai được trang bị súng máy bắn nhanh điều khiển bằng điện và các cụm tên lửa không đối đất 2,75 inch gắn ở hai bên. Họ mang theo cả đại bác, những khẩu lựu pháo 105 mm được treo bên dưới những chiếc trực thăng vận tải CH-47 “Chinook” to bè mà Quân đội Mỹ vừa mới phát triển.

Tướng Westmoreland cho xây dựng các sân bay ở khắp nơi. Một khi đặt chân xuống đất, quân đội Mỹ có thể triệu tập các cuộc tấn công không giới hạn bằng máy bay ném bom phản lực chất đầy bom, bom napalm và phốt pho trắng, những thứ có thể thiêu cháy da thịt con người. Không có giới hạn nào về mức độ chất nổ mà Hoa Kỳ sẽ sử dụng để hạ gục người Việt Nam. Những chiếc “pháo đài bay” B-52 tám động cơ của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược, vốn được tạo ra để tàn phá Liên Xô bằng vũ khí hạt nhân, giờ đây sẽ tấn công người Việt Nam với sức mạnh tương đương nhất bằng ném bom thông thường – 20 tấn bom 500 pound (gần 230kg) được thả từ một máy bay duy nhất bay ở độ cao hơn 9.000m. Khi B-52 quần thảo, mặt đất rung chuyển trong bán kính hàng km.

Người Việt Nam quay về với pháo đài tự nhiên là đất đai của họ. Vào những năm 1960, bàn tay con người hầu như chưa chạm đến những ngọn núi thuộc dãy Trường Sơn, trải dài từ miền Bắc Việt Nam xuống tận vùng Tây Nguyên ở miền Nam. Dãy Trường Sơn khi đó vẫn còn là một vùng đất nguyên sơ với những đỉnh núi lẻ loi sừng sững và những rặng núi hiểm trở. Rừng mưa nhiệt đới với những loài cây lá rộng xanh tốt quanh năm cùng cây gỗ tếch và gỗ gụ bao phủ khắp nơi, ngoại trừ những bụi tre rậm rạp và những khoảng trống trong thung lũng phủ đầy cỏ voi cao ngất. Các cây tầng tán vươn cao đến gần 20m; bên dưới là tầng cây gỗ cao vừa, rồi đến lớp cây bụi thấp.

Bên dưới những tán cây, người Việt Nam tiến hành xây dựng các mạng lưới hầm trú ẩn kiên cố. Các hầm chính, nơi đặt bộ chỉ huy, được bảo vệ rất kỹ lưỡng – một lớp gỗ, một lớp đất, rồi tới các lớp gỗ và đất tiếp theo cao tới 2-3m. Để phá hủy một trong những căn hầm trú ẩn này cần phải đánh trúng trực tiếp bằng một quả bom 250 pound (hơn 110kg), một điều hiếm thấy trong thực tế. Các hầm nhỏ hơn được che chắn ở phía trên ít hơn nhưng vẫn đầy đủ và tất cả đều được nối với nhau bằng các chiến hào hình zíc zắc (một kiểu chiến hào giúp lính Việt Nam có thêm chỗ trú ẩn) đủ sâu để đứng lên và chiến đấu với quân Mỹ. Lính Mỹ ban đầu sẽ không biết đối thủ của mình đang ở đâu. Các đường bắn đã được dọn sạch, nhưng ngoài ra, bụi rậm vẫn được giữ nguyên để ngụy trang.

Khi lính Mỹ nhảy khỏi trực thăng, anh ta cũng phải đối mặt với một chiến binh được trang bị vũ khí ngang ngửa, hoặc thậm chí tốt hơn. Lính bộ binh Việt Nam sử dụng loại súng trường tấn công tốt nhất – AK-47. Loại vũ khí này là tác phẩm của một nhà thiết kế vũ khí tài ba của Liên Xô – Mikhail Kalashnikov. Nó hoàn toàn tự động và hiếm khi bị kẹt đạn, trái ngược với súng trường M-16 của Mỹ, vốn đòi hỏi phải vệ sinh liên tục để tránh bị kẹt đạn. Điểm hài hước chua chát của AK-47 là nếu bạn làm rơi súng xuống bùn, bạn có thể nhặt nó lên, đập vào cây để làm sạch bùn, và nó sẽ lại bắn được tiếp.

Súng chống tăng B-40 là một sản phẩm khác của kho vũ khí Liên Xô mà lính bộ binh Việt Nam sở hữu. Đầu đạn hình quả dứa ở đầu ống phóng có sức công phá và phân mảnh đáng gờm. Người Việt Nam cũng không thiếu những khẩu súng máy hạng nặng, được trang bị cho kíp chiến đấu.

Thông thường, phải mất ba ngày không kích và pháo kích mới có thể làm lộ ra các căn hầm trú ẩn, sau khi phá hủy cây cối và các vật che chắn khác ở phía trên. Đến lúc đó, những người Việt Nam sống sót đã kịp rời đi, mang theo hầu hết những người thiệt mạng và bị thương. Bất chấp tất cả sự bảo vệ từ các khu địa đạo, quân Việt Nam vẫn chịu thương vong nặng nề. Họ đã giảm thiểu tổn thất ở một mức độ nào đó bằng cách giành và giữ vững thế chủ động. Các nghiên cứu cho thấy trong 80 đến 90% thời gian, quân Việt Nam – chứ không phải quân Mỹ – mới là những người chủ động giao tranh hoặc quyết định chiến đấu vào một ngày khác. Nhưng không ai có thể chịu đựng được tất cả bạo lực mà người Mỹ gây ra mà không bị thương vong. Tuy nhiên, người Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng để chấp nhận những thương vong này. Họ đang chiến đấu vì sự thống nhất và độc lập của Tổ quốc, trong khi lính Mỹ phục vụ trong một đội quân nửa cưỡng bách nhập ngũ nửa tình nguyện, chiến đấu trong một cuộc chiến tranh đế quốc cách xa quê hương hàng ngàn dặm.

Những “trận đánh trên đồi”, như người ta vẫn gọi, diễn ra trong suốt năm 1967 khi Tướng Giáp dụ Tướng Westmoreland vào hết trận đánh này đến trận đánh khác. Trận đánh kinh hoàng nhất xảy ra vào cuối tháng 11/1967 ở gần tiền đồn Đắk Tô, phía bắc tỉnh Kon Tum, Tây Nguyên. Nơi này được đặt tên là “Đồi 875” theo thông lệ quân sự là đặt tên cho một chiến trường theo chiều cao tính bằng mét. Đại tá Jonathan Ladd, thường được gọi là Fred, chỉ huy Lực lượng Đặc nhiệm Mỹ tại Việt Nam năm 1967, đã kể cho tác giả nghe về những chuyện đã xảy ra.

Fred có một doanh trại ở Đắk Tô. Nơi này bất ngờ bị pháo cối bắn phá. Lực lượng Đặc nhiệm khi đó gồm những lính đánh thuê là người dân tộc thiểu số ở miền núi, do các hạ sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ dày dạn kinh nghiệm và khôn ngoan chỉ huy. Fred bay lên Đắk Tô từ sở chỉ huy của mình ở vùng biển Nha Trang và cử các đội tuần tra để xác định nguồn gốc của hỏa lực súng cối. Họ phát hiện ra rằng quân Việt Nam đã dựng thêm một cái “bẫy người” nữa trên Đồi 875 và các dãy núi liền kề. Những loạt súng cối giống như một lời mời gọi rùng rợn kéo quân Mỹ vào một cuộc chiến giành giật khu địa đạo. Khi đó, tướng Westmoreland đang có mặt ở Washington, được Tổng thống Lyndon Johnson sốt ruột gọi về để vực dậy sự ủng hộ của dư luận đối với cuộc chiến – vốn đang hao mòn dần bởi những con số thương vong khủng khiếp. Westmoreland kêu gọi sự kiên nhẫn. Ông ta đang trên đà chiến thắng. “Hồi kết đã bắt đầu hiện ra”, ông ta trấn an cả nước Mỹ trong bài phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở Washington.

Thuộc hạ của Tướng Westmoreland biết rõ ông ta muốn gì. Lữ đoàn Nhảy dù 173 được điều động đến Đắk Tô, cùng với các tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Bộ binh 4 dưới quyền Thiếu tướng William R. Peers, một sĩ quan được kính trọng. Ngay khi Fred báo cáo tình hình, Tướng Peers tuyên bố sẽ mở một cuộc tấn công bằng trực thăng vào khu hầm trú ẩn. Fred đã cầu xin ông ta đừng làm vậy. “Lạy Chúa, Thiếu tướng, đừng đưa quân ta vào đó”, Fred nói, “Đó là điều bọn khốn đó muốn chúng ta làm. Chúng sẽ tàn sát quân ta. Nếu chúng muốn đánh nhau, hãy để chúng xuống đây, nơi chúng ta có thể giết chúng”.

Tướng Peers không nghe, vì ông ta đã thấm nhuần học thuyết của Westmoreland là “Tìm ra chúng, xử lý, đánh và tiêu diệt chúng”. Những người lính dù vừa xung phong lên dốc vừa hô vang “Airborne all the way”. Cuối cùng, 287 lính dù và bộ binh thuộc Sư đoàn 4 của Mỹ đã tử trận. Hơn 1.000 người khác bị thương. Và như thường lệ, khi trận chiến kết thúc, người Việt Nam đã biến mất.

T.P

]]>
Các lãnh đạo lão thành TQ chỉ còn là “cái bóng” https://biendong.net/2025/11/25/cac-lanh-dao-lao-thanh-tq-chi-con-la-cai-bong/ Tue, 25 Nov 2025 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=160587 Tại sao các đảng viên lão thành không thể cứu đất nước khỏi Tập?

Trong năm qua, ngày càng có nhiều tin đồn về nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình lan truyền khắp Bắc Kinh. Một số nguồn tin riêng tư khẳng định Tập đã để mất quyền lực và bị gạt ra ngoài lề. Những người khác xì xào rằng sức khỏe của ông đã suy yếu, rằng chính trị gia xuất hiện trước công chúng chỉ là thế thân, trong khi một nhóm các chính khách lão thành đáng kính nhất của đảng mới là người thực sự nắm quyền. Thậm chí còn có những câu chuyện khác tưởng tượng ra một liên minh gồm những người bạn đồng hành không ngờ tới – chẳng hạn như những nhà cải cách chính trị tự do từng có quyền lực và các tướng lĩnh bảo thủ của Quân Giải phóng Nhân dân – đang hợp sức để khiển trách Tập hoặc thay thế ông.

Những tin đồn hoang đường như vậy rất phổ biến trong các chế độ chuyên chế, đặc biệt là trước thềm các sự kiện chính trị quan trọng như Hội nghị Trung ương 4 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, diễn ra vào tháng 10, với kết quả được kỳ vọng sẽ định hình hướng phát triển của đất nước trong 5 năm tới. Vì hầu như không có tín hiệu rõ ràng nào cho thấy ai có ảnh hưởng và quyết định được đưa ra như thế nào, nên các hành lang quyền lực ở Bắc Kinh đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho những suy đoán chính trị. Điểm chung trong tất cả những tin đồn này là ý tưởng rằng một nhóm lãnh đạo lão thành quyền lực, nắm trong tay quyền tiếp cận thông tin nội bộ – những lãnh đạo và cán bộ cấp cao, những người thường rút lui khỏi các vai trò chính trị đương nhiệm, nhưng vẫn có ảnh hưởng hậu trường – vẫn có sức ảnh hưởng đủ lớn để lật đổ Tập và định hình đường lối chính trị của Trung Quốc.

Ý tưởng đặc biệt này đã thu hút sự chú ý một phần vì những chính khách lão thành này thực sự từng đóng vai trò trung tâm trong lịch sử đảng. Người dân, những người đã vỡ mộng với sự cai trị của Tập, hy vọng rằng một nhóm trọng tài ngầm sẽ can thiệp, giống như khi Đặng Tiểu Bình hành động để đưa Trung Quốc thoát khỏi chính trị cấp tiến vào cuối thập niên 1970, loại bỏ các nhà lãnh đạo bảo thủ hơn và nhấn mạnh vào các cải cách kinh tế theo định hướng thị trường trong thập niên 1990. Chính trị lão thành cung cấp một cách thuận tiện để diễn giải và phân tích những hoạt động nội bộ mờ ám của giới tinh hoa quyền lực nhất đất nước.

Nhưng sự thật là, ở Trung Quốc ngày nay, các bậc lão thành phần lớn đã mất đi quyền lực. Tập đã phá hủy một cách có hệ thống các kênh ảnh hưởng mà các bậc lão thành trước đây từng vận hành, bao gồm cả quyền bổ nhiệm nhân sự và các quan hệ của họ trong quân đội. Hơn nữa, thế hệ các bậc lão thành hiện tại không còn mang trong mình uy tín đạo đức mà thế hệ đầu tiên đã đạt được từ cuộc cách mạng cộng sản. Các cơ chế kiểm soát quyền lực mang tính thể chế, vốn đã thay thế vai trò của các lão thành đảng, không thể kiềm chế các lãnh đạo đương nhiệm một cách hiệu quả như trước đây. Kết quả là, gần như không gì có thể hạn chế Tập trong quá trình ông cải tổ lại đảng và đất nước.

NGƯỜI CŨ TRỞ LẠI

Trong 30 năm đầu tiên dưới chế độ cộng sản tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông nắm giữ vị thế cách mạng vô song, thâu tóm quân đội và hệ thống tuyên truyền, đồng thời kiểm soát toàn bộ hệ thống cấp bậc trong đảng. Ông là chính khách lão thành tối cao. Tuy nhiên, sau khi Mao qua đời vào năm 1976, đảng đã phải đối mặt với một khoảng trống lãnh đạo. Những cán bộ từng sống sót qua chiến tranh và các biến động chính trị cùng Mao, nhưng đã bị thanh trừng hoặc gạt sang bên lề trong Cách mạng Văn hóa, nay quay trở lại trung tâm chính trường. Những lãnh đạo này bao gồm Đặng Tiểu Bình; Trần Vân – một nhà hoạch định kinh tế cấp cao; và Diệp Kiếm Anh – nguyên soái khai quốc của Quân Giải phóng Nhân dân.

Quyền lực của những nhân vật chính trị này bắt nguồn từ thâm niên và những đóng góp trực tiếp của họ cho cuộc cách mạng cộng sản. Họ không chỉ là lãnh đạo, mà còn là người sáng lập nhà nước. Họ có mạng lưới bảo trợ hùng mạnh, bao gồm cả quan hệ sâu sắc với quân đội. Và với tư cách là người viết nên lịch sử của đảng, họ có thể định hình các diễn ngôn chính thức, cũng như định hình cách thức và lý do đảng theo đuổi các lựa chọn chính sách của mình.

Đầu thập niên 1980, để chính thức hóa vai trò của mình, các lãnh đạo đảng dưới sự khởi xướng của Đặng Tiểu Bình đã thành lập Ủy ban Cố vấn Trung ương, một dạng thượng viện, tạo điều kiện cho các bậc lão thành có nền tảng thể chế để tác động đến các quyết định về nhân sự và chính sách. Các lãnh đạo đảng sẽ chọn người vào ủy ban này, và giới hạn thành viên chỉ là các cán bộ kỳ cựu có thâm niên phục vụ lâu dài trong đảng.

Tuy nhiên, quyền lực thực sự của các lão thành nằm ở cách họ tận dụng uy tín không thể lay chuyển của mình trong các không gian phi chính thức xuyên suốt hệ thống chính trị Trung Quốc. Những vị này thường tham vấn riêng với các quan chức lãnh đạo, chỉ huy quân đội, và quan chức cấp cao để định hướng việc ra quyết định, và đôi khi, còn để ra tín hiệu không tán thành. Họ cũng đưa ra các tuyên bố công khai vào đúng những thời điểm quan trọng để gây ảnh hưởng lên các lãnh đạo đương nhiệm, bao gồm cả các cuộc tranh luận về việc ai nên lãnh đạo đảng và chính sách nào nên được theo đuổi. Năm 1979, thế hệ lão thành đầu tiên, bao gồm Đặng Tiểu Bình, đã gạt Hoa Quốc Phong – người kế nhiệm do Mao lựa chọn – sang một bên bằng cách khai thác sự bất mãn lan rộng đối với việc Hoa khăng khăng duy trì đường lối chính trị của Mao. Một thập kỷ sau, chính những lão thành này đã ủng hộ quyết định sử dụng lực lượng quân đội để trấn áp người biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn. Đây không phải là những cử chỉ mang tính nghi thức, mà là những hành động của quyền lực thực sự.

SỰ SUY TÀN TẤT YẾU

Tuy nhiên, chính những điều kiện từng trao quyền cho các lão thành này cuối cùng lại dẫn đến sự ra đi của họ. Vai trò của họ nảy sinh là để tạo ra sự cân bằng trong quá trình chuyển đổi từ chế độ độc nhân trị của Mao sang phong cách lãnh đạo tập thể hơn. Trong giai đoạn chuyển giao đó, kéo dài từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1990, các lão thành đã ổn định chính trị Trung Quốc bằng cách kiềm chế quyền lực của các lãnh đạo tối cao. Họ có thể ngăn chặn các thử nghiệm chính sách nguy hiểm hoặc sa thải những nhà lãnh đạo mà họ cho là đang theo đuổi những ưu tiên sai lầm hoặc không nhận ra chiều gió chính trị đang thay đổi.

Khi thế hệ cách mạng Trung Quốc cộng sản già đi và qua đời, không có lớp lão thành mới nào có đủ uy tín lịch sử hoặc đòn bẩy quân sự để kế thừa quyền lực của họ. Những lão thành kế nhiệm họ – thế hệ thứ hai và thứ ba – chủ yếu là các nhà quản trị mà quyền lực bắt nguồn từ chức vụ cũ, chứ không phải từ chiến công cách mạng. Ủy ban Cố vấn Trung ương đã bị bãi bỏ trong âm thầm vào năm 1992. Các nhà lãnh đạo đảng cũng thiết lập các giới hạn nhiệm kỳ và độ tuổi nghỉ hưu rõ ràng cho cán bộ, hạn chế các lựa chọn chính trị dành cho những lãnh đạo muốn duy trì ảnh hưởng sau khi đã hết nhiệm kỳ.

Những thay đổi trong quân đội càng làm xói mòn ảnh hưởng của các bậc lão thành. Nhiều trong số nhà cách mạng đầu tiên của Trung Quốc là những người lính đã tự đào tạo học trò của mình. Tuy nhiên, những cải cách hành chính như đợt cắt giảm quân số năm 1985 đã làm suy yếu các mạng lưới cố hữu mà qua đó các lão thành thực thi quyền lực của mình trong hệ thống quân đội. Năm 2015, Tập đã triển khai một đợt cải cách sâu rộng khác, bằng cách tái tổ chức lực lượng vũ trang thành các bộ tư lệnh khu vực, và trên thực tế diệt trừ khả năng bất kỳ lãnh đạo quân sự cấp cao nào xây dựng các phe phái nội bộ của riêng mình. Tập cũng tập trung quyền lực vào Quân ủy Trung ương, cơ quan do ông trực tiếp kiểm soát.

Nhưng điều đã chấm dứt hoàn toàn quyền lực của các bậc lão thành chính là cuộc tấn công có hệ thống của Tập vào các mạng lưới cá nhân. Chiến dịch chống tham nhũng của Tập, được ông phát động ngay sau khi lên nắm quyền lãnh đạo đảng vào năm 2012, đã cắt đứt những liên kết phi chính thức từng gắn kết giới tinh hoa đương nhiệm và đã nghỉ hưu. Ông đã tháo dỡ một cách bài bản các trung tâm quyền lực thay thế trong các cơ quan an ninh, quân đội, và các lĩnh vực quan trọng chiến lược như năng lượng và tài chính. Đồng thời, ông tăng cường giám sát các cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu và đưa ra các quy định mới cấm họ bình luận công khai về các nhà lãnh đạo đất nước hoặc chính sách của họ. Tập thậm chí còn coi các bữa tối giữa các lão thành là vấn đề tiềm ẩn về an ninh chính trị, nghĩa là họ không còn được tự do gặp gỡ nhau. Nếu các lão thành muốn gây ảnh hưởng đến Tập, thì mọi con đường gây ảnh hưởng của họ đều đã bị chặn đứng.

