chủ tịch Tập Cận Bình – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 15 Nov 2024 03:40:54 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 “Giấc mộng Trung Hoa” và tham vọng “độc chiếm” Biển Đông của TQ             https://biendong.net/2024/10/15/giac-mong-trung-hoa-va-tham-vong-doc-chiem-bien-dong-cua-tq/ Tue, 15 Oct 2024 01:35:00 +0000 https://biendong.net/?p=140169 Ngày 16/10/2022, phát biểu tại phiên khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố rất rõ ràng về mục tiêu của đất nước này là vươn lên vị trí số 1 thế giới vào năm 2049, trở thành cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại mang đặc sắc Trung Quốc, hoàn thành “Giấc mộng Trung Hoa” mà mấy thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từ Tôn Trung Sơn đến Mao Trạch Đông, Tập Cận Bình… ôm ấp.

Và để “giấc mộng” trên thành hiện thực, “độc chiếm” Biển Đông lại là lựa chọn chiến lược để Bắc Kinh xây dựng cường quốc biển, một trong những thành tố chủ chốt để trở thành cường quốc toàn diện. Bởi vậy, “Giấc mộng Trung Hoa” và “độc chiếm” Biển Đông đang thôi thúc Bắc Kinh bất chấp mọi nguyên tắc pháp lý và đạo lý trong quan hệ quốc tế để thực hiện bằng được tham vọng của mình. Hãy xem “Giấc mộng” của họ là gì và cách thức tiến hành “độc chiếm” của Trung Quốc ra sao.

“Giấc mộng Trung Hoa” thực chất là tư tưởng Đại Hán, phục hồi tư cách “đệ nhất thiên hạ” trước đây dưới dạng thức mới

Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Trung Hoa có lịch sử rất rất huy hoàng, nhiều giai đoạn đã vươn lên đứng đầu thế giới với nhiều thành tựu rực rỡ, đến mức các triều đại phong kiến Trung Quốc đã cho mình là trung tâm của thế giới, là “Thiên triều”, “Đệ nhất thiên hạ”, còn các nước khác, nhất là những nước nhỏ, láng giềng xung quanh chỉ là man di, mọi rợ, là “tiểu đệ” của Trung Quốc, phải thần phục và có nghĩa vụ phục tùng, cống nạp cho “Thiên triều”. Đây chính là nguồn gốc của tư tưởng dân tộc Đại Hán, ăn sâu bám rễ vào nhận thức của các thế hệ lãnh đạo và người dân Trung Quốc.

Thế nhưng, thời kỳ lịch sử huy hoàng đó đã phải tạm khép lại khi đất nước Trung Quốc bị các thế lực thực dân phương Tây xâm chiếm, trở thành “miếng bánh ngon” cho các nước đế quốc xâu xé. Người Trung Quốc coi những khoảng thời gian đó là những năm tháng đất nước bị sỉ nhục, đè nén và cũng từ đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vốn mang nặng tư tưởng chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, đã lấy đó làm “ngọn cờ” để tập hợp các phong trào của dân chúng nhằm chống lại sự xâm lăng và ảnh hưởng từ bên ngoài. Thậm chí cho đến ngày nay, tư tưởng đó luôn xuất hiện trong các quyết sách lớn của Trung Quốc, nổi bật nhất là tham vọng “Giấc mộng Trung Hoa”.

Sau khi Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949, trải qua nhiều biến cố, năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã phát động công cuộc hiện đại hóa đất nước, đưa Trung Quốc từng bước phát triển mạnh mẽ. Đến lúc này, khi Trung Quốc đã tích lũy được tiềm lực lớn về kinh tế cũng như quân sự, cộng thêm có một nền văn hóa lâu đời với đặc trưng như đã nêu trên, một xã hội đã có kết cấu tương đối ổn định, thì rất nhiều người Trung Quốc, nhất là giới lãnh đạo, đã mơ chung một giấc mơ, đó là đưa dân tộc Trung Hoa trở lại thời kỳ huy hoàng mà ông cha họ đã từng có trước đây.

Từ sau Đại hội 18 đến nay, ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã đưa “Giấc mộng Trung Hoa” trở thành chiến lược, quốc sách cụ thể, thổi vào trong đó quyết tâm chính trị lớn của cả giới lãnh đạo cũng như của dân tộc Trung Hoa. Theo đó, “Giấc mộng Trung Hoa” có 4 mục tiêu và cũng là 4 nội dung chính: 1/ Xây dựng một nước Trung Quốc hùng mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao và khoa học công nghệ; 2/ Có nền văn minh cao, bao gồm các khái niệm tự do, bình đẳng, công bằng, giàu về văn hóa và cao về đạo đức; 3/ Phát triển hài hòa, bao gồm hài hòa giữa các vùng miền, giữa các giai cấp và giữa các dân tộc; 4/ Đất nước sạch đẹp, ít ô nhiễm về môi trường. “Giấc mộng” trên kêu gọi mọi người đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, con đường duy nhất có khả năng thực hiện “giấc mơ tột cùng” của đất nước Trung Hoa thời hiện đại.

“Giấc mộng Trung Hoa” đã được Trung Quốc triển khai thực hiện bằng nhiều kế hoạch chiến lược trung hạn và dài hạn khác nhau, gắn với việc nhằm đạt được hai mục tiêu 100 năm (Song Bách) đầy tham vọng. Đó là, xây dựng Trung Quốc trở thành xã hội khá giả toàn diện vào năm 2021, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hiện đại hóa Trung Quốc vào năm 2049, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đưa Trung Quốc trở thành nước phát triển toàn diện và đầy đủ. Mục tiêu thứ nhất, Trung Quốc đã tuyên bố hoàn thành; mục tiêu thứ hai, hạn thời gian còn 25 năm nữa.

Không biết tới hạn thời gian đó, “Giấc mộng Trung Hoa” có thành công không để biết Trung Hoa có trở lại làm “Thiên triều” hay không, nhưng ngay từ bây giờ, tư tưởng Đại Hán đã bộc lộ trong tham vọng của Bắc Kinh đối với Biển Đông. Một vùng biển thuộc Đông Nam Á cách không xa Trung Quốc.

Biển Đông là một trong những lựa chọn chiến lược của Trung Quốc để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”

Trong bước đi hoạch định các kế hoạch chiến lược trung hạn và dài hạn nhằm hiện thực hóa “giấc mộng” trên, giới lãnh đạo Bắc Kinh luôn cho rằng phải “thu hồi” Biển Đông, đưa vùng biển này “trở về chủ quyền” của họ thì may ra mới “có cửa” phấn đấu thành “Đệ nhất thiên hạ” được. Bởi họ cho rằng:

Một là, với việc thế giới có tới 2/3 dân số sinh sống trên các khu vực địa lý ven biển, cùng với đó là hơn 80% hoạt động quá cảnh toàn cầu liên quan đến biển, đại dương, nên biển, đại dương ngày càng trở thành yếu tố sống còn của các quốc gia, đóng vai trò thiết yếu trong quá trình toàn cầu hóa. Các vùng biển và đại dương rất giàu hydrocarbon, khoáng sản và các nguồn lợi thủy sản khác cần thiết cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia cũng như cả thế giới. Hơn thế, biển và đại dương còn có giá trị rất lớn đối với các hoạt động quốc phòng – quân sự của các nước, nhất là các nước lớn. Tất cả các cuộc chiến tranh nổ ra trên thế giới trong lịch sử, cũng như hiện tại đều có liên quan đến biển và xuất phát rất nhiều từ biển. Biển cả và đại dương đã và đang trở thành địa bàn chiến lược cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn. Trung Quốc không thể không dựa vào biển, đại dương.

Hai là, biển cả và đại dương có vai trò lớn như vậy, trong khi đó đất nước “Trung Hoa vĩ đại” lại ở vào thế “hãm địa”, không có đường phát triển. Trong bốn hướng địa lý tiếp giáp của nước này thì các hướng bắc và tây trông sang lục địa châu Á, bị các nước lớn như Nga, Ấn Độ án ngữ; hướng đông giáp biển Hoa Đông thì vớ ngay phải Nhật Bản và Đài Loan chặn đường, hết cửa; chỉ còn lại hướng nam là lối thoát thuận lợi nhất để Trung Quốc vươn ra thế giới, trở thành “cường quốc biển”, tiến tới trở thành “cường quốc thế giới”. Biển Đông vì thế được Trung Quốc xác định là “cửa ngõ” để đi ra ngoài.

Ba là, “cửa ngõ” này lại là cầu nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, có giá trị rất lớn về địa chính trị, kinh tế, quân sự đối với các nước trong và ngoài khu vực. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Biển Đông đã trở thành nơi bùng phát những yêu sách đối nghịch về chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo, đá và rạn san hô. Những yêu sách này chủ yếu đến từ các quốc gia trong khu vực, tiêu biểu là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Việt Nam và Đài Loan. Lợi dụng yếu tố này, nhiều nước lớn ngoài khu vực, nhất là Mỹ, đã đẩy mạnh can dự vào đây, làm cho vấn đề Biển Đông không còn là vấn đề của khu vực nữa, mà đã trở thành địa bàn chiến lược cạnh tranh giữa các nước lớn. Những hoạt động của Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông thời gian qua đã trở thành nhân tố chủ yếu nhất chi phối mức độ “nóng” hay “lạnh” về an ninh ở vùng biển này.

