Đông Nam Á – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 04 Jul 2025 07:12:33 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về lĩnh vực hàng hải ở Biển Đông và khu vực https://biendong.net/2025/06/14/tam-quan-trong-cua-viec-nang-cao-nhan-thuc-ve-linh-vuc-hang-hai-o-bien-dong-va-khu-vuc/ Sat, 14 Jun 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=152096 Đông Nam Á có một số tuyến đường biển (SLOC) được xếp vào hàng quan trọng nhất thế giới. 45% lượng hàng hoá vận tải đường biển của thế giới đi qua Biển Đông.

Ngoài các nước Đông Nam Á, nhiều nước khác trong khu vực đều phụ thuộc lớn vào tuyến đường hàng hải qua Eo biển Malacca và Biển Đông. Trong đó, khoảng 60% hàng hoá xuất nhập khẩu của Trung Quốc, 45% hàng hoá của Nhật Bản đi qua Biển Đông; khoảng 67% giá trị xuất khẩu và hơn 40% giá trị nhập khẩu của Australia đi qua quần đảo Indonesia, nơi được kết nối với các tuyến hàng hải quan trọng như Eo biển Malacca, Biển Đông và Biển Sulawesi.

Khu vực Đông Nam Á

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị giữa các siêu cường ngày càng gay gắt, các tuyến đường hàng hải qua khu vực đối mặt với cả các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Việc Trung Quốc ngày càng trở nên quyết đoán và hung hăng hơn trong quan hệ với các nước láng giềng ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh hàng hải trong khu vực. Trong khi đó, dữ liệu hàng hải ở Đông Nam Á bị phân mảnh từ nhiều nguồn khác nhau, qua đó làm phức tạp thêm nỗ lực xác định dữ liệu liên quan.

Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải (MDA) được tổ chức Hàng hải Quốc tế định nghĩa là sự hiểu biết hiệu quả về bất cứ điều gì liên quan đến lĩnh vực hàng hải có thể tác động đến an ninh, an toàn, kinh tế hoặc môi trường. MDA được cho là hoạt động như một “công cụ hỗ trợ chính” cho các vấn đề an ninh hàng hải khác, bao gồm việc thu thập, tích hợp và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau để theo dõi tàu, giám sát hoạt động vận chuyển hàng hoá, phát hiện các hoạt động vận chuyển gian lận và đánh giá các rủi ro an ninh quốc gia hoặc toàn cầu tiềm ẩn.

Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường biển ở Đông Nam Á này, vốn dễ bị tổn thương trước nhiều mối đe dọa hàng hải khác nhau, sẽ gây bất lợi cho thương mại toàn cầu. Điều này làm cho Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải (MDA) ở Đông Nam Á trở nên quan trọng, bao gồm cả việc thông qua chia sẻ thông tin cho phép các quốc gia và cơ quan thực thi pháp luật thiết lập một “Bức tranh hoạt động chung” toàn diện.

Đông Nam Á thiếu một hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất để tích hợp và lưu trữ dữ liệu về các hoạt động cũng như mối đe dọa hàng hải đa dạng. Các hoạt động kinh tế hàng hải của khu vực tạo ra dữ liệu lịch sử có giá trị về khối lượng vận chuyển và các mối đe dọa hàng hải khác nhau như sự cố cướp biển, tràn dầu, xả thải… đồng thời có thể mang lại lợi ích đáng kể cho nghiên cứu, lập kế hoạch quốc phòng và ra quyết định chiến lược. Tuy nhiên, dữ liệu này hiện bị phân mảnh, thường chỉ giới hạn trong các báo cáo hàng năm của các tổ chức chia sẻ thông tin hoặc cơ quan thực thi pháp luật, trong khi các hồ sơ cũ khó truy cập trực tuyến. Vì vậy, việc thiết lập một cơ sở dữ liệu hàng hải chung là cần thiết.

Không giống như Cổng chia sẻ thông tin ASEAN không còn tồn tại và đã được thay thế bằng Hệ thống chia sẻ thông tin thời gian thực (IRIS) của Trung tâm tổng hợp thông tin (IFC), kho lưu trữ này nên tập trung vào việc tích hợp và lưu trữ dữ liệu lịch sử về các hoạt động và mối đe dọa hàng hải như vận chuyển hàng hải, đăng ký tàu, cướp có vũ trang và đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cùng nhiều hoạt động khác, thay vì cung cấp thông tin cập nhật trực tiếp. Để giảm thiểu những lo ngại về chủ quyền và sự miễn cưỡng từ các quốc gia, cơ sở dữ liệu chung có thể được phân loại theo quốc gia và hoạt động.

