đảo Hải Nam – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Sat, 10 May 2025 03:28:55 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Thành trì quân sự ở Hải Nam – Mối đe dọa lớn đối với Biển Đông và khu vực https://biendong.net/2025/03/05/thanh-tri-quan-su-o-hai-nam-moi-de-doa-lon-doi-voi-bien-dong-va-khu-vuc/ Wed, 05 Mar 2025 02:27:00 +0000 https://biendong.net/?p=149026 Đảo Hải Nam được biết đến với tên gọi mỹ miều “Hawaii của Trung Quốc”, nhưng cũng là địa điểm đặt Căn cứ Hải quân Đông Du Lâm, nơi có các tàu khu trục và tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Trong thập kỷ qua, hòn đảo này (có diện tích gần bằng Đài Loan) đã trở thành nơi tập trung nhiều tàu chiến nhất của Trung Quốc và cũng được xem là “điểm khởi đầu” cho các cuộc tấn công hung hãn vào vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.

Đảo Hải Nam được biết đến với tên gọi mỹ miều “Hawaii của Trung Quốc”, nhưng cũng là địa điểm đặt Căn cứ Hải quân Đông Du Lâm, nơi có các tàu khu trục và tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Trong thập kỷ qua, hòn đảo này (có diện tích gần bằng Đài Loan) đã trở thành nơi tập trung nhiều tàu chiến nhất của Trung Quốc và cũng được xem là “điểm khởi đầu” cho các cuộc tấn công hung hãn vào vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.

Theo một phân tích độc quyền về khoảng 200 địa điểm quân sự của Nhóm Chiến lược Dài hạn (LTSG) – một công ty tư vấn quốc phòng do Bộ Quốc phòng Mỹ ủy quyền, trong hơn 2 thập kỷ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tăng hơn gấp ba lần giá trị của cơ sở hạ tầng quân sự ở Hải Nam và trên các rạn san hô được cải tạo ở Biển Đông. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu cho rằng, nhìn chung giá trị của cơ sở hạ tầng quân sự ở Hải Nam và Biển Đông đã vượt quá 50 tỷ USD (tính đến năm 2022). LTSG cho biết con số này lớn hơn giá trị của tất cả các cơ sở quân sự của Mỹ ở Hawaii.

Các nhà nghiên cứu cho biết thêm rằng, cơ sở hạ tầng tại Căn cứ Hải quân Du Lâm Lớn ở Hải Nam được định giá hơn 18 tỷ USD vào năm 2022, sánh ngang với giá trị của một trong những cơ sở quan trọng nhất của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương: Căn cứ chung Trân Châu Cảng-Hickam (Con số đó không bao gồm phần căn cứ tàu ngầm nằm bên ngoài một ngọn núi ở căn cứ Đông Du Lâm). Hải Nam (tỉnh cực Nam của Trung Quốc) hiện tự hào có một bộ máy hỗ trợ quân sự (được củng cố bởi các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng đáng kinh ngạc ở Biển Đông) mà các nhà phân tích cho rằng, nếu xu hướng hiện tại tiếp tục sẽ có thể vô hiệu hóa những gì từ lâu được coi là lợi thế quân sự của Mỹ trong một cuộc đối đầu có thể xảy ra.

Đô đốc Samuel Paparo, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ cho biết trong một cuộc trả lời phỏng vấn rằng: “Đó là một thách thức sâu sắc đối với khu vực. Đó là một thách thức sâu sắc đối với các đồng minh và đối tác của chúng tôi. Không thể phủ nhận rằng việc tăng cường năng lực ở Biển Đông… là mối đe dọa… đối với lợi ích của Mỹ”.

Các quan chức quân sự cấp cao của Mỹ không nghĩ rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình sẵn sàng tiến hành một cuộc tấn công nhằm thu hút lực lượng Mỹ. Nhưng điều đó không có nghĩa là “ngày đó sẽ không đến” mà chỉ là sớm hay muộn. Chuẩn Đô đốc đã nghỉ hưu Michael Studeman, cựu Chỉ huy Văn phòng Tình báo Hải quân Mỹ, cho biết: “Trung Quốc đang nỗ lực rất nhiều để có được những ưu thế vượt trội ở đó mà không ai có thể sánh được”. Ông Michael Studeman cho rằng: “Họ (Trung Quốc) đã xây dựng kịch bản triển khai sức mạnh đa dạng (trên không, tên lửa, dân quân, tàu, tàu ngầm). Và chúng ta (Mỹ) cần xây dựng năng lực và tư thế quân sự của mình với các đồng minh để ngăn chặn một cuộc tấn công của Trung Quốc”.

Căn cứ hải quân Du Lâm Lớn là trung tâm hiện diện của Hải quân Trung Quốc ở Biển Đông, được chia thành 2 vịnh nước sâu và có 2 hạng mục cơ sở hạ tầng quân sự đắt tiền nhất trong khu vực hiện nay: một ụ tàu sân bay và một bến tàu sân bay, cùng có giá trị khoảng 2,5 tỷ USD (theo ước tính của LTSG).

Căn cứ hải quân Đông Du Lâm là căn cứ tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo duy nhất của Trung Quốc, một cơ sở hàng đầu cung cấp một phần khả năng răn đe hạt nhân chiến lược của quốc gia. Ngay ở phía Nam của khu phức hợp gồm 6 cầu tàu là một hang động lớn được xây dựng trên sườn đồi thiết kế để chứa nhiều tàu ngầm nằm sâu dưới lòng đất và ở ngoài tầm theo dõi của các vệ tinh giám sát. Xa hơn về phía Nam là một cơ sở khử từ giúp giảm tín hiệu từ tính của các tàu Hải quân PLA, khiến chúng khó bị máy bay chống ngầm phát hiện hơn. Căn cứ này còn có nhiều kho chứa vũ khí, nhiều kho khác đang được xây dựng và toàn bộ tổ hợp hải quân được bảo vệ bằng các khẩu đội tên lửa chống hạm và đất đối không.

Tuy nhiên, sự phát triển của Hải Nam không chỉ giới hạn ở vùng biển khơi. Hai thập kỷ trước, một máy bay trinh sát EP-3 của Mỹ đã bị một máy bay chiến đấu Trung Quốc đâm phải và phải hạ cánh khẩn cấp xuống Căn cứ Không quân Lăng Thủy của Hải Nam (khi đó là một đường băng hẹp duy nhất, rải rác những máy bay phản lực thời Liên Xô). Ngày nay, với quá trình hiện đại hóa, căn cứ đó ước tính trị giá 1,65 tỷ USD và tự hào có máy bay tác chiến chống tàu ngầm, tàu cảnh báo sớm trên không và khu vực lưu trữ đạn dược mới. Hiện nó cũng là một trong 3 sân bay quân sự lớn trên đảo. Ngoài ra, cách bờ biển khoảng 125 dặm về phía Đông Bắc là cơ sở phóng vệ tinh Văn Xương của PLA, được Trung Quốc gọi là “Cánh cổng vào không gian trong thế kỷ 21”. PLA phóng vệ tinh từ Văn Xương cho mục đích liên lạc, trinh sát và giám sát. Với lần phóng đầu tiên vào năm 2016, Văn Xương là sân bay vũ trụ duy nhất của Trung Quốc nằm trên bờ biển (3 sân bay còn lại nằm ở các vùng xa xôi như Nội Mông và tỉnh Sơn Tây).

