Donald Trump – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 16:49:44 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Nửa năm cầm quyền của Trump và vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2025/10/01/nua-nam-cam-quyen-cua-trump-va-van-de-bien-dong/ Wed, 01 Oct 2025 16:25:55 +0000 https://biendong.net/?p=161798 6 tháng sau khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức nhiệm kỳ 2, chính sách Biển Đông của chính quyền Mỹ phần lớn vẫn tiếp tục theo quỹ đạo của Trump 1.0 và chính quyền Biden.

Cụ thể, Trump đã tập trung vào việc tận dụng vấn đề Biển Đông để tăng cường hợp tác an ninh với các đồng minh cả trong và ngoài khu vực. Mục tiêu của chiến lược này là xây dựng một liên minh hàng hải nhằm kiềm chế Trung Quốc, đồng thời khuếch đại các nỗ lực chính trị và truyền thông để định hình nhận thức quốc tế về mối đe dọa từ Trung Quốc. Sử dụng đối đầu và áp lực làm công cụ chính, chính sách Biển Đông của Trump tìm kiếm thêm đòn bẩy trong cuộc cạnh tranh chiến lược rộng lớn hơn với Trung Quốc. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể làm trầm trọng thêm những bất ổn.

Tổng thống Donald Trump đã công bố Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ trong nhiệm kỳ đầu tiên, định vị Biển Đông là khu vực cốt lõi và mô tả các hoạt động của Trung Quốc tại đây là một hình thức bành trướng địa chiến lược theo kiểu “cắt lát salami”; đồng thời, coi các yêu sách phi pháp và những hành vi hung hăng của Trung Quốc bắt nạt cưỡng ép các nước láng giềng ven Biển Đông là thách thức đối với Washington.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Trump đã áp dụng lập trường quyết đoán hơn ở Biển Đông. Ông đã điều chỉnh các tuyên bố chính sách nhằm phủ nhận quyền và lợi ích của Trung Quốc trong khu vực, đồng thời ủng hộ những yêu sách của các nước như Việt Nam và Philippines. Ông Trump cũng áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các thực thể và cá nhân Trung Quốc liên quan đến việc xây dựng các đảo và rạn san hô nhân tạo trong khu vực. Ngoài ra, ông còn tăng cường các hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ, nâng cấp trinh sát và các cuộc tập trận quân sự, đồng thời tích cực vận động các đồng minh trong và ngoài khu vực củng cố sự hiện diện quân sự tại khu vực.

Ngày 31/5/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã tham dự Đối thoại Shangri-La và có bài phát biểu phác thảo tầm nhìn an ninh của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và chiến lược của nước này nhằm giải quyết thách thức được cho là từ Trung Quốc. Trong bài phát biểu của mình, Bộ trưởng Quốc phòng Hegseth đã cho rằng “Trung Quốc đang tìm cách trở thành một thế lực bá chủ ở châu Á. Họ hy vọng sẽ thống trị và kiểm soát trong khu vực năng động và quan trọng này thông qua việc tăng cường quân sự mạnh mẽ và sẵn sàng sử dụng vũ lực để đạt được mục tiêu, bao gồm cả chiến thuật vùng xám và chiến tranh hỗn hợp, Trung Quốc đã chứng minh rằng họ muốn thay đổi căn bản hiện trạng của khu vực.” Ngoài ra, ông Hegseth cũng cáo buộc “Trung Quốc đang quấy rối các nước láng giềng” và “thách thức chủ quyền, tự do hàng hải và hàng không” tại khu vực Biển Đông. Ông cho biết “bất kỳ nỗ lực nào nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Chuỗi đảo thứ nhất[1] thông qua việc sử dụng vũ lực hoặc cưỡng ép đều không thể chấp nhận được”.

Lập trường mới nhất này của Mỹ cho thấy, trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược ngày càng gia tăng với Trung Quốc, chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ duy trì lập trường cứng rắn về Biển Đông và áp dụng các chính sách can thiệp quân sự thực chất hơn, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Mỹ dự kiến sẽ tăng đáng kể mức viện trợ cho Philippines, định vị nước này là một “mắt xích quân sự” quan trọng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Nhằm theo đuổi mục tiêu chiến lược chống lại Trung Quốc thông qua các biện pháp hàng hải, chính quyền Trump tiếp tục đường hướng chính sách của thời kỳ Biden bằng cách làm sâu sắc thêm liên minh Mỹ – Philippines. Washington đang tích cực ủng hộ Manila trong nỗ lực đẩy lùi Bắc Kinh, tái khẳng định các cam kết an ninh đồng thời đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa và trang bị vũ khí cho Quân đội Philippines. Điều này bao gồm việc thúc đẩy triển khai quân sự trong và xung quanh Biển Đông. Theo các chuyên gia quân sự, quan điểm chia sẻ gánh vác trách nhiệm phòng thủ với các đồng minh của chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 đồng nghĩa với việc Manila sẽ phải chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng, nhưng cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ lớn từ Mỹ để nâng cao năng lực đối phó với các chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc ở Biển Đông.

Giới phân tích dự báo trong bối cảnh tranh chấp trên biển ngày càng căng thẳng, nhiều khả năng Washington sẽ cung cấp thêm hệ thống vũ khí tiên tiến cho Manila để trấn an đồng minh lâu đời nhất của họ ở châu Á. Trên thực tế, Mỹ đã đẩy nhanh việc triển khai các hệ thống vũ khí tiên tiến tại Philippines, mở rộng sự hiện diện của các khí tài chiến thuật như hệ thống tên lửa tầm trung Typhoon và hệ thống tên lửa chống hạm NMESIS. Mục tiêu là thiết lập một “mạng lưới hỏa lực ba tầng” có khả năng bao phủ Biển Đông và từ đó tăng cường khả năng chống lại các năng lực chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của Trung Quốc trong chuỗi đảo thứ nhất.

Mỹ cũng đưa những hệ thống vũ khí tiên tiến khác như máy bay không người lái trên biển và trên không (hệ thống vũ khí được thiết kế để đối phó với thiết bị không người lái tấn công ồ ạt máy bay không người lái trên biển và trên không) đến tham gia chương trình tập trận chung với Philippines trong năm nay. Sau các cuộc tập trận hệ thống NMESIS được Mỹ tiếp tục để lại cho đồng minh giống như cách họ đã làm với hệ thống tên lửa tầm trung Typhon mà Lầu Năm Góc đưa đến Philippines vào tháng 4/2024. Ngoài ra, còn nhiều hệ thống chống máy bay không người lái trên không và trên biển được để lại ở Philippines sau khi kết thúc tập trận. Hải quân Philippines có đơn vị chuyên vận hành thiết bị không người lái mặt nước sau khi tiếp nhận tàu mặt nước không người lái Mantas T12 và Devil Ray T38 do Mỹ sản xuất. Giới phân tích nhận định việc đưa các vũ khí tiên tiến tới Philippines tập trận rồi không rời đi được coi là cách thức để các vũ khí hiện đại của Mỹ hiện diện ở Philippines nhằm thiết lập sự răn đe mới như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hegseth đã tuyên bố.

Theo một số nguồn tin quân sự, Quân đội Mỹ còn đang có kế hoạch xây dựng kho thiết bị lớn nhất thế giới gần Căn cứ Hải quân Vịnh Subic ở Philippines. Sự phát triển này có thể đánh dấu sáng kiến hậu cần quân sự quan trọng nhất của Mỹ tại quốc gia này kể từ khi Quân đội Mỹ rút khỏi Philippines vào năm 1992. Mặt khác, Mỹ cũng đang xem xét mở rộng hợp tác công nghiệp quốc phòng với Philippines. Đầu năm nay, Washington cho biết hai bên đã xác định một số lĩnh vực hợp tác, bao gồm thiết bị không người lái, đạn dược và hỗ trợ hậu cần, bảo dưỡng và sửa chữa tàu và máy bay.

Thứ hai, Mỹ đang tăng cường sự tham gia tập thể và thể chế hóa ở Biển Đông cùng với các đồng minh. Kể từ khi Trump trở lại nắm quyền, ông đã sử dụng Philippines như một trục chiến lược. Các cuộc tập trận quân sự thường xuyên với Manila và các đồng minh châu Á – Thái Bình Dương khác ở Biển Đông đã được tiến hành – các hoạt động nhằm hội nhập sâu hơn vào mạng lưới quân sự Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với lý do giải quyết các mối quan ngại an ninh khu vực. Cuộc tập trận chung Balikatan giữa Mỹ và Philippines năm nay đã đạt quy mô lịch sử, với sự tham gia lần đầu tiên của Nhật Bản và Úc dưới hình thức các đội đặc nhiệm.