Một cơ sở dữ liệu hàng hải chung lý tưởng nhất sẽ có sự đóng góp và phối hợp từ nhiều bên liên quan, bao gồm cả các quốc gia như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả những quốc gia ngoài khu vực quan tâm đến trật tự hàng hải trong khu vực. Các quốc gia thành viên ASEAN sẽ phải cung cấp dữ liệu cơ bản và đầu vào từ các cơ quan hàng hải quốc gia của mình, bao gồm lực lượng bảo vệ bờ biển, hải quân, cơ quan ngư nghiệp, hàng hải và cơ quan biên giới.

Trong khi đó, các tổ chức chia sẻ thông tin khu vực như Trung tâm báo cáo cướp biển của Cục Hàng hải quốc tế (IMB PRC), Thỏa thuận hợp tác khu vực về chống cướp biển của Trung tâm chia sẻ thông tin châu Á (ReCAAP ISC), Trung tâm tổng hợp thông tin (IFC), giới học thuật, các viện nghiên cứu và ngành hàng hải cũng có thể đảm nhận vai trò hỗ trợ không thể thiếu bằng cách đóng góp thông tin và dữ liệu.

Bằng cách hợp nhất dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau và lưu trữ dữ liệu lưu trữ, cơ sở dữ liệu hàng hải chung có thể cung cấp cái nhìn toàn diện và tổng thể hơn về các hoạt động và mối đe dọa hàng hải ở Đông Nam Á. Nó sẽ cho phép các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải xác định các mô hình, xu hướng và các mối đe dọa mới nổi cũng như các điểm nóng một cách hiệu quả hơn, nâng cao khả năng chuẩn bị và ứng phó một cách chủ động trước các thách thức an ninh hàng hải.

Cơ sở dữ liệu hàng hải cũng có thể tăng cường chia sẻ thông tin và phối hợp cho các hoạt động chung và phân bổ nguồn lực, nâng cao hiệu quả tổng thể của các nỗ lực an ninh hàng hải trong khu vực.[*]

Ngoài ra, cộng đồng nghiên cứu và vận chuyển cũng có thể sử dụng dữ liệu cho mục đích riêng của họ, góp phần tạo nên MDA toàn diện hơn. Ngoài chức năng là kho lưu trữ dữ liệu hàng hải, cơ sở dữ liệu hàng hải chung còn có thể giúp nâng cao niềm tin giữa các bên liên quan khác nhau trong ngành.

Thật vậy, việc thu hút các cơ quan quốc gia khác nhau tham gia với tư cách là các đơn vị sử dụng cơ sở dữ liệu hàng hải chung đòi hỏi phải có sự hợp tác và minh bạch, khuyến khích mỗi cơ quan chia sẻ dữ liệu và thông tin của mình. Tính minh bạch ngày càng tăng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, từ đó xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan. Nguyên tắc này cũng có thể mở rộng sang khu vực tư nhân – những người có thể hưởng lợi từ nền tảng này với tư cách là người dùng.

Nhiều nước lớn trong lĩnh vực hàng hải rất quan tâm đến việc nghiên cứu các mối đe dọa hàng hải và một nền tảng như vậy sẽ tỏ ra có giá trị đối với họ. Những đánh giá tăng cường về rủi ro được hỗ trợ bởi dữ liệu có thể giúp các công ty vận tải thương lượng để giảm phí bảo hiểm. Tuy nhiên, quyền truy cập cơ sở dữ liệu phải phụ thuộc vào sự đóng góp của họ về dữ liệu liên quan hoặc thậm chí là nguồn tài trợ, đảm bảo luồng thông tin qua lại giúp nâng cao tiện ích tổng thể và tính bền vững của nền tảng.

Trong khi đó, các hội thảo và chương trình đào tạo khu vực cần được tổ chức để đảm bảo tất cả các bên liên quan áp dụng hiệu quả cơ sở dữ liệu hàng hải chung. Các khóa đào tạo cũng có thể hoạt động như một phương tiện để các bên liên quan gặp gỡ, gắn kết và tương tác với nhau. Nó có thể được tiến hành như một phần của Diễn tập chia sẻ thông tin an ninh hàng hải ASEAN, Diễn tập chia sẻ thông tin hàng hải hoặc Diễn tập đoàn kết ASEAN.

Những cuộc tập trận này sẽ mở rộng sự tham gia của các ngành công nghiệp tư nhân, các cơ quan liên quan đến hàng hải khác và các tổ chức chia sẻ thông tin khu vực. Thông qua các cuộc diễn tập bàn tròn, các buổi đào tạo và hội thảo, cách tiếp cận toàn diện này sẽ nâng cao nhận thức chung về tình huống hàng hải và thúc đẩy sự hợp tác lớn hơn giữa các lĩnh vực.