Hải Nam cũng tự hào có căn cứ Lực lượng Tên lửa PLA, một trong hơn 40 cơ sở trên khắp đất nước. Theo Decker Eveleth, chuyên gia về chương trình tên lửa và hạt nhân Trung Quốc tại CNA, một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Arlington (bang Virginia) Mỹ, căn cứ này được xây dựng vào năm 2019, chứa tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D. Được mệnh danh là “Sát thủ tàu sân bay”, những vũ khí trang bị thông thường này có thể di chuyển hơn 900 dặm, cho phép PLA tiến hành các cuộc tấn công chính xác chống lại các tàu ở xa như Tây Thái Bình Dương. Tháng 9/2024, Lực lượng Tên lửa đã phóng (từ một địa điểm ở phía Bắc Văn Xương) một tên lửa đạn đạo xuyên lục địa với đầu đạn giả bay khoảng 7.400 dặm trước khi rơi xuống Nam Thái Bình Dương. Đây cũng là vụ phóng đầu tiên của Trung Quốc trong hơn 40 năm.

Thomas Shugart, một thành viên cấp cao tại Trung tâm an ninh Mỹ và cựu sĩ quan tác chiến tàu ngầm của hải quân, cho biết các căn cứ không quân ở Hải Nam cung cấp sự bảo vệ cho hạm đội tàu Trung Quốc. Chúng là một phần của cái được gọi là “thế trận quân sự nhiều lớp”: Trong khi hải quân PLA đi lại trên Biển Đông, các tàu ngầm có thể ngăn chặn lực lượng của kẻ thù và tiến hành trinh sát trước hạm đội. Máy bay chiến đấu cung cấp sự hỗ trợ trên không và ngăn chặn các mối đe dọa phía trước, trong khi tên lửa của Lực lượng Tên lửa cung cấp khả năng yểm trợ tầm xa. Ông Shugart nói: “Đây (Hải Nam) là một tập hợp cơ sở hạ tầng toàn diện bao trùm mọi lĩnh vực xung đột trên biển, trên không và dưới lòng Biển Đông. Và tất cả những điều này sẽ rất khó hóa giải, đặc biệt là trong cuộc xung đột lớn ở eo biển Đài Loan”.

Hải Nam và Biển Đông nằm ở phần phía Tây của cái gọi là “Chuỗi đảo thứ nhất” – một khu vực bao quanh phía Nam quần đảo Nhật Bản, dọc theo bờ biển Đài Loan và phía Bắc Philippines, sau đó uốn cong dọc theo Malaysia và Brunei (đảo Borneo) và về phía Bắc Việt Nam, theo hình lưỡi câu khổng lồ. Phần lớn ranh giới địa lý này trùng lặp với “Đường 10 Đoạn” của Trung Quốc, hay phần rìa của những gì nước này tuyên bố là quyền thống trị trên biển của mình. Chuẩn Đô đốc đã nghỉ hưu Michael Studeman cho biết, mục tiêu lâu dài của PLA là đạt được khả năng triển khai sức mạnh “đột phá” dọc theo toàn bộ sườn hàng hải của nước này, từ Biển Nhật Bản xuống qua Biển Đông. Bắc Kinh tin rằng cách duy nhất để bảo vệ huyết mạch chiến lược của mình, đảm bảo nguồn tài nguyên ngoài khơi và ngăn chặn kẻ thù là thiết lập quyền kiểm soát hiệu quả bên trong phần lớn khu vực được phân định bởi “Chuỗi đảo thứ nhất” và đó sẽ là bước đầu tiên trong một vở kịch chiến lược nhằm mở rộng sức mạnh của mình sang Thái Bình Dương rộng lớn hơn cũng như Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương. Ông Studeman nhấn mạnh: “Cơn sốt thống trị các vùng lân cận của Trung Quốc đã trở thành xu hướng gây bất ổn nhất ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”.

Biển Đông, Eo biển Đài Loan và Biển Hoa Đông là một trong những tuyến đường vận chuyển nhộn nhịp nhất trên thế giới, một đường cao tốc hàng hải vận chuyển hàng hóa và năng lượng. Trong 10 năm qua, Trung Quốc đã xây dựng các đảo tiền đồn trên Biển Đông để mở rộng phạm vi hoạt động và khẳng định quyền thống trị trên các tuyến đường thương mại này. Các đồng minh và đối tác dân chủ của Mỹ (bao gồm Philippines, Đài Loan và Nhật Bản) nằm dọc theo “Chuỗi đảo thứ nhất” và phản đối hoạt động quân sự hóa vùng biển của Trung Quốc. Xa hơn về phía Đông ở Thái Bình Dương, dọc theo “Chuỗi đảo thứ hai”, là nơi có các căn cứ quân sự lớn của Mỹ. Các tiền đồn quân sự hóa của Trung Quốc được thiết kế để hạn chế khả năng Mỹ và các đồng minh tiến vào vùng ảnh hưởng mà Bắc Kinh tuyên bố.

Theo báo cáo năm 2023 của Đại học Duke (do học giả Lincoln Pratson dẫn đầu), hàng năm có khoảng 7,4 nghìn tỷ USD giá trị thương mại đi qua vùng biển Biển Đông và Biển Hoa Đông (ít nhất là tính đến năm 2019 trước khi đại dịch COVID-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng). Hầu hết nhiên liệu và các tài nguyên khác mà Trung Quốc cần đều đến từ Trung Đông và châu Phi thông qua các vùng biển này (cũng như khoảng 80% thương mại của nước này). Ông Pratson cho biết: “Nếu xảy ra xung đột ở đó, có tới 30% thương mại dầu mỏ thế giới sẽ bị ảnh hưởng”.

Điểm nóng nhất ở Biển Đông thời gian gần đây là gần Philippines, nơi các tàu hải cảnh, tàu dân quân biển Trung Quốc thường xuyên đụng độ với các tàu tuần duyên và tàu công vụ của Philippines ở khu vực Bãi Cỏ Mây, Bãi cạn Scarborough, Bãi cạn Sabina trong năm qua. Cuộc xung đột đã trở thành một sự cố quốc tế, gây ra sự phẫn nộ từ Philippines và Mỹ cam kết rằng họ sẽ hỗ trợ đồng minh hiệp ước của mình nếu các tàu hải quân và tàu tuần duyên Philippines bị tấn công vũ trang. 

Nếu xung đột leo thang thành một cuộc đấu súng và Mỹ đến bảo vệ Philippines thì các căn cứ không quân gần nhất của Mỹ gồm: Căn cứ Không quân Andersen trên đảo Guam (một lãnh thổ của Mỹ cách Bãi Cỏ Mây khoảng 1.900 dặm) và Căn cứ Không quân Kadena (trên đảo Okinawa ở Nhật Bản cách đó 1.400 dặm). Nhưng chỉ cách đó 18 hải lý là Đá Vành Khăn, nơi Trung Quốc có căn cứ không quân trị giá hơn 3,5 tỷ USD, theo LTSG. Trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng cơ sở quân sự quy mô lớn trên khắp Biển Đông, từ Hoàng Sa đến quần đảo Trường Sa, bao gồm cả việc bồi đắp mở rộng các thực thể không có người ở thành các hòn đảo nhân tạo có nhiều trang thiết bị quân sự.  LTSG chốt giá trị của các căn cứ Trung Quốc này vào năm 2022 ở mức 15 tỷ USD, vượt qua giá trị của tất cả cơ sở hạ tầng quân sự của Mỹ trên đảo Guam.