Khi tiếp tục thể chế hóa hợp tác an ninh đa phương ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong thời kỳ Trump 2.0, Mỹ dự kiến sẽ tận dụng các cơ chế này như những công cụ và nền tảng cho các can thiệp trong tương lai vào Biển Đông. Phối hợp với Nhật Bản, Úc, Ấn Độ và các nước khác, Mỹ đặt mục tiêu hình thành một “vành đai răn đe”. Washington cũng sẽ tăng cường năng lực hoạt động của các khuôn khổ tiểu đa phương như QUAD (Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc) và SQUAD (Mỹ, Nhật Bản, Philippines, Úc), giúp các liên minh này sẵn sàng chiến đấu và định hướng nhiệm vụ tốt hơn.

Ngoài ra, Quân đội Mỹ sẽ đẩy nhanh việc xây dựng và nâng cấp các căn cứ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Philippines. Những nỗ lực này sẽ được tích hợp với các vị trí chiến lược khác, bao gồm Nhật Bản, Guam và Diego Garcia, để hình thành một “chuỗi can thiệp tiền phương” nhằm tái thiết hiệu quả cấu trúc răn đe của chuỗi đảo thứ nhất.

Thứ ba, Mỹ đang củng cố khuôn khổ chiến lược được gọi là “liên kết ba biển”. Theo chính sách của chính quyền Trump 2.0, sẽ có những nỗ lực mạnh mẽ hơn nhằm gắn kết Biển Đông, Eo biển Đài Loan và Biển Hoa Đông thành một vùng chiến trường duy nhất. Năm nay, cuộc tập trận quân sự Balikatan giữa Mỹ và Philippines đã mô phỏng rõ ràng một kịch bản xung đột ở Eo biển Đài Loan, phản ánh xu hướng quan tâm và can dự ngày càng tăng của Mỹ và Philippines trong một tình huống bất ngờ tiềm tàng của Đài Loan.

Trong cuộc tập trận Balikatan diễn ra từ ngày 21/4 – 9/5/2025 và cuộc tập trận Kamandag lần thứ chín diễn ra từ ngày 26/5 – 6/6/2025 (với sự tham gia của Mỹ, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Anh) các bệ phóng tên lửa chống hạm NMESIS và hệ thống pháo phản lực HIMARS của Lục quân Mỹ đã được triển khai tới đảo Batanes của Philippines, nằm giữa đảo Luzon và Đài Loan. NMESIS – gồm xe tải chở 2 bệ phóng tên lửa có tầm bắn lên tới 185 km – là hệ thống phòng thủ bờ biển có thể ngăn chặn các tàu chiến trong trường hợp xảy ra xung đột trên vùng biển gần Philippines. Các cuộc tập trận bắn đạn thật được tiến hành, tập trung vào các hoạt động chống hạm. Đáng chú ý, các cơ sở quân sự mới của Mỹ chủ yếu đặt gần Kênh Bashi, ngăn cách đảo chính Luzon của Philippines với Đài Loan, phía Bắc Biển Đông. Washington cũng đã triển khai các hệ thống tên lửa chiến đấu mạnh mẽ đến Luzon, có khả năng tấn công các mục tiêu sâu trong đất liền Trung Quốc.

 Trong những tháng gần đây, Philippines đã có lập trường chủ động hơn trên  các vấn đề liên quan đến Đài Loan. Trong tương lai, Manila dự kiến sẽ tăng cường hợp tác với Quân đội Mỹ tại Eo biển Đài Loan, đặc biệt là trong việc hỗ trợ các nỗ lực của Mỹ nhằm thiết lập quyền kiểm soát trực tiếp đối với Kênh đào Bashi và các lối vào phía Nam của eo biển. Mục tiêu là có thể ngăn chặn sự di chuyển của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) ở phía Đông hòn đảo trong trường hợp xảy ra xung đột.

Cùng với đó, Hải quân Mỹ, Nhật Bản và Philippines còn tiến hành tập trận hàng hải chung ngoài khơi vùng biển Tây Nam Nhật Bản từ 16 đến 20/6/2025 nhằm tăng cường khả năng ứng phó và phối hợp giữa hải quân 3 nước hướng tới mục tiêu thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Những động thái này cho thấy tính chất phối hợp, liên chiến trường trong các hoạt động chuẩn bị của Mỹ với các đồng minh trên ba vùng biển – Biển Đông, Eo biển Đài Loan và Biển Hoa Đông.

Giới quan sát nhận định mặc dù kể từ khi nhậm chức nhiệm kỳ 2, Tổng thống không có những phát biểu công khai đề cập tới Biển Đông, song trên thực tế chính quyền của Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 đã có những bước đi cụ thể tăng cường quan hệ đồng minh quân sự với Philippines – nơi được coi là chốt chặn quan trọng ngăn Trung Quốc khống chế, thôn tính Biển Đông để vượt qua chuỗi đảo thứ nhất và cũng là địa điểm lý tưởng chuẩn bị cho tình huống xấu trong trường hợp Bắc Kinh tiến hành một cuộc tấn công vũ trang đánh chiếm Đài Loan.

Tóm lại, nửa năm đầu tiên trong nhiệm kỳ 2 của chính quyền Trump, mặc dù phải bận rộn với cuộc chiến ở Ukraine và xung đột Trung Đông, song Washington vẫn coi việc ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ lợi ích, duy trì ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông là nhiệm vụ được ưu tiên. Trong bối cảnh đó, Philippines đã nhanh chóng nổi lên như một yếu tố đáng tin cậy và có ý nghĩa trong chiến lược răn đe tổng hợp do Mỹ dẫn đầu nhằm chống lại một Trung Quốc đang ngày càng hung hăng./.


[1] Chuỗi đảo thứ nhất là một chuỗi các quần đảo lớn đầu tiên ở Thái Bình Dương, trải dài từ Bán đảo Kamchatka (Nga) ở phía đông bắc xuống Bán đảo Mã Lai ở phía tây nam. Chuỗi này bao gồm Quần đảo Kuril, Nhật Bản, Lưu Cầu, Đài Loan, miền bắc Philippines và Borneo.

]]>
Chiến lược chống TQ ở khu vực của Trump và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/04/07/chien-luoc-chong-tq-o-khu-vuc-cua-trump-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Mon, 07 Apr 2025 13:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=148490 Sau Lễ nhậm chức hôm 20/1/2025, Tổng thống Mỹ Donald Trump đang nhanh chóng tìm cách định hướng lại chính sách đối ngoại trong nhiệm kỳ 2, chuyển trọng tâm chiến lược của Mỹ từ châu Âu và Trung Đông sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – khu vực ngày càng quan trọng trong việc định hình trật tự toàn cầu.

Tổng thống Trump đã tiếp đón các Thủ tướng Ấn Độ và Nhật Bản, đồng thời khởi xướng các nỗ lực chấm dứt chiến tranh Ukraine – một cuộc xung đột đã chuyển hướng sự chú ý của Mỹ khỏi các thách thức cấp bách ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, khiến Trung Quốc nhanh chóng lấp đầy khoảng trống.

Trong ngày đầu nhậm chức, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã tổ chức cuộc họp với các ngoại trưởng Nhóm Bộ Tứ – một liên minh chiến lược của các nền dân chủ hàng đầu Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà Trump đã hồi sinh trong nhiệm kỳ đầu của mình với tuyên bố tại Diễn đàn cấp cao APEC tại Đà Nẵng, Việt Nam vào năm 2017 sau một thập kỷ “đóng băng”. Trong khi đó, Mỹ có kế hoạch rút dần khỏi châu Âu. Ngày 12/2/2025 vừa qua tại Brussels, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã cảnh báo châu Âu rằng “Mỹ sẽ không còn dung thứ cho một mối quan hệ mất cân bằng khi quá phụ thuộc vào Mỹ và châu Âu phải chịu trách nhiệm về an ninh của chính mình”. Trong khi đó, tại Hội nghị An ninh Munich, Phó Tổng thống Mỹ JD Vance tiếp lời cảnh báo của Hegseth khi nhấn mạnh rằng “châu Âu cần thay đổi trước khi 100.000 binh sĩ Mỹ bắt đầu rút đi”.

Quan hệ đối tác chiến lược Mỹ-Ấn là nền tảng trong chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Washington từ nhiệm kỳ đầu của Trump – một tầm nhìn ban đầu được cố Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hình thành cho một “trật tự tự do dựa trên luật lệ”. “Quan hệ đối tác không giới hạn Nga-Trung” phát triển trong nhiệm kỳ của Tổng thống Joe Biden chỉ làm tăng thêm sứ mệnh chiến lược của Mỹ trong việc tạo ra một liên minh “mềm” với một cường quốc hạt nhân khác là Ấn Độ. Trong bối cảnh đó, cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Modi tại Washington ngày 12/2/2025 đã nhấn mạnh cam kết của cả hai nhà lãnh đạo trong việc khôi phục mối quan hệ Mỹ – Ấn.

