Australia – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 31 Oct 2025 03:52:36 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Ý kiến của chuyên gia về nhu cầu có một hiệp ước phòng thủ Mỹ-Nhật-Australia-Philippines để đối phó với TQ https://biendong.net/2025/10/22/y-kien-cua-chuyen-gia-ve-nhu-cau-co-mot-hiep-uoc-phong-thu-my-nhat-australia-philippines-de-doi-pho-voi-tq/ Wed, 22 Oct 2025 03:43:19 +0000 https://biendong.net/?p=159024 Bên lề Đối thoại Shangri-La 2025, ngày 31/5, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Australia Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nakatani Gen, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro, Jr. và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có cuộc họp 4 bên.

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Nakatani cho biết Trung Quốc đang tăng cường hoạt động tại các khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông; bày tỏ hy vọng các bên sẽ thảo luận toàn diện về hợp tác quốc phòng để ứng phó. Sau cuộc họp, 4 bộ trưởng đã ra tuyên bố chung tiếp tục bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng về các hành động gây mất ổn định của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép””.

Theo tuyên bố chung, các bộ trưởng quốc phòng cũng nhắc lại mối quan ngại nghiêm trọng của mình về hành vi nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông đối với Philippines và các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; kêu gọi hòa bình và ổn định trong khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò trung tâm của ASEAN và cấu trúc khu vực do ASEAN dẫn đầu trong việc đảm bảo an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các nhà lãnh đạo quốc phòng cũng tái khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác và đồng bộ hóa hoạt động của 4 nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm cả ở biển Hoa Đông và Biển Đông, để đảm bảo răn đe, hòa bình và an ninh tốt hơn; đồng thời nhất trí bàn việc lập kế hoạch cho các hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát chung nhằm cải thiện khả năng tương tác và phối hợp về nhận biế tình hình trên biển và trên không hiệu quả ở biển Hoa Đông, Biển Đông và những vùng biển xung quanh.

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản và Australia nhất trí hỗ trợ Philippines tăng cường năng lực quốc phòng như một phần của nỗ lực nhằm thiết lập khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Theo đó, các nước nhất trí xuất khẩu trang thiết bị sang Philippines để giúp nước này nâng cao khả năng quân sự. Các bên cũng có kế hoạch tiến hành các hoạt động theo dõi, giám sát, cũng như hợp tác trong thu thập tin tức.

Giới chuyên gia nhận định cuộc họp lần thứ hai giữa Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gửi “thông điệp rất quan trọng tới khu vực và thế giới”, rằng “bốn nền dân chủ cam kết tuân thủ các trật tự toàn cầu dựa trên luật lệ”. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cho rằng, việc tăng cường mối quan hệ bốn bên không chỉ nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Philippines, mà còn duy trì “các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó hướng dẫn trật tự toàn cầu theo đúng cách mà các quốc gia nên chung sống với nhau”.

Trước đó, bên lề Đối thoại Shangri-La năm 2023, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã lần đầu tiên tiến hành cuộc họp 4 bên chia sẻ tầm nhìn về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đồng thời nhất trí cùng hợp tác an ninh để đảm bảo tầm nhìn tiếp tục phát triển. Vào tháng 4/2024, bốn nước đã tổ chức cuộc tập trận hải quân chung chính thức đầu tiên ở Biển Đông. Sau đó, ngày 02/5/2024, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gặp nhau lần thứ 2 tại Hawaii, cam kết tăng cường hợp tác trong bối cảnh liên tiếp xuất hiện lo ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm các cuộc tập trận hải quân chung ở Biển Đông, nhằm tăng cường hòa bình và ổn định toàn cầu. Cũng trong ngày này, quân đội Mỹ và Philippines đã bắn hàng chục quả tên lửa về phía Biển Đông trong khuôn khổ cuộc tập trận chung thường niên Balikatan 2024. Các tên lửa được phóng tại một địa điểm gần ngôi làng ven biển Campong Ulay thuộc đảo Palawan nhìn ra Biển Đông. Chúng được phóng đi từ 2 Hệ thống tên lửa pháo binh cơ động cao (HIMARS) M142 có khả năng bắn trúng mục tiêu cách xa tới 80 km.

Trước quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ này, Cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Ely Ratner đã kêu gọi lập một hiệp ước phòng thủ tập thể Thái Bình Dương chính thức giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines, xem đó là một động thái kịp thời và cần thiết để ngăn chặn tham vọng quân sự của Trung Quốc. Ông Ratner nhận định Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines là “4 quốc gia có quan điểm nhất quán nhất về thách thức từ Trung Quốc” và hiện là “4 quốc gia có sự liên kết chặt chẽ nhất để đối phó Trung Quốc, đặc biệt là trong việc tăng cường hợp tác quân sự tập thể để ứng phó”. Tại cuộc họp lần thứ 3 giữa Bộ trưởng quốc phòng bốn nước Mỹ, Nhật Bản, Australia, Philippines hôm 31/5/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng đã nhận định: “Không có nhóm nước nào có sự liên kết chặt chẽ hơn nhóm này, không có nước nào có vị thế chiến lược hơn để thể hiện sự răn đe, mang lại hòa bình cho khu vực”.

Ông Ratner cho rằng Bắc Kinh đang tiến gần đến khả năng định hình lại châu Á bằng vũ lực và đã đến lúc Mỹ phải xây dựng một hiệp ước phòng thủ tập thể ở châu Á: trước mối đe dọa ngày càng gia tăng từ Trung Quốc, “hiệp ước này vừa khả thi, vừa cần thiết cho các bên”. Theo ông Ratner, Bắc Kinh có ý định thực hiện tầm nhìn của Chủ tịch Tập Cận Bình về “công cuộc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” – một kế hoạch bao gồm thống nhất với Đài Loan, thống trị Biển Đông và làm suy yếu các liên minh do Mỹ lãnh đạo để định hình lại trật tự khu vực. Ông nhấn mạnh rằng: “Nếu kế hoạch thành công, kết quả sẽ là một trật tự do Trung Quốc lãnh đạo, đẩy Mỹ vào tình cảnh kém thịnh vượng hơn, kém an ninh hơn và không thể tiếp cận hoặc chi phối các thị trường và công nghệ quan trọng của thế giới”.

Theo ông Ratner, hiệp ước mà ông đề xuất sẽ khác với khái niệm “NATO châu Á” do Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đưa ra hồi năm 2024 – khái niệm này không nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà lãnh đạo trong khu vực. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cũng đã bày tỏ sự hoài nghi về một liên minh phòng thủ khu vực với lập luận rằng “sự phân tách và khác biệt về lợi ích quốc gia” giữa các quốc gia Đông Nam Á khiến việc xây dựng một liên minh quân sự thống nhất trở nên khó khăn. Thay vào đó, ông thúc giục ASEAN thừa nhận rằng Trung Quốc đang “bành trướng ở Biển Đông”.

Ông Ratner đã chỉ ra 3 yếu tố mà ông tin rằng hiện nay có thể tạo nên một hiệp ước phòng thủ tập thể quy mô nhỏ hơn. Theo đó, các yếu tố này là sự đoàn kết hơn bao giờ hết giữa các đồng minh của Mỹ, sự hợp tác chưa từng có giữa các đồng minh này, và nhu cầu ngày càng tăng đối với các đồng minh của Mỹ trong việc đóng góp cho hòa bình và an ninh khu vực. Đồng thời, ông Ratner cũng cho biết đã “cố tình” tránh sử dụng thuật ngữ “NATO châu Á”.

Theo chuyên gia Don McLain Gill, nhà phân tích địa chính trị và giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học De La Salle ở Manila, dù ông Ratner không ám chỉ rằng Australia có kế hoạch nhằm kiềm chế Trung Quốc, nhưng Australia cũng đã thừa nhận rằng một Trung Quốc quyết đoán, bành trướng và hiếu chiến hơn chắc chắn sẽ đe dọa an ninh quốc gia của nước này. Đây đó có thể là lý do khiến 3 nước còn lại truyền đạt ý tưởng hiệp ước phòng thủ này đến Australia.

Tuy nhiên, các chuyên gia an ninh cảnh báo rằng ngay cả phiên bản thực dụng hơn của ông Ratner về một hiệp ước phòng thủ khu vực cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức và rào cản lớn. Ông Don McLain Gill -– cho rằng, đề xuất này có vẻ khả thi hơn khái niệm “NATO châu Á”, nhưng nó phải “thực tế hơn” trước những thách thức mà các bên phải đối mặt. Trong đó, có lẽ Australia và Philippines còn phải cân nhắc thêm những khía cạnh khác. Ông Don McLain Gill trích dẫn những bình luận trước đó của Thủ tướng Australia Anthony Albanese, trong đó nhấn mạnh nhu cầu của Canberra trong việc cân bằng giữa các mối quan ngại về an ninh và các mối quan hệ kinh tế với Bắc Kinh. Đồng thời,  ông Don McLain Gill cũng cho rằng bốn quốc gia sẽ cần phải xác định rõ phạm vi của bất kỳ thỏa thuận an ninh nào, đặc biệt là nếu nó liên quan đến Đài Loan.

Một số ý kiến khác cảnh báo rằng bất kỳ động thái nào nhằm chính thức hóa một khối phòng thủ như vậy sẽ phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ từ Trung Quốc và gây ra sự khó chịu trong số các quốc gia Đông Nam Á khác. Nhà phân tích chính trị Julio Amador ở Manila nhận định rằng đề xuất này sẽ không thành công vì khu vực này không thích các hiệp ước phòng thủ tập thể, coi đây là hành động buộc các quốc gia phải liên kết với một số cường quốc nhất định.