Các bậc lão thành của đảng không hề biến mất khỏi đời sống công chúng dưới thời Tập. Họ vẫn xuất hiện tại các nghi lễ quốc gia, ngồi hàng ghế đầu trong các cuộc họp quan trọng, đưa ra những phát biểu vô thưởng vô phạt khi được yêu cầu, và nhận các bản tin mật sau cánh cửa đóng kín. Nhưng họ không còn quyền lực. Với việc Tập củng cố quyền lực và sự phát triển tự nhiên của hệ thống chính trị Trung Quốc, các lão thành không còn khả năng huy động một liên minh kết hợp giữa đòn bẩy nhân sự, sức mạnh quân sự, sự am hiểu quy trình, và uy tín đạo đức theo cách có thể kiềm chế hiệu quả ban lãnh đạo hiện tại.

KHÔNG CÓ SỰ THAY THẾ HOÀN HẢO

Nếu thiếu vắng đi những lão thành quyền lực, thì đảng-nhà nước Trung Quốc phải dựa vào các cơ chế khác để kiềm chế các lãnh đạo cấp cao. Một bộ máy hành chính được thể chế hóa hơn có thể làm chậm quá trình ra quyết định và chống lại ý thích cá nhân của từng nhà lãnh đạo bằng cách buộc họ trải qua các quy trình chính thức kéo dài. Ví dụ, một số trường đại học và viện nghiên cứu đã phản đối nỗ lực của Tập nhằm di dời cơ sở của họ đến một đô thị mới đang xây dựng ở Hùng An, cách Bắc Kinh hơn 120 km về phía nam, khiến dự án tiến triển chậm hơn nhiều so với kế hoạch ban đầu. Giới tinh hoa cũng vẫn còn bản năng tự bảo tồn, nghĩa là họ có xu hướng tránh các quyết định rủi ro có thể gây nguy hiểm cho sự nghiệp của mình. Và các cú sốc bên ngoài định hình chính trị trong nước, chẳng hạn như căng thẳng tài chính hoặc áp lực thương mại, có thể hạn chế các lựa chọn của lãnh đạo. Tuy nhiên, không có biện pháp kiểm soát nào trong số này mang tính trực tiếp, nhanh chóng, hoặc hiệu quả trong việc cân bằng quyền lực cá nhân như sự can thiệp của các lão thành trước đây.

Sự khác biệt nằm ở logic của sự cân xứng quyền lực (power symmetry). Trong các kỷ nguyên trước, các bậc lão thành và các nhà lãnh đạo đương nhiệm thường đứng ở vị thế gần như ngang bằng nhau. Những lời khuyên răn của thế hệ cách mạng đầu tiên mang sức nặng của cấp trên nói với cấp dưới. Và ngay cả thế hệ lão thành thứ hai vẫn có thể tạo ra đối trọng với tổng bí thư đương nhiệm. Sau khi Giang Trạch Dân, người kế nhiệm Đặng Tiểu Bình, từ chức vào năm 2002 và trao lại quyền lãnh đạo đảng cho Hồ Cẩm Đào, ông vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng sau hậu trường. Giang đã làm suy yếu hiệu quả quyền lực của Hồ Cẩm Đào và củng cố quyền lực của mình bằng cách mở rộng Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, cơ quan ra quyết định hàng đầu của đảng, từ bảy thành viên lên chín thành viên, và cài cắm một số “học trò” của mình vào các vị trí chủ chốt.

Sự sắp xếp mới dưới thời Tập giả định sự vắng mặt của các đối thủ cạnh tranh. Sự ổn định được duy trì không phải thông qua các biện pháp kiểm soát theo chiều ngang mà thông qua các kênh quyền lực theo chiều dọc, một chiều. Bộ máy hành chính có thể trì hoãn các chỉ đạo của Tập, nhưng không thể phủ quyết chúng. Các quan chức kinh tế có thể tư vấn, nhưng không thể buộc lãnh đạo thay đổi đường lối. Các tướng lĩnh có thể bày tỏ lo ngại, nhưng không thể công khai bất đồng quan điểm. Các tương tác từng là những cuộc thảo luận bình đẳng giờ đây giống như một đường ống dẫn thông tin đi lên và mệnh lệnh đi xuống. Chính trị của các bậc lão thành tuy không minh bạch và mang tính cá nhân, nhưng sự cân xứng quyền lực của nó đã giúp các thành viên khác của giới tinh hoa có thể đối thoại với nhà lãnh đạo tối cao như một người ngang hàng và thẳng thắn nói về những vấn đề mà đảng đang đối mặt.

Phản ứng đầy rắc rối của Trung Quốc đối với đại dịch COVID-19 cho thấy những nguy hiểm của tình trạng mới này. Một nhóm các lão thành quyền lực có lẽ không thể ngăn chặn sự bùng phát dịch bệnh. Nhưng họ đã có thể hạn chế được thiệt hại bằng cách giúp thông tin được lưu chuyển dễ dàng hơn đến những người ra quyết định. Các lão thành đã có thể thúc ép các nhà lãnh đạo chú ý đến các dấu hiệu cảnh báo sớm khi virus mới bắt đầu lây lan vào năm 2020, và buộc Tập phải nới lỏng các chính sách hà khắc sớm hơn khi đại dịch kéo dài sang năm thứ hai và thứ ba. Sự hiện diện của các lão thành tạo ra không gian trong các tầng lớp cấp cao của đảng, cho phép tranh luận nội bộ trong những thời điểm khủng hoảng và tạo điều kiện để nhiều chuyên gia có thể truyền tải kiến thức của họ đến các lãnh đạo cấp cao.

Trong số những giải pháp thay thế một phần đã xuất hiện để lấp vào chỗ trống mà các đảng viên lão thành để lại, chỉ có áp lực từ bên ngoài – chủ yếu là tác động của cạnh tranh và đối đầu Mỹ-Trung – mới có thể hạn chế đáng kể quyền lực của Tập. Thuế quan và kiểm soát xuất khẩu mạnh tay đã buộc Tập phải điều chỉnh cách tiếp cận kinh tế của mình bằng cách đa dạng hóa các đối tác thương mại của Trung Quốc và thậm chí chấp nhận rằng một số công ty tư nhân trong nước có thể đóng góp vào mục tiêu tự chủ về công nghệ của ông. Các yếu tố gây căng thẳng nội bộ, chẳng hạn như tỷ lệ thất nghiệp cao và tình trạng tài chính mong manh, cũng có thể hạn chế các lựa chọn của Tập trong lúc ông theo đuổi các mục tiêu của mình, nhưng cho đến nay, chúng chỉ làm chậm lại, chứ không phải đình trệ, chương trình nghị sự của ông. Tuy nhiên, nhìn chung, quá trình ra quyết định của Tập đang ngày càng trở nên khép kín khi ông ngày càng dựa vào một nhóm nhỏ thân tín, làm tăng nguy cơ phán đoán sai lầm có thể biến những thách thức có thể quản lý thành rủi ro hệ thống.

Nhiều nhà quan sát bên ngoài, những người nhận ra rằng các bậc lão thành đã mất quyền lực, thường xem thực tế đó chỉ là một chú thích nhỏ bên lề quá trình củng cố quyền lực của Tập. Nhưng nó để lại hậu quả lớn hơn nhiều. Một hệ thống dựa trên sự kết hợp giữa các quy tắc hành chính cứng nhắc và sự lãnh đạo cá nhân mạnh mẽ sẽ mong manh hơn nhiều so với một hệ thống dựa trên sự cân bằng quyền lực bất thành văn, bởi lẽ nó thiếu những phương thức thực chất để kiềm chế các nhà lãnh đạo. Và ngay cả khi một nhà lãnh đạo tương lai sau Tập tìm cách cai trị tập thể hơn, thì các bậc lão thành trong đảng vẫn thiếu đi tầm vóc hoặc mạng lưới cần thiết để đóng vai trò kiểm soát quyền lực. Đã xa rồi những ngày tháng huy hoàng của cách mạng, Trung Quốc giờ đây chỉ có thể hy vọng rằng sự kết hợp của những phương án thay thế không hoàn hảo – cùng một chút may mắn – sẽ kiềm chế được Tập và ngăn chặn các cuộc khủng hoảng có thể ngăn ngừa trước khi chúng vượt khỏi tầm kiểm soát.

T.P

]]>
Lịch sử phức tạp của TQ với Mông Cổ https://biendong.net/2025/11/18/lich-su-phuc-tap-cua-tq-voi-mong-co/ Tue, 18 Nov 2025 12:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=160087 Mối quan hệ sắc tộc giữa hai nước đã trở nên căng thẳng trong những năm gần đây.

Tiêu điểm tuần này: Cùng nhìn lại lịch sử mối quan hệ sắc tộc ngày một căng thẳng giữa Trung Quốc và Mông Cổ; Thủ tướng mới của Nhật Bản nêu rõ lập trường về Đài Loan; Trung Quốc nổi bật tại hội nghị khí hậu thường niên của Liên Hợp Quốc.

Tóm tắt lịch sử quan hệ Trung Quốc – Mông Cổ

Nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc là Mông Cổ đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng hiến pháp sau khi Tòa án Tối cao nước này ra phán quyết vào tháng trước rằng cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm của Quốc hội đối với Thủ tướng diễn ra hồi giữa tháng 10 đã tiến hành không đúng quy định, từ đó khiến cuộc xung đột đang diễn ra giữa Quốc hội và Tổng thống nước này thêm trầm trọng.

Thế nhưng biến động này sẽ không ảnh hưởng đến phần lớn người Mông Cổ, những người đang phải đối mặt với một loạt vấn đề chính trị hoàn toàn khác. Bởi vì có khoảng 6,3 triệu người Mông Cổ sống ở Trung Quốc, chủ yếu ở khu vực Nội Mông. Con số này gần gấp đôi 3,5 triệu người sống ở quốc gia Mông Cổ (trước đây gọi là Ngoại Mông).

Dân số người Mông Cổ ở Trung Quốc cũng đông hơn nhiều so với người Kazakh và người Uzbek. Vậy tại sao lại có nhiều người Mông Cổ ở Trung Quốc đến vậy? Câu hỏi thực tế là tại sao lại không có nhiều người Mông Cổ hơn ở Trung Quốc?

Nội Mông và Ngoại Mông là những tên gọi khu vực được đặt ra dưới thời nhà Thanh (1644 – 1911). Khác với các đế chế trước đó, bản đồ lãnh thổ nhà Thanh cho thấy biên giới và vùng chủ quyền của nhà Thanh gần như tương ứng với biên giới Trung Quốc ngày nay, ngoại trừ khu vực Ngoại Mông và Siberia đã bị Nga tước đoạt từ từ.

Những người cai trị nhà Thanh – người Mãn Châu, một dân tộc phương bắc có mối quan hệ về mặt sắc tộc với người Mông Cổ – đã nỗ lực bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái và văn hóa của Mông Cổ, nên ban đầu đã cấm người Hán định cư tại đây. Tuy nhiên, đến thế kỷ 19, tình trạng quá đông dân và khai thác nông nghiệp quá mức ở phương nam đã thúc đẩy người Hán di cư lên phía bắc. Sự sụp đổ quyền lực của nhà Thanh sau cuộc Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc năm 1850 đã giáng một đòn cuối cùng và dẫn đến sự bùng nổ số lượng người Hán đến Nội Mông định cư.

Những người mới đến định cư đã mua đất từ ​​giới quý tộc Mông Cổ, làm xói mòn quyền chăn thả truyền thống của thường dân Mông Cổ và châm ngòi cho hàng thập kỷ xung đột bạo lực sắc tộc. Các thủ lĩnh kháng chiến như Dambijantsan đã tiến hành những chiến dịch dài hơi chống lại sự cai trị của nhà Thanh, nhưng tương quan nhân khẩu học và kinh tế đều bất lợi cho họ.

Ngược lại, Ngoại Mông hầu như vẫn toàn vẹn. Khi triều đại nhà Thanh cuối cùng cũng sụp đổ vào năm 1911, Ngoại Mông đã tuyên bố độc lập với tên gọi Mông Cổ dưới thời Bogd Khan, vị lãnh tụ địa phương tương đương với Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Quân đội Trung Quốc xâm lược Mông Cổ vào năm 1919 nhưng bị đánh đuổi bởi thủ lĩnh quân phiệt Bạch vệ Roman von Ungern-Sternberg. Lo rằng Mông Cổ sẽ trở thành căn cứ kháng chiến, phe Bolshevik đã tiến hành xâm lược Mông Cổ vào năm 1921, biến nơi đây thành quốc gia vệ tinh đầu tiên của Liên Xô.

Trớ trêu thay, 70 năm áp bức của Liên Xô lại giúp bảo vệ nền tự do của Mông Cổ về lâu dài. Ngay cả khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xâm lược Tân Cương và Tây Tạng, đồng thời nắm quyền kiểm soát Nội Mông, họ vẫn để yên cho Mông Cổ, vốn được Liên Xô bảo hộ. Khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, Mông Cổ nổi lên với tư cách một nhà nước dân chủ và đến nay vẫn là một trong những nền dân chủ ổn định ở Trung Á.

Ngày nay, mối quan hệ sắc tộc và chính trị giữa Mông Cổ và Trung Quốc rất phức tạp. Một số người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc vẫn nuôi dưỡng tâm thế phục thù Mông Cổ; ở Mông Cổ, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bài Trung Quốc khá phổ biến.

Trong phạm vi Trung Quốc, quan hệ giữa người Mông Cổ và người Hán tương đối ổn định so với quan hệ giữa người Hán với người Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ. Một phần là do Bắc Kinh thường áp dụng các chính sách ít áp bức hơn ở Nội Mông, nơi những người cộng sản địa phương đã đóng vai trò then chốt trong việc giúp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thiết lập quyền lực. (Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc đã tiến hành một cuộc tàn sát tàn bạo ở Nội Mông).

Định kiến​​ với người Mông Cổ cũng ít phổ biến hơn so với người Tây Tạng hay người Duy Ngô Nhĩ, bởi vì người Mông Cổ thường được coi là nhóm thiểu số kiểu mẫu. Hôn nhân giữa người Mông Cổ và người Hán khá phổ biến, và nhiều người Trung Quốc có gốc gác lai. Thậm chí còn có một số quan chức cấp cao người Mông Cổ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Tuy nhiên, dưới thời Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, vị thế một thời an toàn này đã trở nên ngày một bấp bênh. Trung Quốc đã đảo ngược các chính sách lâu đời cho phép trẻ em dân tộc thiểu số được học bằng ngôn ngữ của chính các em, buộc trẻ em Mông Cổ phải học hoàn toàn bằng tiếng Hán. Chính điều này đã dẫn tới các cuộc biểu tình lớn ở Nội Mông vào năm 2020, đáp lại là những đợt đàn áp văn hóa và tôn giáo trên diện rộng.

Trong khi đó, việc ĐCSTQ áp dụng thuật ngữ “văn hóa biên cương phương Bắc” bị người Mông Cổ coi là một nỗ lực xóa bỏ văn hóa và bản sắc của họ. Các quan chức người Mông Cổ đã bị nhắm mục tiêu trong các cuộc thanh trừng gần đây của ĐCSTQ, và các tổ chức Nội Mông gồm báo chí, nhà xuất bản, chùa chiền và trường đại học cũng đang phải đối mặt với những quy định chính trị mới khắt khe.

Người dân Mông Cổ bên kia biên giới đang theo dõi sự thay đổi này với nỗi lo ngày càng lớn. Dù chính phủ Mông Cổ nhìn chung tránh đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh, nhưng họ vẫn âm thầm tìm kiếm sự hậu thuẫn của Mỹ để tạo thế cân bằng trước Trung Quốc và Nga.

Tuy nhiên, với việc bối cảnh chính trị hỗn loạn của Mông Cổ tiếp tục biến động và xuất hiện những câu chuyện đáng lo ngại về người Mông Cổ ở Trung Quốc, thì chủ nghĩa dân túy bài Trung Quốc có khả năng sẽ trở thành một lực lượng chính trị mạnh mẽ hơn.

Tin tức được quan tâm

Quan hệ Nhật – Trung. Thủ tướng mới của Nhật Bản, bà Sanae Takaichi, một người theo đường lối dân tộc chủ nghĩa, đã nhanh chóng đưa mối quan hệ của đất nước bà với Trung Quốc đi đến bờ vực. Trong bài phát biểu trước Quốc hội hồi đầu tháng này, bà Takaichi cho biết một cuộc tấn công vào Đài Loan có thể được xem là một rủi ro mang tính sống còn đối với Nhật Bản, và điều đó sẽ đủ để biện minh cho việc triển khai quân sự.

Dù Nhật Bản từ trước đến nay vẫn duy trì quan hệ bền chặt với Đài Loan, một thuộc địa cũ, nhưng việc một nhà lãnh đạo Nhật Bản thể hiện lập trường một cách rõ ràng như vậy là điều bất thường.

Những phát biểu này tất nhiên đã chọc giận Bắc Kinh. Tổng lãnh sự Trung Quốc tại Osaka, Nhật Bản, đã kích động thêm sự việc khi ông có vẻ như đang đe dọa bà Takaichi trên mạng xã hội. Bài đăng của vị quan chức ngoại giao – một sự gợi nhớ lại thời kỳ gọi là ngoại giao “chiến lang” của Trung Quốc – đã bị xóa.

Vấn nạn quay lén ở Hồng Kông. Hồng Kông đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng tội phạm tình dục, bao gồm quay lén trên mạng, nội dung khiêu dâm giả (deep-fake pornography) và rình rập. Chính phủ đang xem xét luật mới để xử lý vấn đề này, thế nhưng đây là một vấn đề nhạy cảm về mặt chính trị: Sự phẫn nộ đã bùng lên trong năm nay vì vụ bê bối “MaskPark”, trong đó hình ảnh khỏa thân của nạn nhân bị chụp mà không có sự đồng ý và bị chia sẻ trong các nhóm trực tuyến.

Phụ nữ ở Hồng Kông đang nhìn sang Hàn Quốc, nơi camera ẩn đã là vấn nạn trong nhiều năm, để tìm ý tưởng đấu tranh với nạn quay lén.

Không mấy ngạc nhiên khi việc thảo luận về vụ bê bối MaskPark thường bị kiểm duyệt ở đại lục, nơi chính phủ không thiện chí với nữ quyền. Thế nhưng Hồng Kông, bất chấp việc luật an ninh quốc gia được ban hành vào năm 2020, vẫn là một môi trường tự do hơn cho những cuộc thảo luận này.

Công nghệ và Kinh doanh

Hội nghị khí hậu. Với việc Mỹ hầu như vắng mặt tại hội nghị khí hậu của Liên Hợp Quốc năm nay, hay còn gọi là COP30, Trung Quốc đang sẵn sàng dẫn đầu. Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đang tích cực vận động chống lại các nỗ lực chống biến đổi khí hậu. Họ cũng đang đe dọa các nước nghèo hơn và nhỏ hơn đang phụ thuộc Mỹ về mặt kinh tế để nhằm ngăn cản nỗ lực giảm phát thải.

Trong khi đó, Trung Quốc đã kiềm chế chủ nghĩa phủ nhận biến đổi khí hậu trong phạm vi trong nước từ nhiều năm trước và hiện đang dẫn trước trong quá trình chuyển đổi sang năng lượng xanh. Những nước khác muốn bắt kịp xu hướng đó đang chớp lấy cơ hội để mua công nghệ Trung Quốc. Tất cả những điều này khiến Trung Quốc trông như một cường quốc có trách nhiệm, một hình ảnh trái ngược hoàn toàn với Mỹ.

