ASEAN – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 15:49:00 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Cách các nước Đông Nam Á hợp tác với nhau để đối phó TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/03/cach-cac-nuoc-dong-nam-a-hop-tac-voi-nhau-de-doi-pho-tq-o-bien-dong/ Fri, 03 Oct 2025 13:43:00 +0000 https://biendong.net/?p=161776 Ngày 27/6/2025, Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto và Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim đã nhất trí thúc đẩy một thỏa thuận kinh tế về hợp tác khai thác lô Ambalat giàu năng lượng. Diễn biến mới nhất này đánh dấu một bước tiến đáng kể trong hợp tác biển, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Tình trạng các tranh chấp chưa được giải quyết và căng thẳng leo thang tại Biển Đông không phải do các quốc gia Đông Nam Á không sẵn sàng, thiện chí đàm phán mà là do sự chồng lấn các yêu sách chủ quyền của các bên đối với quần đảo Hoàng Sa, các yêu sách bất hợp pháp của Trung Quốc và các hoạt động đơn phương rộng khắp của nước này nhằm hiện thực hoá các yêu sách này. Do đó, điều quan trọng là các quốc gia ASEAN có yêu sách ở Biển Đông – đặc biệt là Malaysia, Philippines và Việt Nam – cần định hướng lại cách tiếp cận của mình.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với gần như toàn bộ Biển Đông dựa trên yêu sách “đường lưỡi bò” – vốn đã bị Toà trọng tài vụ kiện Biển Đông khẳng định trái với UNCLOS vào năm 2016. Trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã quân sự hóa không gian biển và xây dựng các căn cứ quân sự trên Biển Đông. Lực lượng Hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc cũng đã có những hành động vượt quá giới hạn và quấy rối Việt Nam và Malaysia trong EEZ của họ.

Tại Biển Đông, Quần đảo Trường Sa là đối tượng tranh chấp của Trung Quốc, Đài Loan, Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam. Tuy nhiên, không giống các yêu sách và hành xử của Trung Quốc, các nước Đông Nam Á đã triển khai các hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế trong các tranh chấp biển. Do đó, đây trở thành cơ hội cho Malaysia, Philippines và Việt Nam xây dựng một cơ chế xây dựng lòng tin không chính thức nhưng hiệu quả tại Trường Sa.

Malaysia và Việt Nam cũng phải hiểu rằng họ cần theo đuổi nỗ lực này mà không có sự tham gia của Trung Quốc, đặc biệt là vì Trung Quốc sẽ không thỏa hiệp với bất kỳ tiến trình nào làm suy yếu tham vọng bành trướng của họ. Cách duy nhất để gây thêm áp lực lên Trung Quốc là Philippines, Malaysia và Việt Nam phải xây dựng một cách tiếp cận không chính thức nhưng nhất quán và thống nhất để quản lý các yêu sách chồng chéo của 3 nước ở Quần đảo Trường Sa. Mục tiêu ban đầu của một khuôn khổ như vậy sẽ không phải là giải quyết các tranh chấp này ngay lập tức – vì bất kỳ giải pháp cụ thể nào cũng cần sự chấp thuận của Trung Quốc – mà là tạo ra các điều kiện phù hợp cho một lập trường thống nhất về quản lý biên giới biển chồng lấn và xây dựng một lập trường thống nhất chống lại chủ nghĩa đơn phương của Trung Quốc.

Cả 3 nước đều phải có tiếng nói bất cứ khi nào Trung Quốc hành động khiêu khích ở bất kỳ khu vực nào của Quần đảo Trường Sa, bất kể ai chiếm đóng hay có chồng lấn các yêu sách hay không. Điều này sẽ khiến Bắc Kinh khó có thể chia Quần đảo Trường Sa thành các khu vực biệt lập, nơi mà họ có thể từng bước thống trị và chiếm đóng từng phần mà không phải lo lắng về chi phí cho hành động hoặc phản ứng tập thể.

Dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos Jr., Philippines đã tích cực nỗ lực bảo vệ EEZ của mình trước các hành động hung hăng của Trung Quốc như tấn công tàu thuyền và thủy thủ đoàn Philippines bằng vòi rồng và các hoạt động đâm va. Hành động của Bắc Kinh nhằm mục đích cảnh báo các bên có tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông không nên bắt chước hành vi của Philippines, tạo ra cảm giác an toàn giả tạo thông qua sự im lặng. Tuy nhiên, các quốc gia như Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi sự đe doạ này và đang tích cực triển khai hợp tác trên biển với nhau.

Trong khi Hà Nội và Bắc Kinh vẫn duy trì sự phối hợp ngoại giao linh hoạt, năm qua đã chứng kiến sự khởi đầu của một quá trình xây dựng lòng tin đáng chú ý giữa Việt Nam và Philippines ở Biển Đông. Tháng 1/2024, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr đã tới thăm Việt Nam. Nhân dịp chuyến thăm này, hai bên đã ký và trao 05 văn kiện hợp tác, trong đó có Bản ghi nhớ Việt Nam – Philippines về phòng ngừa và quản lý sự cố trên Biển Đông và Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa hai lực lượng cảnh sát biển. Hai bên cũng triển khai cuộc tập trận song phương đầu tiên của lực lượng bảo vệ bờ biển tại Manila vào tháng 8/2024 và cuộc tập trận thứ hai vào tháng 4/2025 tại Đà Nẵng.

Indonesia không được coi là bên tranh chấp ở Biển Đông, song yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc có ảnh hưởng đến vùng biển của Indonesia xung quanh quần đảo Natuna. Việc Jakarta và Hà Nội đã nỗ lực đàm phán phân định vùng biển thành công khiến Bắc Kinh tức giận.

Về phía Malaysia, từ năm 1992, Việt Nam và Malaysia đã ký Thoả thuận hợp tác dầu khí trong vùng biển chồng lấn giữa hai nước. Trên cơ sở đó, tập đoàn Petrovietnam của Việt Nam và tập đoàn Petronas của Malaysia đã triển khai hợp tác có hiệu quả và tháng 4/2025, hai bên đã ký kết Thoả thuận nguyên tắc chính gia hạn hợp đồng hợp tác tại khu vực chồng lấn này. Đây được coi là những ví dụ điển hình mà các nước ven Biển Đông cần nhân rộng để đối phó với mưu đồ bành trướng của Bắc Kinh.

Đây là những bước tiến quan trọng, và còn nhiều dư địa để các quốc gia Đông Nam Á có thể đẩy mạnh hợp tác biển hơn nữa. Một số phương hướng để tạo điều kiện thúc đẩy các hợp tác này bao gồm việc 3 nước cần bắt đầu đàm phán để thiết lập các vùng tạm thời cho hoạt động khai thác hải sản và quản lý tài phán chung tại các khu vực chồng lấn. Trong năm 2024, cả Manila và Hà Nội đều khẳng định mong muốn tiến hành trao đổi để phân định vùng biển chồng lấn khi hai nước này đệ trình hồ sơ xác định ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của mình ở Biển Đông. Đây là tín hiệu tốt mở đường cho hai bên tiến hành đàm phán về vấn đề này.

Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức cộng đồng cũng quan trọng không kém để xây dựng niềm tin và sự hiểu biết ở cấp độ nhà nước và xã hội, đặc biệt là trong cộng đồng ngư dân Philippines, Việt Nam và Malaysia. Nhiều vụ va chạm trên Biển Đông xảy ra giữa ngư dân do họ thiếu hiểu biết về ranh giới biển và luật pháp của các quốc gia ven biển lân cận. Do đó, các hội thảo nhằm mục đích này sẽ giúp hiểu sâu hơn về cư dân của các quốc gia này và thậm chí có thể thúc đẩy sự hội nhập sâu sắc hơn thông qua các mối quan hệ giao lưu nhân dân tốt hơn.

Đồng thời, cả 3 quốc gia Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền phải nỗ lực thiết lập các cuộc họp về tuần tra bờ biển thường xuyên nhưng không chính thức và thực hiện các cuộc tuần tra tập thể trên các khu vực biên giới biển chồng lấn của họ. Trong khi Philippines và Việt Nam gần đây đã bắt đầu các cuộc tập trận chung, việc Malaysia tham gia sẽ làm sâu sắc hơn và có ý nghĩa hơn trong việc thể hiện cam kết của các quốc gia Đông Nam Á đối với việc tuân thủ UNCLOS và Điều 4 trong DOC, trong đó kêu gọi giải quyết các tranh chấp còn tồn đọng thông qua “tham vấn và đàm phán hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền liên quan trực tiếp”, phù hợp với UNCLOS.

Từ năm 2017, hải quân các nước ASEAN đã tiến hành cuộc diễn tập đa phương đầu tiên với sự tham gia của tàu hải quân các nước Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Brunei, Thái Lan, Myanmar, Campuchia dưới sự chủ trì của Thái Lan. Năm 2023, Philippines đã chủ trì cuộc diễn tập hải quân ASEAN lần thứ 2 tại khu vực gần cảng Subic. Tháng 8/2025, Malaysia chủ trì cuộc diễn tập hải quân ASEAN lần thứ 3. Đáng chú ý, tháng 9/2023, dưới sự chủ trì của Indonesia, các nước ASEAN đã tiến hành cuộc tập trận quân sự chung đầu tiên trên biển ở khu vực Nam quần đảo Natuna. Giới chuyên gia cho rằng đây là những tín hiệu tích cực trong hợp tác giữa hải quân các nước ASEAN, song các cuộc diễn tập và tập trận chung trên biển cần được tiến hành thường xuyên hàng năm và khu vực tập trận nên được triển khai trên khắp Biển Đông. Điều này sẽ gửi tới Bắc Kinh môt thông điệp mạnh mẽ về sự đoàn kết của ASEAN trên các vấn đề an ninh ở Biển Đông.

Tuy nhiên, các nhà phân tích nhận định việc các nước ASEAN còn tỏ ra thận trọng và e dè trong các hoạt động chung trên Biển Đông là do yếu tố Trung Quốc; mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia này là liệu họ có đang gửi tín hiệu sai lệch đến Trung Quốc và phải đối mặt với rủi ro lớn hơn hay không. Trong bối cảnh đó, một số điểm cần được nhấn mạnh là: Thứ nhất, đây là sáng kiến do Đông Nam Á dẫn đầu và sở hữu, không liên quan đến các bên ngoài khu vực. Thứ hai, thực tế là cơ chế này sẽ vẫn không chính thức là để đảm bảo rằng không có sự hiểu lầm về mặt chiến lược và cản trở các chuẩn mực không chính thức và mang tính tham vấn xung quanh “Phương thức ASEAN”. Thứ ba, cần có một sự hiểu biết sâu sắc hơn khi giải mã mối liên hệ giữa các cam kết an ninh của Trung Quốc và hợp tác kinh tế của nước này với các nước Đông Nam Á. Việc cho rằng nước này sẽ phụ thuộc trực tiếp vào nước kia là một quan điểm sai lệch và cản trở một Đông Nam Á thống nhất.

Trên thực tế, các hoạt động thương mại của Philippines với Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng bất chấp lập trường tích cực hơn của Philippines về Biển Đông trong việc bảo vệ EEZ của mình dưới thời của Tổng thống đương nhiệm Marcos Jr.. Điều này cũng đúng dưới thời chính quyền tiền nhiệm của Tổng thống Benigno Aquino III, người đã có lập trường cứng rắn chống lại sự hiếu chiến của Trung Quốc khi tiến hành khởi kiện Trung Quốc ra Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS trên vấn đề Biển Đông sau khi Bắc Kinh ngang nghiên chiếm đóng tại Bãi Cạn Scarborough. Một điều cần lưu ý là trong bối cảnh căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc không ngừng leo thang thì Bắc Kinh có thể sẽ “tô vẽ” sự hợp tác giữa 3 nước Malaysia, Philippines, Việt Nam hay giữa các nước ASEAN như một lập trường chống Trung Quốc do Philippines, “kẻ gây rối”, dàn dựng và cố gắng thuyết phục Việt Nam và Malaysia từ bỏ nỗ lực này. Tranh chấp ở Biển Đông rất phức tạp có những vấn đề chỉ liên quan đến hai nước (như Quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam-Trung Quốc và Bãi cạn Scarborough giữa Philippines-Trung Quốc); có vấn đề liên quan tới nhiều nước (như Quần đảo Trường Sa liên quan tới 5 nước 6 bên, thậm chí vấn đề an ninh hàng hải còn liên quan đến cả các nước ngoài khu vực). Do vậy, vấn đề đặt ra là 3 nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc ở Biển Đông là Việt Nam, Philippines, Malaysia cần đi đầu trong các hợp tác chung ở Biển Đông. Từng quốc gia ven Biển Đông có thể tiếp tục đàm phán với Bắc Kinh về các thực thể song phương, chẳng hạn như Bãi cạn Scarborough và Hoàng Sa; tuy nhiên, họ không được bỏ lỡ cơ hội hợp tác chung ở Quần đảo Trường Sa. Làm như vậy có thể ngăn chặn các hoạt động đơn phương của Trung Quốc ở một phần của Biển Đông và buộc Bắc Kinh phải đàm phán công bằng hơn, tạo tiền lệ cho các thực thể khác của vùng biển tranh chấp. Nếu thành công, điều này cũng có thể khuyến khích Brunei củng cố vị thế của mình trong không gian tranh chấp. Do đó, Manila, Hà Nội và Kuala Lumpur phải khai thác ý chí chính trị vì sự ổn định và thịnh vượng lâu dài của khu vực.

]]>
Giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, khó khăn chồng chất, lại thêm nhân tố bất trắc bên ngoài https://biendong.net/2024/12/09/giai-quyet-tranh-chap-chu-quyen-o-bien-dong-kho-khan-chong-chat-lai-them-nhan-to-bat-trac-ben-ngoai/ Mon, 09 Dec 2024 04:58:32 +0000 https://biendong.net/?p=141859 Trong bối cảnh tình hình căng thẳng trên Biển Đông ngày càng leo thang do Trung Quốc gia tăng các hoạt động thúc đẩy yêu sách chủ quyền biển thì vào những tháng cuối năm 2024, tại khu vực lại diễn ra một loạt hội nghị liên quan đến ASEAN và Trung Quốc như Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 57 (AMM-57), họp từ 25 – 27/7/2024; Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 11, họp từ 12 – 14/9/2024; Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 44 và 45; rồi cả các Hội nghị Cấp cao thường niên giữa ASEAN với các đối tác, được tổ chức tại Viêng Chăn/Lào từ 09 – 11/11/2024…

Những tưởng các động thái này sẽ tạo ra được “điểm sáng” nào đó cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Biển Đông, nhất là những vấn đề “nóng”, quan trọng như tranh chấp lãnh thổ, khác biệt về yêu sách biển, cùng với việc quân sự hóa trên biển… sẽ được các hội nghị quan tâm thảo luận và tìm ra hướng giải quyết. Đáng tiếc rằng, đúng là các vấn đề trên được thảo luận nhiều, nhưng những “điểm sáng” được mong đợi cho việc giải quyết chúng thì lại quá ít, trong khi những tranh cãi lại nhiều hơn. Bên cạnh đó, lại xuất hiện những nhân tố bên ngoài mới can dự vào với đầy bất trắc. Vì thế, việc giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông xem ra vẫn chưa thể tìm ra lối thoát trong tương lai gần.

Một vài “điểm sáng” thu hút sự quan tâm và nhận được sự đồng thuận cao của dư luận


Tại các hội nghị trên, xuất hiện những “điểm sáng” liên quan đến vấn đề Biển Đông, thu hút sự quan tâm và nhận được sự đồng thuận cao của các đại biểu dự hội nghị, đó là: (i) Trong các cuộc thảo luận tại AMM-57, tất cả 10 nước thành viên ASEAN đều có chung nhận thức quan trọng rằng, các nước ASEAN không thể để bị lôi kéo vào cuộc cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc tại châu Á – Thái Bình Dương, không thể ‘chọn” bất cứ bên nào khi mà cả Trung Quốc và Mỹ đều đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng trong khu vực. Sau các cuộc họp, Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Retno Marsudi cho biết, các nước ASEAN nhấn mạnh rằng, không nên là đại diện cho bất kỳ cường quốc nào, nếu không sẽ rất khó để ASEAN trở thành “điểm tựa cho sự ổn định và hòa bình trong khu vực”. Ông Marsudi nhấn mạnh: “Một bước đi sai lầm ở Biển Đông, sẽ biến một đám cháy nhỏ thành một cơn bão lửa khủng khiếp”. (ii) Hiện nay, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã thực sự trở thành một trung tâm phát triển năng động của thế giới, ngày càng thu hút sự quan tâm của các nước ngoài khu vực. Tuy nhiên, cũng như nhiều nơi trên thế giới, tại khu vực này, vấn đề tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa các quốc gia vẫn còn nan giải, nhất là chủ quyền trên biển, trong đó có Biển Đông. Vì thế, trong bài phát biểu tại Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 11, Đại tướng Phan Văn Giang – Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam khẳng định: Trước sau như một, Việt Nam kiên trì giải quyết mọi vướng mắc, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích chính đáng của các quốc gia; tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), thực thi nghiêm túc các cam kết quốc tế, khu vực như Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); ủng hộ việc thiết lập các cam kết pháp lý rõ ràng, thực chất, hiệu quả hơn như Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) mà ASEAN và Trung Quốc đang mong sớm ký kết. Để có thể hợp tác thực chất và hiệu quả trong giải quyết các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống đang diễn biến hết sức phức tạp hiện nay, các quốc gia cần phát triển quan hệ hợp tác trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp, cam kết quốc tế và khu vực, không đe dọa sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Trong hợp tác giải quyết các vấn đề an ninh, các nước lớn có vai trò rất quan trọng, cần được phát huy đầy đủ trách nhiệm và hiệu quả trên thực tế. Bài phát biểu trên của Việt Nam đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đại biểu tham dự diễn đàn, cho rằng chỉ có đi theo phương hướng này thì mới khuyến khích được các bên liên quan tăng cường giao lưu và hợp tác bình đẳng, tìm kiếm con đường an ninh kiểu mới, tăng cường đối thoại chứ không phải là đối đầu, kết bạn chứ không phải kết đồng minh, đôi bên cùng có lợi chứ không phải được mất ngang nhau trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. (iii) Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng trong Tuyên bố chung của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 44, 45, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc tiếp tục kêu gọi thực hiện đầy đủ DOC và đẩy mạnh nỗ lực đàm phán nhằm sớm đạt được COC thực chất và hiệu quả, đưa Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.