Đô đốc Samuel J. Paparo, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, lưu ý đến kho vũ khí đáng nể của Trung Quốc. Ông Paparo cho biết: “Không thể phủ nhận số lượng các năng lực mà (Trung Quốc) đã trang bị cho đảo Hải Nam” khi xem qua danh sách bao gồm: 6 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân, 1 đội tàu khu trục, 2 trung đoàn chiến đấu cơ, 1 lữ đoàn tên lửa đạn đạo, 2 phi đội tàu ngầm tấn công, 2 sân bay, 2 căn cứ hải quân, 1 lữ đoàn phòng thủ bờ biển và 1 lữ đoàn vũ khí tổng hợp. Paparo cho biết thêm rằng, mặc dù Mỹ với các tàu và máy bay ở Thái Bình Dương, luôn sẵn sàng bảo vệ các đồng minh và lợi ích của mình nếu Trung Quốc tấn công, nhưng vẫn cần phải làm nhiều hơn nữa. Ông Paparo cho rằng: “Chúng ta (Mỹ) phải tăng cường đầu tư vào cơ sở công nghiệp quốc phòng và cơ sở hạ tầng quốc phòng của mình để ngăn chặn xung đột bằng sức mạnh chiến đấu quyết định và đáng tin cậy”.

Qua những đánh giá kể trên, có thể thấy Hải Nam đã được Bắc Kinh xây dựng thành một thành trì quân sự ở phía Nam Trung Quốc, tạo mối đe doạ lớn không chỉ với Biển Đông mà cả khu vực.

]]>
Hãy cảnh giác với “bức màn” tự do thương mại của Hải Nam https://biendong.net/2023/01/12/hay-canh-giac-voi-buc-man-tu-do-thuong-mai-cua-hai-nam/ Thu, 12 Jan 2023 02:47:25 +0000 https://biendong.net/?p=95911 Hải Nam nằm ở cực Nam của Trung Quốc và luôn được Bắc Kinh sử dụng như một địa bàn để phục vụ tham vọng khống chế, độc chiếm Biển Đông. Trong tỉnh này có cái gọi là “thành phố Tam Sa” được Trung Quốc lập ra để “quản hạt” các khu vực mà Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông, cho dù yêu sách này đã bị Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông.

Các chuyên gia nhận định với vị trí địa lý đặc biệt, Hải Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, tầm quan trọng về địa chiến lược của nó có thể làm phức tạp hóa, thay vì nâng cao khả năng của Hải Nam trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế của Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực.

Đảo Hải Nam

Hải Nam từng là nơi đi đầu trong việc thí điểm thời kỳ “cải cách và mở cửa” của Trung Quốc khi được tách ra khỏi tỉnh Quảng Đông với tư cách là tỉnh “trẻ nhất” của Trung Quốc vào năm 1988, cũng là thời điểm nơi đây được chỉ định là “Đặc khu kinh tế” (SEZ). Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ sau đó, Hải Nam đã không thể gây được ấn tượng về mặt kinh tế sau khi một loạt chiến lược kinh tế không nhất quán đã cản trở tỉnh này phát triển. Năm 1994, Hải Nam đã xây dựng một chiến lược tập trung vào công nghiệp nặng, nhưng chỉ được vài năm đã từ bỏ điều này để tập trung vào các ngành công nghiệp hàng hải.

Bẵng đi một thời gian dài, người ta không nhắc đến vai trò của Hải Nam về mặt kinh tế. Những năm đầu Thế kỷ 21, Hải Nam thường được giới quan sát quốc tế nhắc đến như một căn cứ quân sự lớn ở phía Nam của Trung Quốc. Nơi đây có xuất hiện nhiều công trình quân sự lớn mà tiêu biểu là căn cứ tàu ngầm lớn tại Du Lâm, nằm ở bờ biển phía Đông Nam đảo Hải Nam. Đồng thời, đây cũng là một trong những căn cứ nơi xuất phát  và tỉnh này được nêu tên gắn với nhiều hoạt động bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông,  từ việc ban hành các quyết định quản lý hành chính đến việc triển khai các hoạt động từ việc gây hấn với các nước láng giềng ven Biển Đông đến hay tiến hành diễn tập quân sự trên Biển Đông…. Do vậy mà các chuyên gia nhận định Hải Nam là tiền đồn quân sự lớn để Trung Quốc khống chế Biển Đông.

Do có vị trí chiến lược đối với Biển Đông, đảo Hải Nam được xây dựng trở thành một căn cứ hải quân, không quân lớn của quân đội Trung Quốc. Mặt khác, đây cũng là nơi tập trung của lực lượng dân quân biển trước khi tỏa ra hoạt động khắp Biển Đông, giúp Trung Quốc duy trì sự hiện diện thường xuyên và triển khai chiến thuật “vùng xám” ở Biển Đông.

Thực tế cho thấy Các chuyên gia quân sự cho rằng từ căn cứ quân sự ở Hải Nam, Trung Quốc đã từng bước tiến ra Biển Đông, xây dựng các công trình quân sự trên các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông, trong đó các cầu cảng, đường băng cỡ lớn tập trung trên đảo Phú Lâm, ở quần đảo Hoàng Sa và trên các đá Chữ Thập, đá Xu Bi, đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa với mục tiêu mở rộng sự hiện diện quân sự trên Biển Đông hay nói cách khác là quân sự hóa Biển Đông.

Nhân dịp 30 năm thành lập tỉnh Hải Nam, tháng 04/2018, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nâng tầm của Hải Nam lên một bậc khi đưa ra ý kiến chỉ đạo biến hòn đảo này thành vùng tự do thương mại hướng đến lĩnh vực biển. Ông Tập thậm chí còn tuyên bố Hải Nam sẽ trở thành viên ngọc trai của Trung Quốc. Căn cứ vào chỉ đạo của ông Tập Cận Bình, tháng 6/2020 Chính phủ Trung Quốc chính thức công bố quyết định về thành lập vùng tự do thương mại và được Quốc hội Trung Quốc thông qua vào năm 2021. Với chủ trương xây dựng hòn đảo này thành vùng tự do thương mại, mục tiêu của ông Tập Cận Bình là biến Hải Nam thành biểu tượng của chính sách mở cửa của Trung Quốc và đặc biệt nhấn mạnh vào lĩnh vực du lịch. Hiện Hải Nam có cả một kế hoạch thu hút khách du lịch nước ngoài lưu lại lâu hơn trên đảo, như không cần visa (công dân 59 nước được miễn visa du lịch), thời hạn lưu trú dài hơn so với những thành phố khác của Trung Quốc. Đây được coi là bước đột phá, tăng tốc trong tiến trình mở cửa ở Hải Nam.

