Anh – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 31 Jul 2023 03:39:38 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Nước Anh gia tăng hoạt động quân sự ở Biển Đông, nguyên do từ đâu và dự báo tác động https://biendong.net/2023/07/02/nuoc-anh-gia-tang-hoat-dong-quan-su-o-bien-dong-nguyen-do-tu-dau-va-du-bao-tac-dong/ Sun, 02 Jul 2023 03:36:43 +0000 https://biendong.net/?p=109955 Từ năm 2018 đến nay, giới quan sát quốc tế chứng kiến Vương quốc Anh bắt đầu có các bước đi và hoạt động quân sự tại Biển Đông, trái ngược hẳn với sự “bàng quan” trước đây của quốc đảo Đại Tây Dương này đối với vùng biển nằm tại Tây Thái Bình Dương xa tít với họ.

Không những có bước đi và hành động quân sự công khai ở Biển Đông mà dường như người Anh còn muốn khẳng định họ đang có sự chuyển hướng mạnh hơn sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm triển khai chiến lược then chốt “Nước Anh toàn cầu” trong “kỷ nguyên hậu Brexit”, trong đó có cả việc thực hiện điều chỉnh chính sách đối với Biển Đông. Điều này khiến không ít người phải thắc mắc, vì sao Anh lại hành động như thế và Biển Đông sẽ ra sao?

Trước hết, cần thấy rằng gần đây, nước Anh đã và đang có những bước đi và hoạt động quân sự mạnh mẽ tại Biển Đông. Đặc biệt, sau khi chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ được triển khai, tính từ năm 2018 đến nay, 2 tàu khu trục và 1 tàu đổ bộ của Hải quân Anh đã nhiều lần đi vào vùng biển châu Á – Thái Bình Dương và đi qua Biển Đông. Trong đó, tàu đổ bộ HMS Albion thậm chí còn đi vào vùng biển 12 hải lý của các đảo và đá ở quần đảo Hoàng Sa. Động thái này đánh dấu việc Anh trở thành nước thứ hai sau Mỹ đưa lực lượng quân sự tiến vào vùng biển có các đảo do Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng trái phép ở Biển Đông. Tháng 5/2021, lần đầu tiên Anh triển khai đội hình tàu sân bay Queen Elizabeth ra nước ngoài, điều tàu khu trục HMS Defender, khinh hạm HMS Richmond, tàu chở dầu RFA Tidespring, tàu tiếp tế RFA Fort Victoria và tàu ngầm hạt nhân HMS Audacious, cùng với tàu khu trục USS The Sullivan của Hải quân Mỹ và khinh hạm Vincent của Hải quân Hà Lan, cùng nhau thành lập Nhóm tác chiến tàu sân bay 21, tiến đến châu Á – Thái Bình Dương, đi qua Biển Đông và thăm viếng nhiều nước. Trong chuyến đi này, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace còn nói rằng “Trung Quốc sẽ không thể xua đuổi chúng tôi ra khỏi vùng biển quốc tế”, đồng thời nhấn mạnh, Anh ủng hộ phán quyết của Tòa trọng tài Thường trực quốc tế về luật biển (PCA).

Ngoài hành động quân sự đơn phương, Anh cũng nỗ lực liên kết quân sự, tổ chức hoặc tham gia nhiều cuộc tập trận chung trên các vùng biển liên quan ở Biển Đông. Tháng 10/2018, Anh điều khinh hạm HMS Argyle tham gia cuộc tập trận Bersama Lima do quân đội Australia tổ chức ở Biển Đông dựa theo quy định trong hiệp ước phòng thủ 5 nước gồm Anh, Australia, New Zealand, Malaysia và Singapore ký năm 1971. Tháng 1/2019, khinh hạm HMS Argyle của Anh và tàu khu trục USS McCampbell của Hải quân Mỹ đã tiến hành tập trận chung ở Biển Đông với các chủ đề chính là diễn tập liên lạc, trao đổi chiến thuật và nhân sự, nhằm “giải quyết các ưu tiên an ninh hàng hải mà hai bên cùng quan tâm, tăng cường khả năng tương tác và tiếp tục làm sâu sắc thêm mối quan hệ hợp tác giữa hải quân hai nước”. Đây là dấu mốc quan trọng đối với quan hệ Mỹ – Anh trong vấn đề Biển Đông. Tháng 2/2019, tàu hộ vệ HMS Montrose của Hải quân Anh và tàu chở dầu USNS Guadalupe của Bộ Chỉ huy Vận tải Quân đội Mỹ cùng tiến hành diễn tập an ninh hàng hải và huấn luyện tiếp tế hậu cần ở Biển Đông. Tháng 7/2021, Nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth sau khi qua eo biển Malacca để tiến vào Biển Đông, đã chia thành nhiều tốp nhỏ, lần lượt tiến hành tập trận chung với hải quân các nước như Thái Lan, Malaysia và Singapore. Tháng 10 cùng năm, khi nhóm tác chiến tàu sân bay của Anh đến thăm Singapore, lực lượng hải quân, không quân của Anh và Singapore đã tiến hành một cuộc tập trận quy mô lớn ở vùng biển phía Nam Biển Đông. Theo thống kê cho thấy, trong năm 2021, Mỹ tiến hành 75 cuộc tập trận quân sự song phương, đa phương ở Biển Đông và vùng phụ cận, thì Anh có 8 lần tham gia, trở thành đối tác lớn thứ ba của Mỹ trong các cuộc tập trận ở Biển Đông, sau Nhật Bản và Australia.