Đồng thời, ông Amador cũng cho rằng dù Philippines có thể hưởng lợi từ việc hợp tác chặt chẽ, sâu rộng hơn với Mỹ, đặc biệt trong việc hiện đại hóa quân đội, song Philippines nên cân nhắc kỹ lưỡng việc dấn sâu hơn vào các vấn đề an ninh khác bên cạnh Biển Đông hay không. Nếu một hiệp ước như vậy được thực hiện, Bắc Kinh có thể sẽ đáp trả và gây mất ổn định khu vực. Philippines cần đánh giá cẩn thận các chi phí và lợi ích của việc một hiệp ước quốc phòng như vậy xuất hiện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tóm lại, việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines tiến hành 3 cuộc họp trong 2 năm qua, cũng như việc bốn nước tăng cường hợp tác quân sự, triển khai tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông là những yếu tố cần thiết để hình thành một cơ chế hợp tác an ninh giữa bốn nước song là chưa đủ để tiến tới một Hiệp ước phòng thủ chung. Tuy nhiên, qua những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ở Manila, Tokyo và Singapore thì có thể khẳng định là chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa Washington, Tokyo, Canberra và Manila để duy trì, hòa bình ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

]]>
Quan hệ chiến lược đặc biệt Australia – Indonesia và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2024/03/01/quan-he-chien-luoc-dac-biet-australia-indonesia-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Fri, 01 Mar 2024 02:36:00 +0000 https://biendong.net/?p=124091 Nước láng giềng quan trọng và mạnh mẽ nhất của Australia chính là Indonesia – một trong những quốc gia lớn ở Đông Nam Á và có vai trò quan trọng trong ASEAN. Xét từ góc độ địa chiến lược, Indonesia cũng là quốc gia có tầm quan trọng đối với một nước Australia an toàn và mạnh mẽ. Năm 1994, Thủ tướng Australia lúc bấy giờ là Paul Keating đã có nhận xét nổi tiếng rằng “Lãnh thổ Australia trên thực tế chỉ có thể bị đe dọa trực tiếp bằng lực lượng quân sự đến từ hoặc thông qua Indonesia và Papua New Guinea”.

Ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, cả Indonesia và Australia đều quan ngại sâu sắc trước sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc cũng như môi trường địa chiến lược ngày càng biến động ở Đông Nam Á. Cả hai nước láng giềng đều có cam kết và lợi ích chung về trật tự hàng hải dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Mối quan hệ giữa Australia và Indonesia khá phức tạp, đã từng xảy ra tình trạng bất hòa và mối quan hệ không mấy tốt đẹp đó kéo dài trong mấy thập kỷ. Vào những năm 1960, hai nước đã chiến đấu ở hai phe đối lập trong cuộc đối đầu Indonesia-Malaysia ở Borneo. Trong chiến tranh, Lực lượng Đặc nhiệm Australia đã thực hiện các hoạt động phục kích bí mật vào các vị trí của Indonesia ở Borneo. Tuy nhiên, sau đó mối quan hệ song phương đã bình thường hóa và đạt đến đỉnh cao vào năm 1995 khi hai nước láng giềng ký một thỏa thuận an ninh mang tính bước ngoặt. Đây là thỏa thuận an ninh song phương đầu tiên của Indonesia với bất kỳ quốc gia nào.

Trước khi thỏa thuận an ninh được ký kết, Thủ tướng Australia khi đó là ông Keating đã thuyết phục được Tổng thống Indonesia lúc bấy giờ là Suharto rằng đây là thời điểm thích hợp để hai nước láng giềng tham gia vào một thỏa thuận an ninh vì sức mạnh ngày càng tăng của một Trung Quốc khó lường. Ông Suharto cũng cảnh giác với tham vọng lãnh thổ tiềm tàng của Trung Quốc trong khu vực. Tuy nhiên, thỏa thuận này đã bị Indonesia hủy bỏ vào năm 1999 sau sự can thiệp đa quốc gia do Australia dẫn đầu vào Đông Timor.

Sau sự kiện Đông Timor, quan hệ hai nước từng bước được khôi phục trở lại và tới năm 2006, Indonesia và Australia đã ký một hiệp ước an ninh mới được gọi là Hiệp ước Lombok. Tiếp đó năm 2018, Jakarta và Canberra đã nâng cấp quan hệ chiến lược lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Tuy nhiên, vào năm 2021, Indonesia đã phản ứng không thuận trước thông báo về thỏa thuận hiệp ước an ninh AUKUS (Mỹ-Anh-Australia). Sau khi lên cầm quyền ở Australia, Thủ tướng Albanese đã chủ động khôi phục lòng tin lẫn nhau trong mối quan hệ song phương với Indonesia và hai nước láng giềng gần đây đã cam kết sẽ tăng cường hợp tác quốc phòng hiện có.

Sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tháng 5/2022 và lên nắm quyền, Thủ tướng Anthony Albanese đã sớm thăm Indonesia từ ngày 5-7/6/2022. Không kể chuyến sang Nhật Bản dự Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm “Bộ tứ” cuối tháng 5 thì Indonesia là nước mà ông Anthony Albanese thực hiện chuyến thăm chính thức đầu tiên trên cương vị Thủ tướng. Trong một tuyên bố bằng văn bản ngày 3/6/2022, Thủ tướng Albanese nhấn mạnh: “Indonesia là một trong những nước láng giềng gần gũi nhất của chúng tôi, đó là lý do tại sao tôi cam kết sẽ tới thăm nước này càng sớm càng tốt. Hai quốc gia của chúng ta có lịch sử hợp tác và hữu nghị lâu đời, và chính phủ của tôi sẽ làm việc với Indonesia để làm sâu sắc hơn mối quan hệ này”. Trong chuyến thăm, ông Albanese đã tìm cách giải thiwch và thuyết phục Indonesia rằng việc củng cố các liên minh với Mỹ, trong đó có việc thành lập liên minh AUKUS, sẽ không thay đổi cam kết của Australia trong việc coi Indonesia là một quốc gia có ảnh hưởng trong ASEAN nhằm duy trì sự ổn định trong khu vực; khẳng định Indonesia luôn là ưu tiên trong chính sách của Canberra,

Tổng thống Indonesia Joko Widodo (Jokowi) đã có chuyến thăm Australia từ ngày 3-5/7/2023. Phát biểu tại họp báo ở sân bay trước khi khởi hành, ông Joko Widodo nhấn mạnh chuyến công du 2 ngày tới Australia “mang tính chiến lược cao” đối với Indonesia; khẳng định mong muốn nâng tầm quan hệ song phương với Australia lên thành đối tác toàn cầu hiệu quả. Giới quan sát nhận định với chuyến thăm chính thức tới Australia lần thứ 5 trên cương vị Tổng thống Indonesia, ông Joko Widodo muốn khẳng định di sản của mình trong quan hệ giữa hai láng giềng quan trọng này. Trước chuyến thăm Bộ trưởng Điều phối các vấn đề hàng hải Indonesia Luhut Pandjiaitan và Phó Tổng thống Indonesia Ma’rut Amin đã gặp những người đồng cấp Australia để chuẩn bị các nội dung cho chuyến thăm. Các quan chức Indonesia và Australia còn đàm phán về một thỏa thuận hợp tác quốc phòng mới có thể mở đường cho các cuộc tập trận quân sự chung.

Với mối quan hệ đang tăng cao, Canberra và Jakarta đang hướng tới việc nâng tầm quan hệ song phương lên quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt. Hiện tại, Nhật Bản vẫn là đối tác chiến lược đặc biệt duy nhất của Australia ở châu Á ngoài Mỹ. Thỏa thuận mới về nâng tầm quan hệ Australia-Indonesia sẽ bao gồm sự ủng hộ vững chắc cho tự do hàng hải và thương mại không bị cản trở ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời củng cố nhu cầu giải quyết hòa bình các tranh chấp hàng hải trong khu vực theo UNCLOS. Thỏa thuận cũng cần nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN và tầm quan trọng của cấu trúc thể chế do ASEAN lãnh đạo đối với hòa bình và thịnh vượng ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Thỏa thuận vê đối tác chiến lược đặc biệt mới này sẽ đảm bảo quân đội Australia và Indonesia đều có quyền tiếp cận các khu vực huấn luyện quân sự tương ứng của nhau. Điều này sẽ tăng cường huấn luyện quân sự chung và các hoạt động quân sự. Việc đào tạo có thể đặc biệt có lợi cho lực lượng quốc phòng Indonesia đóng quân trong và xung quanh quần đảo Natuna. Thỏa thuận mới có thể mở rộng và lồng ghép các chương trình giáo dục quân sự hiện có cũng như trao đổi huấn luyện giữa cả hai lực lượng quốc phòng. Nhìn chung, những thay đổi mới sẽ tăng cường xây dựng năng lực, sẵn sàng chiến đấu và thế trận quân sự của cả hai nước. Thỏa thuận cũng sẽ thúc đẩy đáng kể trao đổi văn hóa, từ đó có thể làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa hai lực lượng quốc phòng.