 Như vậy, nếu mở được “cánh cửa” Biển Đông, sẽ giúp Trung Quốc đạt được các lợi ích sau: Về kinh tế, sẽ đảm bảo cho sự tiếp tục các hoạt động đánh bắt thủy hải sản, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng rất phong phú ở đây để phục vụ cho sự tăng trưởng liên tục của Trung Quốc; đảm bảo an toàn cho các tuyến hàng hải, nhất là các tuyến đường thương mại hàng hóa Trung Quốc qua lại giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Nếu không có các tuyến đường thương mại này, Trung Quốc “chỉ là người khổng lồ chân đất sét”. Về an ninh, lợi ích về quốc phòng – an ninh bao giờ cũng gắn với lợi ích kinh tế, là công cụ để bảo vệ lợi ích kinh tế. Do đó, mở được “cánh cửa” Biển Đông, có nghĩa là Trung Quốc chiếm cứ được Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Vừa giành được chủ quyền, lại vừa để: 1/ Ngăn chặn tự do đi lại trên biển của các chiến hạm nước ngoài, nhất là của các đối thủ, ngoài giới hạn 12 hải lý từ đường cơ sở. Nhờ đó, Trung Quốc có thể đẩy mối đe dọa an ninh từ biển ra xa bờ biển, các tàu chiến, tàu do thám của Mỹ và nước khác chỉ có thể “ngưỡng vọng” bờ biển Trung Quốc mà thôi. 2/ “Mở lối” đi ra đại dương xanh cho Hải quân Trung Quốc trong điều kiện biển Hoa Đông bị Mỹ và đồng minh Nhật Bản kiểm soát, thêm Đài Loan được Mỹ hậu thuẫn, “ngáng đường” ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương của các hạm đội Trung Quốc. Chỉ có thông qua Biển Đông thì Trung Quốc mới ra được tới các đại dương xanh, lúc đó mới có thể đưa chiến hạm ngầm và nổi của mình “tung hoành” trên các đại dương hay áp sát Mỹ, Ấn Độ và các đối thủ tiềm tàng khác. Về văn hóa, lịch sử: Vốn mang trong mình dòng máu của tư tưởng dân tộc Đại Hán, cùng với đó là việc luôn cho rằng, Trung Quốc đã xác lập “chủ quyền” ở Biển Đông từ xa xưa trong lịch sử, nhưng “chủ quyền” đó cũng như các lợi ích liên quan khác đang bị xâm phạm, nên giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay coi việc chiếm cứ, làm chủ Biển Đông không chỉ để thực hiện tham vọng trên, mà còn là cách giúp họ lấy lại “thể diện” của quốc gia, dân tộc đã từng có trong lịch sử, tạo động lực chính trị, tinh thần to lớn cho toàn thể dân tộc trong việc thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”

Phương cách để Trung Quốc “độc chiếm” Biển Đông

Biển Đông rõ ràng là “lối thoát” thuận lợi nhất, cũng là “bàn đạp” để Trung Quốc vươn lên trở thành cường quốc thế giới.

Thế nhưng, Biển Đông không phải là “ao nhà” của Trung Quốc. Vì thế, để “mở cánh cửa” Biển Đông, Trung Quốc đã bất chấp tất cả, kể cả luật pháp quốc, trong đó có UNCLOS 1982, văn kiện pháp lý quan trọng bậc nhất thế giới về biển mà Trung Quốc đã ký kết. Bắc Kinh đã vận dụng phương châm “mèo vàng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” từ “Thuyết con Mèo” do Đặng Tiểu Bình đưa ra từ năm 1962 để “mở cửa” Biển Đông, vươn ra khống chế vùng biển này, thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”. Theo đó:

Thứ nhất, ra sức biện minh tư tưởng cho toàn dân thông qua phong trào “Phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” để tiến hành cuộc “thập tự chinh” nhằm lấy lại những gì Trung Quốc “đã có” và “đã mất” trong lịch sử, trong đó có vấn đề chủ quyền. Đây là trụ cột tư tưởng chính mà Bắc Kinh luôn theo đuổi để thống nhất đất nước. Nhưng sự “Phục hưng” này phải được hiểu là mang tính chu kỳ, nghĩa là “Hợp cửu tất phân, phân cửu tất hợp” – tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan. Lịch sử Trung Hoa được ghi dấu bằng một logic là cứ sau mỗi sự phân chia là đến sự thống nhất. Sau bao nhiêu năm “giấu mình chờ thời”, nay là lúc Trung Quốc có điều kiện và cần trỗi dậy để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”. Cách mà lãnh đạo Trung Quốc làm, nhất là từ khi Tập Cận Bình lên nắm quyền là, đưa ra những phát ngôn chính thức nhằm “nhắc nhở” người dân về những “sự tủi nhục, bị bức hại và đau khổ trong hàng chục năm bị nước ngoài chiếm đóng”, từ đó kêu gọi toàn dân cùng chung sức “rửa nhục”, phục hưng đất nước, thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”. Đỉnh cao của “Giấc mộng” là, Trung Quốc giữ vị trí trung tâm và trị vì trong tương lai đối với “tất cả những gì dưới gầm trời này”.

Có thể đưa ra đây một vài ví dụ về cách làm trên của Bắc Kinh. Tại mục 3, chương đầu tiên trong Luật Lãnh hải năm 1992 của Trung Quốc, đã khẳng định: “Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông phần lớn được cộng đồng quốc tế thừa nhận”. Hay như sau khi Tòa trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) ra phán quyết hủy bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông, Bắc Kinh đã hùng hồn tuyên bố: “Các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông đã có hơn 2.000 năm lịch sử. Chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông và các quyền lợi được hưởng trong khu vực này có một quá trình lịch sử và dựa trên những nền tảng vững chắc cả về mặt lịch sử lẫn pháp lý”. Thủ đoạn biện minh này cho thấy, giới lãnh đạo Bắc Kinh đã “nhồi sọ” cho người dân Trung Quốc hiểu rằng, Biển Đông xưa nay là của Trung Quốc. Từ đó, họ đã phớt lờ luật pháp quốc tế, tiến hành theo đuổi các hoạt động hăm dọa, quân sự hóa và tôn tạo trái phép nhiều thực thể, biến chúng thành các căn cứ quân sự nổi trên Biển Đông.

Thứ hai, lấy cái mà Trung Quốc gọi là “quyền lịch sử” để lập luận, biện hộ cho các yêu sách phi lý của mình ở Biển Đông. Họ dựa vào các văn bản dưới các triều đại phong kiến nhà Tống, nhà Thanh để nói rằng, Trung Quốc đã có sự “chiếm đóng” và “hiện diện” từ lâu ở Biển Đông. Thế nhưng, tất cả các tấm bản đồ cổ đó rất mơ hồ, chung chung, trong khi các hoạt động hàng hải của Trung Quốc diễn ra trong lịch sử trên vùng biển này đều ghi nhận, lãnh thổ xa nhất của Trung Quốc ở phía nam chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam. Hiện nay, “chứng cứ lịch sử” duy nhất mà Trung Quốc đang “bám vào” để khẳng định chủ quyền của mình ở Biển Đông lại là tấm bản đồ “đường chín khúc” chiếm hơn 80% diện tích vùng biển này. Năm 2009, họ đã trưng bản đồ này ra thế giới. Tuy nhiên, đây là tấm bản đồ không có bất cứ một tiêu chí nào phù hợp với luật pháp quốc tế. Chính giới nghiên cứu Trung Quốc cũng đã thừa nhận sự yếu kém về mặt pháp lý của cái gọi là chủ quyền theo “đường chín khúc”. Học giả Lý Lệnh Hoa, cựu thành viên Trung tâm Tin tức hải dương quốc gia Trung Quốc, đã kêu gọi Chính phủ Trung Quốc cần phải hủy bỏ “đường chín khúc”, bởi việc làm này sẽ khiến Trung Quốc trở nên “không thể chấp nhận được, vì không có nước nào chấp nhận cái đường vô lý” do Trung Quốc tự vẽ ra. Năm 2016, PCA đã ra phán quyết trong vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, trong đó khẳng định, các lập luận của Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông theo bản đồ “đường chín khúc” là không có cơ sở pháp lý. Bắc Kinh đã ngang ngược bác bỏ phán quyết của tòa quốc tế. Hành động này chẳng những trái với tư cách là thành viên của UNCLOS 1982, mà còn đi ngược với những tuyên bố mà Bắc Kinh từng đưa ra, rằng: “Trung Quốc bảo vệ vững chắc thẩm quyền và vị thế của Liên hợp quốc, hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ được giao… là người xây dựng hòa bình thế giới không biết mệt mỏi, góp phần vào phát triển toàn cầu và bảo đảm trật tự quốc tế”.

Thứ ba, đưa Biển Đông vào nhóm “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. “Lợi ích cốt lõi” là một khái niệm mà Bắc Kinh thường dùng để chỉ vấn đề chủ quyền quốc gia liên quan đến các “điểm nóng” như Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan mà tại đó Trung Quốc sẽ không “thỏa hiệp”, “có thể dùng vũ lực nếu cần thiết”. Trung Quốc xếp Biển Đông tương đương như các “điểm nóng” trên và nhiều lần công khai luận điểm này. Tháng 8/2011, Tân Hoa Xã Trung Quốc đăng bài khẳng định rằng, Trung Quốc có “3 triệu km2 lãnh hải” ở Biển Đông, thuộc “chủ quyền không thể tranh cãi” và là một phần trong “lợi ích cốt lõi”.  Cách làm trên chỉ nhằm thể hiện một ý đồ duy nhất: Bắc Kinh quyết tâm “độc chiếm” Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình.