Bên cạnh đó, Anh một mặt tích cực tham gia khuôn khổ an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, một mặt tìm cách “lấy lòng” các nước trong khu vực Đông Nam Á có liên quan đến Biển Đông. Theo đó, ngày 15/9/2021, Mỹ, Anh và Australia tuyên bố thành lập liên minh an ninh ba bên (AUKUS) để giúp Hải quân Australia đóng tàu ngầm hạt nhân và duy trì “truyền thống chung của quốc gia biển dân chủ”, từ đó tăng cường hơn nữa hợp tác trên các phương diện như năng lực không gian mạng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử và các năng lực dưới biển khác. Mặc dù AUKUS không đề cập rõ tranh chấp ở Biển Đông, nhưng chắc chắn nó báo hiệu rằng ba nước Mỹ, Anh và Australia sẽ dựa trên khuôn khổ của liên minh để tăng cường hơn nữa năng lực can thiệp quân sự ở các vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông. Tháng 12/2017, Anh gia tăng tương tác với Philippines bằng việc ký Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng giữa hai bên, đặt nền tảng và khuôn khổ quan trọng cho việc cùng thúc đẩy hợp tác thực chất trong lĩnh vực an ninh biển. Tháng 2/2020, chính quyền Duterte tuyên bố ý định chấm dứt “Thỏa thuận lực lượng thăm viếng” được ký kết giữa Mỹ và Philippines năm 1998, nhưng lại bày tỏ mong muốn đạt được các thỏa thuận quân sự với Anh. Tháng 10/2021, khi Quốc vụ khanh phụ trách các vấn đề châu Á của Bộ Ngoại giao và Phát triển Anh Amanda Milling đến thăm Manila, bà bày tỏ với Philippines rằng, Anh có ý định triển khai thường trực 2 tàu xa bờ ở Đông Nam Á “dựa trên cam kết lâu dài với khu vực châu Á – Thái Bình Dương”. Ngoài Philippines, Anh cũng có nhiều hoạt động liên quan đến Biển Đông với các nước khác như Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam.

Như vậy, bằng các bước đi và hành động quân sự kể trên, có thể khẳng định, Anh đã và đang trở thành quốc gia châu Âu tích cực nhất trong việc triển khai các hoạt động quân sự ở Biển Đông.

Vậy, lý do nào để Vương quốc Anh có các bước đi và hoạt động quân sự tại Biển Đông như trên. Điều này không phải “từ trên trời rơi xuống” mà xuất phát từ cả một quá trình thay đổi nhận thức và tư duy chíến lược của nước này. Bao gồm:

Một là, xuất phát từ yêu cầu của chiến lược “Nước Anh toàn cầu” trong “kỷ nguyên hậu Brexit”. Trước những nghi ngờ của cộng đồng quốc tế về việc liệu Brexit có đồng nghĩa với việc Anh sẽ quay lưng lại với châu Âu, hay quay về với chủ nghĩa biệt lập, năm 2016, Ngoại trưởng Anh lúc đó là ông Boris Johnson đã đề xuất chiến lược “Nước Anh toàn cầu”, tuyên bố Brexit tuyệt đối không dẫn đến một nước Anh khép kín. Thay vào đó, với vai trò là một “nhân vật chính” trên trường quốc tế, chiến lược “Nước Anh toàn cầu” chủ trương sẽ đưa Anh hướng ngoại và hội nhập thế giới hơn bao giờ hết, đồng thời theo đuổi chính sách đối ngoại toàn cầu hóa một cách thực chất hơn. Trải qua giai đoạn phát triển và không ngừng được làm phong phú dưới thời Thủ tướng Theresa May và Johnson, chiến lược “Nước Anh toàn cầu” dần trở thành nội dung cốt lõi trong chiến lược đối ngoại của Anh, mang cấu trúc chiến lược, kinh tế và quân sự tương đối hoàn chỉnh. Chiến lược trên không chỉ coi trọng tầm quan trọng về kinh tế ngày càng tăng trong thập kỷ tới của khu vực Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương, mà còn coi khu vực này là mục tiêu quan trọng trong bố cục chiến lược đối ngoại của Anh. Thực tiễn quan hệ đối ngoại của Anh trong những năm gần đây cho thấy, Anh đã thực sự coi việc “xoay trục sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” và “ứng phó với một Trung Quốc đang trỗi dậy” là hai khía cạnh chính trong chính sách đối ngoại của nước này ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời nhấn mạnh hơn sự cần thiết của việc can thiệp vào các vấn đề ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thông qua các biện pháp thực chất. Chiến lược “Nước Anh toàn cầu” cũng lưu tâm đến xem Biển Đông như là “đấu trường” để các nước lớn tranh giành lợi ích. Trong giai đoạn hiện tại và thời gian tới, Anh có ít nhất 3 sự cân nhắc chiến lược để can dự vào vấn đề Biển Đông: 1/ Đáp ứng và phối hợp với yêu cầu của Mỹ về cạnh tranh chiến lược, kiềm chế và gây sức ép với Trung Quốc, góp sức vào sự phát triển của mối quan hệ đồng minh Anh – Mỹ và hợp tác liên minh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; 2/ Lợi dụng vấn đề Biển Đông có liên quan đến nhiều nước trong và ngoài khu vực để tham gia vào các vấn đề của Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; 3/ Thể hiện vai trò, vị thế của chính mình trong cấu trúc an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời củng cố con bài chính trị để điều chỉnh kịp thời quan hệ Trung – Anh, cũng như quan hệ với ASEAN và các quốc gia thành viên. Như vậy, sự chuyển đổi chính sách mà Anh thể hiện trong vấn đề Biển Đông là nhằm điều chỉnh trọng tâm chiến lược của nước này theo chiến lược “Nước Anh toàn cầu”, đồng thời phát đi tín hiệu rằng Anh sẽ duy trì sự hiện diện lâu dài ở Biển Đông.

Hai là, xuất phát từ vai trò, vị trí địa chiến lược, kinh tế, quốc phòng – an ninh của Biển Đông đối với chiến lược “Nước Anh toàn cầu”. Biển Đông là vùng biển có tiềm năng về tài nguyên, có vị thế giao thông quốc tế và giá trị địa chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của các nước trong và ngoài khu vực. Sự tranh chấp biển ở Biển Đông không chỉ gây ảnh hưởng xấu đối với các nước trong khu vực mà còn cả ngoài khu vực, khiến cho nơi đây trở thành tâm điểm chú ý của các nước lớn trên thế giới.