Ngoại giao chip. Do lo ngại rằng Nexperia, một công ty chip thuộc sở hữu của Trung Quốc có trụ sở tại Hà Lan, đang rò rỉ thông tin cho Trung Quốc, chính phủ Hà Lan đã tiếp quản quyền kiểm soát công ty hồi tháng 9. Đáp lại, Bắc Kinh trả đũa bằng cách chặn xuất khẩu sang châu Âu các loại chip quan trọng trong ngành công nghiệp ô tô, khiến các nhà sản xuất hoảng loạn.

Với tâm thế tích cực hơn sau hội nghị thượng đỉnh Tập – Trump tháng trước, Trung Quốc đã dỡ bỏ không chỉ riêng những biện pháp đối với Mỹ mà cả những biện pháp kiểm soát chip và giảm bớt đe dọa liên quan đến đất hiếm. Cả Bắc Kinh và Washington đều đã hoãn hoặc huỷ các biện pháp đe dọa thương mại, thế nhưng Trung Quốc vẫn chưa thuyết phục được chính quyền Trump xuất khẩu dòng chip tiên tiến được săn đón nhiều nhất của Nvidia.

T.P

]]>
Cái chết đáng ngờ của một quan chức TQ https://biendong.net/2025/11/18/cai-chet-dang-ngo-cua-mot-quan-chuc-tq/ Tue, 18 Nov 2025 11:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=160076 Các nhà chức trách cho biết Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Hồ Nam, bà Lưu Văn Kiệt, đã bị sát hại. Tuy nhiên, các vụ ám sát chính trị trực tiếp là điều hiếm thấy ở Trung Quốc.

Tiêu điểm tuần này: Cái chết đáng ngờ của Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Hồ Nam khơi dậy nhiều đồn đoán trong và ngoài nước, một học sinh người Nhật thiệt mạng trong vụ tấn công bằng dao ở Thâm Quyến, và Ngân hàng Trung ương Trung Quốc tung gói kích thích kinh tế mới.

Cái chết bí ẩn ở Hồ Nam

Cái chết của bà Lưu Văn Kiệt, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Hồ Nam, do bị ngã vào tuần trước đã làm dấy lên làn sóng tin đồn tại Trung Quốc. Thi thể của bà Lưu được phát hiện bên ngoài tòa nhà chung cư của bà ở Trường Sa vào sáng thứ Năm tuần trước. Cảnh sát cho biết bà Lưu bị sát hại và đã xác định hai người đàn ông – cũng rơi từ tòa nhà xuống và tử vong – là nghi phạm.

Bà Lưu, 58 tuổi, từng giữ chức vụ Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Hồ Nam từ năm 2022, nhưng trước đó đã có một thập kỷ làm việc trong lĩnh vực tài chính và thống kê ở Hồ Nam, một tỉnh lớn phía Nam Trung Quốc. Vụ án đã lôi cuốn trí tưởng tượng của công chúng, ngay cả khi các nhà kiểm duyệt nội dung đang nỗ lực xóa bỏ các tin đồn liên quan.

Câu chuyện chính thức rất khó tin khi cho rằng, bà Lưu bị ném qua ban công căn hộ của mình và hai kẻ tấn công cũng vô tình ngã tử vong, một trong hai tên được cho là đã cố gắng trốn thoát bằng cách trượt xuống một sợi dây làm từ rèm cửa buộc lại. (Kỳ lạ là, cảnh sát cho biết công cụ của những kẻ tấn công cũng có dây nylon đã được chuẩn bị sẵn.) Các vụ đột nhập nhà ở Trung Quốc rất hiếm, nhất là đối với các khu dân cư dành riêng cho quan chức chính phủ được giám sát nghiêm ngặt như của bà Lưu.

Cư dân mạng suy đoán rằng hai người đàn ông có thể là những nhân chứng vô tội, hoặc họ có thể đã tham gia vào vụ sát hại nhưng bị cảnh sát hoặc đồng phạm trừ khử sau đó. Trên các kênh truyền thông xã hội của Trung Quốc và cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài, một số người còn khẳng định, dù không có mấy bằng chứng, rằng bà Lưu đã bị trói hoặc bị tra hỏi về việc cá nhân bà đã bảo lãnh một khoản nợ 60 triệu nhân tệ, và rằng các lãnh đạo tỉnh khác đã nhanh chóng đến hiện trường nơi bà Lưu tử vong.

Vậy, rốt cuộc chuyện gì đang diễn ra ở đây? Khác với Nga, nơi mà việc ném người ra cửa sổ (defenestration) là một rủi ro nghề nghiệp đối những người có liên can đến chính trị, chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) hiếm khi liên quan đến các vụ ám sát trực tiếp. Thay vào đó, quyền lực của các cơ quan an ninh thường được sử dụng như một công cụ chống lại những ai bị cho là kẻ thù. Những vụ tử vong trong trại giam hoặc do bị tra tấn thường được xem là tai nạn, phần nào là do việc ép cung.

Bản cáo phó chính thức của bà Lưu cung cấp rất ít thông tin chi tiết, nhưng cho thấy một điều là bà Lưu có chỗ đứng khá tốt trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nếu như bà có liên quan đến bất cứ điều gì, thì khả năng cao là liên quan đến tội phạm có tổ chức và có thể là vay mượn tiền. Điều này có thể đồng nghĩa với việc dính dáng đến các băng đảng Hội Tam Hoàng ở Hồng Kông và Macao, tổ chức chuyên đòi nợ xuyên biên giới. Tuy nhiên, những thành phố lớn như Trường Sa cũng có các băng nhóm tội phạm riêng của họ.

Theo như nhà tội phạm học Federico Varese đã viết trong một nghiên cứu đáng tin cậy về tội phạm có tổ chức xuyên biên giới, các băng nhóm có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp hợp pháp và các quan chức Đảng Cộng sản địa phương ở Trung Quốc. Chính quyền địa phương, thậm chí cả chính quyền tỉnh, đã chuyển sang những phương thức huy động vốn không chính thống mà đôi khi, những phương thức này còn được các nhóm tội phạm có tổ chức “chống lưng” – và cũng chính từ đây, tham nhũng đã làm mờ đi ranh giới phân biệt giữa tiền công và tiền tư. Ngay cả việc thu hồi nợ thông thường ở Trung Quốc cũng có thể liên quan đến bắt cóc và cưỡng đoạt.

Vai trò của các “băng đảng đen” – từ dùng để chỉ tội phạm có tổ chức ở Trung Quốc – trong chính quyền địa phương là điều ai cũng biết, và chính quyền trung ương đang nhắm đến xử lí vấn đề này. Nhưng trên thực tế, các chiến dịch trấn áp thường chỉ là sự thay thế giữa một nhóm tội phạm cũ bị loại bỏ với một nhóm mới khác nổi lên. Tuần trước, Trung Quốc đã công bố một cơ quan giám sát trung ương ở Bắc Kinh để lãnh đạo “cuộc chiến chống tội phạm có tổ chức và các thế lực xấu.” Điều này có lẽ là rất cần thiết, trong bối cảnh các chính quyền địa phương đang đối mặt với những khoản nợ sắp đến hạn – mà không chỉ có các khoản nợ ngân hàng.

Chủ đề đang được quan tâm

Học sinh người Nhật bị sát hại ở Thâm Quyến. Một học sinh 10 tuổi người Nhật đã tử vong, một ngày sau khi bị đâm ở một trường quốc tế tại Thâm Quyến, Trung Quốc, sự việc xảy ra vào tuần trước. Vụ việc thương tâm đã dẫn đến việc chính quyền phải áp dụng kiểm duyệt đối với các bài đăng bày tỏ sự thương tiếc, cùng với những nỗ lực nhằm trấn an Nhật Bản rằng đây chỉ là một “sự cố đơn lẻ”. Tuy nhiên, những nỗ lực này có thể không xoa dịu được những lo ngại của công dân và doanh nghiệp Nhật Bản tại Trung Quốc, nhất là khi vụ tấn công xảy ra ngay sau một vụ việc tương tự nhắm vào trẻ em tại một điểm dừng xe buýt trường học vào tháng Sáu.

Truyền thông Nhật Bản cáo buộc Trung Quốc khơi dậy chủ nghĩa dân tộc chống Nhật, và một sự sụt giảm tiếp nữa trong dòng tiền đầu tư của Nhật Bản vào Trung Quốc là điều có khả năng xảy ra. Mặc dù chủ nghĩa dân tộc cực đoan có thể đóng một vai trò nhất định, nhưng những vụ tấn công bằng dao nhằm vào trẻ em đang diễn ra theo mô típ tương tự với các vụ xả súng trường học ở Mỹ, với một chuỗi các vụ xả súng kể từ năm 2010 đã cướp đi sinh mạng của hơn 100 người. Một người đàn ông trong độ tuổi 40 đã bị bắt giữ vì có liên quan đến vụ tấn công ở Thâm Quyến.

Tương tự các vụ xả súng trường học, hiện tượng lây lan xã hội (social contagion) dường như đóng vai trò quan trọng trong các vụ tấn công bằng dao tại các trường học ở Trung Quốc. Sự vắng mặt của súng tại Trung Quốc khiến các vụ tấn công ít thương vong hơn, nhưng so với những kẻ xả súng ở Mỹ, những tên tấn công này lại thường có xu hướng nhắm vào trẻ em hơn.

Loạt công ty quân sự Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan bị đóng băng tài sản. Vào tuần trước, Trung Quốc đã tuyên bố sẽ đóng băng tài sản 9 công ty liên quan tới quân đội Mỹ đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Trung Quốc, nhằm đáp trả việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan – cụ thể, một giao dịch trị giá 228 triệu đô la các linh kiện thay thế đã được phê duyệt vào ngày 16 tháng 9. Động thái này nhấn mạnh một lợi thế của phía Mỹ: khó mà biết được liệu các công ty liên quan đến Lầu Năm Góc có tài sản nào ở Trung Quốc hay không, hay đây chỉ là các động thái mang tính tượng trưng.

Mặc dù các doanh nghiệp Mỹ có thể bị chính phủ Trung Quốc gây sức ép lên các khoản đầu tư của Mỹ tại nước này, nhưng Bắc Kinh còn lâu mới kiểm soát được các điểm then chốt trong tài chính toàn cầu như Washington đang làm, điều cho phép chính phủ Mỹ sở hữu sức mạnh thực sự trong việc áp dụng các lệnh trừng phạt và phong toả tài sản.

Công nghệ và Kinh doanh

Ngân hàng Trung ương công bố gói kích thích kinh tế. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc công bố một gói kích thích kinh tế quy mô lớn, dẫn đến một đợt phục hồi nhỏ trên thị trường chứng khoán. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã do dự trong việc triển khai các biện pháp kích thích kinh tế quy mô lớn tương tự như những biện pháp đã giúp Trung Quốc vượt qua khủng hoảng tài chính năm 2008, nhưng chỉ số kinh tế không khả quan trong mùa hè này cho thấy Trung Quốc có nguy cơ không đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5% trong năm nay, nếu như không có hành động can thiệp nào đáng kể.

Các biện pháp chủ yếu tập trung vào cải thiện thanh khoản nhưng cũng bao gồm cắt giảm lãi suất vay mua nhà và giảm mức tiền vốn người mua cần có nhằm phục hồi thị trường bất động sản. Tuy nhiên, các biện pháp này khó khả thi: Tuy giá bất động sản tiếp tục giảm, nhưng các chính quyền địa phương vẫn đang can thiệp đẩy giá lên bằng cách gây áp lực lên các công ty không được bán bất động sản dưới một mức giá sàn nhất định.

Các quan chức lo ngại về sự bất ổn xã hội, vì những người biểu tình có xu hướng quy trách nhiệm cho chính phủ khi các khoản đầu tư của họ thất bại. Tuy nhiên, khi giá cả không được phép giảm xuống mức đáy còn các tập đoàn bất động sản lớn đang dần suy yếu, doanh số vẫn tiếp tục lao dốc.

Chuyên gia kinh tế mất tích. Nhà kinh tế học nổi tiếng người Trung Quốc Chu Hằng Bằng đã bị giam giữ cách đây vài tháng vì chỉ trích các chính sách của Tập Cận Bình trong một nhóm WeChat riêng, theo tờ Wall Street Journal đưa tin vào thứ Ba. Ông Chu từng là phó Giám đốc Viện Kinh tế thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS), một viện nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu Trung Quốc, và là một nhà bình luận thường xuyên về các vấn đề kinh tế.

Đây là một tín hiệu xấu vì một số lí do. Thứ nhất, điều này phản ánh sự bất an của các các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt là ông Tập, đến mức mà ngay cả những chỉ trích mang tính chuyên môn và riêng tư cũng dẫn đến phản ứng thái quá như vậy từ các lực lượng an ninh. Rõ ràng rằng, khiến một người biến mất – thay vì chỉ cần để cảnh sát “mời lên uống nước” cảnh cáo – là một quyết định nghiêm trọng.

Điều này cũng tạo ra một “hiệu ứng ớn lạnh” (chilling effect) làm nản lòng các chuyên gia khác, khiến cho khả năng phản biện những chính sách không hiệu quả của chính phủ của các chuyên gia cũng bị xói mòn theo. Theo báo cáo, việc bắt ông Chu là một phần của chiến dịch tranh trừng có quy mô tại CASS do một bề tôi trung thành của ông Tập dẫn dắt. Trung Quốc đã đánh mất những nhân tài trong lĩnh vực tài chính do các cuộc thanh trừng và cắt giảm lương trong chiến dịch “thịnh vượng chung” của Tập Cận Bình, chỉ còn lại những nhà tư tưởng ở các vị trí chủ chốt. Điều này khiến việc quản lý hiệu quả gói kích thích kinh tế mới được Trung Quốc công bố trở nên khó khăn hơn.

T.P

]]>
Phe Phúc Kiến của Tập Cận Bình đi đâu rồi? https://biendong.net/2025/11/02/phe-phuc-kien-cua-tap-can-binh-di-dau-roi/ Sun, 02 Nov 2025 08:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159005 Sự ra đi của các nhân vật quân sự chủ chốt phụ trách chiến lược Đài Loan đang thu hút sự chú ý toàn cầu.

Và rồi chẳng còn ai nữa. Những nhân vật có ảnh hưởng trong quân đội từng ủng hộ nhà lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình với vai trò thành viên chủ chốt của “phe Phúc Kiến” trong Quân Giải phóng Nhân dân đều đã bị thanh trừng.

Một trong số các chức danh của Chủ tịch Tập là Chủ tịch Quân ủy Trung ương, cho phép ông nắm quyền chỉ huy Quân Giải phóng Nhân dân. Phe Phúc Kiến được cho là lực lượng nòng cốt của ông trong quân đội hùng mạnh, giúp ông củng cố quyền lực.

Đáng chú ý, những nhân vật chủ chốt này phụ trách chiến lược đối với Đài Loan. Trong số những người bị thanh trừng lần này có cả các tư lệnh chiến khu đương nhiệm và cựu tư lệnh liên quan đến Đài Loan.

Sau làn sóng thanh trừng mới nhất, phe Phúc Kiến của Quân Giải phóng Nhân dân trên thực tế đã biến mất.

Diễn biến này quá bất ngờ đến nỗi đã thu hút sự chú ý của quốc tế. Điều này có lẽ càng được khuấy động bởi loạt phim truyền hình đang được phát sóng ở Đài Loan và một số nơi khác, về một cuộc xâm lược hư cấu của quân đội Trung Quốc vào hòn đảo.

Vào thứ sáu ngày 17/10, Bộ Quốc phòng Trung Quốc bất ngờ tuyên bố trục xuất chín quan chức quân sự cấp cao khỏi Đảng Cộng sản và Quân Giải phóng Nhân dân, với lý do tham nhũng.

Chín người này đều giữ cấp bậc cao nhất là Thượng tướng, tương đương với cấp Tướng (Lục quân) hoặc Đô đốc (Hải quân).

Hà Vệ Đông, một trong hai Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương dưới quyền Tập Cận Bình, là quan chức cấp cao nhất trong chín quan chức quân đội bị thất sủng. Người ta đã không thể xác định tung tích của ông suốt một thời gian khá dài.

Ông là sĩ quan quân đội có cấp bậc cao thứ hai sau Trương Hựu Hiệp, Phó Chủ tịch còn lại của Quân ủy Trung ương. Giống như Trương, Hà là một trong 24 thành viên của Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực của đảng.

Người có cấp bậc cao thứ hai trong số chín quan chức bị thanh trừng là Miêu Hoa, cựu Ủy viên kiêm Chủ nhiệm Bộ Công tác Chính trị Quân ủy Trung ương.

Bảy viên chức quân đội khác bị thanh trừng là:

Hà Hoành Quân, cựu Phó Chủ nhiệm Bộ Công tác Chính trị Quân ủy Trung ương

Vương Tú Bân, cựu Phó Giám đốc Trung tâm Chỉ huy Hợp đồng Tác chiến của Quân ủy Trung ương
Lâm Hướng Dương, cựu Tư lệnh Chiến khu Đông bộ
Tần Thục Đồng, cựu Chính ủy Lục quân Quân Giải phóng Nhân dân
Viên Hoa Chi, cựu Chính ủy Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân
Vương Xuân Ninh, cựu Tư lệnh Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân
Vương Hậu Bân, cựu Tư lệnh Quân chủng Tên lửa Quân Giải phóng Nhân dân
Ngoại trừ Vương Hậu Bân, tám người còn lại đều là thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 20 hiện tại.

Thông báo khai trừ đột ngột này được đưa ra vào thời điểm nhạy cảm về chính trị, ngay trước thềm Hội nghị Trung ương 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 20 diễn ra đến hết thứ năm ngày 23/10 tại Bắc Kinh.

Hà Vệ Đông là Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương đương nhiệm đầu tiên bị thanh trừng kể từ Cách mạng Văn hóa (1966-1976), vốn là chiến dịch thảm khốc do Mao Trạch Đông, người sáng lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phát động nhằm giành lại vị thế đã mất trong cuộc tranh giành quyền lực.

Năm 1967, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương lúc bấy giờ là Hạ Long – người mà 40 năm trước đó đã chỉ huy lực lượng chủ chốt của Khởi nghĩa Nam Xương ở tỉnh Giang Tây và trở thành một trong những nhân vật sáng lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc – đã bị bức hại và giam giữ. Ông qua đời một cách bi thảm hai năm sau đó.

Năm 1972, Hà Vệ Đông gia nhập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc khi mới 15 tuổi. Vào thời điểm đó, chẳng ai biết được những cuộc tranh giành quyền lực khốc liệt của đất nước sẽ dẫn đến những hệ quả chính trị nào. Quả vậy, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Lâm Bưu, người được cho là người kế nhiệm Mao, đã qua đời một năm trước khi máy bay của ông bị rơi ở Mông Cổ. Lâm Bưu khi đó đang cố gắng đào tẩu sang Liên Xô do bất ổn chính trị trong nước.

Khi gia nhập Quân Giải phóng Nhân dân, chàng thiếu niên Hà Vệ Đông có lẽ không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ thăng tiến lên vị trí Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, chức vụ mà Lâm Bưu từng nắm giữ, đúng nửa thế kỷ sau đó.

Có lẽ Hà cũng không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ bị thanh trừng như Hạ Long trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa.

Hà Vệ Đông, Miêu Hoa, và Lâm Hướng Dương là những thành viên lãnh đạo của phe Phúc Kiến trong Quân Giải phóng Nhân dân.

Trước khi bị thanh trừng, Lâm Hướng Dương từng giữ chức Tư lệnh Chiến khu Đông bộ, phụ trách chiến lược Đài Loan. Hà Vệ Đông cũng từng giữ chức vụ này trước khi được thăng chức Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương vào năm 2022.

Hà Vệ Đông, Miêu Hoa, và Lâm Hướng Dương đều sinh ra ở tỉnh Phúc Kiến, nằm dọc theo Eo biển Đài Loan. Họ từng là thành viên Tập đoàn quân 31, một đơn vị hiện đã giải thể của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đóng tại thành phố Hạ Môn.