Giới quan sát cho rằng trong bối cảnh Bắc Kinh quân sự hóa tuyến đường thủy chiến lược, năm 2024 Philippines và Việt Nam có nhiều động thái tăng cường hợp tác giữa lực lượng tuần duyên nhằm mở rộng Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải và giúp đảm bảo trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Trong chuyến thăm Hà Nội cuối tháng 1/2024, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. lưu ý rằng Việt Nam là “đối tác chiến lược duy nhất của Philippines” ở Đông Nam Á; nhấn mạnh hoạt động hợp tác hàng hải là nền tảng cho mối quan hệ; khẳng định cam kết hợp tác với Việt Nam, một “quốc gia cùng chí hướng”. Ông Marcos nhấn mạnh: “Là các quốc gia hàng hải, chúng tôi chia sẻ đánh giá tương tự về tình trạng hiện tại của môi trường khu vực với các quốc gia hàng hải khác”. “Hai quốc gia chúng tôi có vai trò quan trọng trong việc định hình diễn ngôn an ninh khu vực và duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.”

Nhà phân tích địa chính trị của Philippines Don McLain Gill nhận định các thỏa thuận đã được ký kết trong chuyến thăm có thể “mở đường cho việc xây dựng lòng tin mạnh mẽ hơn, nhận thức về lĩnh vực hàng hải và hợp tác tương tác để không chỉ ổn định các điều kiện dọc theo biên giới hàng hải của họ mà còn có khả năng góp phần đảm bảo rằng toàn bộ Biển Đông vẫn mở và dựa trên các quy tắc trong bối cảnh Trung Quốc mong muốn giữ nó đóng cửa và quân sự hóa bất đối xứng”. Ông Gill nhấn mạnh “Từ quan điểm của Manila, điều này thể hiện mong muốn nhất quán và chủ động của chính quyền Tổng thống Marcos Jr. để thoát khỏi bế tắc kéo dài mà chúng ta đã gặp phải trong nhiều năm do Bắc Kinh không sẵn sàng hợp tác vì hòa bình trên biển”.

Thực hiện thoả thuận trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Marcos, tháng 8/2024, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines và Cảnh sát biển Việt Nam đã lần đầu tiên tiến hành cuộc diễn tập chung ở Biển Đông. Đây là cơ sở cho việc mở rộng hợp tác giữa các nước Đông Nam Á để nâng cao Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải. Ông Don McLain Gill đánh giá: “Các nước ASEAN có tầm nhìn chung với việc duy trì hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế trong lĩnh vực hàng hải tại Đông Nam Á. Do đó, mục tiêu bao quát này, cùng với việc không có tham vọng bành trướng, đóng vai trò là nền tảng tích cực cho quá trình nở rộ của mối quan hệ song phương và đa phương”, góp phần nâng cao Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải ở Biển Đông và trong khu vực./.


[*] Ban Thư ký ASEAN, thông qua Diễn đàn Hàng hải ASEAN (AMF) hoặc Diễn đàn Hàng hải ASEAN mở rộng (EAMF), có thể lãnh đạo và quản lý cơ sở dữ liệu hàng hải chung. Khi các Đối tác Đối thoại của ASEAN như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU) tìm cách mở rộng quan hệ đối tác và hội nhập với các thành viên ASEAN, một cơ sở dữ liệu chung sẽ cung cấp một dự án đáng tin cậy và hữu ích để tăng cường hợp tác hàng hải với các quốc gia trong khu vực. Họ có thể cung cấp chuyên môn kỹ thuật và hỗ trợ để phát triển cơ sở dữ liệu vì họ cũng là quốc gia sử dụng các tuyến đường biển quan trọng của Đông Nam Á.

]]>
Đằng sau những thỏa thuận về hợp tác quốc phòng giữa Nhật Bản với các nước Đông Nam Á https://biendong.net/2022/06/09/dang-sau-nhung-thoa-thuan-ve-hop-tac-quoc-phong-giua-nhat-ban-voi-cac-nuoc-dong-nam-a/ Thu, 09 Jun 2022 06:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=81641 Cùng với việc xem xét đề xuất sửa đổi Chiến lược An ninh Quốc gia và tăng ngân sách quốc phòng nhằm nâng cao năng lực quốc phòng, Nhật Bản gần đây đã ký kết các thỏa thuận về hợp tác quốc phòng với một loạt các nước Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Philippines và Thái Lan, cụ thể là:

Tháng 9/2018, Nhật Bản và Malaysia đã ký một thỏa thuận về hợp tác quốc phòng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán thiết bị quân sự, chuyển giao công nghệ và các hình thức chia sẻ kiến thức và nâng cao năng lực khác. Thỏa thuận năm 2018 được xây dựng dựa trên Thỏa thuận Đối tác chiến lược năm 2015 trước đó giữa hai nước, theo đó các cuộc thảo luận về chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng đã được xúc tiến.

