Biển Việt Nam – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 20 Dec 2021 16:14:40 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Nhìn từ biển vào: Các quan điểm về bờ biển Bắc và Trung Việt Nam (Phần cuối) https://biendong.net/2021/12/23/nhin-tu-bien-vao-cac-quan-diem-ve-bo-bien-bac-va-trung-viet-nam-phan-cuoi/ Thu, 23 Dec 2021 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70796 Đảo Vân Đồn và khu vực Hải Dương, Quảng Ninh ngày nay từng là một cấu phần quan trọng trong giao thương giữa Đại Việt và các quốc gia xung quanh giai đoạn thời nhà Trần và đầu nhà Lê.

Vân Đồn – một hải cảng chính của Đại Việt trong thời Trần.

Vân Đồn, hải cảng chính của Đại Việt trong thời nhà Trần và đầu nhà Lê đã không được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Sự kiện Vân Đồn, địa điểm có vẻ xa xôi và bị cô lập, đã được chọn làm hải cảng chính của xứ sở được nhìn như một sự xác nhận quan điểm cho rằng các triều đại Việt Nam ưa thích việc hoạt động ngoại thương nên được thực hiện ở nơi càng xa càng tốt đối với kinh đô và rằng hoạt động như thế không mang tính cách trung tâm của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhớ lại rằng cho đến thế kỷ thứ XV, thủy lộ chính nối liền kinh đô của Đại Việt và bờ biển Trung Hoa là con sông Bạch Đằng (khi đó là phụ lưu chính của sông Hồng, trong khi giờ đây phụ lưu chính chảy giữa Nam Định và Thái Bình), khi đó chúng ta sẽ thấy Vân Đồn tọa lạc trên thông lộ chính của thời đại. Nó đã được phát triển trong “cuộc cách mạng thương mại” đầu tiên của Trung Hoa dưới thời nhà Tống, và tọa lạc ở trung tâm khu mậu dịch Vịnh Bắc Việt nằm giữa đảo Hải Nam và Qinzhou, cả hai địa điểm được lui tới thường xuyên bởi các thương nhân Phúc Kiến, Chàm và Hồi Giáo. Chính sách của nhà Nguyên ưu đãi các quan chức, thương nhân, phong tục Hồi Giáo tại Phúc Kiến chắc hẳn đã góp phần nhiều hơn vào sự vươn cao của khu vực mậu dịch được thúc đẩy bởi Hồi Giáo này.

Một khu như thế trở nên rõ nét hơn khi chúng ta đưa các khu vực sản xuất đồ gốm chính yếu của Đại Việt thời điểm này vào bức tranh chung. Đã có một sự tăng trưởng dân số quan trọng trong thời khoảng giữa năm 1200 đến năm 1340 – con số được gia tăng gấp đôi theo tác giả Yumio Sakurai – hẳn đã cổ vũ cho sự phân công và thúc đẩy ngành sản xuất thủ công nghệ. Đồ gốm được sản xuất tại nhiều địa điểm trong nước, chẳng hạn như Thanh Hóa và Thiên Trường. Từ thập niên 1350 trở đi, một số lò nung không chính thức xuất hiện tại khu vực giờ đây là Hải Dương, sản xuất các đồ gốm với sự tinh xảo cao cấp, đánh dấu một giai đoạn tiên tiến của sản xuất của người Việt Nam. Đa số trong tám lò nung này thuộc vùng Chu Đậu, chỉ cách Vân Đồn một đoạn đường sông ngắn. Động cơ cho sản xuất đồ gốm này là thị trường Chàm/Hồi Giáo và điều đáng ghi nhận là sự phát triển đồ gốm Việt Nam trong suốt thế kỷ thứ XIV trùng hợp với thời cực thịnh của xứ Chàm, dưới vị vua được biết trong tiếng Việt là Chế Bồng Nga. Có bằng chứng rằng đồ gốm màu thiên thanh và trắng của Đại Việt đã được sản xuất để đáp ứng với nhu cầu từ các thương nhân phục vụ cho thị trường Tây Á, với các sản phẩm ngọan mục nhất được xuất cảng đến tận các nơi xa xôi như Ba Tư, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ. Các đồ gốm Việt Nam cũng đã được tìm thấy tại các khu vực Hồi Giáo lân cận, chẳng hạn như vùng Sulawesi và miền Trung và Nam Phillippines. Đồ gốm của Chàm tại Gò Sanh cũng được tìm thấy tại cùng các địa điểm này.

Đồ gốm Đại Việt đặc biệt được thiết kế cho việc bán ở nước ngoài làm nổi bật sự hội nhập của xứ sở vào thi trường quốc tế. Chúng ta biết rằng các viên gạch lót men bóng với hình dạng khác nhau đã được chế tạo cho miền đông Java, theo các kiểu mẫu được cung cấp bởi triều đình Majapahit, và các loại đất nung và men bóng khiến ta nghĩ rằng chúng được sản xuất tại vùng Hải Dương. Điều cũng đáng lưu ý là các tạo phẩm Việt Nam cũng được tìm thấy trong một chiếc tàu bị đắm (khoảng năm 1370-1380) được trục vớt trong năm 1995 tại miền nam Phillippines bao gồm các hạt xâu chuỗi bằng thủy tinh và các chiếc nhẫn bằng đồng, biểu lộ tính phức tạp trong các sản vật được trao đổi xuyên khắp các hệ thống mậu dịch tại Đông Nam Á.

Cái nhìn từ biển vào này cũng còn chiếu rọi ánh sáng mới về ngành thủ công tại khu vực Hải Dương. Nhiều nhà buôn bán hàng thủ công tại Hà Nội tại 36 phố phường nổi tiếng (giờ được gọi là khu phố cổ) truy nguyên nguồn gốc của họ ở Hải Dương – thợ nề, thợ mộc, thợ nhuộm, làm giầy da, và những người có kỹ năng trong việc đục chạm gỗ hay trong ngành in, cũng như những người làm đồ kim loại tại phố Hàng Đồng và Hàng Bạc. Trong thực tế, ngay từ thế kỷ thứ XIII, Hải Dương đã sẵn nổi tiếng về việc chế tạo một loại nón bằng tre (nón Ma Lôi), không khác gì nón tre nổi tiếng của Huế trong thế kỷ thứ XVIII.