Đối với nước Anh, sự quan tâm đối với Biển Đông trước đây chủ yếu đi theo đường hướng của Liên minh châu Âu (EU), song Biển Đông lại không phải là trọng tâm trong chính sách đối ngoại và an ninh của EU đối với Đông Á. Sự tham gia hạn chế của EU vào các vấn đề của Biển Đông thời gian qua chủ yếu tập trung nhiều vào ngoại giao hơn là chính trị và quân sự. Hiện tại, Anh mặc dù là nước lớn ở châu Âu, có lợi ích toàn cầu và là cường quốc thương mại hàng hải, nhưng trên thực tế, ngoài các căn cứ hải quân ở Singapore, Học viện tác chiến trong rừng và Tiểu đoàn Gurkha ở Brunei, đảo quốc này không có sự hiện diện quân sự thường trực nào khác ở Biển Đông và khu vực Đông Nam Á. Đây là hạn chế đáng kể để Anh gia tăng ảnh hưởng chính trị và quân sự trong khu vực. Ngoài ra, ý tưởng về “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” và chính sách Biển Đông của Anh vẫn có sự tách biệt với khuôn khổ chiến lược Đông Á của EU, nên mức độ can dự và khả năng định hình của nước này đối với vấn đề Biển Đông trong ngắn hạn khó sánh ngang với các nước lớn ngoài khu vực. Bối cảnh đó cho thấy, để đáp ứng với yêu cầu “Nước Anh toàn cầu” trong “kỷ nguyên hậu Brexit”, Anh cần phải sử dụng các biện pháp chính trị, kinh tế và quân sự “vượt tiêu chuẩn” của EU nhằm đạt được mục tiêu cạnh tranh với các cường quốc khu vực và thế giới khác như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông, sau đó mở rộng và củng cố tối đa lợi ích riêng của mình. Là một phần quan trọng của khu vực Tây Thái Bình Dương, đồng thời là đầu mối giao thông đường biển và đường hàng không nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Biển Đông rõ ràng đóng vai trò “đầu mối” then chốt kết nối các phần của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với nhau. Do đó, việc Anh tích cực can thiệp vào tranh chấp Biển Đông và các vấn đề của khu vực này sẽ giúp London tăng cường hơn nữa giao lưu và hợp tác với các nước ven Biển Đông và các nước láng giềng, từ đó tìm kiếm được càng nhiều “điểm tựa” đáng tin cậy ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để hỗ trợ cho việc thực hiện chiến lược “Nước Anh toàn cầu”.

Ba là, xuất phát từ mối quan hệ đồng minh giữa Anh và Mỹ. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, mối quan hệ này được mệnh danh là “quan hệ đặc biệt”. Tháng 10/1948, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đề xuất chính sách “ngoại giao 3 vòng tròn”, theo đó trật tự thế giới sẽ được tạo thành từ các nước dân chủ tự do gồm 3 vòng tròn lớn: (1) Vòng tròn thứ nhất gồm Khối thịnh vượng chung, Đế quốc Anh và những nước thuộc địa; (2) Vòng tròn thứ hai là thế giới nói tiếng Anh bao gồm Mỹ, Canada, Vương quốc Anh và các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung khác; (3) Vòng tròn thứ ba là khối châu Âu thống nhất. Khái niệm này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Mỹ trong thế giới các nước nói tiếng Anh, là cơ sở quan trọng cho chính sách ngoại giao của Anh theo hệ thống Yalta. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mối “quan hệ đặc biệt” này vẫn tồn tại. Hai nước không những coi nhau là đồng minh, đối tác thân thiết nhất mà còn nỗ lực tăng cường hợp tác an ninh trong khuôn khổ Liên minh xuyên Đại Tây Dương Mỹ – châu Âu và NATO. Đặc biệt, hai nước đã có sự phối hợp chặt chẽ trong nhiều hoạt động quân sự ở nước ngoài, như Chiến tranh vùng Vịnh, Chiến tranh Afghanistan và Chiến tranh Iraq. Những năm gần đây, Anh đã lựa chọn “đường ai nấy đi” với EU và tìm cách xây dựng một “Nước Anh toàn cầu”, mối quan hệ đặc biệt giữa Anh và Mỹ càng được coi trọng. Tháng 2/2019, khi nêu rõ tầm nhìn quốc phòng và chiến lược quân sự trong kỷ nguyên “Nước Anh toàn cầu”, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Gavin Williamson cho rằng, ngoài việc tiếp tục coi các thỏa thuận phòng thủ tập thể và các hoạt động quân sự của NATO là nền tảng quốc phòng, Anh cần tận dụng triệt để các cơ chế an ninh đa phương cũng như mở rộng ảnh hưởng toàn cầu của mình với các thỏa thuận quốc phòng và dự án hợp tác trong khuôn khổ “quan hệ đặc biệt” Anh – Mỹ. Tháng 3/2021, chiến lược “Nước Anh toàn cầu trong thời đại cạnh tranh” do chính quyền Johnson công bố đã chỉ rõ, ảnh hưởng toàn cầu của Anh sẽ được mở rộng nhờ các liên minh lớn mạnh hơn và quan hệ đối tác rộng lớn hơn, trong đó “quan trọng hơn cả là mối quan hệ với Mỹ”. Không khó để nhận thấy rằng, dựa trên địa vị chủ chốt của mối quan hệ Anh – Mỹ đối với chiến lược toàn cầu của Anh, với điểm tựa là tiếp tục đi theo và phối hợp với “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ, thì việc không ngừng duy trì và phát triển mối “quan hệ đặc biệt” này trở thành lựa chọn tất yếu trong chiến lược đối ngoại của Anh trong “kỷ nguyên hậu Brexit”. Trong khi đó, để chia sẻ áp lực an ninh – quân sự ngày càng tăng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cũng như để chống lại sức mạnh đang gia tăng nhanh chóng ở Biển Đông của Trung Quốc, những năm gần đây Mỹ đã không ngừng kêu gọi đồng minh EU chia sẻ chi phí ngoại giao ở khu vực Biển Đông và cùng công khai lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Do có nhu cầu thực tế là muốn làm sâu sắc hơn mối quan hệ đặc biệt với Mỹ trong bối cảnh nỗ lực xây dựng “Nước Anh toàn cầu”, nên việc đi theo chính sách Biển Đông trong “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do rộng mở” của Mỹ đã trở thành lựa chọn tất yếu của nước Anh cả trong hiện tại và tương lai.