Thứ tư, “luật hóa” chủ quyền nhằm đặt các đối thủ cạnh tranh trước “sự đã rồi” để giành vị trí thống trị ở Biển Đông. Đây là bước đi liên tục của lộ trình kiểm soát, làm chủ, tiến tới “độc chiếm” hoàn toàn Biển Đông. Năm 1996, ngay sau khi ký UNCLOS 1982, Trung Quốc lập tức thông qua Hiệp định phê chuẩn Công ước này, với điều khoản bảo lưu “các quyền lịch sử” thuộc về “dân tộc Trung Hoa” trước các quy định của UNCLOS. Họ đồng thời đưa “đường chín khúc” vào sách giáo khoa nhằm đẩy mạnh tuyên truyền “chủ quyền” ở Biển Đông. Năm 2012, bước “pháp lý hóa” chủ quyền leo thang lên một nấc mới, đó là ngày 21/6/2012, Quốc vụ Viện Trung Quốc công bố thành lập cái gọi là “Thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa, trực thuộc chính quyền trung ương, có quyền hạn “quản lý” đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đúng sáu tháng sau, Bắc Kinh đưa “đường chín khúc” vào mẫu hộ chiếu phổ thông điện tử – một hành động sai trái trong quan hệ quốc tế, bị nhiều nước phản đối.

Thứ năm, “xâm lấn” Biển Đông bằng các hoạt động kinh tế biển. Đây là hành động làm chủ từng bước, dựa trên luận điểm hoạt động kinh tế biển đến đâu thì chủ quyền xác lập đến đó. Cùng với việc đầu tư mạnh cho các lực lượng chấp pháp trên biển, như ngư chính, hải cảnh, hải giám…theo hướng tăng cường tiềm lực và hiện đại hóa tàu thuyền, hệ thống thông tin, Trung Quốc khuyến khích ngư dân khai thác tại những ngư trường xa thuộc các vùng chồng lấn, thậm chí là thuộc chủ quyền của các nước khác, thông qua ưu đãi về vốn, thiết bị định vị vệ tinh. Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh Hải Nam được sự đồng ý của trung ương, hàng năm đều đưa ra các lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông hết sức phi lý. Đặc biệt, Bắc Kinh rất chú trọng “đẩy” các tập đoàn dầu khí quốc gia “vươn vòi” ra Biển Đông. Ngày 23/6/2012, Tập đoàn dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) mời thầu quốc tế 9 lô đầu khí, tổng diện tích lên đến 160.129 km2, nằm sâu trong thềm lục địa của Việt Nam. Ngày 01/5/2014, CNOOC đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hành động này đã bị dư luận khu vực và quốc tế phản đối mạnh mẽ. Tháng 7/2019, họ lại đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông. Tháng 5/2023, tiếp tục đưa tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhiều nước khác ven Biển Đông cũng chung cảnh ngộ như Việt Nam.

Thứ sáu, phá vỡ nguyên trạng Biển Đông theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Đây là bước đi có tính hệ thống, nhằm “thu hồi chủ quyền” theo phương thức “tằm ăn dâu” thông qua chiến thuật “tạo sự đã rồi”. Thậm chí sử dụng cả thủ đoạn vũ lực. Năm 1956, Trung Quốc đánh chiếm một phần và đến năm 1974, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1988, họ một lần nữa đưa quân đánh chiếm đảo Gạc Ma trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo một kịch bản tương tự, tháng 2/1995, Trung Quốc đưa 7 tàu đến chiếm đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa và duy trì hiện diện từ đó đến nay. Đầu năm 2013, Bắc Kinh lại “gây rối” ở Trường Sa bằng việc “chiếm đóng thực tế” trái phép tại bãi cạn Scarborough mà Philippines tuyên bố chủ quyền. Tất cả những hành động trên đều nhằm “thay đổi nguyên trạng” có lợi cho Bắc Kinh.

Thứ bảy, tăng cường sức mạnh hải quân nhằm “răn đe quân sự”, tạo sức ép trong các yêu sách “chủ quyền” theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Dựa trên sức mạnh kinh tế vượt trội, Trung Quốc không ngừng tăng cường tiềm lực quân sự, nhất là sức mạnh hải quân, đặc biệt trên hướng Biển Đông. Đầu thế kỷ XXI, Bắc Kinh đã có sự “lật cánh” khi bố trí Hạm đội Nam Hải trở thành hạm đội mạnh nhất trên biển, thay thế Hạm đội Bắc Hải mạnh nhất trước đây. Hạm đội Nam Hải được trang bị các tàu chiến lớn, hiện đại, nhất là tàu ngầm, tàu khu trục. Cùng với đó, căn cứ hải quân Tam Á của Hạm đội này liên tục được mở rộng, đủ khả năng tiếp nhận các tàu ngầm hạt nhân, kể cả tàu sân bay.

Thứ tám, đưa ra các “sáng kiến”, chiến lược khác nhau để vừa thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” vừa che giấu những hành vi và việc làm sai trái ở Biển Đông. Trong bối cảnh thế giới “biến động chóng mặt” với nhiều nghịch cảnh, Bắc Kinh không ngừng đưa ra các chiến lược, “sáng kiến” với quy mô toàn cầu, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền ra thế giới rằng, sự “trỗi dậy” và vị thế ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc là “tích cực và hòa bình”, dựa trên sự hợp tác và hạnh phúc của các dân tộc trên thế giới. Theo họ, sáng kiến “Cộng đồng chung vận mệnh” là để xây dựng một cộng đồng các quốc gia có chung vận mệnh, cùng chia sẻ, cùng thắng; sáng kiến “An ninh toàn cầu” là hướng tới “sự gắn kết trong lĩnh vực an ninh, phục vụ sự nghiệp cao cả vì nền hòa bình và sự phát triển trên thế giới”; sáng kiến “Vành đai và con đường” là nhằm cùng nhau xây dựng một tương lai rạng ngời… Tuy nhiên, những gì họ nói lại khác rất xa với thực tế mà họ đã làm ở Biển Đông. Tất cả các hoạt động hướng đến yêu sách “đường chín khúc” trên Biển Đông của Trung Quốc đều là nguồn gốc của hầu hết những căng thẳng ở khu vực Đông Nam Á. Bản chất đằng sau những hoạt động này là nhằm thực hiện một đường lối sô vanh nước lớn, được ngụy trang dưới “Giấc mộng Trung Hoa”. Bắc Kinh “đeo mặt nạ” dưới các mỹ từ vô cùng đẹp đẽ, mệnh danh bởi các “sáng kiến”, chiến lược để che đậy những khiếm khuyết, những xấu xa của mình trước cộng đồng quốc tế, nhưng họ lại không biết rằng, những hệ lụy mà các “sáng kiến”, chiến lược trên để lại, cũng như các hoạt động hăm dọa, cưỡng ép với các nước nhỏ ven Biển Đông đã làm cho thế giới ngày càng nhìn thấy rõ hơn bộ mặt thật và bản chất nham hiểm của Trung Quốc. Như vậy, để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, Trung Quốc đang sử dụng nhiều biện pháp, hướng đi, trong đó Biển Đông là một hướng lựa chọn chiến lược. Các phương cách, thủ đoạn Bắc Kinh tiến hành ở Biển Đông chính là nhằm áp đặt về một “trật tự mới” do Trung Quốc nắm quyền thống trị. Từ “cuộc chiến pháp lý” đến chiến thuật “gặm nhấm” theo kiểu “sự đã rồi”, thông qua một nghệ thuật ngoại giao “đánh lừa thị giác”, kết hợp với sức mạnh của bộ máy thông tin tuyên truyền, xuyên tạc, có thể thấy phương cách hoạt động này của Trung Quốc ở Biển Đông đã giành được những kết quả và lợi thế đáng kể, phạm vi và khả năng kiểm soát toàn bộ vùng biển này của họ đang dần được mở rộng. Bắc Kinh sẽ không dừng lại mà sẽ tiếp tục leo thang hơn nữa trong những hành vi nhằm hiện thực hóa tham vọng “độc chiếm” Biển Đông. Vùng biển này vì thế sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường hơn trước tham vọng khôn cùng của Trung Quốc, cộng với đó là sự can dự của các nước lớn ngoài khu vực, đặc biệt là hoạt động của Mỹ và đồng minh.

                                                                               Hàn Lương

]]>
Không thể tin vào lời hứa viển vông của Bắc Kinh https://biendong.net/2024/10/02/khong-the-tin-vao-loi-hua-vien-vong-cua-bac-kinh/ Wed, 02 Oct 2024 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=140118 Giới quan sát có chung một nhận định trong nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc đã nhiều lần cam kết và đảm bảo với các quốc gia về ý định và hành động của mình ở Biển Đông, nhưng lại thường xuyên nuốt lời và làm ngược lại với những gì đã cam kết. Đây vừa là bản chất vừa là thủ đoạn của giới cầm quyền ở Bắc Kinh nhằm thực hiện tham vọng thôn tính, độc chiếm Biển Đông. Có thể đưa ra rất nhiều dẫn chứng khẳng định cho điều này.