Cuối cùng, thỏa thuận có thể giải quyết vấn đề tàu đánh cá Indonesia hoạt động trái phép và đánh bắt trái phép ở vùng biển Australia. Trong nhiều thập kỷ, Australia đã đốt các tàu đánh cá của Indonesia được phát hiện trong EEZ của nước này. Năm 2021, Chính phủ Indonesia đã đình chỉ các cuộc tuần tra hàng hải chung với Lực lượng Biên phòng Australia và yêu cầu giải thích về việc bắt giữ 3 tàu Indonesia đánh bắt trái phép trong vùng biển Australia. Trong thỏa thuận mới, đường dây nóng Australia-Indonesia có thể được thiết lập để ngăn chặn các tàu bất hợp pháp đi vào vùng biển Australia và Indonesia từ lãnh thổ của một trong hai nước. Quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt mới Australia-Indonesia sẽ đưa hai nước láng giềng xích lại gần nhau hơn. Điều này cực kỳ quan trọng đối với cả hai quốc gia khi Đông Nam Á ngày càng trở nên quân sự hóa và bất ổn.

Vậy điều gì đã khiến Australia và Indonesia vượt qua những khác biệt để cùng nỗ lực hướng tới mối quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt mang tính toàn cầu hiệu quả và điều đó tác động gì tới khu vực nói chung hay Biển Đông nói riêng được các nhà phân tích quan tâm và đưa ra những đánh giá bước đầu, cụ thể là:

Trước hết, cả Australia và Indonesia chia sẻ tầm nhìn về một khu vực rộng mở, ổn định và thịnh vượng dựa trên pháp luật và cùng đang phải đối mặt với những thách thức từ chính sách bành trướng của Bắc Kinh. Dù Indonesia không phải là nước liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song thời gian gần đây, Trung Quốc đã mở rộng các hoạt động xâm lấn xuống vùng biển xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia ở Biển Đông; trong khi đó Bắc Kinh cũng không ngừng lôi kéo, gia tăng ảnh hưởng ở các quốc đảo Tây Thái Bình Dương, lấn sân vào khu vực ảnh hưởng của Australia.

Indonesia ngày càng cảnh giác trước sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Bắc Natuna. Trong khi đó, Trung Quốc tuyên bố rằng EEZ ở Biển Bắc Natuna của Indonesia nằm trong phạm vi yêu sách “Đường lưỡi bò” của nước này. Hải quân Indonesia thời gian gần đây đã phải nỗ lực để ngăn chặn ngày càng nhiều hoạt động xâm nhập của Trung Quốc vào vùng biển của nước này. Những cuộc xâm nhập đó đã thu hút sự chú ý của quốc tế vào năm 2021 khi xảy ra đối đầu lớn giữa hải quân Indonesia và Trung Quốc gần mỏ dầu khí mà Jakarta đang triển khai hoạt động khoan thăm dò. Tình trạng bế tắc càng trở nên trầm trọng hơn khi Trung Quốc lần đầu tiên yêu cầu Indonesia ngừng khoan dầu khí trong khu vực. Đầu năm 2023, một tàu chiến Indonesia đã được điều động tới Biển Bắc Natuna để giám sát tàu Haijing 3901 của hải cảnh Trung Quốc (tàu hải cảnh lớn nhất thế giới) đang hoạt động trong vùng biển này.

Năm 2016, Tòa Trọng tài về Biển Đông được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển (Tòa Trọng tài) đã đưa ra phán quyết coi yêu sách “Đường lưỡi bò” của Bắc Kinh ở Biển Đông là không có cơ sở pháp lý theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Indonesia đã nhiều lần công khai phản đối yêu sác “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc; năm 2021 Australia đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách “Đường lưỡi bò”, ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài. Giới phân tích nhận định, lợi ích chung của Indonesia và Australia đối với trật tự hàng hải dựa trên luật lệ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm Biển Đông chính là chất xúc tác cho thỏa thuận hợp tác chiến lược mới giữa hai nước láng giềng.

Thứ hai, nhằm đối phó với các hoạt động xâm lấn của Trung Quốc xung quanh quần đảo Natuna, Indonesia tiến hành quân sự hóa quần đảo này. Tuy nhiên, tiềm lực của Jakarta vẫn còn hạn chế nên hiện tại các lực lượng vũ trang và tuần duyên của Indonesia chưa được trang bị đầy đủ để bảo vệ EEZ. Năm 2022, Tư lệnh Lực lượng Vũ trang Indonesia (TNI) khi đó là Tướng Andika Perkasa đã thừa nhận rằng khả năng tuần tra EEZ ở Natuna của Indonesia chỉ có thể kéo dài vài ngày. Ông Perkasa kêu gọi Indonesia tăng cường quan hệ với các nước trong Nhóm “Bộ tứ”, bao gồm cả Australia, để ngăn chặn các hành động xâm nhập của Trung Quốc.

Trước hành vi ngày càng hung hăng của Trung Quốc tại Vùng EEZ ở Biển Bắc Natuna giàu tài nguyên của Indonesia trong những năm gần đây, Jakarta đã tăng cường quan hệ quốc phòng với Mỹ và các đối tác trong khu vực. Bất chấp truyền thống không liên kết của Indonesia, trong chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia tháng 8/2023, Indonesia và Mỹ đã công bố một thông cáo báo chí chung tố cáo yêu sách “Đường lưỡi bò” bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông; đồng thời hai nước đã ký Biên bản ghi nhớ (MoU) về việc Mỹ bán 24 máy bay chiến đấu 15EX tiên tiến cho Indonesia.

Các chuyên gia quân sự cho rằng Australia là đồng minh của Mỹ lại là láng giềng quan trọng của Indonesia, do đó Jakarta tăng cường quan hệ quốc phòng với Canberra là lẽ đương nhiên. Quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt Australia-Indonesia tạo điều kiện thuận lợi cho Jakarta tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao năng lực hải quân và không quân để đối phó với các thách thức đang đặt ra. Các nhân viên của Lực lượng Phòng vệ Australia tham gia cuộc tập trận “Siêu lá chắn Garuda” ở Indonesia đầu tháng 9 vừa qua – cuộc tập trận do Mỹ – Indonesia đồng tổ chức lớn nhất từ trước đến nay – là dấu hiệu cho thấy Canberra cùng với Indonesia sẽ đóng một vai trò quan trọng trong các vấn đề an ninh khu vực. Nhìn chung, mối quan hệ chiến lược đặc biệt giữa Australia và Indonesia sẽ tác động tích cực tới cục diện Biển Đông và khu vực. Là 2 nước lớn trong khu vực và cùng có quan hệ tốt với các nước nhỏ ven Biển Đông, do vậy việc Australia – Indonesia tăng cường hợp tác không chỉ là lợi ích chung song phương của họ mà còn có lợi cho các nước ven Biển Đông. Xét từ mọi khía cạnh, quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt giữa Australia – Indonesia sẽ là một yếu tố quan trọng ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực.

]]>
Mối quan hệ “bán liên minh” Australia – Nhật và hệ lụy đối với Biển Đông https://biendong.net/2022/11/07/moi-quan-he-ban-lien-minh-australia-nhat-va-he-luy-doi-voi-bien-dong/ Mon, 07 Nov 2022 04:13:19 +0000 https://biendong.net/?p=95957 Ngày 22/10/2022, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã có chuyến thăm thành phố Perth trên bờ biển phía Tây của Australia gặp người đồng cấp Anthony Albanese. Đây là cuộc gặp trực tiếp lần thứ tư của hai nhà lãnh đạo trong chưa đầy 5 tháng kể từ khi ông Anthony Albanese nhậm chức Thủ tướng Australia hôm 23/5/2022.

Hai nội dung chính được thảo luận là: (i) vấn đề Australia cung cấp năng lượng cho Nhật Bản sau những tác động tiêu cực của cuộc chiến ở Ukraine đối với nguồn cung năng lượng của thế giới; (ii) thúc đẩy hợp tác an ninh song phương trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hăng đe dọa an ninh khu vực.

Sau cuộc gặp, hai bên đã ký một thỏa thuận an ninh song phương mới liên quan tới hợp tác trong các lĩnh vực quân sự, tình báo và an ninh mạng nhằm đối phó với các thách thức an ninh đặt ra từ sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc. Tuyên bố hợp tác an ninh đầu tiên được ký cách đây 15 năm (năm 2007) vào thời điểm sự trỗi dậy của Trung Quốc ít được quan tâm hơn. Do vậy, Tuyên bố 2007 tập trung nhiều hơn vào các vấn đề an ninh phi truyền thống như khủng bố, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, các mối quan tâm về an ninh con người như cứu trợ thảm họa và đại dịch….

Sau 15 năm, môi trường an ninh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã thay đổi đáng kể. Dựa trên những quan ngại chung, Tuyên bố mới nhằm ứng phó với những thách thức địa chính trị do Trung Quốc đặt ra và tăng cường hợp tác quân sự dựa trên Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA) mà Thủ tướng Kishida đã ký với nhà lãnh đạo Australia lúc đó là Scott Morrison hồi tháng 1/2022, nhằm loại bỏ những trở ngại đối với việc tổ chức các cuộc tập trận chung ở cả hai quốc gia.

Đây là thỏa thuận đầu tiên thuộc dạng này mà Nhật Bản ký với một quốc gia khác ngoài Mỹ. Thỏa thuận đã nâng hợp tác quân sự 2 nước lên một cấp độ mới, có ý nghĩa chiến lược đối với không chỉ mối quan hệ song phương Canberra-Tokyo, mà còn là động lực an ninh rộng lớn hơn ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Phát biểu sau lễ ký, Thủ tướng Albanese cho biết “đây là một tuyên bố mang tính bước ngoặt, gửi một tín hiệu mạnh mẽ đến khu vực về liên kết chiến lược của hai nước”. Về phần mình, Thủ tướng Kishida nói rằng quan hệ đối tác đã “nâng lên một tầm cao mới” đáp ứng “môi trường chiến lược ngày càng nhiều thách thức” và  “sẽ vạch ra phương hướng hợp tác an ninh và quốc phòng (giữa hai nước) trong 10 năm tới”. 