Danh sách các nghề nêu trên không thuần sử dụng các nghệ nhân; mỗi ngành cũng sẽ đòi hỏi đến hàng ngàn thợ lao động. Thí dụ, ngành đồ gốm, cần đến nhiều lao động: một sản phẩm duy nhất có thể phải đi qua ít nhất 12 đôi bàn tay trước khi hoàn tất. Làm gạch, ít phức tạp hơn, liên hệ không chỉ đến các nghệ nhân mà còn đến cả các công nhân đốn củi trên núi đồi hay sản xuất than đá, cũng như đào và chế biến đất sét từ các vùng lân cận. Tại đảo Vân Đồn, có phế tích của bẩy ngôi chùa thời Trần, khiến chúng ta nghĩ đến một khối lượng đáng kể các vật liệu xây cất đã được sử dụng và chuyên chở đến đó. Con số các người liên hệ một cách gián tiếp đên ngành thủ công nghiệp tại Hải Dương, trong các lĩnh vực chẳng hạn như vận tải đường đất hay đường biển, xây dựng và biến chế thực phẩm hẳn phải là đáng kể.

Công nghiệp đồ gốm tại Hải Dương, bởi thế, không phải là hiện tượng phát sinh một cách ngẫu nhiên được thực hiện bởi một nhóm nhỏ các làng có tính cách nông thôn. Giống như nhiều trung tâm thương mại tại Trung Hoa, nó là một công nghiệp chuyên môn hóa được phát triển nhịp nhàng với các công nghệ địa phương khác; điều này cũng đúng cho việc đóng tàu thuyền, dệt vải, và sản xuất muối.

Trong khi sự tổ chức chính xác của ngành thủ công nghiệp trong giai đoạn này còn cần sự nghiên cứu thêm nữa, các ngôi chùa Phật Giáo có thể đã đóng một vai trò then chốt trong việc nối kết giới thượng lưu tinh hoa, sản xuất và các thị trường. Điều rõ ràng là các ngôi chùa đã là các khách hàng quan trọng nhất về đồ gốm và các vật liệu xây cất.

Điều đáng lưu y khi chúng ta nhớ lại rằng núi Yên Tử, trung tâm Phật Giáo chính của Đại Việt hồi cuối thế kỷ thứ XIII, tọa lạc trong miền này, Quảng Ninh ngày nay. Đây là nơi mà Hoàng Đế Trần Nhân Tông đã thiết lập một phái Phật Giáo Việt Nam nổi tiếng, Phái Trúc lâm – ngay tại trung tâm của khu mậu dịch. Một ngôi cùa nổi tiếng khác, Quỳnh Lâm, cũng đã được xây dựng tại khu vực này bởi nhà sư lừng danh, Pháp Loa, người được cho là đã đúc 1300 tượng Phật bằng đồng trong suốt cuộc đời của ông. Một công việc như thế sẽ đòi hỏi một số lượng tiền lớn và một khối nhân lực đáng kể, nhưng điều còn nổi bật hơn nữa là khối lượng đồng, khi xem xét rằng Đại Việt đã không sản xuất ra kim loại đó trong thời kỳ này. Xứ Chàm, qua các liên kết của nó với các thương nhân từ Trung Đông, có thể đã là nguồn cung cấp quan trọng kim loại này. Chàm cũng có thể tác động như một nguồn cảm hứng tôn giáo cho Đại Việt trong thời kỳ này. Điều quan trọng cần nhận thức rằng Đạo Phật Phái Đại Thừa (Mahayana) phát triển đáng kể cả ở Chàm lẫn Đại Việt, đã giải thích cho các cuộc thăm viếng của Vua Trần Nhân Tông đến nước láng giềng phương nam của ông.

Khu vực này cũng là trung tâm chính trị cụ thể của triều đình nhà Trần trong hơn 150 năm. Như các vua nhà Trần nhiều lần tuyên bố, gia tộc họ “khởi lên từ vùng duyên hải”. Khởi đầu trong năm 1239, triều đình nhà Trần đã xây dựng một nhóm các cung điện khác tại quê hương của họ thuộc huyện Thiên Trường, gần Nam Định ngày nay, một địa điểm gần biển hơn nhiều so với Hà Nội. Giống như Ayudhya một thế kỷ sau này, trung tâm chính trị này “được bao quanh bởi nước thủy triều, và bờ biển đầy các loại cây và hoa thơm ngát. Các chiếc thuyền giải trí được sơn vẽ một cách vui tươi đi tới đi lui [cung điện] giống như một khu đất thần tiên”. Các vua nhà Trần cư trú tại các cung điện ở Thiên Trường thường xuyên hơn là ở Hà Nội, biến khu vực này thành kinh đô trong thực tế.

Một quần thể tụ hội các trung tâm mậu dịch, tôn giáo và chính trị như thế tọa lạc cạnh nhau – và cạnh các trung tâm chính của ngành sản xuất đồ gốm – có vẻ xác định một mô thức cho các thể chế cổ xưa. Thể chế dọc dòng sông là một tổ chức ba thành phần trong đó một trung tâm tôn giáo (thường ở trên núi), một trung tâm chính trị (trong đồng bằng đất phù sa bồi đắp) và một thành phố hải cảng được nối liền với nhau bằng các đường sông. Các thí dụ khác về các sự nối kết giữa các trung tâm tôn giáo và các hải cảng là các sự liên kết giữa Mỹ Sơn và Hội An tại miền trung Việt Nam hay giữa Cát Tiên (tại tỉnh Lâm Đồng) với Cần Giờ (ngoại thành của Sài Gòn).

Cái nhìn từ biển vào phóng chiếu ra sự nghiêm trọng về mô thức nông nghiệp Trung Hoa trên nền kinh tế chính trị và tình trạng chủng tộc của Việt Nam thủa ban đầu, và đã đẩy Đại Việt lại gần hơn phần còn lại của Đông Nam Á. Chúng ta nhìn thấy các dây liên kết trải dài từ bờ biển này đến bờ biển kia tại Vịnh Bắc Việt, cũng như giữa Vịnh và quần đảo và xa hơn nữa.

T.P

]]>
Nhìn từ biển vào: Các quan điểm về bờ biển Bắc và Trung Việt Nam (Phần 2) https://biendong.net/2021/12/20/nhin-tu-bien-vao-cac-quan-diem-ve-bo-bien-bac-va-trung-viet-nam-phan-2/ Mon, 20 Dec 2021 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70793 Vùng đất Giao Chỉ và bờ biển Bắc và Trung Việt Nam đã từng có mỗi liên hệ thương mại chặt chẽ với các quốc gia Hồi Giáo từ cổ sử. Tạp chí Phương Đông trích dịch phần tiếp theo nghiên cứu của học giả Li Tana để làm rõ hơn chủ đề thú vị này.