1. Năm 2002, Trung Quốc đã đồng ý với Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) với 10 nước thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, nhưng họ đã thường xuyên vi phạm nhiều nguyên tắc của thỏa thuận này, vốn là nền tảng cho hợp tác và ổn định trong khu vực. COC bao gồm cam kết không chiếm đóng “các đảo, đá ngầm, bãi cạn, bãi đá ngầm và các địa hình khác hiện đang không có người ở”. Tuy nhiên, trong những năm sau đó, Trung Quốc đã mở rộng các tiền đồn của mình trên một số thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông và chiếm đóng Bãi cạn Scarborough đang tranh chấp vào năm 2012.

Theo DOC, Trung Quốc cũng hứa sẽ “kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp”, và giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp với các quốc gia có yêu sách chồng lấn trên biển, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, Trung Quốc đã có nhiều hành động hung hăng, bắt nạt láng giềng, cố ý gây leo thang căng thẳng ở Biển Đông và coi thường luật pháp quốc tế.

2. Kể từ khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, những lời thất hứa và vi phạm cam kết của Bắc Kinh lại càng gia tăng. Vào tháng 9 năm 2015, ông Tập cam kết rằng Trung Quốc sẽ không quân sự hóa Biển Đông. Trong chuyến thăm Nhà Trắng ở Washington D.C, ông Tập cho biết “Trung Quốc không có ý định theo đuổi quân sự hóa” quần đảo Trường Sa và các tiền đồn của họ sẽ “không nhắm mục tiêu hoặc tác động đến bất kỳ quốc gia nào”.

Tuy nhiên, trên thực tế Trung Quốc đã đẩy mạnh quân sự hóa Biển Đông, biến các thực thể mà họ chiếm đóng thành những tiền đồn quân sự. Theo đó, Trung Quốc bố trí các trang thiết bị quân sự; triển khai tên lửa hành trình chống hạm; mở rộng khả năng radar quân sự và tình báo tín hiệu; xây dựng các nhà chứa máy bay chiến đấu và các đường băng dài và lớn phục vụ cho máy bay chiến đấu, cùng nhiều hành động khác.

Trung Quốc tiếp tục sử dụng các tiền đồn quân sự hóa để khẳng định quyền kiểm soát đối với cái mà họ gọi là “vùng lãnh hải” mà Bắc Kinh hoàn toàn không có chủ quyền, quyền chủ quyền hợp pháp. Trung Quốc sử dụng các tiền đồn này để triển khai hàng trăm tàu dân quân hàng hải và tàu hải cảnh nhằm thường xuyên quấy rối tàu thuyền dân sự của các nước và cản trở các hoạt động thực thi pháp luật hợp pháp, ngăn cản hoạt động đánh bắt cá ngoài khơi và khai thác dầu khí của các quốc gia khác ven Biển Đông.

3. Trung Quốc từng nhiều lần cao giọng cam kết duy trì “tự do hàng hải và bay qua Biển Đông như quy định trong các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận rộng rãi,” bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tuy nhiên, Trung Quốc lại đơn phương ban hành các đạo luật trái với các định của UNCLOS cho phép lực lượng hải cảnh Trung Quốc lên tàu nước ngoài lục soát, bắt giữ tàu và thuyền viên nước ngoài, thậm chí cho phép lực lượng này bắn vào tàu thuyền nước ngoài. Điều này rõ ràng vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế về tự do hàng hải.

Trên thực địa, trong 1 năm qua (từ tháng 8/2023) Trung Quốc đã nhiều lần cố gắng ngăn cản Philippines tiếp tế cho quân nhân đóng trên tàu BRP Sierra Madre tại Bãi Cỏ Mây thậm chí bất chấp lời hứa không làm như vậy. Bãi cạn này nằm trên thềm lục địa của Philippines và đã được làm rõ trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài. Hải cảnh Trung Quốc nhiều lần phun vòi rồng, đâm va, thậm chí dùng rìu, gậy nhọn tấn công tàu và thuyền viên của Philippines. Hải cảnh Trung Quốc còn ngăn cản Philippines đưa một binh sĩ bị bệnh từ Bãi Cỏ Mây về Palawan, một hành động hết sức vô nhân đạo. Tất cả những hành vi này của Bắc Kinh là cản trở tự do hàng hải, đe doạ an ninh trên biển.

Trên không, máy bay chiến đấu Trung Quốc đã nhiều lần gây nguy hiểm cho các máy bay của Mỹ, của Úc đang hoạt động trên bầu trời Biển Đông. Gần đây nhất là giữa tháng 8 năm 2024, máy bay chiến đấu của Trung Quốc tham gia vào những gì Manila coi là hành động khiêu khích và gây nguy hiểm cho máy bay tuần tra của Philippines trên Bãi cạn Scarborough, nơi Philippines thường xuyên tuần tra.

4. Lấy một ví dụ trong vấn đề trên biển giữa Bắc Kinh và Hà Nội để thấy được sự bất tín trong những cam kết của Trung Quốc. Năm 2011, Bắc kinh và Hà Nội đã ký kết Thoả thuận về những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển. Trong đó, Bắc Kinh cam kết giải quyết các tranh chấp trên biển thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác. Hai bên thường xuyên nhấn mạnh việc tôn trọng Thoả thuận về những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển năm 2011. Tuy nhiên, bất chấp những thoả thuận đó, năm 2014, Trung Quốc đã cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa miền Trung Việt Nam khiến quan hệ hai nước hết sức căng thẳng và làn song “bài Hoa” nổi lên mạnh mẽ ở Việt Nam. Vụ việc cho thấy những cam kết của Bắc Kinh đã bay theo gió. Từ bài học xương máu đó nên mặc dù hết sức coi trọng quan hệ với Trung Quôc, nhưng Hà Nội vẫn luôn đề cao cảnh giác trước những ý đồ của Bắc Kinh ở Biển Đông.

5. Ngay cả việc Trung Quốc nuốt lời hứa để chiếm Bãi cạn Scarborough năm 2012 cũng là một minh chứng hết rõ ràng về việc đừng có tin vào những lời hứa hão huyền của Bắc Kinh. Liên quan tới tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines ở khu vực Bãi cạn Scarborough năm 2012, Trung Quốc có đề nghị Mỹ làm trung gian để giải quyết căng thẳng ở Bãi cạn Scarborough theo hướng cả Trung Quốc và Philippines cùng rút tàu ra khỏi khu vực này. Tin vào những cam kết của Bắc Kinh, Washington đã khuyên Manila rút tàu ra khỏi Scarborough để giảm căng thẳng. Theo lời khuyên của Mỹ, Philippines cho rút tàu ra khỏi Bãi cạn Scarborough, nhưng sau đó tàu Trung Quốc không rút mà khống chế và chiếm luôn Scarborough từ đó đến nay.

Vụ việc này cũng giúp Mỹ và Philippines nhận được một bài học sâu sắc về mất niềm tin vào những lời hứa và cam kết của Trung Quốc, họ thường nói một đằng làm một nẻo. Một số chuyên gia còn cho rằng vụ việc Trung Quốc chiếm Bãi cạn Scarborough từ Philippines năm 2012 cho thấy sự lừa dối trắng trợn của giới cầm quyền Bắc Kinh, họ không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để chiếm đoạt các thực thể và các vùng biển ở Biển Đông.

6. Gần đây nhất là một “thoả thuận tạm thời” đạt được giữa Philippines và Trung Quốc ngày 21/7/2024. Thỏa thuận tạm thời được đưa ra sau một loạt các cuộc đụng độ kéo dài nhiều tháng. Với thoả thuận này, Trung Quốc cam kết cùng với Philippines nỗ lực giảm căng thẳng, khôi phục niềm tin sau những va chạm liên tục ở khu vực Bãi Cỏ Mây.

Tuy nhiên, khi mà “thoả thuận tạm thời” còn chưa ráo mực thì chưa đầy một tháng sau, Trung Quốc lại liên tiếp có những hành động hung hăng với Philippines cả ở trên không và trên biển. Lần đầu tiên máy bay Trung Quốc uy hiếp, gây nguy hiểm với các máy bay tuần tra của Philippines trên bầu trời Biển Đông. Đặc biệt, từ 19-31/8/2024, tàu hải cảnh Trung Quốc 3 lần cố tình đâm vào tàu của Philippines ở khu vực Bãi Sa Bin, làm hư hại các tàu philipines và đe doạ an toàn của thuỷ thủ đoàn.

Ba vụ đối đầu trong vòng hơn 1 chục ngày ở khu vực Bãi Sa Bin khiến tình hình nghiêm trọng đến mức Mỹ đã ngay lập tức lên tiếng phản đối Trung Quốc và một lần nữa khẳng định mạnh mẽ về hiệp ước phòng thủ chung với Philippines năm 1951. Đáng chú ý trong cuộc gặp với Tướng Romeo Brawner – Chỉ huy các lực lượng vũ trang Philippines, Tướng Samuel Paparo – Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đã đưa ra đề xuất về việc Mỹ tham gia hoặc hộ tống Philippines trong các nhiệm vụ tiếp tế ở Biển Đông. Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản… cũng nhanh chóng lên án hành vi hung hăng nhằm vào tàu Philippines khiến Bắc Kinh hết sức tức tối.