Tháng 3/2021, Nhật Bản và Indonesia cũng đã ký một thỏa thuận tương tự, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán thiết bị và công nghệ quốc phòng như khinh hạm lớp Mogami 30FFM của Nhật Bản mà Indonesia dự định vận hành, và hợp tác Indonesia-Nhật Bản đối với máy bay chiến đấu tàng hình F-X sau này.

Tháng 9/2021, trong chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, hai bên đã ký một thỏa thuận cho phép Tokyo bán cho Hà Nội các mặt hàng và thiết bị quốc phòng do nước này sản xuất. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nobuo Kishi, Nhật Bản sẽ đẩy nhanh các cuộc đàm phán để bán các tàu của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản cho Việt Nam.

Tháng 4/2022, trong cuộc đối thoại an ninh 2+2 đầu tiên giữa các Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng Nhật Bản và Philippines, hai bên đã đạt được thỏa thuận về tăng cường hơn nữa hợp tác quốc phòng, nhất trí mở rộng việc thực hiện một Thỏa thuận về Tiếp cận hỗ tương nhằm tạo điều kiện cho các cuộc tập trận chung và các chuyến thăm qua lại của các lực lượng quốc phòng nhằm đáp trả các yêu sách lãnh thổ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông. Thỏa thuận đạt được tại cuộc đối thoại an ninh lần này là bước phát triển mới làm sâu sắc thêm các thỏa thuận về hợp tác quốc phòng đã được ký kết giữa Tokyo và Manila năm 2015 và năm 2020. Thỏa thuận Tiếp cận tương hỗ sẽ nới lỏng việc chuyển giao và cung cấp vũ khí cho các hoạt động huấn luyện chung và cứu trợ thảm họa. Hai bên cũng cân nhắc một hiệp ước chia sẻ nguồn cung cho các lực lượng hai bên.

Mới đây nhất, trong chuyến thăm Thái Lan của Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida hôm 02/5/2022, Tokyo và Bangkok đã ký một thỏa thuận về hợp tác quân sự. Tuyên bố chung sau chuyến thăm nhấn mạnh tầm quan trọng của thỏa thuận về hợp tác quân sự này. Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida cho biết: “Việc ký kết thỏa thuận chuyển giao công nghệ và thiết bị quốc phòng của hai nước là một bước tiến quan trọng trong việc mở rộng hợp tác quốc phòng song phương”. Ông Kishida nói rằng Nhật Bản và Thái Lan cũng sẽ quyết định các thiết bị quốc phòng cụ thể để chuyển giao. Tương tự, Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-ocha cũng nêu rõ “thỏa thuận sẽ giúp Thái Lan cải thiện năng lực quốc phòng và hỗ trợ đầu tư từ Nhật Bản trong lĩnh vực vốn được coi là một mục tiêu quan trọng của Thái Lan”. Ông Prayut cho biết hai bên đã nhất trí về sự cần thiết phải nâng tầm quan hệ song phương lên thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Mặc dù, các chi tiết khác của thỏa thuận này không được tiết lộ, song thỏa thuận quốc phòng vừa được ký kết giữa Tokyo và Bangkok sẽ tạo điều kiện cho việc chuyển giao phần cứng và công nghệ quốc phòng từ Nhật Bản sang Thái Lan. Có thể thấy việc Nhật Bản và các nước Đông Nam Á ký các thỏa thuận hợp tác quốc phòng thời gian qua đã thể hiện nhiều khía cạnh.

Một là, việc ký kết thỏa thuận với Thái Lan hôm 02/5 là bước đi mới nhất của Nhật Bản trong việc tăng cường quan hệ quân sự và an ninh quốc phòng với các nước Đông Nam Á, thể hiện rõ chính sách nhất quán của chính quyền Thủ tướng Kishida trong việc tiếp tục phát huy chính sách của các chính quyền tiền nhiệm đối với Đông Nam Á, nhất là các nước ven Biển Đông.

Nhật Bản không chỉ có lợi ích lớn đối với tuyến đường hàng hải qua Biển Đông mà an ninh ở Biển Đông gắn liền với an ninh của Nhật Bản. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết đoán, gia tăng các hoạt động hung hăng ở cả Biển Đông, biển Hoa Đông và eo biển Đài Loan thì việc tăng cường hợp tác với các nước Đông Nam Á, nhất là các nước ven Biển Đông trong lĩnh vực quốc phòng được coi là bước đi mang tính chiến lược trong việc ngăn chặn sự bành trướng của Bắc Kinh. Sự can dự ngày càng sâu của Nhật Bản vào Biển Đông cũng như các vấn đề an ninh khu vực là nhân tố quan trọng để duy trì môi trường ổn định xung quanh của Tokyo.