Bản thân Tập Cận Bình cũng rất quen thuộc với tỉnh ven biển miền đông nam này vì ông đã làm việc ở đó từ giữa những năm 1980 cho đến năm 2002, đầu tiên là với chức phó thị trưởng Hạ Môn.

Tập đoàn quân 31 thuộc Quân khu Nam Kinh. Tập đã thăng chức cho nhiều cựu sĩ quan của đơn vị này – bao gồm Hà Vệ Đông, Miêu Hoa, và Lâm Hướng Dương – vào các vị trí chủ chốt.

Trong bài xã luận đăng trên trang nhất hôm thứ Bảy 18/10, tờ Giải phóng quân báo, cơ quan ngôn luận của Quân ủy Trung ương, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải kiên quyết thực hiện “cuộc đấu tranh chống tham nhũng” của quân đội đến cùng.

Bài viết khẳng định “Các vụ án tham nhũng liên quan đến Hà Vệ Đông, Miêu Hoa, Hà Hoành Quân, và các quan chức khác là do quá trình lan rộng và biến tướng từ ảnh hưởng độc hại của Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu.”

Quách và Từ là những nhân vật quan trọng trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Họ đã được cựu lãnh đạo tối cao Giang Trạch Dân thăng lên cấp tướng và giữ chức Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương dưới thời Hồ Cẩm Đào, người kế nhiệm Giang.

Hai cựu sĩ quan cấp cao này sau đó bị cuốn vào chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình, được phát động ngay sau khi Tập lên nắm quyền lãnh đạo đảng với tư cách là Tổng Bí thư vào tháng 11/2012.

Sau khi phát động chiến dịch chống tham nhũng một cách quyết liệt, Tập đã thề sẽ thẳng tay trừng trị “hổ và ruồi” – những từ dùng để chỉ các lãnh đạo quyền lực và các quan chức cấp thấp hơn. Chu Vĩnh Khang, ông trùm an ninh Trung Quốc, là con hổ lớn đầu tiên bị nhắm đến.

Chu từng phục vụ trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị, cơ quan ra quyết định hàng đầu của đảng. Ông kiểm soát bộ máy an ninh nội bộ của Trung Quốc, bao gồm cơ quan tình báo, tư pháp, và cảnh sát, và cũng được cho là lãnh đạo cấp cao của cái gọi là “phe dầu mỏ.”

Sau khi đàn áp Chu Vĩnh Khang, Tập tiếp tục nhắm đến hai con hổ lớn trong quân đội là Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu. Quách bị kết án tù chung thân vào năm 2016, còn Từ qua đời vì ung thư vào năm 2015 khi đang bị giam giữ.

Quách và Từ đã nghỉ hưu hoàn toàn khi họ bị bãi nhiệm. Tập loại bỏ họ để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thời kỳ của hai người tiền nhiệm Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới.

Nhưng việc khai trừ chín quan chức quân đội cấp cao trong tháng này lại mang hàm ý khác. Tập không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thanh trừng những phụ tá thân cận mà chính ông từng đề bạt một cách rầm rộ.

Cuộc thanh trừng những người này cho thấy việc diệt trừ tham nhũng khó như thế nào ngay cả trong thời đại Tập Cận Bình.

Bằng cách sử dụng các thuật ngữ như “lan rộng,” “biến tướng,” và “độc hại” để nói về Quách và Từ trong bài xã luận hôm thứ bảy, tờ Giải phóng quân báo dường như đang ám chỉ rằng các vụ tham nhũng mới nhất bắt nguồn từ thời Giang và Hồ, hai người tiền nhiệm trực tiếp của Tập Cận Bình.

Có thể nói đây là một trò đổ lỗi. Nhưng đồng thời, bài xã luận cũng gián tiếp thừa nhận rằng đã không có tiến triển đáng kể nào dưới thời Tập liên quan đến việc siết chặt kỷ luật và cải cách Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Vậy nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi ban lãnh đạo Trung Quốc không muốn công khai công bố việc khai trừ chín quan chức quân đội cấp cao. Thông báo này chỉ được đưa ra thông qua Bộ Quốc phòng, chứ không phải qua các phương tiện truyền thông chính thức, vốn được kỳ vọng sẽ đưa các tin quan trọng.

Trên thực tế, Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc do nhà nước điều hành đã không đưa tin về cuộc thanh trừng trong chương trình tin tức buổi tối chính ngày hôm đó, dù đây là một vấn đề rất nghiêm trọng.

Hành động trừng phạt Hà Vệ Đông nói riêng đáng lẽ phải gây chú ý lớn, vì ông cũng là ủy viên Bộ Chính trị đương nhiệm đầu tiên bị thanh trừng kể từ năm 2017, khi Tôn Chính Tài, Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, đột ngột bị cách chức.

Không còn nghi ngờ gì, làn sóng thanh trừng mới nhất trong quân đội là kết quả của những sai lầm về nhân sự trong quá khứ của chính quyền Tập Cận Bình.

Sau Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 20 của đảng vào tháng 10/2022, Quân ủy Trung ương có bảy thành viên. Nhưng con số đó hiện chỉ còn bốn: Chủ tịch Tập và ba sĩ quan quân đội, bao gồm Phó Chủ tịch Trương Hựu Hiệp.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Ủy viên Quân ủy Trung ương Lý Thượng Phúc đã bị thanh trừng vào năm 2023. Câu hỏi hiện nay là các vị trí Quân ủy Trung ương còn trống sẽ được lấp đầy như thế nào tại Hội nghị Trung ương 4 và sau đó.

Bất kỳ thay đổi nhân sự nào cũng sẽ tác động đáng kể đến cán cân quyền lực hiện tại trong quân đội.

T.P

]]>
Hoạt động tình báo ở các đô thị Việt Nam bị địch tạm chiếm giai đoạn 1945-1954 https://biendong.net/2025/10/31/hoat-dong-tinh-bao-o-cac-do-thi-viet-nam-bi-dich-tam-chiem-giai-doan-1945-1954/ Fri, 31 Oct 2025 15:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=158997 Trong bài viết “Hà Nội và Sài Gòn thuộc địa trong chiến tranh: Động lực xã hội của ‘thành phố ngầm’ của Việt Minh, 1945-1954” (Colonial Hanoi and Saigon at War: Social Dynamics of the Viet Minh’s ‘Underground City’, 1945-1954), sử gia Christopher E. Goscha nhấn mạnh vai trò then chốt của đô thị trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Việt Nam. Không chỉ cung cấp vật chất và nhân lực, các thành phố thuộc địa như Hà Nội, Huế, Sài Gòn còn là nguồn thông tin tình báo vô giá cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là nơi Việt Minh xây dựng các “thành phố ngầm” kết nối thành thị với chiến khu ở vùng nông thôn. Tạp chí Phương Đông trích dịch giới thiệu tới bạn đọc phần nói về việc truyền tin và tình báo – những hoạt động đã góp một phần quan trọng vào sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn 1945-1954.

Các thành phố thuộc địa: nguồn cung cấp quan trọng cho chiến khu

Bốn năm trước khi Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh vào tháng 10/1949, mặt trận dân tộc chủ nghĩa do cộng sản lãnh đạo, Việt Minh, đã nắm quyền tại tất cả các thành phố thuộc địa của Việt Nam. Vào ngày 2/9/1945, trước hàng trăm nghìn người tập trung tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố khai sinh một nước Việt Nam mới – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, sự hiện diện không bị thách thức của Việt Minh tại Sài Gòn chỉ kéo dài chưa đầy một tháng trước khi người Pháp, được Anh bật đèn xanh, dùng vũ lực trở lại các khu vực dưới vĩ tuyến 16 để tái lập nhà nước thuộc địa mà Nhật Bản đã chiếm được vài tháng trước đó. Quân đoàn Viễn chinh Pháp đã đẩy Việt Minh ra khỏi các thành phố về vùng nông thôn khi giành quyền kiểm soát đường sá, cầu cống và các thị trấn. Tuy nhiên, tình hình rất khác ở phía trên vĩ tuyến 16. Nhờ Hội nghị Potsdam phân chia Đông Dương tại ranh giới đó và lực lượng chiếm đóng của Tưởng Giới Thạch không muốn chấp nhận một cuộc đảo chính của Pháp ở phía trên vĩ tuyến 16, nên Việt Minh đã hoạt động gần như không bị thực dân can thiệp tại các thành phố ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam trong hơn một năm. Đặt trụ sở tại các trung tâm đô thị, các nhà lãnh đạo của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đã ghép phần lớn nhà nước dân tộc mới vào cơ sở hạ tầng thuộc địa đã có từ trước, chiếm đóng các tòa nhà hành chính của Pháp, các nhà máy, bệnh viện và trường học, và giữ lại nhiều nhất có thể số công chức người Việt đáng tin cậy đã được đào tạo từ thời thuộc địa.

Điều ít người biết đến là khi chiến tranh ngày càng có khả năng xảy ra từ giữa năm 1946, Việt Minh đã bắt đầu sơ tán càng nhiều cơ sở hạ tầng đô thị và nhân lực càng tốt. Ví dụ, trước khi phá hủy đài phát thanh của Pháp bên ngoài Hà Nội, các cán bộ VNDCCH đã cẩn thận dọn sạch kho chứa radio, điện thoại, máy phát điện và các phụ tùng. Họ chở theo máy phát của đài, xương sống của Đài Tiếng nói Việt Nam. Điều tương tự cũng xảy ra với các viện Pasteur và rất nhiều bệnh viện, phòng khám và nhà thuốc. Việt Minh đã cẩn thận tịch thu vắc-xin, thuốc men, thiết bị y tế, và đôi khi cả nhân sự. Chính phủ thậm chí còn sơ tán một phần đáng kể Khoa Y do Pháp xây dựng tại Hà Nội, đủ để chính phủ mới có thể thành lập một trường y sơ khai ở vùng đồi núi phía bắc. Ngành “công nghiệp” vũ khí của nhà nước VNDCCH hoạt động tại các vùng du kích chủ yếu nhờ vào vật liệu, máy móc thời thuộc địa và lao động di tản khỏi các thành phố. Trong khi đó, các trinh sát và sinh viên đã mang theo máy in, giấy và mực – nếu thiếu những thứ này thì sẽ không thể có sự lưu thông thông tin, bộ máy hành chính, hệ thống giáo dục hay tuyên truyền trong những ngày đầu.

Theo nhiều cách, các thành phố đã cung cấp phần lớn vật chất ban đầu – dường như khoảng 40.000 tấn – trong quá trình chuyển đổi từ một nhà nước chiến tranh đô thị sang một nhà nước chiến tranh dựa trên nông thôn. Việc “xuất khẩu” các sản phẩm, máy móc và nhân lực đã giúp nhà nước non trẻ này vượt qua cuộc tấn công dữ dội của Pháp năm 1947 và bắt đầu xây dựng lại ở nông thôn.

Bên cạnh việc cung cấp máy móc thiết bị, các nguyên vật liệu, thuốc men, con người…] Thành phố thuộc địa còn là một nguồn tin tình báo vô giá cho nhà nước chiến tranh dựa trên nông thôn. Các phương tiện giao thông và liên lạc hiện đại đã kết nối Hà Nội và Sài Gòn với khu vực châu Á xung quanh, với thủ đô nước Pháp, và với thế giới. Người ta có thể mua báo Pháp, báo Việt Nam và quốc tế tại các thành phố này. Các thư viện đã mở cửa trở lại, bao gồm cả những thư viện do các lãnh sự quán Mỹ và nước ngoài quản lý. Và dĩ nhiên, Hà Nội, Huế và Sài Gòn là các trung tâm của quyền lực thực dân. Bộ chỉ huy cấp cao của Pháp hoạt động từ Hà Nội và Sài Gòn và tổ chức các hoạt động quân sự tại đây. Việc xây dựng bất kỳ dự án nào chống lại nhà nước VNDCCH, chẳng hạn như “giải pháp Bảo Đại” và một nhà nước phản cách mạng, đều xuất hiện từ đó.

Theo dõi những diễn biến như vậy rõ ràng là một nhiệm vụ cốt yếu. Nông thôn không thể cung cấp thông tin về những vấn đề quan trọng này. Nền ngoại giao còn rất non trẻ của VNDCCH cũng không thể sánh được với thành phố thuộc địa về mặt đưa tin thời sự. Sài Gòn và Hà Nội là những nguồn tin tình báo và thông tin quan trọng nhất cho Việt Minh. Điệp viên tại các “thành phố bị chiếm đóng” đã mua báo Pháp, báo Việt Nam và báo nước ngoài một cách có hệ thống, cắt riêng các bài báo và số liệu thống kê có liên quan, rồi lưu trữ và gửi đến các nhà hoạch định chính sách đang chờ đợi ở nông thôn. Tham gia vào một cuộc chiến tranh thuộc địa với những khía cạnh quốc tế ngày càng quan trọng, các nhà hoạch định chính sách của VNDCCH cần phải nắm bắt thông tin về hoạt động của cả kẻ thù Pháp lẫn kẻ thù Việt Nam và các đồng minh nước ngoài. Việc ra quyết định hiệu quả phụ thuộc vào điều này. Các điệp viên an ninh và tình báo hoạt động bí mật, thu thập thông tin về các hoạt động di chuyển của quân đội Pháp và các dự án chính trị của Pháp. Họ cẩn thận lập các báo cáo chi tiết về thái độ của người dân địa phương và tạo dựng những mạng lưới quan hệ phức tạp với một cộng đồng dân cư thành thị, từ những người nghèo khó đến những người giàu có, đồng thời nỗ lực hết sức để xâm nhập vào các hiệp hội sinh viên, trí thức và văn hóa. Như một cuốn lịch sử gần đây của lực lượng Thông tin liên lạc Công an Nhân dân mô tả:

Các chiến sĩ công an cấp quận trong thành phố đã gửi hàng trăm báo cáo về các hoạt động quân sự, hoạt động chính trị, gián điệp và các đảng phái chính trị phản động của địch về trụ sở công an thành phố tại khu vực căn cứ của chúng tôi. Nhiều báo cáo trong số này chứa đựng những thông tin quý giá, giúp chúng tôi chống lại những âm mưu của địch nhằm truy lùng và bắt giữ các điệp viên và tổ chức của chúng tôi trong thành phố. Sách, tạp chí và báo mà địch xuất bản trong thành phố cũng được gửi thường xuyên đến căn cứ. Những tài liệu được công bố này đã giúp chúng tôi phân tích và khám phá ra rất nhiều thông tin giá trị về các hoạt động của địch dưới mọi hình thức, những thông tin trực tiếp hỗ trợ các hoạt động phản gián và nỗ lực theo dõi tình hình chung của chúng tôi.

Ngay sau khi các nhà lãnh đạo VNDCCH di tản khỏi Hà Nội và Sài Gòn, Đảng đã cử các điệp viên quay trở lại để xây dựng các thành phố ngầm song song tại Hà Nội và Sài Gòn thuộc địa, thường được gọi bằng tiếng Việt là “đặc khu”[1]. Điều này cũng có nghĩa là Hà Nội, Huế và Sài Gòn chịu sự giám sát của cảnh sát ở mức độ chưa từng có, đầu tiên là của Pháp và VNDCCH, sau đó là của “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại từ năm 1949. Tất nhiên, từ rất lâu trước khi chiến sự bùng nổ, cảnh sát thuộc địa vẫn luôn theo dõi sát sao các hoạt động dân tộc chủ nghĩa ngầm trong các thành phố. Điều mới mẻ trong Chiến tranh Đông Dương là Sở Mật thám giờ đây có thể dựa vào quân đội và một loạt cơ quan tình báo mới để hỗ trợ công tác đàn áp và thu thập thông tin tình báo. Một thập kỷ trước khi tiến vào Casbah ở Algiers, quân đội Pháp đã dính líu sâu vào việc kiểm soát các thành phố thuộc địa ở Việt Nam. Phòng Nhì [tình báo quân đội Pháp] đã mở hồ sơ về Sài Gòn, Hà Nội và Huế, đồng thời trao đổi thông tin với Sở Mật thám và nhiều cơ quan tình báo khác của “Quốc gia Việt Nam”. Đến năm 1950, để ngăn chặn Việt Minh xâm nhập Sài Gòn-Chợ Lớn, Pháp đã triển khai gần 15.000 quân tại đây, bao gồm 1.000 người Campuchia, 2.100 người theo đạo Cao Đài và 171 người Việt theo Công giáo. 5.000 quân khác bảo vệ Chợ Lớn. Các mật vụ an ninh và binh lính thường xuyên kiểm tra xe khách và xe hơi ra vào thành phố. Quân đội Pháp đã xây dựng các lô cốt; thiết lập các trạm kiểm soát vũ trang tại các tuyến đường chính; bố trí điệp viên, người chỉ điểm và quân lính tại các làng ngoại ô có vị trí chiến lược; và thường xuyên tiến hành các hoạt động biệt kích.

Tất cả những điều này đã góp phần vào việc quân sự hóa, tổ chức quân đội và giám sát đời sống đô thị. Người dân mang theo thẻ căn cước bắt buộc và dần quen với việc xuất trình giấy tờ, bị khám xét và đi qua các trạm kiểm soát. Lệnh giới nghiêm thường được áp dụng. Cảnh sát vũ trang và binh lính tuần tra trên đường phố là hình ảnh thường thấy. Việc di chuyển vào và ra khỏi thành phố đều bị kiểm soát. Người ta không thể tự do “đi vào” hoặc “ra khỏi” thành phố thuộc địa trong thời chiến. Đối với những người hoạt động chống Pháp, ngay cả việc di chuyển trong thành phố cũng có thể là một trải nghiệm căng thẳng. Như một điệp viên cộng sản bí mật nhớ lại thời gian ông ở Hà Nội vào đầu những năm 1950: “Khi di chuyển, chúng tôi phải đi thật bình tĩnh và điều đặc biệt quan trọng là không được tỏ vẻ lo sợ. Một vẻ mặt lo lắng, một khuôn mặt sợ hãi hoặc một thái độ bất thường là đủ để bạn bị lộ và bị bắt giữ.”[2]

Cảnh sát và các cơ quan tình báo của VNDCCH đã bắt chước công việc của đối thủ, dẫn đến việc “giám sát kép” thành phố. Các lãnh đạo công an ngầm của VNDCCH, do những người như Trần Quốc Hoàn ở Hà Nội và Cao Đăng Chiếm ở Sài Gòn chỉ huy, đã chủ trì việc giám sát người Pháp và “Quốc gia Việt Nam” tại các thành phố thuộc địa. Những cán bộ này đã bố trí các điệp viên cài cắm, mật vụ và gián điệp riêng, về mặt lý thuyết là chịu trách nhiệm cho từng khu vực bị chia cắt bên trong Sài Gòn và Hà Nội. Tổng tư lệnh Lực lượng vũ trang Nam bộ, Tướng Nguyễn Bình, đã điều hành hoạt động giám sát quân sự riêng tại Sài Gòn cho đến năm 1950. Các công chức đã lập hồ sơ về những người làm việc với người Pháp “ở cấp cao”, đồng thời cẩn thận ghi chép tên của những người làm việc cho Pháp trên đường phố và ở các quán cà phê “ở cấp thấp”. Thành phố ngầm là một phần của bộ máy hành chính nhà nước và bộ chỉ huy quân sự của VNDCCH. Không có gì ngạc nhiên khi chính quyền Pháp và chính quyền “Quốc gia Việt Nam” phải di chuyển với mức độ an ninh chưa từng có và thay đổi lịch trình hàng ngày. Nỗi sợ bị ám sát và ném lựu đạn là có thật. Chúng ta cũng không nên ngạc nhiên khi các chính trị gia và thương gia quyền lực người Việt liên minh với Pháp không phải là những người duy nhất chạy khỏi Hà Nội vào cuối năm 1954.