Chính vì ba lý do trên mà Anh đã có sự thay đổi lập trường, chính sách trong vấn đề Biển Đông. Sự thay đổi đó diễn ra từ từ nhưng theo hướng khó đảo ngược trở lại như trước. Bằng chứng là tháng 8/2022, Chính phủ Anh sau 8 năm kể từ năm 2014, một lần nữa công bố “Chiến lược An ninh biển Quốc gia”, củng cố đáng kể nhận thức về tầm quan trọng địa chiến lược của Biển Đông, tuyên bố rằng “một Biển Đông ổn định và an toàn là rất quan trọng đối với nước Anh”, đồng thời bày tỏ Anh sẽ không chỉ sử dụng một loạt công cụ để thúc đẩy và bảo vệ tinh thần của UNCLOS 1982, mà còn tiếp tục nêu quan ngại về “hành vi quân sự hóa, cưỡng ép và đe dọa” ở khu vực Biển Đông, cũng như sẽ hợp lực với các đồng minh để hỗ trợ các đối tác ASEAN củng cố năng lực luật hàng hải và an ninh biển trong khu vực. Rõ ràng, Anh đã coi tranh chấp ở Biển Đông là mối đe dọa thực sự đối với các lợi ích an ninh quốc gia của mình.

Những thay đổi trên không chỉ đặt nền tảng chiến lược cho sự chuyển đổi chính sách của Anh ở khu vực Biển Đông, mà còn tác động đáng kể đến khu vực này, bước đầu có thể chỉ ra như sau:

Việc Anh triển khai các chính sách ở Biển Đông sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nước ven Biển Đông hội nhập với một đối tác có tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ, quốc phòng – an ninh để phát triển hơn các ngành, lĩnh vực trong vùng biển này, như khai thác, thăm dò tài nguyên biển, bảo đảm tự do hàng không, hàng hải, mở rộng quan hệ đối ngoại… Đặc biệt, sự kiện nước Anh cùng Pháp và Đức gửi công hàm chung lên Liên hợp quốc, ủng hộ phán quyết của PCA, phản đối tất cả các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông là động thái cho thấy, Biển Đông không chỉ là vấn đề riêng giữa ASEAN với Trung Quốc, mà còn là mối quan tâm của hầu hết các nước trên toàn thế giới; để giải quyết mọi tranh chấp trên vùng biển này, con đường phù hợp nhất là phải dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982. Chỉ có như vậy thì Biển Đông mới thực sự có hòa bình, hợp tác, phát triển và cùng thắng. Xu hướng này được tuyệt đại đa số các nước trên thế giới ủng hộ. Tuy nhiên, đi cùng với thuận lợi nói trên thì việc Anh tiến vào Biển Đông cũng sẽ gây ra những phức tạp cho khu vực, bởi vì: Hiện nay, cùng với nhiều vấn đề, lĩnh vực khác nhau, Biển Đông đang trở thành “trọng điểm” trong cạnh tranh Trung – Mỹ. Anh là đồng minh thân cận nhất của Mỹ, ủng hộ và tham gia hầu như tất cả các chiến lược, chính sách toàn cầu của Mỹ, do đó ở một góc độ nào đó, chắc chắn Anh sẽ có sự “hợp lực”với Mỹ và một số đồng minh khác của Mỹ trong vấn đề Biển Đông để bao vây, kiềm chế Trung Quốc. Đây sẽ là sức ép rất lớn cho các nước trong khu vực, nhất là trong việc tìm kiếm, tập hợp lực lượng, biện pháp phù hợp nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, an ninh của đất nước. Song, do Anh có những hạn chế nhất định bởi thực lực quốc gia và nhu cầu duy trì cục diện chung của quan hệ Trung – Anh, cộng với việc các nước ASEAN ngày càng phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, nên những tác động của sự thay đổi chính sách của Anh đối với Biển Đông nhìn chung là chưa thực sự lớn.

                                                                            Chí Bảo

]]>
Vì sao Anh có được thông tin về tên lửa siêu thanh của TQ https://biendong.net/2022/02/03/vi-sao-anh-co-duoc-thong-tin-ve-ten-lua-sieu-thanh-cua-tq/ Thu, 03 Feb 2022 08:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=73825 Các nguồn tin tình báo đã tung ra một thông tin đầy bất ngờ khiến giới chức Trung Quốc bàng hoàng. Thiệt hại mà nó mang lại có thể khiến Bắc Kinh khốn đốn.

Phương tiện bay siêu thanh DF-17 trong cuộc duyệt binh tại Bắc Kinh năm 2019.

Giới chức Mỹ từng vô cùng bất ngờ khi một báo cáo của tờ Financial Times tiết lộ rằng Trung Quốc đã thử nghiệm tên lửa siêu thanh có khả năng mang đầu đạn hạt nhân vào cuối tháng 8 năm ngoái.

Cuộc thử nghiệm đã chứng minh rằng Trung Quốc có khả năng tấn công gần như ngay tức thì
bất cứ mục tiêu nào trên Trái Đất trong khi không để cho đối phương kịp đoán biết và có thời gian chuẩn bị ứng phó.

Bản báo cáo đã khiến cho Mỹ – quốc gia cũng đang tiến hành chương trình phát triển vũ khí siêu thanh – tụt lại xa phía sau Trung Quốc.

Tuy nhiên, sự việc ‘rúng động’ vừa được tiết lộ mới đây có thể xoay chuyển tình thế theo
cách không ngờ tới.

TIN XẤU ẬP ĐẾN TRONG ĐÊM

Tờ Daily Express của Anh đưa tin, các nguồn tin tình báo đã tung ra một thông tin đầy bất ngờ trong đêm 25/1: Một nhà khoa học cấp cao của Trung Quốc đã đào tẩu sang phương Tây, mang theo những bí mật về phương tiện bay siêu vượt âm DF-17 mới nhất do nước này phát triển.

Vụ việc đã khiến giới chức Bắc Kinh bàng hoàng và sửng sốt bởi bí mật bị thất thoát vô cùng quan trọng.

Ngoài ra, luật “Bí mật nhà nước” của Trung Quốc xưa nay đều rất nghiêm ngặt. Có nhiều hình phạt nếu một công dân bị kết tội làm rò rỉ thông tin mật, nhạy cảm như vậy, trong đó có cả bản án chung thân, thậm chí tử hình. Chẳng ai ngờ người đàn ông 30 tuổi lại có “lá gan” lớn đến thế.

Đáng lưu ý, theo Daily Express, cơ quan tình báo quân sự MI6 của Anh đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc đào tẩu này.

Nhân vật vừa gây rúng động Trung Quốc được mô tả là một chuyên gia kỹ thuật tên lửa, công tác tại Tập đoàn Công nghiệp hàng không Trung Quốc.