Sau khi Thủ tướng Albanese và Thủ tướng Kishida ký thỏa thuận hợp tác mới, các học giả đã gắn cho quan hệ giữa Australia – Nhật một tên gọi mới là quan hệ “bán liên minh” khi nhấn mạnh Tuyên bố mới lần này – dựa trên truyền thống hợp tác an ninh của hai nước – sẽ tạo nền tảng cao hơn cho cái gọi là “bán liên minh” giữa Australia và Nhật Bản, cũng như các chương trình hợp tác ba bên và bốn bên. Điều 7 của thỏa thuận thiết lập cách tiếp cận đối với mối nguy hiểm chung trong liên minh ba bên và quan hệ Nhật Bản-Australia trong liên minh với Mỹ: “Quan hệ đối tác song phương của chúng ta cũng giúp củng cố các liên minh của mỗi bên với Mỹ, đóng vai trò là trụ cột quan trọng cho an ninh của chúng ta, cũng như hòa bình và ổn định ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Tăng cường hợp tác ba bên với Mỹ là rất quan trọng để tăng cường liên kết chiến lược, điều phối chính sách, khả năng tương tác và khả năng chung của các bên”.

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết đoán và hung hăng hơn, mối quan hệ “bán liên minh” giữa Australia – Nhật tạo hệ lụy gì đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng đang được các nhà nghiên cứu quan tâm. Đa phần các ý kiến cho rằng việc tăng cường hợp tác an ninh giữa giữa Australia và Nhật Bản đem lại những hệ lụy tích cực cho khu vực và Biển Đông.

Thứ nhất, cả Australia và Nhật Bản cùng đối mặt với các thách thức lớn từ sự hung hăng của Trung Quốc và đều đang là “nạn nhân” trong chính sách cường quyền của Bắc Kinh (tàu các loại của Trung Quốc thường xuyên xâm nhập trái phép vùng biển của Nhật Bản, bao gồm vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku hiện Nhật Bản đang quản lý; Australia đang bị Trung Quốc lấn sân ở khu vực Nam Thái Bình Dương và đang phải chịu sức ép từ những “đòn trừng phạt kinh tế” của Bắc Kinh. Việc Australia – Nhật thắt chặt quan hệ an ninh quốc phòng, ký thỏa thuận hợp tác an ninh mới sẽ là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực.

Tuyên bố chung về hợp tác an ninh mới Australia-Nhật không đề cập trực diện Trung Quốc, song mục tiêu chính của việc nâng cấp mối quan hệ an ninh, quân sự giữa Australia và Nhật Bản là nhằm vào Trung Quốc. Một số chuyên gia cho rằng thay vì phải “đối mặt với các hệ lụy của việc công bố một hiệp ước hoặc liên minh quân sự chính thức”, Australia và Nhật Bản đã có cách tiếp cận một cách uyển chuyển hơn khi ký Tuyên bố chung về hợp tác an ninh được xem như “bán liên minh” để giảm đi tính chính thức của vấn đề và Bắc Kinh không có cớ để phản đối.

Thỏa thuận hợp tác an ninh mới giữa Australia và Nhật Bản chắc chắn không chỉ là vấn đề song phương. Trong bối cảnh, cả Canberra và Tokyo đều ủng hộ mạnh mẽ chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở thì hai nước cần thể hiện rõ vai trò của mình đối với an ninh khu vực. Để đối phó với các mối đe dọa trong khu vực, tự bản thân khu vực phải có năng lực đủ tin cậy. Với việc ký thỏa thuận hợp tác an ninh mới, Australia-Nhật đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc đàm bảo an ninh khu vực.

Việc Bắc Kinh không chỉ hung hăng bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông, đe dọa sử dụng vũ lực với Đài Loan mà còn đang mở rộng ảnh hưởng tới tận các quốc đảo và vùng biển ở Nam Thái Bình Dương chính là nguyên nhân thôi thúc Australia và Nhật Bản thắt chặt mối quan hệ hợp tác an ninh, quân sự trên Thải Bình Dương.

Thứ hai, trên vấn đề Biển Đông, thời gian qua cả Australia và Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình ổn định, đảm bảo tự do an ninh hàng hải và hàng không trên Biển Đông khi hai nước thường xuyên đưa tàu chiến đến hoạt động ở Biển Đông, thậm chí cùng với hải quân Mỹ tiến hành diễn tập quân sự ở Biển Đông. Về mặt pháp lý, cả Australia và Nhật Bản đều đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm pháp lý trên các vấn đề liên quan ở Biển Đông. Theo đó, cả Canberra và Tokyo cùng bác bỏ các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông; ủng hộ Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng; kêu gọi các bên tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Do vậy, giới phân tích nhận định việc Canberra và Tokyo thắt chặt hợp tác an ninh thông qua việc ký thỏa thuận an ninh mới sẽ có tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, tạo động lực mới để cả Australia và Nhật Bản tiếp tục đóng góp nhiều hơn vào an ninh trên Biển Đông.

Cả Australia và Nhật Bản đều có quan hệ tốt với các nước ven Biển Đông và cùng khẳng định coi trọng quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN. Australia và Nhật Bản đã hỗ trợ các nước ven Biển Đông nâng cao năng lực quản lý các vùng biển của mình. Việc thắt chặt hợp tác an ninh giữa Canberra và Tokyo có thể mở ra khả năng hợp tác 3 bên giữa Australia và Nhật Bản với từng nước ven Biển Đông hoặc giữa 2 nước này với cả khối ASEAN trên vấn đề an ninh hàng hải ở Biển Đông. Đây rõ ràng là những hệ quả tích cực từ thỏa thuận an ninh mới Australia-Nhật đối với cục diện Biển Đông.

Đáng chú ý Tuyên bố chung về hợp tác an ninh Australia – Nhật Bản đề cập đến hai nội dung quan trọng được các nước ASEAN, nhất là các nước ven Biển Đông quan tâm: một là, hợp tác an ninh Australia – Nhật là nhằm chống lại các “hành vi… phá hoại các quy tắc và chuẩn mực quốc tế”. Đây chính là yếu tố quan trọng để duy trì trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông và trong khu vực; hai là, Tuyên bố hợp tác an ninh mới Australia – Nhật cũng đề cập đến hợp tác trong việc “chống lại sự áp bức kinh tế và tin giả” – những mối đe dọa mà Trung Quốc thường xuyên bị cáo buộc là kẻ giật dây.

Australia và Nhật Bản đã hợp tác chặt chẽ với nhau ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á để hỗ trợ chủ quyền và khả năng chống chịu của các nước trong khu vực, đảm bảo các nước có quyền lựa chọn đối tác trong hợp tác thương mại, đầu tư, hỗ trợ phát triển và an ninh. Giới học giả cho rằng việc thỏa thuận hợp tác an ninh mới Australia – Nhật nhấn mạnh nội dung chống “áp bức kinh tế” có thể là tín hiệu tích cực về việc Australia – Nhật sẽ tăng cường hợp tác kinh tế với các nước Đông Nam Á để giúp các nước này giảm bớt sự lệ thuộc về kinh tế vào Trung Quốc và ngày càng mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn trong đấu tranh chống lại sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thỏa thuận hợp tác an ninh mới Australia – Nhật còn có ý nghĩa thúc đẩy những cải cách trong nước của Nhật Bản trong lĩnh vực quốc phòng, thúc đẩy cuộc thảo luận về chiến lược an ninh quốc gia và các văn kiện quốc phòng quan trọng khác đang được lên kế hoạch của Nhật Bản, giúp cải thiện căn bản khả năng quốc phòng của Nhật Bản để Tokyo có thể đóng góp nhiều hơn vào các vấn đề an ninh khu vực, bao gồm an ninh hàng hải ở Biển Đông. Mặt khác, việc tăng cường hợp tác an ninh Australia – Nhật có thể trở thành động lực thúc đẩy các cơ chế hợp tác khác trong khu vực như Nhóm “Bộ Tứ” (gồm Mỹ, Australia, Nhật, Ấn), liên minh 3 bên AUKUS (giữa Mỹ, Anh, Úc) hay Hiệp ước An ninh quân sự ANZUS (giữa Australia-New Zealand-Mỹ)… Đây được coi là các cơ chế có vai trò quan trọng ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc ở khu vực, trong đó có Biển Đông. Tòm lại, thỏa thuận hợp tác an ninh mới Australia – Nhật về tổng thể có lợi cho cục diện Biển Đông và các nước nhỏ ven Biển Đông.

]]>
Quan hệ tam giác Australia – Ấn Độ – Indonesia và tác động đối với Biển Đông https://biendong.net/2022/09/30/quan-he-tam-giac-australia-an-do-indonesia-va-tac-dong-doi-voi-bien-dong/ Fri, 30 Sep 2022 03:01:51 +0000 https://biendong.net/?p=95921 Bên lề kỳ họp thứ 77 của Đại hội đồng Liên hợp quốc tại New York, Mỹ đã diễn ra cuộc họp giữa Ngoại trưởng 3 nước Australia-Ấn Độ-Indonesia. Đây là cuộc gặp trực tiếp đầu tiên 3 bên của nhóm này ở cấp Bộ trưởng Ngoại giao. Trước đó, 3 nước đã tiến hành một số cuộc họp trực tuyến như tháng 9/2020, Ngoại trưởng 3 nước đã tổ chức họp trực tuyến trước khi diễn ra cuộc họp giữa Bộ trưởng quốc phòng ba nước.