 Bên cạnh đó, Vùng tự do thương mại đảo Hải Nam sẽ tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường chưa từng có cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi nó sở hữu một danh sách ngắn nhất các mặt hàng bị hạn chế hoặc cấm đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong số các khu vực thương mại tự do của Trung Quốc. Đầu tư vào các ngành dịch vụ, hậu cần như du lịch, dịch vụ y tế, tài chính và giáo dục đang được đặc biệt khuyến khích. Theo đó, vùng tự do thương mại Hải Nam được lên kế hoạch hoạt động đầy đủ vào năm 2035, trở thành một khu vực hải quan riêng với cơ cấu và cấu trúc thuế quan riêng. Sẽ có “hai tuyến” điều hành hàng hóa ra vào Hải Nam. “Tuyến đầu tiên” gần như hoàn toàn mở, cho phép hầu hết hàng hóa được tự do nhập khẩu và xuất khẩu từ vùng tự do thương mại Hải Nam; “Tuyến thứ hai” điều tiết chặt chẽ hơn hàng hóa đi từ Hải Nam vào lục địa Trung Quốc. Đầu tháng 4/2022, giới chức Hải Nam đã âm thầm thực hiện bước đầu tiên là “niêm phong hải quan” để chuyển vùng tự do thương mại Hải Nam thành một khu vực hải quan hoàn toàn tách biệt vào năm 2025. Thuế suất sẽ sớm được đơn giản hóa và thấp hơn các khu vực khác của Trung Quốc.

Giới quan sát nhận định vì là một hòn đảo, Hải Nam không dính với phần còn lại của Trung Hoa lục địa nên có thể dễ dàng hơn trong việc thử nghiệm những chính sách theo hướng mở cửa. Với chủ trương xây dựng hòn đảo này thành vùng tự do thương mại, mục tiêu của ông Tập Cận Bình là biến Hải Nam thành biểu tượng của chính sách mở cửa của Trung Quốc và đặc biệt nhấn mạnh vào lĩnh vực du lịch. Hiện Hải Nam có cả một kế hoạch thu hút khách du lịch nước ngoài lưu lại lâu hơn trên đảo, như không cần visa (công dân 59 nước được miễn visa du lịch), thời hạn lưu trú dài hơn so với những thành phố khác của Trung Quốc. Đây được coi là bước đột phá, tăng tốc trong tiến trình mở cửa ở Hải Nam.

Vị thế cảng thương mại tự do của Hong Kong hay Singapore chính là những hình mẫu cho vùng tự do thương mại Hải Nam; Hawaii cũng là một nguồn cảm hứng cho Hải Nam do là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Theo đó, vùng tự do thương mại Hải Nam được lên kế hoạch hoạt động đầy đủ vào năm 2035, trở thành một khu vực hải quan riêng với cơ cấu và cấu trúc thuế quan riêng. Sẽ có “hai tuyến” điều hành hàng hóa ra vào Hải Nam. “Tuyến đầu tiên” gần như hoàn toàn mở, cho phép hầu hết hàng hóa được tự do nhập khẩu và xuất khẩu từ vùng tự do thương mại Hải Nam; “Tuyến thứ hai” điều tiết chặt chẽ hơn hàng hóa đi từ Hải Nam vào lục địa Trung Quốc. Đầu tháng 4/2022, giới chức Hải Nam đã âm thầm thực hiện bước đầu tiên là “niêm phong hải quan” để chuyển vùng tự do thương mại Hải Nam thành một khu vực hải quan hoàn toàn tách biệt vào năm 2025. Thuế suất sẽ sớm được đơn giản hóa và thấp hơn các khu vực khác của Trung Quốc.

Tuy nhiên, giới nghiên cứu quốc tế đã đưa ra những nhận định hết sức quan trọng về chủ trương của Bắc Kinh trong việc biến Hải Nam thành vùng tự do thương mại; coi quyết định này của ông Tập Cận Bình không đơn thuần chỉ là một tầm nhìn để thiết lập một trung tâm thương mại và du lịch mà nó bao hàm một ý nghĩa chiến lược sâu sắc, một phần trong chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc và mục tiêu không đổi trong vấn đề Biển Đông hết sức nguy hiểm, trong đó có mưu đồ chính trị và lãnh thổ, thúc đẩy tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, sau một thời gian tập trung xây dựng đảo Hải Nam thành một căn cứ quân sự lớn để khống chế Biển Đông, Trung Quốc đã vấp phải nhiều chỉ trích của cộng đồng quốc tế và tạo mối lo ngại lớn đối với các nước láng giềng ven Biển Đông. Giờ đây, giới cầm quyền Bắc Kinh với hạt nhân là ông Tập Cận Bình đang tìm cách để dân sự hóa khu vực trọng yếu này hòng đánh lạc hướng dư luận, giảm bớt sự chú ý của cộng đồng quốc tế ở khía cạnh quân sự.

Mục tiêu xuyên suốt của Trung Quốc là khống chế, độc chiếm Biển Đông. Hải Nam luôn được Bắc Kinh sử dụng như bàn đạp tiến xuống Biển Đông để hiện thực hóa mục tiêu này. Giới phân tích nhận định về thực chất vùng tự do thương mại chỉ là “một chiếc áo” được Bắc Kinh khoác lên Hải Nam làm vỏ bọc để che đậy những toan tính về vai trò chiến lược về mặt quân sự trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Giới cầm quyền Bắc Kinh ý thức rất rõ rằng một Hải Nam phát triển hơn có thể đóng vai trò như một “xuất phát điểm tốt hơn cho quân đội Trung Quốc”.

Thứ hai, cả Trung Quốc và Mỹ đều khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực, chính vì lẽ đó mà ASEAN luôn là địa bàn cạch tranh ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc. Bắc Kinh đưa ra chủ trương biến Hải Nam thành vùng tự do thương mại với mục tiêu tranh thủ, lôi kéo các nước ASEAN nhằm giành ưu thế trước Mỹ ở khu vực. Trên thực tế, năm 2021 các nước ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất của Hải Nam. Trong bối cảnh Mỹ đang nỗ lực thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với việc đưa ra sáng kiến khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và ngay lập tức có được sự tham gia của 7/10 nước ASEAN, Bắc Kinh thấy cần thiết sử dụng vùng tự do thương mại Hải Nam như một bàn đạp để ngăn các nước ASEAN ngả theo Mỹ. Một số chuyên gia đã nhận định kế hoạch lập vùng tự do thương mại Hải Nam là “đòn phản công” của Trung Quốc đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ.

Mặt khác, Bắc Kinh tính toán dựa vào vùng tự do thương mại để tạo động lực tích cực nhằm củng cố quan hệ kinh tế Trung Quốc – ASEAN nhằm hạn chế tối đa phản ứng của các nước này trên hồ sơ Biển Đông. Trong con mắt của Bắc Kinh, miếng bánh kinh tế lớn hơn cuối cùng cũng sẽ khiến các tranh chấp ở Biển Đông trở nên không còn mấy quan trọng nếu so với sự hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN. Tuy nhiên, quan điểm này của Trung Quốc không hẳn sẽ được các nước Đông Nam Á có yêu sách ở Biển Đông đồng tình.