Tại đây, anh ta đã tham gia phát triển chương trình phương tiện bay siêu thanh tầm trung có khả năng mang tên lửa DF-17 với tầm bắn lên tới hơn 3.000km. Phương tiện này có thể bay quanh địa cầu trước khi lao xuống từ không gian và sử dụng công nghệ dò nhiệt để tấn công bất cứ mục tiêu nào trên Trái Đất.

Các nguồn tin tình báo cho biết, bất chấp thành công trên, nhà khoa học này vẫn thấy rất bất bình vì… không được thăng chức. Anh ta đã tìm cách liên lạc với một cơ quan tình báo của Anh ở Hồng Kông vào cuối tháng 9 năm ngoái. Trong lần tiếp cận đầu tiên mang tính thăm dò, anh ta nói với người trung gian rằng mình đang nắm trong tay những thông tin chi tiết về phương tiện bay siêu vượt âm của Trung Quốc.

Hiểu rõ rằng bản thân sẽ phải đối mặt với án tử nếu bị phát hiện, nhà khoa học Trung Quốc yêu cầu cho cả gia đình (gồm vợ và con) đi tị nạn.

Một cuộc gọi đã được kết nối tới Vauxhall Cross – Trụ sở chính của Cơ quan tình báo London (thường được gọi là MI6). Tiếp đó, một nhóm 3 người – gồm 2 sĩ quan tình báo và 1 chuyên gia kỹ thuật – đã được điều tới Hồng Kông. Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) cũng nhận được thông báo.

Sau khi xác thực được nhà khoa học này không phải là gián điệp của Trung Quốc, MI6 đã lên kế hoạch đưa gia đình anh ta tới Hồng Kông thông qua tuyến đường đặc biệt. Khi đến được địa điểm an toàn, nhà khoa học Trung Quốc phải trải qua cuộc ‘thẩm vấn’ của nhóm đặc vụ MI6 (gồm 2 người đàn ông, 1 người phụ nữ) và đội đặc vụ 2 người của CIA.

Ngoài những thông tin quan trọng ghi nhớ trong đầu, anh ta còn tiết lộ thêm về các dữ liệu kỹ thuật liên quan tới chương trình phương tiện bay siêu thanh của Trung Quốc.

Cuộc xét hỏi này kéo dài 1 ngày trước khi gia đình của nhà khoa học Trung Quốc tiếp tục được thu xếp để bay đến địa điểm an toàn hơn – đó là một căn cứ không quân của Mỹ ở Đức – sau đó tiếp tục bay đến Mỹ qua Anh.

ÁN TỬ KHÔNG NGĂN ĐƯỢC CÁC VỤ ĐÀO TẨU

Theo tờ EurAsian Times, Luật “Bí mật Nhà nước” của Trung Quốc có phạm vi bao quát rất rộng và với rất nhiều hình phạt, áp dụng từ những trường hợp làm lộ dữ liệu công nghiệp cho tới những trường hợp làm lộ ngày sinh tháng đẻ chi tiết của các lãnh đạo nhà nước.

Một trong những trường hợp nghiêm trọng nhất được ghi nhận vào năm 2016: Huang Yu, kỹ thuật viên máy tính người Trung Quốc, đã bị kết án tử hình vì tội làm rò rỉ hơn 150.000 tài liệu mật cho một thế lực nước ngoài giấu tên.

Trước đó, Huang làm việc cho một cơ quan của chính phủ có liên quan tới việc xử lý bí mật nhà nước. Các tài liệu mà anh ta bị cáo buộc cung cấp cho bên ngoài thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ các vấn đề quân sự, tài chính trong nước, cho tới các thông tin về Đảng cầm quyền.

Hình phạt khắc nghiệt là vậy nhưng Trung Quốc vẫn không ngăn chặn được hết các vụ đào tẩu và làm lộ bí mật nhà nước. Theo EurAsian Times, trước vụ việc rùm beng mới đây thì đã có một số trường hợp công dân Trung Quốc đào tẩu thành công.

Vào tháng 2/2016, đã xảy ra vụ việc gây chấn động Trung Quốc liên quan đến Lệnh Hoàn Thành – người được coi là “kẻ đào tẩu giá trị nhất”, nắm trong tay “tử huyệt” của Trung Quốc.

Ông Lệnh Hoàn Thành là em trai của ông Lệnh Kế Hoạch – cựu Chánh văn phòng trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, được xem là cánh tay phải của cựu Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Lệnh Hoàn Thành bị cáo buộc đã tiết lộ các thông tin chi tiết liên quan tới quy trình triển khai vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, đời tư của các quan chức cấp cao Trung Quốc… cho phía Mỹ.

Tháng 6 năm ngoái, tiếp tục có báo cáo về việc một điệp viên cấp cao của Trung Quốc, gọi là Dong Jingwei, đào tẩu sang Mỹ và đưa bằng chứng về phòng thí nghiệm Vũ Hán cho Washington.

ĐÒN GIÁNG MẠNH VÀO TRUNG QUỐC

Theo Daily Express, cuộc đào tẩu của nhà khoa học chương trình phương tiện bay siêu thanh sẽ cho phép Anh và Mỹ đẩy nhanh các chương trình phòng thủ chống lại loại vũ khí này. Các nguồn tin tình báo cho biết thêm rằng, với tổn thất lớn như trên, Trung Quốc có thể phải mất tới 2 năm để điều chỉnh các hệ thống của mình và “khiến cho thông tin tình báo bị rò rỉ trở nên không hiệu quả”.

“Trong lĩnh vực này, 2 năm là một khoảng thời gian rất dài” – Một quan chức liên quan tới chiến dịch đào tẩu cho hay.

Cùng nhận định về chủ đề này, trang tin TFI cho rằng cuộc đào tẩu trên có thể trở thành bước ngoặt lớn nhất trong cuộc chạy đua vũ khí đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc, bởi không giống như tên lửa đạn đạo truyền thống, tên lửa siêu thanh có độ cơ động rất cao nên nó cực khó bị phát hiện và đánh chặn.

TFI cho rằng, cuộc đào tẩu của nhà khoa học Trung Quốc thực sự là một yếu tố “thay đổi cuộc chơi”. Nó không chỉ khiến cho Trung Quốc thiệt hại một nhà khoa học cao cấp trong lĩnh vực vũ khí siêu thanh, mà sẽ còn khuyến khích các nhà khoa học khác của Trung Quốc đào tẩu khỏi nước này.