Hai là, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực, trong đó có Biển Đông ngày càng gay gắt, với tư cách đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở khu vực, Nhật Bản cần có những bước đi mạnh mẽ để phối hợp với các đồng minh khác và đối tác của Mỹ trong khu vực, bao gồm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh quốc phòng nhằm tạo mặt trận ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc.

Việc Nhật Bản tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước Đông Nam Á dường như có sự “bật đèn xanh” của Mỹ vì Washington luôn mong muốn các đồng minh chia sẻ trách nhiệm gánh nặng trên các vấn đề liên quan đến an ninh khu vực. Rõ ràng việc Nhật Bản đẩy mạnh hợp tác quân sự với các nước Đông Nam Á giúp các nước này tăng cường năng lực quân sự để ứng phó với Trung Quốc là phù hợp với chiến lược ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc của Mỹ.

Ba là, việc đẩy mạnh quan hệ hợp tác quân sự với Nhật Bản cũng là nhu cầu thiết thực của các nước Đông Nam Á, nhất là các nước ven Biển Đông đang chịu nhiều sự bắt nạt và gây hấn từ Trung Quốc. Nhật Bản lâu nay có quan hệ chặt chẽ với tất cả các nước ASEAN. Đối với các nước ven Biển Đông và ASEAN thì Nhật Bản được xem là đối tác quốc phòng ít nhạy cảm hơn so với Mỹ. Đây là lý do khiến cả Nhật Bản và các nước ven Biển Đông đều tích cực thúc đẩy hợp tác quốc phòng để nâng cao năng lực ứng phó với những mối đe dọa an ninh đến từ Trung Quốc. Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng việc Nhật Bản tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước Đông Nam Á là một yếu tố tích cực trong việc ngăn chặn sự bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

]]>
Công việc sắp tới của Tòa Bạch Ốc https://biendong.net/2021/12/21/cong-viec-sap-toi-cua-toa-bach-oc/ Tue, 21 Dec 2021 04:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=71029 Chuyến thăm Đông Nam Á của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken trong bốn ngày từ 13 đến 16/12 kết thúc sớm hơn dự định. Thay vì thăm ba nước, ông Blinken chỉ thăm được Indonesia và Malaysia. Ngoại trưởng Mỹ buộc phải hoãn thăm Thái Lan vì trong đoàn có một người nhiễm Covid-19.

Đây là chuyến công du Đông Nam Á đầu tiên của ông Blinken trên cương vị ngoại trưởng. Chuyến thăm được coi là nỗ lực của Washington nhằm xốc lại quan hệ với khu vực sau khi có một số băn khoăn về cam kết của Mỹ với châu Á, đặc biệt khi Mỹ và ASEAN kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ đối tác đối thoại vào năm 2022.

Thời dịch bệnh hoành hành kéo dài luôn ẩn chứa rất nhiều bất ngờ, phức tạp. Chỉ riêng việc ông Blinken không tới được Bangkok đã dẫn đến rất nhiều đồn đoán. Song không vì thế mà chuyến công du của Ngoại trưởng Mỹ bị ảnh hưởng đến mục đích. Chủ nhà cả hai nước mà ông đặt chân đến đều đón tiếp trọng thị, cởi mở.

Mục đích chuyến công du của nhà ngoại giao Mỹ gói gọn trong hai vấn đề: Chiến lược của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; thái độ cứng rắn hơn nhằm chống lại hành động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Phát biểu tại Jakarta (Indonesia), Ngoại trưởng Mỹ Blinken nhấn mạnh chiến lược của Mỹ. Diễn giải có thể hơi dài, nhưng cốt lõi là: làm sâu sắc hơn nữa các quan hệ đồng minh có hiệp ước ở châu Á, tăng cường phối hợp về quốc phòng và tình báo với các đối tác ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Ông Blinken mô tả Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là khu vực năng động nhất thế giới. Các nước liên quan đều phải có nghĩa vụ bảo đảm nguyên trạng, không bị ép buộc và đe dọa, nhất là trước các “các hành động gây hấn” kéo dài của Trung Quốc. Mỹ sẽ cùng các đồng minh và một số nước liên quan ở Biển Đông kiên quyết đẩy lùi mọi hành động ngang ngược của Bắc Kinh.

Ngoại trưởng Blinken cho hay, bước vào năm mới, Mỹ sẽ tăng cường quan hệ với các đồng minh hiệp ước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc phòng và chia sẻ thông tin tình báo với các đối tác ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bảo vệ môi trường internet mở và an toàn.