Giao Chỉ có vị trí trung gian chiến lược trong thương mại giữa Trung Hoa và các nước Hồi giáo.

Giao Chỉ Dương trong phối cảnh quốc tế: quan hệ với người Hồi

Các thương gia Hồi, một danh xưng gộp chung chỉ các thương nhân có gốc miền Nam Á – và sau này vùng Trung Đông – cũng đã có các sự tiếp xúc quan trọng với Đại Việt. Từ thời nhà Hán trở về sau, các thương nhân gốc Hồi được khích lệ đến thăm viếng Giao Châu, bởi giá trị chính yếu của nó [đối với Trung Hoa] là về thương mại. Thí dụ, dưới thời cai trị của Thái Thú Sĩ Nhiếp (Shixie) trong thời khoảng giữa các năm 187-226, vài chục người Hồi được ghi chép đã hộ tống cỗ xe của ông và đốt các nén hương dọc con đường bất kỳ khi nào ông đi ra ngoài. Giao Châu là nơi mà các thương nhân và quan chức Trung Hoa có thể gặp gỡ các thương nhân ngoại quốc ở giữa đường. Một truyền thống trung gian như thế xem ra vẫn còn được giữ lại sau khi dân Việt giành lại nền độc lập của họ trong thế kỷ thứ X. Khi các sứ giả Mông Cổ đến thăm viếng Đại Việt năm 1266, họ nhận thấy một số khá đông các người Hồi cư ngụ tại đó. Sự khám phá này đưa đẩy đến một bức thư được viết bởi hoàng đế Mông Cổ Kublai gửi Đại Việt trong năm 1267, trong đó ông ta chỉ trích triều đình Việt về việc không cho phép nhiều người Hồi tiếp xúc với các sứ giả của ông trong cuộc thăm viếng của họ. Trong năm 1268, Kublai tiếp tục một nỗ lực khác để tiếp xúc với người Hồi Hột tại Đại Việt, đòi hỏi rằng Hoàng Đế Trần Thánh Tông phải gửi các thương nhân người Hồi sang Trung Hoa để ông ta có thể hỏi thăm họ về tình hình tại Trung Đông. Vua [Trần] Thánh Tông trả lời một cách né tránh, tuyên bố rằng chỉ có hai thương nhân gốc Hồi trong xứ sở, nhưng cả hai đều đã chết, nên yêu cầu của Kublai không thể đáp ứng được, điều mà hoàng đế [Mông Cổ] đã tức giận tố cáo như một sự nói dối.

Như các biên niên sử của chính Việt Nam đã chứng minh, Kublai đã có lý khi nói các sự móc nối đã hiện hữu giữa Đại Việt, Trung Hoa và vùng Trung Đông. Bộ Toàn Thư chép rằng trong năm 1274, không lâu sau khi có biến cố nêu trên, một đoàn khoảng 30 chiếc thuyền đi biển đã đến từ Trung Hoa. Trên các con thuyền là các di dân mang theo tài sản và gia đình của họ. Họ tự gọi mình là “Hồi Kê, từ ngữ gần như chắc chắn là một danh từ gọi sai của từ ngữ Hồi Hột. Hẳn phải có một số lượng đáng kể người dân cùng gốc với họ đã sống tại Đại Việt mới khiến họ làm một cuộc di chuyển lớn như thế. Sự hiện diện văn hóa vùng Trung Đông tại nước Đại Việt thời nhà Trần cũng được ghi rõ trong cùng nguồn tài liệu này. Thực tế, trong năm 1268, chính năm mà vị Hoàng đế Mông Cổ yêu cầu một cuộc thăm viếng của các thương nhân gốc Hồi từ Đại Việt, nhà vua trị vì Trần Thánh Tông và người em của ông được nói đã nhảy múa theo điệu Hồ [trong nguyên bản, chứ không phải là Hồi, chú của người dịch] tại cung điện hoàng gia để làm trò vui cho vua cha, Thái Thượng Hoàng Trần Thái Tông. Bộ Toàn Thư đặc biệt ghi chép rằng Thái Thượng hoàng đã thay đổi để mặc áo choàng bằng vải trắng trong dịp này. Điều cần ghi nhận rằng mặc quần áo vải trắng tại một buổi lễ không phải là phong tục của Trung Hoa hay Việt Nam vào thời điểm đó; đúng hơn, nó có vẻ phù hợp với tập quán của vùng Trung và Nam Á là ‘mặc đồ trắng trong dịp mừng lễ và đồ đen trong dịp để tang”.

Con của Thánh Tông, Hoàng Đế Trần Nhân Tông, đã nhiều lần đến thăm viếng xứ Chàm trong tư cách cá nhân như một Phật tử. Nơi đó ông gặp gỡ nhiều người đến từ vùng Trung Đông, điều sẽ mở cánh cửa cho các ảnh hưởng văn hóa của Hồi. Chỉ trong một bối cảnh như thế chúng ta mới có thể hiểu được các sự ghi chép xem ra có tính cách biệt lập hay ngẫu nhiên trong bộ Toàn Thư, chẳng hạn như sự đề cập trong năm 1304 về “các nhà sự thiền định đến từ xứ Chàm, chỉ uống sữa không thôi”. Trong năm 1311, có một nhà sư gốc Hồi khác xưng mình đã sống 300 tuổi, và được nói có khả năng đi trên mặt nước và thực hiện các hành vi siêu nhiên khác chẳng hạn như lộn ngược bên trong ra ngoài để phơi bày nội tạng của mình. Đây là cuộc thăm viếng thứ nhì của ông ta tại Đại Việt; lần này ông mang theo cô con gái và đã gả cho Hoàng Đế Anh Tông. Cuộc hôn phối này nhiều phần được sắp xếp bởi vua Nhân Tông, người đã tiếp nhà sư trong kỳ thăm viếng đầu tiên của ông ta. Triều đình Đại Việt có các sự tiếp xúc thường xuyên với xứ Chàm và xa hơn thế cũng đã được chứng minh bởi các kỹ năng ngôn ngữ của giới quý tộc nhà Trần, tiếp thụ được nhờ ở vị thế trung gian của Đại Việt trong sự hải hành: Tướng quân Trần Quang Khải, thí dụ, thông thạo nhiều ngôn ngữ, giống như người anh em của ông, ông Hoàng Trần Nhật Duật. Ông Hoàng kể sau đã có thể nói chuyện với các sứ giả từ Temasek (Singapore ngày nay) bằng ngôn ngữ của họ, theo Toàn Thư; đây có thể là tiếng mã Lai, nhưng cũng có thể là tiếng Ba Tư hay Ả Rập.