Tại cuộc họp lần này ở New York, các Ngoại trưởng đã thảo luận các vấn đề quốc tế và khu vực như triển vọng tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Hiệp hội Vành đai Ấn Độ Dương (IORA), Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, G20 và nền kinh tế xanh.

Australia, Ấn Độ và Indonesia tổ chức họp ba bên lần đầu tiên

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng gay gắt, thời gian qua đã xuất hiện một số tổ chức tiểu đa phương và đa phương, tập hợp các quốc gia có chung tầm nhìn và lợi ích nhằm tăng cường quan hệ đối tác trong các vấn đề và chương trình nghị sự cụ thể. Vì vậy, Australia và Ấn Độ đã và đang thúc đẩy nâng cấp cuộc gặp 3 bên này lên cấp Bộ trưởng chính thức. Mặc dù Jakarta cũng tin rằng việc thắt chặt hơn nữa mối quan hệ với các nước như Ấn Độ và Australia là điều rất tốt, nhưng phía Indonesia hiện vẫn còn lưỡng lự.

Giới chuyên gia đưa ra một số lý do khiến Indonesia chưa mặn mà với đề xuất này: (i) bản thân Indonesia không muốn trở thành một phần của bất kỳ nhóm nào vì họ lo ngại sẽ gửi một thông điệp sai đến Trung Quốc, một trong những đối tác thương mại chính của họ và cũng đang tài trợ cho nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng lớn, như đường sắt Jakarta-Bandung; (ii) mối quan hệ Indonesia-Australia từng căng thẳng trong quá khứ. Mặc dù mối quan hệ song phương này ngày càng được cải thiện, song vẫn còn một số “do dự” từ  Indonesia; (iii) Australia và Ấn Độ đều là thành viên của Nhóm “Bộ Tứ” gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ để đối phó với mối đe dọa ngày càng tăng từ Trung Quốc, nên sẽ có ấn tượng rằng việc nâng tầm quan hệ 3 bên này sẽ một lần nữa đưa ra tín hiệu rằng Indonesia cũng đang đứng về phía chống Trung Quốc.

Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, chính sách đối ngoại của Indonesia luôn tập trung trọng tâm vào các thể chế đa phương bởi giới hoạch định chính sách cho rằng thực tế hoạt động đối ngoại nước này đã chứng minh thông qua hoạt động ngoại giao đa phương, Jakarta có thể nâng cao vị thế của mình. Theo đó, Indonesia nhận thức  ngay cả khi bị chia rẽ và “không mấy thành công”, các nền tảng đa phương vẫn là cách tốt nhất để thảo luận các vấn đề và tìm ra các giải pháp. Điều này được thể hiện qua những hoạt động của Indonesia trong khuôn khổ ASEAN hay IORA. Indonesia được coi là “quốc gia lãnh đạo” trong ASEAN và luôn cố gắng tạo ấn tượng rằng họ đi đầu trong gắn kết tất cả các nước lại với nhau và chủ nghĩa đa phương là cách tốt nhất để thúc đẩy hợp tác. Mặt khác, Indonesia gần đây cũng đã tham gia Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPEF) do Mỹ khởi xướng, và điều này cho thấy ngay cả khi Trung Quốc là một đối tác thương mại lớn, Indonesia cũng vẫn đang tìm cách đa dạng hóa quan hệ trong lĩnh vực kinh tế và thương mại. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều người Indonesia mất lòng tin về Trung Quốc, do lo ngại rằng người Trung Quốc đang chiếm dụng các công việc địa phương. Chính phủ Indonesia cũng nhận ra rằng cần phải đa dạng hóa các quan hệ đối tác và các bước đi ban đầu là việc tham gia IPEF và với cuộc họp ngoại trưởng 3 bên Australia – Ấn Độ – Indonesia .

Cuộc họp trực tiếp đầu tiên giữa Ngoại trưởng Indonesia với các Ngoại trưởng Australia và Ấn Độ là dấu hiệu Indonesia đang cố gắng vượt qua những khác biệt trong quá khứ để thúc đẩy quan hệ hợp tác 3 bên, tập trung vào G20, IORA, Kinh tế Xanh và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Hiện Indonesia đang giữ chức Chủ tịch G20 và sẽ tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Bali vào tháng 11 tới; Ấn Độ sẽ tiếp nhận vị trí Chủ tịch G20 từ Indonesia vào tháng 12/2022; Australia là thành viên tích cực của G20 (năm 2014, Hội nghị Thượng đỉnh G20 đã được tổ chức ở Australia và ông Anthony Albanese đã chọn Indonesia để thực hiện chuyến thăm đầu tiên trên cương vị Thủ tướng Australia 2 tuần sau khi nhậm chức và khẳng định sẽ tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Indonesia ngay trọng chuyến thăm này). Đây là điều kiện thuận lợi để 3 nước thúc đẩy mối quan hệ hợp tác 3 bên.

Là các quốc gia duyên hải Ấn Độ Dương, Australia-Ấn Độ-Indonesia có thể hợp tác trong các lĩnh vực như quản trị biển và ngoại giao hàng hải. Hầu hết các cuộc thảo luận về an ninh hàng hải chỉ tập trung vào các khía cạnh an ninh truyền thống cũng như các vấn đề như quản trị biển, an toàn và an ninh hàng hải. Giới phân tích nhận định quản trị biển có thể là điểm khởi đầu cho hợp tác 3 bên, sau đó là các con đường khác như nâng cao nhận thức về lĩnh vực biển; diễn tập bảo vệ bờ biển, hợp tác ngoại giao; phát triển cơ sở hạ tầng hàng hải, đặc biệt là ở Indonesia, cũng có thể được khởi xướng.

Quan hệ quốc phòng Ấn Độ-Australia đã phát triển mạnh mẽ trong những tháng gần đây, khi 2 quốc gia tăng cường tương tác hàng hải thông qua các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương. Các cuộc tập trận giữa Australia và Ấn Độ đã tái khẳng định các mục tiêu chung của một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở, bao trùm và dựa trên luật lệ, nhằm đối trọng với các mối đe dọa của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc vốn đang đặt ra những thách thức chiến lược trong khu vực. Tháng 4/2022, các tư lệnh lục quân và hải quân Australia đã đến thăm Ấn Độ, và Cao ủy Australia tại Ấn Độ Barry O’Farrell đánh giá rằng các hoạt động phòng thủ chung giữa 2 nước đã tăng gần gấp 4 lần kể từ năm 2014. Một số cuộc tập trận giữa Australia và Ấn Độ đã diễn ra sau cuộc họp hồi tháng 6/2022 tại New Delhi giữa Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh và người đồng cấp Australia Richard Marles. từ ngày 19-20/8/2022, Hải quân Ấn Độ và Hải quân Hoàng gia Australia đã tiến hành cuộc tập trận Đối tác Hàng hải ngoài khơi gần cảng Perth của Australia; Từ ngày 19/8-8/9/2022, không quân Ấn Độ tham gia cuộc tập trận Pitch Black 2022 tại căn cứ của Không quân hoàng gia Australia (RAAF) ở Darwin, Tindal và Amberley; ngay sau đó, máy bay tuần tra, trinh sát hàng hải Boeing P-8I, và tàu khu trục tàng hình mang tên lửa dẫn đường INS Satpura của Ấn Độ tham gia cuộc tập trận “Kakadu” được tổ chức tại thành phố Darwin, miền Bắc Australia.

Ấn Độ và Indonesia thường “hướng nội” trước sức ép từ bên ngoài, song điều này đang thay đổi nhanh chóng trong giai đoạn gần đây khi Trung Quốc ngày càng trỗi dậy và ngày càng trở nên hung hăng hơn. Năm 2018, New Delhi và Jakarta đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và lần đầu tổ chức một cuộc tập trận hải quân song phương có tên gọi “Samudera Shakti”. Mối quan hệ đối tác chiến lược này ngày càng phát triển, trong đó cốt lõi tập trung vào an ninh hàng hải và hợp tác quốc phòng. Với vai trò là hai “mỏ neo” chính của hàng hải châu Á, hai nước có chung mối lo ngại về sức mạnh và sự quyết đoán ngày càng lớn của Trung Quốc. Indonesia và Ấn Độ đang hoàn thiện hợp đồng mua hệ thống tên lửa hành trình siêu thanh chống hạm BrahMos của Ấn Độ để triển khai tại bờ biển Indonesia. Thương vụ mua BrahMos sẽ giúp Indonesia nâng cấp đáng kể năng lực răn đe hàng hải tại các vùng biển xung quanh quần đảo Natuna, vốn chồng lấn với yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, cũng như liên tiếp bị tàu cá và tàu dân quân Trung Quốc xâm lấn trong suốt thập kỷ vừa qua.