Những mối liên kết

Các thành phố ngầm của nhà nước VNDCCH không thể hoạt động được nếu không có người dân vận chuyển hàng hóa và thông tin. Các cán bộ cộng sản lịch thiệp có thể đã nắm quyền quyết định. Sức hút của Tướng Nguyễn Bình có thể đã trở thành huyền thoại. Nhưng tất cả những người đàn ông này (rất ít phụ nữ giữ chức vụ lãnh đạo) đều dựa vào các thanh niên và sinh viên yêu nước, những phụ nữ bán hàng rong, và thậm chí cả trẻ em để truyền thông tin và tài liệu đến và ra khỏi thành phố. Nhiều người đã chấp nhận rủi ro cực lớn khi che giấu điệp viên, thu thập thông tin và vận chuyển người, thuốc men, linh kiện radio và tiền bạc qua ranh giới của kẻ thù. Những người này đến từ mọi tầng lớp xã hội. Sinh viên tư sản, được khuyến khích bởi lòng yêu nước trào dâng từ những ngày tháng sôi động giai đoạn 1945-1947, chắc chắn đã hoạt động tích cực trong lĩnh vực này, đặc biệt là vào đầu cuộc chiến, cũng như các trí thức, giáo viên, và thậm chí cả các luật sư đã bảo vệ Nguyễn Bình trong chuyến công du bí mật của ông tại Sài Gòn năm 1947. Hàng trăm người trong số này đã di tản cùng Việt Minh hoặc gia nhập quân đội trong những ngày đầu. Nhiều người đã trở về các thành phố và tiếp tục hoạt động trong các tổ chức hợp pháp và bất hợp pháp.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản, xuất thân từ gia đình hoàng tộc ở Huế, là một ví dụ điển hình. Bà bắt đầu sự nghiệp cách mạng tại Huế với sự xuất hiện của Việt Minh. Khi còn là một thiếu nữ, bà đã bí mật mang tài liệu và thuốc men ra khỏi thành phố và phát tờ rơi tuyên truyền ở Huế và Sài Gòn. “Tôi quá phấn khích nên đã đi theo những người khác”, sau này bà nhớ lại; “Chúng tôi rất thích”, bởi vì “những hoạt động kiểu này rất phù hợp với lứa tuổi đó, khi người ta thích phiêu lưu và mạo hiểm”. Nền giáo dục tinh hoa mà bà Toản được hưởng (bà tốt nghiệp trường trung học Đồng Khánh và nói tiếng Pháp lưu loát) cùng địa vị xã hội cao (dòng máu hoàng tộc) đã giúp ích cho bà rất nhiều, giúp bà ra tù nhiều lần. Những người Pháp bắt giữ bà Toản (cũng như người mẹ đầy lo lắng của bà) đã nói với bà rằng một thành viên của hoàng tộc, lại là một phụ nữ, không nên tham gia vào những hoạt động phản loạn chỉ dành cho “người nghèo và người bị áp bức” như vậy. Điều này đã không thể ngăn cản bà Toản, hay những thanh niên trung lưu có học thức khác. Năm 1948, vì quá bực tức, Sở Mật thám cuối cùng đã trục xuất bà khỏi Huế. Đây chỉ là một trong số rất nhiều trường hợp

Về mặt hậu cần, cũng quan trọng không kém – nếu không muốn nói là quan trọng hơn – là một đội quân phụ nữ buôn bán và bán hàng rong rong ruổi hàng ngày giữa thành phố và các vùng ngoại ô, di chuyển từ chợ này sang chợ khác, từ phố này sang phố khác. Công việc của họ rất phù hợp với nhu cầu vận chuyển người, vật liệu và tài liệu ra vào thành phố của Việt Minh. Những người phụ nữ này, chủ yếu ở độ tuổi thiếu niên và đôi mươi, phủ kín cả khu vực đô thị với những chiếc giỏ trên vai. Họ sở hữu kiến thức vô giá về những con phố chính, các ngõ ngách, và cả mặt trái xã hội của các hoạt động trao đổi của thành phố ngầm VNDCCH. Các nhà lãnh đạo nam giới theo chủ nghĩa dân tộc rất tin tưởng rằng sự kết hợp giữa giới tính và giai cấp của những người phụ nữ này sẽ bảo vệ họ, và do đó cả hàng hóa mà họ bí mật mang theo, khỏi sự khám xét và tịch thu.

Vì vậy, VNDCCH đã tuyển dụng rất kỹ lưỡng các “giao liên” để kết nối thành phố với nông thôn. Chính xác là bao nhiêu người? Có lẽ khoảng 50 người cho Sài Gòn, Huế và Hà Nội, nằm trong nội thành và ngoại ô, nơi Việt Minh đặt các căn cứ an toàn, thường gần chợ – những nguồn thông tin địa phương tuyệt vời. Trong hồi ký của mình, các cán bộ cấp cao của VNDCCH thường đề cập đến tầm quan trọng của những nữ hướng dẫn viên hộ tống họ ra vào thành phố một cách an toàn. Nhớ lại lần vào Hà Nội năm 1951, Nguyễn Bắc đã nhấn mạnh đến kiến thức đầy ấn tượng của họ:

Người điệp viên liên lạc của tôi, tức là người được giao nhiệm vụ đưa tôi [vào Hà Nội], là một phụ nữ trẻ rắn rỏi với làn da rám nắng, cực kỳ thông thạo khu vực này. Không gì có thể thoát khỏi tầm mắt cô ấy trong phạm vi công việc của cô [một điệp viên liên lạc]. Cô ấy cảnh báo tôi rằng trong trường hợp bị cảnh sát kiểm tra hoặc thậm chí nếu ai đó hỏi những câu hỏi thiếu tế nhị, chúng tôi phải trả lời rằng chúng tôi là một cặp vợ chồng trở về Hà Nội sau vài ngày về quê ăn giỗ cha mẹ. Cô ấy nói cho tôi tên ngôi làng tưởng tượng, tên thôn xóm, và phả hệ đầy đủ của các thành viên trong gia đình ở quê đó “của chúng tôi”, cũng như mối quan hệ họ hàng gắn kết dòng họ chúng tôi qua nhiều thế hệ. Và cô ấy nói rõ với tôi một cách hết sức nghiêm túc rằng tôi phải lặp lại được tất cả những điều này mà không hề ngần ngừ gì và với một vẻ mặt bình thường[4]!

Kiến thức xã hội và xã hội học của những người phụ nữ trẻ này thật sự vô giá, nằm ở điểm giao cắt rất thực giữa lãnh thổ thuộc chủ quyền của nhà nước thời chiến dựa trên nông thôn với lãnh thổ chủ quyền của thành phố thuộc địa Pháp mà những người theo chủ nghĩa dân tộc rất cần phải xâm nhập. Đây là những khu vực cực kỳ nguy hiểm, nơi sự nghi ngờ luôn gia tăng tại các trạm kiểm soát biên giới, giấy tờ tùy thân là bắt buộc, và thái độ, cách nói năng cùng trí thông minh đóng vai trò quan trọng hơn sức mạnh cơ bắp. Ngô Văn Chiêu, một người dân thành thị yêu nước khác, nhập ngũ năm 1945, mang ơn cô gái dẫn đường trẻ tuổi đã đưa ông vào Hà Nội an toàn vào năm 1951. Khi chiếc xe khách chở họ vào thành phố bị kiểm tra, ông Chiêu quên mất mình đang ở đâu, và đã buột miệng dùng từ “đồng chí” khi trả lời viên sĩ quan người Việt đang tra hỏi ông tại trạm kiểm soát. “Sao anh lại gọi tôi là đồng chí?”, viên sĩ quan đáp trả. “Tôi đã chết lặng”, sau này ông Chiêu nhớ lại, nhưng “trong nháy mắt, cô gái trẻ đã tiếp quản [cuộc trò chuyện]”. Thực tế, cô ấy đã nói mọi thứ và nghĩ trước mọi thứ. Cô đã cung cấp cho viên sĩ quan của “Quốc gia Việt Nam” một bản mô tả cực kỳ chi tiết về cuộc đời của Chiêu khi còn là một nông dân nghèo dưới chế độ “chuyên chế cộng sản” và một bằng chứng ngoại phạm hợp lý cho việc ông sử dụng thuật ngữ cộng sản này. Rồi cô kết thúc một cách xuất sắc với người đàn ông cầm súng đứng trước mặt mình:

Điệp viên liên lạc: Thưa sĩ quan, anh trai tôi là một thợ nề rất giỏi nhưng anh ấy không thông minh lắm. Chúng tôi chỉ là những người nông dân nghèo. Xin hãy rộng lượng tha thứ cho chúng tôi. Chúng tôi đang đến để được các ngài bảo vệ [khỏi cộng sản] ở Hà Nội…

Viên sĩ quan: Được rồi, đi đi. Nhưng đừng gọi những người ở đây là đồng chí… Anh có thể gặp phải những cảnh sát kém hiểu biết.

Điệp viên liên lạc: Vâng, thưa sĩ quan, cảm ơn ngài. [Nói với Chiêu:] Nhanh lên… chúng ta sẽ đến nhà mẹ đỡ đầu của tôi, bà ấy sống gần đây[5].

Những người phụ nữ, kiến thức của họ, cùng các mối quan hệ xã hội và họ hàng đóng vai trò trọng yếu trong việc tạo ra thành phố ngầm và mối liên hệ của nó với “bên ngoài”. Người dẫn đường của Chiêu, một người Công giáo, đã giúp ông ở nhờ tại nhà mẹ đỡ đầu của cô. Chiêu nợ người phụ nữ trẻ này sự tự do, và có lẽ là cả mạng sống của mình. Hệ tư tưởng cộng sản rõ ràng không đóng vai trò gì nhiều trong trường hợp này. Nhưng trong những trường hợp khác, nó có thể là một mối liên kết quan trọng. Dẫn đầu chính đội trinh sát mà Đảng Cộng sản Đông Dương cử quay trở lại thủ đô bị tàn phá vài ngày sau khi những người dân quân cuối cùng đã rút lui vào ngày 17/2/1947 là một người tên là Nguyễn Thị Thuần. Nhiệm vụ của bà? Thu thập thông tin tình báo và đảm bảo an toàn cho các cán bộ nam trở lại thành phố hiện đang bị chiếm đóng. Bà là vợ của một trong những nhà lãnh đạo cộng sản quan trọng nhất. Và bà không phải là “phu nhân lãnh tụ đảng” duy nhất đóng vai trò quan trọng (và nguy hiểm!) như vậy trong thành phố ngầm và những nơi khác.

Cũng làm trinh sát cho những nhóm đầu tiên trở về Hà Nội là 5 em nhỏ của “Đội Thiếu niên Tình báo Bát sắt”. Nhiều em xuất thân từ những gia đình nghèo hoặc là trẻ mồ côi. Thật không may, vào thời điểm đó không thiếu trẻ mồ côi. Nghèo đói từ lâu đã đẩy nông dân vào các thành phố thuộc địa. Nạn đói khủng khiếp năm 1944–1945 đã tạo ra hàng loạt trẻ em mồ côi cha mẹ ở trong và xung quanh Hà Nội. Việc các gia đình bị chia cắt do nạn đói đã tạo điều kiện cho Việt Minh tuyển dụng người dẫn đường và chỉ điểm trong số các em nhỏ. Ở Sài Gòn, Huế và Hà Nội, Việt Minh đã chiêu mộ trẻ mồ côi đi bán báo, làm nghề đánh giày, ăn xin hoặc trộm cắp. Các em này được đánh giá là rất thông thạo phố xá và không chịu sự quản lý của cha mẹ, và – vì tuổi còn nhỏ, có vẻ ngoài lôi thôi lếch thếch cùng những công việc tầm thường – các em thường được lực lượng an ninh Pháp bỏ qua (hoặc Việt Minh đã nghĩ như vậy). Những em nhỏ này đã giúp cung cấp và vận chuyển thông tin và nhân lực bên trong các thành phố, hoặc vào và ra khỏi thành phố. Ban lãnh đạo VNDCCH đã sử dụng những em nhỏ này để chuyển thư cá nhân của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và những người khác cho bạn bè và những người ưu tú ở Hà Nội, kêu gọi họ không cộng tác với Pháp và gia nhập các vùng kháng chiến.[7] Nhiều em trong số này đã hy sinh trong cuộc chiến tranh phi thực dân hóa đầy bạo lực này, xóa nhòa sự chia rẽ giữa dân thường và chiến sĩ ngay từ đầu…

T.P

]]>
07/10/1943: Nhật hành quyết gần 100 tù binh chiến tranh Mỹ trên Đảo Wake https://biendong.net/2025/10/14/07-10-1943-nhat-hanh-quyet-gan-100-tu-binh-chien-tranh-my-tren-dao-wake/ Tue, 14 Oct 2025 04:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=157827 Vào ngày này năm 1943, Chuẩn Đô đốc Shigematsu Sakaibara, chỉ huy lực lượng đồn trú Nhật Bản trên Đảo Wake, đã ra lệnh hành quyết 98 tù binh chiến tranh Mỹ, với lý do họ đang cố gắng liên lạc với lực lượng Mỹ qua sóng radio.

Cuối tháng 12/1941, Nhật Bản gửi một lượng lớn quân chi viện đến tăng cường cho lực lượng hiện có trên Đảo Wake, một phần của quần đảo san hô vòng phía tây Hawaii, sau khi không thể giành lại hòn đảo từ một nhóm nhỏ quân Mỹ vào đầu tháng. Người Nhật nhanh chóng áp đảo, và hầu hết lính Mỹ còn sống sau trận chiến đã bị quân Nhật đưa ra khỏi đảo đến các trại tù binh chiến tranh ở nơi khác. 98 người bị giữ lại làm lao động cưỡng bức. Phản ứng của phe Đồng minh là ném bom định kỳ hòn đảo – nhưng không còn đổ bộ xâm lược nữa. Đây là một phần trong chiến lược lớn hơn của Đồng minh nhằm để mặc một số đảo do Nhật chiếm đóng ở Nam Thái Bình Dương ‘chết đói’ trong cảnh cô lập.

Cuộc hành quyết những tù binh chiến tranh người Mỹ trên Đảo Wake, những người bị bịt mắt và sau đó bắn chết một cách tàn nhẫn, vẫn là một trong những vụ việc tàn bạo nhất của cuộc chiến ở Thái Bình Dương.

T.P

]]>
Cuộc đàn áp của TQ đối với người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương https://biendong.net/2025/10/14/cuoc-dan-ap-cua-tq-doi-voi-nguoi-duy-ngo-nhi-tai-tan-cuong/ Tue, 14 Oct 2025 03:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=157828 Hơn một triệu người Hồi giáo đã bị giam giữ tại khu vực Tân Cương của Trung Quốc. Các trại cải tạo chỉ là một phần trong chiến dịch đàn áp người Duy Ngô Nhĩ của chính quyền.

Giới thiệu

Chính phủ Trung Quốc được cho là đã giam giữ hơn một triệu người Hồi giáo trong các “trại cải tạo” kể từ năm 2017, với ước tính khoảng nửa triệu người hiện vẫn đang bị cầm tù hoặc bị giam giữ. Phần lớn những người bị giam giữ là người Duy Ngô Nhĩ (Uighur), một nhóm dân tộc phần lớn nói tiếng gốc Thổ, sinh sống chủ yếu ở khu vực tây bắc Tân Cương (新疆), một trong năm khu tự trị của Trung Quốc. (Các khu tự trị khác gồm: Quảng Tây, Nội Mông, Ninh Hạ và Tây Tạng). Người Duy Ngô Nhĩ trong khu vực này đồng thời phải chịu sự giám sát chặt chẽ, lao động cưỡng bức, chia cắt gia đình, triệt sản không tự nguyện cùng nhiều hành vi ngược đãi nhân quyền khác.

Mỹ và một số chính phủ nước ngoài đã định rõ hành động của Trung Quốc tại Tân Cương là tội diệt chủng. Văn phòng Nhân quyền Liên Hợp Quốc cho biết những vi phạm này có thể cấu thành tội ác chống lại loài người. Giới chức Trung Quốc tuyên bố họ không xâm phạm quyền của người Duy Ngô Nhĩ và các trại cải tạo đã bị đóng cửa vào năm 2019. Mặc dù các báo cáo quốc tế xác nhận việc nhiều trung tâm hiện đã đóng cửa, nhưng chính quyền được cho là đã chuyển đổi một số trung tâm thành các cơ sở giam giữ. Tuy nhiên, vì chính phủ Trung Quốc hạn chế chặt chẽ việc nhà báo và du khách nước ngoài đến Tân Cương nên rất khó để có được một đánh giá chính xác về khu vực này.

Có bao nhiêu người Hồi giáo bị giam giữ tại Trung Quốc?

Theo các nhà nghiên cứu quốc tế và giới chức Mỹ, hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ và các nhóm thiểu số Hồi giáo khác, trong đó có người Kazakh và người Uzbek, đã bị giam giữ kể từ năm 2017. (Một số nhóm giám sát gần đây đã ước tính con số gần đến 1,8 triệu người). Nhiều người bị giam trong các cơ sở mà chính phủ Trung Quốc từng gọi là “trung tâm dạy và đào tạo nghề” và hiện đang đóng cửa. Tuy nhiên, thuật ngữ phổ biến nhất được các tổ chức truyền thông và nhà nghiên cứu quốc tế sử dụng là trại cải tạo, trại tập trung và trại giam. Dù có những trường hợp tử vong trong thời gian giam giữ nhưng chính phủ Trung Quốc chưa đưa ra số liệu chính thức nào.

Bên ngoài các trại, cơ sở giam giữ và nhà tù, mười một triệu người Duy Ngô Nhĩ sống ở Tân Cương – tên chính thức là Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương – vẫn tiếp tục chịu đựng sự đàn áp kéo dài hàng thập kỷ của chính quyền Trung Quốc. Vào năm 2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã ban hành Quy định Sửa đổi về Công tác Tôn giáo, trong đó nêu rõ hoạt động tôn giáo không được phép bị lợi dụng để phá hoại sự thống nhất dân tộc của quốc gia. Tại Tân Cương, báo cáo ghi nhận tình trạng phân biệt đối xử trong tuyển dụng, phá dỡ nhà thờ Hồi giáo và các địa điểm linh thiêng của đạo Hồi, lệnh cấm mặc trang phục tôn giáo và các vụ biến mất ép buộc.

Việc giam giữ hàng loạt người Hồi giáo bắt đầu từ khi nào?

Các chuyên gia ước tính rằng những nỗ lực cải tạo bắt đầu ở Tân Cương vào năm 2014 và được mở rộng đáng kể vào năm 2017. Sau loạt vụ tấn công vào dân thường năm 2014, chẳng hạn như vụ đâm dao hàng loạt tại một nhà ga ở Côn Minh, Vân Nam và vụ đánh bom ở thủ phủ Ürümqi của Tân Cương, chính phủ Trung Quốc đã viện dẫn những lo ngại về khủng bố làm động cơ cho cuộc đàn áp.

Từ năm 2017, các chuyên gia và nhà báo ghi nhận việc xây dựng các trại cải tạo mới và việc mở rộng các cơ sở giam giữ hàng loạt hiện có. Các nhà báo của Reuters quan sát hình ảnh vệ tinh và phát hiện ra trong khoảng từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018, ba mươi chín trại đã tăng quy mô gần gấp ba lần; chúng bao phủ tổng diện tích gần bằng 140 sân bóng đá. Tương tự, nhà nhân chủng học người Đức và chuyên gia về Tân Cương Adrian Zenz khi phân tích ngân sách địa phương và quốc gia đã phát hiện ra trong năm 2017, chi tiêu xây dựng các cơ sở liên quan đến an ninh ở Tân Cương đã tăng 20 tỷ nhân dân tệ (khoảng 2,96 tỷ USD). Vào năm 2019, Zenz nói với RFA rằng ước tính của ông về số lượng trại tập trung ở Tân Cương có thể lên tới hơn một nghìn.