Dân Việt chắc chắn đã khai thác vị trí trung gian của họ giữa các nước hải ngoại với Trung Hoa. Một trong những sản phẩm của Đại Việt trong thế kỷ thứ XIII là các vòng đeo tay có mùi thơm. Để chế tạo các vòng đeo tay này, dân Việt sẽ trộn các bột hương liệu với đất bùn, nặn đất sét thành hạt và xâu chúng bằng sợi lụa màu, được nghĩ thu mua được từ các thương nhân vùng Tây hay Nam Á. Các chuỗi hạt này sau đó được mang sang Trung Hoa để bán và rất được ưa chuộng bởi phụ nữ ở đó. Các vòng đeo tay này cũng có thể đã được tái xuất cảng từ Trung Hoa sang các nơi khác của Đông Nam Á; các đồ gốm của Việt Nam được tìm thấy trong một chiếc thuyền bị đắm tại miền Nam Philippines bao gồm các hạt bằng thủy tinh.

Đảo Hải Nam và các liên hệ Hồi Giáo

Liên hệ tổng quát của Hồi Giáo với vùng này trở nên rõ ràng hơn khi đảo Hải Nam được đặt trong khung cảnh này. Giao Chỉ đã có các liên hệ chặt chẽ với Hải Nam; vị nữ thần địa phương chính yếu của Hải Nam là Lê Mẫu (Mẹ của sắc dân Lê), thí dụ, đã được mô tả như sau: “Bà ăn trái cây của vùng núi đồi và sống trên các vòm cây. Rồi thì có một người đàn ông từ Giao Chỉ vượt biển và đến đảo Hải Nam để để thu gom gỗ trầm [một hương liệu]. Bà Lê Mẫu đã kết hôn với ông ta và họ có sinh ra nhiều con cháu. Chỉ khi đó họ mới khởi sự khai khẩn đất đai và nuôi trồng thực phẩm”. Điều đáng chú ý, khu vực của bà ta, Lê Mẫu Sơn, là địa điểm của gỗ trầm hương tốt nhất. Thần thoại địa phương này không chỉ ra dấu về nguồn gốc của gỗ trầm hương của Giao Chỉ, mà còn về các quan hệ đan kết và thân mật hơn giữa Giao Chỉ và đảo Hải Nam. Các tài liệu khác về thời nhà Tống cũng chứng thực rằng người Dan từ Đại Việt có đến thăm viếng Hải Nam để góp nhặt gỗ trầm, mặc dầu mậu dịch với dân Hải Nam là một nguồn cung cấp đáng tin cậy hơn cho loại sản vật này. Sắc dân Lê ở đó “sống bằng nghề mua bán gỗ trầm”, theo tập Zhufanzhi. Bởi thế, một số “các kẻ thu nhặt” từ Giao Chỉ có thể là những người Việt Nam đến đảo Hải Nam để mua bán.

Các loại gỗ trầm này, tạo thành bộ phận quan trọng trong hàng hóa Việt Nam, sẽ tái xuất hiện tại địa điểm mậu dịch ở Qinzhou trong tỉnh Quảng Tây, nơi chúng được trao đổi lấy lụa với các thương nhân Trung Hoa đến từ những nơi xa xôi như tận Tứ Xuyên: Mọi đồ nhật dụng của Giao Chỉ tùy thuộc vào Qinzhou, chính vì thế các con tàu thường xuyên qua lại giữa hai nơi. Bãi mua bán nằm phía Đông con sông, bên ngoài thị trấn. Những người đến với hải sản để đổi lấy gạo và vải bông trong số lượng nhỏ được gọi là sắc dân “Dan của Giao Chỉ”. Những thương nhân giàu có đến mua bán từ khu vực biên giới [của Đại Việt] thuộc huyện Vĩnh Yên đến Qinzhou, những người này được gọi là “mối hàng nhỏ” (xiaogang). “Mối hàng lớn” (dagang) để chỉ các sứ giả được phái đi bởi triều đình [Đại Việt] để mua bán tại đây. Các sản phẩm mà họ mậu dịch là vàng, bạc, đồng tiền bằng đồng, gỗ trầm, nhiều loại gỗ có mùi thơm khác nhau, ngọc trai, ngà voi và sừng tê giác. Các nhà mậu dịch cỡ nhỏ bên phía chúng ta đến để trao đổi giấy, bút viết, gạo và vải bông với dân Giao Chỉ không đáng để ý mấy; nhưng có các thương nhân giàu có mà hàng gấm từ vùng Shu (Tứ Xuyên) đến Qinzhou để trao đổi lấy hương liệu mỗi năm một lần, thường liên quan đến cả hàng nghìn đồng quan bằng tiền mặt… Giao Chỉ là bên tham gia quan trọng nhất trong công cuộc mậu dịch trên bờ biển Trung Hoa nằm trong Vịnh Bắc Việt và các sự trao đổi thực hiện tại khu vực này đã được phát triển và hoàn chỉnh. Công cuộc mậu dịch này có thể được xem hoặc có tính chất cấp miền hay địa phương, với sự di chuyển một khoảng cách ngắn bằng thuyền. Mậu dịch chắc chắn là một phần cốt yếu trong đời sống của nhiều người dân trong vùng này.

Tuy nhiên, liên hệ sinh tử nhất của Hải Nam với thế giới bên ngoài là người Chàm; bắt đầu từ thời Tống, các sứ giả Chàm thường ghé chân đầu tiên tại Hải Nam trước khi tiến vào lục địa. Điều được xác định từ lâu rằng các thương nhân tích cực nhất tại đảo Hải Nam đến từ hay xuyên qua xứ Chàm, nơi mà các nhà mậu dịch Hồi Giáo có thiết lập các trạm như một mắt nối kết trong sợi dây xích mậu dịch chạy dài của họ.