Vùng biển giữa Indonesia và Bắc Australia là khu vực mà cả 2 nước cùng quan tâm, là cửa ngõ vào khu vực Ấn Độ Dương, những bất đồng giữa Indonesia và Australia về khu vực biên giới trên biển kéo dài đã cản trở hợp tác giữa hai nước. Trong bối cảnh tình hình khu vực phức tạp do sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc, Indonesia và Australia đã tìm cách vượt qua những trở ngại đó để thúc đẩy hợp tác nhằm đối phó với những thách thức mới. Tháng 10 này, Jakarta và Canberra đã ký một thỏa thuận về chống đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUU), đánh dấu một bước tiến quan trọng của 2 nước trong nỗ lực xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản này cũng như trong mối quan hệ song phương. Theo thỏa thuận, hai bên đã thành lập 3 nhóm công tác, tập trung triển khai một chiến dịch thông tin công khai, công tác giám sát và thực thi pháp luật, và các cơ hội tạo phương thức sinh kế thay thế cho ngư dân Indonesia. Thỏa thuận mới giữa Indonesia và Australia về đánh bắt IUU là một bước phát triển quan trọng, tạo cơ sở cho 2 bên tăng cường hợp tác về hàng hải cũng như giữa hải quân hai nước.

Giới phân tích nhận định việc tăng cường hợp tác song phương trong các cặp quan hệ giữa Australia-Ấn Độ giữa Ấn Độ-Indonesia và giữa Australia-Indonesia là tiền đề cho việc tăng cường mối quan hệ tam giác Australia-Ấn Độ-Indonesia. Cuộc họp trực tiếp đầu tiên giữa Ngoại trưởng 3 nước là tín hiệu tích cực đối với cả khu vực, trong đó có Biển Đông. Tuy nhiên để trở thành một cơ chế hợp tác chính thức 3 bên, cần nỗ lực chung của cả 3 nước, trong đó Australia và Ấn Độ sẽ cần chủ động dẫn dắt và thúc đẩy các cuộc họp nhiều hơn nữa trong tương lai để làm tan đi những e ngại từ Indonesia, chứng minh việc tăng cường hợp tác 3 nước ở Ấn Độ Dương và rộng hơn là Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Việc tăng cường hợp tác 3 bên Australia-Ấn Độ-Indonesia với cuộc họp giữa Ngoại trưởng 3 nước tháng 9 vừa qua là một diễn biến tích cực đối với khu vực, nhất là đối với cục diện Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Ấn Độ là một nước lớn ở khu vực, Australia và Indonesia là 2 nước tầm trung có vai trò và tiếng nói trong khu vực. Cả 3 nước đều đang đứng trước những thách thức lớn từ sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc. Việc tăng cường hợp tác giữa 3 nước này, nhất là việc hình thành một cơ chế tam giác chính thức giữa 3 nước sẽ là một nhân tố quan trọng để kiềm chế Trung Quốc và có thể trở thành chỗ dựa cho các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với Bắc Kinh.

Indonesia không liên quan trực tiếp đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, song nước này bị lôi vào cuộc do yêu sách “Đường 9 đoạn” lấn vào vùng biển xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia; gần đây, Trung Quốc đã mở rộng xâm lấn vào vùng biển này của Indonesia, ngăn cản các hoạt động dầu khí hợp pháp của nước này khiến Jakarta phản ứng mạnh mẽ. Đây cũng được coi là nguyên nhân thôi thúc Indonesia tìm kiếm hợp tác hàng hải với Australia-Ấn Độ mà cuộc họp giữa Ngoại trưởng 3 nước mới chỉ là khởi đầu. Hợp tác 3 bên giúp tăng thêm sức mạnh cho Indonesia trong cuộc đối đầu với sự bành trướng trên biển của Bắc Kinh.

Thứ hai, Australia-Ấn Độ-Indonesia đều là những nước đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trên biển. Indonesia đã nhiều lần gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông; tháng 7/2020 Australia cũng đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông, ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông; Ấn Độ là nước gương mẫu trong việc tuân thủ Phán quyết năm 2014 về phân định ranh giới biển giữa Bangladesh và Ấn Độ của Toà trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS mặc dù phán quyết này là bất lợi cho Ấn Độ. Việc hình thành cơ chế hợp tác giữa 3 nước này sẽ góp phần thúc đẩy việc thực thi pháp luật duy trì tự do hàng hải, hàng không dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Giới chuyên gia nhận định cơ chế hợp tác 3 bên Australia-Ấn Độ-Indonesia với trọng tâm là hợp tác an ninh hàng hải sẽ là nhân tố quan trọng ngăn chặn chiến lược “vùng xám” của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực. Điều này là có lợi cho các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với các thách thức từ sự hung hăng ngày càng tăng của Bắc Kinh.

Thứ ba, Australia có quan hệ tốt với các nước ven Biển Đông và đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN từ năm 2021, đồng thời thường xuyên cử tàu chiến máy bay tuần tra, tham gia tập trận ở Biển Đông. Ấn Độ có quan hệ mật thiết với các nước trong khu vực Đông Nam Á, nhất là trong lĩnh vực an ninh hàng hải; Ấn độ đang hợp tác với Việt Nam thăm dò khai thác dầu khí ở Biển Đông bất chấp sự phản đối của Trung Quốc và đang nỗ lực nâng cấp quan hệ với ASEAN lên đối tác chiến lược toàn diện; ngoài Indonesia Ấn Độ đã bán tên lửa BrahMos cho Philippines, trong khi Thái Lan, Malaysia và Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm tới tên lửa này của Ấn Độ.

Trong cơ chế hợp tác 3 bên mới này, Indonesia là một nước lớn và có vai trò tiếng nói quan trọng trong ASEAN, luôn đi đầu trong các vấn đề an ninh khu vực. Trên vấn đề Biển Đông, quan điểm của Indonesia rất rõ ràng, là một trong những nước đi đầu phản đối yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông và luôn nhấn mạnh việc thực thi pháp luật, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 ở Biển Đông. Giới chuyên gia nhận định việc hình thành cơ chế hợp tác 3 bên Australia-Ấn Độ-Indonesia không chỉ giúp tăng cường quan hệ giữa các nước này mà còn khiến cho quan hệ của Australia và Ấn Độ với ASEAN trở nên gắn kết hơn. Qua đó Australia và Ấn Độ có thể đóng góp nhiều hơn vào an ninh khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Mặt khác, với tư cách thành viên của Nhóm “Bộ Tứ”, Australia và Ấn Độ có thể kết nối sự phối hợp giữa Nhóm “Bộ Tứ” với tam giác chiến lược Australia-Ấn Độ-Indonesia trong việc thúc đẩy một trật tự dựa trên pháp luật ở khu vực, trong đó có Biển Đông, ngăn chặn sự bành trướng trên biển của Trung Quốc. Từ góc độ này, có thể thấy cuộc họp giữa Ngoại trưởng Australia-Ấn Độ-Indonesia bên lề cuộc họp Đại hội đồng Liên hợp quốc tháng 9 vừa qua là sự khởi đầu cho việc hình thành cơ chế hợp tác tam giác giữa 3 nước, phát đi tín hiệu tích cực đối với duy trì hòa bình ổn định và an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông.

]]>
Đánh giá triển vọng quan hệ Việt Nam – Australia trong năm 2022 https://biendong.net/2022/02/06/danh-gia-trien-vong-quan-he-viet-nam-australia-trong-nam-2022/ Sun, 06 Feb 2022 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=73952 Cơ hội nâng tầm quan hệ đối tác Việt Nam – Australia đang trong tầm với, nhưng hai bên cần triển khai các bước đi cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu này.

Australia đang nỗ lực tạo dựng cột mốc mới trong quan hệ với Việt Nam. Vào tháng 5/2021, Thủ tướng Australia Scott Morrison đề xuất nâng cấp quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược toàn diện (CSP) vào năm 2023. Nếu muốn biến mục tiêu này thành hiện thực, lãnh đạo hai nước cần thúc đẩy hợp tác song phương chặt chẽ hơn trên một số lĩnh vực chính.

Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, quan hệ Việt Nam – Australia đã phát triển mạnh mẽ. Việc Hà Nội theo đuổi nguyên tắc đối ngoại “thêm bạn, bớt thù” góp phần mở rộng liên kết và làm sâu sắc hơn mức độ tin cậy giữa hai bên. Việt Nam là mục tiêu trọng tâm trong nỗ lực đẩy mạnh chiến lược tiếp cận Đông Nam Á của Australia, nhất là khi nước này khôi phục viện trợ song phương cho Việt Nam từ năm 1991.

Hai quốc gia thiết lập quan hệ đối tác toàn diện năm 2009, sau đó ký kết quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2018 – những dấu mốc phản ánh sự tương đồng về lợi ích cũng như sự trưởng thành của mối quan hệ. Đối với Việt Nam, quan hệ “đối tác toàn diện” biểu hiện mức độ hợp tác cao hơn quan hệ đối tác thông thường, dù tính đồng nhất không thể hiện rõ trong các khía cạnh hợp tác. Trong khi đó, với sự tin cậy lẫn nhau, quan hệ “đối tác chiến lược” tập trung vào các lĩnh vực hợp tác chủ yếu, nhắm đến một khía cạnh giới hạn hay một mục tiêu cụ thể.