Những vụ chạm trán giữa tàu và máy bay của Trung Quốc và Philippines xảy ra trong tháng 8 vừa rồi mâu thuẫn với các nỗ lực đã được tuyên bố của Trung Quốc trong việc xây dựng lại niềm tin và kiềm chế không để xảy ra các cuộc đối đầu trên biển và trên không. Giới chuyên gia nhận định, bất chấp việc Bắc Kinh đã hứa cùng nỗ lực “khôi phục niềm tin” và “xây dựng lại lòng tin” để quản lý các tranh chấp hàng hải, song qua những vụ việc vừa qua có thể thấy vấn đề xây dựng niềm tin trong quan hệ Trung Quốc – Philippines ở Biển Đông chỉ là “một thứ xa xỉ”.

Giới chuyên gia nhận định mưu đồ thực sự của Trung Quốc là muốn thay đổi hiện trạng bằng việc gây sức ép dưới mức chiến tranh (trên thực tế là chiến thuật “vùng xám”) để làm kiệt quệ các quốc gia buộc họ phải nhượng bộ trước yêu sách của Bắc Kinh. Theo đó, các hoạt động hung hăng của Trung Quốc trong thời gian gần đây, trong đó hải cảnh Trung Quốc đã vung dao, mã tấu và rìu, búa vào các thủy thủ Philippines, là nhằm kích động nỗi sợ hãi của thuỷ thủ Philippines không dám đáp trả. Việc Bắc Kinh tìm kiếm các thoả thuận với các nước láng giềng chỉ là màn che đậy những hành vi hiếu chiến của họ để né tránh sự chỉ trích, lên án của cộng đồng quốc tế.

Theo giới chuyên gia, Bắc Kinh luôn kéo các nước vào các thoả thuận song phương vừa để dễ dàng bắt nạt các nước trong quá trình đàm phán về nội dung thoả thuận và vừa để có thể đơn phương phá bỏ các cam kết khi cần thiết. Đối với các thoả thuận đa phương sẽ khó cho Trung Quốc khi muốn tự ý phá vỡ cam kết. Đây cũng là nguyên nhân vì sao Trung Quốc cam kết nỗ lực cùng các nước ASEAN để sớm thông qua một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhưng luôn tìm cách trì hoãn để cản trở đạt được thỏa thuận.

Theo các nhà phân tích, Trung Quốc đã nhiều lần thể hiện ở Biển Đông và những nơi khác rằng họ không thành thật về việc đạt được thỏa hiệp hoặc tuân thủ các thỏa thuận. Các nhà phân tích nhận định, Bắc Kinh giả vờ đàm phán để trì hoãn và phá vỡ các thỏa thuận nhằm phục vụ cho mục tiêu và tham vọng của họ, và hành động gây hấn gần đây của họ đối với Philippines tuân theo mô hình đó. Các nước ven Biển Đông cần hết sức tỉnh táo để tránh bị Bắc Kinh giăng bẫy. Dã tâm độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là không khi nào thay đổi. Giới cầm quyền Bắc Kinh đã hứa rất nhiều nhưng thất hứa cũng thật nhiều, những câu truyện kể trên là những minh chứng rất rõ ràng về điều này. Có một Logic là không thể tin và không nên tin vào những cam kết của những kẻ bất chấp luật pháp quốc tế và cũng bất chấp uy tín như Trung Quốc.

]]>
Tập Cận Bình và Đại hội Đảng Cộng sản TQ lần thứ 20 https://biendong.net/2022/10/21/tap-can-binh-va-dai-hoi-dang-cong-san-tq-lan-thu-20/ Fri, 21 Oct 2022 03:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=90141 Đại hội lần thứ 20 của Đảng CSTQ đã khai mạc ngày 16/10/2022 với bài diễn văn dài hai tiếng của Tập Cận Bình. Ông sẽ tiếp tục nhiệm kỳ thứ ba sau khi xóa bỏ luật chơi của đảng do Đặng Tiểu Bình xác lập. Trung Quốc đã trỗi dậy thành siêu cường kinh tế lớn thứ hai, bành trướng và bắt nạt các nước khu vực, thách thức Mỹ với ý đồ thay đổi trật tự thế giới. Xu hướng cực đoan và tham vọng quá lớn của Tập ẩn chứa rủi ro và nguy cơ khó lường.

Sau đại hội 19, đại hội 20 là một cơ hội mới để Tập Cận Bình thực hiện tham vọng phục hưng Trung Quốc. Nhưng các diễn biến gần đây với các bài học của chiến tranh Ukraine cũng như suy giảm kinh tế của Trung Quốc sau đại dịch với mức tăng trưởng GDP tụt xuống chỉ còn 3,2% năm 2022, chắc sẽ làm lãnh đạo Trung quốc phải tính toán lại về chính sách để đối phó với rủi ro và thách thức trong một thế giới biến động khó lường.

Đại hội 20 của Đảng CSTQ có những điều chỉnh gì về nhân sự lãnh đạo cũng như chính sách trước tình hình mới? Các điều chỉnh đó sẽ tác động thế nào đến cục diện khu vực và thế giới? Trước những biến động khó lường gần đây, các câu hỏi đó khó có lời giải rõ ràng, không chỉ với giới nghiên cứu bên ngoài mà còn đối với lãnh đạo Trung Quốc. Nói cách khác, đại hội 20 là “thời điểm then chốt” đối với Tập Cận Bình.

Hoàng đế Trung Hoa

Đại hội 20 của Đảng CSTQ không chỉ khẳng định nhiệm kỳ thứ ba của Tập Cận Bình với vai trò lãnh đạo suốt đời như hoàng đế Trung Hoa, mà còn thông qua các quyết định để sắp xếp lại nhân sự lãnh đạo chủ chốt và các chủ trương lớn của Trung Quốc trong giai đoạn mới dưới thời Tập Cận Bình. Vì vậy, có thể nói đại hội đảng lần thứ 20 là đại hội của Tập Cận Bình.

Theo các học giả, mỗi khi Trung Quốc phục hưng trỗi dậy thường có một hoàng đế mới. Đại hội này sẽ xóa bỏ quy định về giới hạn tuổi và nhiệm kỳ của lãnh đạo mà Đặng Tiểu Bình đã xác lập cơ chế “lãnh đạo tập thể” sau thời kỳ Mao Trạch Đông. Đại hội lần này sẽ khẳng định nhiệm kỳ thứ ba của Tập để cầm quyền tới năm 2027 và có thể là vô hạn. Vì vậy, đại hội 20 giống lễ đăng quang hơn là một đại hội của Đảng CSTQ.

Theo Minxin Pei, Tập Cận Bình đã quyết định xóa bỏ những luật lệ và quy định từ thời Đặng Tiểu Bình về giới hạn tuổi và nhiệm kỳ của lãnh đạo Trung Quốc. Đặng hiểu rằng những quy định đó là thiết yếu để tránh lặp lại những bài học dưới thời Mao. Nhưng lòng tin của Đặng không thể vượt qua lợi ích. Hệ thống thể chế của Đặng trong thập niên 1980 nay trở thành “lâu đài bằng giấy”.

Nếu sự cân bằng và kiểm soát theo hiến pháp thất bại như dưới thời Trump tại Mỹ, các nền dân chủ vẫn có thể dựa vào tự do ngôn luận, xã hội dân sự, và đảng đối lập để đối phó. Nhưng trong chế độ độc tài, các luật lệ và quy định mong manh hơn nhiều. Quyết định của Tập tại đại hội 20 “chỉ là làn gió kích động sự sụp đổ không tránh khỏi”.

Trong nhiều thế kỷ, các triều đại Trung Hoa đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Đông Á. Xét nhiều khía cạnh, lãnh đạo Trung Quốc ngày nay giống một hoàng đế Trung Hoa hơn là một nhà cách mạng Mac-xít. Tập Cận Bình có tham vọng phục hưng Trung Quốc như một cường quốc thống trị Châu Á, như hạt nhân của hệ thống lấy Trung Quốc làm trung tâm kiểu mới mà về bản chất cũng tương tự như vị trí hoàng đế Trung Hoa.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc thời nay khớp với sự phục hưng Trung Hoa thời xưa. Tập đã khởi xướng “Giấc mộng Trung Hoa” để phục hưng đất nước theo mô hình đó. Tập muốn kết hợp văn minh Trung Hoa thời xưa với thành quả thời nay để chế độ cộng sản của ông có đặc quyền nước lớn. Tập lập luận rằng lịch sử 5.000 năm của Trung Quốc cùng với sự phát triển thần kỳ gần đây là bằng chứng rằng Trung Quốc lãnh đạo thế giới.

Ngoại trưởng Vương Nghị vào tháng 4/2022 đã tuyên bố rằng họ có “lời giải cho các vấn đề của thời đại” và “cống hiến trí tuệ của Trung Quốc cho nỗ lực của loài người”. Trên thực tế, Tập Cận Bình đã điều hành như một hoàng đế. Dưới thời Tập, chính phủ mang sắc thái của một triều đình phong kiến và Tập điều hành đối ngoại cũng giống một hoàng đế.

