• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Điểm yếu “chí tử” của các căn cứ quân sự TQ xây dựng trên Biển Đông

Trong gần một thập kỷ qua, Trung Quốc đã triển khai và áp dụng nhiều thủ đoạn, biện pháp để những mong đạt được mục tiêu giành quyền kiểm soát trên thực địa ở hầu khắp Biển Đông. Trong các thủ đoạn, biện pháp đó, quân sự thường là biện pháp sau cùng nhưng lại là quan trọng nhất và mang tính quyết định, đúng như nhân gian thường nói “có thực mới vực được đạo”, cho dù cái “đạo” của Trung Quốc chẳng hay ho một chút nào. Vì thế, việc “quân sự hóa” Biển Đông, nhất là xây dựng các căn cứ quân sự tại các thực thể chiếm đóng trái phép được Bắc Kinh thúc đẩy mạnh mẽ và đạt được những kết quả rõ ràng trên thực tế, tạo cơ sở cho Bắc Kinh thực hiện các bước đi tiếp theo trong thực hiện tham vọng ở Biển Đông.

Do đó, cùng với việc ngang nhiên khẳng định chủ quyền phi lý của mình ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, trong những năm qua, Trung Quốc đã cấp tập xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự, bố trí các loại vũ khí, trang bị hỏa lực hạng nặng trên các thực thể mà nước này chiếm đóng và xây dựng trái phép ở 2 quần đảo này. Riêng đối với Trường Sa, kể từ năm 2013 đến nay, Trung Quốc đã mở rộng thêm khoảng 12.000m2 trên khắp 7 cấu trúc địa hình mà họ chiếm đóng với hàng loạt thiết bị cảm biến tầm xa, cơ sở hạ tầng cảng biển, đường băng sân bay, các trận địa hỏa lực, các kho nhiên liệu và vũ khí kiên cố nằm rải rác tại các cấu trúc nhân tạo trên vùng biển này. Đó là những hoạt động triển khai quân sự quy mô lớn, bất chấp cam kết trên danh nghĩa của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm 2015 là không “quân sự hóa” các đảo và tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng, các cơ sở hạ tầng phòng thủ này được xây dựng chủ yếu là để “đảm bảo an toàn hàng hải và cứu trợ thiên tai”.

Nhiều chuyên gia quân sự cho rằng, các căn cứ quân sự mà Trung Quốc xây dựng trái phép ở Biển Đông tương đối có giá trị trong thời bình, cho phép Bắc Kinh tiến hành các hoạt động cưỡng chế nhằm áp đặt yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông với các bên tranh chấp khác như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan, kể cả Indonesia, nước cũng bị Trung Quốc tranh chấp một phần vùng đặc quyền kinh tế. Còn trong thời chiến, các tiền đồn của Trung Quốc ở Trường Sa không chỉ là “bia đỡ đạn”, mà còn góp phần tăng cường hỏa lực cho Quân đội Trung Quốc, cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hiện trường và phục vụ công tác hậu cần. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng có địa thế tốt để sử dụng tên lửa chống hạm và phòng không trên các cơ sở này để ngăn chặn Hải quân Mỹ và các nước khác trong khu vực. Ba sân bay trên đá Chữ Thập, đá Vành Khăn và đá Xu Bi, đủ sức cho chiến đấu cơ sử dụng, kể cả trong trường hợp xảy ra xung đột với lực lượng của Quân đội Mỹ. Các sân bay này có thể bị tiến công ngay từ đầu, nhưng khó có thể bị phá hủy hoàn toàn, và Trung Quốc có thể khôi phục các đường băng sân bay này không lâu sau một cuộc tiến công.

Các căn cứ quân sự trên còn có thể làm căn cứ cho lực lượng tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Trung Quốc đang hình thành. Lý do là do lo ngại về khả năng lực lượng hạt nhân trên đất liền có thể dễ bị triệt hạ trong một cuộc xung đột quân sự, nên Trung Quốc muốn đưa tàu ngầm hạt nhân loại 094 mang tên lửa đạn đạo của mình vào Biển Đông, để khi cần thiết tìm cách thâm nhập vào chuỗi đảo đầu tiên mà phóng tên lửa đạn đạo JL-2 (loại tên lửa trang bị cho tàu ngầm) vào các mục tiêu trên lãnh thổ Mỹ. Tàu ngầm hạt nhân loại 094 của Trung Quốc nhất thiết phải đến được chuỗi đảo thứ nhất vì tên lửa JL-2 không đủ tầm bắn để tiến công nước Mỹ nếu đặt trên đất liền Trung Quốc.

Các tiền đồn quân sự của Trung Quốc ở Trường Sa còn có thể trở thành địa bàn để từ đó Trung Quốc tung ra các chiến dịch chống ngầm, phát hiện và đẩy lùi các phương tiện giám sát dưới đáy biển của Mỹ, bao gồm cả tàu ngầm và các loại tàu lặn tự hành khác.