Các đời tổng thống Mỹ kể từ thời Bill Clinton đã để lại mối quan hệ song phương với Ấn Độ mạnh mẽ hơn những gì họ thừa hưởng. Tuy nhiên, dưới thời Joe Biden, động lực đã chững lại khi những khác biệt nảy sinh, bao gồm cả sự miễn cưỡng của New Delhi trong việc chọn phe trong cuộc chiến Ukraine cũng như chính sách của Mỹ đối với các nước láng giềng của Ấn Độ, bao gồm Bangladesh, Myanmar và Pakistan. Kết quả chuyến thăm Nhà Trắng của Thủ tướng Ấn Độ Modi cho thấy sự khởi đầu tốt đẹp, hướng tới việc xây dựng lại lòng tin. Trump và Modi – duy trì mối quan hệ cá nhân nồng ấm mà họ đã phát triển trong nhiệm kỳ đầu – đã trao nhau cái ôm thắm thiết và thể hiện sự nhất trí cao tại cuộc họp báo chung. Đáng chú ý, họ đã tránh bất hòa về các vấn đề nóng của Trump như thương mại và nhập cư.

Giống như cuộc gặp với Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba hôm 7/2, Trump đã ca ngợi mối quan hệ song phương mạnh mẽ, đồng thời yêu cầu Modi thực hiện thương mại “công bằng” và cân bằng hơn, bao gồm cả việc Ấn Độ tăng cường nhập khẩu dầu và vũ khí của Mỹ. Theo phong cách quen thuộc, kết hợp giữa lời khen công khai và chiến thuật đàm phán cứng rắn, Trump ca ngợi Modi là “nhà đàm phán giỏi và cứng rắn hơn tôi nhiều”, giống như cách ông ca ngợi Ishiba là “một người rất mạnh mẽ, tôi ước gì ông ấy không mạnh mẽ đến vậy”.

Theo kế hoạch, Tổng thống Trump sẽ cùng với các Thủ tướng Nhật Bản và Australia đến Ấn Độ vào mùa Thu này để tham dự Hội nghị thượng đỉnh Bộ tứ. Trước khi đến đó, Trump hy vọng các nhà đàm phán sẽ đạt được tiến triển đáng kể về thỏa thuận thương mại Mỹ – Ấn Độ mà Modi đã cam kết tại Washington. Chiến lược này phản ánh cách tiếp cận trước đây của Trump trong việc tận dụng thuế quan để đảm bảo một hiệp định thương mại với Nhật Bản vào năm 2019.

Khi Mỹ chuyển trọng tâm sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, việc tăng cường quan hệ với Ấn Độ và Nhật Bản (hai đối thủ chiến lược của Trung Quốc) sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Cán cân quyền lực trong khu vực này sẽ phần lớn được định hình bởi những diễn biến tại Đông Á và Ấn Độ Dương. Nhật Bản – nơi có hơn 80 cơ sở quân sự của Mỹ và nhiều binh sĩ Mỹ đồn trú tại đây hơn bất kỳ đồng minh nào khác – sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ Đài Loan. Nếu Trung Quốc sáp nhập thành công Đài Loan sẽ chấm dứt sự thống trị toàn cầu của Mỹ. Trong khi đó, Ấn Độ – vốn bị kẹt trong thế bế tắc quân sự dai dẳng với Trung Quốc – đã tích cực thách thức quyền lực và năng lực của Bắc Kinh theo cách mà không quốc gia nào khác làm được trong thế kỷ này.

Thực ra từ năm 2011, Tổng thống Barack Obama khi đó đã công bố chiến lược “xoay trục sang châu Á” nhưng chủ yếu vẫn mang tính hùng biện, thiếu các sáng kiến chiến lược thực chất. Đến khi Trump nhậm chức Tổng thống đầu năm 2017, ông đã thay thế sự xoay trục mang tính biểu tượng của Obama bằng một chiến lược toàn diện hướng tới một “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” vào cuối năm 2017. Trump cũng đã định nghĩa lại cơ bản chính sách của Mỹ đối với Bắc Kinh, đảo ngược cách tiếp cận kéo dài 4 thập kỷ của Mỹ là hỗ trợ sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc bằng cách coi quốc gia này là “đối thủ chính và mối đe dọa chiến lược”. Biden duy trì cách tiếp cận này, tiếp tục thúc đẩy chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, trong đó Bộ tứ là trụ cột chính, đồng thời thừa nhận Trung Quốc là “đối thủ chính của Mỹ đang muốn thống trị thế giới”. Tuy nhiên, sự can dự của chính quyền Biden trong các cuộc xung đột ở Ukraine và Trung Đông đã để lại ít không gian cho sự chuyển hướng thực sự sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 đang ưu tiên giải quyết các xung đột Ukraine và Trung Đông để tập trung vào Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nơi quyền tối cao toàn cầu của Mỹ đang bị đe dọa. Việc chấm dứt can dự vào các cuộc xung đột sẽ giải phóng các nguồn lực quân sự cho Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là từ châu Âu. Giáo sư Alejandro Rayran Cortés thuộc Đại học Externado của Colombia nhấn mạnh sự thay đổi trong thiện chí đàm phán với Nga của Mỹ thể hiện chiến lược tách Moskva khỏi Bắc Kinh của Nhà Trắng. Biện pháp này phản ánh ý định của Washington đối với việc tập trung nguồn lực để cạnh tranh với Trung Quốc và cắt giảm các cam kết tài chính khác.

Giới phân tích nhận định, chiến lược của Mỹ từ lâu là tập trung vào việc gây chia rẽ giữa Moskva và Bắc Kinh – một chiến lược giúp phương Tây giành chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh mà không cần đối đầu quân sự trực tiếp. Tuy nhiên, những chính sách của Mỹ dưới thời Biden đã “vô tình” trở thành “cầu nối gắn kết Nga-Trung”. Việc chấm dứt chiến tranh Ukraine có thể tạo cơ hội cho Washington tách Moskva khỏi Bắc Kinh hoặc làm suy yếu quan hệ đối tác Nga – Trung để cô lập Trung Quốc. Quan trọng hơn, điều đó sẽ cho phép Mỹ tập trung ngăn chặn thách thức từ một Trung Quốc đang trỗi dậy trên toàn cầu, với sự hỗ trợ từ các đồng minh như Nhật Bản hay các đối tác chiến lược như Ấn Độ – quốc gia đang trỗi dậy như một cường quốc độc lập phù hợp với thái độ của chính quyền Trump.

Sự chuyển hướng trọng tâm chiến lược của Tổng thống Mỹ Donald Trump từ châu Âu sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, tập trung nhằm vào Trung Quốc đem lại những tác động tích cực tới cục diện Biển Đông thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, chiến lược này của Washington giúp xoá đi mối lo ngại về việc chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 có thể “bỏ rơi” các đồng minh ở châu Á và Biển Đông. Hiện khi chính quyền Trump 2.0 chưa có những biện pháp cụ thể ở khu vực này khiến Bắc Kinh đang ráo riết tận dụng để “lộng hành”, việc Bắc Kinh liên tiếp tiến hành tập trận bắn đạn thật ở Vịnh Bắc Bộ, xung quanh Đài Loan và ở Biển Tasman trong 1 tuần cuối tháng 2 vừa qua, đồng thời tiếp tục các hoạt động gây hấn với Philippines ở Biển Đông là một minh chứng. Tuy nhiên, một khi Mỹ tập trung nhiều hơn vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong thời gian tới sẽ khiến Trung Quốc phải lo ứng phó chứ không còn rảnh tay để bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông.

Thứ hai, với việc chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nhóm Bộ tứ sẽ được củng cố tăng cường (như nêu trên) để bao vây Trung Quốc. Ngoài ra, Mỹ có thể sử dụng các thoả thuận song phương với các đồng minh khu vực như Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand và Philippines để ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc. Giới chuyên gia nhận định Mỹ sẽ tìm mọi cách để kiểm soát không để Trung Quốc vượt qua chuỗi đảo thứ nhất đe doạ vai trò, vị thế độc tôn của Mỹ ở khu vực. Nói cách khác Mỹ sẽ tăng cường hoạt động của hải quân và không quân Mỹ ở Biển Đông, bao gồm FONOP, tuần tra và tập trận chung để quốc tế hoá vấn đề Biển Đông.

Thứ ba, Philippines – một đồng minh lâu năm của Mỹ ở khu vực – được coi là nhân tố quan trọng để Mỹ triển khai chiến lược ở khu vực, và như vậy Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines năm 1951 sẽ tiếp tục được củng cố, đồng thời quân đội Mỹ sẽ tích cực sử dụng quyền tiếp cận các căn cứ quân sự của Philippines để khống chế Trung Quốc. Điều này không chỉ là chỗ dựa cho Philippines và hỗ trợ các nước ven Biển Đông khác trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông.