Rõ ràng, trong nhận thức chung thì nước nào cũng hiểu rõ vấn đề có lợi từ các “điểm sáng” trên, nhưng để “tiến thêm nữa” nhằm tạo ra nhiều “điểm sáng” hơn thì lợi ích riêng của mỗi nước lại che mờ quyết tâm và hành động của họ, khiến cho nhiều “điểm tối” vẫn còn hiện hữu.


Những rào cản khiến cho việc tìm lối thoát trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông tiếp tục chồng chất khó khăn

Mặc dù, các hội nghị nêu trên đưa ra những chủ đề rất “kêu”, hứa hẹn nhiều tương lai tốt đẹp cho khu vực như: “Tăng cường kết nối và tự cường ASEAN” là chủ đề của hội nghị AMM-57 và hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 44, 45 và các hội nghị cấp cao liên quan; “Hợp tác an ninh và sự phồn vinh, ổn định của khu vực châu Á – Thái Bình Dương” là chủ đề của Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 11, nhưng ngay trong các hội nghị và bên lề các hội nghị đó, vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông vẫn vấp phải khá nhiều rào cản, chưa xuất hiện tín hiệu khả quan nào. Đó là:

Thứ nhất, nội bộ ASEAN vẫn có sự chia rẽ, thiếu đồng thuận.

Trước hết là phản ứng thiếu thống nhất hay khác nhau của ASEAN đối với các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Tại hội nghị AMM-57, giới quan sát vẫn nhận ra và cho rằng, nội bộ ASEAN vẫn có sự chia rẽ, thiếu đồng thuận trong việc có nên hay không đưa các tuyên bố chủ quyền và các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông thời gian qua vào trong Tuyên bố chung sau hội nghị. Ví dụ: Trong các cuộc họp ngày 25/7/2024, Philippines đã thúc đẩy đưa vụ va chạm giữa tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu công vụ Philippines diễn ra hồi giữa tháng 6/2024 vào trong Tuyên bố chung cuối các cuộc họp. Tuy nhiên, hai nước có quan hệ gần gũi với Trung Quốc là Campuchia và Lào, lại không có lợi ích gì ở Biển Đông so với các lợi ích mà Trung Quốc mang lại cho họ, đã phản đối ý định này. Trước bối cảnh có những rạn nứt trong nội bộ liên quan tới vấn đề Biển Đông do sự lôi kéo, chi phối của Trung Quốc, nên Tuyên bố chung của AMM-57 ngày 27/7/2024 đã không nêu thẳng thắn, trực tiếp về những căng thẳng diễn ra xung quanh bãi Cỏ Mây giữa Trung Quốc và Philippines, mà chỉ đề cập một cách chung chung rằng, Bộ trưởng Ngoại giao một số nước ‘‘bày tỏ quan ngại về các hoạt động cải tạo đất, một số hoạt động, sự cố nghiêm trọng trong khu vực, bao gồm các hành động gây nguy hiểm cho an toàn của người, gây thiệt hại cho môi trường biển, làm xói mòn lòng tin, có thể làm gia tăng căng thẳng, gây tác hại đến hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực”. Ngoại trưởng các nước ASEAN cũng nhất trí chưa nêu các biện pháp cụ thể nhằm làm giảm căng thẳng ở Biển Đông và ngăn ngừa các tai nạn cũng như những tính toán sai lầm, đồng thời kêu gọi tất cả các bên liên quan dừng các hành động có thể làm phức tạp và leo thang tranh chấp. Giới chuyên gia khu vực đánh giá, mặc dù cuối cùng AMM-57 cũng ra được Tuyên bố chung, trong đó vấn đề Biển Đông được đề cập với nội dung mà các bên có thể chấp nhận được, không để xảy ra tình trạng như cách đây 12 năm khi AMM-45 tại Phnom Pênh/Campuchia không ra được Tuyên bố chung do sự bất đồng giữa các nước trong vấn đề Biển Đông, nhưng rõ ràng nội bộ ASEAN vẫn có sự chia rẽ, thiếu đồng thuận. Theo dư luận, sở dĩ nước chủ nhà hội nghị là Lào không để xảy ra tình trạng như năm 2012, một phần là do nước này có quan hệ đặc biệt với Việt Nam – quốc gia có các lợi ích thiết thân quan trọng và đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, nên Lào không thể bỏ qua các quan tâm và lợi ích của Việt Nam ở vùng biển này. Do đó, vấn đề Biển Đông tuy được đưa ra thảo luận nhiều và đã được đưa vào trong tuyên bố chung của các hội nghị do ASEAN tổ chức trong năm 2024, song ý tứ và ngữ nghĩa thì vẫn còn chung chung, chưa có gì mới mẻ.

Tiếp theo, về đàm phán COC: Đây là “vướng mắc” lớn nhất trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc nên cũng là chủ đề được thảo luận nổi bật trong AMM-57 và Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 44 và 45. Trong hơn hai thập kỷ qua, Trung Quốc và ASEAN đã nhiều lần đàm phán về COC – một hướng đi nhằm làm giảm bớt căng thẳng trên Biển Đông thông qua việc xác định các quy tắc và trách nhiệm cho các quốc gia có liên quan. Song cho đến tận năm 2024 này, các hội nghị của ASEAN diễn ra trong năm vẫn chưa đưa ra được tín hiệu gì mang tính đột phá; nội bộ ASEAN vẫn tiếp tục có sự chia rẽ, bất đồng. Các quốc gia như Việt Nam và Philippines, vốn thường xuyên phải đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông, mong muốn có một thỏa thuận mang tính ràng buộc về mặt pháp lý, còn các quốc gia trong ASEAN không có yêu sách chủ quyền, như Campuchia và Lào, thì vẫn còn “quan ngại và do dự” vì sợ nếu “khiêu khích” hay làm mất lòng với Trung Quốc thì sẽ “chuốc lấy” ảnh hưởng đáng kể về kinh tế cho bản thân. Ông Greg Poling – Giám đốc Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế của Mỹ đánh giá: “ASEAN vẫn khá chia rẽ vì những nước không có yêu sách chủ quyền trên Biển Đông không thực sự đầu tư vào việc giải quyết hoặc quản lý vấn đề này, nên sẽ không mạo hiểm làm Trung Quốc bất bình. Điều này đã làm cho các bên yêu sách khác, đặc biệt là Philippines và Việt Nam, thường phải đơn độc giữ vững lập trường trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc”. Đồng quan điểm với ông Greg Poling, ông Luigi Joble – Giảng viên tại Đại học De La Salle/Philippines cũng cho rằng, “thách thức về sự thiếu thống nhất trong lập trường về vấn đề Biển Đông của các quốc gia thành viên ASEAN đã trở thành vấn đề dai dẳng, kéo dài hàng thập kỷ trong các cuộc đàm phán của ASEAN với Trung Quốc về COC”. Còn Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim thì gần đây đã tuyên bố: “Chúng tôi không có vấn đề gì với Trung Quốc”. Thực chất là Malaysia đang muốn “kết thân” với Trung Quốc để đổi lấy lợi ích kinh tế nên họ luôn giữ chính sách “ngoại giao im lặng” trong vấn đề Biển Đông. Như vậy, chưa kể đến các yếu tố khác, nếu tình trạng này vẫn tồn tại trong nội bộ ASEAN, thì các cuộc đàm phán để hoàn thiện COC theo dự kiến sẽ kết thúc vào năm 2026 xem ra còn rất viển vông, câu chuyện lỡ hẹn về việc ký kết COC sẽ vẫn cứ tiếp diễn.

Thứ hai, Trung Quốc “nói một đàng, làm một nẻo”, khiến cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông tiếp tục gặp khó khăn.

Mặc dù tại Hội nghị Cấp cao ASEAN – Trung Quốc lần thứ 27 diễn ra ngày 10/10/2024 tại Viêng Chăn/Lào, Trung Quốc đã thống nhất cùng các nhà lãnh đạo ASEAN kêu gọi đẩy mạnh nỗ lực hơn nữa để sớm đạt được COC, đưa Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác cùng phát triển. Thế nhưng, trong quá trình xây dựng và tạo dựng sự đồng thuận của các bên đối với COC, Trung Quốc lại không thực tâm, không sẵn sàng tham gia cam kết một cách mạnh mẽ, có tính pháp lý cao với các nước nhỏ yếu hơn, bởi Bắc Kinh hiểu rằng nếu một COC thực chất, hiệu quả, có tính pháp lý cao ra đời, thì đó có thể là thứ “trói chân, trói tay” họ ở Biển Đông. Hơn nữa, ở hội nghị trên thì Trung Quốc nói vậy, nhưng trước đó, bên lề Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 11, khi đề cập đến tình hình Biển Đông, Trung tướng Quân đội Trung Quốc Hà Lôi đã tuyên bố rằng, Quân đội Trung Quốc sẵn sàng “đập tan mọi hành động thù nghịch” nhắm vào “lãnh thổ, chủ quyền, lợi ích trên biển” của mình. Tướng Hà Lôi còn cảnh báo, nếu Mỹ sử dụng một số quốc gia làm “quân cờ”, đẩy họ lên tuyến đầu hay tự họ bước lên tuyến đầu thì Quân đội Trung Quốc “sẽ không ngần ngại đáp trả đích đáng” vì đó là “quyết tâm mạnh mẽ, không có gì lay chuyển được của Trung Quốc”, hơn nữa giờ đây Bắc Kinh “đã có những khả năng vững chắc, những phương tiện hiệu quả” để bảo vệ chủ quyền trên bộ và trên biển. Trong khi, cái mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền trên biển” của họ, chính là hơn 80% diện tích Biển Đông được thể hiện trên tấm bản đồ “đường chín khúc” phi pháp, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền các nước trong khu vực. Như vậy nên hiểu, đe dọa vũ lực và sẵn sàng sử dụng vũ lực vẫn là biện pháp ưu tiên hàng đầu được Trung Quốc lựa chọn để thực hiện tham vọng của họ ở Biển Đông. Rõ ràng, Trung Quốc không muốn dựa vào căn cứ của luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982 để giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, bởi làm thế thì họ sẽ rất đuối lý và thất thế nếu không nói là thất bại. Xem ra, quan điểm “Chính quyền nằm trên đầu ngọn súng” hay “…súng sinh ra tất cả…thế giới này chỉ có dùng súng thì mới thay đổi được” của Mao Trạch Đông tiên sinh vẫn đang được Trung Quốc coi trọng để đạt được mục tiêu của họ ở Biển Đông.

Còn trên thực tế, tình hình ở Biển Đông thời gian qua được Tổng thống Philippines Marcos Jr khi phát biểu tại Hội nghị Cấp cao ASEAN – Trung Quốc lần thứ 27, cho biết: Tình hình Biển Đông nhìn chung “vẫn căng thẳng và không thay đổi”, nguyên nhân là do Trung Quốc tiếp tục có các hành vi hung hăng và đe dọa nước khác, coi thường luật pháp và các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Công ước năm 1972 về Quy định quốc tế về phòng ngừa va chạm trên biển (COLREGS). Ông Marcos Jr chỉ rõ, chỉ riêng trong tháng 8/2024, lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc đã ba lần sử dụng vòi rồng và đâm vào các tàu biển của Philippines. Các tàu đánh cá dân sự và máy bay của Philiipines cũng thường xuyên bị Quân đội Trung Quốc đe dọa bằng tia laser và tên lửa.

Xuất hiện yếu tố “phe nhóm” liên minh đối chọi nhau can dự vào khu vực, có thể đẩy Biển Đông vào tình thế bất trắc thêm.

Đây là một điểm rất mới, rất đáng chú ý, đó là, dường như Nga và Trung Quốc có cùng quan điểm trên các vấn đề của khu vực, kể cả Biển Đông. Ngày 25/7/2024, tại cuộc gặp song phương Nga – Trung bên lề AMM-57, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và Ngoại trưởng Nga, ông V.Lavrov đã nhất trí hợp tác để “chống lại mọi nỗ lực can thiệp vào các vấn đề Đông Nam Á của các thế lực ngoài khu vực (hàm ý chỉ Mỹ và các đồng minh của Mỹ)”.

Sau cuộc gặp, ông V.Lavrov còn cho biết đã thảo luận với ông Vương về việc triển khai “một kiến trúc an ninh mới” ở Âu – Á, nhưng không nêu rõ chi tiết. Trong khi đó, ông Vương nói với Tân Hoa Xã rằng, “Bắc Kinh sẵn sàng hợp tác với Moscow để… hỗ trợ lẫn nhau một cách vững chắc, bảo vệ lợi ích cốt lõi của nhau”. Theo các nhà phân tích, Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của họ. Do vậy, trong trường hợp Moscow hợp tác với Bắc Kinh bảo vệ cái gọi là “lợi ích cốt lõi” của nhau như ông Vương Nghị nói, thì đây sẽ là một thách thức to lớn với các nước ven Biển Đông đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.

Trong khi giữa Trung Quốc và Nga có những dấu hiệu về sự hợp tác, phối hợp quan điểm về vấn đề Biển Đông, thì các nước lớn khác ngoài khu vực như Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản… tiếp tục thể hiện lập trường thượng tôn pháp luật về vấn đề này. Theo đó: Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Đông Á (EAS) lần thứ 14, được tổ chức vào ngày 27/7/2024 tại Lào, Ngoại trưởng Ấn Độ Jaishankar nhấn mạnh tầm quan trọng của COC thực chất, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế; khẳng định tầm quan trọng của an toàn và an ninh hàng hải, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982; trong tham dự hội nghị AMM-57 tại Lào, sau khi lên án các hành động ‘‘leo thang và bất hợp pháp’’ của Trung Quốc ở Biển Đông, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã nhấn mạnh mục tiêu ưu tiên của Washington là cổ vũ ‘‘một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở và thịnh vượng’’, đồng thời kêu gọi các nước Đông Nam Á đoàn kết để cùng hóa giải ‘‘các thách thức’’, đặc biệt là các hành động ‘‘leo thang và bất hợp pháp của Trung Quốc chống lại Philippines trong những tháng gần đây’’. Đáng chú ý, Ngoại trưởng Mỹ đã thẳng thừng nêu đích danh Trung Quốc là “thủ phạm” chủ yếu của những căng thẳng ở Biển Đông thời gian qua. Liên quan tới “thoả thuận tạm thời” giữa Philippines và Trung Quốc về giảm căng thẳng ở khu vực bãi Cỏ Mây mới đây, Ngoại trưởng Blinken cho biết, ông rất vui khi Philippines đã hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế cho các binh sĩ trên bãi Cỏ Mây trong ngày 27/7/2024 mà không bị cản trở, hoan nghênh giải pháp ngoại giao mà Philippines đã đạt được với Trung Quốc về vấn đề này. Ông bày tỏ: “Chúng tôi hài lòng ghi nhận việc tiếp tế thành công ngày hôm nay cho bãi Cỏ Mây… hy vọng và mong đợi thấy nó sẽ tiếp tục tiến về phía trước”.

Sau khi dự Hội nghị AMM-57 ở Lào, Ngoại trưởng Mỹ đã tới Việt Nam, Nhật Bản và Philippines. Điều đó cho thấy sự coi trọng của Washington đối với khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Đáng chú ý, ngày 29/7/2024, tại Tokyo/Nhật Bản, Ngoại trưởng Blinken đã có cuộc họp với Ngoại trưởng các nước Nhật Bản, Australia, Ấn Độ trong Nhóm “Bộ tứ”. Dù cuộc họp này nằm ngoài khuôn khổ các cuộc họp của ASEAN, nhưng ông Blinken vừa từ AMM-57 trở về, nên Biển Đông vẫn là một “điểm nhấn” của cuộc họp này. Theo đó, cả bốn vị Bộ trưởng Ngoại giao đều đồng thuận nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế đối với việc duy trì trật tự hàng hải, trong đó có khu vực biển Hoa Đông và Biển Đông; đồng thời, tái khẳng định sự phản đối mạnh mẽ đối với bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm tìm cách thay đổi hiện trạng tại hai khu vực biển đó bằng vũ lực hoặc gây sức ép. Bốn vị Ngoại trưởng tiếp tục bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng về hoạt động quân sự hóa các thực thể tranh chấp và động thái cưỡng ép, đe dọa tại Biển Đông”.

Chưa dừng lại ở đó, tại Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 19 diễn ra ngày 11/10/2024, nơi có sự hiện diện của Ngoại trưởng các cường quốc, bao gồm Nga, Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Australia, Nhật Bản và EU, Ngoại trưởng Blinken tiếp tục nêu đích danh Trung Quốc là nước đã có các hành động hung hăng ở Biển Đông nhằm vào Philippines, một đồng minh hiệp ước phòng thủ của Mỹ, đồng thời khẳng định cam kết của Mỹ đối với vai trò trung tâm của ASEAN và ủng hộ Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Những diễn biến xung quanh Hội nghị AMM-57, Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 19, cũng như cuộc họp của Ngoại trưởng Nhóm “Bộ tứ” tại Tokyo/Nhật Bản cho thấy, cuộc cạnh tranh địa – chiến lược ở Biển Đông và khu vực không chỉ còn nằm trong khuôn khổ Mỹ – Trung nữa, mà đã được mở rộng ra giữa một bên là Mỹ và các đồng minh, đối tác, với bên kia là Trung Quốc và Nga. Người ta lo ngại rằng, việc Bắc Kinh và Moscow cam kết cùng nhau “ngăn chặn ảnh hưởng của các thế lực bên ngoài” đối với khu vực Đông Nam Á sẽ chỉ khiến tình hình Biển Đông bất trắc thêm, khó lường thêm, đây là điều mà các nước trong khu vực không mong muốn.

Như vậy có thể thấy, mặc dù các hội nghị do ASEAN tổ chức trong năm 2024 đã thành công. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông chưa có gì sáng sủa, vẫn diễn ra tình trạng mâu thuẫn, bất đồng. Các bên có tranh chấp và cạnh tranh nhau tiếp tục đưa ra những cách diễn giải trái ngược nhau về hầu hết các sự việc và diễn biến ở vùng biển này.