Thứ ba, thông qua phát triển Hải Nam thành vùng tự do thương mại, Trung Quốc một mặt triển khai chiến lược Vành đai, con đường, mặt khác tạo sức ép cạnh tranh quyết liệt đối với Việt Nam. Khi đi vào triển khai, với nhiều ưu đãi, trợ cấp và đặc biệt là khả năng tài chính từ Chính phủ Trung Quốc, Hải Nam sẽ có nhiều điều kiện phát triển mạnh và những lĩnh vực Hải Nam đang tập trung thu hút đầu tư, du lịch cũng chính là các thế mạnh của các tỉnh ven biển phía Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh đó, thách thức về mặt kinh tế đối với Việt Nam sẽ lớn hơn rất nhiều.

]]>
Lộ diện căn cứ có thể giúp TQ tăng giám sát Biển Đông https://biendong.net/2021/12/28/lo-dien-can-cu-co-the-giup-tq-tang-giam-sat-bien-dong/ Tue, 28 Dec 2021 04:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=71609 Cơ sở Mộc Miên trên đảo Hải Nam được mở rộng, có thể giúp Trung Quốc thu thập thông tin tình báo tín hiệu để giám sát Biển Đông, theo CSIS.

Cơ sở Mộc Miên trên đảo Hải Nam được mở rộng, có thể giúp Trung Quốc thu thập thông tin tình báo tín hiệu để giám sát Biển Đông.

Theo Deutsche Welle (Tiếng nói nước Đức) ngày 18/12, tổ chức tư vấn Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ hôm thứ Sáu (17/12) đã đưa ra một báo cáo nói Trung Quốc đã đạt được tiến triển rất lớn trong các hoạt động nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng tác chiến điện tử, thông tin liên lạc và thu thập thông tin tình báo ở gần Biển Đông. Các hình ảnh vệ tinh gần đây cho thấy Trung Quốc nhanh chóng mở rộng các cơ sở liên quan trong khu vực “Căn cứ Mộc Miên” (Mumian facility) ở đảo Hải Nam để có thể cung cấp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) sự hỗ trợ kỹ thuật mạnh mẽ hơn để theo dõi và ứng phó với các lực lượng quân sự nước ngoài ở Biển Đông.

Bài viết của CSIS chỉ ra rằng tại “căn cứ Mộc Miên” này đã triển khai hệ thống liên lạc và định vị vệ tinh (SATCOM), dường như có các hệ thống thiết bị có thể sử dụng cho tác chiến điện tử, dự đoán cũng đóng một vai trò nhất định trong hệ thống tình báo tín hiệu (SIGINT). Rất nhiều thiết bị gần cơ sở này có thể chuyên dùng cho việc thu thập tình báo thông tin (COMINT).

Ảnh vệ tinh chụp hồi cuối tháng 11 được CSIS công bố cho thấy quân đội Trung Quốc nhanh chóng mở rộng cơ sở Mộc Miên, phía tây đảo Hải Nam, nhằm nâng cao năng lực theo dõi các lực lượng quân sự nước ngoài hoạt động trong khu vực Biển Đông và trên không gian, nhóm chuyên gia CSIS nhận định.

“Hoạt động nâng cấp tại cơ sở Mộc Miên là một phần trong nỗ lực lớn hơn nhằm tăng năng lực tác chiến điện tử của quân đội Trung Quốc”, báo cáo có đoạn. Cơ sở Mộc Miên có các nền tảng theo dõi và liên lạc qua vệ tinh, có thể sử dụng trong tác chiến điện tử.

Cơ sở này có thể thu thập thông tin tình báo thông qua chặn thu và phân tích tín hiệu hoặc liên lạc từ vệ tinh, radar, các khí tài và hệ thống điện tử khác. Nhiều công trình gần căn cứ Mộc Miên dường như chuyên thu thập tín hiệu liên lạc giữa các cá nhân và tổ chức.

Các chuyên gia CSIS cho biết cơ sở Mộc Miên bắt đầu hoạt động từ năm 2018, nhưng ảnh vệ tinh chụp ngày 21/11 cho thấy một số công trình mới được xây thêm tại khu vực này.

Khu phức hợp liên lạc vệ tinh và tình báo tín hiệu mới ở phía nam gồm một tòa nhà lớn với 4 ăng ten parabol, ba chiếc có đường kính 14 m và một chiếc đường kính 4 m, cùng ít nhất 4 ăng ten tháp phục vụ liên lạc hoặc tác chiến điện tử.

Một số tòa nhà lớn mới được xây dựng tại cơ sở Mộc Miên, bao gồm sở chỉ huy, tòa nhà hành chính, khu nhà dành cho nhân viên bảo trì và nhà ở. Rải rác trong khuôn viên có ít nhất 90 phương tiện và xe kéo các loại, trong đó có nhiều xe chở một ăng ten lớn hoặc hai ăng ten nhỏ.

“Phần lớn hoạt động mở rộng cơ sở được hoàn thành trong hơn một năm qua”, các chuyên gia nhận định. “Ảnh chụp ngày 30/8/2020 cho thấy những con đường mới làm và móng của các tòa nhà. Tới 21/11, phần lớn đường sá đã được hoàn thiện”.

Nhóm chuyên gia cho biết các phương tiện xuất hiện trong ảnh vệ tinh cho thấy phần lớn khu vực mới xây dựng tại cơ sở Mộc Miên đã đi vào hoạt động. Cơ sở này còn được cho là nơi quân đội Trung Quốc huấn luyện các lực lượng thu thập thông tin tình báo tín hiệu và tác chiến điện tử.

T.P

]]>
Từ đảo Hải Nam đến quần đảo Hoàng Sa https://biendong.net/2021/12/17/tu-dao-hai-nam-den-quan-dao-hoang-sa-2/ Fri, 17 Dec 2021 08:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70799 Vào đầu thế kỉ XX, báo chí quốc ngữ của nước ta còn đang phôi thai nhưng đã có những tờ lên tiếng về “chủ quyền Hoàng Sa của ta” rất quyết liệt. Dù chữ Quốc ngữ cũng như kỹ năng báo chí thời ấy còn hết sức mới mẻ, song tấm lòng yêu nước đầy trách nhiệm của những người làm báo đã giúp cung cấp những bài báo khẳng định chủ quyền đáng trân trọng. Rõ ràng ngay từ đầu thế kỷ XX, khi Trung Quốc và một thế lực Nhật đang lên đã “dòm ngó” thì không chỉ chính quyền thuộc địa mà báo chí nước ta đã quan tâm đến Hoàng Sa – Trường Sa. Đáng chú ý là gần như đại đa số đều khẳng định “Hoàng Sa là của Việt Nam” và chính quyền cần củng cố lực lượng để phòng thủ cho vùng đất ngoài khơi của mình. Tạp chí Phương Đông đăng tải lại một bài viết dài kỳ từ số 1432 đến số 1435 trên báo Sài Gòn tháng 7/1938 của tác giả Hoàng Văn Tiếp về chủ đề này. Tôn trọng tính lịch sử của ngôn ngữ, chúng tôi giữ lại nguyên văn bài viết mặc dù văn phong và chính tả không còn phù hợp với thời điểm hiện tại.