Hợp tác kinh tế là ưu tiên hàng đầu trong quan hệ Việt Nam – Australia. Trong 30 năm qua, thương mại hai chiều đã phát triển vượt bậc. Tính riêng 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch thương mại song phương đạt mức kỷ lục 10 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2020. Bất chấp tác động của COVID-19, nông, thuỷ sản, sản phẩm dệt và hàng may mặc của Việt Nam vẫn nằm trong số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang Australia. Tháng 11/2021, hai nước khánh thành Trung tâm Xúc tiến thương mại và Trưng bày sản phẩm Việt Nam tại Australia, có trụ sở ở thành phố Melbourne, nhằm thúc đẩy thương mại song phương và giới thiệu các sản phẩm Việt Nam tại Australia. Trong khi cùng chia sẻ cam kết về tự do hóa thương mại và đầu tư, hai nước ủng hộ hệ thống thương mại đa phương, đều là thành viên của một số hiệp định thương mại tự do toàn diện, trong đó có Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Australia – New Zealand (AANFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), cùng Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Nhằm tăng gấp đôi đầu tư hai chiều, trở thành một trong 10 đối tác thương mại hàng đầu của nhau vào năm 2025 và hỗ trợ phục hồi kinh tế hậu COVID-19, Hà Nội và Canberra đã khởi động Chiến lược Tăng cường Hợp tác Kinh tế vào tháng 12/2021. Lộ trình này là kế hoạch cụ thể đầu tiên Việt Nam ký kết với một quốc gia khác nhằm mở ra cơ hội hợp tác và giải quyết “các thách thức cũng như hoạt động mang tính cưỡng ép về mặt kinh tế”. Theo Thủ tướng Australia Morrison, chiến lược nói trên sẽ “đưa hai quốc gia hướng đến sự phát triển và thịnh vượng mới mẻ, đồng đều và bền vững”.

Đối với các kết nối trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, quá trình hoà nhập của cộng đồng khoảng 450.000 người Australia gốc Việt vào các hoạt động xã hội, thương mại và một phần là đời sống chính trị, giúp định hình bản sắc của Australia như là một xã hội đa văn hoá, đồng thời thúc đẩy các liên kết về mặt con người giữa hai nước. Xu hướng dịch chuyển của lưu học sinh, hoạt động hợp tác nghiên cứu do hai bên phối hợp, cùng một số sự kiện ý nghĩa như nỗ lực “chia sẻ chuyên môn của Australia trong đảm bảo chất lượng, giúp Việt Nam nâng cao năng lực đào tạo nghề” cũng góp phần thắt chặt quan hệ song phương. Tuy nhiên, việc các trường đại học Australia cắt giảm các chương trình dạy tiếng Việt có thể dần hạn chế điều kiện để Canberra gắn kết sâu sắc hơn với Hà Nội. Đối với các chuyên gia Australia – những người làm việc trong môi trường tiếng Anh, việc thiếu kiến ​​thức về Việt Nam có thể là trở ngại trong quá trình hợp tác với các cộng sự của họ ở quốc gia Đông Nam Á này.

Trong khi đó, Hà Nội và Canberra đang thúc đẩy hoạt động hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, thông qua các chuyến thăm chính thức và đối thoại cấp cao. Trong thời gian qua, tàu chiến Australia thường xuyên cập Cảng Quốc tế Cam Ranh – một trong những cảng biển nước sâu hàng đầu ở miền Trung Việt Nam. Vào tháng 12/2021, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính và người đồng cấp Morrison cũng nhấn mạnh quan điểm về việc đảm bảo an ninh, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Dù vậy, hợp tác quốc phòng hai nước mới chỉ giới hạn ở hoạt động huấn luyện và hỗ trợ về tiếng Anh.

Đối với Việt Nam và Australia – hai quốc gia đều được xem là các cường quốc tầm trung, những lợi ích hai bên cùng chia sẻ góp phần củng cố mối quan hệ song phương ngày một phát triển. Australia, một cường quốc tầm trung truyền thống và Việt Nam, một cường quốc tầm trung mới nổi, đều ủng hộ duy trì hiện trạng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và không có tham vọng thách thức trật tự quyền lực hiện hành. Quan trọng hơn, Australia và Việt Nam chia sẻ “cam kết vững chắc về một khu vực cởi mở, hội nhập và bền vững, trong đó ASEAN giữ vai trò trung tâm”. Hai quốc gia đều hưởng thành quả từ hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cùng nhấn mạnh sự sẵn sàng hợp tác hướng tới việc duy trì một khu vực thịnh vượng dựa trên luật pháp quốc tế. Dù không công khai chống Trung Quốc – tâm lý đang phổ biến trong một bộ phận chính trị gia Australia, Việt Nam vẫn sẵn sàng hợp tác với Australia nhằm tối đa hóa năng lực tự đảm bảo an ninh của mình.

Gần đây, Việt Nam vẫn tương đối kín tiếng về hiệp định AUKUS – thoả thuận an ninh ba bên giữa Australia, Anh và Mỹ. Khi xem xét khía cạnh thực dụng trong chính sách đối ngoại Việt Nam, nhất là trước các hành vi quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông, động thái này có thể ngầm hiểu là thái độ “ủng hộ chứ không phản đối”. Trong khi đó, vào tháng 7/2020, Thủ tướng Morrison khẳng định Australia sẽ tiếp tục “thể hiện một lập trường rất nhất quán” và ủng hộ “cực kỳ mạnh mẽ” hoạt động tự do hàng hải trên Biển Đông.

Trên khía cạnh chiến lược, Việt Nam là đối tác quan trọng của Canberra trong việc cân bằng ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Bắc Kinh ở Đông Nam Á. Thực tế đó tạo cơ hội để Hà Nội và Canberra xây dựng quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn. Dù vậy, Trung Quốc chỉ đóng vai trò nhân tố góp phần, thay vì là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến nỗ lực nâng tầm quan hệ Australia – Việt Nam.

Hiện tại, Việt Nam đang duy trì quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với ba cường quốc là Trung Quốc (2008), Nga (2012) và Ấn Độ (2016). Đối với Hà Nội, Trung Quốc và Nga được đóng khung là các “đồng chí”, Trung Quốc “vừa là bạn, vừa là thù” (frenemy), còn Ấn Độ là người bạn “truyền thống gần gũi và thuỷ chung”. Trong trường hợp quan hệ Việt Nam – Australia được nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, động thái của hai bên ngụ ý rằng Australia và Việt Nam sẵn sàng chia sẻ các lợi ích chung và thống nhất “xây dựng lòng tin chiến lược” cùng nhiều cam kết dài hạn khác.

Tương tự, Hà Nội và Canberra có thể định hình quan hệ song phương theo hướng đảm bảo hoạt động hợp tác vượt ra khỏi cái “mác” ngoại giao đơn thuần. Giữa bối cảnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nảy sinh nhiều thách thức đan xen, ông Morrison tuyên bố Australia và Việt Nam đã tiến từ bằng hữu (friends) lên “bạn bè chí cốt” (mates) trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 8/2019. Tại Australia, “mateship” mang ý nghĩa quan trọng, đại diện cho mối quan hệ được xây dựng, củng cố với đặc trưng là tính bình đẳng và trung thành. Hà Nội và Canberra có thể định hình quan hệ song phương như là những người bạn thân cận ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cùng chia sẻ sự gắn bó đặc biệt trong nỗ lực thực hiện tầm nhìn chung về khu vực. Hơn nữa, điểm độc đáo trong hợp tác Australia – Việt Nam còn nằm ở quan hệ khăng khít bền chặt giữa các cường quốc tầm trung với nhau (middle-power-to-middle-power comradeship).

Mong muốn nâng tầm quan hệ hợp tác với Việt Nam của Thủ tướng Morrison xuất hiện trong thời điểm Trung Quốc đang thể hiện các hành vi “quấy rối” và đe dọa an ninh khu vực. Australia bị Trung Quốc đe doạ về kinh tế, trong khi lo ngại của Việt Nam đối với hoạt động quân sự hóa Biển Đông của Bắc Kinh vẫn thường trực. Dù vậy, mối lưu tâm của Hà Nội và Canberra đang tập trung ở Đông Nam Á – khu vực trọng yếu trong nỗ lực nâng cao vị thế chiến lược và thắt chặt quan hệ với các quốc gia ASEAN của Việt Nam. Với Canberra, Đông Nam Á là điểm đến của hoạt động thúc đẩy hợp tác kinh tế và tăng cường ảnh hưởng chính trị của Australia ở khu vực. Australia và ASEAN đã nhất trí đưa quan hệ song phương lên tầm CSP trong khuôn khổ Hội nghị Thượng đỉnh tổ chức vào tháng 10/2021.

Hà Nội và Canberra đang hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2023. Trong bối cảnh cùng đối mặt với mối đe dọa từ Trung Quốc, hai quốc gia cần tập trung vào các lĩnh vực chuyên biệt, có tiềm năng thúc đẩy hợp tác. Trên thực tế, Việt Nam và Australia hoàn toàn có thể kêu gọi liên minh nhằm mục đích chống lại Bắc Kinh, nhất là khi sự trỗi dậy của Trung Quốc đang khiến cả hai quan ngại sâu sắc. Tuy nhiên, kiểu liên minh nói trên chắc chắn sẽ làm suy yếu tính năng động cũng như xung lực thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Australia.

Do đó, Hà Nội và Canberra cần nỗ lực xây dựng các hình thức hợp tác cụ thể hơn, trong đó có giải quyết khó khăn trong hoạt động đầu tư của Australia vào Việt Nam, ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu và chia sẻ kinh nghiệm trong quản trị kỹ thuật số của Canberra với Hà Nội. Khoản đầu tư của Australia vào Việt Nam rất khiêm tốn, cụ thể là nguồn vốn từ Canberra chỉ chiếm 0,5% tổng đầu tư nước ngoài của quốc gia Đông Nam Á. Vì vậy, Hà Nội cần tiến hành một số cải cách hiệu quả trong khu vực công, rà soát quy định của các địa phương và kêu gọi thêm vốn đầu tư từ Canberra.