Tuy nhiên, mặc dù các căn cứ này có năng lực đáng kể trong việc triển khai sức mạnh tiến công của Trung Quốc trên Biển Đông, nhưng đi cùng với thế mạnh đó, nó cũng tồn tại những điểm yếu “chí tử” mà Trung Quốc không dễ gì có thể khắc phục được.

Trước hết, phải thừa nhận một điều rằng, trong thời bình, các đảo, đá này có vai trò hữu ích trong việc giám sát hoạt động trên không và trên biển của các nước đối thủ, đồng thời nó đóng vai trò như một căn cứ phục vụ các hoạt động bảo vệ bờ biển và dân quân trên biển trong việc chống lại hoạt động đánh bắt cá và khai thác dầu mỏ của các nước khác. Nhưng việc công khai gia tăng khả năng quân sự trên các hòn đảo này không làm gia tăng quyền kiểm soát dân sự thực tế của Trung Quốc đối với các vùng biển có nhiều ngư dân và tàu thực thi pháp luật của đối thủ cũng như các nước hoạt động, cũng không ngăn chặn được sự hiện diện của tàu chiến và máy bay của Mỹ và các nước khác. Nếu xảy ra xung đột, thì trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột, những căn cứ này sẽ cung cấp cho Quân đội Trung Quốc nhiều vị trí để triển khai tên lửa, các cuộc không kích phủ đầu, cũng như tiếp viện tàu và máy bay. Song điều đáng lưu ý là, các thực thể mà Trung Quốc xây dựng trên quần đảo Trường Sa cách địa điểm tiếp viện gần nhất của nước này - các căn cứ hải quân và không quân của Trung Quốc trên đảo Hải Nam - hơn 500 hải lý, tương đương khoảng 900km, một cự ly khá xa. Giả sử nếu Quân đội Mỹ hay quân đội các nước đồng minh với Mỹ triển khai lực lượng tới Biển Đông trong một cuộc xung đột với Trung Quốc, họ cũng không cần phải “tao ngộ chiến” gì nhiều với các lực lượng Trung Quốc trên các thực thể chiếm đóng trái phép, mà chỉ cần dựng “hàng rào” bao vây trên biển bằng các loại tàu, ngăn không cho lực lượng tiếp viện của Trung Quốc từ đất liền ra tiếp cận các thực thể đó, thì cũng chỉ cần không quá 3 tháng, các lực lượng Trung Quốc đóng trên các thực thể đó sẽ đành phải “bó pháo quy hàng” vì “hết đường sống”.

Thứ hai, các thực thể đảo, đá này là những mục tiêu cố định, tương đối nhỏ và biệt lập, hơn nữa lại hầu như không có khả năng che chắn hay bảo vệ, đặc biệt là trước các loại vũ khí tiến công chính xác tầm xa mới, những cuộc đột kích trên đảo mà Quân đội Mỹ đang triển khai. Trong trường hợp xảy ra xung đột, các căn cứ này rất dễ bị “hủy diệt” trước các loại vũ khí hiện đại của đối phương. Còn nếu các căn cứ này chỉ bị hư hại và xuống cấp do các cuộc không kích và tiến công tên lửa, thì việc sửa chữa, tiếp viện trang bị vật tư cho chúng sẽ trở nên ngày càng tốn kém và đầy thách thức, khiến Quân đội Trung Quốc sẽ phải dùng đến lực lượng tàu chiến và không quân yểm hộ với phí tổn không hề nhỏ, cũng như phải hy sinh một nguồn lực tại các địa điểm trọng yếu khác.

Thứ ba, giá trị chiến lược của các căn cứ quân sự của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa cũng không thật rõ ràng. Các căn cứ này cách eo biển Singapore, vốn có vai trò then chốt trong vận tải hàng hải tại khu vực, hơn 800 hải lý và cách các tuyến đường biển thay thế gần nhất như eo biển Sunda và Lombok của Indonesia hơn 1.600 hải lý. Vị trí trung tâm này của các căn cứ có thể giúp Trung Quốc kiểm soát khu vực phía bên trong Biển Đông, nhưng chắc chắn không kiểm soát được những “nút thắt” trên biển ở cận ngoài và ngoài vùng biển này như kể trên. Nếu xảy ra một cuộc xung đột, các nước láng giềng của Trung Quốc xung quanh Biển Đông hoặc một đồng minh nào đó của Mỹ có thể đưa lực lượng “bịt chặt” những “nút thắt” đó để ngăn chặn các hạm đội hải quân và tàu vận tải hàng hóa của Trung Quốc qua lại. Hãy thử nghĩ, trong vài tháng liền, nền kinh tế to “vật vã” của Trung Quốc mà không được “tiếp ứng” nguyên, nhiên, vật liệu bởi các nguồn cung từ bên ngoài thì nền kinh tế đó liệu có đứng vững được không. Gã khổng lồ Trung Quốc khi đó có lẽ chỉ là “khổng lồ chân đất sét” mà thôi.