Mặt khác, Mỹ sẽ khuyến khích Philippines tự nâng cao năng lực quốc phòng với sự hỗ trợ của Mỹ, kể cả việc trang bị hệ thống tên lửa tầm trung Typhon như các quan chức Philippines đã đề cập. Rõ ràng điều này tạo đối trọng lớn đối với Trung Quốc ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan.

Thứ tư, chuyển hướng vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Washington sẽ đề cao tinh thần thượng tôn pháp luât, điều mà Bắc Kinh đang tìm cách thoái thác để phá vỡ nguyên trạng. Điều này là có lợi cho các nước nhỏ ven Biển Đông để đối phó với Trung Quốc. Có thể nhận thấy rõ, chính dưới thời nhiệm kỳ đầu của Trump, Washington đã lần đầu tiên đưa ra quan điểm pháp lý chính thức trên vấn đề Biển Đông qua Công hàm gửi lên Liên hợp quốc thang 6/2020 và Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ tháng 7/2020.

Việc làm này của Mỹ đã kéo theo nhiều đồng minh khác như Australia, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, New Zealand gửi công hàm lên Liên hợp quốc thể hiện rõ quan điểm pháp lý trên các vấn đề Biển Đông, trong đó bác bỏ yêu sách “đường chin đoạn” của Trung Quốc. Với chiến lược chống Trung Quốc ở khu vực, bên cạnh việc, tiếp tục cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, gia tăng sức mạnh quân sự của Mỹ ở khu vực, chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, kể cả qua các hoạt động FONOP. Vi phạm luật pháp quốc tế là điểm yếu của Bắc Kinh mà các nước ven Biển Đông có thể đồng hành cùng Mỹ để thách thức Trung Quốc. Tóm lại, với việc chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhằm chống lại Trung Quốc sẽ tác động tích cực tới cục diện Biển Đông và góp phần duy trì trật tự dựa trên pháp luật, bảo đảm tự do, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông.

]]>
Liệu chính quyền Trump giai đoạn tới có thể kiềm chế TQ ở Biển Đông hay không? https://biendong.net/2024/12/02/lieu-chinh-quyen-trump-giai-doan-toi-co-the-kiem-che-tq-o-bien-dong-hay-khong/ Mon, 02 Dec 2024 01:24:00 +0000 https://biendong.net/?p=141788 Cuộc cạnh tranh địa chiến lược Mỹ – Trung ở Biển Đông và trong khu vực ngày càng trở nên gay gắt bởi lẽ Trung Quốc luôn tìm cách vươn lên ngang hàng, thậm chí vượt Mỹ. Bắc Kinh đã không ngần ngại sử dụng các chiến thuật cưỡng bức để phục vụ những tham vọng đó. Trong hơn một thập kỷ, Trung Quốc đã sử dụng các chiến lược hỗn hợp để tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng ở Biển Đông – vùng biển có tầm quan trọng chiến lược.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc coi thường, bất chấp các yêu sách lãnh thổ của các nước láng giềng ven Biển Đông và phớt lờ sự quan tâm của thế giới đối tự do hàng hải hàng không ở Biển Đông. Philippines và Việt Nam đã thường xuyên phải đối mặt với những hành vi hung hăng của Bắc Kinh chẳng hạn như phong tỏa, các hành động đâm húc, tấn công bằng vòi rồng và thậm chí cả các cuộc tấn công bằng rìu, búa hay các vũ khí sắc nhọn của tàu Trung Quốc.

Các hoạt động năng lượng ngoài khơi thường xuyên bị quấy rối, uy hiếp. Chỉ cần đánh cá trong vùng biển mà Trung Quốc tự cho là của họ cũng có thể khiến ngư dân bị lực lượng Trung Quốc tấn công bằng gậy sắt. Những cuộc đối đầu bạo lực như vậy đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực và làm suy yếu sự ổn định ở một hành lang quan trọng nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Dư luận từng hy vọng Mỹ sẽ hành động để kiềm chế hành vi của Trung Quốc, đặc biệt là trong bối cảnh nước này có hiệp ước phòng thủ chung với Philippines. Tuy nhiên, 3 chính quyền liên tiếp ở Mỹ – chính quyền của Tổng thống Barack Obama, Tổng thống Donald Trump và Tổng thống Joe Biden – đã không có bất kỳ hành động mạnh mẽ nào ngoài việc đưa ra những tuyên bố ủng hộ (Philippines) và hành động mang tính biểu tượng. Năm 2012, chính quyền Tổng thống Obama khi đó đã “nhắm mắt làm ngơ” trước việc Trung Quốc trắng trợn chiếm giữ Bãi cạn Scarborough tranh chấp từ tay Philippines mà không buộc Trung Quốc phải hứng chịu bất kỳ sự trừng phạt nào.

Đây không phải là lần đầu tiên Mỹ không thực hiện đúng cam kết quốc phòng với Philippines. Năm 1995, Philippines yêu cầu Mỹ giúp ngăn chặn lực lượng Trung Quốc chiếm Đá Vành Khăn, chỉ cách đảo Palawan của Philippines 129 hải lý. Tổng thống Mỹ khi đó là Bill Clinton do tức giận về việc Mỹ bị chấm dứt quyền duy trì các căn cứ quân sự ở Philippines cách đó 3 năm nên đã từ chối. Trung Quốc đã chiếm và đẩy mạnh quân sự hoá Đá Vành Khăn biến thực thể này thành căn cứ quân sự quan trọng của Trung Quốc.

Càng không bị trừng phạt, Trung Quốc càng trở nên táo bạo và lộng hành hơn. Sau khi chiếm được Bãi cạn Scarborough, Tập Cận Bình ráo riết bắt tay vào công cuộc cải tạo đất, tạo ra 1300 ha đất ở Biển Đông, bao gồm 7 đảo nhân tạo hiện đóng vai trò là căn cứ hoạt động tiền phương của Trung Quốc trên Biển Đông. Bắc Kinh đã xây dựng 27 tiền đồn quân sự trên các thực thể tranh chấp, hiện được trang bị tên lửa tầm ngắn, thiết bị trinh sát, hệ thống radar, laser và thiết bị gây nhiễu. Các hòn đảo lớn hơn có nhà chứa máy bay, đường băng và bến cảng nước sâu. Bằng cách đơn phương vẽ lại bản đồ địa chính trị của Biển Đông, Trung Quốc đang đảm bảo rằng nước này có vị trí độc tôn để triển khai sức mạnh trong khu vực.

Khi Trung Quốc dần xói mòn an ninh của Philippines, bao gồm cả quyền kiểm soát của Philippines đối với các khu vực trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này, Mỹ vẫn tiếp tục nhấn mạnh cam kết phòng thủ “sắt đá” của mình với đồng minh. Cuối năm ngoái, chính quyền Biden khẳng định rằng theo Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines, Mỹ có trách nhiệm bảo vệ Philippines trước bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào của bên thứ ba nhằm vào quân đội, lực lượng bảo vệ bờ biển, máy bay hoặc tàu của Philippines “ở bất kỳ nơi nào trên Biển Đông”. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không bị trừng phạt – và vì thế, Bắc Kinh không hề nản lòng (khi thực hiện các hành động tấn công Philippines ở Biển Đông).

Mỹ nên tuyên bố rõ ràng rằng Hiệp ước phòng thủ chung giữa Mỹ với Philippines có trách nhiệm bảo vệ Philippines trước mọi nỗ lực nhằm thúc đẩy sự thay đổi ở các khu vực hiện nằm dưới sự kiểm soát hành chính của Philippines, bao gồm cả Bãi Cỏ Mây, mà Trung Quốc đang cố gắng bao vây, phong toả.

Để ủng hộ lập trường này, Mỹ có thể viện dẫn phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài quốc tế rằng các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông không có cơ sở pháp lý và các hành động của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines đã vi phạm chủ quyền của Philippines. Việc Trung Quốc công khai coi thường, bác bỏ phán quyết năm 2016 đã làm xói mòn giá trị của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển, điều này xua tan mọi hy vọng rằng tương lai của Biển Đông sẽ được quyết định bởi luật pháp quốc tế. Đó là lý do tại sao Mỹ phải sẵn sàng hỗ trợ Philippines thúc đẩy tôn trọng thực thi phán quyết 2016 bằng hành động cụ thể.