Phát biểu tại một trường đại học của Indonesia, ông Blinken tuyên bố: “Chúng tôi sẽ làm việc với các đồng minh và đối tác để bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ mà chúng ta đã xây dựng nên trong những thập kỷ qua nhằm bảo đảm khu vực này cởi mở và có thể tiếp cận”.

Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh: “Tôi muốn nói rõ: mục tiêu của bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ không phải để kiềm chế ai, mà để bảo vệ quyền của tất cả các quốc gia trong việc lựa chọn con đường của họ, để họ không bị bắt nạt và đe dọa”.

Trước những chỉ trích nặng nề đối với Trung Quốc, nhà cầm quyền Bắc Kinh lập tức đáp trả. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân nói trong cuộc báo thường kỳ tại Bắc Kinh: Mỹ không nên “cả vú lấp miệng em” mà nên tỏ ra có thiện chí trong việc thúc đẩy hợp tác ở khu vực.

Theo dõi các cuộc khẩu chiến giữa các nhà chiến lược Mỹ và Trung Quốc, giới quan sát đánh giá, dưới thời Tổng thống Joe Biden, những trụ cột trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở thể hiện cách tiếp cận mang đậm dấu ấn của chính quyền mới. Những trụ cột này là cơ sở của những hy vọng thúc đẩy hợp tác giữa Mỹ với các nước trong khu vực đi vào thực chất.

Để thực hiện chiến lược này, Mỹ cần có có sự hợp tác chặt chẽ của các nước trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó ASEAN với vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. ASEAN được coi là mắt xích quan trọng để thúc đẩy chiến lược này.

Tính đến cuối năm 2021, giá trị của nền kinh tế ở khu vực ASEAN đã tăng 5%. Nếu như năm 2020 mới đạt 105 tỷ USD thì dự kiến sẽ vượt 300 tỷ USD vào năm 2025. Tốc độ tăng nhanh chóng đó có sự hỗ trợ tích cực từ chính phủ Mỹ. Hơn 120.000 doanh nhân các nước ASEAN đã nhận được sự giúp đỡ từ chính phủ và các doanh nghiệp Mỹ.

Đó là điều mà Trung Quốc – nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – hết sức quan ngại. Không chỉ có, tàu chiến, máy bay, vũ khí, khí tài hiện đại, Mỹ đang tạo ra một “hậu phương thật sự” ở Đông Nam Á, nơi mà Bắc Kinh luôn cố gắng giành giật bằng chính sách ngoại giao “cây gậy và củ cà rốt”, đặc biệt là chiến lược ngoại giao vắc-xin.

Chuyến thăm Đông Nam Á của Ngoại trưởng Mỹ tuy bị rút ngắn song không vì thế mà hạn chế tầm ảnh hưởng. Một nhận xét có vẻ như công thức nhưng không thể nói khác là mở ra nhiều cơ hội để các bên có thể tăng cường hiểu biết lẫn nhau, cùng phối hợp hành động làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác ASEAN – Mỹ trong thời gian tới.

Rõ ràng, Washington đã tạo được thiện chí và kỳ vọng cao giữa các nước ASEAN. Trong bối cảnh Đông Nam Á ngày càng thiếu tin tưởng Trung Quốc, đặc biệt là hành động hiếu chiến của họ trên Biển Đông. Có điều các nước ASEAN luôn mong đợi một chính sách can dự mạnh hơn của Mỹ trong khu vực.

Còn vì sao phải mạnh hơn, mạnh hơn như thế nào là việc của Tòa Bách Ốc.

H.Đ

]]>
Mỹ đang nỗ lực cùng các nước Đông Nam Á chống lại sự gây hấn của TQ https://biendong.net/2021/12/20/my-dang-no-luc-cung-cac-nuoc-dong-nam-a-chong-lai-su-gay-han-cua-tq/ Mon, 20 Dec 2021 11:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70954 Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ – Trung vẫn chưa hạ nhiệt, hai nước vẫn còn nhiều bất đồng và hàng loạt vấn đề trong đó có vấn đề Biển Đông.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken (trái) và Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi trong buổi lễ ký một biên bản ghi nhớ song phương tại Jakarta (Indonesia) ngày 14-12.

Chính quyền của ông Biden vẫn tiếp nối chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tập trung vào thương mại, kinh tế kỹ thuật số, công nghệ, chuỗi cung ứng năng lượng sạch và các lĩnh vực khác. Nhưng trong đó có vấn đề Mỹ đặc biệt quan tâm là đảm bảo an ninh hàng hải từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương.