Chính sự “lệch pha” đó đã và sẽ làm gia tăng cạnh tranh và các mối đe dọa, gây nguy cơ rất lớn tới sự ổn định vốn đã rất mong manh ở Biển Đông, thậm chí có thể bùng nổ xung đột. Vì vậy, hơn lúc nào hết, lãnh đạo các nước cả trong và ngoài khu vực cần có “cái đầu lạnh” và tầm nhìn tỉnh táo, không để nơi đây biến thành một “Trung Đông mới” của khu vực và thế giới. Chỉ có tuân thủ nghiêm túc những luật lệ và chuẩn mực đã được quốc tế công nhận rộng rãi, nhất là Hiến chương Liên hợp quốc và UNCLOS 1982 mới giúp tạo ra khuôn khổ chung để các nước giải quyết bất đồng trên tinh thần hòa bình và hợp tác, mới đưa Biển Đông trở thành vùng biển phát triển có lợi cho cả thế giới chứ không chỉ có lợi cho bất kỳ quốc gia nào

]]>
Để quản lý tốt các tranh chấp ở Biển Đông, ASEAN nên có thêm công cụ khác đi cùng với COC https://biendong.net/2024/09/11/de-quan-ly-tot-cac-tranh-chap-o-bien-dong-asean-nen-co-them-cong-cu-khac-di-cung-voi-coc/ Wed, 11 Sep 2024 13:58:00 +0000 https://biendong.net/?p=136852 Trong nhiều năm qua, tình hình Biển Đông liên tục phức tạp, căng thẳng, có những lúc đứng bên “bờ vực” xung đột quân sự và trở thành “điểm nóng” của khu vực và thế giới mà nguyên nhân chủ yếu là do Trung Quốc, một bên tranh chấp chủ quyền ở vùng biển này luôn cậy thế nước lớn, áp đặt “chủ quyền” trên phần lớn diện tích Biển Đông theo yêu sách “đường chín khúc” phi lý gây ra.

Trước tình hình đó, để tránh xảy ra các vụ va chạm có thể dẫn đến xung đột vũ trang, năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”. Nhưng DOC chỉ là một tuyên bố chính trị, không có tính ràng buộc về pháp lý, phần lớn tùy thuộc vào thiện chí thi hành của các bên tham gia ký kết. Bởi thế nên, Trung Quốc ngày càng lấn lướt, liên tục vi phạm DOC nhằm thực hiện tham vọng “độc chiếm” Biển Đông, đe dọa chủ quyền biển của các nước trong khu vực. Mặc dù, ASEAN đã cố gắng tiến hành nhiều cuộc đàm phán với Trung Quốc nhằm đạt được một “Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC)” có tính pháp lý cao, buộc tất cả bên đều phải tuân thủ. Tuy nhiên, do có quá nhiều khác biệt về lập trường, quan điểm, nhất là sự thiếu thiện chí từ phía Bắc Kinh, nên đến nay COC vẫn liên tục lỡ hẹn và chưa thể về đích.

Nhìn lại việc đàm phán COC giữa ASEAN và Trung Quốc, quá gian nan mà cũng quá xa vời do hai bên đối nghịch nhau về mục đích…

Ý tưởng về một COC đã có từ những năm 1990, khi mà trên Biển Đông thường xuyên xảy ra những căng thẳng, đụng độ, trong đó có những sự kiện như Trung Quốc chủ động khiêu khích và tấn công quân sự vào lực lượng của Việt Nam ở đảo Gạc Ma năm 1988, khiến 64 binh sỹ thiệt mạng. Tiếp đó, vào năm 1995, Trung Quốc lại tiếp tục sử dụng vũ lực đánh chiếm bãi Vành Khăn thuộc quyền kiểm soát của quân đội Philippines lúc đó. Trước những căng thẳng trên, Philippines là một trong những nước đã kêu gọi ASEAN phối hợp với Trung Quốc tìm kiếm một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Tất cả các bên đã thống nhất ngồi lại với nhau đàm phán, nhưng rốt cuộc không đi đến đâu, COC vẫn chỉ là câu chuyện ‘trong mơ”. Để vớt vát tình hình, hy vọng làm giảm căng thẳng, các bên mới ký kết DOC tại Campuchia. Song trên thực tế, DOC hầu như không có tác dụng, các hoạt động vi phạm luật pháp quốc tế trên Biển Đông, nhất là hoạt động của Trung Quốc vẫn liên tục diễn ra.

Bắt đầu từ năm 2007 trở đi, vấn đề Biển Đông lại nóng lên. Đặc biệt là vào năm 2009, khi mà theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), một quốc gia ven biển được có một vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở, tối đa là 350 hải lý, nếu chứng minh được đó là sự kéo dài của thềm lục địa. Muốn vậy, quốc gia đó phải làm hồ sơ và trình lên Ủy ban về ranh giới thềm lục địa (CLCS) của Liên hợp quốc trước ngày 15/09/2009 để được xem xét và công nhận. Vào thời gian đó, khi Việt Nam và Malaysia gửi công hàm và các hồ sơ về ranh giới thềm lục địa lên CLCS, thì ngay lập tức, Trung Quốc ra công hàm phản đối và công bố tấm bản đồ đường chín khúc” phi pháp kèm theo, thể hiện cái mà Bắc Kinh gọi là “chủ quyền” của họ trên Biển Đông ra toàn thế giới.

Từ đó trở đi, Trung Quốc liên tục có những hành động gây căng thẳng, vi phạm chủ quyền biển của các nước ven Biển Đông. Buộc các nước ASEAN cần nhanh chóng thúc đẩy, tìm kiếm một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông có giá trị pháp lý hơn so với DOC. Đến năm 2012, bản dự thảo đầu tiên về COC do Indonesia khởi thảo đã được đưa ra và được hầu hết các nước ASEAN nhất trí, nhưng “nhân vật” quan trọng nhất là Trung Quốc lại không đồng ý. Chính vì vậy, kể từ năm 2012, đã có rất nhiều cuộc họp bàn thảo về COC, nhưng tất cả đều “dậm chân tại chỗ”. Mãi cho tới năm 2018, các nước mới đưa ra được cái gọi là sự “đồng ý ban đầu” về COC. Thế nhưng, do đại dịch Covid-19, các bên không thể gặp nhau được, nên vẫn chưa có bước tiến nào đáng kể nào trong đàm phán về COC. Sau khi hết đại dịch, mãi đến cuối năm 2022 đầu năm 2023, Trung Quốc mới chính thức bãi bỏ chính sách zero-Covid, mở đường cho các nhà đàm phán Trung Quốc có thể xuất ngoại, các cuộc họp bàn mới lại tiếp tục.

Năm 2022, Campuchia – quốc gia có mối liên hệ gần gũi với Trung Quốc, giữ chức Chủ tịch luân phiên của ASEAN, đã đặt ra nhiều mục tiêu trong đàm phán COC nhưng kết quả lại bằng không. Còn nhớ, trước đó 10 năm, vào năm 2012, lần đầu tiên Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN đã không ra được thông cáo chung, do Campuchia với tư cách là nước chủ nhà, đã tìm cách ngăn cản các bên đưa ra bản tuyên bố chung với những điều khoản bất lợi cho Trung Quốc. Năm đó, cũng là năm xảy ra sự kiện bãi cạn Scarborough của Philippines bị Trung Quốc cưỡng chiếm. Có thể nói, yếu tố quan trọng nhất khiến COC còn mờ mịt do Trung Quốc vẫn chưa “mặn mà” và thực tâm đàm phán. Họ muốn kéo dài thời gian để thực hiện các bước đi theo ý đồ của mình ở Biển Đông. Để khi COC có ra đời thì mọi việc trên biển “đã đâu vào đấy” theo ý họ.

Dù vậy, thời gian qua, ASEAN vẫn kiên trì công cuộc “vượt cạn” về đàm phán COC với Bắc Kinh, bởi như nhà nghiên cứu Gregory Poling thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ, đã khẳng định, “đàm phán với Trung Quốc về COC vẫn là một kênh hữu ích để tác động đến Bắc Kinh”. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chồng chất bất đồng. Trước tiên là về mục đích: Các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là những nước có liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc như Việt Nam, Philippines, MalaysiaIndonesia, hay những nước không có quan hệ trực tiếp Biển Đông, nhưng gắn liền với biển, như Singapore đều muốn có một COC có thể kiềm chế, không cho phép Trung Quốc có những hành động leo thang ở Biển Đông. Trong khi đó, Bắc Kinh lại muốn có một COC có thể ngăn chặn hành động bồi đắp, quân sự hóa những thực thể mà các bên đang chiếm giữ ở Biển Đông. Họ không muốn các quốc gia tranh chấp khác làm những gì giống như họ đã làmNhà nghiên cứu Raymond Powell thuộc Đại học Stanford của Mỹ đánh giá: “Các quốc gia ASEAN có biển muốn có một COC hiệu lực mạnh để bảo vệ các quyền chủ quyền của họ theo UNCLOS 1982. Còn Trung Quốc chỉ muốn một COC yếu để làm xói mòn các quyền đó. Hai mục tiêu này chắc chắn không thể dung hòa”. Tiếp theo, có một quốc gia khác đóng vai trò rất quan trọng trong việc “kiềm chế” Trung Quốc ở Biển Đông, cho dù không trực tiếp liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở vùng biển này, đó là Mỹ. Vì lý do này, Trung Quốc rất không muốn Mỹ tham gia vào COC, mà muốn sử dụng COC như một công cụ để đẩy Mỹ ra ngoài khu vực. Nhưng nhiều nước, như Philippines chẳng hạn, đã tuyên bố thẳng thừng là không thể gạt Mỹ ra khỏi tiến trình đàm phán COC. Còn rất nhiều khác biệt nữa giữa các bên, chưa kể nội dung của COC cũng là một câu chuyện rất dài. 

Năm 2018, các cuộc đàm phán về COC đã đạt được một bước tiến khi Trung Quốc và ASEAN thông qua được văn bản Dự thảo đàm phán duy nhất về COC, nhưng đó lại là một tập hợp các quan điểm trái ngược nhau về các vấn đề gây tranh cãi, như tính pháp lý, phạm vi áp dụng, về cơ sở pháp lý quốc tế và về cơ chế giải quyết tranh chấp…

Trong quá trình đàm phán COC, trong ASEAN cũng chia thành nhóm, trong đó nhóm có lợi ích trực tiếp liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, gồm Indonesia, Việt Nam, Philippines và Malaysianhững quốc gia có vùng biển bị “đường chín khúc” của Trung Quốc “liếm vào”. Những nước này rất mong muốn sớm có một COC thực chất và hiệu quả, trong khi những nước còn lại, vì lợi ích riêng của mình nên nhìn chung không “thiết tha” lắm.

Đối với Việt Nam, quá trình đàm phán, Việt Nam luôn cho rằng, COC phải khắc phục được những khiếm khuyết của DOC, vì văn kiện này đã không ngăn cản được những hành động sai trái của Trung Quốc, khiến cho căng thẳng trên Biển Đông vẫn xảy ra. COC phải mang tính ràng buộc về pháp lý, nghĩa là nếu một trong các bên vi phạm, thì một trong các bên còn lại, hoặc tất cả các bên còn lại có thể mang sự vi phạm đó ra trước cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết. Một nội dung nữa mà Việt Nam đưa ra, có lẽ khác với một số nước khác, đó là COC phải bao gồm những khu vực tranh chấp khác, trong đó có cả Hoàng Sa vì khu vực này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam. Sở dĩ Việt Nam đưa ra yêu cầu này là do: mặc dù có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, nhưng Indonesia không liên quan trực tiếp đến tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ có vùng biển Bắc Natuna nằm trong “đường chín khúc” của Trung Quốc, còn Brunei, Malaysia thì chỉ có liên quan đến tranh chấp khu vực Trường Sa. Trong khi đó, Trung Quốc muốn đưa ra một COC chỉ dành cho Trường Sa, còn Hoàng Sa thì họ gạt sang một bên, hòng muốn gián tiếp nói rằng, “Hoàng Sa từ lâu đã là chủ quyền của Trung Quốc”. Còn Philippines thì đương nhiên muốn bao gồm cả khu vực Scarborough, nơi đang có tranh chấp giữa họ với Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam đã nhiều lần đề nghị nội dung của COC phải có điều khoản, các bên không được bồi đắp hoặc quân sự hóa các thực thể khác, đồng thời phải vận dụng tinh thần Phán quyết của PCA về Biển Đông năm 2016 vào COC. 

Do có quá nhiều khác biệt về quan điểm như trên, nên trong năm 2023, với tư cách là nước Chủ tịch luân phiên của ASEAN, Indonesia đã cố gắng dàn xếp, thúc đẩy các cuộc đàm phán về COC. Thế nhưng, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Labuan Bajo/Indonesia từ 09 đến 11/05/2023 đã không đạt được một tiến bộ nào về hồ sơ này, ngoài lời cam kết là khối các nước Đông Nam Á sẽ nỗ lực để sớm kết thúc đàm phán về COC. Tại Hội nghị các quan chức cao cấp ASEAN – Trung Quốc về việc thực hiện DOC, được tổ chức ở Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh/Việt Nam ngày 17/05/2023, trưởng đoàn Việt Nam đã kêu gọi các bên “lời nói phải đi đôi với việc làm”, tức là phải thực hiện nghiêm túc mọi điều khoản của DOC. Dư luận cho rằng, tuyên bố này thể hiện sự bức xúc không chỉ của Việt Nam, mà còn của một số nước ASEAN khác về việc các tàu khảo sát, tàu hải cảnh của Trung Quốc liên tục sách nhiễu, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế hoặc quấy phá các hoạt động thăm dò dầu khí hợp pháp của Việt Nam và một số nước khác ở Biển Đông.  

…mới thấy nên chăng, Việt Nam và ASEAN cần có thêm một công cụ khác song song với COC để quản lý tốt hơn các tranh chấp ở Biển Đông

Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 56, cùng các hội nghị liên quan diễn ra ở Jakarta/Indonesia (tháng 7/2023), hai bước tiến quan trọng liên quan đến COC đã đạt được: Thứ nhất, lần đọc thứ hai của Dự thảo duy nhất văn kiện đàm phán COC đã được hoàn thành; thứ hai, một Bộ hướng dẫn thúc đẩy sớm ký kết COC đã được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao với Trung Quốc (10+1). Mặc dù các bước tiến này được Chủ tịch ASEAN năm 2023 là Indonesia, coi là “những thành quả quan trọng”, nhưng không cho biết bất cứ chi tiết nào về lộ trình hoàn tất COC và các nội dung mà các bên đã nhất trí.

Trong khi đó, thông tin từ báo chí cho biết, Bộ hướng dẫn thúc đẩy sớm ký kết COC đã kêu gọi Nhóm làm việc chung ASEAN – Trung Quốc cần thực hiện nghiêm túc DOC và hoàn thành đàm phán COC trong vòng ba năm. Bộ hướng dẫn cũng đề nghị Nhóm làm việc chung cần gặp nhau nhiều hơn và đi vào đàm phán những vấn đề “gai góc” nhất, bao gồm liệu COC có tính ràng buộc về pháp lý không, hay phạm vi địa lý của nó là gì. Vòng đọc thứ hai bao gồm phần mở đầu (đã hoàn thiện năm 2022) và một số tiêu chí, nguyên tắc cơ bản đã được 11 bên đàm phán đưa ra bàn thảo và đồng ý, trong đó có việc COC phải “phù hợp luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982”. Trước đó, các cuộc đàm phán của ASEAN và Trung Quốc chỉ mới có tiêu chí COC phải “hiệu lực, thực chất”. Sự khác biệt chính giữa vòng đọc thứ hai và vòng đọc đầu tiên (tháng 7/2019) là hai bên đã đạt được thống nhất về câu chữ một vài đoạn trong số hàng chục đoạn trong dự thảo COC. Tuy nhiên, theo học giả Ian Storey – Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Chính phủ Singapore, những nội dung này chưa tạo ra thay đổi đáng kể nào đối với tiến trình đàm phán COC, bởi vì: 1/ Phần “gai góc” nhất là phạm vi địa lý của COC và các hành vi bị cấm, các nhà đàm phán vẫn chưa đụng đến. 2/ Trung Quốc được cho là sẽ không từ bỏ cơ hội đàm phán với ASEAN để đưa vào COC những nội dung có lợi cho mình nhằm thúc đẩy yêu sách “đường chín khúc” (nay là 10 khúc) vô lý. Chưa hết, ngoài “đường mười khúc”, nhiều nguồn tin còn tiết lộ rằng, Trung Quốc còn đưa ra một số yêu cầu trong hai vòng đọc COC vừa qua, đó là các nước ven Biển Đông phải ngừng hợp tác với các công ty năng lượng đến từ các nước ở ngoài khu vực tại vùng biển “tranh chấp”. ASEAN chắc chắn sẽ phản đối, nhất là các nước ven Biển Đông. Song, thật khó để hình dung Bắc Kinh sẽ từ bỏ yêu cầu này trong hoàn cảnh nào. 3/ Về vấn đề có nên đưa vào COC danh sách các hoạt động bị cấm, như cải tạo các thực thể, các hoạt động tại “vùng xám” và quân sự hóa các thực thể nhân tạo hay không? Đương nhiên, một số nước Đông Nam Á rất muốn  COC có một danh sách như vậy, nhưng Trung Quốc sẽ không muốn bởi như thế thì sẽ làm cho Bắc Kinh mất đi các công cụ thúc đẩy yêu sách “chủ quyền” phi lý trên Biển Đông.