Trước đó, Trung Quốc vốn “khét tiếng” với những chiêu trò ăn cắp công nghệ và câu kéo nhân tài từ các quốc gia khác. Cuộc đào tẩu này, vì thế, không khác gì “một cái tát” vào Bắc Kinh.

T.P

]]>
Anh cảnh báo “gián điệp TQ” chi phối quốc hội https://biendong.net/2022/01/15/anh-canh-bao-gian-diep-tq-chi-phoi-quoc-hoi/ Sat, 15 Jan 2022 11:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=72773 Cơ quan tình báo Anh cảnh báo, một phụ nữ bị nghi là gián điệp của Trung Quốc đang tham gia vào các hoạt động can thiệp chính trị bên trong quốc hội của nước này.

Christine Lee – người bị nghi là gián điệp Trung Quốc đang tìm cách can thiệp sâu vào quốc hội Anh.

AFP đưa tin ngày 13/1, Cơ quan tình báo nội địa Anh (MI5) đã gửi cảnh báo đến quốc hội Anh về một phụ nữ Trung Quốc có tên Christine Lee, nghi ngờ người này là điệp viên ngầm giúp Trung Quốc can thiệp chính trị ở Anh. Văn phòng Chủ tịch Hạ viện Anh Lindsay Hoyle xác nhận đã nhận được cảnh báo và cũng gửi email thông báo cho các nghị sĩ.

Theo MI5, bà Christine Lee bị cho là đã tài trợ 200.000 bảng Anh cho cựu quan chức Công đảng Barry Gardiner và hàng trăm nghìn bảng cho đảng của ông này. Thông báo của ông Hoyle nói rằng, bà Lee đã tiếp tay cho các khoản tài trợ đại diện người nước ngoài tại Trung Quốc dành cho các nghị sĩ Anh, tất cả những hoạt động này diễn ra một cách bí mật để che giấu nguồn tài trợ

Cựu Thủ tướng Anh Theresa May từng trao tặng phần thưởng danh dự cho bà Lee vào năm 2019 để công nhận những đóng góp cho quan hệ Anh – Trung Quốc. Bà Lee cũng từng chụp ảnh cùng với cựu Thủ tướng Anh David Cameron tại một sự kiện vào năm 2015.

Phản ứng sau cảnh báo của MI5, Iain Duncan Smith, một cựu lãnh đạo Đảng Bảo thủ Anh, cho rằng đây là “vấn đề đáng quan ngại” và kêu gọi giới chức nước này hành động cứng rắn.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Anh Tobias Ellwood nói: “Đây là kiểu can thiệp vùng xám mà chúng ta đã lường trước từ Trung Quốc và thực tế nó đã xảy ra với quốc hội Anh, do vậy, chính phủ Anh cần phải thấy được tính cấp bách của vấn đề”.

Hiện tại, bà Lee chỉ bị cấm vào quốc hội Anh, song không bị bắt giữ hay trục xuất. Đại sứ quán Trung Quốc tại London cũng như chính phủ Anh hiện chưa đưa ra bình luận.

T.P

]]>
Mỹ,Anh, Canada muốn trừng phạt TQ về tội mổ cướp tạng sống https://biendong.net/2021/12/13/myanh-canada-muon-trung-phat-tq-ve-toi-mo-cuop-tang-song/ Mon, 13 Dec 2021 16:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70588 Các nhà lập pháp Mỹ, Anh và Canada đều đã đề xuất luật trừng phạt chống lại hoạt động mổ cướp nội tạng sống của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Tội ác mổ sống cướp nội tạng tù nhân của trại Tô Gia Đồn. Tranh sơn dầu- Tác giả Đổng Tích Cường- Triển lãm nghệ thuật cuộc tế Chân – Thiện – Nhẫn năm 2015

Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Scott Perry (R-CA) nói rằng “chúng ta cần luật có mục tiêu giải quyết cụ thể cuộc bức hại Pháp Luân Công của ĐCSTQ”. Đại diện của ông Perry cho biết, ông sẽ sớm đưa ra một dự luật mới để trừng phạt những người tham gia mổ cướp nội tạng sống của ĐCSTQ.

Lord Philip Hunt, một thành viên của Hạ viện Anh nói, “Chúng ta phải hành động trên phạm vi quốc tế, và ở Vương quốc Anh [cần] làm mọi cách để ngăn chặn hành vi khủng khiếp này”.

Garnett Genuis, nghị sĩ liên bang thuộc đảng Bảo thủ Canada, đã bày tỏ hy vọng rằng Canada sẽ thông qua và thực thi luật cấm công dân của mình đến Trung Quốc để cấy ghép nội tạng.

Vào ngày 10/12, Ngày Nhân quyền Quốc tế, Hiệp hội các bác sĩ chống cưỡng bức mổ cướp nội tạng” (DAFOH) đã tổ chức hội thảo trực tuyến với sự tham gia của các đại biểu quốc hội và các chuyên gia từ nhiều quốc gia.

Trong số đó, các nhà lập pháp từ Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Canada đều đã đề xuất luật trừng phạt và chống lại việc ĐCSTQ mổ cướp nội tạng sống của các học viên Pháp Luân Công và các tù nhân lương tâm khác.

Nghị sĩ Bỉ, Annick Ponthier nói, “Họ [các học viên Pháp Luân Công] rất nhiều và là nạn nhân lớn nhất của việc mổ cướp nội tạng sống của ĐCSTQ”.

Sẽ khởi động ‘Đạo luật bảo vệ Pháp Luân Công‘

Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Scott Perry, cho biết tại cuộc hội thảo rằng trong vài ngày tới ông sẽ khởi động “Đạo luật bảo vệ Pháp Luân Công” (The Dharma Protection Act).

Ông giới thiệu dự luật cho phép Tổng thống Biden trừng phạt bất kỳ ai trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động mổ cướp nội tạng sống ở Trung Quốc và sẽ chỉ thị cho Ngoại trưởng xác định xem cuộc bức hại Pháp Luân Công của ĐCSTQ có cấu thành tội ác theo Đạo luật Nhân quyền năm 2018 hay không.

Ông nói, “[Đạo luật sẽ] Định nghĩa về tội ác bao gồm tội ác chống lại loài người và tội diệt chủng”.