 Nếu đứng lên bảo vệ đồng minh hiệp ước của mình, Mỹ có thể tận dụng 9 căn cứ hải quân và không quân của Philippines mà Mỹ đã tiếp cận trong thập kỷ qua, 2 trong số đó nằm ngay đối diện Đài Loan và miền Nam Trung Quốc. Nếu không, Trung Quốc sẽ tiếp tục củng cố sự kiểm soát, thống trị ở Biển Đông, từ đó chiếm đoạt nguồn tài nguyên năng lượng và thủy sản dồi dào của khu vực, đồng thời đạt được khả năng phá vỡ chuỗi cung ứng và trừng phạt các nước vì những hành động mà Bắc Kinh cho là không thân thiện.

Giới chuyên gia nhận định Trung Quốc sẽ không dừng lại ở Biển Đông. Dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình, Trung Quốc đã sử dụng một sự kết hợp tương tự giữa lừa dối, bắt nạt, ép buộc và bất ngờ để mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ của mình ở những nơi khác, từ Biển Hoa Đông đến dãy Himalaya, thậm chí không chừa cả quốc gia nhỏ bé Bhutan. Giống như đối với bất kỳ kẻ bắt nạt nào, cách duy nhất để ngăn chặn Trung Quốc là phải có một quốc gia hùng mạnh và đáng tin cậy đứng ra thách thức và đối đầu với Bắc Kinh. Mỹ chính là quốc gia đó, và Washington nên bắt đầu bằng việc bảo vệ Philippines ở Biển Đông. Đó sẽ là nhiệm vụ quan trọng của Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump trong nhiệm kỳ sắp tới của ông.

Tuy nhiên, có thể thấy nhiệm vụ ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông đối với Trump sẽ khó khăn hơn nhiều so với nhiệm kỳ đầu của ông. Biển Đông – vùng biển tranh chấp mà Trung Quốc tuyên bố là của riêng họ, trong khi đó Mỹ cho rằng Biển Đông không thuộc về bất kỳ một quốc gia đơn lẻ nào – đã ngày càng trở thành một khu vực nhiều rủi ro trong những năm Trump rời chính quyền.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, chính quyền Trump đã có đường lối cứng rắn chống lại Trung Quốc, tăng cường tuần tra và tập trận trong khu vực, đồng thời ra tuyên bố về lập trường pháp lý của Mỹ trên các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và bác bỏ các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc. Tuy nhiên kể từ đó, Trung Quốc đã mở rộng sự hiện diện của mình trong khu vực, ngày càng sẵn sàng đối đầu với các quốc gia khác, bao gồm cả Philippines – một đồng minh hiệp ước của Mỹ. Ông Hunter Marston, nhà nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương tại Đại học Quốc gia Australia, nhận định: “Không gian để có thể xảy ra sai sót đã thu hẹp đáng kể sau với giai đoạn 2016-2020. Giờ đây, chỉ cần một tia lửa nhỏ cũng có thể gây ra một cuộc giao tranh hoặc va chạm, dẫn tới xung đột liên quan đến tất cả các bên”.

Trong chiến dịch tranh cử ông Trump tuyên bố sẽ tiếp tục tăng thuế nhập khẩu lên tới 60% hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc, bãi bỏ Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Trung Quốc gia tăng cuộc chiến công nghệ với Trung Quốc. Sau khi thắng cử, ông Trump đã tuyên bố bổ nhiệm những nhân vật “diều hâu” với Trung Quốc vào những vị trí quan trọng trong chính quyền mới, điều này báo hiệu một chính sách cứng rắn hơn của chính quyền Trump 2.0 đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay ông Trump chưa cho biết ông sẽ xử vấn đề Biển Đông và khu vực châu Á – Thái Bình Dương như thế nào trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai.

Trong nhiệm kỳ của người tiền nhiệm Biden, Mỹ đã có nhiều động thái gia tăng quan hệ an ninh, quốc phòng với đồng minh Philippines như đạt thoả thuận về việc quân đội Mỹ có quyền tiếp cận thêm 4 căn cứ quân sự của Philippines; tiến hành tuần tra chung song phương với Philippines và đa phương với các nước Nhật, Australia, Canada… ở Biển Đông; mở rộng các cuộc tập trận chung với đồng minh cả về số lượn, quy mô lẫn phạm vi ở Biển Đông, song chưa ngăn chặn được sự hung hăng của Bắc Kinh. Trái lại, Trung Quốc lại lợi dụng điều này để vu cáo Mỹ “gây bất ổn” ở Biển Đông để gia tăng các hoạt động quân sự ở Biển Đông bởi trên thực tế hành vi bắt nạt, cưỡng ép các nước láng giềng ven Biển Đông của Bắc Kinh chưa nhận phải bất cứ sự trừng phạt nào. Do vậy, một số chuyên gia mong đợi chính quyền mới của Tổng thống Trump có những biện pháp đáp trả cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông hiệu quả hơn.

Các nhà quan sát Biển Đông cho rằng chính quyền mới sẽ tiếp tục chính sách của chính quyền Biden (đối với khu vực này), theo đó Mỹ sẽ cố gắng tăng cường các nỗ lực ngoại giao và củng cố các liên minh cũng như quan hệ đối tác an ninh của Mỹ. Gregory Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), cho rằng Trump khó đoán hơn Biden “nhưng không có lý do gì để mong đợi bất kỳ thay đổi lớn nào đối với chính sách của Mỹ về mặt này”. Mặc dù Trump chưa vạch ra kế hoạch cụ thể về Biển Đông, nhưng ông có thể theo đuổi “câu thần chú” chính sách đối ngoại rộng lớn hơn của mình là “hòa bình thông qua sức mạnh”. Điều đó có những rủi ro riêng bởi một số nhà phân tích cho rằng việc quân sự hóa không kiềm chế của Mỹ chính là nguyên nhân khiến Bắc Kinh mất an ninh và sẽ tiếp tục làm trầm trọng thêm căng thẳng ở Biển Đông.

]]>
Kết quả bầu cử Mỹ ảnh hưởng thế nào tới Biển Đông? https://biendong.net/2024/10/30/ket-qua-bau-cu-my-anh-huong-the-nao-toi-bien-dong/ Wed, 30 Oct 2024 15:59:00 +0000 https://biendong.net/?p=140565 Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang tới gần, cuộc đua vào Nhà Trắng đang ở giai đoạn then chốt với sự ganh đua sát sao giữa hai ứng cử viên. Giới quan sát nhận định kết quả bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới có thể ảnh hưởng đáng kể đến liên minh quốc phòng Manila-Washington và qua đó tác động tới tình hình Biển Đông trong thời gian tới.

Với việc Kamala Harris và Donald Trump đang cạnh tranh để trở thành người tiếp theo nắm giữ Phòng Bầu dục, một số nhà phân tích đã đưa ra những quan điểm về cách một chính quyền mới ở Washington có thể định hình mối quan hệ Mỹ-Philippines và yêu sách lãnh thổ của Manila ở tuyến đường biển đang có tranh chấp gay gắt này.

1. Bà Harris đã trở thành ứng cử viên tổng thống không có đối thủ trong danh sách ứng cử viên của Đảng Dân chủ sau khi Tổng thống Joe Biden rút lui khỏi cuộc đua vào tháng 7 vì lo ngại vấn đề sức khỏe cũng như liệu ông có thể đánh bại Trump lần hai tại các cuộc bỏ phiếu hay không. Trên cương vị Phó Tổng thống, bà Harris đã có chuyến thăm cả Philippines lẫn Hà Nội – hai nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc ở Biển Đông và cũng là 2 nước đang chịu sức ép lớn nhất từ những hoạt động hung hăng gây hấn ngày càng gia tăng ở Biển Đông thời gian qua. Tại cả Philippines và Việt Nam, Bà Harris đã có những phát biểu mạnh mẽ, chuyển tới Bắc Kinh những thông điệp cứng rắn trên vấn đề Biển Đông.

Giới phân tích cho rằng nếu chiến thắng trong bầu cử, chính quyền Harris có thể sẽ tiếp tục duy trì sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với Philippines theo một hiệp ước quốc phòng đã tồn tại 73 năm. Trong khi đó nếu thắng cử Trump có thể gây ra sự không chắc chắn ở nhiệm kỳ tổng thống thứ hai và một số nhà quan sát mô tả là cách tiếp cận “mang tính đổi chác mua bán” hơn đối với các mối quan hệ song phương Mỹ-Philippines.

Trong chiến dịch tranh cử năm 2024, không ứng cử viên nào nêu rõ hoặc nói trực tiếp về chính sách của họ đối với Biển Đông nếu được bầu làm tổng thống, và phần lớn các bài phát biểu của họ tại các cuộc vận động tranh cử tập trung vào các vấn đề kinh tế, an ninh và xã hội. Nhưng trong quá khứ, cả hai ứng cử viên đều đã giải quyết vấn đề địa chính trị nóng bỏng ở Biển Đông trong các hoạt động ở Đông Nam Á và chuyến thăm chính thức tới Philippines.