Do quá trình đàm phán COC bị kéo dài và nhiều lần lỡ hẹn, hơn nữa từ những thông tin trên, có thể hiểu rằng việc thông qua Bộ hướng dẫn và lần đọc thứ hai chủ yếu vẫn là thỏa thuận giữa các bên liên quan về mặt quy trình hơn là một tiến bộ về mặt nội dung trong đàm phán. Vì thế gần đây, đã có một số học giả đề xuất: song song với tiến trình đàm phán COC, các quốc gia Đông Nam Á có thể xem xét, thúc đẩy ký kết một công cụ pháp lý khác, mở rộng hơn, nhằm quản lý toàn bộ các hoạt động trên biển của tất cả các bên liên quan, trong tất cả các vùng biển của khu vực Đông Nam Á. Tên gọi của công cụ này là “Bộ Quy tắc ứng xử cho các hoạt động trên biển ở Đông Nam Á”. Theo đó:

1/ Về phạm vi, Bộ quy tắc này không chỉ bó hẹp ở Biển Đông, mà mở rộng hơn ra các vùng biển khác trong khu vực. Bởi vì, cái mà đàm phán COC giữa các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc hướng đến là nhằm đạt được một môi trường hòa bình, thân thiện và hòa hợp ở Biển Đông. Tuy nhiên, Biển Đông không phải là vùng biển duy nhất ở Đông Nam Á và Trung Quốc hiện giờ hoạt động không chỉ ở Biển Đông, mà còn mở rộng ra các vùng biển khác ở Đông Nam Á và thế giới. Bên cạnh đó, còn có nhiều nước khác ngoài khu vực nữa. Vì thế, nếu các quốc gia Đông Nam Á muốn duy trì hòa bình, ổn định, thân thiện và hòa hợp một cách toàn diện trên toàn bộ phạm vi các vùng biển của Đông Nam Á, thì có thể xem xét thúc đẩy xây dựng một văn kiện pháp lý áp dụng cho toàn bộ các vùng nước xung quanh khu vực và mở rộng hơn cho các quốc gia có nhu cầu sử dụng các vùng nước này cùng tham gia. Như vậy, phạm vi địa lý của “Bộ Quy tắc ứng xử cho các hoạt động trên biển ở Đông Nam Á” sẽ bao gồm toàn bộ các vùng biển thuộc quyền tài phán của các quốc gia Đông Nam Á, tức là không chỉ có Biển Đông, mà còn có cả Biển Philippine, Biển Sulu-Celebes, Biển Bandar, Biển Arafura, Biển Timor, Eo biển Malacca và Singapore và Biển Adaman. Thành viên tham gia “Bộ Quy tắc ứng xử cho các hoạt động trên biển ở Đông Nam Á” không chỉ có các quốc gia Đông Nam Á, mà còn có cả các quốc gia hiện đang hoạt động trong các vùng biển này, như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Vương quốc Anh, Liên minh châu Âu, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia có kế hoạch hoạt động ở đó. 

2/ Về nội dung, nhiều vấn đề đã được đưa vào trong quá trình đàm phán COC sẽ được tái khẳng định trong “Bộ Quy tắc ứng xử cho các hoạt động trên biển ở Đông Nam Á”, như: Cam kết tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS 1982, Hiệp định Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC); năm nguyên tắc chung sống hòa bình và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế khác được chấp nhận rộng rãi để quản lý quan hệ giữa các quốc gia với nhau; tôn trọng và cam kết với tự do hàng hải và tự do hàng không; cam kết giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế… Đây là những nội dung có giá trị phổ quát nên có thể được áp dụng cho tất cả các vùng biển, dù có tranh chấp hay không và cho tất cả các quốc gia. Một nội dung khác cần phải có trong Bộ Quy tắc này là một cơ chế có tính pháp lý cao nhằm đảm bảo sự tôn trọng của các nước đối với các điều khoản trong Bộ quy tắc.

3/ Về phương thức đàm phán và sự tham gia của các nước ngoài khu vực. “Bộ Quy tắc ứng xử cho các hoạt động trên biển ở Đông Nam Á” sẽ không thay thế COC, mà nó là một công cụ độc lập và song song với COC. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm từ việc đàm phán COC bị kéo dài quá lâu, các quốc gia Đông Nam Á không nên sử dụng phương thức đàm phán COC trong đàm phán văn kiện pháp lý mới này. Thay vào đó, nên sử dụng theo cách thông qua TAC năm 1967. Vào thời điểm đó, các quốc gia thành viên ASEAN đã đàm phán và ký kết Hiệp định này với nhau, sau đó mới mở rộng cho các quốc gia khác ngoài Đông Nam Á tham gia. Đến nay, TAC đã có 51 quốc gia thành viên. Bên cạnh đó, ký kết TAC là điều kiện tiên quyết để một quốc gia có thể trở thành đối tác đối thoại của ASEAN. Theo tinh thần đó, “Bộ Quy tắc ứng xử cho các hoạt động trên biển ở Đông Nam Á” cần phải được đàm phán trước hết là giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Một khi tất cả các thành viên ASEAN đã ký kết và Bộ Quy tắc chính thức có hiệu lực, thì lúc đó văn kiện này sẽ được mở rộng cho tất cả các quốc gia ngoài Đông Nam Á tham gia. Và những nước có tư cách thành viên của Bộ Quy tắc này mới được phép tham gia vào các diễn đàn liên quan đến các vấn đề trên biển của ASEAN, như Diễn đàn hàng hải ASEAN mở rộng chẳng hạn. Cách làm này có thể giúp các quốc gia Đông Nam Á ưu tiên các lợi ích của mình trước mà không phải tiến hành các cuộc đàm phán kéo dài lê thê đối với các nội dung phức tạp như trong văn kiện đàm phán COC.         Xây dựng một “Bộ Quy tắc ứng xử cho các hoạt động trên biển ở Đông Nam Á” là một đề xuất mới mẻ, nó xuất phát từ tình hình thực tế ở Biển Đông và quá trình đàm phán COC trong những năm qua. Nhưng có thể thấy rằng, “Bộ Quy tắc trên sẽ không chỉ giúp các quốc gia Đông Nam Á có thêm một công cụ để duy trì hòa bình và an ninh một cách toàn diện trong toàn bộ các vùng biển ở Đông Nam Á, mà còn giúp duy trì và thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN, bảo đảm tính cởi mở, minh bạch, bao trùm dựa trên nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bảo đảm quản trị tốt, tôn trọng chủ quyền của ASEAN trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương như đã được nêu trong “Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” năm 2019. Đề xuất này đưa ra trong bối cảnh đàm phán COC đã kéo dài nhiều năm, quá khó khăn, thậm chí có lúc còn rất căng thẳng và nhiều tranh cãi, song vẫn chưa có hy vọng gì mang tính đột phá. Những mong từ ý tưởng này, có thể nảy sinh ra cho các bên một hướng đi mới trong đàm phán COC

         Hà Thạch

]]>
Vấn đề Biển Đông tại hội nghị ngoại trưởng ASEAN 57 https://biendong.net/2024/09/01/van-de-bien-dong-tai-hoi-nghi-ngoai-truong-asean-57/ Sun, 01 Sep 2024 01:33:00 +0000 https://biendong.net/?p=136832 Trong bối cảnh, căng thẳng Biển Đông leo thang vì các nỗ lực ngày càng gia tăng của Bắc Kinh nhằm thúc đẩy yêu sách chủ quyền, các cuộ họp trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần 57 (AMM-57) diễn ra từ 25-27/7/2024 tại Viên Chăn, Lào. Đúng như nhiều chuyên gia dự đoán Biển Đông trở thành một nội dung quan trọng được thảo luận tại các cuộc họp liên quan.

Đánh giá về AMM lầ thứ 57, các nhà quan sát nhận xét có những chia rẽ trong ASEAN về cách giải quyết các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông được thể hiện qua việc các bên thảo luận về nội dung vấn đề Biển Đông đưa và Tuyên bố chung. Trong các cuộc họp hôm 25/7, Philippines đã thúc đẩy việc đưa vụ va chạm giưa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu công vụ Philippines hồi giữa tháng 6 vào Thông cáo chung sẽ được ban hành vào cuối các cuộc họp. Campuchia và Lào, hai nước gần gũi với Trung Quốc, phản đối cách diễn đạt này.

Một điểm sáng trong các cuộc thảo luận của ASEAN là cả 10 thành viên ASEAN đều có chung nhận thức quan trọng rằng không để bị lôi kéo vào bất cứ bên nào khi mà cả Trung Quốc và Mỹ đều tìm cách mở rộng ảnh hưởng trong khu vực. Sau các cuộc họp, Bộ trưởng Ngoại giao Indonesis Retno Marsudi cho biết các nước ASEAN nhấn mạnh rằng không nên là đại diện cho bất kỳ cường quốc nào, nếu không “sẽ rất khó để ASEAN trở thành điểm tựa cho sự ổn định và hòa bình trong khu vực”. Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi nhấn mạnh: “Một bước đi sai lầm ở Biển Đông sẽ biến một đám cháy nhỏ thành một cơn bão lửa khủng khiếp”.

Trong cuộc gặp Trung Quốc – ASEAN hôm 26/7/2024, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị không đề cập đến Biển Đông, thay vào đó nhấn mạnh đến quan hệ kinh tế và thương mại của Trung Quốc với ASEAN. Giới quan sát nhận định mục tiêu của ông Vương Nghị là gạt bỏ nội dung Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự và nhấn mạnh về hợp tác kinh tế nhằm lôi kéo các nước ASEAN. Tuy nhiên, phát biểu tại cuộc họp, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi kêu gọi Trung Quốc “tham gia duy trì hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực”. Bà Marsudi nhấn mạnh: “Lập trường của Indonesia là nhất quán, cụ thể là mọi khiếu nại phải được giải quyết một cách hòa bình thông qua đối thoại trực tiếp giữa các bên liên quan”.

Tại cuộc họp, các Ngoại trưởng ASEAN nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thành công việc đang diễn ra với Trung Quốc về việc chuẩn bị một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), vì các vấn đề ở đó vẫn tiếp tục là “vướng mắc” trong quan hệ ASEAN với Trung Quốc. Indonesia hy vọng Bộ Quy tắc này có thể sẵn sàng ký kết vào năm 2026. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng khó có thể đạt được một văn bản mang tính ràng buộc hoặc có hiệu lực thi hành bởi một số quốc gia ASEAN khẳng định nó phải dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Trong bối cảnh có những rạn nứt trong nội bộ của ASEAN liên quan tới vấn đề Biển Đông do sự lôi kéo, chi phối của Trung Quốc, Tuyên bố chung của các Ngoại trưởng ASEAN ra hôm 27/7 đã không trực tiếp nói về căng thẳng xung quanh Bãi Cỏ Mây, mà chỉ nhắc một cách chung chung đến việc Bộ trưởng Ngoại giao một số nước ‘‘bày tỏ quan ngại về các hoạt động cải tạo đất, một số hoạt động, sự cố nghiêm trọng trong khu vực, bao gồm các hành động gây nguy hiểm cho an toàn của người, gây thiệt hại cho môi trường biển, làm xói mòn lòng tin, có thể làm gia tăng căng thẳng, gây tác hại đến hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực”. Ngoại trưởng các nước ASEAN cũng hoan nghênh các biện pháp thực tế chưa được nêu cụ thể nhằm làm giảm căng thẳng ở Biển Đông và ngăn ngừa tai nạn và những tính toán sai lầm, đồng thời kêu gọi tất cả các bên liên quan dừng các hành động có thể làm phức tạp và leo thang tranh chấp.

Giới phân tích nhận định dù sao cuối cùng AMM 57 cũng ra được Tuyên bố chung, trong đó đề cập tới vấn đề Biển Đông với nội dung mà các bên có thể chấp nhận được. Cùng là nước có quan hệ mật thiết với Trung Quốc, song xem ra Lào chịu sự chi phối của Bắc Kinh ít hơn so với Cămpuchia nên đã không để xảy ra tình trạng như cách đây 12 năm khi AMM 45 tại Phnom Pênh không ra được Tuyên bố chung do sự bất đồng trên vấn đề Biển Đông. Một số chuyên gia cho rằng việc không để xảy ra tình trạng năm 2012 một phân còn do Lào là nước có quan hệ đặc biệt với Việt Nam-nước có các lợi ích quan trọng ở Biển Đông và dù sao Lào cũng không thể bỏ qua các quan tâm và lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông.

Trong khi đó, Nga và Trung Quốc dường như có cùng quan điểm trên các vấn đề khu vực, kể cả Biển Đông. Ngày 25/7, tại cuộc gặp song phương Nga –T rung bên lề hội nghị Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và Ngoại trưởng Nga ông Lavrov đã nhất trí hợp tác để “chống lại mọi nỗ lực can thiệp vào các vấn đề Đông Nam Á của các thế lực ngoài khu vực (hàm ý Mỹ và các đồng minh của Mỹ)”. Giới chuyên gia cho rằng quan điểm này có sự khác biệt với quan điểm của hầu hết các nước ASEAN, nhất là các nước ven Biển Đông là hoan nghênh sự hiện diện của Mỹ và các nước ngoài khu vực và coi đây là nhân tố quan trọng để làm đối trọng với sự hung hăng ngày càng gia tăng của Trung Quốc, duy trì trật tự dựa trên luật pháp quốc tế.

Sau cuộc gặp, ông Lavrov còn cho biết đã thảo luận với ông Vương về việc triển khai “một kiến trúc an ninh mới” ở Âu Á, nhưng không nêu rõ chi tiết. Trong khi đó, ông Vương nói với Tân Hoa Xã rằng Bắc Kinh “sẵn sàng hợp tác với Nga để… hỗ trợ lẫn nhau một cách vững chắc, bảo vệ lợi ích cốt lõi của nhau”. Theo các nhà phân tích, Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của họ. Do vậy, trong trường hợp Mátxcova hợp tác với Bắc Kinh bảo vệ cái gọi là lợi ích cốt lõi của nhau” như ông Vương Nghị nói sẽ là một nguy cơ lớn với các nước ven Biển Đông đang có tranh chấp với Trung Quốc.

Trong khi có những dấu hiệu về sự hợp tác, phối hợp quan điểm giữa Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông thì các nước lớn khác ngoài khu vực như Mỹ, Ấn Độ… tiếp tục thể hiện lập trường thượng tôn pháp luật trên vấn đề Biển Đông. Tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) lần thứ 14, Ngoại trưởng Ấn Độ Jaishankar nhấn mạnh tầm quan trọng của một Bộ Quy tắc COC hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế; khẳng định tầm quan trọng của an toàn và an ninh hàng hải, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

Trong cuộc họp Mỹ-ASEAN hôm 27/7, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken lên án các hành động ‘‘leo thang và bất hợp pháp’’ của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông Antony Blinken nhấn mạnh mục tiêu ưu tiên của Washington là cổ vũ ‘‘một khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do, rộng mở và thịnh vượng’’, đồng thời kêu gọi các nước Đông Nam Á đoàn kết để cùng hóa giải ‘‘các thách thức’’, đặc biệt là các hành động ‘‘leo thang và bất hợp pháp của Trung Quốc chống lại Philippines trong những tháng gần đây’’. Đáng lưu ý là Ngoại trưởng Mỹ nêu đích danh Trung Quốc.

Liên quan tới “thoả thuận tạm thời” giữa Philippines và Trung Quốc về giảm căng thẳng ở khu vực Bãi Cỏ Mây mới đây, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết ông rất vui khi Philippines đã hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế cho các binh sĩ trên Bãi Cỏ Mây ở Biển Đông trong ngày 27/7 mà không bị cản trở, hoan nghênh giải pháp ngoại giao mà Philippines đã đạt được với Trung Quốc về vấn đề này đồng thời cho rằng điều quan trọng là việc thực thi thoả thuận đã đạt được để giảm căng thẳng ở Biển Đông. Ông Blinken bày tỏ: “Chúng tôi hài lòng ghi nhận việc tiếp tế thành công ngày hôm nay cho Bãi cạn Second Thomas (Bãi Cỏ Mây)”; “chúng tôi hoan nghênh điều đó và hi vọng và mong đợi thấy nó sẽ tiếp tục tiến về phía trước”; đồng thời nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế ở Biển Đông, nơi lượng thương mại hơn 3.000 tỷ USD đi qua mỗi năm. Trước đó, Tổng thư ký ASEAN Kao Kim Hourn bày tỏ hy vọng “thỏa thuận tạm thời” mới đây giữa Philippines và Trung Quốc có thể giúp hạ nhiệt căng thẳng.

Bên lề các cuộc họp trong khuôn khổ Hội nghị AMM 57, chiều 27/7 Ngoại trưởng Mỹ và Trung Quốc đã có một buổi làm việc riêng trong vòng 1 giờ 20 phút. Theo thông báo của Washington, cuộc trao đổi “cởi mở và mang tính xây dựng”. Ông Blinken bày tỏ “quan ngại trước những hành vi khiêu khích của Bắc Kinh tại eo biển Đài Loan”, đặc biệt là nhân lễ tuyên thệ nhậm chức của tân Tổng thống Lại Thanh Đức hồi tháng 5/2024. 

Tại Diễn đàn Đông Á (EAS), nơi có sự hiện diện của Ngoại trưởng các cường quốc bao gồm Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Úc, Nhật Bản và EU, Ngoại trưởng Blinken nêu đích danh Trung Quốc về các hành động hung hăng ở Biển Đông nhắm vào Philippines, một đồng minh Hiệp ước phòng thủ của Mỹ, đồng thời khẳng định cam kết của Mỹ đối với vai trò trung tâm của ASEAN và ủng hộ Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Sau khi dự hội nghị ở Lào, Ngoại trưởng Mỹ đã tới Hà Nội, Tokyo và Philippines, qua đó khẳng định mạnh mẽ việc Washington coi trọng khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Đáng chú ý, tại Tokyo, Ngoại trưởng Blinken đã có cuộc họp với Ngoại trưởng Nhật Bản, Úc, Ấn Độ trong Nhóm “Bộ tứ”. Ngày 29/7/2024, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Yoko Kamikawa chủ trì cuộc họp với ba người đồng cấp của Mỹ, Australia và Ấn Độ là Antony Blinken, Penny Wong và Subrahmanyam Jaishankar.

Tại cuộc họp, cả bốn vị Bộ trưởng Ngoại giao nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế đối với việc duy trì trật tự hàng hải, trong đó có khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông; đồng thời, tái khẳng định sự phản đối mạnh mẽ đối với bất kỳ nỗ lực đơn phương nào tìm cách thay đổi hiện trạng tại hai khu vực biển đó bằng vũ lực hoặc gây sức ép. Bốn vị Ngoại trưởng tiếp tục bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng về hoạt động quân sự hóa các thực thể tranh chấp và động thái cưỡng ép, đe dọa tại Biển Đông”. Qua những diễn biến xung quanh Hội nghị AMM 57 tại Viên Chăn cũng như cuộc họp của Ngoại trưởng Nhóm “Bộ tứ” tại Tokyo có thể thấy cuộc canh tranh địa chiến lược ở Biển Đông và khu vực không chỉ còn nằm trong khuôn khổ Mỹ-Trung mà đã được mở rộng ra giữa một bên là Mỹ và các đồng minh đối tác với bên kia là Trung Quốc và Nga. Các chuyên gia cho rằng việc Bắc Kinh và Mátxcova cam kết cùng nhau ngăn chặn ảnh hưởng của các thế lực bên ngoài đối với khu vực Đông Nam Á sẽ chỉ khiến tình hình Biển Đông nóng thêm, đây là điều các nước trong khu vực không mong muốn.