Triều đình nhìn nhận thế giới theo trật tự do Trung Quốc đứng đầu. Bất cứ nước nào chống lại trật tự đó và không tuân theo luật lệ của Trung Quốc sẽ bị trừng phạt kinh tế, như mất quyền tham gia thị trường Trung Quốc. Tập đã cố gắng áp đặt luật lệ về ngoại giao để lập ra một trật tự thế giới mới mà Trung Quốc nằm ở trung tâm. Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) mang dấu ấn của Tập cũng gần giống hệ thống triều cống thời xưa.

Tập Cận Bình đã chủ trì hai hội nghị quốc tế về BRI mà nguyên thủ các nước đến Bắc Kinh để chầu giống như hệ thống triều cống thời xưa. Theo Michael Sobolik, tác giả của một cuốn sách về “Vành đai và Con đường”, sáng kiến này là ván cờ của Trung Quốc để làm điều mà Trung Quốc đã từng làm hàng ngàn năm qua: kết hợp vị thế địa chiến lược với nền văn minh Trung Hoa.

Tuy Đại hội 20 sẽ tiếp tục lấp đầy đội ngũ lãnh đạo của đảng bằng những người trung thành với Tập, nhưng ông là một “hoàng đế không có người kế vị”. Đây là thời kỳ tranh chấp bất ổn vì nhiều quan chức sẽ tranh nhau để kế vị Tập. Chính sách sẽ ngày càng khó lường vì lời hoàng đế nói ra là luật lệ. Với ngôi vị Thiên tử, Tập sẽ theo đuổi một trật tự khu vực mà các nước láng giềng sẽ trở thành chư hầu.

Nói cách khác, Tập Cận Bình phải đương đầu với nhiều thách thức khó lường trong nước và ngoài nước. Điểm yếu lớn nhất của ông là khả năng nắm bắt về kinh tế kém do chủ quan và cực đoan. Chính sách “zero Covid” của Tập và cách điều hành kinh tế đang dẫn đến trì trệ và suy thoái. Ngoài ra, các cuộc thanh trừng thường xuyên tại các cấp trong đảng dẫn đến tình trạng ân oán và bất mãn trong nội bộ, làm cho ông cảm thấy bất an hơn.

Theo Kerry Brown, Trung Quốc quá phức tạp, quá lớn và quá tư bản để tránh được đa nguyên về chính trị. Nhưng Tập Cận Bình đã dẫn dắt Trung Quốc đi theo hướng ngược lại. Kết cục là ông cũng trở thành “tù nhân của đảng” khi tìm mọi cách để phục hưng vai trò nước lớn của Trung Quốc theo đúng nghĩa của từ từ này.

Kịch bản về nhân sự

Đại hội 20 chắc chắn sẽ khẳng định Tâp Cận Bình tiếp tục lãnh đạo nhiệm kỳ thứ ba, và chắc chắn Trung Quốc sẽ tiếp tục xu hướng độc tài về đối nội và cực đoan về đối ngoại. Đó là xu hướng chiến lược khó lòng thay đổi. Nhưng các diễn biến khó lường gần đây trên thế giới cũng như trong nước, về an ninh cũng như về kinh tế, sẽ buộc Trung Quốc phải tính toán lại và điều chỉnh chính sách linh hoạt hơn để đối phó với tình huống.

Theo quy định về tuổi, Lý Khắc Cường (67 tuổi), Uông Dương (67 tuổi), Vương Hỗ Ninh (67 tuổi) và Triệu Lạc Tế (65 tuổi) có thể ở lại Ban Thường vụ, nhưng Lật Chiến Thư (72 tuổi) và Hàn Chính (68 tuổi) đến tuổi nghỉ hưu. Ứng viên hàng đầu cho hai ghế trống trong Ban Thường vụ là Trần Mẫn Nhĩ (62 tuổi) Hồ Xuân Hoa (59 tuổi).

Nếu Lý Khắc Cường thôi giữ chức thủ tướng Trung Quốc thì người có khả năng kế nhiệm là Uông Dương, một nhà cải cách có năng lực. Hồ Xuân Hoa là người có đủ điều kiện làm phó thủ tướng để có thể kế nhiệm ghế thủ tướng vào năm 2027. Theo giới quan sát, Trần Mẫn Nhĩ và Hồ Xuân Hoa được xác định là hai ứng viên duy nhất có khả năng thay thế vị trí Tổng Bí thư Đảng CSTQ và Thủ tướng Quốc vụ viện vào năm 2027-2028.

Theo Cheng Li, trước những thách thức về đối nội cũng như đối ngoại “chưa từng có”, tại đại hội lần này Tập Cận Bình sẽ xóa bỏ các luật lệ và quy định trước đây, trực tiếp quyết định về nhân sự của Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Lật Chiến Thư chắc sẽ nghỉ và giữ chức Phó Chủ tịch nước như Vương Kỳ Sơn trước đây.

Đáng tiếc là các nhà cải cách như Lý Khắc Cường và Lưu Hạc đã điều hành kinh tế trong thập niên vừa qua, nhưng không cản được xu hướng cực đoan và sự trỗi dậy của “chính trị thống soái”. Những tiếng nói ủng hộ cải cách như Lý Khắc Cường, Uông Dương và Hồ Xuân Hoa cũng không cản được xu hướng cực đoan và cứng rắn. Vương Nghị chắc sẽ thay Dương Khiết Trì phụ trách đối ngoại, tuy chưa biết ai làm ngoại trưởng.

Nếu kịch bản một là duy trì xu hướng cải cách mà thiếu khả thi, thì kịch bản hai là xu hướng cực đoan và cứng rắn sẽ chiếm ưu thế. Nói cách khác, các đồng minh của Tập sẽ chiếm đa số trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Hàn Chính (68 tuổi) và Lật Chiến Thư (72 tuổi) có thể ở lại Ban Thường vụ. Nhưng ảnh hưởng của nhà lý luận Vương Hỗ Ninh và thủ tướng Lý Khắc Cường có thể không còn phù hợp với ý chỉ của “hoàng đế” Tập Cận Bình.

Trong trường hợp Tập quyết định tăng số ghế của Ban Thường vụ lên chín người, thì Trần Mẫn Nhĩ (62 tuổi) và Đinh Tiết Tường (60 tuổi) là hai ứng viên hàng đầu. Trần Mẫn Nhĩ là sự lựa chọn hợp lý để kế nhiệm Triệu Lạc Tế tại Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chống tham nhũng, còn Đinh Tiết Tường có thể kế nhiệm Vương Hỗ Ninh tại Ban Bí thư, và Hà Lập Phong có thể kế nhiệm Lưu Hạc làm Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế.

Lần đầu tiên kể từ 1978, không có một vị nguyên lão nào đủ sức kiềm chế Tập. Nếu không có các nguyên lão, Tập có thể mắc sai lầm khi theo đuổi các chính sách cực đoan với quyền lực không bị kiểm soát. Đó là chính sách “ngoại giao chiến lang” và “zero covid”.

Theo Cai Xia (Thái Hà), nguyên giảng viên trường đảng cao cấp Trung Quốc, thói tự cao và hoang tưởng của Tập Cận Bình có thể đe dọa tương lai Trung Quốc. Tập không thích bị chỉ trích, hay cố chấp và chỉ thích nghe những ý kiến thuận chiều, mà không thích nghe phản biện nên sẽ mất khả năng tự sửa sai. Ông tiếp tục siết chặt kiểm soát trong nước và theo đuổi tham vọng ngoài nước, nên có thể quyết định cực đoan về Đài Loan. Trong khi dẫn dắt đất nước theo hướng cực đoan, Tập sẽ làm cho Trung Quốc cô lập với thế giới. Sự cạnh tranh giữa các phe phái trong đảng sẽ khốc liệt, phức tạp và tàn bạo hơn. Tập là một nhà quản lý vi mô, làm việc như một “chủ tịch của mọi thứ” (chairman of everything) và “biết tuốt”.

Về đối ngoại, Tập đã thách thức Mỹ và tìm cách thay đổi trật tự thế giới, lấy Trung Quốc làm trung tâm. Ông đã cho quân sự hóa Biển Đông và đe dọa Đài Loan, khuyến khích giới ngoại giao áp dụng “ngoại giao chiến lang”. Về đối nội, ông coi khu vực tư nhân là mối đe dọa quyền lực của mình, và phục hồi kinh tế theo cách của Mao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại do chính phủ can thiệp vào khu vực tư nhân vì mục đích chính trị.

Tập Cận Bình đang đối mặt với sự phản đối ngày càng tăng trong nội bộ giới tinh hoa. Đến nay, Lý Khắc Cường vẫn nhân nhượng trước thái độ kiêu ngạo của Tập, và miễn cưỡng phục tùng khi cần thiết, nhưng có thể ông đã hết khả năng chịu đựng. Xu hướng quản lý vi mô của Tập đã cản trở việc ứng phó với đại dịch khi biến thể omicron lan rộng ở Thượng Hải (2/2022). Ông đã khăng khăng thực hiện chính sách cực đoan “zero-covid”.

Gót chân Asin

Theo Kevin Rudd, chủ tịch Asia Society, tuyên bố của Tập Cận Bình về lịch sử và quyền lực còn thiếu tính đột phá và không phù hợp. Ngay trước Đại hội 20, khi Tập củng cố quyền lực và nhắm đến nhiệm kỳ thứ ba, các nhà phân tích đã lý giải xem quan điểm nào sẽ định hướng Tập và tham vọng của Trung Quốc. Hầu hết các học giả Phương Tây coi hệ tư tưởng cộng sản trên thực tế đã “chấm hết”.