Cuối năm 2019, tỉnh trưởng Tân Cương tuyên bố những người bị giam giữ trong các trại cải tạo đã “tốt nghiệp”, chính quyền Trung Quốc tuyên bố họ có quyền tự do đi lại. Tuy nhiên, các nhà báo khó mà xác minh được những tuyên bố này, vì việc tiếp cận bị hạn chế nghiêm ngặt và việc nói chuyện với người dân địa phương có thể khiến họ gặp nguy cơ bị giam giữ. Các báo cáo độc lập cho thấy một số người bị giam giữ được thả phải đối mặt với việc bị quản thúc tại gia, hạn chế di chuyển và lao động cưỡng bức.

Dù các nhà báo xác minh rằng một số trại đã thực sự đóng cửa vào cuối năm 2019, nhưng vào năm kế tiếp, các nhà nghiên cứu tại Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI) đã dùng hình ảnh vệ tinh và xác định được hơn 380 cơ sở giam giữ khả nghi. Họ phát hiện Trung Quốc đã sửa lại một số trại cải tạo có an ninh thấp thành các trung tâm giam giữ hoặc nhà tù chính thức; mở rộng các trung tâm giam giữ hiện có; xây dựng các trung tâm giam giữ mới, an ninh cao trên khắp Tân Cương. (Giới chức Trung Quốc tuyên bố ASPI là công cụ chống Trung Quốc do Úc và Mỹ tài trợ).

Thay vì giam người dân trong trại cải tạo, chính quyền hiện đang tăng cường sử dụng hệ thống tư pháp chính thức để bỏ tù người dân. Năm 2022, Associated Press phát hiện rằng tại một huyện, ước tính cứ 25 người thì có 1 người bị kết án tù vì các tội danh liên quan đến khủng bố, tất cả đều là người Duy Ngô Nhĩ. Theo báo cáo năm 2025 của Bảo tàng Tưởng niệm Holocaust (Nạn diệt chủng người Do Thái) Mỹ, vẫn còn hơn nửa triệu người đang bị giam giữ trong các nhà tù chính thức hoặc bị giam giữ ngoài vòng pháp luật ở nước này.

Có gì bên trong các trại cải tạo?

Hầu hết những người bị giam giữ trong các trại cải tạo chưa bao giờ bị truy tố chính thức cũng như không có quyền tiếp cận pháp lý nào để khiếu nại việc bị giam giữ. Theo các phương tiện truyền thông, những người bị giam giữ có vẻ đã bị nhắm đến vì nhiều lý do, bao gồm đi lại hoặc liên lạc với người từ bất cứ quốc gia nào trong số 26 quốc gia mà Trung Quốc coi là nhạy cảm, chẳng hạn như Thổ Nhĩ Kỳ và Afghanistan; tham dự lễ tại nhà thờ Hồi giáo; có hơn ba con; gửi các văn bản chứa các câu Kinh Qur’an. Theo các nhóm nhân quyền cho biết, thông thường, tội duy nhất của họ chỉ là theo đạo Hồi, và nhiều người Duy Ngô Nhĩ bị gán là phần tử cực đoan chỉ vì thực hành tôn giáo của họ.

Thông tin về những gì đã xảy ra trong các cơ sở cải tạo vẫn còn hạn chế, nhưng nhiều người bị giam giữ sau khi trốn khỏi Trung Quốc đã miêu tả lại điều kiện sống khắc nghiệt. Văn phòng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã công bố một báo cáo vào năm 2022 dựa trên các cuộc phỏng vấn với hàng chục người, trong đó có 26 cựu tù nhân, cho thấy “các hình thức tra tấn hoặc các hình thức đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác” trong các trại từ năm 2017 đến năm 2019.

Báo cáo của Liên Hợp Quốc đã khẳng định những phát hiện trước đó của các nhà báo, nhà nghiên cứu và tổ chức nhân quyền quốc tế. Nhiều bài báo đã phơi bày việc những người bị giam giữ bị buộc phải tuyên thệ trung thành với Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và từ bỏ đạo Hồi, cũng như ca ngợi chủ nghĩa cộng sản và học tiếng Quan Thoại. Một số người cho biết họ phải chịu đựng điều kiện sống giống như nhà tù với camera và micro theo dõi mọi hành động và lời nói. Những người khác cho biết họ bị tra tấn và phải chịu thiếu ngủ trong các cuộc thẩm vấn. Những người phụ nữ chia sẻ những câu chuyện về lạm dụng tình dục, kể cả bị cưỡng hiếp. Một số người được thả từng có ý định hoặc đã chứng kiến ​​người khác tự vẫn.

Việc giam giữ cũng làm tan vỡ gia đình. Trẻ em có cha mẹ bị đưa đến các trại thường buộc phải sống trong trại trẻ mồ côi do nhà nước quản lý. Nhiều phụ huynh người Duy Ngô Nhĩ sống bên ngoài Trung Quốc phải đối mặt với một lựa chọn khó khăn: trở về nhà với con cái và đối mặt với nguy cơ bị giam giữ, hoặc ở lại nước ngoài, xa cách con cái và không thể liên lạc với chúng. Nhiều gia đình cũng cho biết rằng con cái họ bị đưa đến trường nội trú mà không có sự đồng ý của họ. Theo các chuyên gia độc lập của Liên Hợp Quốc, ngôn ngữ giảng dạy trong trường hầu như chỉ là tiếng Quan Thoại, và các em học sinh ít được giao tiếp với gia đình.

Giới chức Trung Quốc nói gì về những trại này?

Ban đầu, giới chức phủ nhận sự tồn tại của những trại này. Tuy nhiên, đến cuối năm 2018, họ bắt đầu thừa nhận có “các trung tâm dạy và đào tạo nghề” ở Tân Cương. Trong một báo cáo của chính quyền, họ công khai tuyên bố rằng các trại này có hai mục đích: dạy tiếng Quan Thoại, luật pháp Trung Quốc và các kỹ năng nghề, đồng thời ngăn chặn người dân bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng cực đoan bằng cách ngăn chặn “các hoạt động khủng bố ngay từ trong trứng nước”. Bằng việc chỉ ra ở Tân Cương chưa từng xảy ra một vụ tấn công khủng bố nào kể từ tháng 12 năm 2016, giới chức tuyên bố các trại này đã giúp ngăn chặn bạo lực.

Khi làn sóng toàn cầu lên án các vụ lạm dụng ngày càng gia tăng, giới chức Trung Quốc và truyền thông nhà nước đã tìm cách làm mất uy tín các báo cáo về Tân Cương bằng nhiều chiến thuật, kể đến như phát tán thông tin sai lệch và quấy rối các nhà hoạt động. Họ lặp lại luận điệu “các thế lực chống Trung Quốc” ở Mỹ và các nước phương Tây đang lan truyền “những lời dối trá ác ý”. Bắc Kinh đã tìm cách ngăn cản Văn phòng Nhân quyền Liên Hợp Quốc công bố báo cáo năm 2022 về Tân Cương. Sau khi báo cáo được công bố, giới chức Trung Quốc đã cố gắng phủ nhận báo cáo này là thông tin sai lệch, đồng thời tuyên bố trong một bài phản bác rằng các chính phủ và tổ chức nước ngoài “lan truyền vô số tin đồn và lời nói dối” về Tân Cương.

Tại sao Trung Quốc lại nhắm vào người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương?

Giới chức Trung Quốc lo ngại người Duy Ngô Nhĩ có tư tưởng cực đoan và ly khai, và họ coi các trại này là một cách để loại bỏ những mối đe dọa đối với toàn vẹn lãnh thổ, chính quyền và người dân Trung Quốc.

Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với Tân Cương kể từ khi ĐCSTQ lên nắm quyền vào năm 1949. Một số người Duy Ngô Nhĩ sống ở đó gọi khu vực ấy là Đông Turkestan và cho rằng Đông Turkestan nên độc lập khỏi Trung Quốc. Tân Cương chiếm một phần sáu diện tích đất liền của Trung Quốc và có chung đường biên giới với tám quốc gia, trong đó có Afghanistan, Pakistan và Kazakhstan.

Dưới thời Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, ĐCSTQ đã thúc đẩy việc Hán hóa tôn giáo, tức là định hình tất cả các tôn giáo sao cho phù hợp với học thuyết vô thần của Đảng và phong tục tập quán của xã hội người Hán chiếm đa số. Mặc dù chính phủ công nhận năm tôn giáo – Phật giáo, Công giáo, Đạo giáo, Hồi giáo và Tin Lành – nhưng từ lâu họ vẫn lo ngại người nước ngoài có thể lợi dụng việc thực hành tôn giáo để kích động ly khai.

Chính phủ Trung Quốc bắt đầu coi bất kỳ biểu hiện Hồi giáo nào ở Tân Cương là cực đoan, một phản ứng đối với các phong trào đòi độc lập trong quá khứ vàcác vụ bùng phát bạo lực diễn ra thỉnh thoảng. Trong những thập kỷ gần đây, chính phủ đổ lỗi về các vụ tấn công khủng bố cho Phong trào Hồi giáo Đông Turkestan, một nhóm ly khai do người Duy Ngô Nhĩ hiếu chiến thành lập. (Vào năm 2020, Mỹ đã xóa nhóm này khỏi danh sách các tổ chức khủng bố với lý do không có bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy nhóm này đã hoạt động trong ít nhất một thập kỷ trước đó). Sau vụ tấn công 11/9, chính phủ Trung Quốc bắt đầu biện minh cho hành động của mình đối với người Duy Ngô Nhĩ là một phần của Cuộc Chiến Chống Khủng bố trên Toàn Cầu. Họ tuyên bố sẽ chống lại cái mà họ gọi là “ba điều ác” – ly khai, chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và khủng bố quốc tế – bằng mọi giá.

Vào năm 2009, bạo loạn nổ ra ở Ürümqi khi những người biểu tình mà phần đông là người Duy Ngô Nhĩ phản đối việc nhà nước khuyến khích người Hán di cư đến khu vực này cùng với tình trạng phân biệt đối xử sâu rộng đối với người Duy Ngô Nhĩ trong kinh tế và văn hóa. Gần hai trăm người đã thiệt mạng, và các chuyên gia cho rằng sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt trong thái độ của Bắc Kinh đối với người Duy Ngô Nhĩ. Trong mắt Bắc Kinh, tất cả người Duy Ngô Nhĩ đều có khả năng là phần tử khủng bố hoặc có cảm tình với khủng bố. Trong những năm tiếp theo, chính quyền đổ lỗi cho người Duy Ngô Nhĩ về các vụ tấn công tại văn phòng chính quyền địa phương, nhà ga, chợ trời, cũng như Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh.

Vào năm 2014, khi đến thăm Tân Cương, Tập Cận Bình đã cảnh báo về “mối nguy hiểm của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo” và ủng hộ việc sử dụng các công cụ “độc tài” để loại bỏ chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan trong một loạt bài phát biểu kín. Trong những bài phát biểu được tờ New York Times tiết lộ vào năm 2019, Tập Cận Bình không công khai kêu gọi bắt giữ áp đặt mà chỉ đặt nền móng cho cuộc đàn áp ở Tân Cương.

Vào năm 2017, chính quyền Tân Cương chính thức thừa nhận việc sử dụng các trung tâm đào tạo để loại bỏ chủ nghĩa cực đoan. Sau đó, các trại cải tạo dành cho người Duy Ngô Nhĩ bị giam giữ áp đặt bắt đầu mọc lên.

Đại dịch COVID-19 cũng là một lý do khác cho việc kiểm soát chặt chẽ và hạn chế nhà báo. Tân Cương đã trải qua tình trạng phong tỏa nghiêm ngặt và thiếu lương thực. Chính quyền đồng thời kiểm duyệt các bài đăng trực tuyến chỉ trích chính sách phong tỏa – một số người dùng mạng xã hội đã bị cảnh sát bắt giữ và bị cáo buộc lan truyền tin đồn. Những chính sách trong đại dịch cũng khiến các nhà báo nước ngoài gần như không thể đến và đưa tin từ Tân Cương.

Liệu yếu tố kinh tế có liên quan đến cuộc đàn áp này không?

Tân Cương là một mắt xích quan trọng trong Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường của Trung Quốc, một kế hoạch phát triển quy mô lớn trải dài khắp châu Á và châu Âu. Bắc Kinh hy vọng triệt tiêu mọi khả năng xảy ra hoạt động ly khai để tiếp tục việc phát triển ở Tân Cương, nơi có trữ lượng than và khí đốt tự nhiên lớn nhất Trung Quốc.

Theo nhiều báo cáo, nhiều người bị áp đặt giam giữ đã bị ép lao động. ASPI ước tính, từ năm 2017 đến năm 2020, tám mươi nghìn người Duy Ngô Nhĩ từng bị giam giữ trước đây đã được đưa đến các nhà máy trên khắp Trung Quốc có liên hệ với tám mươi ba thương hiệu toàn cầu. Một số trại cải tạo được ghi nhận là có nhà máy đặt ngay trong khuôn viên. Chính phủ cũng tăng cường sử dụng các biện pháp cưỡng chế để kiểm soát đất đai của người Duy Ngô Nhĩ và buộc nông dân làm việc trong nhà máy. Các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cho biết, lao động cưỡng bức là một yếu tố quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế của chính quyền đối với Tân Cương, trong đó bao gồm việc biến nơi đây thành trung tâm sản xuất dệt may và quần áo. Giới chức Trung Quốc coi chính sách này là “xóa đói giảm nghèo”.

ĐCSTQ đồng thời xúc tiến du lịch nội địa ở Tân Cương trong nỗ lực đổi mới thương hiệu khu vực và thương mại hóa văn hóa của người Hồi giáo thiểu số kể từ năm 2023. Du khách được tham gia vào những khía cạnh của một phiên bản văn hóa Duy Ngô Nhĩ đã được dàn dựng chặt chẽ, trong đó người Duy Ngô Nhĩ được thuê để biểu diễn các điệu múa truyền thống cũng như làm việc trong ngành nhà hàng và khách sạn. Các chuỗi khách sạn quốc tế cũng mở rộng phát triển một cách đáng kể ở Tân Cương – Dự án Quyền của Người Duy Ngô Nhĩ theo dõi ít ​​nhất 115 khách sạn quốc tế tính đến tháng 4 năm 2025, trong đó 74 khách sạn đang trong các giai đoạn quy hoạch khác nhau. Tổng lượng khách du lịch đến Tân Cương đạt mức cao nhất từ trước đến nay với 302 triệu lượt vào năm 2024; cục du lịch của khu vực đặt mục tiêu tăng lượt khách lên 400 triệu lượt vào năm 2030. Chi tiêu cho khách sạn hạng sang và các loại hình lưu trú khác đạt 97 triệu USD vào năm 2023 với hy vọng thu hút thêm nhiều người nước ngoài.

Điều gì đang diễn ra bên ngoài những trại cải tạo ở Tân Cương?

Những nhà báo quốc tế đã đến thăm Tân Cương cho biết nơi đây đã bị biến thành một nhà nước giám sát dựa vào công nghệ tiên tiến để theo dõi hàng triệu người. Vào năm 2017, theo bản tin truyền thông mô tả, Tân Cương được đặt dưới một hệ thống quản lý dạng lưới, trong đó thành phố và làng mạc bị chia thành các ô vuông với khoảng năm trăm người. Mỗi ô có một đồn cảnh sát giám sát chặt chẽ cư dân bằng cách thường xuyên quét thẻ căn cước, chụp ảnh và lấy dấu vân tay, cũng như kiểm tra điện thoại di động. Tuy nhiên, nhiều trạm kiểm soát này đã bị dỡ bỏ hoặc bỏ hoang trong vài năm qua và được thay thế bằng các biện pháp giám sát kín đáo hơn. Chính phủ cũng thu thập và lưu trữ dữ liệu sinh trắc học của công dân thông qua một chương trình bắt buộc được quảng bá là Khám sức khỏe cho Toàn dân.

Phần lớn các thông tin ấy được thu thập cho một cơ sở dữ liệu khổng lồ được biết đến với tên gọi Nền tảng Phối hợp Tác chiến Tích hợp (Integrated Joint Operations Platform). Hệ thống này sau đó sử dụng trí tuệ nhân tạo để lập danh sách những người được cho là đáng ngờ. Tài liệu mật của chính phủ Trung Quốc do Liên đoàn Nhà báo Điều tra Quốc tế (ICIJ) công bố năm 2019 cho thấy hơn mười lăm nghìn cư dân Tân Cương đã bị đưa vào các trung tâm giam giữ trong bảy ngày vào tháng 6 năm 2017 sau khi bị thuật toán đánh dấu. Chính phủ Trung Quốc gọi những tài liệu bị rò rỉ này là “hoàn toàn bịa đặt”.

Các nhà báo đưa tin từ Tân Cương phát hiện thấy nhiều khía cạnh của đời sống Hồi giáo đã bị xóa bỏ. Từ năm 2014, các Đảng viên đã được huy động đến tá túc ở nhà người Duy Ngô Nhĩ và báo cáo về bất cứ hành vi “cực đoan” nào nhận thấy được, bao gồm cả việc nhịn ăn trong tháng Ramadan. Giới chức đã phá hủy hàng nghìn nhà thờ Hồi giáo, thường xuyên cáo buộc các tòa nhà được xây dựng cẩu thả và không an toàn cho tín đồ. Thực phẩm Halal được chế biến theo luật Hồi giáo đã trở nên khó tìm hơn ở Ürümqi sau khi chính quyền địa phương phát động một chiến dịch chống đồ Halal. Theo Tổ chức Giám sát Nhân quyền, từ năm 2009 đến năm 2023, chính quyền đã đổi tên 630 ngôi làng Duy Ngô Nhĩ mang giá trị lịch sử, tôn giáo và văn hóa.

Phụ nữ Duy Ngô Nhĩ và phụ nữ các nhóm thiểu số khác đã báo cáo về việc bị ép buộc triệt sản và đặt vòng tránh thai. Giới chức đã bắt giữ những người có quá nhiều con hoặc vi phạm các chỉ thị sinh đẻ có kế hoạch. Bằng cách phân tích dữ liệu của chính phủ, Zenz phát hiện rằng tại hai địa khu có tỷ lệ người Duy Ngô Nhĩ cao nhất ở Tân Cương, tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên (không tính biến động dân số do di cư) đã giảm 84% trong giai đoạn 2015 – 2018 và đạt mức gần bằng không vào năm 2021 và 2022. Cha mẹ người Duy Ngô Nhĩ bị cấm đặt cho con mình một số tên nhất định như Mohammed và Medina.

Bắc Kinh cũng gây áp lực buộc các chính phủ khác hồi hương những người Duy Ngô Nhĩ trốn khỏi Trung Quốc. Một báo cáo năm 2022 của Trung tâm Wilson cho thấy hơn 1.500 người Duy Ngô Nhĩ ở nước ngoài bị giam giữ tại quốc gia sở tại hoặc buộc phải trở về Trung Quốc. Ví dụ, vào năm 2015, Thái Lan đã hồi hương hơn một trăm người Duy Ngô Nhĩ, và vào năm 2017, Ai Cập đã trục xuất một số sinh viên. Gần đây hơn, chính phủ Thái Lan đã gửi trả 48 người Duy Ngô Nhĩ vào tháng 2 năm 2025 – bất chấp việc chính phủ Thái đã tiếp nhận một nguyên tắc pháp lý quốc tế là cấm các quốc gia trả một người về nơi người ấy có nguy cơ bị đàn áp. Tài liệu do Liên đoàn Nhà báo Điều tra Quốc tế công bố vào năm 2019 cho thấy chính phủ Trung Quốc đã chỉ thị cho giới chức thu thập thông tin về người Duy Ngô Nhĩ Trung Quốc sống ở nước ngoài và kêu gọi bắt giữ nhiều người ngay khi họ trở về Trung Quốc.

Phản ứng toàn cầu ra sao?

Phần lớn các nước trên thế giới lên án việc Trung Quốc giam giữ người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương. Văn phòng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã kêu gọi Trung Quốc trả tự do cho những người bị giam giữ áp đặt và tiết lộ tung tích của những người mất tích.