]]>
Hàn Quốc chuyển từ “thận trọng” sang ủng hộ mạnh mẽ Philippines trên vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2024/06/01/han-quoc-chuyen-tu-than-trong-sang-ung-ho-manh-me-philippines-tren-van-de-bien-dong/ Sat, 01 Jun 2024 02:24:00 +0000 https://biendong.net/?p=130661 Trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng các hoạt động hung hăng nguy hiểm nhằm vào tàu thuyền của Philippines ở Biển Đông như phun vòi rồng, chủ động đâm va, thậm chí gây thương tích cho thủy thủ trên tàu Philippines, Mỹ và các đồng minh của Mỹ như Anh, Pháp, Đức, Úc, Nhật…liên tiêp lên án mạnh mẽ hành vi của Bắc Kinh. Là một đồng minh quan trọng của Mỹ ở khu vực, Hàn Quốc cũng không thể đứng ngoài cuộc. Những động thái gần đây của chính quyền Seoul cho thấy Hàn Quốc đã đi theo “tiếng gọi” của đồng minh Mỹ can dự sâu hơn vào Biển Đông.

Ngày 7/3/2024, Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Lim Soo-suk lên tiếng chỉ trích việc làm của Bắc Kinh, bày tỏ sự ủng hộ đối với Manila khi phát biểu rằng Seoul “quan ngại sâu sắc về tình hình nguy hiểm” và “việc sử dụng vòi rồng đối với các tàu Philippines ở Biển Đông”. Ông Lim Soo-suk nói: “Chúng tôi ủng hộ việc duy trì hòa bình, ổn định và trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông, cũng như tự do hàng hải và hàng không dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó bao gồm cả Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS)”. Ngoài ra, Đại sứ quán Hàn Quốc tại thủ đô Manila cũng đã bày tỏ quan ngại trên tài khoản mạng xã hội của cơ quan này.

Những bình luận nói trên của phía Hàn Quốc được đưa ra sau một cuộc đụng độ khác giữa Trung Quốc và Philippines vào hôm 5/3 gần Bãi Cỏ Mây, một điểm xung đột thường xuyên giữa Trung Quốc và Philippines trong năm qua. Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã cáo buộc tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng, đâm và làm hư hại một trong các tàu của Philippines, đồng thời làm bị thương 4 thuyền viên Philippines bằng vòi rồng. Các tàu của Philippines đang trên đường đến Bãi Cỏ Mây, tiếp tế cho binh sĩ đóng trên một con tàu bị mắc cạn trên bãi đá này vào năm 1999. Đây được xem là lần đầu tiên Hàn Quốc lên tiếng về một vụ việc gây hấn hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, trước đây Hàn Quốc thường giữ im lặng.

Ngay lập tức, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo Seoul “hành xử thận trọng và có thái độ trung lập” trước các tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông. Ngày 12/3/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân tuyên bố  Hàn Quốc không phải là một bên trong tranh chấp Biển Đông nhưng những năm gần đây đã “bóng gió hoặc đổ lỗi rõ ràng cho Trung Quốc” về vấn đề này nhiều lần. Ông Uông Văn Bân nói: “Hàn Quốc đã thay đổi lập trường thận trọng và trung lập mà họ đã duy trì trong nhiều năm qua. Trung Quốc luôn đưa ra những phản hồi kịp thời và bày tỏ sự phản đối trước những lời chỉ trích của phía Hàn Quốc. Tôi một lần nữa hối thúc Hàn Quốc hãy cảnh giác, tránh đi theo xu hướng thổi phồng vấn đề và tránh tạo thêm gánh nặng không cần thiết cho quan hệ Trung-Hàn”.

Sau đó chưa đầy 3 tuần, khi mà tàu hải cảnh Trung Quốc một lần nữa phun vòi rồng vào các tàu tiếp tế của phía Philippines tại khu vực Bãi Cỏ Mây hôm 23/3, Philippines đã gửi công hàm phản đối Trung Quốc và cho biết con tàu của họ bị hư hỏng và một số thủy thủ bị thương. Trong khi đó, Bắc Kinh cảnh báo Manila phải hành xử thận trọng và tìm kiếm đối thoại, đồng thời nói rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines đang ở “ngã ba đường”.

Ngày 26/3, Bộ Ngoại giao Hàn Quốc tiếp tục lên tiếng bày tỏ “mối quan ngại sâu sắc” về việc Trung Quốc nhiều lần sử dụng vòi rồng tấn công tàu Philippines, gây ra căng thẳng ở Biển Đông cũng như làm suy yếu trật tự hàng hải. Trong một cuộc họp báo, ông Lim Soo-suk – Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hàn Quốc – nhấn mạnh: “Chúng tôi thực sự quan ngại về việc sử dụng vòi rồng gần đây và lặp đi lặp lại ở Biển Đông”. “Những hành động này làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông, tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng được tất cả các nước sử dụng, trong đó có Hàn Quốc, và làm suy yếu các nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và trật tự hàng hải dựa trên luật lệ”. Ông Lim Soo-suk cũng nói rằng quyền tự do hàng hải và hàng không phải được tất cả các nước tôn trọng dựa trên luật pháp quốc tế.

Chỉ trong vòng chưa đến 20 ngày, chính quyền Seoul đã 2 lần lên tiếng phản đối những hành động hung hăng ở Biển Đông nhằm vào Philippines. Như vậy rõ ràng lời cảnh cáo của Bắc Kinh nhằm vào Seoul hôm 12/3 đã không có tác dụng (Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Hàn Quốc không can thiệp vào vấn đề Biển Đông). Giới quan sát nhận định điều này thể hiện rõ sự thay đổi của Hàn Quốc trên vấn đề Biển Đông từ chỗ thận trọng, hầu như không bày tỏ ý kiến đến việc chỉ trích mạnh mẽ hành vi gây hấn ở Biển Đông. Đây là tín hiệu tích cực không chỉ đối với Philippines mà còn có lợi cho các nước ven Biển Đông khác trong cuộc đối đầu với sự hung hăng và bành trướng của Bắc Kinh.

Trong những năm gần đây, với tư cách đồng minh của Mỹ và đối tác quan trong của các nước ASEAN, Nhật Bản và Úc thường xuyên lên tiếng ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện do Philippines khởi xướng kiện Trung Quốc; đồng thời mạnh mẽ lên chỉ trích các hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông. Thậm chí, cả hai nước nước này đã làm theo sự dẫn dắt của Mỹ gửi công hàm lên Liên hợp quốc trình bày quan điểm pháp lý, bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông (Úc gửi công hàm lên Liên hợp quốc tháng 7/2020; Nhật Bản gửi lên Liên hợp quốc tháng 01/2021). Tuy nhiên, cùng là đồng minh của Mỹ trong khu vực, nhưng Hàn Quốc giữ thái độ thận trọng, im lặng trên hồ sơ Biển Đông trong một thời gian dài vì e ngại việc bày tỏ quan điểm công khai sẽ ảnh hưởng đến quan hệ với Trung Quốc.

Kể từ khi ông Yoon Suk Yeol lên làm Tổng thống Hàn Quốc hồi tháng 5/2022, chính quyền Seoul thi hành chính sách cứng rắn hơn trong quan hệ với Bắc Kinh, thắt chặt quan hệ đồng minh với Mỹ, tăng cường quan hệ với Nhật Bản, kể cả vệ thúc đẩy quan hệ 3 bên Mỹ-Nhật-Hàn. Seoul cùng với Nhật Bản, Mỹ có nhận thức chung trên nhiều vấn đề: (i) cả 3 nước đều lo ngại về sự hiếu chiến của Triều Tiên và sự hung hăng của Trung Quốc; (ii) cả ba nước này đều phản đối bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng ở vùng biển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm thông qua các yêu sách hàng hải bất hợp pháp, quân sự hóa các thực thể được cải tạo và các biện pháp cưỡng chế; (iii) ba nước đều ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, cấu trúc khu vực do ASEAN dẫn dắt, bao gồm Hội nghị cấp cao Đông Á và Tầm nhìn của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; (iv) các nước này đều mong muốn củng cố trật tự kinh tế dựa trên luật lệ để tăng cường an ninh và thịnh vượng kinh tế trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và thế giới.

Giới quan sát nhận định cùng với những nỗ lực mở rộng liên minh an ninh với Washington, chính quyền của Tổng thống Yoon Suk Yeol mong muốn đóng góp “tích cực” trong việc xây dựng khả năng răn đe ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Cùng với đó là Seoul nỗ lực thúc đẩy quan hệ với ASEAN. Tháng 6/2023, trong buổi làm việc với Tổng thư ký ASEAN Kao Kim Hourn đang ở thăm Hàn Quốc, Ngoại trưởng Hàn Quốc Park Jin đã đề xuất nâng cấp mối quan hệ hai ASEAN-Hàn Quốc lên thành “đối tác chiến lược toàn diện” trong năm 2024 nhân kỷ niệm 35 năm thiết lập mối quan hệ đối tác đối thoại giữa Hàn Quốc và ASEAN.

Có thể thấy những bước phát triển mới trong quan hệ giữa Hàn Quốc với Mỹ, Nhật Bản và sự tăng cường quan hệ với ASEAN là lý do khiến Seoul thay đổi, chuyển từ sự “thận trọng” sang một thái độ rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn trên các vấn đề an ninh ở Biển Đông hay Eo biển Đài Loan. Và kết quả là chính quyền Tổng thống Yoon Suk Yeol của Hàn Quốc đã lên tiếng công khai về căng thẳng ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan; phản đối các nỗ lực thay đổi hiện trạng bằng vũ lực.

Đáng chú ý, trong thời gian dự Hội nghị cấp cao ASEAN tại Indonesia, phát biểu tại Hội nghị cấp cao Đông Á hôm 07/9/2023, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol nhấn mạnh bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực ở Biển Đông là không thể dung thứ được, kêu gọi một trật tự hàng hải dựa trên luật lệ. Đây là lần đầu tiên nguyên thủ Hàn Quốc thể hiện quan điểm mạnh mẽ nhất liên quan tới vấn đề Biển Đông. Quan điểm này của Hàn Quốc tiếp tục được thể hiện trong phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hàn Quốc hôm 07/3 và 26/3 như đã nêu ở trên.

Giới phân tích nhận định sự chuyển biến mạnh mẽ trong quan điểm của Seoul về vấn đề Biển Đông là do sự thúc giục từ phía Washington sau khi nguyên thủ 3 nước Mỹ-Nhật-Hàn tiến hành cuộc họp thượng đỉnh tại Trại David hôm 18/8/2024. Những động thái mới này không chỉ cho thấy Hàn Quốc sẽ can dự sâu hơn vào Biển Đông trong thời gian tới mà còn là dấu hiệu về khả năng Hàn Quốc sẽ cùng với Mỹ, Nhật Bản tăng cường sự phối hợp trên các vấn đề liên quan ở Biển Đông trong khuôn khổ hợp tác chiến lược 3 bên Mỹ-Nhật-Hàn. Điều này là có lợi cho các nước ven Biển Đông trong việc chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh, thể hiện trên 2 phương diện:

Thứ nhất, Hàn Quốc là một đối tác quan trọng của các nước ASEAN cả về kinh tế lẫn quốc phòng, nhất là các nước ven Biển Đông. Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, nước đang có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc ở Biển Đông. Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông không ngừng leo thang, Hàn Quốc đang trở thành một nhà cung cấp vũ khí mới cho các nước Đông Nam Á do vũ khí được sản xuất ở Hàn Quốc vừa hiện đại, vừa rẻ hơn so với các thiết bị khác của phương Tây, mặt khác Seoul sẵn sàng chuyển giao công nghệ để hỗ trợ sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng cho các nước ở khu vực. Hiện Philippines và Indonesia trở thành những nước mua vũ khí hàng đầu từ Hàn Quốc, chiếm lần lượt 16% và 14% doanh số bán vũ khí của Hàn Quốc. Năm 2023, Bộ Quốc phòng Malaysia đã ký thỏa thuận trị giá 2,28 tỷ USD mua 18 chiến đấu cơ hạng nhẹ FA-50 từ Korea Aerospace Industries (KAI). Đây là điều thuận lợi để Hàn Quốc can dự sâu hơn vào các vấn đề an ninh ở Biển Đông.

Thứ hai, Hàn Quốc luôn đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong các chính sách của mình. Tháng 10/2023, phát biểu về chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Ngoại trưởng Hàn Quốc Park Jin (ông là một nhà lập pháp kỳ cựu, từng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quốc hội về Đối ngoại và Thống nhất) cho rằng hành trình hướng tới tự do, hòa bình và thịnh vượng của Hàn Quốc sẽ không thể thực hiện được nếu không có trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Ông Park nhấn mạnh chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được công bố ngày 28/12/2022 nhằm hiện thực hóa tầm nhìn đưa Hàn Quốc trở thành “quốc gia quan trọng toàn cầu”, một quốc gia quan tâm tới các lợi ích của chính mình cũng như toàn cầu, đồng thời góp phần duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Duy trì nguyên trạng và thúc đẩy một trật tự hàng hải dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông cũng là quan điểm được Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol khẳng định tại Hội nghị cấp cao Đông Á tháng 9/2023 và được thể hiện rõ trong 2 phát biểu vừa rồi của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hàn Quốc. Đây cũng chính là quan điểm của các nước ven Biển Đông và ASEAN. Ngoài ra, một số chuyên gia còn cho rằng sự chuyển biến quan điểm của Hàn Quốc còn mở ra khả năng có sự phối hợp giữa Hàn Quốc với các đồng minh khác của Mỹ như Úc, Nhật Bản, Philippines trên vấn đề Biển Đông, kể cả việc tuần tra chung ở Biển Đông. Điều này rõ ràng có lợi cho các nước ven Biển Đông trong việc ứng phó với các thách thức từ Bắc Kinh.

]]>
Thấy gì qua cuộc diễn tập hàng hải chung đầu tiên trên Biển Đông giữa ASEAN – Ấn Độ https://biendong.net/2023/05/15/thay-gi-qua-cuoc-dien-tap-hang-hai-chung-dau-tien-tren-bien-dong-giua-asean-an-do/ Mon, 15 May 2023 02:53:00 +0000 https://biendong.net/?p=109893 Trong bối cảnh môi trường an ninh đang có những thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ hiện nay, an ninh hàng hải đối với Ấn Độ có tầm quan trọng lớn hơn bao giờ hết. Ấn Độ không chỉ là “nhà cung cấp mạng lưới an ninh” cho Ấn Độ Dương, mà còn có lợi ích ở toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương do nhu cầu tăng trưởng thương mại và kinh tế ngày càng tăng của nước này.

Biển Đông chiếm vị trí trung tâm đối với thương mại của Ấn Độ với khoảng 55% khối lượng thương mại của nước này đi qua khu vực. Do vậy, một trọng tâm trong chiến lược Hải quân của Ấn Độ là bảo vệ tuyến đường hàng hải qua Biển Đông.

Từ ngày 2 – 8/5, ASEAN và Ấn Độ đã lần đầu tiên tổ chức Diễn tập hàng hải chung trên Biển Đông, tham dự cuộc diễn tập có 9 tàu, 6 máy bay và hơn 1.800 binh sĩ của các nước thành viên ASEAN và Ấn Độ. Cuộc diễn tập do Hải quân Ấn Độ và Singapore đồng chủ trì. Phía Hải quân Ấn Độ cử hai tàu chiến của Hạm đội phía Đông gồm INS Delhi – tàu khu trục tên lửa dẫn đường nội địa đầu tiên của Ấn Độ, và INS Satpura – tàu khu trục tên lửa tàng hình nội địa, tham gia diễn tập; hai con tàu này được trang bị vũ khí và hệ thống cảm biến tối tân. Chuẩn đô đốc Gurcharan Singh, sĩ quan chỉ huy Hạm đội phía Đông trực tiếp tham dự diễn tập. Hải quân Singapore cử tàu khu trục RSS Supreme lớp Formidable tham dự. Hải quân Việt Nam cử tàu hộ vệ tên lửa Trần Hưng Đạo HQ-15 tham gia cuộc diễn tập. Hải quân Philippines đã cử tàu khu trục tên lửa BRP Antonio Luna (FF-151) cùng 140 sĩ quan và thủy thủ đoàn tham gia cuộc tập trận hàng hải. Ngoài ra, tham gia cuộc tập trận còn có tàu và chiến đấu cơ của các nước Thái Lan, Indonesia, Brunei.

Cuộc diễn tập chia ra làm 2 giai đoạn trên bờ và trên biển. Trong giai đoạn đầu từ ngày 2-4/5 diễn ra tại căn cứ hải quân RSS Singapura – Changi của Singapore, các binh sĩ tham gia trao đổi nghiệp vụ trong các hoạt động ghé thăm, đổ bộ, lục soát và bắt giữ, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Giai đoạn trên biển diễn ra từ ngày 7-8/5 tại vùng biển quốc tế dọc theo tuyến đường quá cảnh đến Philippines, nơi mà sau đó các bên tham gia sẽ tham gia diễn tập Hải quân Đa phương ASEAN.

Tàu INS Delhi và INS Satpura cùng với các tàu tham gia sẽ tiến hành nhiều đợt tập trận khác nhau, bao gồm các cuộc tập trận hạ cánh lên boong tàu của máy bay trực thăng, cũng như các bài diễn tập về an ninh hàng hải, thông tin liên lạc và điều động. Là một phần của cuộc diễn tập an ninh hàng hải, các tàu tham gia theo dõi chuyển động của các tàu mô phỏng theo cảnh báo từ các Sĩ quan Liên lạc Quốc tế ASEAN trực thuộc Trung tâm Hợp nhất Thông tin (IFC) của Hải quân Singapore. Hoạt động này được hỗ trợ bởi Hệ thống chia sẻ thông tin thời gian thực (IRIS) của IFC, một hệ thống trên web được thiết kế để hỗ trợ cộng tác an ninh hàng hải nhanh chóng.