Trong lập luận của mình, Tập đã vận dụng lịch sử để xác lập vị trí của cách mạng Trung Quốc trong lịch sử thế giới, trong bối cảnh Trung Quốc tiến tới giai đoạn cao hơn của chủ nghĩa xã hội trong khi hệ thống tư bản suy thoái. Qua lăng kính của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Tập coi sứ mệnh của mình là một bước tiến trong quá trình tranh đấu quyết liệt giữa Đảng CSTQ và các thế lực phản động trong nước, cũng như các tập đoàn tư nhân.

Theo Tập, Phương Tây có ý định bao vây Trung Quốc bằng những cơ chế mới như QUAD và AUKUS. Đó là nững cơ chế thù địch về chiến lược và dễ đoán định về ý thức hệ, đòi hỏi Trung Quốc phải có cách thức đấu tranh mới để đối phó về chính trị, tư tưởng và quân sự. Dưới sự chỉ đạo của Tập, Trung quốc đã phong tỏa vùng biển và không phận Đài Loan, tập trận quy mô lớn và bắn tên lửa thật tại một số khu vực xung quanh Đài Loan.

Tập Cận Bình có những điểm yếu về chính trị khi định biến Đảng CSTQ thành “một nhà thờ theo đức tin cổ hủ được hồi sinh”. Nếu có thay đổi chính trị thì nó sẽ diễn ra sau khi Tập qua đời chứ không phải trước đó. Tập hiểu rõ nếu ông từ chức thì bản thân và gia đình sẽ có nguy cơ bị những người kế nhiệm trừng phạt vì những ân oán vừa qua. Vì vậy, Tập phải lãnh đạo đất nước suốt đời.

Gót chân Asin của Tập là về kinh tế. Nếu không điều chỉnh hướng đi triệt để thì nền kinh tế sẽ bị đình trệ, với mức tăng trưởng khoảng 3% trong thập niên 2020 trước khi giảm xuống khoảng 2% trong thập niên 2030. Ngoài ra Trung Quốc còn đứng trước các xu hướng suy thoái về cơ cấu: dân số già tăng nhanh, số người lao động giảm sút, năng suất thấp, và mức nợ cao ở khu vực nhà nước và các thể chế tài chính.

Về đối nội, câu hỏi sống còn đối với Trung Quốc trong thập niên 2020 là liệu Tập Cận Bình có khả năng điều chỉnh chính sách mềm mỏng hơn, nhằm phục hồi đất nước sau chu kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Về đối ngoại, cách tiếp cận của Trung Quốc được thúc đẩy không chỉ bởi tính toán về cơ hội và rủi ro chiến lược, mà còn bởi Tập tự tin rằng các xu hướng lịch sử đang không ngừng thúc đẩy Trung Quốc tiến lên phía trước.

Tập Cận Bình nhìn nhận mối đe dọa đến từ mọi phía, và Trung Quốc đang hành xử như đang đối diện “xung đột không thể tránh khỏi”. Vì vậy, Mỹ cho rằng Trung Quốc là thách thức lớn nhất về chính trị và an ninh mà họ phải đối phó sau gần một thế kỷ đã bá chủ về địa chính trị. Trung Quốc không phải Liên Xô, không chỉ vì họ là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới mà còn vì Tập Cận Bình không phải Stalin, và càng không phải Mikhail Gorbachev.

Tổng thống Biden đã công bố “chiến lược an ninh quốc gia” (NSS) của Mỹ (12/10/2022) sau khi trì hoãn vì chiến tranh Ukraine. Biden đã xác định Trung Quốc là “thách thức địa chính trị hệ trọng nhất” (most consequential geopolitical challenge) đối với Mỹ và trật tự thế giới. Đây là thông điệp chính trị mạnh mẽ để răn đe và gây sức ép chưa từng có đối với Trung Quốc, chỉ bốn ngày trước khi Đảng CSTQ khai mạc Đại hội 20.

Có thể nói, chiến lược lâu dài của Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc không thay đổi, và chính sách của Trung Quốc đối với Mỹ cũng không thay đổi. Biden gọi Trung Quốc là “đối thủ chiến lược duy nhất” (the only strategic competitor) có ý đồ lập lại trật tự thế giới và có sức mạnh toàn diện để thực hiện ý đồ đó.

Trong bài diễn văn khai mạc đại hội 20, Tập Cận Bình xác định đây là “thời điểm then chốt” trong lịch sử Trung Quốc, khi ông chuẩn bị bước vào nhiệm kỳ lãnh đạo lần thứ ba. Tập tuyên bố sẽ dùng “mọi biện pháp cần thiết”, kể cả vũ lực để “ngăn chặn xu hướng li khai” và thống nhất Đài Loan.

Thay lời kết

Kết quả Đại hội 20 tuy được giữ kín, nhưng không có gì quá bất ngờ. Tập Cận Bình sẽ tiếp tục nhiệm kỳ thứ ba và hơn thế nữa. Nhưng quyền lực của hoàng đế không phải tuyệt đối và Tập không bất tử. Xu hướng độc tài và cực đoan, chỉ muốn nghe ý kiến thuận chiều là gót chân Asin của Tập. Thế giới sẽ phải đối diện với nước Nga “hậu Putin” và Trung Quốc “hậu Tập” (tuy sẽ muộn hơn) vì không ai thoát quy luật “sinh-lão-bệnh-tử”.

Trước đây, Tập đã mấy lần thoát khỏi ám sát hụt, nhưng không có nghĩa sẽ bất tử. Gần đây, tin đồn về đảo chính mà các nhóm Pháp Luân Công tung ra, tuy thất thiệt nhưng đã lan nhanh và dai dẳng vì hợp với tâm trạng của nhiều người, như một cảnh báo. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” để chống tham nhũng và thanh trừng nội bộ đã gây nhiều ân oán. Tuy các phe nhóm chống Tập không đủ mạnh để thay đổi cuộc chơi, nhưng còn dai dẳng.

Trong nước, chủ trương “zero covid”, trấn áp các tập đoàn tư nhân, và định hướng kinh tế “hướng nội”, đang làm cho kinh tế suy thoái. Ngoài nước, chủ trương “ngoại giao chiến lang”, liên minh “không giới hạn” với Nga, gây căng thẳng tại Biển Đông và Đài Loan, đang làm cho Trung Quốc cô lập hơn với thế giới. Cách điều hành của Tập như “chủ tịch của mọi thứ” không phản ánh thế mạnh, mà bộc lộ những điểm yếu tiềm ẩn về thể chế.

FacebookLinkedInEmailMessengerWhatsAppTelegramPrintChia sẻ

]]>
Bilahari Kausikan: Tập đã mắc 3 sai lầm trong chính sách đối ngoại https://biendong.net/2022/10/21/bilahari-kausikan-tap-da-mac-3-sai-lam-trong-chinh-sach-doi-ngoai/ Fri, 21 Oct 2022 03:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=90136 Cựu quan chức ngoại giao hàng đầu Singapore nói rằng Bắc Kinh đã tính toán sai về sự suy yếu của Mỹ.

Tại đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc khai mạc vào ngày 16/10, Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ cố gắng kéo dài nhiệm kỳ của mình với tư cách là nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước.

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã thay đổi đáng kể sau 10 năm cầm quyền của ông, chuyển sang một lập trường tự tin và quyết đoán hơn so với những người tiền nhiệm.

Nikkei Asia vừa có cuộc trò chuyện với cựu đại sứ Bilahari Kausikan, nguyên thư ký thường trực Bộ Ngoại giao Singapore, về phong cách của nhà lãnh đạo Trung Quốc và diễn biến tình hình căng thẳng Mỹ-Trung trong những năm tới.

Kausikan cũng từng là đại diện thường  trực của Singapore tại Liên Hiệp Quốc và đại sứ tại Nga. Ông hiện là Chủ tịch Viện Nghiên cứu Trung Đông tại Đại học Quốc gia Singapore.

Dưới đây là bản biên tập của cuộc phỏng vấn.

Đại sứ Bilahari Kausikan

Hỏi: Ông đánh giá chính sách đối ngoại của Tập Cận Bình như thế nào?

Đáp: Trung Quốc đã phạm phải ba sai lầm rất cơ bản. Sai lầm lớn đầu tiên là họ đã từ bỏ cách tiếp cận ‘ẩn mình chờ thời’ của Đặng Tiểu Bình quá sớm. Điểm khởi đầu là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nó dẫn đến sự khoe khoang quá mức. Đây là một sai lầm không thể sửa chữa bởi một khi anh đã khoe khoang, thì sau đó, dù anh có im lặng đi chăng nữa, mọi người vẫn sẽ không quên những gì anh đã nói.

Sai lầm thứ hai cũng xảy ra vào khoảng năm 2008. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực sự bắt đầu tin vào tuyên truyền của họ. Họ cho rằng Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung đang trên đà suy yếu tuyệt đối và không thể phục hồi được. Mỹ có thể đang suy yếu một cách tương đối và họ có rất nhiều vấn đề, đó là sự thật. Nhưng sự suy yếu ở đây là tương đối, không phải tuyệt đối.