Bản đồ Quần đảo Hoàng Sa trên báo chí Pháp năm 1938.

“Tôi hoàn toàn hợp ý với ngày mà công nhận quyền lợi mà nước Pháp được hưởng, nếu nước Pháp nhơn danh nước Nam mà đòi chủ quyền những đảo Paracels”

Câu ấy là của quan cố Toàn quyền Pasquier đã viết trong bức thơ gởi cho quan thuộc địa Tổng trưởng Paul Reynaud ngày 20/3/1930 đặng phúc đáp thư của Tổng trưởng hỏi về những đảo Paracels.

Rồi thì…

1930 – 1938. Tám năm sau, nước Pháp mới chịu canh giữ những đảo ấy, như tin các vô tuyến điện đã truyền ra khắp thế giới ngày 4 tháng 7 vừa rồi.

Sự quan hệ của nó

Tuy trên trường ngoại giao, nước Pháp cần tuyên bố rằng sự chiếm cứ đảo Hoàng Sa – tức là đảo Paracels[1] – chỉ có mục đích để trông coi những đèn biển dựng ở đó, nhưng ai cũng phải thừa nhận rằng đảo Hoàng Sa có quan hệ mật thiết đến sự mất, còn của xứ Đông Dương.

Cũng như đảo Hải Nam, có là một nơi phòng thủ quan trọng của xứ nầy.

Cũng như đảo Hải Nam, nếu đảo Hoàng Sa bị Nhựt lấy, thì sự an ninh của Đông Dương, của Hương Cảng, của Phi Luật Tân sẽ khó mà giữ vững được.

Tuy là nhóm cù lao nhỏ những nó nhờ địa thế của nó mà dựng một phần trọng yếu về chiến lược, nếu xảy ra một cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương.

Cách tỉnh Quảng Ngãi (Trung Kỳ) 260 cây số và cách đảo Hải Nam 276 cây, đảo Hoàng Sa có thể thành một chỗ để coi chừng Vịnh Bắc Kỳ và kiểm soát những tàu chiến ở Hương Cảng, ở Saigon, ở Bangkok (Xiêm) ở Batavia, qua lại.

Riêng về địa thế, chúng ta có thể nói rằng nó quan hệ đến sự mất còn của xứ Đông Dương như bóng với người.

Tám năm trước

Hồi năm 1930, Bộ Thuộc địa do ông Paul Reynaud chủ trương đã để ý đến đảo ấy.

Nhưng ông Briaud làm Tổng trưởng Bộ Ngoại giao, ông già đã lập ra điều ước Briaud-Kellog, không muốn nước Pháp can thiệp vào đảo Hoàng Sa, e sẽ gây ra sự phản đối của Nhựt hay của Tàu.

Ông Pierre Pasquier hồi đó làm Toàn quyền Đông Dương, tuy công nhận sự quan hệ của đảo Hoàng Sa như lời trong thơ của ông mà tôi trích dịch trên kia, song ông theo chánh sách tùy thời: ông cho rằng chưa nên đả động đến nó vội.

Vì hồi đó, Đông Dương đang điều đình ký điều ước với Tàu về sự xuất cảng gạo sang Tàu, nên quan Toàn quyền Pasquier chưa muốn đem vấn đề quần đảo Hoàng Sa ra trước tấm khảm xanh của trường giao tế Trung – Việt.

Khi đó một nhà báo độc lập, ông Cucherousset, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Eveil Economique, hết sức công kích Chánh phủ Đông Dương về sự hững hờ với đảo Hoàng Sa. Tiếc thay, người ta không cho ý kiến ông là phải. Người ta lại… khám nhà và khép ông vào tội tàng trữ những tài liệu của Chánh phủ (vì ông Cucherosset biết được nhiều điều bí mật hồi đó).

Thế rồi ngày tháng qua. Thời gian – nó là ông quan Tòa công bình nhưng bao giờ cũng tuyên án trễ quá – Thời gian đã đem phần thắng lợi cho nhà viết báo Cucherousset, đã công nhận ông ta nói có lý.

Vì ngày nay nước Pháp đã thấy rõ sự quan hệ của đảo Hoàng Sa và đã cho binh lính đến canh giữ.

Bộ hải quân Pháp đối với đảo Hoàng Sa

Nếu quan Thuộc địa Tổng trưởng Paul Reynaud hồi năm 1930 còn hờ hững với đảo Hoàng Sa, thì trong nghị trường và ngoài dư luận Pháp quốc, còn nhiều người khác chú ý đến nó. Ông thượng nghị viên Albert Sarrant và ông thân sĩ Nam Kỳ Ernest Outrey đã can thiệp vào vấn đề ấy ở hai Nghị viện.

Ông Bergeon, phó chủ tịch ủy ban hải quân, viết một bài kịch liệt trong tạp chí “Capital” ra ngày 17-9-1031. Sau ông lại viết một bài nữa cũng về vấn đề đảo Hoàng Sa trong trong báo “Petit Var”[2].

Tôi xin trích một đoạn sau đây:

“Đảo Hoàng Sa vẫn là những đảo vô thừa nhận trước năm 1816. Đến năm ấy, Hoàng đế Gia Long chiếm cứ lấy và đem ngọn cờ Nam Kỳ ra cắm ở đảo ấy. Sự chiếm cứ ấy có những tài liệu còn giữ trong tàng thư của Chánh phủ Nam triều, chứng thực”.

“Hiện giờ[3] nước Nam không có sự liên lạc với quần đảo Hoàng Sa. Năm 1909 khi nước Pháp đòi quyền lợi ở Trung Hoa, đáng lẽ ra nên đòi cả chủ quyền của nước bảo hộ của mình về những đảo nói trên đây”.

“Trong những trường hợp hiện giờ, người ta có thể không biết đến sự quan trọng về chiến lược của đảo Hoàng Sa. Nếu trong cuộc chiến tranh mà một cường quốc nào chiếm lấy, thì thật là một điều nguy hại lớn cho quyền lãnh thổ của Đông Dương”.

“Những đảo Hoàng Sa nối tiếp với đảo Hải Nam, đối với một nước cứu địch bất ngờ, sẽ là một nơi căn cứ hải quân rất mạnh…”.

“Nếu có một đoàn tàu ngầm đóng ở đảo ấy, nó sẽ có thể phá tan cửa biển Tourane ở Trung Kỳ và ngăn cản hết đường thủy”.

“Sự liên lạc Nam Kỳ với Bắc Kỳ lúc đó chỉ còn trông ở đường xe lửa là đường có thể bị tàn phá vì nó ở gần ngay bờ biển, làm cho nó có thể bị các tàu chiến của bên địch ở xa chĩa súng vào mà bắn”.

“Vả lại, sự giao dịch của Đông Dương với các nước trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương sẽ bị ngưng lại, bởi hải quân của bên địch đóng ở đảo Hoàng Sa”.

Đó là một đoạn trong bài báo của ông Phó Chủ tịch Ủy ban Hải quân Pháp.

Vậy quần đảo Hoàng Sa là nơi trọng yếu lắm. Sau khi Pháp cho binh lính lên canh giữ, Nhựt phản đối. Nhựt nhận là của mình. Tàu cũng phản đối, nhận là của Tàu.