Tuyên bố của Bộ Quốc phòng Ấn Độ nêu rõ: “Cuộc tập trận hàng hải đa phương Ấn Độ-ASEAN (AIME) 2023 là cơ hội cho hải quân Ấn Độ và hải quân ASEAN hợp tác chặt chẽ và tiến hành hoạt động phối hợp liên tục trong lĩnh vực hàng hải”. Ngoài việc cùng các nước triển khai diễn tập hàng hải cùng các nước ASEAN, Ấn Độ còn tham gia Triển lãm Quốc phòng Hàng hải Quốc tế (IMDEX-23) và Hội nghị An ninh Hàng hải Quốc tế (IMSC) do Singapore đăng cai. Chuyến thăm của Tư lệnh Hải quân Ấn Độ tới Singapore tham gia cuộc tập trận cũng như tham gia IMDEX-23 và IMSC phản ánh tầm quan trọng mà New Delhi dành cho cuộc tập trận này. Ấn Độ là quốc gia thứ tư tập trận hàng hải với ASEAN sau Mỹ, Nga và Trung Quốc.

Cuộc tập trận hàng hải Ấn Độ-ASEAN gồm 3 mục tiêu: (i) đạt được sự phối hợp ở mức độ cao nhất với các nước ASEAN trong lĩnh vực hàng hải để đối phó với các mối đe dọa phi truyền thống và cho các hoạt động cứu hộ và cứu trợ phối hợp. (ii) xây dựng khả năng phòng thủ bằng cách tăng cường hợp tác triển khai thao tác tác chiến mới. (iii) hỗ trợ các nước ASEAN có được các nền tảng tiên tiến mới nhất mà Ấn Độ đang sản xuất. Điều này nhằm mục đích đa dạng hóa hoạt động nhập khẩu thiết bị quốc phòng của các nước này.

Đáng chú ý, giới quan sát cho biết Bắc Kinh đã sử dụng lực lượng dân quân biển để quấy nhiễu, gây gián đoạn đợt diễn tập trên biển trong 2 ngày 7-8/5. Theo đó, khi chiến hạm và máy bay của các bên tham gia có mặt tại khu vực thuộc Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam, tàu dân quân biển Trung Quốc đã tiến về phía họ; cả hai phía qua mặt nhau nhưng không xảy ra đối đầu. Một tàu nghiên cứu của Trung Quốc cũng tham gia theo đoàn tàu dân quân biển tiến về khu vực diễn tập. Bất chấp sự quấy phá của Trung Quôc cuộc diễn tập hàng hải chung đầu tiên giữa ASEAN  và Ấn Độ đã diễn ra theo kế hoạch. Điều này mang nhiều ý nghĩa đối với an ninh khu vực, bao gồm việc duy trì trật tự trên Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Một là, Cuộc diễn tập này cho phép hải quân các nước thành viên ASEAN và Ấn Độ tăng cường hợp tác, tăng cường hiểu biết và xây dựng lòng tin để giải quyết các thách thức an ninh hàng hải chung trên biển. Giới phân tích đều cho rằng cuộc diễn tập hàng hải đầu tiên giữa Ấn Độ và các nước ASEAN đánh dấu một mốc mới trong hợp tác chiến lược giữa ASEAN – Ấn Độ. Động thái này sẽ dẫn đến sự phát triển đáng kể hợp tác hàng hải của Ấn Độ với các nước ASEAN và đảm bảo hòa bình và an ninh trong khu vực.

Nhà phân tích Don McLain Gill, Giám đốc khu vực Nam và Đông Nam Á thuộc Hiệp hội Nghiên cứu Trung Đông của Philippines nhận định “Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết đoán và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc, cả hai bên (ASEAN và Ấn Độ) đều nhận ra giá trị của các phương pháp hợp tác mũi nhọn để đảm bảo sự ổn định và an ninh của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương chung của họ”; việc tăng cường quan hệ đối tác chiến lược giữa Ấn Độ và Đông Nam Á “sẽ giúp hai bên cùng có lợi trong bối cảnh cấu trúc địa chính trị của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tiếp tục trải qua những thay đổi hỗn loạn”.

Theo ông Don McLain Gill, “những động thái này (cuộc diễn tập chung giữa Ấn Độ – ASEAN) nêu bật cách thức New Delhi thể hiện sự nhận thức của họ về những thách thức mà các nước láng giềng Đông Nam Á phải đối mặt, và rằng họ sẵn sàng đóng vai trò chủ động hơn trong việc giải quyết những thách thức đó”. Ông nói thêm: “Trong quá khứ, Ấn Độ đã tỏ ra miễn cưỡng khi nói rõ về những thách thức địa chính trị ở Biển Đông. Tuy nhiên, kể từ năm 2014, Ấn Độ đã có lập trường cứng rắn hơn chống lại các hành động quyết đoán và chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc trong lãnh thổ hàng hải đang tranh chấp, đe dọa chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia có yêu sách ở Đông Nam Á”. Ông nhấn mạnh rằng “Ấn Độ không chỉ chia sẻ mối quan ngại của các nước Đông Nam Á đối với những thách thức trực tiếp và gián tiếp do một Trung Quốc hung hăng gây ra, mà còn đồng cảm với mong muốn của họ là thoát khỏi nền chính trị khối cứng nhắc và tập trung vào hợp tác dựa trên các mục tiêu và lợi ích chung”.

Trong bối cảnh đối đầu Mỹ-Trung ngày càng sâu sắc, Ấn Độ được coi là một yếu tố quan trọng có thể hỗ trợ các nước ASEAN giữ cân bằng giữa Mỹ-Trung, không phải chọn bên. Ấn Độ có quan hệ tốt với các nước ASEAN ven Biển Đông, năm 2022 Ấn Độ và ASEAN đã nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện; mặt khác Ấn Độ đang phải ứng phó với sự xâm lấn của Trung Quốc trên biên giới đất liền Ấn-Trung và đang phải đối mặt với sự bành trướng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương. Đây là cơ sở để hai bên tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh hàng hải. Cuộc diễn tập chung lần này sẽ tạo tiền đề để hai bên tiếp tục triển khai câc hợp tác trên biển trong tương lai, đóng góp vào hòa bình và ổn định trên Biển Đông và trong khu vực. Cuộc diễn tập hàng hải chung lần đầu tiên giữa Ấn Độ-ASEAN ở Biển Đông gửi tới Bắc Kinh thông điệp rõ ràng về quyết tâm của hai bên trong gìn giữ an ninh an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông, bảo vệ trật tự dựa trên luật pháp ở khu vực.

Hai là, diễn tập chung trên Biển Đông là một nội dung trong chính sách Hướng Đông của Ấn Độ. Giới quan sát nhận định hợp tác an ninh biển sẽ trở thành một trụ cột trong chính sách Hướng Đông của Ấn Độ trong thời gian tới. Kể từ những năm 1990, khi Ấn Độ công bố Chính sách Hướng Đông, khu vực Đông Nam Á đã trở thành trọng tâm ngày càng rõ nét của Ấn Độ. Theo đó, toàn bộ khu vực ASEAN trở nên “có giá trị” đối với sự phát triển thương mại và phát triển của vùng Đông Bắc Ấn Độ. Các dự án kết nối đã được đưa ra để sớm được triển khai. Tiến độ trên tuyến đường thủy Kaladan là một điển hình cho thấy trọng tâm của Ấn Độ hướng về phía Đông, mặc dù tuyến đường này vẫn chưa được hoàn thành. Ấn Độ cũng đang nỗ lực hoàn thành các dự án liên quan đến Hợp tác sông Mekong-sông Hằng.

Việc nhận thức được tầm quan trọng của an ninh hàng hải thúc đẩy Ấn Độ tìm kiếm các đối tác liên quan để thúc đẩy hợp tác ở Đông Nam Á và xây dựng một cấu trúc an ninh mới trong khu vực. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã thúc đẩy điều này trong tất cả các cuộc đối thoại song phương và đa phương. Ấn Độ đã tiếp cận với các nước thành viên ASEAN để phát triển khả năng và năng lực quốc phòng thông qua đào tạo và hỗ trợ hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Trận sóng thần năm 2004 đã cho thấy tính dễ bị tổn thương của các quốc gia Đông Nam Á. Ấn Độ tham gia với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia theo tiêu chí đánh giá của Hội nghị chuyên đề Hải quân Ấn Độ Dương (IONS), bắt đầu năm 2008 và là một trong những cam kết quan trọng để hội nhập Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Sự can dự của Ấn Độ với các quốc gia Nam Thái Bình Dương cũng như với Papua New Guinea và Timor Leste cho thấy tầm nhìn mở rộng trong chính sách “Hành động phía Đông” của Ấn Độ.

Ấn Độ tin rằng các quốc gia Đông Nam Á cần phải có năng lực bảo vệ lợi ích của khối này, do đó tập trung vào hợp tác hàng hải nhằm tăng cường khả năng tương tác và phòng thủ. Ấn Độ ký các thỏa thuận quốc phòng với 9 trong số 10 nước thành viên ASEAN cũng như đang thực hiện các cuộc tập trận song phương với từng nước này. Ấn Độ đều đặn tiến hành các cuộc tập trận SIMBEX với Singapore; thực hiện các cuộc tuần tra phối hợp thường xuyên dọc theo Biển Andaman với Thái Lan và Indonesia. Đây được coi là thông điệp cho thấy mối quan hệ đang phát triển mạnh mẽ giữa ASEAN với Ấn Độ. Với các quốc gia như Việt Nam, Ấn Độ đã có các tương tác quốc phòng thường xuyên ở cấp cao nhất và có các chuyến cập cảng của tàu Ấn Độ tới các nhiều cảng của Việt Nam. Quan hệ quốc phòng giữa Ấn Độ với Lào, Campuchia ngày càng được tăng cường. Ấn Độ luôn đứng về phía các nước ven Biển Đông trong việc đối đầu với Bắc Kinh. Ấn Độ phản đối các hoạt động xâm lấn của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác; phản đối Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo, quân sự hóa và có các hành động cứng rắn đối với các nước ASEAN ở Biển Đông. Ấn Độ ủng hộ việc hoàn thiện Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính pháp lý và phù hợp Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, nhấn mạnh rằng lợi ích của các nước ngoài khu vực phải được bảo vệ. Kể từ khi Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ra phán quyết vụ Philippines kiện Trung Quốc liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông hồi tháng 7/2016,  Ấn Độ thúc đẩy việc thực thi phán quyết này. Lợi ích của Ấn Độ là hòa bình và an ninh của khu vực. Thủ tướng Ấn Độ Modi, trong cuộc họp của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc năm 2021 đã thúc giục giải quyết các tranh chấp về các vấn đề hàng hải thông qua các cơ chế trọng tài quốc tế. Do vậy, cuộc diễn tập hàng hải chung đầu tiên giữa Ấn Độ và ASEAN là một thông điệp khẳng định Ấn Độ luôn đồng hành cùng các nước ASEAN, nhất là các nước ven Biển Đông trong việc bảo vệ tự do, an toàn hàng hải và trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông.

]]>
Những tia hy vọng về đàm phán COC trong năm chủ tịch ASEAN của INDONESIA https://biendong.net/2023/02/05/nhung-tia-hy-vong-ve-dam-phan-coc-trong-nam-chu-tich-asean-cua-indonesia/ Sun, 05 Feb 2023 02:45:00 +0000 https://biendong.net/?p=105027 Bước vào năm 2023, Indonesia là nước chủ nhà của các hội nghị trong khuôn khổ ASEAN. Cộng đồng quốc tế nhất là các nước ASEAN đặt những hy vọng về những tiến triển tích cực trong đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Điều này đặt gánh nặng lên vai Indonesia trong việc “lèo lái” đàm phán về COC. Liệu những kỳ vọng đó có trở thành hiện thực hay không?

Ngày 3/2/2023, Bộ Ngoại giao Indonesia cho biết vòng đàm phán đầu tiên về COC ở Biển Đông trong năm nay sẽ bắt đầu vào tháng 3. Trong đó,  Indonesia với tư cách là Chủ tịch ASEAN sẽ dẫn đầu các nỗ lực “khám phá những cách tiếp cận mới” trong việc “lèo lái” một khu vực ngày càng mất ổn định. Bộ Ngoại giao Indonesia lưu ý rằng rào cản lớn nhất đối với các cuộc đàm phán sắp tới sẽ là giảm thiểu “tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh” vốn chắc chắn sẽ xuất hiện; các cuộc đàm phán sẽ là một phần trong những ưu tiên của Indonesia đối với việc thực thi Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, theo đó tất cả các quốc gia thành viên ASEAN đã cam kết thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), văn kiện được ban hành cách đây 2 thập kỷ.

Phát biểu trong ngày cuối cùng của Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) – Hội nghị mở đầu cho chuỗi sự kiện của ASEAN trong năm 2023, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi cho biết Indonéia đang lên kế hoạch tăng cường đàm phán với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác để hoàn tất COC. Bà Retno nhấn mạnh: “Chúng tôi đã nhất trí thúc đẩy các cuộc gặp với các đối tác để đối thoại hiệu quả và năng suất hơn. Cam kết của các thành viên trong việc khép lại đàm phán COC càng sớm càng tốt là rõ ràng. Các thành viên cũng luôn ghi nhớ sự cần thiết phải có một COC thực chất, hiệu quả và khả thi”. Ngoại trưởng Indonesia cũng bày tỏ mong muốn được hợp tác chặt chẽ với tất cả các bên liên quan trong suốt cả năm 2023 này.

Phát biểu với các phóng viên tại Ban Thư ký ASEAN, Tổng Giám đốc phụ trách Hợp tác ASEAN của Bộ Ngoại giao Indonesia, ông Sidharto Suryodipuro nói: “Dưới sự chủ trì của Indonesia, Jakarta sẽ dốc sức để thiết lập ra các điều lệ. Điều quan trọng (về cuộc đàm phán) là tất cả chúng ta đã đồng ý rằng COC cần hiệu quả, khả thi và phù hợp với luật pháp quốc tế”. Ông Sidharto không cho biết chi tiết hơn về “các cách tiếp cận mới” mà ASEAN có thể sẽ áp dụng, ngoại trừ việc ASEAN vẫn đang ở “trạng thái thăm dò” với tính bao trùm là một trong những yêu cầu chính. Quan chức này nói thêm rằng hiện vẫn chưa rõ các cuộc đàm phán sẽ diễn ra như thế nào, nhưng quá trình này có thể cũng quan trọng như kết quả của chúng.

Những phát biểu kể trên thể hiện rõ quyết tâm của nước Chủ tịch ASEAN trong việc thúc đẩy đàm phán về COC, song chừng đó là chưa đủ mà đàm phán có tiến triển hay không phụ thuộc vào thiện chí của các bên liên quan, nhất là Trung Quốc. Bắc Kinh đã nhiều lần khẳng định mong muốn sớm kết thúc đàm phán về COC, song trên thực tế chính họ là lực cản lớn nhất cho tiến trình đàm phán COC khi liên tiếp đưa ra các yêu sách phi lý trong đàm phán với ý đồ gạt bỏ các nước ngoài khu vực ra khỏi Biển Đông và mong muốn có một COC phục vụ cho lợi ích của họ ở Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế. Điều quan trọng nhất là Bắc Kinh phải tôn trọng lợi ích của các bên liên quan, nói đi đôi với làm và từ bỏ việc phân hóa chia rẽ các nước ASEAN trên vấn đề Biển Đông cũng như trong đàm phán về COC.

Giới quan sát nhận định khó khăn lớn nhất hiện nay có thể cản trở tiến trình đàm phán về COC là cuộc cạnh tranh địa chính trị Mỹ-Trung ở khu vực ngày càng căng thẳng có thể dẫn đến những tính toán sai lầm, đặt các nước ASEAN vào thế kẹt giữa 2 cường quốc. Những động thái của Trung Quốc và Mỹ từ cuối năm 2022 và trong đầu năm 2023 báo hiệu cho một năm không yên ả ở Biển Đông.                 

Những tháng gần đây đã chứng kiến các tàu của Trung Quốc (bao gồm tàu hải cảnh, tàu dân quân biển và tàu cá) hoạt động tung hoành ở khắp Biển Đông. Từ cuối tháng 12/2022 đến cuối tháng 1/2023, Bắc Kinh đã điều tàu hải cảnh lớn nhất của mình đến hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Malaysia và Indonesia, giám sát hoạt động dầu khí của các nước ở phía Nam Biển Đông; tàu hải cảnh Trung Quốc còn truy đuổi các tàu cá của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này gần bãi Cỏ Mây. Đồng thời, Trung Quốc điều nhiều máy bay chiến đấu tiến hành tuần tra trên bầu trời Biển Đông…. Giữa tháng 1/2023, tàu sân bay Sơn Đông chở theo hàng chục tiêm kích J-15 tiến hành tập trận bắn đạn thật ở Biển Đông.

Trong khi đó, Mỹ điều nhóm tàu sân bay tác chiến Nimitz chạy bằng năng lượng hạt nhân hoạt động ở Biển Đông từ 12/1/2023, tiến hành diễn tập quân sự rầm rộ trên Biển Đông với sự tham gia của tàu tuần dương và các tàu khu trục của Mỹ. Đầu tháng này, Mỹ đạt thỏa thuận về việc có thể tiếp cận thêm 4 địa điểm mới trong căn cứ quân sự của Philippines.

Sự phô trương sức mạnh quân sự của 2 siêu cường đã đặt các nước ASEAN vào tình thế bấp bênh, khiến Ngoại trưởng Singapore Vivian Balakrishnan hôm 1/2 vừa qua đã phải lên tiếng cảnh báo rằng tình hình “cần được theo dõi cẩn thận” sau khi Ngoại trưởng Indonesia Retno tuyên bố rằng sự cạnh tranh thù địch đang trở thành nguyên nhân “gây bất ổn” cho ASEAN. Ông Sidharto Suryodipuro nhấn mạnh trong trường hợp sự tăng cường sức mạnh quân sự ở Biển Đông của các siêu cường không có hồi kết buộc các nước trong khu vực bước vào cuộc chạy đua vũ trang mới. Giảm thiểu tình thế tiến thoái lưỡng nan này là một trong những khía cạnh thách thức nhất trong quá trình đàm phán COC. Tuy nhiên, ông Sidharto khẳng định Indonesia đã sẵn sàng bắt đầu quá trình này khi nói: “Các vấn đề thường nảy sinh từ tình thế tiến thoái lưỡng nan này giữa các đối tác của ASEAN. ASEAN sẽ cung cấp nền tảng cần thiết để giải quyết vấn đề này”.

Mặc dù không phải là bên có yêu sách chính thức tại Biển Đông, song Indonesia luôn đóng một vai trò rất quan trọng và mang tính xây dựng đối với hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Cùng với các nước ven Biển Đông khác trong ASEAN, Indonesia luôn tích cực thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC ở Biển Đông. Thời gian gần đây, các hoạt động thăm dò dầu khí ở biển Bắc Natuna của Indonesia cũng đã phải đối mặt với những hoạt động quấy nhiễu, uy hiếp từ các tàu hải cảnh của Trung Quốc. Điều này khiến Jakarta càng có quyết tâm để thúc đẩy một COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luât biển1982.