Một số nhà phân tích cho rằng nếu bà Harris, Phó Tổng thống Mỹ đương nhiệm và là ứng cử viên của Đảng Dân chủ tranh cử tổng thống, giành chiến thắng vào tháng 11 tới, có thể mong đợi bà sẽ kế tục các chính sách của chính quyền Biden đối với Biển Đông nói chung và Philippines nói riêng. Ông Carlyle Thayer, Giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales ở Canberra, cho biết: “Có thể mong đợi chính quyền Kamala Harris sẽ hỗ trợ toàn diện cho Philippines theo Hiệp ước phòng thủ chung (MDT) và theo đuổi tính liên tục trong các chiến lược an ninh quốc gia và quốc phòng của chính quyền Biden”. Theo Hiệp ước phòng thủ chung (MDT) được ký vào năm 1951, cả Manila và Washington cam kết hỗ trợ lẫn nhau về mặt quân sự trong trường hợp một trong hai quốc gia bị một thế lực bên ngoài tấn công. Các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ nhiều lần tuyên bố rằng họ sẵn sàng hỗ trợ Manila nếu nước này bị các quốc gia khác tấn công kể cả ở Biển Đông.

Trong bối cảnh căng thẳng giữa các bên yêu sách đối địch là Bắc Kinh và Manila về Biển Đông, chính quyền Biden đã ám chỉ rằng họ sẽ giúp Philippines tự vệ trong trường hợp bị tấn công vũ trang “ở bất kỳ nơi nào trên Biển Đông”. Giáo sư Thayer nhận định: “Một chính quyền Harris có thể sẽ chấp thuận, tùy thuộc vào sự đồng thuận của Philippines, việc triển khai thiết bị, vũ khí và nhân sự để hỗ trợ Philippines trong một cuộc khủng hoảng liên quan đến Trung Quốc tại Bãi Cỏ Mây hoặc ở Bãi Sa Bin”.

Các cuộc đối đầu căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc đã xảy ra gần đây ở vùng biển tranh chấp ngay cả sau khi hai bên đạt được “thoả thuận tạm thời” vào tháng 7, đồng ý sẽ giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông. Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (một nhóm nghiên cứu chính sách ở Ấn Độ) Kumari Mansi cho rằng: “Nếu Kamala Harris lên nắm quyền, chính sách đối ngoại của Biden sẽ được tiếp tục và bản thân bà Harris cũng đã ủng hộ mối quan hệ chặt chẽ hơn với Manila và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Harris là quan chức cấp cao nhất của Mỹ đến thăm tỉnh Palawan của [Philippines], một tỉnh giáp Biển Đông trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Manila và Bắc Kinh”.

Trong chuyến thăm Palawan vào tháng 11/2022, một hòn đảo nằm ở tuyến đầu trong tranh chấp hàng hải giữa Philippines và Trung Quốc, bà Harris đã chỉ trích Bắc Kinh về các chiến thuật chèn ép của nước này ở Biển Đông và tái khẳng định sự ủng hộ quân sự toàn diện của Washington đối với Manila. Văn phòng của bà cũng đã công bố hàng triệu USD viện trợ cho các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải của Philippines. Phó tổng thống Mỹ phát biểu tại Palawan trên một con tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines: “Mỹ và cộng đồng quốc tế nói chung có lợi ích to lớn ở khu vực này. Sự thịnh vượng của Mỹ phụ thuộc vào hàng tỷ USD [thương mại] chảy qua vùng biển này mỗi ngày và chúng tôi tự hào được hợp tác với các bạn trong sứ mệnh của mình. Là một đồng minh, Mỹ sẽ sát cánh cùng Philippines trước sự đe dọa và cưỡng ép ở Biển Đông”.

Theo chuyên gia Kumari Mansi, trong chuyến thăm đó, bà Harris cũng đã có cuộc gặp Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. Hai nhà lãnh đạo đã gặp nhau 6 lần trong các vai trò chính phủ của họ và đã hình thành nên mối quan hệ bền chặt. Điều này chắc chắn sẽ được phản ánh trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Philippines dưới thời Harris.

Khi thăm Hà Nội tháng 8/2021, trong các cuộc gặp với lãnh đạo Việt Nam, bà Harris nhấn mạnh: “Chúng tôi (Mỹ) sẽ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam để duy trì quyền tự do hàng hải quốc tế dựa trên luật pháp, một vấn đề mà chúng tôi coi trọng, vì nó liên quan đến Biển Đông”; đồng thời khẳng định “Hải quân Mỹ sẽ duy trì sự hiện diện mạnh mẽ ở Biển Đông và sẽ tiếp tục thách thức sự bắt nạt và yêu sách hàng hải quá đáng của Bắc Kinh”. Bà Harris tuyên bố: “Chúng ta cần phải tìm cách gây áp lực và gia tăng sức ép để Bắc Kinh phải tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, phản đối các tuyên bố chủ quyền trên biển quá đáng và các hành vi bắt nạt của họ”.

2. Trump, ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tháng 11 tới, là người khó đoán định hơn. Tuy nhiên, cần phải thấy rõ rằng chính trong nhiệm kỳ tổng thống trước, chính quyền của ông Trump đã có những chính sách cứng rắn với Trung Quôc tên vấn đề Biển Đông. Trên thực tế, Washington đã để lại những dấu ấn rõ nét trên hồ sơ Biển Đông dưới thời cựu Tổng thống Trump. Chính quyền của ông Trump đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc rồi sau đó ra Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao nêu rõ quan điểm pháp lý của Mỹ trên vấn đề Biển Đông, bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, khẳng định giá trị pháp lý phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông và yêu cầu các bên thực thi phán quyết. Động thái này của Mỹ đã kéo theo một loạt nước (Úc, Anh, Pháp, Đức, Nhật, New Zeland…) gửi công hàm lên Liên hợp quốc về vấn đề Biển Đông, làm sâu sắc thêm cuộc chiến pháp lý ở Biển Đông. Hải quân Mỹ cũng tăng cường các chiến dịch tự do hàng hải (FONOP) ở Biển Đông cả về số lượng lẫn phạm vi hoạt động so với chính quyền của ông Obama trước đó.

Ông Trump đã đến Manila với tư cách là Tổng tư lệnh Mỹ vào tháng 11/2017. Trong chuyến thăm đó, ông đã tái khẳng định liên minh quốc phòng của Washington với Manila và ủng hộ một “Châu Á-Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Trump cũng đã ca ngợi “mối quan hệ tuyệt vời” của ông với nhà lãnh đạo Philippines khi đó là Rodrigo Duterte. Sau đó, người phát ngôn của Tổng thống Philippines là Harry Roque đã mô tả cuộc gặp của Tổng thống Trump với Duterte là “rất nồng ấm và rất thân thiện”.

Đánh giá về mối quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines, Đại sứ Jose Manuel Romualdez, đặc phái viên của Manila tại Washington kể từ năm 2017 (năm Trump nhậm chức), cho rằng nếu Trump trở lại Nhà Trắng thêm một nhiệm kỳ nữa, ông có thể sẽ duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa Mỹ và Philippines. Tháng 7/2024, Đại sứ Romualdez đã phát biểu: “Tôi không thấy có bất kỳ rủi ro nào cả. Chúng tôi đã có những thăng trầm với Mỹ, nhưng điều đó luôn tồn tại. Tôi mong đợi rằng chính quyền Trump sẽ tiếp tục chiến lược hiện tại của Mỹ nhằm chống lại các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông”.

Tuy nhiên, một số nhà phân tích dự đoán rằng nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Trump có thể mang lại sự bất ổn cho liên minh này cũng như yêu sách của Manila ở Biển Đông. Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại RAND Corp (California), lưu ý: “Điều đáng lo ngại là Trump, trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, dường như không quan tâm đến liên minh Mỹ-Philippines. Có lẽ bên chịu thiệt nhất ở Đông Nam Á từ chính quyền Trump thứ hai sẽ là Philippines … [nước] đã mở rộng và làm sâu sắc thêm liên minh an ninh với Washington để giúp chống lại các chiến thuật vùng xám đang gia tăng của Bắc Kinh ở Biển Đông. Nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ, Philippines sẽ phải tự chống chọi với sự xâm phạm ngày càng tăng của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình”.

Các nhà phân tích khác cũng chia sẻ quan điểm tương tự. Giáo sư Thayer nói: “Một chính quyền Trump sẽ hoàn toàn không thể đoán trước được. Ông ấy coi thường những hòn đảo và bãi đá nhỏ và không đánh giá cao chiến lược hàng hải. Nếu căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines gia tăng, dẫn đến nguy cơ xung đột vũ trang, Trump có thể sẽ đích thân can thiệp và tiến hành ngoại giao thượng đỉnh với Chủ tịch Tập Cận Bình để tìm kiếm một giải pháp thương lượng. Trump sẽ có xu hướng tìm kiếm sự trao đổi qua lại với Trung Quốc để giành quyền kiểm soát Philippines”.