Khoảng một tháng trước, Giáo sư Đại học Bắc Kinh Vương Tập Tư (Wang Jisi) đã trả lời một cuộc phỏng vấn, trong đó ông đưa ra một lập luận rất quan trọng. Ông nói rằng đừng tin là Mỹ đang suy yếu tuyệt đối; Mỹ chỉ suy giảm tương đối so với Trung Quốc vì Trung Quốc đang phát triển; Mỹ vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối so với các nước lớn khác.

Vương rất dũng cảm khi dám nói ra điều đó, bởi vì nó mâu thuẫn trực tiếp với những gì sếp của ông đã nói – rằng phương Đông đang trỗi dậy.

Sai lầm thứ ba là mối quan hệ đối tác ‘không giới hạn’ với Nga. Nga sẽ là ‘cục nợ vĩnh viễn’ đối với Trung Quốc. Nga sẽ ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Trung Quốc có thể có được một phần năng lượng giá rẻ, nhưng như chúng ta thấy, Trung Quốc đang lo lắng về việc bị vướng vào rắc rối ở thời điểm có quá nhiều vấn đề kinh tế trong nước và tăng trưởng đang chậm lại.

Đó là những sai lầm lớn về vĩ mô.

Hỏi: Là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, ông nhận xét thế nào về đường lối ngoại giao chiến lang của Bắc Kinh?

Đáp: Các nhà ngoại giao nên biết cứng rắn nếu cần, để đạt được mục tiêu của họ. Ngoại giao không phải chỉ là làm người tốt và lịch sự. Đây là điều tôi thường nói với các nhà ngoại giao trẻ của đất nước mình. Công việc của các bạn là thúc đẩy lợi ích quốc gia của Singapore. Tất nhiên, hãy cứ tốt bụng và lịch sự, nhưng nếu bắt buộc thì vẫn phải cứng rắn, sử dụng bất kỳ phương tiện nào cần thiết, ngay cả khi điều đó có nghĩa là bạn trở thành kẻ xấu. Nhưng vấn đề là các bạn làm vậy để thúc đẩy mục tiêu của mình.

Đối với ngoại giao chiến lang, tôi không thấy có lợi ích nào của Trung Quốc được thúc đẩy. Thực tế thì, tôi nghĩ rằng những lợi ích đó còn bị thiệt hại. Tuy nhiên, các chiến lang thực ra đang nói chuyện với những người ngồi ở Bắc Kinh, chứ không nhất thiết là với người ngoài.

Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi thăm Quốc hội Đài Loan ở Đài Bắc, vào ngày 3/8. © Reuters

Hỏi: Khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi đến thăm Đài Loan, nhóm diều hâu – với đại diện là các nhà ngoại giao chiến lang – đã khiến nhiều công dân Trung Quốc mong đợi một hành động nào đó nhắm vào máy bay của Pelosi, điều đó rất nguy hiểm. Ông nghĩ thế nào về chuyện này?

Đáp: Pelosi có nên đến thăm Đài Loan hay không là một vấn đề khác. Chuyến đi của bà không đạt được điều gì, ngoại trừ việc kích động nhiều cảm xúc. Nhưng anh nói đúng, xung đột có thể tình cờ xảy ra. Khi anh kích động quần chúng thì đến một lúc nào đó, anh sẽ thấy mình mắc kẹt trong những lời tuyên truyền của chính anh. Nếu anh không đáp ứng được kỳ vọng của mọi người, anh sẽ trông như một kẻ yếu thế.

Hỏi: Liệu căng thẳng Mỹ-Trung có sẽ là tin tức chủ đạo trong 10 năm tới?

Đáp: Anh vừa nói là 10 năm. Còn tôi nghĩ sẽ lâu hơn thế nữa. Căng thẳng Mỹ-Trung sẽ là đặc điểm cấu trúc mới, làm tâm điểm cho các quan hệ quốc tế. Ví dụ tương tự là tình quan hệ quốc tế đã xoay quanh quan hệ Mỹ-Xô suốt hơn 40 năm trong Chiến tranh Lạnh. Nhưng tôi cho rằng quan hệ Mỹ-Trung phức tạp hơn quan hệ Mỹ-Xô.

Tôi không thích thuật ngữ ‘Chiến tranh Lạnh mới.’ Nó thể hiện sai bản chất của mối quan hệ này. Mỹ và Liên Xô từng dẫn đầu các hệ thống riêng biệt, và đó là cuộc cạnh tranh giữa các hệ thống. Về cơ bản, đó là một cuộc cạnh tranh nhị phân, A hoặc B. Hai hệ thống gần như không có kết nối với nhau.

Trong mối quan hệ Mỹ-Trung, cả hai nước đều là những bộ phận quan trọng của một hệ thống duy nhất. Họ được kết nối với nhau, và với Nhật Bản, Singapore, châu Âu, cũng như với tất cả các quốc gia khác, thông qua một hiện tượng mới – đó là chuỗi cung ứng với mức độ phức tạp và phạm vi mà tôi không nghĩ rằng chúng ta đã từng chứng kiến trong lịch sử.

Với tôi, rất khó để tin rằng mạng lưới này có thể tách thành hai hệ thống riêng biệt. Sẽ có sự tách biệt một phần. Nó đã xảy ra trong lĩnh vực công nghệ, internet, nhưng tôi không nghĩ sẽ có sự tách biệt hoàn toàn. Cái giá là quá đắt.

Tôi có thể cho anh một ví dụ. Chúng ta đều biết chất bán dẫn là một điểm yếu lớn của Trung Quốc. Và tôi nghĩ người Trung Quốc sẽ rất, rất khó để bắt kịp. Thậm chí tôi có thể nói rằng Trung Quốc gần như không thể bắt kịp với các công nghệ cao cấp vì ranh giới phân loại vẫn đang dịch chuyển. Những gì được xem là cao cấp ngày hôm nay sẽ không còn là cao cấp sau một năm nữa.

Tuy nhiên, lý do cơ bản khiến họ rất khó bắt kịp và phải mất rất nhiều thời gian để bắt kịp là tất cả hoặc hầu hết các bộ phận quan trọng nhất của chuỗi cung ứng đều do Mỹ, bạn bè, hoặc đồng minh của Mỹ kiểm soát. Một số loại vật liệu, một số loại hóa chất đang nằm trong tay Nhật Bản. Các loại máy công cụ để thiết kế là của người Hà Lan. Các loại máy công cụ khác lại thuộc về các nước châu Âu khác. Các nhà chế tạo chất bán dẫn lớn đang nằm ở Đài Loan, Hàn Quốc, và Mỹ. Và còn rất nhiều bộ phận nhỏ lẻ khác, và những bộ phận quan trọng nhất do Mỹ kiểm soát

Mặt khác, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ 40% sản phẩm bán dẫn. Làm sao có thể cắt giảm 40% sản lượng của công ty mà không gây ra tổn hại nghiêm trọng? Cạnh tranh trong cùng một hệ thống khó hơn nhiều so với cạnh tranh giữa các hệ thống. Anh chỉ cần cắt kết nối của Liên Xô với mọi thứ. Nhưng anh thực sự không thể làm điều đó với Trung Quốc. Anh cần phải phân định rõ ràng hơn.

Thứ hai, tôi không nghĩ rằng cuộc cạnh tranh sẽ kết thúc một cách rõ ràng. Tại sao? Bởi vì người Trung Quốc có thể muốn thống trị hệ thống duy nhất này, còn người Mỹ muốn duy trì sự thống trị của mình. Nhưng không ai trong số họ muốn phá hủy nước còn lại, bởi vì tiêu diệt một bên đồng nghĩa với phá hủy toàn bộ hệ thống, và cái giá phải trả sẽ rất đắt.

Thế nên cạnh tranh Mỹ-Trung sẽ kéo dài hơn nhiều so với Chiến tranh Lạnh, đó là điểm mấu chốt. Chúng ta sẽ phải học cách sống chung với nó.

Hỏi: Chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang chuẩn bị sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và sàng lọc đầu tư để Trung Quốc không đuổi kịp và vượt qua Mỹ về các công nghệ chủ chốt. Ông nghĩ sao về điều này?

Đáp: Giờ đây, chúng ta phải cẩn trọng xem xét loại chất bán dẫn nào mình sẽ bán cho Trung Quốc. Anh chỉ nên bán cho Trung Quốc loại chất bán dẫn chỉ có thể dùng trong máy giặt. Điều đó tốt thôi, tại sao lại không? Nhưng đừng bán cho họ những thứ có thể được sử dụng trong tên lửa dẫn đường chính xác. Mọi chuyện sẽ trở nên rất, rất phức tạp. Rất, rất kỹ thuật. Từng trường hợp phải được nghiên cứu kỹ càng.

Điều tôi đã nghe từ các công ty công nghiệp – bao gồm các công ty công nghiệp Nhật Bản và các công ty công nghiệp Đức – là dù họ vẫn làm việc ở thị trường Trung Quốc, nhưng họ sẽ không ngây thơ. Không thể nói rằng, ‘Tất cả các công ty Nhật Bản sẽ quay về Nhật Bản, sẽ đến Singapore, Việt Nam.” Điều đó chỉ đơn giản là không thể. Ngay cả khi anh muốn làm điều đó, sẽ phải mất rất nhiều năm. Đó không phải là việc có thể được thực hiện nhanh chóng.

]]>