Giới phân tích nhận định sự quyết tâm của ASEAN thúc đẩy đàm phán về COC cùng với thiện chí của các nước ven Biển Đông được coi là những tia hy vọng về sự tiến triển trong đàm phán COC trong năm 2022. Tuy nhiên, với vai trò Chủ tịch ASEAN, Indonesia sẽ phải đối mặt với 2 bài toán lớn phải giải quyết:

Một là, làm thế nào để dung hòa các bên liên quan trên những vấn đề còn tồn đọng lâu nay khi đàm phán COC bước vào giai đoạn thực chất như như vấn đề vùng biển áp dụng COC; vấn đề tính ràng buộc về mặt pháp lý của COC; vấn đề lợi ích của bên thứ ba, trong đó cần bảo vệ lợi ích của các nước ngoài khu vực; vấn đề cơ chế thực thi…. Cho đến nay sự khác biệt trên các vấn đề này còn quá lớn giữa một bên là các nước ven Biển Đông trong ASEAN và bên kia là Trung Quốc. Làm thế nào để thuyết phục được Trung Quốc thật sự thiện chí trong việc cùng các nước ASEAN tìm giải pháp cho những vấn đề hóc búa này trên cơ sở đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các bên liên quan.

Hai là, làm thế nào để cho cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ không ảnh hưởng tiêu cực tới tiến trình đàm phán về COC. Bắc Kinh đang tiếp tục lớn tiếng đổ lỗi cho Mỹ cản trở đàm phán về COC, mà không nhận ra chính Trung Quốc đang là người gây khó khăn cho việc đạt đồng thuận về COC. Trên thực tế, Trung Quốc là kẻ cưỡng ép, bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế; trong khi đó Mỹ luôn đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, trong đó có UNCLOS ở Biển Đông. Giới chuyên gia nhận định sự chỉ trích vô cớ của Trung Quốc đối với Mỹ và việc Bắc Kinh tiếp tục tìm cách đẩy Washington ra khỏi Biển Đông vô hình chung “đổ thêm dầu vào lửa” làm cho cuộc cạnh tranh giữa Trung-Mỹ cũng gay gắt thêm và sẽ tác động tiêu cực tới khu vực trong đó có đàm phán về COC. Nếu Indonesia không hóa giải được tác động của mối quan hệ Trung-Mỹ tới tiến trình đàm phán về COC thì khó có thể đạt được những tiến triển tích cực trong đàm phán trong năm 2023 này như Jakarta mong muốn. Phát biểu của Ngoại trưởng và các quan chức Indonesia trong những ngày đầu tháng 2 vừa qua gửi đi một tín hiệu rất rõ ràng khi thể hiện thiện chí tăng cường đàm phán về COC, đây cũng chính là mong muốn của các nước khác trong ASEAN. Trung Quốc hoan nghênh lập trường tích cực của Indonesia – nước Chủ tịch ASEAN trong năm nay – về các cuộc đàm phán COC; đồng thời, đưa ra những lời lẽ khích lệ nếu Jakarta có thể đạt được thỏa thuận về COC trong thời gian giữ chức chủ tịch, chắc chắn đó sẽ là một tài sản chính trị quý giá cho khu vực. Tuy nhiên, Bắc Kinh cũng đã tỏ ý thận trọng về việc có thể kết thúc đàm phán trong năm nay khi nói rằng: “Trung Quốc vẫn sẽ vui mừng khi thấy bất kỳ tiến triển nào liên quan đến COC, ngay cả khi không thể đạt được thỏa thuận vào cuối năm nay”. Giới chuyên gia cho rằng có lẽ Bắc Kinh chưa sẵn sàng thiện chí để giải quyết những vấn đề khó khăn đang tồn đọng trong COC, do vậy ngay từ bây giờ họ đã tìm cách đổ vấy cho Mỹ cản trở đàm phán khi kêu gọi “cần đề phòng khả năng Mỹ muốn can thiệp vào đàm phán COC”. Những người cầm quyền ở Bắc Kinh phải nhớ rằng Mỹ đã công khai tuyên bố ủng hộ lập trường của ASEAN trong đàm phán COC là cần hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với UNCLOS, không làm tổn hại tới quyền lợi của các nước ngoài khu vực ở Biển Đông. Chúng ta cùng mong đợi những quyết tâm và thiện chí của Indonesia cũng như của ASEAN sẽ trở thành hiện thực trong năm 2023 này.

]]>
Lý do hải quân Mỹ cần hiện diện ở Biển Đông https://biendong.net/2023/01/13/ly-do-hai-quan-my-can-hien-dien-o-bien-dong/ Fri, 13 Jan 2023 02:53:19 +0000 https://biendong.net/?p=95915 Lâu nay, Trung Quốc luôn tìm mọi cách đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông để dễ bề bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông, thực hiện mưu đồ khống chế, độc chiếm Biển Đông. Thậm chí, Trung Quốc đã từng yêu cầu đưa nội dung loại bỏ sự can dự, hợp tác của các nước ngoài khu vực, trong đó có Mỹ vào dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiện đang được đàm phán giữa ASEAN và TQ.

Tuy nhiên, yêu cầu ngang ngược này của Bắc c Kinh đã bị các nước ASEAN và các nước ngoài khu vực kịch liệt phản đối. Vậy chúng ta cùng tìm hiểu vì các nước ASEAN phản đối yêu cầu trên của TQ và sao sự hiện diện của hải quân Mỹ và các nước ở Biển Đông là cần thiết?

Thứ nhất, nhìn dưới góc độ của các nước trong khu vực: các quốc gia trong khu vực Biển Đông đều là các quốc gia tầm trung và nhỏ, do đó, luôn mong muốn môi trường hoà bình, an ninh và ổn định để phát triển, các quyền và lợi ích hợp pháp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS được bảo đảm. Ở khía cạnh này, các quốc gia trong khu vực chắc chắn sẽ không muốn có sự gia tăng hiện diện về mặt quân sự của cả Trung Quốc và Mỹ do lo ngại khả năng va chạm có chủ đích hoặc không có chủ đích, có thể dẫn đến phá vỡ ổn định và trật tự trên biển, thậm chí có thể dẫn tới các xung đột vũ trang ở quy mô lớn. Tuy nhiên, trên thực tế, trong thời gian qua, các nước trong khu vực dường như thể hiện sự ủng hộ việc Mỹ và các nước Phương Tây tăng cường sự hiện diện quân sự ở Biển Đông. Vậy đâu là lý do của việc chấp nhận này? Câu trả lời không khó, đó chính là sự hung hăn, gây hấn và chèn ép của Trung Quốc đối với các quốc gia trong khu vực.

Trong những năm qua, nhất là từ giai đoạn 2009 đến nay, Trung Quốc một mặt đưa ra các yêu sách biển phi lý, trái luật pháp quốc tế, UNCLOS như yêu sách “Đường chín đoạn” (2009), yêu sách “Tứ Sa” (2019). Mặt khác, Trung Quốc thông qua các biện pháp khác nhau nhằm củng cố, quyết liệt hiện thực hoá các yêu sách này, nhất là thông qua các hành động quân sự hoá hoặc bán quân sự.

Năm 2013, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng, cải tạo trên một quy mô chưa từng có trên 7 cấu trúc nước này chiếm đóng trái phép ở Trường Sa. Không chỉ dừng ở đó, việc Trung Quốc quân sự hoá các cấu trúc này, bố trí hàng loạt các trang thiết bị, vũ khí hiện đại như máy bay chiến đấu, máy bay ném bom tầm xa, vũ khí điện tử dùng để can thiệp vận hành bình thường của các phương tiện thuỷ, phương tiện bay tại khu vực…đã bị chính Mỹ cho rằng đi ngược lại cam kết “không quân sự hoá” của nước này. Những cấu trúc xây dựng, cải tạo và quân sự hoá trái phép này đã tạo một lợi thế so sánh vượt trội cho Trung Quốc trong hoạt động ở khu vực phía Nam Biển Đông và các nước trong khu vực đều đã trở thành nạn nhân của các hành vi cưỡng ép trên biển của TQ. Các căn cứ “quân sự nổi” này chính là bàn đạp để nước này tổ chức các hoạt động nhằm cản trở các hoạt động kinh tế biển bình thường như dầu khí, đánh bắt cá của các nước ven Biển Đông. Đây cũng chính là nơi là tàu Hải quân, Hải cảnh, dân binh của Trung Quốc xuất phát để vi phạm vùng biển hợp pháp của các nước khác dưới danh nghĩa “thực thi” quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc cho yêu sách vùng biển theo đường chín đoạn của TQ đã bị Toà Trọng tài trong vụ kiện BĐ giữa PLP và TQ bác bỏ.

Trong bối cảnh đó, sự hiện diện quân sự của nước ngoài, đặc biệt của Mỹ đã góp phần “cân bằng” lại sự hung hãn của Trung Quốc trên thực địa, thể hiện vai trò “giám sát” các hoạt động quân sự và bán quân sự của Trung Quốc, để nước này hiểu là không thể tự ý làm bất cứ điều gì mà nước này mong muốn. Đồng thời, sự hiện diện này cũng góp phần “khắc phục” những sai lầm trong quá khứ khi Mỹ và PT không có biện pháp hữu hiệu ngăn cản TQ tiến hành cải tạo, xây dựng và quân sự hoá phi pháp các cấu trúc ở BĐ, tạo cho nước này lợi thế vượt trội.

Thứ hai, dưới góc độ của Mỹ và các nước Phương tây:

A. Nguyên tắc tự do hàng hải, hàng không trên biển là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại, là nền tảng nền tảng của trật tự pháp lý quốc tế về giao thương hàng hải. Tự do hàng hải, hàng không luôn được coi là một giá trị cốt lõi của Mỹ, một mục tiêu đáng để đầu tư dù tốn kém, cho dù đó là chính quyền của đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa.Tự do hàng hải là không thể phá vỡ. Nó được áp dụng trên khắp các đại dương và các vùng biển trên thế giới. Tuy nhiên, với những gì đang diễn ra ở khu vực BĐ thì tự do hàng không, hàng hải đang bị thách thức nghiêm trọng bởi các yêu sách biển phi lý của TQ và các  biện pháp thực thi, hiện thực hoá các yêu sách này. Với vị trí địa chiến lược quan trọng của mình,có thể khẳng định việc duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông là có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với các nước ven Biển Đông mà đối với thương mại toàn cầu bởi đây là tuyến đường hàng hải huyết mạch của thế giới. Điều đó sẽ buộc các nước ngoài khu vực – đứng đầu là Mỹ phải hiện diện ở khu vực này và việc tăng cường sự hiện diện ở đây gửi đi thông điệp  mạnh mẽ là tự do hàng hải, hàng không theo lpqt, đặc biệt là UNCLOS cần phải được tôn trọng và Mỹ có trách nhiệm trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia của mình tại đây- quyền tự do hàng hải, hàng không.

Nếu Mỹ không can dự và để tình trạng bắt nạt, cưỡng ép các nước láng giềng ven Biển Đông của Trung Quốc tiếp tục diễn ra, thì chẳng khác nào cộng đồng quốc tế thể hiện bất lực trước một nguyên tắc đã được kiểm chứng qua thời gian là “tự do biển cả” và tái xác nhận một nguyên tắc cũ  là “quyền lực thuộc về kẻ mạnh”

Vấn đề không chỉ dừng lại ở Biển Đông mà nếu Trung Quốc thành công trong việc khống chế Biển Đông sẽ tạo ra những hệ lụy xấu đối với các vùng biển khác. Nếu cộng đồng quốc tế không hành động và để Trung Quốc tách rời không gian vùng biển này khỏi các nước láng giềng, thì về nguyên tắc không có lý do gì Trung Quốc lại không làm điều tương tự ở các vùng biển khác mà họ khao khát, đặc biệt là eo biển Đài Loan và biển Hoa Đông. Và cũng không có lý do gì mà những kẻ “xấu xa” khác lại không làm điều tương tự ở những vùng biển mà họ cho là của họ – chẳng hạn như Iran ở Vịnh Persian hay Nga ở Biển Đen hoặc Bắc Băng Dương.

Những gì Trung Quốc đã làm ở Biển Đông trong mấy chục năm qua có lẽ đã trở thành bài học cho chính quyền Washington. Khởi đầu là việc Mỹ làm ngơ để Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 đã dẫn đến hệ quả hiện nay, Trung Quốc đang tìm cách “hất cẳng” Mỹ ra khỏi cuộc chơi ở Biển Đông.

Việc để Trung Quốc kiểm soát, khống chế tuyến đường hàng hải ở Biển Đông cũng đồng nghĩa với sự sụp đổi của đại chiến lược của Mỹ gần một thế kỷ qua. Kể từ thời cựu Tổng thống Theodore Roosevelt, Mỹ đã vạch ra đại chiến lược của mình nhằm đảm bảo quyền tiếp cận thương mại, ngoại giao và quân sự đối với các khu vực thương mại quan trọng, chủ yếu là vành đai Đông Á và Tây Âu. Tiếp cận là mục đích và là động lực chính trong chiến lược của Mỹ.

Tuy nhiên, tiếp cận thương mại và ngoại giao của Mỹ sẽ gặp nguy hiểm nếu các quốc gia ven biển hùng mạnh giữ quyền khống chế và biến các vùng biển xa bờ thành của riêng họ. Hay nói cách khác, lực lượng hải quân Mỹ sẽ không thể đến những vành đai đó để làm đối trọng với các đối thủ có sức mạnh lớn nếu họ nhường quyền chỉ huy các tuyến đường thủy ngoài khơi. Trong trường hợp Biển Đông, nếu Mỹ để Trung Quốc trở thành bá chủ khu vực, thâu tóm tới 90% Biển Đông theo yêu sách “đường 9 đoạn” phi pháp thì mỗi lần hải quân Mỹ muốn qua lại Biển Đông đều phải “xin phép” Bắc Kinh. Điều này là không thể chấp nhận trong nội bộ Mỹ dù bất kỳ ai làm Tổng thống nước Mỹ. Mỹ có hệ thống đồng minh từ châu Âu đến châu Á và Thái Bình Dương. Sự hiện diện và can dự ngày càng sâu của Mỹ ở Biển Đông là cơ sở để các đồng minh của Mỹ hiện diện triển khai tự do hàng hải ở đó. Nếu vắng bóng Mỹ thì chẳng một nước nào ngoài khu vực dám đứng ra đương đầu với Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong hơn 20 tháng cầm quyền, chính quyền Tổng thống Biden đã nỗ lực khôi phục quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Âu và châu Á và vận động, khuyến khích các đồng minh cùng can dự vào Biển Đông và khu vực để ngăn chặn và kiềm chế Trung Quốc. Trong hơn một năm qua, hưởng ứng sự vận động của Mỹ, các đồng minh lớn của Mỹ ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan… đã đưa tàu chiến tới hoạt động ở Biển Đông và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Ngay cả trên mặt trận pháp lý, việc Washington gửi văn bản lên Liên hợp quốc và ra Tuyên bố nêu rõ quan điểm pháp lý của mình trên vấn đề Biển Đông, bác bỏ các yêu sách của Trung Quôc đã tạo ra hiệu ứng “Domino”, kéo theo một loạt nước đồng minh gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông. Rõ ràng nếu Mỹ không đi đầu thì không thể làm gương cho các nước khác noi theo. Điều này lý giải vì sao hải quân Mỹ cần hiện diện ở Biển Đông.

Thời gian qua sự hiện diện và can dự của Mỹ là chưa đủ để ngăn chặn Trung Quốc, các chiến dịch tự do hàng hải của hải quân Mỹ chủ yếu dừng lại ở mức biểu dương lực lượng nên chưa đạt được hiệu quả trong việc ngăn chặn sự hiếu chiến của Trung Quốc, hy vọng rằng cùng với việc thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Duơng-Thái Bình Dương, Washington sẽ can dự ngày càng sâu hơn vào Biển Đông và sự hiện diện của hải quân Mỹ và các đồng minh ở Biển Đông sẽ thường xuyên và liên tục hơn để góp phần ngăn chặn sự bành trướng của Bắc Kinh.

]]>
Hãy cảnh giác với “bức màn” tự do thương mại của Hải Nam https://biendong.net/2023/01/12/hay-canh-giac-voi-buc-man-tu-do-thuong-mai-cua-hai-nam/ Thu, 12 Jan 2023 02:47:25 +0000 https://biendong.net/?p=95911 Hải Nam nằm ở cực Nam của Trung Quốc và luôn được Bắc Kinh sử dụng như một địa bàn để phục vụ tham vọng khống chế, độc chiếm Biển Đông. Trong tỉnh này có cái gọi là “thành phố Tam Sa” được Trung Quốc lập ra để “quản hạt” các khu vực mà Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông, cho dù yêu sách này đã bị Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông.

Các chuyên gia nhận định với vị trí địa lý đặc biệt, Hải Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, tầm quan trọng về địa chiến lược của nó có thể làm phức tạp hóa, thay vì nâng cao khả năng của Hải Nam trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế của Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực.

Đảo Hải Nam

Hải Nam từng là nơi đi đầu trong việc thí điểm thời kỳ “cải cách và mở cửa” của Trung Quốc khi được tách ra khỏi tỉnh Quảng Đông với tư cách là tỉnh “trẻ nhất” của Trung Quốc vào năm 1988, cũng là thời điểm nơi đây được chỉ định là “Đặc khu kinh tế” (SEZ). Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ sau đó, Hải Nam đã không thể gây được ấn tượng về mặt kinh tế sau khi một loạt chiến lược kinh tế không nhất quán đã cản trở tỉnh này phát triển. Năm 1994, Hải Nam đã xây dựng một chiến lược tập trung vào công nghiệp nặng, nhưng chỉ được vài năm đã từ bỏ điều này để tập trung vào các ngành công nghiệp hàng hải.