Trong khung cảnh này, điều không tưởng tượng được là các nhà mậu dịch Hồi Giáo lại không để lại các dấu vết bao quanh khắp Vịnh Bắc Việt, tại Qinzhou, Hải Nam và xứ Chàm, nhưng cách nào đó bị trôi tuột mất bởi Đại Việt trong hàng ngàn năm mua bán và liên lạc của họ tại khu vực này – xong đây là có vẻ là điều mà văn liệu hiệu hữu cho chúng ta hay. Như tác giả Kenneth Hall đã nhận xét, mọi sự tham chiếu của người Việt về các trung tâm đô thị phương bắc đã bị pha màu bởi các thành kiến của các sử gia Khổng học sau này, đặc biệt bởi tư tưởng hoài nghi nói chung của họ đối với công cuộc mậu dịch. Trong các tình huống như thế, các liên hệ với Hồi Giáo sẽ bị tẩy xóa với nhiệt tình gấp đôi bởi các sử gia Khổng học bởi các mối liên kết này sự mang lại sự hỗn loạn và không mạch lạc trong sự xây dựng của họ một lịch sử dân tộc hợp lý cả về mặt ý thức hệ lẫn chủng tộc. Hậu quả, một phần quan yếu trong lịch sử Việt Nam bị đánh mất, như được chứng minh bằng chính bộ Toàn Thư: ít nhất trong hai trường hợp, danh xưng của sắc dân và xứ sở nước ngoài đã bị ghi chép sai lạc; một là trường hợp Huihu (Hồi Hồ) nêu trên, và trường hợp kia là Temasek. Bởi lý do này, hai đối tác mậu dịch quan trọng của Đại Việt vào lúc này đã biến mất dạng vào trong các danh xưng lạ lùng và không quen thuộc mà người ta đã giả định là không quan trọng và có tính cách địa phương. Sự kiện này kế đó củng cố hơn nữa cảm tưởng về Đại Việt như là một nước tù túng về thương mại quốc tế và là một nơi ít có các sự dính líu đến phần còn lại của thế giới. Được viết ít nhất 150 năm sau các biến cố đã được trình bày và dưới thời mà ý thức hệ Khổng Học ở địa vị không chế, các nhà biên tập bộ Toàn Thư biểu lộ ít sự quan tâm đến các danh xưng của các dân tộc mà các tổ tiên người Việt của họ đã thương thảo trên một căn bản khá thường xuyên. Một bộ phận bằng chứng có tính chất quyết đoán cho thấy làm sao các nền văn hóa và truyền thống khác nhau đã nuôi dưỡng và định hình xã hội Đại Việt chính vì thế đã bị phân tán và vùi lấp dưới lớp bụi bặm.

T.P

]]>
Nhìn từ biển vào: các quan điểm về bờ biển Bắc và Trung Việt Nam (Phần 1) https://biendong.net/2021/12/17/nhin-tu-bien-vao-cac-quan-diem-ve-bo-bien-bac-va-trung-viet-nam-phan-1/ Fri, 17 Dec 2021 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70789 Biển Đông, đặc biệt khu vực bờ biển miền Trung Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt trong hệ thống thương mại khu vực từ rất xa xưa. Tạp chí Phương Đông trích dịch phần đầu tiên nghiên cứu về các quan điểm về bờ biển Bắc và Trung Việt Nam của học giả Li Tana để làm rõ hơn chủ đề này.

Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1834 khẳng định rõ chủ quyền của Việt Nam về hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Giao Chỉ Dương và vai trò then chốt của miền Trung Việt Nam

Trái với sự tin tưởng phổ quát rằng Giao Chỉ (miền Bắc Việt Nam) được nối liền với Trung Hoa bởi các hải lộ chật hẹp của Vịnh Bắc Việt, cho tới thời nhà Đường, vịnh này vẫn được né tránh khi du hành giữa Giao Chỉ và Trung Hoa bởi có đá lớn nằm ngầm dọc bờ biển. Đây là lý do tại sao Mã Viện (Ma Yuan), “Phục Ba Tướng Quân” thời nhà Hán, đã phải “mở các lối đi xuyên qua núi để “tránh biển” trong chiến dịch của ông ta chống lại Giao Chỉ hồi thế kỷ thứ nhất. Trở ngại này chỉ được khuất phục vào thế kỷ thứ chín, khi các khối đá ngầm được tháo gỡ đi dưới thời quan thái thú nhà Đường nổi tiếng, ông Gao Pian (Cao Biền trong tiếng Việt).

Các tình trạng khó khăn tại Vịnh Bắc Việt đã đem lại miền Trung Việt Nam, đặc biệt phân khu Nghệ Tĩnh ngày nay, một vai trò lịch sử quan trọng trong sự hải hành trong vùng. Con đường biển đã chạy từ phía đông đảo Hải Nam cho đến Phúc Kiến và Quảng Đông, trong khi trên đất liền một lối đi băng ngang dãy Trường Sơn nối liền vùng mà người Trung Hoa gọi là “Lục Chân Lạp (Lu Chenla) (có thể là vùng nam Lào và / hay miền Bắc Campuchia và sau đó ra tới biển, tạo nên nền móng của một con đường nổi tiếng từ thế kỷ thứ tám. Điều nổi bật, khi con đường này được vẽ trên một bản đồ, nó nối liền với Con Đường Phía Tây (Tây Lộ) lối thông hành đường trường cổ xưa nhất để đi lại giữa biển Ấn Độ và Trung Hoa; Con Đường Phía Đông (Đông Lộ), được dùng bởi các thuyền của Trung Hoa và Đông Nam Á, đã chỉ được phát triển sau này. Chính vì thế, không như con đường kể sau, Tây Lộ cổ xưa hơn được sử dụng bởi các thương nhân từ biển Ấn Độ gần như chắc chắn là một sự kết hợp các thông lộ trên biển với đất liền, với miền Trung Việt Nam là giao lộ của nó. Phía bắc miền Trung Việt Nam ngày nay và Vịnh Bắc Việt, với vùng nội địa núi đồi của chúng, trong thực tế nằm trên Tây Lộ.