Dưới sự dẫn dắt của Mỹ vào tháng 1 năm 2021, các nhà lập pháp ở một số quốc gia, trong đó có Canada và Vương quốc Anh, đã tuyên bố Trung Quốc đang phạm tội diệt chủng với người Duy Ngô Nhĩ. Nhiều quốc gia đã trừng phạt các quan chức và thực thể Trung Quốc có liên quan đến vi phạm nhân quyền. Vào năm 2021, Liên minh Châu Âu (EU) đã trừng phạt các quan chức Trung Quốc, đánh dấu lần đầu tiên khối này áp đặt các hạn chế đối với Trung Quốc kể từ năm 1989. Vào tháng 10 năm 2024, Nghị viện Châu Âu thông qua một nghị quyết khẩn cấp lên án việc ngược đãi người Duy Ngô Nhĩ và kêu gọi chính phủ Trung Quốc thả người bị giam. Vào tháng 7 năm 2025, các thành viên của Nghị viện Thành phố Amsterdam đã tiến xa hơn qua động thái sử dụng tên gọi “Đông Turkestan” thay cho “Tân Cương”.

Các chính phủ nước ngoài cũng áp đặt các biện pháp hạn chế để giải quyết vấn đề lao động cưỡng bức ở Tân Cương. Mỹ về cơ bản cấm tất cả hàng nhập khẩu từ khu vực này thông qua Đạo luật Phòng chống Cưỡng bức Lao động người Duy Ngô Nhĩ. Vương quốc Anh đề xuất biện pháp phạt những công ty không đảm bảo được rằng chuỗi cung ứng của họ không sử dụng lao động cưỡng bức. Vào tháng 11 năm 2024, EU thông qua lệnh cấm bán các sản phẩm được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Đáng chú ý, các đối tác của Trung Quốc lại im lặng và ưu tiên mối quan hệ kinh tế cũng như quan hệ chiến lược với Trung Quốc hơn là các vụ vi phạm nhân quyền. Vào tháng 6 năm 2022, 60 quốc gia, bao gồm các nước có đa số dân theo đạo Hồi như Pakistan và Ả Rập Xê Út, đã ký một tuyên bố kêu gọi Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc tôn trọng rằng các vấn đề liên quan đến Tân Cương là “chuyện nội bộ của Trung Quốc” và khẳng định rằng họ “phản đối việc chính trị hóa nhân quyền”. Các nhóm nhân quyền đã chỉ trích những nước Hồi giáo này vì đã dung túng cho vi phạm nhân quyền.

T.P

]]>
Tài liệu giải mật: Báo cáo của nhóm Nhiệm vụ Bí mật của CIA tại Việt Nam năm 1954 và 1955 https://biendong.net/2025/10/11/tai-lieu-giai-mat-bao-cao-cua-nhom-nhiem-vu-bi-mat-cua-cia-tai-viet-nam-nam-1954-va-1955/ Sat, 11 Oct 2025 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=157670 LTS: Sau đây là những trích đoạn từ báo cáo của Phái bộ Quân sự Sài Gòn, một nhóm của Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) do Edward Lansdale đứng đầu, ghi lại các hoạt động tình báo bí mật của nhóm tại Việt Nam trong giai đoạn 1954–1955, chủ yếu là các chiến dịch phá hoại ở miền Bắc Việt Nam trước, trong và sau khi Hiệp định Geneva được ký kết. Ngôn ngữ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để đảm bảo giá trị nghiên cứu và tham khảo.

Hiệp định Genève về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết ngày 21/7/1954, là một dấu mốc lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.
  1. Lời nói đầu

… Đây là bản tóm tắt ngắn gọn về một năm hoạt động của một nhóm tác chiến kiểu “chiến tranh lạnh”, do chính nhóm này viết tại hiện trường, từng chút một, trong những khoảnh khắc mà các thành viên có thể ghi lại được. Nhóm này được gọi là Phái bộ Quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission – SMM). Hiện trường ở đây là Việt Nam. Có những nhóm khác tại hiện trường này, của Mỹ, Pháp, Anh, Trung Quốc, Việt Nam, Việt Minh…

Phái bộ Quân sự Sài Gòn vào Việt Nam ngày 1/6/1954 khi Trưởng phái đoàn đặt chân đến đây. Tuy nhiên, đây là câu chuyện về một nhóm, và mãi đến tháng 8/1954, số lượng thành viên mới đủ để thành lập một nhóm. Vì vậy, đây chủ yếu là câu chuyện về năm đầu tiên của nhóm, từ tháng 8/1954 đến tháng 8/1955.

Đó là một năm đầy mệt mỏi và khó hiểu, khi nhìn cận cảnh. Hiệp định Genève được ký kết ngày 21/7/1954 đã áp đặt những quy định hạn chế đối với tất cả các quan chức Mỹ, bao gồm cả Phái bộ Quân sự Sài Gòn. Một đối thủ chủ động và thông minh đã tận dụng triệt để các quyền hợp pháp để che giấu các hoạt động của mình khi thành lập các tổ chức “cài cắm lại” ở phía Nam vĩ tuyến 17 và nhanh chóng có được an ninh ở phía Bắc vĩ tuyến đó. Nền kinh tế và hệ thống thông tin liên lạc của đất nước [Việt Nam] đã bị tê liệt sau 8 năm chiến tranh công khai…

  1. Sứ mệnh

Phái bộ Quân sự Sài Gòn (SMM) ra đời trong một cuộc họp chính sách tại Washington vào đầu năm 1954, khi Điện Biên Phủ vẫn đang chống cự trước sự bao vây của Việt Minh. SMM sẽ âm thầm tiến vào Việt Nam và hỗ trợ người Việt Nam, chứ không phải người Pháp, trong một cuộc chiến tranh phi truyền thống. Trong quá trình này, người Pháp sẽ được coi là đồng minh thân thiện ở mức nhiều nhất có thể.

Nhiệm vụ chung của nhóm là thực hiện các hoạt động bán quân sự chống lại kẻ thù và tiến hành chiến tranh tâm lý chính trị. Sau đó, sau Hội nghị Genève, phái bộ được điều chỉnh để chuẩn bị phương tiện thực hiện các hoạt động bán quân sự tại các khu vực Cộng sản kiểm soát thay vì tiến hành chiến tranh phi truyền thống…

  1. Những điểm nổi bật trong một năm

a. Những ngày đầu tiên

Phái bộ Quân sự Sài Gòn (SMM) bắt đầu hoạt động vào ngày 1/6/1954, khi Đại tá Edward G. Lansdale thuộc Không quân Hoa Kỳ, Trưởng phái bộ, đến Sài Gòn với một chiếc hộp nhỏ đựng hồ sơ, quần áo và một chiếc máy đánh chữ đi mượn, nhờ chuyến bay SA-16 do Không đoàn 13 tại Căn cứ Không quân Clark sắp xếp cho ông. Trung tướng John O’Daniel và Đại biện Đại sứ quán Rob McClintock đã sắp xếp việc bổ nhiệm Lansdale làm Trợ lý Tùy viên Không quân, vì vào thời điểm đó, các sĩ quan Hoa Kỳ tại Nhóm cố vấn quân sự (MAAG) không được phép họp bàn với các sĩ quan Việt Nam. Đại sứ Heath [Đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam] đã đồng ý. Lansdale ở chung phòng với Tướng O’Daniel, sau đó chuyển đến một căn nhà nhỏ do MAAG thuê. Liên lạc bí mật với Washington được thực hiện thông qua trạm CIA tại Sài Gòn.

Tình hình Việt Nam ngày càng u ám. Điện Biên Phủ đã thất thủ. Người Pháp đang đầu hàng Việt Minh tại Genève. Đêm đầu tiên ở Sài Gòn, quân phá hoại của Việt Minh đã cho nổ tung các kho đạn dược lớn tại sân bay, làm rung chuyển Sài Gòn suốt đêm. Tướng O’Daniel và Đại biện McClintock nhất trí rằng đã đến lúc phải hành động tích cực. O’Daniel đã mở đường cho một cuộc khảo sát trực tiếp chóng vánh về tình hình trên khắp đất nước. McClintock mở đường cho các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo chính trị Việt Nam. Danh tiếng của Tổng chỉ huy của chúng tôi từ Philippines đã đi trước ông. Hàng trăm mối quan hệ quen biết với người Việt Nam đã nhanh chóng được thiết lập.

Hợp tác chặt chẽ với Cơ quan thông tin Hoa Kỳ USIS, một chiến dịch chiến tranh tâm lý mới đã được vạch ra, nhắm vào chính quyền ở Hà Nội. Ngay sau đó, các khóa bồi dưỡng về chiến tranh tâm lý chiến đấu đã được tổ chức gấp. Các chiến dịch tung tin đồn được bổ sung vào chiến thuật và được thử nghiệm tại Hà Nội. Nhưng gần như đã quá muộn.

Chiến dịch tung tin đồn đầu tiên được dàn dựng cẩn thận với câu chuyện về một trung đoàn Cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kỳ trả thù một ngôi làng Việt Minh có những cô gái bị người Trung Quốc hãm hiếp, nhắc nhớ đến hành vi của quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc vào năm 1945 và nỗi lo sợ của người Việt Nam về sự chiếm đóng của Trung Quốc dưới sự cai quản của Việt Minh; câu chuyện này sẽ do các binh lính người Việt thuộc Đội Chiến tranh Tâm lý Vũ trang tại Hà Nội đồn thổi lên. Những người lính này mặc thường phục, lặng lẽ nhận chỉ thị, lên đường làm nhiệm vụ và không trở về. Họ đã đào ngũ sang phe Việt Minh.

Tình hình chính trị rất hỗn loạn. Hoàng thân Bửu Lộc không còn đứng đầu chính phủ “Quốc gia Việt Nam”. Các bộ ngành gần như đóng cửa. Các nhà lãnh đạo bất ổn của các nhóm chính trị đang đề xuất một cuộc cách mạng, bao gồm cả các cuộc tấn công vũ trang vào quân Pháp. Đại tá Jean Carbonel của Quân đội Pháp đề xuất thiết lập một chế độ với những người Việt Nam (người Nùng và các sắc tộc khác) mà ông ta quen biết ở gần biên giới Trung Quốc và yêu cầu sự hỗ trợ của chúng tôi. Chúng tôi trả lời rằng đây là một quyết định chính sách cần được họp bàn bởi Quân đoàn viễn chinh Pháp và chính quyền Hoa Kỳ.

Ngày 1/7, Thiếu tá Lucien Conein đến Việt Nam, với tư cách là thành viên thứ hai của nhóm. Ông là một chuyên gia bán quân sự, được người Pháp biết đến rộng rãi vì đã giúp đỡ Pháp lập các nhóm kháng chiến ở Bắc Kỳ để chống quân Nhật năm 1945, là chiến binh du kích Mỹ duy nhất không phải là thành viên của Phái bộ Patti. Ông được phân công về MAAG để tạo vỏ bọc.

Ngô Đình Diệm đến vào ngày 7/7, và chỉ trong vài giờ đã tuyệt vọng khi quân Pháp rút khỏi các tỉnh lỵ Công giáo ở Bắc Kỳ là Phát Diệm và Nam Định. Dân quân Công giáo đổ về Hà Nội và Hải Phòng, lòng họ tràn ngập sự phẫn nộ trước sự bỏ rơi của Pháp. Hai sĩ quan SMM đã ngăn chặn một cuộc tấn công bằng lựu đạn được lên kế hoạch bởi các nữ dân quân nhằm vào binh lính Pháp đang canh gác một nhà kho; các cô gái nói rằng họ chưa được ăn gì trong suốt ba ngày; các thương gia Trung Quốc ở Hải Phòng đã được sắp xếp để cung cấp thức ăn cho họ. Các cuộc tấn công khác của dân quân đã bị ngăn chặn, bao gồm một cuộc tấn công vào một đơn vị pháo binh Pháp đang rút quân. Ngày 21/7, Hiệp định Genève được ký kết. Bắc Kỳ được trao cho những người Cộng sản. Những người chống Cộng đã tìm đến SMM để được giúp đỡ thành lập một phong trào kháng chiến và một số thỏa thuận ban đầu đã được thực hiện.

b. Tháng 8/1954

Các bên đạt được thỏa thuận rằng số lượng tối đa quân nhân Hoa Kỳ tại Nhóm cố vấn quân sự (MAAG) sẽ được giữ nguyên ở mức hiện diện tại Việt Nam vào ngày ngừng bắn, theo các điều khoản của Hiệp định Genève. Tại Nam Việt Nam, hạn chót này là ngày 11/8. Điều này có nghĩa là SMM có thể chỉ có 2 thành viên hiện diện, trừ khi có thêm hành động nào đó. Tướng O’Daniel đã đồng ý bổ sung 10 người cho SMM dưới vỏ bọc MAAG, cộng với bất kỳ người nào trong hệ thống của Bộ quốc phòng đến trước hạn chót. Một lời kêu gọi hỗ trợ đã được gửi đi. 10 sĩ quan ở Hàn Quốc, Nhật Bản và Okinawa đã được chọn và được đưa gấp đến Việt Nam.

SMM được MAGG dành cho một ngôi nhà nhỏ. Các cuộc họp đã được tổ chức để đánh giá năng lực của các thành viên mới. Không ai có kinh nghiệm về chiến tranh chính trị – tâm lý. Hầu hết đều có kinh nghiệm trong các hoạt động tình báo bí mật và bán quân sự. Kế hoạch được lập nhanh chóng, vì thời gian ở miền Bắc đang cạn dần; Việt Minh đã bắt đầu nắm quyền kiểm soát bí mật Hà Nội, và các khu vực khác ở Bắc Kỳ vẫn do quân Pháp nắm giữ.

Thiếu tá Conein được giao trách nhiệm xây dựng một tổ chức bán quân sự ở miền Bắc, đã ở vị trí sẵn sàng khi Việt Minh tiếp quản…. Đội này… ngay lập tức được điều động ra Bắc, trong vỏ bọc nhân viên MAAG phụ trách vấn đề người tị nạn. Đội có trụ sở tại Hà Nội, với một chi nhánh ở Hải Phòng. Một trong các công việc “vỏ bọc” của đội này là giám sát dòng người tị nạn cho các chuyến không vận Hà Nội do Pháp tổ chức. Một ngày nọ, khi một chiếc CAT C-46 chất hàng xong, họ nhìn thấy một em bé đứng dưới mặt đất, phía sau cửa chất hàng. Họ hét lên bảo phi công đợi, bế đứa trẻ lên và đẩy cậu bé vào trong máy bay, sau đó máy bay nhanh chóng lăn bánh ra ngoài để cất cánh trong chuyến bay con thoi liên tục. Một người đàn ông và một phụ nữ Việt Nam chạy đến chỗ đội, hỏi họ đã làm gì với cậu con trai nhỏ của mình, họ chỉ đưa cậu bé đến để chào tạm biệt người thân. Các nhân viên trong đội buồn bã giải thích, cuối cùng họ thuyết phục được bố mẹ cậu bé đi vào Nam để đến với “Việt Nam Tự do”, đưa họ lên chuyến bay tiếp theo để đón con trai ở Sài Gòn…

Một đội bán quân sự thứ hai được thành lập để tìm hiểu khả năng tổ chức kháng chiến chống lại các căn cứ tiền tuyến của Việt Minh ở miền Nam. Đội này gồm Trung tá Lục quân Raymond Wittmayer, Thiếu tá Lục quân Fred Allen, và Trung úy Lục quân Edward Williams. Williams là sĩ quan phản gián giàu kinh nghiệm duy nhất của chúng tôi và đảm nhận hai nhiệm vụ, bao gồm cả việc hợp tác với các nhóm chính trị cách mạng. Cuối cùng, Thiếu tá Allen đã có thể triển khai một nỗ lực bán quân sự của người Việt Nam ở Bắc Kỳ từ miền Nam, vượt qua được sự phong tỏa của Việt Minh ở Hải Phòng khi các đội của ông tiến vào, huấn luyện và trang bị cho nhiệm vụ được giao.

c. Tháng 9/1954

Các quan chức cấp cao từ Washington đã đến thăm Sài Gòn và trong các cuộc trò chuyện riêng tư, họ nói rằng những ước tính hiện tại đã dẫn đến kết luận rằng có thể sẽ phải từ bỏ Việt Nam như một tổn thất. Chúng tôi thừa nhận rằng triển vọng rất ảm đạm, nhưng vẫn lạc quan rằng vẫn còn cơ hội chiến đấu…

Nhóm SMM phía bắc dưới quyền Conein đã tổ chức một nhóm bán quân sự (sẽ ngụy trang bằng tên Việt Nam là Bình) thông qua đảng Đại Việt, một đảng phái chính trị trung thành với Bảo Đại. Nhóm này sẽ được Hoa Kỳ huấn luyện và hỗ trợ với tư cách là những người Việt Nam yêu nước, để cuối cùng nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ khi chính phủ sẵn sàng cho các hoạt động như vậy. 13 “Bình” đã được bí mật rút lui qua cảng Hải Phòng, và được một tàu Hải quân Hoa Kỳ đưa đến khu vực huấn luyện.

Một nhóm bán quân sự khác cho các chiến dịch Bắc Kỳ đang được xây dựng tại Sài Gòn thông qua Tướng Nguyễn Văn Vỹ. Vào tháng 9, nhóm này bắt đầu hình thành nhanh chóng, và dự án được giao cho Thiếu tá Allen. (Chúng tôi sẽ đặt tên tiếng Việt cho nhóm này là Hảo)…

Đến cuối tháng, người ta biết được rằng cơ sở in ấn lớn nhất miền Bắc dự định ở lại Hà Nội và hợp tác với Việt Minh. SMM đã tìm cách phá hủy các máy in hiện đại, nhưng các nhân viên an ninh Việt Minh đã vào nhà máy từ trước và chặn được âm mưu này. Chiến dịch này do một người Việt Nam yêu nước, chúng ta sẽ gọi là Triệu, chỉ huy. Đầu tháng, họ đã thiết kế một cuộc tấn công tâm lý “bẩn” ở Hà Nội: truyền đơn giả vờ do Việt Minh ký, hướng dẫn người Bắc Kỳ cách ứng xử khi Việt Minh tiếp quản khu vực Hà Nội vào đầu tháng 10, bao gồm các nội dung về tài sản, cải cách tiền tệ, và 3 ngày nghỉ lễ cho công nhân sau khi tiếp quản. Một ngày sau khi những tờ rơi này được phát tán, số người đăng ký tị nạn tăng gấp ba. Hai ngày sau, đồng tiền Việt Minh mất một nửa giá trị so với trước khi có tờ rơi. Việt Minh lên đài phát thanh để lên án các tờ rơi. Các tờ rơi trông chân thực đến nỗi ngay cả hầu hết cán bộ cấp dưới của Việt Minh cũng cho rằng những lời tố cáo trên radio là một trò bịp bợm của Pháp.

Cuộc tấn công tâm lý ở Hà Nội còn gây ra những hậu quả khác. “Bình” đã chiêu mộ được một quan chức cảnh sát cấp cao ở Hà Nội vào nhóm của mình, để thực hiện việc thả bất kỳ thành viên nào trong nhóm nếu bị bắt. Vào phút chót, vị quan chức này đã quyết định đích thân hỗ trợ việc phát tờ rơi. Cảnh sát phát hiện ra ông ta, đuổi theo xe của ông ta trên những con phố vắng vẻ của Hà Nội vào sáng sớm, cuối cùng nổ súng và bắt giữ ông ta. Ông ta là thành viên duy nhất trong nhóm bị bắt. Ông ta bị giam giữ với tư cách là điệp viên của Việt Minh.

d. Tháng 10/1954

Hà Nội được sơ tán vào ngày 9/10. Đội SMM phía Bắc rời đi cùng những người lính Pháp cuối cùng, bối rối trước những gì họ chứng kiến về hiệu quả kinh khủng của Việt Minh khi tiếp quản, về sự tương phản giữa cuộc hành quân im lặng của quân đội Việt Minh chiến thắng trong những đôi giày tennis với tiếng áo giáp loảng xoảng của quân đội Pháp được trang bị đầy đủ – chiến thuật và trang thiết bị phương Tây của họ đã thất bại trước chiến dịch kinh tế chính trị quân sự của những người Cộng sản.