“[Chúng tôi] khuyến khích Bộ Ngoại giao chính thức xác định bản chất của cuộc bức hại Pháp Luân Công [của ĐCSTQ]. Đây là một phần thiếu sót nghiêm trọng trong chính sách đối với Trung Quốc của chúng ta”.

“Cuộc bức hại Pháp Luân Công của ĐCSTQ, cho dù đó là mổ cướp nội tạng sống, bỏ tù bất hợp pháp hay cưỡng bức lao động, đều là xấu xa và bất công. Quốc hội phải đảm bảo rằng hàng triệu học viên Pháp Luân Công không bị tước quyền tự do thực hiện tín ngưỡng tôn giáo của họ”.

Pháp Luân Công là môn khí công tu luyện thể chất và tinh thần chiểu theo nguyên lý “Chân, Thiện, Nhẫn” với năm bộ bài tập đơn giản, nhẹ nhàng. Môn tập này trở nên phổ biến ở Trung Quốc vào những năm 1990 vì hiệu quả của nó trong việc loại bỏ bệnh tật, nâng cao tinh thần và tăng cường thể lực. Theo ước tính của chính phủ Trung Quốc, tính đến năm 1999, có từ 70 triệu đến 100 triệu người tập Pháp Luân Công. Vào tháng 7 năm 1999, ĐCSTQ tin rằng quyền lực của mình đang bị đe dọa và đã phát động một chiến dịch đàn áp trên toàn quốc nhằm xóa bỏ Pháp Luân Công. Kể từ đó, các học viên Pháp Luân Công đã phải đối mặt với sự sách nhiễu của cảnh sát, bị giam giữ, tra tấn và mổ cướp nội tạng sống.

Hạ nghị sĩ Perry nói, “Đất nước chúng ta tiếp tục chứng kiến sự xấu xa của ĐCSTQ, ngày càng thấy nhiều những ví dụ đau lòng, rõ ràng là nó [ĐCSTQ] đã ra lệnh thực hiện hành vi mổ cướp nội tạng đối với các học viên Pháp Luân Công. Đây là nội tạng bị mổ cướp từ những người đang sống. Kết quả là khoảng 1,5 triệu học viên Pháp Luân Công có thể đã chết”.

Vào ngày 22/6/2016, báo cáo điều tra mới nhất về hoạt động mổ cướp nội tạng sống của ĐCSTQ – Thu hoạch đẫm máu (Bloody Harvest/The Slaughter: An Update) – đã chính thức được phát hành tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở Washington, DC.

Ba đồng tác giả David Kilgour, cựu Quốc vụ khanh Canada phụ trách Bộ phận Châu Á – Thái Bình Dương; phóng viên điều tra cấp cao của Hoa Kỳ Ethan Gutman và luật sư nhân quyền người Canada David Matas cho biết, trong 15 năm qua, ước tính có khoảng 1,5 triệu ca ghép tạng đã được thực hiện ở Trung Quốc. Nguồn nội tạng chính là các học viên Pháp Luân Công.
Hạ nghị sĩ Perry cũng đề xuất nghị quyết H.R. 5431 vào ngày 30/9/2021, yêu cầu Hoa Kỳ chỉ định ĐCSTQ là “tổ chức tội phạm xuyên quốc gia”.

Ông Perry nói, “Trong dự luật này, tôi đã trích dẫn kết quả của ‘Tòa án Trung Quốc’, kết luận rằng tội ác của [ĐCSTQ] đối với Pháp Luân Công có thể là một trong những tội ác nghiêm trọng nhất trong thế giới hiện đại”.

Vào tháng 3 năm 2020, Tòa án Trung Quốc, một tòa án có trụ sở tại London, Anh do Liên minh Quốc tế chấm dứt lạm dụng nội tạng ở Trung Quốc (ETAC) thành lập, đã đưa ra phán quyết bằng văn bản cho biết “mổ cướp nội tạng sống đã và đang xảy ra trên quy mô lớn trên khắp Trung Quốc trong nhiều năm, và các học viên Pháp Luân Công là một trong số đó, và có thể là nguồn cung cấp nội tạng chính”.

Ngoài tuyên bố của Hạ nghị sĩ Perry rằng ông sẽ sớm khởi động “Đạo luật bảo vệ Pháp Luân Công”, vào ngày 9/3/2021, Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ cũng khởi xướng “Đạo luật đàn áp mổ lấy nội tạng sống”. Dự luật sẽ cho phép chính phủ Hoa Kỳ từ chối hoặc thu hồi hộ chiếu của những người mua nội tạng người bất hợp pháp, đồng thời áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các quan chức và tổ chức nước ngoài tham gia hoặc hỗ trợ thu hoạch nội tạng sống.

Nghị sĩ Anh: Quốc tế và Vương quốc Anh phải hành động

Lord Philip Hunt, một thành viên của Hạ viện Anh đã phát biểu tại hội thảo nhân dịp kỷ niệm 73 năm ngày thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền rằng, “tình trạng vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất đang xảy ra ở Trung Quốc hiện nay”.

Ông nói, “Hiến tạng là một hành động đáng quý để cứu sống con người, nhưng mổ cướp nội tạng sống là hành vi giết người vì mục đích thương mại, không nghi ngờ gì nữa, đây là tội ác nghiêm trọng nhất”.

Ông Lord Hunt là người khởi xướng ‘Dự luật Du lịch nội tạng và trưng bày thi thể’ (The Organ Tourism and Cadavers on Display Bill) ở Vương quốc Anh. Dự luật đã được thông qua lần thứ hai tại Hạ viện vào ngày 16 tháng 7 năm 2021.

Nếu dự luật được thông qua, công dân Anh sẽ bị cấm cấy ghép nội tạng không rõ nguồn gốc ở nước ngoài hoặc tham dự trưng bày thi thể người không rõ nguồn gốc ở Anh.

Ông Lord Hunt tuyên bố rằng cả Vương quốc Anh và cộng đồng quốc tế nên hành động để ngăn chặn ĐCSTQ thu hoạch nội tạng người.

Nghị sĩ Canada: Cần luật cấm công dân đến Trung Quốc cấy ghép tạng

Nghị sĩ liên bang thuộc Đảng Bảo thủ Canada, Garnett Genuis, đã dẫn lời Albert Einstein tại hội thảo rằng “Thế giới sẽ bị hủy diệt không phải bởi những người làm điều ác, mà bởi những người đứng nhìn mà không làm gì cả”.