Miền Trung Việt Nam cũng phục vụ như điểm tiếp cận chính yếu của Campuchia với biển Nam Hải, điều giúp để giải thích tại sao các vua Khmer đã gửi “cống phẩm” thường xuyên đến Đại Việt (19 lần) hơn đã phái đến nhà Tống Trung Hoa (5 lần). Các nhà mậu dịch sử dụng con đường này đặc biệt được đề cập đến như có gốc gác Việt Nam trong văn bia thời ban sơ của Khmer, chẳng hạn như một văn khắc năm 987 từ vùng hạ lưu sông Cửu Long. Bằng cớ rằng miền Trung Việt Nam đã phục vụ như con đường tiếp cận hải hành cho Giao Chỉ cũng có thể được tìm thấy trong câu chuyện về vua An Dương Vương hồi thế kỷ thứ nhì trước Công Nguyên. Bị truy đuổi bởi quân đội của Triệu Đã (Zhao Tuo), “nhà vua chạy trốn ra bờ biển và đã không thể tìm thấy tàu thuyền nào để vượt thoát”, điều đáng kể, nơi nhà vua bị thất trận là Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Miền Trung Việt Nam chính vì thế gần như chắc chắn đã là cửa ngõ cho sự hải hành địa phương – nơi mà phần lớn các thương nhân, các kẻ hành hương và các sứ giả đổ bộ đầu tiên, trước khi ngược dòng sông lên trên để đến Giao Châu (Jiaozhou), kinh đô của nó. Sự vận tải trên con lộ này có thể đã nằm trong tay của các thương nhân Nam Á và Trung Đông, trong khi sự du hành giữa Giao Châu và các khu vực phía nam sẽ được thực hiện bởi các tàu hay thuyền nhỏ hơn, một lãnh vực chuyên môn của các thủy thủ người Việt trong nghiệp vụ hải hành theo tác giả Wang Gungwu. Họ chuyên chở hàng hóa từ các con tàu lớn đến từ Nam Á và Trung Đông, lực lượng chủ yếu tham gia vào việc mậu dịch tại Biển Nam Hải cho đến thời nhà Đường.

Các liên hệ lịch sử này giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam giải thích cho một từ ngữ Trung Hoa khá rối rắm, một sự giải thích quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta về miền này. Trong thế kỷ thứ XIII có xuất hiện từ ngữ Giao Chỉ Dương (Jiaozhi Yang; biển Giao Chỉ), chắc hẳn phát sinh từ danh hiệu Giao Chỉ (Jiaozhi), tên gọi cổ xưa Trung Hoa để chỉ Đại Việt. Tuy nhiên, liệu từ ngữ này để chỉ Vịnh Bắc Việt hay để chỉ biển dọc bờ biển miền Trung Việt Nam chưa bao giờ được nói rõ; trong phần lớn các nguồn tài liệu, có vẻ để chỉ phần kể sau và loại bỏ phần vịnh kể trước, trong khi ở các tài liệu khác, từ ngữ bao gồm cả hai bộ phận. Trong sự mơ hồ của từ ngữ này, giờ đây, xem ra một ký ức lịch sử đã được khắc sâu, nhìn nhận sự hợp nhất của hai khu vực, bờ biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Mặc dù chưa hề được nói ra một cách trọn vẹn, có vẻ là khu Vịnh Bắc Việt đã phải được xem như một sự nối dài của Giao Chỉ Dương, chạy dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam và trong hàng nghìn năm đã là trục then chốt của sự lưu hành giữa Đông và Tây.

Các đoạn kế tiếp sẽ khảo sát khu mậu dịch này qua việc đặt tiêu điểm vào các kẻ mua bán nô lệ, ngựa và muối trong khu vực, kéo dài từ Vân Nam và Quảng Tây tại Trung Hoa đến xứ Chàm tại miền Trung Việt Nam ngày nay, và từ vùng núi đồi ra đến biển. Sự truy tìm này tất nhiên dẫn chúng ta đến việc khảo sát địa điểm mậu dịch hàng hải và các thương nhân Hồi Giáo trong việc tham dự và định hình lịch sử của Đại Việt, trước khi quay trở về tiêu điểm của chúng ta nhắm đến lịch sử địa phương và bản đồ dân tộc học. Bằng chứng khảo sát dưới đây cho thấy mức độ khá cao của sự lệ thuộc vào hàng hải, đặc trưng cho nền kinh tế của Đại Việt cho mãi đến thế kỷ thứ XV.

Mậu dịch cấp miền tại Giao Chỉ Dương – Mua bán nô lệ

Trong khi mọi người biết rõ rằng các thương nhân Chàm là những người mua bán nô lệ tích cực, điều hiếm khi được nói đến rằng vùng đất Đại Việt có thể là một trạm chính yếu trong công cuộc mậu dịch sinh nhiều lợi này. Như được viết trong một cuốn sách của Trung Hoa hồi thế kỷ thứ XIII về đời sống và phong tục của tỉnh Quảng Tây (Guangxi) và vùng Vịnh Bắc Việt: “Không có nhiều dân địa phương trong nước này [Đại Việt], [bởi vì] một nửa dân số là từ Quảng Đông và Quảng Tây. Các thương nhân đến miền Nam thích mua người làm gia nhân cho mình, và khi họ đến các vùng núi mọi rợ, các thương nhân sẽ trói lại và đem bán họ cho các dân chúng ở đó. Giá là hai lạng vàng mỗi người. Dân miền núi sẽ bán chúng lại cho Giao Chỉ, và giá lên thành 3 lạng vàng.

Hiếm có năm nào không có hàng trăm ngàn người bị đem bán. Giá của những kẻ có tay nghề thì gấp đôi, và cho những người biết đọc và biết viết, giá lại gấp đôi một lần nữa. Một tài liệu cùng thời khác, tập Lingwai daida của thế kỷ thứ XIII, viết về các quan hệ giữa việc mua bán vàng và nô lệ một cách rõ ràng hơn nữa: “Dân chúng tại Giao Chỉ nắm lợi thế có vàng và vì thế có khuynh hướng mua người của chúng ta [tại Quảng Tây] làm nô lệ.” Khi hai sự tường thuật này được nối vào nhau cùng với một văn bản trong nguồn tại liệu đương thời nổi tiếng, tập Zhuhanzhi, ý nghĩa của sự trích dẫn dưới đây đã nổi bật lên: “Lễ hội quan trọng nhất của xứ sở [Đại Việt] diễn ra vào ngày 15 tháng Bẩy âm lịch, khi mọi gia đình trao đổi quà tặng với nhau. Các quan chức hiến tặng các nô lệ (shengkou) lên nhà vua, nhà vua sẽ ban yến tiệc cho các quan chức vào ngày 16 để đáp tạ.” Các quan chức vào lúc đó hẳn phải xem các nô lệ như các quà tặng rất quý giá, và họ biết rằng họ sẽ được tưởng thưởng vì [cống hiến] các người nô lệ này.