Vậy những đảo Hoàng Sa của ai?

Của Nhựt? Của Pháp? Hay của Tàu?

Với những tài liệu của lịch sử, tôi sẽ trả lời câu ấy trong những đoạn sau. Trong bài trước tôi đã đăng bản đồ của xứ Đông Dương vẽ từ năm Minh Mạng thứ 14, trích trong Hoàng Việt địa dư, để cho độc giả thấy rằng trong bản đồ hồi đó đã có ghi đảo Hoàng Sa cũng thuộc quyền sở hữu của Đông Dương rồi.

Lúc nước Pháp cho quân lính lên canh giữ đảo Hoàng Sa (Paracels) thì hãng Đồng minh thông tín của Nhựt bữa 4 tháng 7 đăng tin rằng M. Sueji Harata, một nhà kỹ nghệ ở nước Nhựt xin Chánh phủ Đông Kinh phản đối, lấy cớ rằng ông ta đã tìm ra những đảo ấy (Xem tin vô tuyến điện của “Saigon” số trước).

Đại sứ Tàu là Cô Duy Quân cũng phản kháng Bộ Ngoại giao Pháp ở Paris. Và theo báo “Le Journal” thì không chừng vụ “Hoàng Sa” phải đem ra Tòa án quốc tế La Haye phân xử.

Muốn tìm xem quyền sở hữu quần đảo ấy thuộc về ai, chúng ta hãy đi tìm ánh sáng của lịch sử.

Nguồn gốc chữ “Paracels”

Giở cuốn từ điển “Larousse pour tous” chúng tôi thấy rẵng chữ “Paracels” là danh từ chung (nom commun). Nghĩa nó là: “Một dãy cù lao nhỏ, những chỏm đá cách xa nhau bởi những đường mà tàu chiến qua lại được”. (Riêng nghĩa chữ “Paracels” cũng đủ cho ta thấy sự quan trọng của nó về quân sự rồi.)

Thoạt kỳ thủy nó là một danh từ chung nhưng vì thông dụng rồi, nên ngày nay nó lại thành một danh từ riêng (nom propre).

Nhà thông thái Krempf, Giám đốc Viện Hải học ở Nha Trang, đã tìm ra rằng chữ “Paracels” có liên lạc với tên một nhà bác học thụy sĩ: Von Hohenheim Paracelse, sống vào hồi thế kỷ 16 (1493-1541). Ông Kempf nói rằng có lẽ một nhà thủy Âu châu hồi thế kỷ XVI đã đi qua đảo ấy và cho nó cái tên “Paracels” để kỷ niệm nhà bác học Paracelse mà anh ta mến phục.

Ngày nay trong bản đồ Đông Dương của nhà truyền giáo Van Langren, về năm 1595 (nửa thế kỷ sau khi nhà bác học Paracelse qua đời), người ta cũng thấy những đảo ở gần bờ biển Trung Kỳ (tức đảo Hoàng Sa) với cái tên: Hes de Pracel. Và bờ biển ở đó kêu là Costa de Pracel.

Trong bản địa đồ của Mercator về năm 1613, tác giả cũng cho những quần đảo ấy cái tên “Pracel” và bờ biển gần đó cái tên “Costa de Pracel”.

Trong cuốn “Le Siam ancien” của Fournereau, người ta lại thấy một bản đồ Đông Dương của một người Bồ Đào Nha vô danh vẽ từ năm 1580 và cũng lấy tên “Côte de Pracel” mà kêu miền duyên hải gần đảo Hoàng Sa.

Trong bản đồ của Danville vẽ năm 1755 cũng lại thấy tên “Pracel” nữa.

Vậy có thể nói rằng đảo Paracels trước kia tên là Pracel.

Paracels trong lịch sử

Trong bộ Hoàng Việt địa dư về đời Minh Mạng năm thứ 14, có bản đồ về Đông Dương với dãy quần đảo “Hoàng Sa” ở chỗ những đảo “Paracels” bây giờ.

Vậy hồi đó, triều đình nước Nam khi vẽ bản đồ ấy đã cả quyết rằng đảo “Paracels” thuộc về quyền sở hữu của xứ Đông Dương rồi.

Và nhà viết địa dư hồi ấy lấy cái tên tốt đẹp Hoàng Sa (cát vàng) mà gọi dãy quần đảo ấy.

Năm 1927, viên lãnh sự Nhựt ở Hà Nội cũng không để ý gì tới đảo Hoàng Sa và coi nó như là thuộc quyền của nước Nam. Nguyên năm ấy, ông viết thơ hỏi Chánh phủ Đông Dương và muốn định liệu minh bạch về quyền hạn và luật lệ thi hành trên những đảo nhỏ ở biển Trung Hoa: riêng có đảo Hoàng Sa, thì lãnh sự Nhựt không đả động hỏi tới.

Vậy mà ngày nay một nhà kỹ nghệ Nhựt đứng ra nói rằng mình đã tìm ra đảo Paracels thì thật là vô lý.

Một mớ sử liệu

Trong cuốn “Géographie de la Cochinchine” của ông Chaigneau, có đoạn sau đây:

“Xứ Nam Kỳ gồm có…. (tên những tỉnh) và quần đảo Paracels là những cù lao nhỏ, những chỏm đá, những hốc đá, không có người ở. Mãi đến năm 1816, Hoàng đế mới chiếm cứ quần đảo ấy”.

Vì lâu năm rồi nên bổn thảo cuốn “Địa dư Nam kỳ” của Chaigenau khó mà kiếm được. Song Tạp chí “Bulletin des Amis du Vienx Huế” tháng Bốn – Sáu năm 1923 đã đem cuốn sách của Chaigneau ra mà bình phẩm và trích đoạn trên kia.

Cuốn thứ 5 của bộ “Đại Nam Nhứt Thống Chí” ấn hành hồi triều Tự Đức cũng nói về đảo Hoàng Sa như sau đây:

“Những cù lao Hoàng Sa gồm có tới 130 chỏm đá, cách xa nhau phải đi nghe chừng một ngày mới tới. Ở giữa những đảo ấy, có một dải cát dài có tới vạn lý, nên người ta thường gọi là “Vạn lý trường sa”…

“Những thổ sản ở đó rất nhiều: hải sâm, đồi mồi…”.

“Hồi nhà Nguyễn mới lên cầm quyền, có một nhóm 70 người ở làng Vĩnh An lập thành hội “Hoàng Sa”. Mỗi năm vào tháng ba, họ đi ghe tới quần đảo Hoàng Sa đánh cá và tháng tám đem về.

“Đến thời Minh Mạng, triều đình thường cho tàu thủy ra những cù lao nầy đặng thám hiểm đường biển…”.

“Đến năm thứ 16 triều Minh Mạng, Vua cho tàu chở gạch và đá ra đó để dựng một ngôi chùa; ở phía bên trái chùa nầy có làm một cái bia đá kỷ niệm”.