Trong chuyến thăm Indonesia hôm 14/12, Ngoại trưởng Mỹ, ông Antony Blinken đã chỉ trích các hành động “gây hấn” của Trung Quốc ở Châu Á, nhất là ở Biển Đông. Phát biểu tại Đại học Indonesia, Ngoại trưởng Mỹ cho rằng: “có rất nhiều lo ngại, từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á, từ sông Mekong đến các quốc đảo Thái Bình Dương, về các hành động gây hấn của Bắc Kinh. Trung Quốc tự nhận các vùng biển mở là vùng biển của riêng họ”. Đồng thời Ngoại trưởng Blinken khẳng định Washington “quyết tâm bảo đảm tự do hàng hải ở Biển Đông” vì các hành động của Bắc Kinh ở vùng biển này đã đe doạ dòng chảy thương mại trị giá hơn 3.000 tỷ USD mỗi năm.

Theo ông Blinken, mục tiêu của bảo vệ trật tư dựa trên luật lệ không phải là kiềm chế bất kỳ quốc gia nào. Đó là để bảo vệ quyền của tất cả các quốc gia, không bị ép buộc và đe doạ.

Trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á trong tháng 12 này gồm Indonesia, Malaysia và Thái Lan ông Blinken muốn xây dựng lại các mối quan hệ bị rạn nứt trong nhiệm kỳ của cựu Tổng thống Donald Trump với các chính phủ không nằm trong liên minh Bộ Tứ (gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản). Ông cho rằng Mỹ và các nước trong khu vực muốn Trung Quốc thay đổi hành vi của họ. Washington sẽ làm việc để “bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ” và các quốc gia có quyền “lựa chọn con đường của riêng mình. Bởi vì, Trung Quốc đang làm méo mó thị trường mở, từ chối xuất khẩu hoặc huỷ các giao dịch với các quốc gia có chính sách mà Trung Quốc không đồng ý. Mỹ sẽ “áp dụng một số chiến lược kết hợp chặt chẽ tất cả công cụ sức mạnh quốc gia, gồm sức mạnh ngoại giao, quân sự tình báo, với các đồng minh và các đối tác của Mỹ đó là lời khẳng định của ông Blinken.

Rõ ràng, từ sau khi lên nắm quyền, ông Binden đã tỏ ra đặc biệt chú ý đến khu vực Đông Nam Á, Biển Đông. Chính quyền của ông đang quyết tâm cùng các nước khi vực này lập trật tự theo luật pháp quốc tế, không để Trung Quốc tự do gây hấn.

H.B

]]>
Thông điệp lần đầu thăm Đông Nam Á của Ngoại trưởng Mỹ Blinken https://biendong.net/2021/12/14/thong-diep-lan-dau-tham-dong-nam-a-cua-ngoai-truong-my-blinken/ Tue, 14 Dec 2021 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70634 Chính quyền Mỹ gửi đi thông điệp rõ ràng rằng Đông Nam Á vẫn là trung tâm trong chính sách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngay trước khi công du Đông Nam Á

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken sẽ có chuyến công du tới Indonesia, Malaysia và Thái Lan từ 13 – 16.12. Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, ông Blinken sẽ có các bài phát biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cũng như cam kết của Mỹ trong quan hệ với các nước Đông Nam Á.

Tăng tốc chiến lược

Đây là chuyến thăm Đông Nam Á đầu tiên của ông Blinken kể từ khi nhậm chức ngoại trưởng Mỹ. Giới phân tích cho rằng chuyến công du làm rõ hơn bước tăng tốc ngoại giao của chính quyền Tổng thống Joe Biden nhằm kết nối với khu vực Đông Nam Á, sau những tháng đầu nhiệm kỳ có phần chững chân.

Trong vòng nửa năm qua, một loạt nhân vật cấp cao của Mỹ như Phó tổng thống Kamala Harris, Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin, Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman đã trực tiếp tới Đông Nam Á. Mới đây nhất, trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương Daniel Kritenbrink đã thăm 4 nước Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan. Chính Tổng thống Biden hồi tháng 10 cũng tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Mỹ trực tuyến, sau 4 năm hội nghị này vắng bóng người đứng đầu Nhà Trắng. Sắp tới đây, vào tháng 1.2022, Tổng thống Biden sẽ có cuộc gặp thượng đỉnh trực tiếp với lãnh đạo của các nước ASEAN, theo đề xuất của ông.

Bình luận với Thanh Niên, tiến sĩ Nguyễn Thành Trung, chuyên gia về quan hệ quốc tế hiện giảng dạy tại Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng chính quyền Mỹ đã và đang có nghị trình làm việc liên tục với các nhà chính trị, ngoại giao Đông Nam Á. Điều này thể hiện Mỹ muốn thúc đẩy mối quan hệ với các nước ASEAN, và chứng tỏ cam kết của họ đối với khu vực trong bối cảnh chứng kiến sự gia tăng ảnh hưởng ngày càng lớn từ phía Trung Quốc.