Biên niên sử Việt Nam có ghi thêm một mẩu bằng cớ khác về vai trò quan trọng của các nô lệ này trong thời nhà Lý (1009-1225), bổ túc cho sử sách Trung Hoa đương đại đã được trích dẫn bên trên. Theo bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, các ma thuật của một nô lệ gốc nước Đại Lý (Vân Nam) đã được sử dụng trong một âm mưu tại triều đình năm 1096 bởi chủ nhân, kẻ có ý định giết hại Hoàng Đế Lý Nhân Tông. Sự tường thuật này phù hợp với bằng cớ của Trung Hoa rằng các người có kỹ năng được đánh giá cao và rằng các nô lệ đến từ phương Bắc.

Hiện tượng mua bán nô lệ giải thích sự liên lạc thường xuyên giữa nhà Tống Trung Hoa và nhà Lý nước Đại Việt về việc đột kích và giao hoàn dân chúng. Chắc chắn là sự thiếu hụt nhân lực tại Đại Việt đã đóng một vai trò trong sự vụ này – và nhiều nô lệ Trung Hoa đã trở thành binh sĩ trong quân đội Việt Nam – nhưng nhiều người khác hẳn đã bị bán lại cho các thương nhân ngoại quốc hay lui tới Đại Việt, và kết thúc tại những nơi chẳng hạn như xứ Chàm. Các nô lệ đã là một trong các món hàng quan trọng được chuyển vận bởi các tàu biển Nam Hải (Nanhai po) được sở hữu bởi các thương nhân nước ngoài, những người đôi khi đã mang người da màu sậm được biết là các nô lệ vùng Côn Lôn [Kunlun nu: Côn Lôn nô] vào nước Trung Hoa như loại hàng hiếm có, nhưng cũng là những người đã xuất cảng các nô lệ từ đó.

Một mẩu bằng cớ về sự buôn người như thế là vua Fan Wen (Phạm Văn) (trị vì từ 331-349) của nước Lâm Ấp, một thể chế được nhìn như tiền thân của xứ mà sau này được gọi là xứ Chàm. Theo một tài liệu Trung Hoa cổ điển quan trọng, quyển Shujing zhu, Phạm Văn gốc gác từ Dương Châu (Yangzhou), thuộc Châu Thổ sông Dương Tử và đã bị bắt cóc làm nô lệ từ khi còn nhỏ. Ông bị đem bán sang Giao Châu và sau đó được mua bởi một số thương nhân người Chàm mua bán ở đó, và sau cùng dừng chân tại Lâm Ấp. Với thời gian, ông trở thành tể tướng, và sau cùng là quốc Vương của xứ sở đó. Phần lớn các sách vở trước đây có đề cập đến gốc tích Trung Hoa của Phạm Văn nhưng bỏ sót chi tiết nói rằng ông, tiên khởi, bị đem bán cho Giao Châu, trước khi được chở đến xứ Chàm, nhiều phần đã nhìn việc này có tính chất ngẫu nhiên. Tuy nhiên, khi đặt vào bối cảnh lịch sử được phác họa ở trên, nó cho thấy rằng việc mua bán nô lệ là một tập tục xưa hàng nhiều thế kỷ tại khu vực này, rằng nó có liên hệ đến cả các thương nhân Trung Hoa lẫn nước ngoài và rằng Giao Châu ít nhất đã là một đoạn đường, nếu không phải là một thị trường quan yếu trong sự mua bán này.

Điều đáng xét đoán trong bối cảnh này là sự giàu có hiển nhiên của Đại Việt trong thế kỷ thứ mười hai đã liên hệ đến mức độ nào với sự mua bán nô lệ. Thí dụ, theo đây là danh sách cống phẩm của nước này dâng cho triều đình Nam Tống trong năm 1156: “Cống phẩm cực kỳ phong phú và tất cả mọi nét chữ trong lá thư đều được viết bằng vàng. Các phẩm vật bằng vàng cân nặng 1200 lạng, phân nửa chúng được tô điểm bằng trân châu hay ngọc quý; 100 viên trân châu đựng trong các bình bằng vàng, trong đó có 3 viên to như quả cà, sáu viên to như hột mít, 24 viên to như hạt quả đào, 17 viên to như mọng dừa, và 50 viên to như hột chà là, tổng cộng là 100; 1000 cân Mã Lai [catties = 600 gram, chú của người dịch] gỗ trầm hương, 50 lông chim bói cá; 850 cuộn gấm chỉ vàng hình con rồng, sáu con ngựa dành cho hoàng triều với đầy đủ yên ngựa, ngoài số cống thường lệ là tám con ngựa và năm con voi. Các sứ giả hoàn toàn hãnh diện về việc có thể dâng các cống phẩm dồi dào đến như thế.” Cần nói thêm ít lời về kích thước của các ngọc trai được nêu ở trên. Mặc dù khu vực dọc theo bờ biển Quảng Tây (quận Hợp Phố: Hepu) và Vịnh Bắc Việt nổi tiếng về việc sản xuất ra ngọc trai, trân châu nơi đây không được tin là tốt hay to như trân châu từ Ấn Độ. 50 viên trân châu lớn được liệt kê bên trên chính vì thế có thể có nguồn gốc từ sự mua bán của Đại Việt với vùng Nam Á; nếu đúng như thế, việc này ám chỉ mức độ theo đó sự giàu có đã được trao đổi giữa hai miền. Tổng quát, bằng cớ rải rác như bằng chứng này ám chỉ rằng mức giàu có của Đại Việt triều Lý và đầu nhà Trần có lẽ khá đáng kể.