Thêm vào sử liệu của bộ “Đại Nam nhứt thống chí” còn tàng trữ tại trường Bác Cổ Viễn Đông ở Hà Nội, bữa trước chúng tôi đã đăng bản đồ “Đại Nam nhứt thống toàn đồ” từ năm 14 đời Minh Mạng, trích trong bộ Hoàng Việt địa dư”. Bản đồ ấy gồm cả đảo Hoàng Sa trong phạm vi của nước “Đại Nam”.

Vậy quần đảo Hoàng Sa của ai?

Nhựt đã không có quyền gì ở đó, mà Tàu lại đã “từ” quần đảo “Hoàng Sa” không muốn nhận nó là của Tàu nữa. Đó là điều mà tôi sẽ nói trong bài sau.

Trung Hoa với đảo Hoàng Sa

Nước tàu đối với quần đảo Hoàng Sa đã không có dấu tích quan hệ gì mà Tàu lại còn có dịp công bố không chịu nhận đảo ấu thuộc về mình.

Nguyên là có hai chiếc tàu chở đồng cho mấy công ty Anh bị đắm ở gần quần đảo Hoàng Sa: chiếc tàu “Le Bellona” của Đức, đắm năm 1895 và tàu “Imeze Maru” của Nhựt đắm năm 1893.

Sau đó, bọn giặc biển Tàu cướp những đồng trong hai chiếc tàu đặng đem bán. Chánh phủ Anh phản đối với Chánh phủ Tàu về việc cướp bóc ấy.

Nhà đương cuộc Tàu không chịu trách nhiệm và tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) không ăn nhập gì đến đảo Hải Nam hết.

Vậy vào cuối thế kỷ XIX, Chánh phủ Tàu đã công khai không chịu nhận đảo Hoàng Sa rồi.

Mãi đến tháng Năm năm 1909, mới có hai chiếc tàu ở Quảng Đông đi thám hiểm quần đảo Hoàng Sa, nhưng là một cuộc thám hiểm do một nhóm tư nhân tổ chức. Hai chiếc tàu ấy, tàu Fon-Po và tàu Tchen Mang, bữa 6 tháng 6 đến một cù lao trong quần đảo Hoàng Sa, thăm vài nơi khác, rồi 4 giờ chiều nữa 7 tháng 6 lại trở về Quảng Châu.

Đông Dương vẫn kiểm soát Hoàng Sa

Sau cuộc thám hiểm trên đây, quần đảo Hoàng Sa sống 1 quãng đời êm tịnh, không lịch sử, không tiếng tăm…

Ngoài làn sóng rạt rào, có chăng chỉ có những tàu của sở Thương chánh Đông Dương thỉnh thoảng thăm quần đảo Hoàng Sa để khám xem có bọn nào dùng nơi đó làm chỗ chứa đồ lậu, hoặc khí giới chăng?

Đã có lần, quan tư chiếc tàu “Espadon” của nhà Đoan bắt chiếc tàu “Akibobo Maru” của Nhựt chở đầy “phốt phát” (phosphate) lấy ở cù lao Boisée (một cù lao của quần đảo Hoàng Sa).

Xét hồi thì chiếc tàu Nhựt nói rằng công ty “Mitsui Bussan Kaisha” ở Nhựt trước khi khai khẩn những mỏ “phốt phát” ở quần đảo Hoàng Sa, năm 1920 đã xin phép trước với bộ Hàng hải Đông Dương và quan tư Hải quân Sài Gòn đã cho phép họ, vì ổng thấy không có quan hệ gì đến quân sự Đông Dương.

Xem như vậy thì đủ thấy rằng nước Nhựt hồi năm 1920 đã chịu nhận chủ quyền của xứ Đông Dương trên quần đảo Hoàng Sa.

Thổ sản của quần đảo Hoàng Sa

Ngoài sự quan hệ của quần đảo Hoàng Sa về mặt quân sự, đảo nầy còn là một nguồn lợi quan trọng về kinh tế nữa.

Viện Hải học Đông Dương năm 1926 phái chiếc tàu “De Lanessan” ra quần đảo ấy để nghiên cứu về thổ sản của nó.

Bác sĩ A. Krampf là Giám đốc viện ấy đã làm một bản tường thuật rõ ràng về thổ sản của đảo Hoàng Sa.

Đại ý, ông nói rằng thổ sản chánh ở đó là “phốt phát”.

Người Nhựt đã đến khai khẩn mỏ “phốt phát” ở đảo Roberts, và năm 1926 bỏ dở, rồi khai khẩn đến đảo Boisée (Hai đảo cùng thuộc về nhóm cù lao Hoàng Sa).

Trong cù lao Boisée, người Nhựt đã đặt một đường sắt và những toa xe nhỏ đặng chuyên chở “phốt phát”. Họ lại còn xây một cái bến dài 300 thước nữa.

Trong công việc khai khẩn ở cù lao Boisée, người Nhựt dùng nhơn công tàu do một viên đốc công Phi Luật Tân cai quản.

Và theo lời bác sĩ Krampf kết luận, nếu một ngày kia, công ty Nhựt lấy hết “phốt phát” thì trong đảo không còn gì nữa. Những rừng cây cối bị họ tàn phá hết đặng khai mỏ, nên sau khi họ đi, lâm sản cũng không còn gì.

Còn về hải sản thì người ta nói rằng quần đảo Hoàng Sa có những trai có ngọc. Những năm 1909, hồi hai chiếc tàu của Trung Hoa đến thám hiểm, họ có đem một mớ trai về, nhưng khi mở ra thì không có ngọc như lời đồn.

Ngoài ra Hoàng Sa còn có san hô, đồi mồi và những dân đánh cá thường đến đây bắt rùa.

Lời kết luận của quan ba Lapicque

Muốn kết luận bài nầy, chúng tôi xin trích lời của quan ba P.A. Lapicque, là người đã để ý quan sát về quần đảo Hoàng Sa từ lâu năm rồi. Ông Lapicque nói:

“Sự khai khẩn những thổ sản của quần đảo Paracels, không hy vọng có nhiều lời. Sự khai khẩn phốt phát đến nay mới làm thì trễ quá, còn sự đánh cá bằng tàu lớn thì không được, vì đáy biển có nhiều tảng đá. Chỉ còn cách đánh cá bằng ghe, nhưng nó chỉ đủ nuôi sống người đánh cá mà thôi”.

“Vậy xứ Đông Dương có nên buông bỏ khoảng đất ấy không? Không nên”.

“Quần đảo Paracels đối với Đông Dương rất quan trọng”.

“Những chỏm đá của nó làm cho tàu bè đi lại rất nguy hiểm: mỗi khi một chiếc tàu nào bị đắm thì sở “Merchant Service Guild” ở Hương Cảng lại yêu cầu Chánh phủ Anh phải dựng ít ra hai cái đèn pha ở quần đảo Paracels, đặng soi sáng cho tàu bè qua lại”.

“Chánh phủ Đông Dương phải lãnh lấy cái trách nhiệm mà làm cái công việc ích chung ấy. Chúng ta không nên để cho người khác làm, thay thế cho ta”.

“Ngày này với vô tuyến điện, ta có thể để ý đến các trận bão, những việc dự tính lập đường thủ phi cơ và tìm kiếm những tàu ngầm, vì vậy quần đảo Paracels đối với Đông Dương quan trọng lắm.”

T.P

]]>