Chuyên gia phân tích Lynn Kuok thuộc Viện nghiên cứu Brookings đồng ý rằng một chính quyền mới dưới thời Trump luôn có 2 khả năng xảy ra: (i) có thể gây nghi ngờ về cam kết của Mỹ; (ii) có thể diễn ra theo cách ngược lại, mang lại sự hợp tác quốc phòng lớn hơn giữa Washington và Manila. Bà Lynn Kuok nói: “Một chính quyền Trump có thể áp dụng cách tiếp cận “đổi chác, mua bán”, có thể xem xét lại những lời chỉ trích trước đây về việc các đồng minh ‘ăn không ngồi rồi’, gây nghi ngờ về cam kết của Mỹ theo Hiệp ước phòng thủ chung (MDT) và làm căng thẳng mối quan hệ. Nhưng một chính quyền Cộng hòa hiếu chiến cũng có thể tăng gấp đôi việc bảo vệ Philippines”.

Chuyên gia Lynn Kuok nhận định rằng bất kể kết quả bầu cử tổng thống Mỹ vào ngày 5/11 tới ra sao, liên minh quốc phòng giữa Manila và Washington sẽ có tác động đến an ninh và động lực của khu vực. Liên minh Mỹ-Philippines là “nền tảng của các liên minh và quan hệ đối tác của Mỹ tại Đông Nam Á, một tiểu vùng nằm ở trung tâm của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, ‘chiến trường ưu tiên’ của Mỹ”. Philippines là đồng minh duy nhất của Mỹ ở Đông Nam A, mối quan hệ Mỹ – Philippines như thể nào sẽ tác động trực tiếp tới Biển Đông và khu vực.

Đối với Việt Nam – nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc, ông Trump có một quan hệ đặc biệt khi đã 2 lần tới Việt Nam trên cương vị Tổng thống nước Mỹ và chính ông là người nêu ra chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở tại Diễn đàn cấp cao APEC được tổ chức ở Đà Nẵng Việt Nam năm 2017. Nếu trở thành ông chủ Nhà Trắng nhiệm kỳ 2, ông Trump sẽ tiếp cận với Việt Nam thì chưa rõ, song có lẽ ông sẽ tiếp tục thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở bởi đây là trọng tâm trong chiến lược ngăn chặn kiềm chế Trung Quốc ở khu vực. Ông Gregory Poling, thành viên cấp cao và giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), cho rằng: “Việc đưa ra chính sách đúng đắn của Mỹ đối với Philippines trong 100 ngày đầu tiên sẽ có tầm quan trọng đặc biệt ở [Đông Nam Á], giống như đã từng xảy ra vào đầu chính quyền Biden. Cho dù Harris hay Trump kiểm soát Nhà Trắng vào tháng 1/2025, Philippines sẽ mong đợi Mỹ nhắc lại cam kết bảo vệ sinh mạng và quyền của người Philippines ở Biển Đông”.

]]>
Biển Đông sẽ ra sao nếu Donald Trump trở lại Nhà Trắng? https://biendong.net/2024/09/09/bien-dong-se-ra-sao-neu-donald-trump-tro-lai-nha-trang/ Mon, 09 Sep 2024 05:53:00 +0000 https://biendong.net/?p=136849 Ngày 28/6/2024, ông Trump và ông Biden đã lần đầu tiên tranh luận trực tiếp trong cuộc đua vào Nhà Trắng. Với việc ông Donald Trump trở thành ứng cử viên của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới, triển vọng chiến thắng của ông Trump cũng là chủ đề tranh luận của giới tinh hoa Trung Quốc.

Họ lo ngại việc ông Trump trở lại Nhà Trắng sẽ dẫn đến một cuộc chiến thương mại thậm chí còn nóng hơn, với những thiệt hại kinh tế tiềm tàng rất lớn. Giới chuyên gia nhận định mối lo ngại của Bắc Kinh là điều dễ hiểu bởi ông Donald Trump luôn là người khó đoán định, trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, chính ông Trump là người phát động cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và được tiếp tục triển khai dưới thời Tổng thống Biden, khiến Bắc Kinh đối mặt với nhiều khó khăn.

Vậy vấn đề Biển Đông sẽ ra sao nếu ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng cũng được giới phân tích hết sức quan tâm, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hăng trong việc cưỡng ép, bắt nạt láng giềng ven Biển Đông. Chúng ta còn nhớ tại Diễn đàn cấp cao APEC tháng 11/2017, ông Trump chính thức đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở. Hiện Biển Đông và Eo biển Đài Loan đang trở thành tâm điểm căng thẳng địa chính trị ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương do những hành động hung hăng ngày càng leo thang của Trung Quốc trong những năm gần đây. Trong bối cảnh đó, Mỹ đã đảm nhận một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và cân bằng quyền lực.

Tuy nhiên, với những bấp bênh xung quanh khả năng cựu Tổng thống Donald Trump sẽ có một nhiệm kỳ thứ hai, đã có những câu hỏi quan trọng được đặt ra về định hướng chính sách tương lai của Mỹ trong khu vực. Chính quyền trước đây của Trump đã theo đuổi chiến lược can dự và răn đe chiến lược để chống lại hành vi hung hăng của Trung Quốc, bao gồm các hoạt động tự do hàng hải và hiện diện quân sự ở Biển Đông. Tuy nhiên, cách tiếp cận của ông cũng được định hình bởi sự khó đoán và mang tính ngoại giao kiểu giao dịch, làm dấy lên lo ngại về tính nhất quán và hiệu quả trong chính sách của Mỹ.

Trong bối cảnh chính trị thay đổi, các bên liên quan đang theo dõi chặt chẽ đường hướng can dự của Mỹ vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thừa nhận những tác động quan trọng của hành động can dự đó đối với sự ổn định và an ninh khu vực.

Những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông đã gây ra mối lo ngại rộng rãi đối với các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế. Bất chấp phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) có lợi cho Philippines và vô hiệu hóa các yêu sách lãnh thổ mở rộng của Trung Quốc trong khu vực, Bắc Kinh vẫn khẳng định yêu sách đối với gần như toàn bộ Biển Đông và luôn tìm mọi cách để thực hiện các yêu sách này. Trong số đó phải kể đến việc Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo và các cơ sở quân sự, làm gia tăng căng thẳng với các quốc gia láng giềng cũng có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông như Việt Nam, Philippines và Malaysia. Việc Trung Quốc coi thường chủ quyền của các quốc gia khác đã dẫn đến việc quân sự hóa gia tăng và làm dấy lên lo ngại về khả năng xảy ra xung đột. Đặc biệt, trong hơn một năm trở lại đây, Trung Quốc không ngừng gia tăng các hoạt động gây hấn với Philippines từ bắn tia lazer cấp độ quân sự nguy hiểm đến việc phun vòi rồng, đâm va vào các tàu công vụ của Philippines, thậm chí gây thương tích cho thủy thủ trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines gần khu vực Bãi Cỏ Mây.

Tương tự, căng thẳng ở Eo biển Đài Loan đã leo thang khi Trung Quốc gia tăng áp lực buộc Đài Loan phải chấp nhận nguyên tắc “Một Trung Quốc” của mình. Bắc Kinh đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự gần Đài Loan và tăng cường cô lập ngoại giao đối với hòn đảo này nhằm mục đích ép buộc hòn đảo phải tuân theo ý mình. Những hành động như vậy nhấn mạnh quyết tâm của Trung Quốc trong việc khẳng định quyền kiểm soát đối với hòn đảo tự trị Đài Loan.

Căng thẳng gia tăng ở cả hai khu vực đặt ra những thách thức đáng kể đối với sự ổn định và an ninh khu vực, làm dấy lên lo ngại về khả năng đối đầu quân sự và sự cần thiết phải có nỗ lực ngoại giao nhằm giảm căng thẳng và tìm kiếm giải pháp hòa bình cho những tranh chấp lâu năm này. Để đáp lại những hành động hung hăng của Trung Quốc, Mỹ đã áp dụng chính sách can dự và răn đe chiến lược trong khu vực. Cách tiếp cận này bao gồm việc tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) và duy trì sự hiện diện quân sự rõ ràng để duy trì luật pháp quốc tế, hỗ trợ các đồng minh và ngăn chặn mọi nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan. Bằng cách thể hiện cam kết của mình đối với sự ổn định và an ninh khu vực, Mỹ nhắm tới mục tiêu cân bằng ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc và ngăn chặn căng thẳng leo thang.