Ông Trung nói: “Trong thời gian gần đây, chúng ta thấy Mỹ và các quốc gia đồng minh tập trung củng cố mối quan hệ và cam kết với Đài Loan, nhưng cùng lúc đó chuyến thăm đầu tiên của Ngoại trưởng Blinken tới khu vực Đông Nam Á cũng gửi đi thông điệp mạnh mẽ rằng Mỹ luôn duy trì mối quan tâm tới khu vực này bằng các chuyến thăm cấp cao”.

Vai trò trung tâm của Đông Nam Á

Lập trường chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á đã được các quan chức cấp cao của chính quyền Tổng thống Biden nhấn mạnh xuyên suốt. Hồi tháng 8, khi công du khu vực, Phó tổng thống Harris tuyên bố rằng Đông Nam Á và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là khu vực tối quan trọng đối với an ninh, thịnh vượng của Mỹ. Bà cho biết Mỹ cam kết gắn bó lâu dài với khu vực này.

Nói về chuyến thăm tuần này của Ngoại trưởng Blinken, ông Kritenbrink khẳng định đây là ví dụ mới nhất về cam kết bền vững của chính quyền Biden – Harris, theo South China Morning Post. Ông Kritenbrink cũng nhấn mạnh Tổng thống Biden cam kết đẩy mức tương tác Mỹ – ASEAN lên mức cao chưa từng có. Tại các cuộc hội đàm trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại trưởng các nước G7 diễn ra tại Anh ngay trước khi đáp chuyến bay tới Đông Nam Á, ông Blinken cũng liên tục nhắc về việc tăng cường chính sách nhất quán của Mỹ đối với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Theo tiến sĩ Nguyễn Thành Trung, những động thái của Mỹ cho thấy minh chứng rõ ràng rằng khu vực Đông Nam Á vẫn là trung tâm trong chính sách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở mà chính quyền Mỹ theo đuổi. Phiên bản mới của chính sách này có thể được chính quyền Tổng thống Biden thông báo trong tháng 12 hoặc vào đầu năm sau, nhưng cách tiếp cận như trên với khu vực Đông Nam Á chắc chắn vẫn được duy trì.

Chuyên gia này cũng chỉ ra rằng, không chỉ dừng lại ở các chuyến thăm, chính quyền Mỹ gần đây đưa ra nhiều sáng kiến, thỏa thuận đa phương với các quốc gia đồng minh và đối tác. Về khía cạnh thương mại, Mỹ đang thảo luận với các quốc gia trong khu vực về Khung kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Indo-Pacific Economic Framework) như là một đối trọng trong thời gian sắp tới với Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), cũng như mong muốn của Trung Quốc về gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trong lĩnh vực y tế, Mỹ hiện cũng là quốc gia viện trợ vắc xin và thiết bị chống dịch Covid-19 nhiều nhất cho khu vực Đông Nam Á.

Cần làm nhiều hơn nữa

Trong một sự kiện hồi tháng 7, chính điều phối viên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thuộc Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ Kurt Campbell đã nói rõ: “Chúng tôi nhận ra rằng để có một chiến lược châu Á hiệu quả, một cách tiếp cận Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hiệu quả, Mỹ cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa ở Đông Nam Á”, theo Nikkei Asia. Cũng với cách tiếp cận đó, nhiều chuyên gia cho rằng Mỹ còn nhiều việc phải làm để thật sự kết nối hiệu quả với Đông Nam Á.

Mặc dù luôn nhấn mạnh không muốn các nước trong khu vực phải chọn bên, nhưng các chuyển động chính sách của Mỹ và Trung Quốc với Đông Nam Á vẫn luôn được đưa lên bàn cân so sánh. Hồi tháng 11, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tham dự hội nghị thượng đỉnh với lãnh đạo các nước thành viên ASEAN nhân kỷ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao ASEAN – Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên ông Tập đích thân dự hội nghị và đưa ra các cam kết thúc đẩy hòa bình, phát triển kinh tế trong khu vực. Sự xuất hiện của ông Tập được xem là nhằm gửi thông điệp mạnh của Trung Quốc đối với Mỹ lẫn ASEAN về chủ ý gia tăng vai trò và ảnh hưởng của Bắc Kinh tại khu vực, theo tiến sĩ Trung.

Trên khía cạnh kinh tế, Trung Quốc vẫn là đối tác quan trọng bậc nhất của các nước Đông Nam Á và khuôn khổ hợp tác như RCEP cũng sắp có hiệu lực. Trong khi đó, Mỹ hiện đứng ngoài 2 thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất ở châu Á và các đề xuất mới vẫn chưa thành hình rõ ràng.

T.P

]]>