Mậu dịch cấp miền tại Giao Chỉ Dương – Ngựa từ Vân Nam và muối từ biển

Một sản phẩm trao đổi khác tại Đại Việt thời nhà Lý là các con ngựa. Ngựa là một trong những sản phẩm quan trọng nhất mà người Chàm có được từ Việt Nam. Quyển Song huiyao chép rằng người Chàm di chuyển “trên những con voi hay các võng kiệu làm bằng vải bông, còn các người khác cười ngựa được mua bán từ Giao Châu”. Tài liệu thời nhà Minh, Dongxi yangkao, cũng xác nhận rằng “trong suốt thời nhà Tống, người Chàm thường mua ngựa từ Giao Chỉ, vì thế, Giao Chỉ có các đuôi ngựa như một thổ sản của nó”. Tuy nhiên, ngựa không được nuôi dưỡng tại địa phương Giao Chỉ; chúng được mua từ các người Mán (một từ ngữ để chỉ “kẻ man rợ được dùng bởi người Trung Hoa và Việt Nam) tại khu vực biên giới Vân Nam và Quảng Tây ngày nay. Các nguồn tài liệu Việt Nam chỉ rõ các địa phương nơi ngựa có thể mua bán. Thí dụ, trong năm 1012, khi các người Mán đến các khu vực Kim Hoa và Vị Long để mua bán, Hoàng Đế Lý Thái Tổ đã ra lệnh rằng “họ và hơn 10.000 con ngựa của họ phải bị bắt giữ”. Trong các cuộc đột kích như thế, đôi khi được chỉ huy bởi chính các nhà vua cầm quyền của nước Việt, các con ngựa là một trong các sản phẩm được truy lùng nhiều nhất. Quyển Việt Sử Lược hồi thế kỷ thứ mười ba ghi chép rằng trong năm 1008, Hoàng Đế Lê Ngọa Triều “thân chinh cầm đầu một cuộc đột kích vào hai huyện Đô Lang [Lương] và Vị Long, bắt giữ người Mán và vài trăm con ngựa”. Trong cả hai trường hợp, khu vực Vị Long hiện ra từ sử sách như một nguồn trọng yếu [cung cấp] ngựa cho Đại Việt. Điều này xem ra để giải thích, ít nhất một phần, lý do tại sao trong nhiều thế kỷ triều đình nhà Lý đã hướng mắt nhìn bén nhậy đến khu vực và đã gả nhiều công chúa cho thổ tù địa phương, gia tộc họ Hà (He, trong chữ Hán).

Sản phẩm thông thường nhất mà người Việt trao đổi lấy ngựa là muối. Quyển Lingwai daida ghi chép rằng “người Fan [Phan?] một từ ngữ khác để gọi các kẻ man rợ bán ngựa cho chính quyền hàng năm để đổi lấy các sản vật, muối và trâu bò; nếu không làm được như thế, họ sẽ ngăn cản các đường ngựa đi qua”. Một cách đáng lưu ý, người Việt đã không nhất thiết sản xuất ra mưối mà họ đã trao đổi lấy ngựa. Quyển Việt Sử Lược cho thấy rằng mãi cho đến năm 1206, phần lớn khu duyên hải bị cai trị bởi các hùng trưởng địa phương; thí dụ, hai khu sản xuất muối quan trọng là Đằng Châu và Khoái Châu (tại tỉnh Hưng Yên ngày nay) nằm dưới quyền của hai sứ quân hơn là dưới quyền kiểm soát của các hoàng đế nhà Lý. Như tác giả John Whitmore đã vạch ra, bức rào cản giữa miền hạ Đại Việt và thượng Đại Việt chỉ được gỡ bỏ trong thập niên 1220 như là kết quả của một nỗ lực chung giữa nhà Lý và những người kế nhiệm họ tức triều đại nhà Trần (1225-1400), và đó chính là lần đầu tiên trong lịch sử mà hai miền thực sự nối liền với nhau.

Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá soạn thế kỷ 17 xác định giữa biển khơi có Bãi Cát Vàng và xứ Trường Sa.

Từ quan điểm này, việc trao đổi ngựa tạo thành một trong các mối liên kết then chốt trong sợi dây chuyền mậu dịch vùng núi – vùng biển của miền này và đã là một thành tố quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Chỉ trong bối cảnh này người ta mới có thể hiểu được, thí dụ, tại sao xứ Nam Chiếu, và các con đường dẫn đến nơi đó, là mối bận tâm của các nhà cai trị Việt Nam đương thời cũng như của Trung Hoa; và làm sao mà một vương quốc có vẻ quá xa xôi với người Việt Nam hiện đại lại có thể xâm lăng vào kinh đô Việt Nam bốn lần (trong các năm 846, 860, 862 và 863) và đã chiếm giữ nó trong hai năm (863-865). Các con ngựa trong thực tế chính là lý do mà các hùng trưởng địa phương lôi cuốn xứ Nam Chiếu hùng mạnh sang xâm lăng lãnh địa của họ, sau khi Li Zhuo, viên Thái thú Trung Hoa tại vùng khi đó nhà Đường gọi là An Nam Đô Hộ Phủ, đã cưỡng hành một giá thấp phi lý trong tỷ lệ trao đổi giữa muối và ngựa. Xa hơn, cũng có thể lập luận rằng chính cùng các cuộc xâm lăng của Nam Chiếu này đã làm suy yếu rất nhiều sự thống trị của nhà Đường tại vùng đất bảo hộ và chính vì thế đã mở đường cho sự độc lập của dân Việt trong năm 939. Ngay trong thế kỷ thứ XII, Vân Nam hãy còn đóng giữ một vai trò quan trọng trong chính trị Việt Nam, khi hoàng gia nước Đại Lý có thừa nhận một vị hoàng tử hạ sinh bởi một nàng phi của vua Lý Nhân Tông, ban cho hoàng tử này quốc tính (Zhao: Triệu?), và trợ giúp ông các đội quân khi ông hoàng này mưu toan tuyên nhận ngai vàng sau khi có sự từ trần của vua cha.

Tất cả các thí dụ trên đây tiêu biểu cho các tính chất chính yếu của Giao Chỉ như một hải cảng quốc tế. Như đã ghi nận ở trên, Giao Châu và Quảng Châu đều nổi tiếng như các trung tâm mậu dịch từ thời nhà Đường, nhưng hai nơi khác biệt ra sao thì chưa bao giờ được nêu rõ ra, hay ít nhất, được nói ra một cách rõ rệt. Giờ đây, có vẻ là trong khi Quảng Châu đã tiếp nhận phần lớn khối lượng mậu dịch của nó bằng đường biển, Giao Châu tự xác định nghiêng về mậu dịch miền núi và trên đất liền nhiều hơn, xuyên qua các sự liên kết của nó với các miền Khmer, Chàm, Lào và Vân Nam. Các sự nối kết này đã trở nên dễ dàng hơn bởi các mối tương thông sông – biển của nó, trong đó miền trung Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng. Kết quả, các sản vật nhờ đó Giao Chỉ trở nên nổi tiếng trong suốt nhiều thế kỷ phần lớn lại không phải là các sản phẩm chính địa phương mình, như được nhấn mạnh bởi nội dung của một danh sách “cống phẩm” từ Ngưu Hống (chung quanh vùng ngày nay là Yên Châu, tỉnh Sơn La) và Ai Lao (một địa điểm thuộc Lào ngày nay) lên Đại Việt trong năm 1067: “vàng, bạc, hương liệu, sừng tê giác và ngà voi”.

T.P

]]>