Nhóm phía Bắc đã dành những ngày cuối cùng ở Hà Nội để “đầu độc” nguồn cung cấp dầu của công ty xe buýt, nhằm phá hoại dần dần các động cơ trên xe buýt; thực hiện các hành động đầu tiên để phá hoại đường sắt một cách từ từ (việc này đòi hỏi sự phối hợp với một nhóm kỹ thuật đặc biệt của CIA tại Nhật Bản); và viết các ghi chú chi tiết về những mục tiêu tiềm năng cho các hoạt động bán quân sự trong tương lai (việc Hoa Kỳ tuân thủ Hiệp định Genève đã không cho phép SMM thực hiện hoạt động phá hoại tích cực mà họ mong muốn nhằm vào nhà máy điện, nhà máy nước, bến cảng và các cây cầu). Nhóm đã gặp phải một khoảnh khắc tồi tệ khi làm bẩn dầu của công ty xe buýt. Họ phải làm việc nhanh chóng vào ban đêm, trong một phòng chứa kín. Hơi bốc ra từ chất gây ô nhiễm dầu gần như khiến họ bất tỉnh. Chóng mặt và đầu gối run rẩy, họ lấy khăn tay che mặt và hoàn thành công việc.

Trong khi đó, các tàu của Ba Lan và Nga đã đến miền Nam để vận chuyển các thành viên Việt Minh ở miền Nam ra Bắc theo Hiệp định Genève. Điều này tạo cơ hội cho một cuộc tấn công tâm lý đen khác. Một tờ rơi được “Bình” biên soạn, giả vờ của Ủy ban Kháng chiến Việt Minh. Một trong các nội dung của tờ rơi là cam đoan với Việt Minh rằng họ sẽ được bảo vệ an toàn dưới boong tàu khỏi các cuộc tấn công bằng máy bay và tàu ngầm của đế quốc, và yêu cầu mang theo quần áo ấm; “quần áo ấm” sẽ được kết hợp với một chiến dịch đồn thổi rằng Việt Minh đang được đưa sang Trung Quốc làm công nhân đường sắt.

SMM đã in và phân phát tờ rơi bằng cách cho những người lính mặc thường phục xâm nhập vào các khu vực Việt Minh ở miền Nam bằng cách đi bộ. Các báo cáo tình báo và các báo cáo sau đó tiết lộ rằng các ủy ban đại biểu làng xã đã phàn nàn về việc “trục xuất” ra miền Bắc, sau khi tờ rơi được phân phát…

e. Tháng 11/1954

Tướng Lawton Collins đến làm Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn vào ngày 8/11. Trong cuộc họp báo đầu tiên, Collins đã nói rõ rằng Hoa Kỳ đang ủng hộ Tổng thống Diệm.

Một phần của nhóm SMM đã tham gia hỗ trợ chiến dịch “cứu Việt Nam” đầy nhiệt huyết do Collins thúc đẩy. Một số thành viên SMM phân tán khắp Thái Bình Dương, tháp tùng người Việt Nam tham gia huấn luyện bí mật, thu thập và vận chuyển hàng tiếp tế để tuồn lậu vào miền Bắc Việt Nam và cất giấu tại đó. Tại Philippines, nhiều sự hỗ trợ đang được thiết lập để giúp SMM đẩy nhanh dòng chảy hàng tiếp tế, cùng việc thành lập một công ty phi lợi nhuận của Philippines do Tổng thống Magsaysay hậu thuẫn, chuyên cung cấp những người Philippines có kinh nghiệm chiến đấu chống lại lực lượng Cộng sản Huks để hỗ trợ Việt Nam (hoặc bất cứ nơi nào khác)…

Ngày 23/11, 21 điệp viên Việt Nam được tuyển chọn và 2 đầu bếp thuộc nhóm bán quân sự “Hảo” của chúng tôi đã được đưa lên một tàu Hải quân trên sông Sài Gòn, ngay giữa ban ngày. Họ cải trang thành cu li, hòa vào dòng người cu li và người tị nạn lên xuống tàu, rồi lần lượt biến mất. Chiến dịch được lên kế hoạch và thực hiện một cách xuất sắc, các điệp viên được đón từ các điểm tập kết kín đáo trên khắp thành phố. Con tàu đưa các điệp viên “Hảo”, theo từng nhóm riêng biệt, đến một địa điểm ở nước ngoài, giai đoạn đầu tiên trong cuộc di chuyển đến một khu vực huấn luyện bí mật.

f. Tháng 12/1954

… Các cuộc thảo luận giữa Hoa Kỳ, Việt Nam [Quốc gia Việt Nam] và Pháp đã đạt đến điểm mà có lẽ một nhiệm vụ huấn luyện quân sự sử dụng các sĩ quan Hoa Kỳ sắp sửa được thực hiện. Tướng O’Daniel đã có một nhóm lập kế hoạch Mỹ-Pháp làm việc về vấn đề này. Một tài liệu mà họ đang soạn thảo là kế hoạch bình định các vùng Việt Minh và vùng bất đồng chính kiến; tài liệu này đã được chuyển cho SMM để hỗ trợ soạn thảo. SMM đã viết phần lớn nội dung của tài liệu, thay đổi khái niệm cũ từ sự kiểm soát cứng nhắc của cảnh sát đối với tất cả các khu vực sang một số khái niệm của chúng tôi về việc thu phục dân chúng và phân loại các khu vực theo mức độ rắc rối ở mỗi khu vực, mức độ kiểm soát cần thiết và xác định trách nhiệm giữa các cơ quan dân sự và quân sự. Với một vài thay đổi, sắc lệnh này đã được Ngô Đình Diệm ban hành vào ngày 31/12 với tên gọi Chỉ thị Hành động An ninh Quốc gia (Bình định)…

Vẫn còn nhiều bất ổn ở Việt Nam, đặc biệt là trong các nhóm chính trị chống Cộng không nằm trong chính phủ. Các sĩ quan của SMM đã được một số nhóm như vậy liên lạc, những người này cảm thấy rằng họ “sẽ phải tự sát vào năm 1956” (cuộc trưng cầu dân ý năm 1956 đã được hứa hẹn trong Hiệp định Genève năm 1954), khi Việt Minh chắc chắn sẽ tiếp quản chính quyền yếu kém hiện nay. Một nhóm nông dân và dân quân ở miền Nam đã được SMM thuyết phục không di cư sang Madagascar và ở lại trang trại của họ. Một số nhóm này đã yêu cầu SMM giúp đỡ đào tạo nhân sự cho chiến tranh du kích nếu Việt Minh giành chiến thắng. Những người như Bộ trưởng Quốc phòng [Quốc gia Việt Nam] lúc bấy giờ và Trịnh Minh Thế nằm trong số những người trung thành với chính phủ cũng đã yêu cầu sự giúp đỡ như vậy. Hoa Kỳ quyết định rằng một chương trình huấn luyện du kích cơ bản hơn có thể được thực hiện cho các nhóm như vậy, thay vì chương trình đã có sẵn tại địa điểm huấn luyện bí mật mà chúng tôi đã cử các nhóm Bình và Hảo đến. Các kế hoạch đã được lập ra với đầu Philippines để giải quyết vấn đề này. Hoa Kỳ đã hỗ trợ việc dựng lên một trại huấn luyện nhỏ tại thung lũng ẩn trong khu Căn cứ Không quân Clark.

g. Tháng 1/1955

Từ lâu, Việt Minh đã tiếp thu tư tưởng của những người Cộng sản Trung Quốc, coi nhân dân là nước, quân đội là cá. Mối quan hệ của Việt Minh với quần chúng nhân dân trong suốt cuộc chiến đều rất mẫu mực, ngoại trừ một vài ngoại lệ; ngược lại, Quân đội “Quốc gia Việt Nam” giống như quá nhiều quân đội châu Á khác, rất giỏi trong việc ép buộc dân chúng phải nuôi họ ăn uống, cung cấp các cô gái trẻ cho họ.

Sau này, chúng tôi được biết rằng vài tháng trước khi ký kết Hiệp định Genève, Việt Minh đã lên kế hoạch hành động trong giai đoạn hậu Genève; Quân đội “Quốc gia Việt Nam” sẽ là mục tiêu chính cho các nỗ lực phá hoại, được Ủy ban Trung ương ưu tiên hàng đầu, và khoảng 100 cán bộ cấp cao đã được đào tạo lại cho các hoạt động này và được đưa vào tổ chức [chữ không đọc được] để làm công việc này, vốn đã khởi động từ trước khi Hiệp định được ký kết…

Người yêu nước mà chúng tôi gọi là Triệu Đinh đã làm ra một cuốn lịch vạn sự để bán rộng rãi, đặc biệt là ở các thành phố và thị trấn phía Bắc mà chúng tôi vẫn có thể tiếp cận. Các nhà chiêm tinh Việt Nam nổi tiếng đã được thuê để viết những dự đoán về thảm họa sắp xảy ra cho một số nhà lãnh đạo và hoạt động của Việt Minh, và dự đoán sự thống nhất ở miền Nam. Việc này được thực hiện dựa trên khái niệm của chúng tôi về việc sử dụng chiêm tinh học cho chiến tranh tâm lý ở Đông Nam Á. Các bản sao của cuốn lịch vạn sự được vận chuyển bằng đường hàng không đến Hải Phòng và sau đó được tuồn vào lãnh thổ của Việt Minh.

Triệu Đinh cũng viết một loạt bài luận về lòng yêu nước của người Việt Nam chống lại Việt Minh cộng sản. Những bài viết này được lưu hành trong các nhóm có ảnh hưởng ở Việt Nam, được đăng trên trang nhất của tờ báo hàng ngày hàng đầu ở Sài Gòn. Lượng phát hành tăng lên khi những bài luận này được xuất bản. Nhà xuất bản được SMM biết đến với cái tên “The Dragon Lady” và là một cô gái Việt Nam xinh đẹp, từng là tình nhân của một thường dân Pháp chống Mỹ. Bất chấp những lời lẽ chống Mỹ của bạn trai cô, chúng tôi đã giúp cô giữ cho tờ báo của mình không bị chính phủ đóng cửa… và cô thấy việc nghe theo lời khuyên của chúng tôi về nội dung của tờ báo đã giúp cô thu về được nhiều tiền.

Vũ khí và trang thiết bị cho nhóm bán quân sự “Bình” được cất giấu ở miền Bắc, tại những khu vực vẫn chưa bị Việt Minh kiểm soát. Việc di chuyển nhân sự được che đậy nhờ dòng người tị nạn. Hải Phòng gợi nhớ đến những ngày đầu tiên của chúng tôi khi nơi đây ngập tràn những người không nơi nương tựa. Nơi ở và lương thực khan hiếm, căng thẳng thần kinh gia tăng. Đó là một thời kỳ khó khăn đối với nhóm miền Bắc của chúng tôi.

Những chuyến hàng tiếp tế đầu tiên cho nhóm bán quân sự “Hảo” bắt đầu đến Sài Gòn. Những chuyến hàng này, cùng với những chuyến hàng trước đó cho nhóm “Bình”, là một phần trong nỗ lực vận chuyển lậu bằng đường hàng không rất hiệu quả của Không quân Hoa Kỳ, với sự hỗ trợ của CIA và nhân viên Không quân ở cả Okinawa và Philippines.

Đến ngày 31/1, toàn bộ trang thiết bị tác chiến của nhóm bán quân sự “Bình” đã được chuyển từ Sài Gòn ra Hải Phòng, và nhóm SMM phía Bắc đã cất giữ chúng tại các địa điểm tác chiến.

… Thiếu tá Conein đã tóm tắt tình hình cho các thành viên của đội bán quân sự “Bình” và bắt đầu cho họ xâm nhập vào miền Bắc từng người một. Cuộc xâm nhập được thực hiện theo từng giai đoạn cẩn trọng trong khoảng thời gian 30 ngày, một chiến dịch thành công. Các “Bình” đã trở thành những công dân bình thường, bề ngoài vẫn thực hiện các hoạt động dân sự hàng ngày.

Chúng tôi đã tuồn vào Việt Nam khoảng 8,5 tấn hàng tiếp tế cho nhóm bán quân sự “Hảo”, bao gồm 14 máy bộ đàm, 300 súng ngắn, 90.000 viên đạn carbine, 50 khẩu súng lục, 10.000 viên đạn súng lục và 300 pound thuốc nổ. 2,5 tấn đã được chuyển giao cho các điệp viên “Hảo” ở Bắc Kỳ, trong khi số còn lại được SMM cất giấu dọc theo Sông Hồng, với sự hỗ trợ của Hải quân Hoa Kỳ…

j. Tháng 4/1955

… Đội bán quân sự “Hảo” đã hoàn thành khóa huấn luyện tại địa điểm huấn luyện bí mật và được Không quân Hoa Kỳ đưa đến một địa điểm tạm thời ở Philippines. Đến giữa tháng 4, họ được Hải quân đưa đến Hải Phòng, rồi được đưa dần vào bờ. Trong khi đó, vũ khí và các thiết bị khác, bao gồm cả thuốc nổ, đang được vận chuyển bằng đường hàng không vào Sài Gòn qua tuyến đường lậu của chúng tôi, đang được lực lượng Hải quân xử lý người tị nạn chuẩn bị vận chuyển ra Bắc.

Việt Minh chiếm Hải Phòng vào ngày 16/5. Các đội “Bình” và “Hảo” phía Bắc của chúng tôi đã vào vị trí, được trang bị đầy đủ. Phải mất rất nhiều công sức mới có thể hoàn thành đúng hạn chót theo Hiệp định Genève, từ việc tìm kiếm, tuyển chọn, sàng lọc, huấn luyện, xâm nhập, trang bị cho người của hai đội này và đưa họ vào vị trí, sẵn sàng cho các hành động cần thiết chống lại kẻ thù. Làm công khai vốn đã rất khó khăn, nhưng những việc này còn phải được giữ bí mật với Việt Minh, với Ủy ban Quốc tế gồm những người Pháp, Ba Lan và Ấn Độ đầy hoài nghi, và thậm chí cả những người Việt Nam thân thiện. Việc di chuyển nhân sự và vật tư phải diễn ra trên hàng ngàn dặm…

T.P

]]>
Ngôi mộ bí ẩn của Thành Cát Tư Hãn khiến hậu thế vẫn loay hoay tìm đáp án https://biendong.net/2025/10/06/ngoi-mo-bi-an-cua-thanh-cat-tu-han-khien-hau-the-van-loay-hoay-tim-dap-an/ Mon, 06 Oct 2025 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=157396 Hàng trăm năm qua, các học giả không ngừng hy vọng sẽ tìm ra lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn. Điều này giúp khép lại chương cuối cuộc đời của một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi trong lịch sử.

Tượng Thành Cát Tư Hãn ở Ulaanbaatar, Mông Cổ


Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan) sinh năm 1162, mất năm 1227, là người sáng lập ra đế chế Mông Cổ. Ông được đánh giá là vị hoàng đế vĩ đại, một trong những nhà quân sư lỗi lạc có tầm ảnh hưởng nhất lịch sử thế giới.

Cuộc chinh phạt của ông diễn ra trên khắp lãnh thổ châu Á – châu Âu để bành trướng lãnh thổ, lập nên đế chế Mông Cổ khổng lồ trải dài từ Thái Bình Dương tới Ukraine ngày nay với tổng diện tích hàng chục triệu km2.

Xung quanh cái chết của ông bị bao phủ bởi nhiều bí ẩn. Thành Cát Tư Hãn qua đời vào mùa hè năm 1227 trong chiến dịch đánh Tây Hạ dọc theo thượng nguồn sông Hoàng Hà ở Ngân Xuyên. Tuy nhiên đến nay chưa ai rõ ông chết ra sao. Ông đã mang theo bí mật đó xuống mộ, bảo đảm rằng không ai có thể quấy nhiễu giấc ngủ ngàn thu của mình.

Trải qua hàng trăm năm, các học giả vẫn luôn nỗ lực tìm ra lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn. Nhiều chuyên gia tin rằng, nếu ngôi mộ thực sự tồn tại, nó nằm trên vùng đất thiêng của Mông Cổ. Đó là một ngọn núi hẻo lánh, được bảo vệ nghiêm ngặt bởi tập tục và luật lệ truyền đời.

Trước đó, ông Albert Lin, nhà thám hiểm của National Geographic, đã sử dụng công nghệ hiện đại để truy tìm ngôi mộ theo những cách phi xâm lấn. Tuy nhiên, cũng có học giả cho rằng việc tìm kiếm này là vô ích và đi ngược lại di nguyện của Thành Cát Tư Hãn.

Thành Cát Tư Hãn qua đời khi chỉ huy chiến dịch chống lại nhà Tây Hạ ở miền Bắc của Trung Quốc. Sau này, nhiều câu chuyện được thêu dệt về cái chết của ông. Có người nói ông tử vong do ngã ngựa. Người khác lại tin rằng ông bị trúng mũi tên của kẻ thù. Thậm chí, một số học giả hiện đại lại đưa ra giả thuyết rằng ông có thể chết vì bệnh dịch hạch.

Thi hài ông được đưa về Mông Cổ để an táng bí mật. Nhiều truyền thuyết kể rằng đoàn đưa tang đã giết toàn bộ người hộ tống để giữ kín nơi chôn cất, hoặc đổi hướng dòng sông nhằm che giấu địa điểm ngôi mộ.

“Nhưng tất cả chỉ là truyền thuyết, không có bất kỳ bằng chứng nào”, Jack Weatherford, tác giả cuốn sách về Thành Cát Tư Hãn, khẳng định.

Vậy, giới nghiên cứu đã biết được những gì về ngôi mộ của Thành Cát Tư Hãn? Liệu nhân loại có bao giờ tìm ra chính xác nơi an nghỉ của ông?

Nhà khảo cổ học Jan Bemmann, Giáo sư nghiên cứu lịch sử sơ khai tại Đại học Bonn, phân tích rằng giới thượng lưu Mông Cổ ở thế kỷ 13 được chôn trong quan tài gỗ tại những khu vực xa xôi trên đỉnh núi. Những người đàn ông Mông Cổ như Thành Cát Tư Hãn sẽ được chôn cùng đồ tùy táng như bao đựng tên để thể hiện họ là chiến binh.

Bất kể ông được an táng thế nào, nơi an nghỉ cuối cùng của ông được cho là nằm trên ngọn núi linh thiêng Burkhan Khaldun hiện được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới.

Tuy nhiên, việc các nhà khảo cổ trên thế giới tiến hành khảo sát ngọn núi này là điều không thể bởi Burkhan Khaldun là khu vực cấm. Người bình thường muốn tiếp cận phải nhận được sự cấp phép từ chính quyền địa phương.

Trong khi đó, nhà thám hiểm Albert Lin đã dùng vệ tinh, máy bay không người lái, radar xuyên đất (để đo từ tính cũng như cảm ứng điện tử mà không làm xáo trộn vùng đất), phát hiện hàng nghìn hiện vật gồm mảnh gỗ cháy, răng ngựa có niên đại cùng thời với Thành Cát Tư Hãn hoặc muộn hơn.

Ngoài ra có một cấu trúc trên núi có thể được dùng cho mục đích nghi thức. Nhóm nghiên cứu không thể xác định được cấu trúc đó liệu có phải là một phần của ngôi mộ hay không.

“Tôi tin rằng người dân Mông Cổ ngày nay cần quyết định, liệu họ muốn biết những gì nằm dưới cấu trúc đó hay không”, nhà thám hiểm Lin nói.

Dẫu vậy, các chuyên gia tin rằng, sự thiếu vắng hoàn toàn ghi chép về nơi an táng được coi là chủ ý của Thành Cát Tư Hãn, nhằm bảo vệ thi hài mình khỏi kẻ thù và giữ cho linh hồn được yên nghỉ vĩnh viễn.

T.P

]]>