Thứ tư, môi trường khí hậu của khu vực Biển Đông không thuận lợi đối với hầu hết các hệ thống quân sự tiên tiến nhất của Trung Quốc. Năm 2017, truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa tin về các biện pháp đặc biệt được yêu cầu để bảo vệ hoạt động triển khai các máy bay chiến đấu J-11 đến quần đảo Trường Sa trước tác động của nhiệt độ cao và độ ẩm lớn của quần đảo này. Nhiều báo cáo gần đây cho biết, do chịu ảnh hưởng của nhiệt độ cao và độ ẩm lớn khiến các cấu trúc địa lý bị vỡ vụn, thiết bị máy móc bị hư hỏng và một số hệ thống vũ khí thậm chí còn bị phá hủy dần dần. Đây là mối lo “canh cánh” của Trung Quốc về khả năng chống chịu của các hòn đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đã xây dựng trái phép ở Trường Sa trước tác động của thời tiết khắc nghiệt ở khu vực biển Thái Bình Dương. Còn trên các hòn đảo đó, e rằng số vũ khí khi mới triển khai ra đây còn có vẻ “ngon ăn”, nhưng qua vài năm tháng “nếm chịu” khí hậu Biển Đông thì cũng đều thành “sắt vụn” tất.

Nhìn một cách tổng thể thì thấy, toàn bộ năng lực quân sự của các thực thể do Trung Quốc tạo nên ở Biển Đông phụ thuộc rất nhiều vào công tác hậu cần từ đất liền. Các căn cứ quân sự tưởng chừng như “bất khả xâm phạm” này lại rất dễ bị cô lập vì hầu hết chúng đều không có kho dự trữ hậu cần đủ lớn. Khi xung đột xảy ra, việc đảm bảo an toàn đường dây liên lạc, cung cấp nhiên liệu, đạn dược… sẽ là rủi ro và trở thành thách thức “sống còn” cho Quân đội Trung Quốc. Mặt khác, việc Trung Quốc tiếp tục theo đuổi chính sách bành trướng, “gặm nhấm” Biển Đông sẽ khiến cho tình hình khu vực này ngày càng căng thẳng, phức tạp hơn; nguy cơ xung đột có thể gia tăng; lòng tin chiến lược của các nước đối với Trung Quốc suy giảm; việc duy trì trật tự dựa trên luật pháp quốc tế bị xói mòn nghiêm trọng... Hành vi của Trung Quốc, nhất là các hoạt động quân sự sẽ uy hiếp, đe dọa đến an ninh, chủ quyền của các nước xung quanh, buộc các nước này phải cân nhắc các biện pháp an ninh bổ sung, nâng cao hơn chi tiêu cho quốc phòng. Nhiều thông tin cho biết, hơn 10 năm qua, các nước Đông Á nói riêng, khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung, trở thành khu vực nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới. Chỉ riêng năm 2019, khu vực này đã có kim ngạch nhập khẩu vũ khí chiếm 42% tổng kim ngạch nhập khẩu vũ khí toàn cầu, vượt xa con số 32% của khu vực Trung Đông - điểm “nóng” về quân sự, chính trị của thế giới những năm gần đây.

Những gì Trung Quốc đã làm trong thời gian qua ở Biển Đông cũng cho thấy, xu hướng chính sách của Bắc Kinh ở khu vực này chưa thấy có sự thay đổi tích cực, kể cả khi Bắc Kinh gặp khó khăn từ trong nước. Các hoạt động trên các mặt trận chính trị, ngoại giao, pháp lý, quân sự, truyền thông và trên thực địa vẫn được đẩy mạnh với nhiều thủ đoạn, biện pháp ngày càng tinh vi, xảo quyệt và cứng rắn hơn.

Hiện nay, Trung Quốc đã đạt được một số kết quả nhất định trên Biển Đông, nhưng đó là kết quả của những việc làm phi pháp, bất chấp đạo lý và luật pháp quốc tế, vì thế nó cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất lợi cho chính Trung Quốc. Các căn cứ quân sự Trung Quốc xây dựng trái phép ở Biển Đông từ lâu đã bị coi là biểu hiện cụ thể của các hành vi coi thường luật pháp quốc tế, làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông để Bắc Kinh thực hiện các mục tiêu ở khu vực này. Trong bối cảnh đó, các nước trong khu vực cần tận dụng các công cụ luật pháp và chính trị sẵn có để phối hợp lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình ở Biển Đông, tận dụng mọi cơ hội để hợp tác hướng tới bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng.

Thêm ý kiến


Security code
Làm mới