Giới phân tích nhận định dù ai là ông chủ Nhà Trắng thì mục tiêu của chính quyền Washington vẫn là bảo vệ các lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó tự do biển cả được coi là giá trị lâu nay của Mỹ thì bất cử Tổng thống nào của Mỹ cũng phải bảo vệ. Hơn thế nữa, nhìn lại 4 năm cầm quyền của cựu Tổng thống Trump, có thể thấy Washington đã làm được nhiều việc mang tính đột phá đối với Biển Đông

Chính trong thời cầm quyền của ông Trump, Mỹ đã lần đầu tiên đưa ra một quan điểm pháp lý rõ ràng nhất đối với Biển Đông qua việc Washington gửi công hàm lên Liên hợp quốc đầu tháng 6/2020 và ra tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định lập trường pháp lý đối với các tranh chấp Biển Đông, bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc và yêu cầu tuân thủ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực. Điều này đã tạo ra một cuộc chiến pháp lý xung quanh các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông với sự tham gia của nhiều đồng minh của Mỹ như Úc, Anh, Pháp, Đức, Newzealand….tạo cơ sở pháp lý cho việc can dự mạnh mẽ của Mỹ và các đồng minh của Mỹ vào Biển Đông trong giai đoạn Donald Trump cầm quyền. Hơn thế nữa, cựu Tổng thống Trump cũng chính là người đã tiến hanh các biện pháp trừng phạt đối với những cá nhân và tổ chức liên quan tới việc bồi đắp mở rộng và quân sự hóa các thức thể ở Biển Đông.

Mặt khác, giới phân tích cho rằng hiện quan điểm của những người trong chính quyền Mỹ dưới thời cựu Tổng thống Trump trước đây và có thể tiếp tục tham gia chính phủ mới nếu ông Trump tái cử  vẫn rất “thù địch” với Trung Quốc. Tiêu biểu là ông Robert Lighthizer, đại diện thương mại có ảnh hưởng của Trump. Trong giai đoạn từ 2017-2021, ông Lighthizer đã mở cuộc điều tra về hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ của Trung Quốc và viện dẫn Điều 301 của luật thương mại của Mỹ, để ông Trump trừng phạt các đối tác thương mại không chơi công bằng và tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo quan điểm của ông Lighthizer, Trung Quốc gây ra mối nguy hiểm lớn hơn bao giờ hết đối với nước Mỹ. Trong cuốn sách “Không có thương mại nào là tự do” (“No Trade is Free”) xuất bản năm 2023, ông Lighthizer cho rằng Trung Quốc là “mối đe dọa lớn nhất mà nước Mỹ và hệ thống chính phủ dân chủ tự do phương Tây phải đối mặt kể từ Cách mạng Mỹ”. Cuốn sách nêu một số đề xuất cứng rắn, bao gồm sàng lọc các khoản đầu tư của Trung Quốc không chỉ vì lý do an ninh, mà còn vì “tác hại kinh tế lâu dài”; đồng thời đề xuất một đợt tăng thuế lớn nữa với mục tiêu “thương mại cân bằng” – nghĩa là không có thâm hụt thương mại hàng hóa nào cả.

Giới quan sát nhận định một khi ông Trump trở thành ông chủ Nhà Trắng nhiệm kỳ thứ 2, ông Lighthizer sẽ là một cánh tay đắc lực của ông Trump và một chính sách cứng rắn hơn nữa với Trung Quốc sẽ trở thành hiện thực, thậm chí thuế đánh vào hàng hóa Trung Quốc có thể lên tới 60%. Trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức rất lớn hiện nay, điều này sẽ là “một cơn ác mộng” đối với Bắc Kinh và chắc chắn nó sẽ tác động nhiều mặt tới an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông.

Tuy nhiên, điều khiến giới quan sát có phần lo ngại là mối quan hệ căng thẳng của Trump với các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và châu Á có thể làm suy yếu sự gắn kết với họ về chính sách Trung Quốc nếu ông tái đắc cử. Với tư cách ông chủ Nhà trắng trong nhiệm kỳ thứ 2, liệu ông Trump có tiếp tục thúc đẩy những tiểu đa phương đang được hình thành ở khu vực dưới thời Tổng thống Biden hay không đang là câu hỏi được đặt ra đối với các nhà phân tích bởi các tiểu đa phương này đang là những yếu tổ quan trọng ngăn chặn sự hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông và trong khu vực.

Cách tiếp cận của cựu Tổng thống Trump đối với khu vực đã tạo ra những yếu tố khó lường thông qua chính sách ngoại giao kiểu giao dịch của ông. Trong khi chính quyền trước đây của ông có lập trường cứng rắn chống lại Trung Quốc với các biện pháp như áp thuế và trừng phạt các thực thể Trung Quốc, ông Trump cũng theo đuổi mối quan hệ cá nhân với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Điều này gây ra những biến động trong chính sách của Mỹ, với những thời điểm hợp tác xen kẽ với những thời kỳ căng thẳng gia tăng.

Nếu cựu Tổng thống Trump tái đắc cử vào tháng 11/2024, chính sách của ông đối với Biển Đông và Eo biển Đài Loan được cho là sẽ tiếp tục duy trì các lợi ích then chốt của Mỹ trong khu vực. Trong số đó sẽ bao gồm những ưu tiên về tự do hàng hải, bảo vệ luật pháp quốc tế và hỗ trợ các đồng minh như Đài Loan. Tuy nhiên, trong khi chính quyền trước đây của Trump thể hiện lập trường mạnh mẽ chống lại sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, quan hệ cá nhân của ông với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình làm dấy lên lo ngại về tính liên tục trong cách tiếp cận của ông trong nhiệm kỳ thứ hai. Trump gần đây từng nói với Fox News: “Tôi rất thích Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông ấy là một người bạn rất tốt trong nhiệm kỳ của tôi”.

Xu hướng ưu tiên những lợi ích ngắn hạn của Trump và việc ông sẵn sàng tham gia vào các cuộc đàm phán có đi có lại với các đối thủ có thể làm suy yếu những nỗ lực nhằm duy trì một môi trường an ninh ổn định và có thể dự đoán được trong khu vực. Do đó, mặc dù các mục tiêu chiến lược tổng thể trong chính sách của Mỹ ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan có thể vẫn nhất quán, nhưng cách thức theo đuổi chúng có thể thay đổi tùy thuộc vào các quyết định chiến thuật của Trump cũng như các cuộc đàm phán sâu rộng hơn với Trung Quốc.

Việc quản lý hiệu quả xung đột tiềm ẩn ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan đòi hỏi một cách tiếp cận cân bằng, tập trung vào sự ổn định, tuân thủ luật pháp quốc tế và hợp tác giữa các bên liên quan. Mặc dù Mỹ đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự cân bằng trong khu vực, nhưng tính nhất quán và rõ ràng về mặt chiến lược trong chính sách của nước này là điều tối quan trọng.

Trong bối cảnh có khả năng ông Trump sẽ có nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai, chính sách của Mỹ có thể tiếp tục ưu tiên răn đe và can dự chiến lược với Trung Quốc. Tuy nhiên, cách tiếp cận ngoại giao và quan hệ cá nhân của Trump với Tập Cận Bình có thể dẫn tới nhiều điều không chắc chắn, gây nguy hiểm cho cách tiếp cận mang tính nguyên tắc và chiến lược cần thiết để bảo vệ lợi ích của Mỹ khi nước này thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng trong khu vực.  Ông Tập Cận Bình sẽ theo dõi chặt chẽ cuộc bầu cử Mỹ vào tháng 11 tới: hai ứng viên có khả năng sẽ đặt ra cho Trung Quốc những thách thức rất khác nhau. Nhưng ngay cả khi chờ đợi kết quả, ông Tập cũng đã biết rằng dù nền chính trị Mỹ có bị chia rẽ đến đâu, sự thù địch đối với Trung Quốc hiện là vấn đề được cả lưỡng đảng ủng hộ và đã ăn sâu vào tâm lý người Mỹ. Đối với ông Tập và đối với nước Mỹ, chu kỳ bầu cử giờ đây là một phần của cuộc đấu tranh lâu dài. Trong dư luận Trung Quốc, có những ý kiến cho rằng Trump sẽ làm tăng khả năng xảy ra chiến tranh, thậm chí có người còn thốt lên trên mạng rằng thế giới sẽ “không bao giờ hòa bình” khi có ông Trump ở bên cạnh. Tóm lại, một tâm lý lo ngại việc ông Trump trở lại Nhà Trắng đang lan rộng ở Trung Quốc. Chúng ta cùng chờ xem điều gì sẽ xảy ra đối với Biển Đông.

]]>