Bẵng đi một thời gian dài, người ta không nhắc đến vai trò của Hải Nam về mặt kinh tế. Những năm đầu Thế kỷ 21, Hải Nam thường được giới quan sát quốc tế nhắc đến như một căn cứ quân sự lớn ở phía Nam của Trung Quốc. Nơi đây có xuất hiện nhiều công trình quân sự lớn mà tiêu biểu là căn cứ tàu ngầm lớn tại Du Lâm, nằm ở bờ biển phía Đông Nam đảo Hải Nam. Đồng thời, đây cũng là một trong những căn cứ nơi xuất phát  và tỉnh này được nêu tên gắn với nhiều hoạt động bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông,  từ việc ban hành các quyết định quản lý hành chính đến việc triển khai các hoạt động từ việc gây hấn với các nước láng giềng ven Biển Đông đến hay tiến hành diễn tập quân sự trên Biển Đông…. Do vậy mà các chuyên gia nhận định Hải Nam là tiền đồn quân sự lớn để Trung Quốc khống chế Biển Đông.

Do có vị trí chiến lược đối với Biển Đông, đảo Hải Nam được xây dựng trở thành một căn cứ hải quân, không quân lớn của quân đội Trung Quốc. Mặt khác, đây cũng là nơi tập trung của lực lượng dân quân biển trước khi tỏa ra hoạt động khắp Biển Đông, giúp Trung Quốc duy trì sự hiện diện thường xuyên và triển khai chiến thuật “vùng xám” ở Biển Đông.

Thực tế cho thấy Các chuyên gia quân sự cho rằng từ căn cứ quân sự ở Hải Nam, Trung Quốc đã từng bước tiến ra Biển Đông, xây dựng các công trình quân sự trên các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông, trong đó các cầu cảng, đường băng cỡ lớn tập trung trên đảo Phú Lâm, ở quần đảo Hoàng Sa và trên các đá Chữ Thập, đá Xu Bi, đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa với mục tiêu mở rộng sự hiện diện quân sự trên Biển Đông hay nói cách khác là quân sự hóa Biển Đông.

Nhân dịp 30 năm thành lập tỉnh Hải Nam, tháng 04/2018, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nâng tầm của Hải Nam lên một bậc khi đưa ra ý kiến chỉ đạo biến hòn đảo này thành vùng tự do thương mại hướng đến lĩnh vực biển. Ông Tập thậm chí còn tuyên bố Hải Nam sẽ trở thành viên ngọc trai của Trung Quốc. Căn cứ vào chỉ đạo của ông Tập Cận Bình, tháng 6/2020 Chính phủ Trung Quốc chính thức công bố quyết định về thành lập vùng tự do thương mại và được Quốc hội Trung Quốc thông qua vào năm 2021. Với chủ trương xây dựng hòn đảo này thành vùng tự do thương mại, mục tiêu của ông Tập Cận Bình là biến Hải Nam thành biểu tượng của chính sách mở cửa của Trung Quốc và đặc biệt nhấn mạnh vào lĩnh vực du lịch. Hiện Hải Nam có cả một kế hoạch thu hút khách du lịch nước ngoài lưu lại lâu hơn trên đảo, như không cần visa (công dân 59 nước được miễn visa du lịch), thời hạn lưu trú dài hơn so với những thành phố khác của Trung Quốc. Đây được coi là bước đột phá, tăng tốc trong tiến trình mở cửa ở Hải Nam.

 Bên cạnh đó, Vùng tự do thương mại đảo Hải Nam sẽ tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường chưa từng có cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi nó sở hữu một danh sách ngắn nhất các mặt hàng bị hạn chế hoặc cấm đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong số các khu vực thương mại tự do của Trung Quốc. Đầu tư vào các ngành dịch vụ, hậu cần như du lịch, dịch vụ y tế, tài chính và giáo dục đang được đặc biệt khuyến khích. Theo đó, vùng tự do thương mại Hải Nam được lên kế hoạch hoạt động đầy đủ vào năm 2035, trở thành một khu vực hải quan riêng với cơ cấu và cấu trúc thuế quan riêng. Sẽ có “hai tuyến” điều hành hàng hóa ra vào Hải Nam. “Tuyến đầu tiên” gần như hoàn toàn mở, cho phép hầu hết hàng hóa được tự do nhập khẩu và xuất khẩu từ vùng tự do thương mại Hải Nam; “Tuyến thứ hai” điều tiết chặt chẽ hơn hàng hóa đi từ Hải Nam vào lục địa Trung Quốc. Đầu tháng 4/2022, giới chức Hải Nam đã âm thầm thực hiện bước đầu tiên là “niêm phong hải quan” để chuyển vùng tự do thương mại Hải Nam thành một khu vực hải quan hoàn toàn tách biệt vào năm 2025. Thuế suất sẽ sớm được đơn giản hóa và thấp hơn các khu vực khác của Trung Quốc.

Giới quan sát nhận định vì là một hòn đảo, Hải Nam không dính với phần còn lại của Trung Hoa lục địa nên có thể dễ dàng hơn trong việc thử nghiệm những chính sách theo hướng mở cửa. Với chủ trương xây dựng hòn đảo này thành vùng tự do thương mại, mục tiêu của ông Tập Cận Bình là biến Hải Nam thành biểu tượng của chính sách mở cửa của Trung Quốc và đặc biệt nhấn mạnh vào lĩnh vực du lịch. Hiện Hải Nam có cả một kế hoạch thu hút khách du lịch nước ngoài lưu lại lâu hơn trên đảo, như không cần visa (công dân 59 nước được miễn visa du lịch), thời hạn lưu trú dài hơn so với những thành phố khác của Trung Quốc. Đây được coi là bước đột phá, tăng tốc trong tiến trình mở cửa ở Hải Nam.

Vị thế cảng thương mại tự do của Hong Kong hay Singapore chính là những hình mẫu cho vùng tự do thương mại Hải Nam; Hawaii cũng là một nguồn cảm hứng cho Hải Nam do là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Theo đó, vùng tự do thương mại Hải Nam được lên kế hoạch hoạt động đầy đủ vào năm 2035, trở thành một khu vực hải quan riêng với cơ cấu và cấu trúc thuế quan riêng. Sẽ có “hai tuyến” điều hành hàng hóa ra vào Hải Nam. “Tuyến đầu tiên” gần như hoàn toàn mở, cho phép hầu hết hàng hóa được tự do nhập khẩu và xuất khẩu từ vùng tự do thương mại Hải Nam; “Tuyến thứ hai” điều tiết chặt chẽ hơn hàng hóa đi từ Hải Nam vào lục địa Trung Quốc. Đầu tháng 4/2022, giới chức Hải Nam đã âm thầm thực hiện bước đầu tiên là “niêm phong hải quan” để chuyển vùng tự do thương mại Hải Nam thành một khu vực hải quan hoàn toàn tách biệt vào năm 2025. Thuế suất sẽ sớm được đơn giản hóa và thấp hơn các khu vực khác của Trung Quốc.

Tuy nhiên, giới nghiên cứu quốc tế đã đưa ra những nhận định hết sức quan trọng về chủ trương của Bắc Kinh trong việc biến Hải Nam thành vùng tự do thương mại; coi quyết định này của ông Tập Cận Bình không đơn thuần chỉ là một tầm nhìn để thiết lập một trung tâm thương mại và du lịch mà nó bao hàm một ý nghĩa chiến lược sâu sắc, một phần trong chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc và mục tiêu không đổi trong vấn đề Biển Đông hết sức nguy hiểm, trong đó có mưu đồ chính trị và lãnh thổ, thúc đẩy tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, sau một thời gian tập trung xây dựng đảo Hải Nam thành một căn cứ quân sự lớn để khống chế Biển Đông, Trung Quốc đã vấp phải nhiều chỉ trích của cộng đồng quốc tế và tạo mối lo ngại lớn đối với các nước láng giềng ven Biển Đông. Giờ đây, giới cầm quyền Bắc Kinh với hạt nhân là ông Tập Cận Bình đang tìm cách để dân sự hóa khu vực trọng yếu này hòng đánh lạc hướng dư luận, giảm bớt sự chú ý của cộng đồng quốc tế ở khía cạnh quân sự.

Mục tiêu xuyên suốt của Trung Quốc là khống chế, độc chiếm Biển Đông. Hải Nam luôn được Bắc Kinh sử dụng như bàn đạp tiến xuống Biển Đông để hiện thực hóa mục tiêu này. Giới phân tích nhận định về thực chất vùng tự do thương mại chỉ là “một chiếc áo” được Bắc Kinh khoác lên Hải Nam làm vỏ bọc để che đậy những toan tính về vai trò chiến lược về mặt quân sự trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Giới cầm quyền Bắc Kinh ý thức rất rõ rằng một Hải Nam phát triển hơn có thể đóng vai trò như một “xuất phát điểm tốt hơn cho quân đội Trung Quốc”.

Thứ hai, cả Trung Quốc và Mỹ đều khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực, chính vì lẽ đó mà ASEAN luôn là địa bàn cạch tranh ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc. Bắc Kinh đưa ra chủ trương biến Hải Nam thành vùng tự do thương mại với mục tiêu tranh thủ, lôi kéo các nước ASEAN nhằm giành ưu thế trước Mỹ ở khu vực. Trên thực tế, năm 2021 các nước ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất của Hải Nam. Trong bối cảnh Mỹ đang nỗ lực thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với việc đưa ra sáng kiến khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và ngay lập tức có được sự tham gia của 7/10 nước ASEAN, Bắc Kinh thấy cần thiết sử dụng vùng tự do thương mại Hải Nam như một bàn đạp để ngăn các nước ASEAN ngả theo Mỹ. Một số chuyên gia đã nhận định kế hoạch lập vùng tự do thương mại Hải Nam là “đòn phản công” của Trung Quốc đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ.

Mặt khác, Bắc Kinh tính toán dựa vào vùng tự do thương mại để tạo động lực tích cực nhằm củng cố quan hệ kinh tế Trung Quốc – ASEAN nhằm hạn chế tối đa phản ứng của các nước này trên hồ sơ Biển Đông. Trong con mắt của Bắc Kinh, miếng bánh kinh tế lớn hơn cuối cùng cũng sẽ khiến các tranh chấp ở Biển Đông trở nên không còn mấy quan trọng nếu so với sự hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN. Tuy nhiên, quan điểm này của Trung Quốc không hẳn sẽ được các nước Đông Nam Á có yêu sách ở Biển Đông đồng tình.

Thứ ba, thông qua phát triển Hải Nam thành vùng tự do thương mại, Trung Quốc một mặt triển khai chiến lược Vành đai, con đường, mặt khác tạo sức ép cạnh tranh quyết liệt đối với Việt Nam. Khi đi vào triển khai, với nhiều ưu đãi, trợ cấp và đặc biệt là khả năng tài chính từ Chính phủ Trung Quốc, Hải Nam sẽ có nhiều điều kiện phát triển mạnh và những lĩnh vực Hải Nam đang tập trung thu hút đầu tư, du lịch cũng chính là các thế mạnh của các tỉnh ven biển phía Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh đó, thách thức về mặt kinh tế đối với Việt Nam sẽ lớn hơn rất nhiều.

]]>
Lý giải việc ASEAN khiến TQ thất vọng về vấn đề Đài Loan https://biendong.net/2023/01/11/ly-giai-viec-asean-khien-tq-that-vong-ve-van-de-dai-loan/ Wed, 11 Jan 2023 02:40:45 +0000 https://biendong.net/?p=95908 Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ – Trung về vấn đề Đài Loan ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ, Bắc Kinh đang mong muốn có được sự hỗ trợ ngoại giao, đặc biệt là từ các nước láng giềng ở Đông Nam Á.

Tuy nhiên, sự hỗ trợ duy nhất mà Trung Quốc nhận được sau cuộc gặp với các ngoại trưởng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) một ngày sau khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi kết thúc chuyến thăm tới Đài Loan chỉ là sự xác nhận cam kết của khối này đối với chính sách “một Trung Quốc”.

Thay vì lên án chuyến thăm của bà Pelosi hoặc công nhận rõ ràng các tuyên bố của Trung Quốc đối với Đài Loan, ASEAN chỉ kêu gọi kiềm chế và tránh “hành động khiêu khích”, cảnh báo nguy cơ “tính toán sai lầm, đối đầu nghiêm trọng, xung đột mở và hậu quả khó lường giữa các cường quốc”. Nói một cách đơn giản, bất chấp sự phụ thuộc của nhiều nước ASEAN vào Trung Quốc về thương mại, đầu tư…, khối này không mang lại cho Bắc Kinh sự hỗ trợ mà họ đang tìm kiếm trên vấn đề Đài Loan.

Theo một số nguồn tin, Trung Quốc đã tiến hành vận động ngoại giao ráo riết đối với các nước Đông Nam Á ở Bắc Kinh (các cơ quan đại diện của các nước ASEAN), ở sở tại của các nước này và ngay tại các cuộc gặp bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN ở Phnom Penh hòng có được sự ủng hộ của ASEAN. Mục tiêu của Bắc Kinh là để các thành viên ASEAN công nhận Đài Loan là một phần lãnh thổ bất khả xâm phạm của chính quyền Bắc Kinh (nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa).

Việc giành được sự ủng hộ đối với nguyên tắc “một Trung Quốc” là cần thiết, song chưa đủ với Bắc Kinh vì quan điểm nhất quán của đa phần các quốc gia trên thế giới, trong đó có ASEAN là ủng hộ nguyên tắc “một Trung Quốc”. Điều này cũng đồng nghĩa là không có sự ủng hộ đối với

việc TQ có thể sử dụng sức mạnh quân sự để tiếp quản Đài Loan.

Giới quan sát cho rằng việc ASEAN kêu gọi kiềm chế và tránh “hành động khiêu khích”, cảnh báo về “tính toán sai lầm” và những “hậu quả khó lường” trước những căng thẳng xung quanh vấn đề Đài Loan thực chất là thể hiện sự không đồng tình với những hành động gây sức ép, đe dọa Đài Loan của Bắc Kinh, mặt khác lo ngại những hành động diễn tập quân sự của Bắc Kinh uy hiếp Đài Loan trên không và trên biển, bao vây hòn đảo này có thể dẫn tới những hệ quả nghiêm trọng đối với hòa bình ổn định trong khu vực.

Phản ứng của ASEAN đối với vấn đề eo biển Đài Loan cho thấy sự thất bại của Bắc Kinh trong vận động ngoại giao đối với các nước ASEAN trên vấn đề Đài Loan. Lý do các nước ASEAN không đứng về phíạ Trung Quốc trên vấn đề Đài Loan thì có nhiều, song nguyên nhân chính là do sự hung hăng ngày càng gia tăng của nước này ở Biển Đông và trong khu vực đã khiến các nước ASEAN phải thận trọng và không ủng hộ Trung Quốc trên vấn đề Đài Loan.

Thứ nhất, mặc dù tuyên bố thi hành chính sách “một Trung Quốc”, song các nước Đông Nam Á vẫn thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, du lịch, lao động… với Đài Loan, đặc biệt là tranh thủ Chính sách hướng Nam mới của Tổng thống Thái Anh Văn. Trên thực tế, nhiều nước Đông Nam Á có sự gắn kết về kinh tế, đầu tư với Đài Loan. Một yếu tố quan trọng là hợp tác và trao đổi trong lĩnh vực lao động, với việc Đài Loan trở thành nơi có nhiều lao động nhập cư Đông Nam Á. Vào cuối năm 2021, Bộ Lao động Đài Loan đã thống kê sự hiện diện của 669.922 lao động nhập cư từ Indonesia, Việt Nam, Philippines và Thái Lan.

Việc Bắc Kinh gây căng thẳng ở eo biển Đài Loan tác động đến quan hệ kinh tế, thương mại, lao động…giữa Đài Loan với các nước ĐNA. Hơn thế nữa, có thể dẫn đến những xáo trộn lớn trong việc bảo vệ an toàn tính mạng của lao động, việc hồi hương và giải quyết về mặt kinh tế xã hội đối với số lao động hồi hương này.

Thứ hai,  các nước ASEAN cũng hết sức lo ngại nếu TQ gây sức ép quân sự thành công với Đài Loan, vùng lãnh thổ được Mỹ bảo trợ về mặt an ninh theo Luật quan hệ Đài Loan của Mỹ thì sẽ dễ dàng áp đặt với nhiều quốc gia khác ở khu vực Biển Đông ở quy mô tương tự, thậm chí lớn hơn, nhất là các nước không tham gia bất cứ liên minh nào.

Thứ ba, trong thời gian qua, các nước ASEAN đều bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid – 19 và đang trong tiến trình phục hồi và tiến trình này cũng đang gặp nhiều thách thức lớn do tình hình KTTG đang trên đà rơi vào suy thoái. Trong bối cảnh này, nếu xung đột diễn ra ở eo biển Đài Loan chắc chắn sẽ dẫn đến sự dính líu quân sự ở các mức độ khác nhau, thậm chí ở quy mô một cuộc chiến toàn diện giữa Mỹ, đồng Minh và Trung Quốc. Nếu điều này xảy ra, các nước ASEAN, nhất là các nước ven Biển Đông sẽ là những quốc gia sẽ gánh chịu nhiều thiệt hại vơi hệ quả có thể hàng vài thập kỷ. Trong bối cảnh tình hình đó, chắc chắn ASEAN sẽ không thể ủng hộ các hoạt động quân sự của TQ, gây mất ổn định tình hình ở khu vực.

Lâu nay, TQ luôn tuyên bố sẽ “thống nhất” ĐL bằng biện pháp hòa bình, đề xuất mô hình “một nước hai chế độ” như đã áp dụng đối với Hồng Công, Ma Cao. Do đó, việc gia tăng sức ép về mặt quân sự hoặc sử dụng vũ lực đối với Đài Loan đã đi ngược lại chính nguyên tắc mà Trung Quốc đề ra. Hơn nữa, đây không phải lần đầu tiên Chủ tịch Hạ viện Mỹ đi thăm Đài Loan. Chúng ta còn nhớ việc Chủ tịch Hạ viện Newton Leroy Gingrich người đã tiến hành cả chuyến thăm TQ và ĐL năm 1997.Do đó, việc TQ p

hản ứng quá mức của Bắc Kinh đối với chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi lần này đã khiến dư luận đặt câu hỏi về ý định thực sự của TQ đối với vụ việc lần này. Do đó, phản ứng của ASEAN như nêu trên không chỉ cho thấy sự độc lập, tự chủ của ASEAN trong quan hệ đối ngoại, kể cả trong quan hệ với TQ, đối tác chiến lược của ASEAN mà còn thể hiện sự tỉnh táo, tránh được những hậu quả sau này tác động đến ASEAN.

]]>