Ông Genuis cho biết, “Tôi hy vọng Canada và các quốc gia khác sẽ tham gia cùng Ý, Đài Loan, Israel và các quốc gia khác. Các quốc gia này đang dẫn đầu trong việc ban hành các biện pháp mạnh mẽ nhằm chấm dứt nạn buôn người và cấy ghép nội tạng, chỉ định là tội phạm đối với những công dân ra nước ngoài để nhận nội tạng bị mổ cướp mà không có sự đồng ý”.

Ngoài ra, Tây Ban Nha cũng đã thông qua và thực hiện luật mới vào năm 2010 cấm công dân nước này đến Trung Quốc để cấy ghép nội tạng.

Ông Genuis cho biết “Tất cả các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Canada, cần đứng lên bảo vệ các quyền cơ bản của nạn nhân của nạn mổ cướp nội tạng sống và buôn bán nội tạng”.

Vào ngày 18/6/2021, Hạ nghị sĩ Genuis đã đệ trình Đạo luật Chống buôn bán nội tạng (Dự luật S-204) lên Quốc hội lần thứ hai. Vào ngày 6 tháng 5, dự luật đã nhận được sự ủng hộ nhất trí của Thượng viện.

Dự luật nhằm kết tội những người Canada đã phẫu thuật ở nước ngoài và cấy ghép nội tạng bị thu hoạch cưỡng bức, đồng thời cấm những người liên quan đến buôn bán nội tạng vào Canada. Dự luật cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy tố mổ cướp nội tạng sống cả trong nước và quốc tế.

Nghị sĩ Bỉ: ĐCSTQ muốn xóa sổ học viên Pháp Luân Công

Nghị sĩ liên bang Bỉ, Annick Ponthier cho biết, “ĐCSTQ đã thiết lập một bộ máy quan liêu hoàn chỉnh, bao gồm hệ thống từ địa phương đến chính quyền trung ương ở Bắc Kinh. Mục đích duy nhất của nó là loại bỏ Pháp Luân Công và các học viên. Các học viên Pháp Luân Công đã bị giam giữ, bị tẩy não, tra tấn về tinh thần và thể chất, bị hành quyết, và mổ cướp nội tạng sống”.

“Các phương pháp mà ĐCSTQ thực hiện để loại bỏ các nhóm như học viên Pháp Luân Công và người Duy Ngô Nhĩ, thực sự [các hành vi của ĐCSTQ] có tất cả các đặc điểm của tội diệt chủng”.

Bà nói rằng bà có kế hoạch đề xuất một giải pháp riêng để giúp ngăn chặn cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Bỉ.

Tại Châu Âu, vào ngày 12/12/2013, Nghị viện Châu Âu (European Parliament) đã bỏ phiếu tại Strasbourg, Pháp, thông qua một dự luật khẩn cấp yêu cầu “ĐCSTQ ngay lập tức dừng việc mổ cướp nội tạng sống từ các tù nhân lương tâm, cũng như từ các tín ngưỡng tôn giáo và nhóm dân tộc thiểu số”.

Trương Năng Bình: Xã hội phương Tây nên hành động

Tiến sĩ Trương Năng Bình, người phát ngôn của Trung tâm Thông tin Pháp Luân Đại Pháp cho biết, “Trong hơn 20 năm, ĐCSTQ luôn coi việc tiêu diệt Pháp Luân Công là ưu tiên hàng đầu. Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về tra tấn ước tính vào năm 2006 rằng, 66% các trường hợp tra tấn được báo cáo tại các trung tâm giam giữ ở Trung Quốc liên quan đến các học viên Pháp Luân Công. Số người chết [là học viên Pháp Luân Công] được xác nhận do tra tấn và đối xử tàn tệ trong thời gian bị giam giữ hiện đã vượt quá 4.700 người, nhưng người ta tin rằng con số thực tế cao hơn nhiều lần”.

Theo thống kê chưa đầy đủ từ Minghui.com, chỉ từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2021, 101 học viên Pháp Luân Công mới đã chết vì bị bức hại. Trong số đó, 21 người bị tra tấn đến chết khi bị giam giữ bất hợp pháp trong các đồn cảnh sát, trại tạm giam và nhà tù.

Tiến sĩ Trương Năng Bình cho biết, điều đáng sợ nhất là nạn mổ cướp nội tạng sống của ĐCSTQ. Nhưng “điều đáng sợ hơn nữa là hoạt động mổ cướp nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công còn sống đã được nhà nước [Trung Quốc] chấp thuận”.

Trong hai năm qua, trong “Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế Thường niên năm 2020” và “Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2019” do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành, ngoài bức tranh tổng thể về cuộc bức hại Pháp Luân Công, nó cũng cung cấp một báo cáo chi tiết hơn về các cuộc điều tra gần đây của cộng đồng quốc tế về việc cưỡng bức thu hoạch nội tạng người của ĐCSTQ. Báo cáo thứ hai cũng bao gồm các trường hợp nghi ngờ mổ cướp nội tạng sống được Minghui.com đưa tin vào năm 2019, bao gồm học viên Pháp Luân Công Hà Lập Phương ở thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông và học viên Pháp Luân Công Vương Đức Thần ở thành phố Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang.

Tiến sĩ Trương Năng Bình nói rằng cộng đồng quốc tế nên có hành động ngăn chặn ĐCSTQ mổ cướp nội tạng sống, để tránh vô tình trở thành đồng phạm của ĐCSTQ.

“Nhiều người nhận nội tạng bị mổ cướp từ các học viên Pháp Luân Công thực ra không phải người Trung Quốc, và quốc gia của họ cung cấp trợ cấp chi phí y tế phục hồi chức năng sau cấy ghép. Họ có thể vô tình đã trở thành đồng phạm trong tội ác chống lại nhân loại của ĐCSTQ”.
“Nói cách khác, những vi phạm nhân quyền của ĐCSTQ và việc cộng đồng quốc tế không hành động đã gây ra những hậu quả đáng kể về mặt đạo đức và xã hội đối với phương Tây”.

“Thế giới tự do nên chú ý đến tình hình nhân quyền ở Trung Quốc và hãy hành động, bởi vì việc giúp đỡ những người bị bức hại này cuối cùng sẽ mang lại lợi ích cho thế giới”, ông Trương nói.

T.P

]]>