Năm 2021, hai nước đã ký tuyên bố chung về hành động ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo lập khuôn khổ cho “những nỗ lực thiết thực nhằm đạt được các mục tiêu về khí hậu” và “an ninh năng lượng”. Ngoài ra, bản cập nhật về chiến lược chính phủ điện tử (tháng 12/2021) cùng kinh nghiệm thực tiễn trong quản trị kỹ thuật số của Australia có thể hỗ trợ kế hoạch phát triển chính phủ điện tử của Việt Nam – chính sách được ban hành vào tháng 6/2021. Hơn nữa, Australia có thể hỗ trợ các sáng kiến ​​và phương án hiện đại hóa hệ thống y tế của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh số ca nhiễm COVID-19 của Việt Nam đang gia tăng.

Sự gắn kết chiến lược ngày một gia tăng giữa hai cường quốc tầm trung tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương là động lực chính thúc đẩy quan hệ đối tác Việt Nam – Australia. Với những đóng góp mang tính xây dựng và vai trò được nâng cao trong khu vực, Việt Nam có thể trở thành cầu nối giữa Australia và ASEAN. Ngược lại, Canberra có thể là hình mẫu để Việt Nam thực thi chính sách đối ngoại thể hiện vai trò của một cường quốc tầm trung có sức ảnh hưởng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Một mô hình mới trong nỗ lực hợp tác của các cường quốc tầm trung, giữa một bên truyền thống (traditional) và một bên mới nổi (rising), có thể vừa mang tính chiến lược vừa mang tính thực dụng. Hướng tới mục tiêu đó, Australia và Việt Nam có thể định hình quan hệ giàu tiềm năng của hai bên với phương châm “hợp tác và học hỏi lẫn nhau”.

Cờ đã đến tay Australia, nhưng quyết tâm thúc đẩy quan hệ song phương còn phụ thuộc vào những tính toán chiến lược của Hà Nội. Về bản chất, hợp tác Việt Nam – Australia đã thể hiện tính chất toàn diện và chiến lược. Tuy nhiên, hai quốc gia cần nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy tính gắn kết trong bối cảnh khu vực còn nhiều bất ổn. Triển vọng nâng cấp CSP trong hợp tác giữa Việt Nam và Australia cần được xem là một mục tiêu mà cả hai quốc gia cần đầu tư các nguồn lực để hiện thực hoá, thay vì đóng khung trong một câu hỏi với lời giải là “có” hoặc “không”.

T.P

]]>
TQ lại muốn cải thiện quan hệ với Australia https://biendong.net/2022/01/29/tq-lai-muon-cai-thien-quan-he-voi-australia/ Sat, 29 Jan 2022 08:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=73599 Đại sứ mới của Trung Quốc tại Australia thừa nhận quan hệ giữa hai nước đang ở thời điểm quan trọng và ông sẵn sàng góp phần làm tan băng mối quan hệ song phương.

Đại sứ mới của Trung Quốc tại Australia Tiếu Thiên.

Trong một tuyên bố bằng văn bản cung cấp cho truyền thông địa phương, ông Tiếu Thiên (Xiao Qian), Đại sứ mới của Trung Quốc tại Australia, đã thể hiện giọng điệu hòa giải, đồng thời kêu gọi hai chính phủ cùng nhau hợp tác để đưa mối quan hệ song phương trở lại đúng quỹ đạo.

Trước đó, Australia đã chấp thuận đề nghị của Trung Quốc về việc cử ông Tiếu Thiên đảm nhiệm chức vụ Đại sứ thay ông Thành Cạnh Nghiệp (Cheng Jingye) hết nhiệm kỳ công tác. Tân Đại sứ Tiếu Thiên vừa đến Australia vào hôm qua (26/1).

Ngay sau khi vừa đặt chân đến Australia, tân Đại sứ Trung Quốc cho biết ông có một sứ mệnh cao cả và quan trọng hơn là một trách nhiệm lớn lao trong bối cảnh quan hệ ngoại giao giữa hai nước đang đóng băng và căng thẳng gia tăng.

Theo truyền thông Australia, tuyên bố của ông Tiếu Thiên nhấn mạnh Trung Quốc và Australia cần tăng cường tương tác và giao tiếp để nâng cao hiểu biết và tin cậy lẫn nhau. Bên cạnh đó, tân Đại sứ cũng kêu gọi hai chính phủ xóa bỏ hiểu lầm và nghi ngờ, đồng thời thúc đẩy trao đổi và hợp tác cùng có lợi trong tất cả các lĩnh vực.

Khi được hỏi về quan điểm của chính phủ Australia liên quan đến quan hệ với Trung Quốc và phát ngôn mới nhất của Đại sứ Tiếu Thiên, Ngoại trưởng Marise Payne cho biết chính phủ Australia hoan nghênh Đại sứ mới của Trung Quốc và mong muốn được hợp tác với ông Tiếu Thiên.

Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Peter Dutton bày tỏ hy vọng Đại sứ Tiếu Thiên chân thành trong lời nói của mình, đồng thời ông khẳng định Australia muốn có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp và bền chặt với Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc đang có cách tiếp cận hiếu chiến và không thể chấp nhận được, không chỉ với Australia, mà còn với nhiều quốc gia khác.

Giới phân tích chính trị tại Australia đã có phản ứng tích cực sau tuyên bố của tân Đại sứ Trung Quốc Tiếu Thiên, nhưng không hy vọng mối quan hệ băng giá hiện nay giữa Australia và Trung Quốc sẽ sớm được cải thiện.

T.P

]]>
Đòn trừng phạt kinh tế của TQ với Australia là gậy ông đập lưng ông https://biendong.net/2021/12/15/don-trung-phat-kinh-te-cua-tq-voi-australia-la-gay-ong-dap-lung-ong/ Wed, 15 Dec 2021 13:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70518 Trong mấy thập niên vừa qua Australia đã tạo nhiều điều kiện cho Trung Quốc phát triển. Australia đã cho Trung Quốc khai thác nhiều tài nguyên, mở cửa cho doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư, cho học sinh Trung Quốc được đến học ở tất cả các trường đại học, đặc biệt cho người Trung Quốc được mua nhà đất và định cư tại Australia. Trung Quốc cũng đã nhập khẩu từ Australia thịt bò, hoa quả, rượu vang… đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của hàng tỉ dân.

Gạt ra sự bất đồng về chế độ chính trị, hai nước đã trở thành đối tác quan trọng về kinh tế. Nhưng khi Australia lên tiếng phản đối Trung Quốc đòi chủ quyền phi lý trên Biển Đông, ngang nhiên bồi đắp các đảo mà họ đánh chiếm của Việt Nam, cản trở con đường hàng hải thì Trung Quốc đã tỏ thái độ đe dọa Australia. Đặc biệt, tháng 4 năm 2020, chính phủ Australia dẫn đầu nỗ lực kêu gọi mở cuộc điều tra độc lập nguồn gốc Covid ở Vũ Hán thì Trung Quốc ra tuyên bố phản đối. Đồng thời Trung Quốc phủ đầu Australia bằng những đòn đánh thương mại.

Từ năm 2009 đến năm 2019, xuất khẩu từ Australia sang Trung Quốc tăng gấp ba lần, đạt khoảng 110 tỷ USD/năm. Gần một nửa kim ngạch thương mại song phương là quặng sắt của Australia, nguồn nguyên liệu quan trọng giúp nền kinh tế Trung Quốc thỏa cơn đói thép, phục vụ tăng trưởng nóng bằng ngành xây dựng. Ngoài quặng sắt còn có than đá khí đốt giúp cho ngành điện của Trung Quốc và nông sản giúp cho nhu cầu tiêu dùng của người dân Trung Quốc.

Với kim ngạch thương mại nêu trên, Trung Quốc tưởng rằng với đòn trừng phạt thương mại thì sẽ đẩy Australia vào khó khăn và buộc phải nhượng bộ. Nhưng thực tế không phải như vậy mà đòn trả đũa thương mại của Trung Quốc với Australia lại là gậy ông đập lưng ông.

Những biện pháp trả đũa thương mại của Trung Quốc tác động không đáng kể lên nền kinh tế của Australia mà ngược lại, Bắc Kinh lại phải trả giá quá đắt.

Không nhập than từ Australia thì ngành nhiệt điện của Trung Quốc ngưng trệ dẫn đến thiếu điện trầm trọng. Trong khi đó nhiều nước lại nhập khẩu than từ Australia và bán lại cho Trung Quốc với giá cao hơn nhiều so với việc Trung Quốc nhập khẩu từ Australia. Thế là than Australia vẫn đến Trung Quốc với giá cao hơn nhiều. Không nhập quặng sắt thì ngành luyện kim của Trung Quốc cũng rơi vào tình thế khó khăn và ảnh hưởng đến không chỉ ngành xây dựng mà cả với nhiều ngành công nghiệp khác. Không nhập khẩu hàng nông sản từ Australia, thị trường tiêu dùng của Trung Quốc rơi vào khan hiếm. Điều nực cười hơn là hàng nông sản từ Australia lại đi vào Hồng Kông rồi vào Trung Quốc.

Australia đã chuyển hướng xuất khẩu than đá sang Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, chuyển hướng xuất khẩu lúa mạch sang Arab Saudi và Đông Nam Á.

Bộ trưởng tài chính Australia Josh Frydenberg đã tuyên bố “chúng ta chứng minh nền kinh tế đất nước vô cùng kiên cường”. Còn chính phủ của Thủ tướng Sott Morrison có thể tự tin đẩy mạnh những chính sách cứng rắn hơn với Trung Quốc.

H.B

]]>