Hải chiến Gạc Ma 1988 – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 14 Mar 2025 08:20:40 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Đánh chiếm Gạc Ma và các thực thể thuộc Trường Sa trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông của TQ https://biendong.net/2025/03/14/danh-chiem-gac-ma-va-cac-thuc-the-thuoc-truong-sa-trong-muu-do-doc-chiem-bien-dong-cua-tq/ Fri, 14 Mar 2025 07:53:31 +0000 https://biendong.net/?p=146588 Cách đây 37 năm, ngày 14/3/1988, Hải quân Trung Quốc đã sử dụng vũ lực tấn công đá Gạc Ma gây ra cuộc chiến đẫm máu đối với quân nhân Việt Nam. Trước đó, vào đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng trái phép các bãi đá Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Subi, Huy Gơ thuộc quần đảo Trường Sa.

Bắc Kinh đơn phương tăng cường từ 9 lên 12 tàu chiến gồm khu trục tên lửa, hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo và tàu đổ bộ… hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa. Nhân đây, chúng ta cùng phân tích để thấy rõ sau khi Bắc Kinh sử dụng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa năm 1974 thì việc tiếp tục đánh chiếm Gạc Ma nằm trong mưu đồ khống chế Biển Đông của Trung Quốc.

Một điều cần khẳng định rằng cho đến những thập niên đầu Thế kỷ 20, Trung Quốc chưa hề biết đến quần đảo Trường Sa nằm cách nước này đến 700 hải lý. Ngay cả chuyền đi biển của Lý Chuẩn tháng 6/1909 mà sau này được Bắc Kinh rêu rao rằng đây là “chuyến đi thu phục Hoàng Sa” cũng không hề đề cập gì tới quần đảo Trường Sa. Giới phân tích nhận định cho đến thời điểm đó, Bắc Kinh còn chưa có khái niệm gì về quần đảo Trường Sa chứ đừng nói đến việc Trung Quốc khai phá hay quản lý quần đảo này.

Sau chuyến đi của Lý Chuẩn 12 năm, tháng 3/1921 chính quyền quân sự Quảng Đông đã ký một sắc lệnh vô lý sáp nhập Hoàng Sa vào huyện Châu Nhai, phủ Quỳnh Châu lúc bấy giờ. Cho đến thời điểm đó Trung Quốc cũng chưa hề nhắc gì đến quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, sắc lệnh sáp nhập Hoàng Sa của chính quyền Quảng Đông cho thấy rõ mưu đồ của Trung Quốc đối với Biển Đông. Trước âm mưu bành trướng của Bắc Kinh và sự manh nha xuất hiện của người Nhật trên tuyến đường biển quan trọng “nối liền giữa Hong Kong và Sài Gòn”, liên tiếp từ năm 1925-1930 Pháp đã có những động thái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và cả Trường Sa.

Trước hết, đầu tháng 3/1925 toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ của Pháp (tức thuộc về An Nam đang là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ). Tiếp đến ngày 13/4/1930, Pháp đã cho tàu La Malicieuse ra Trường Sa để treo quốc kỳ Pháp. Mười ngày sau đó, Chính phủ Pháp đã tuyên bố thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Tại phía Nam Biển Đông, tháng 3/1933, Pháp đã điều bốn tàu Lamalicieuse, tàu chiến Alerte, hai tàu thủy văn Astrobale và De Lanessan đến Trường Sa. Sau khi đổ bộ lên các đảo ở đây, người Pháp ngay lập tức soạn thảo một văn bản, sau đó nhân ra 11 bản và thuyền trưởng của các tàu cùng bút ký. Các văn bản này được đóng kín trong một cái chai rồi đem đến trên các đảo ở Trường Sa gắn chặt vào một trụ xi măng xây cố định. Với việc làm này, Pháp đã hoàn tất thủ tục xác lập chủ quyền đối với Trường Sa theo đúng quy định của luật pháp quốc tế.

Trước đó, trong bản ghi chú gửi cho Vụ châu Á đại dương, Bộ Ngoại giao Pháp đã viết: “Việc chiếm đóng quần đảo Trường Sa (Spratley) mà Pháp thực hiện trong hai năm 1931-1932 là nhân danh hoàng đế An Nam”. Đến năm 1938, Pháp tiếp tục cho xây dựng bia chủ quyền, hải đăng, trạm khí tượng thủy văn và một trạm vô tuyến trên đảo Ba Bình (Itu-Aba). Như vậy, tính từ năm 1930-1938, chính quyền thực dân pháp đã nhân danh An Nam (Việt Nam lúc bấy giờ) xác lập chủ quyền rõ ràng ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Với tham vọng độc chiếm Biển Đông, sau khi dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, Bắc Kinh tìm cách để thâu tóm các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa, tạo chỗ đứng để mở rộng bành trướng xuống phía Nam Biển Đông. Cho đến đầu năm 1988, Bắc Kinh chưa đóng giữ trên bất kỳ thực thể nào thuộc Trường Sa. Trong số các thực thể mà Trung Quốc nhắm tới có 3 điểm chốt với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng có thể khống chế lối vào Biển Đông là Đá Chữ Thập, Đá Gạc Ma và Đá Vành Khăn. Bắc Kinh tính toán rằng chiếm được Đá Chữ Thập có thể khống chế được toàn bộ thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế phía Nam Việt Nam; chiếm được Đá Gạc Ma có thể khống chế, kiểm soát các đảo và thực thể mà Việt Nam và Philippines đang đóng giữ vì nó nằm giữa và cách không xa các thực thể này. Đánh chiếm Gạc Ma vì Trung Quốc muốn có một pháo đài ở trung tâm Biển Đông. Gạc Ma cùng với các thực thể ở Hoàng Sa và đảo Hải Nam có thể tạo thành thế tam giác để khống chế Biển Đông; chiếm Đá Vành Khăn có thể kiểm soát được toàn bộ vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Philippines. Điều này cho thấy việc đánh chiếm Gạc Ma và các thực thể thuộc Trường Sa đã nằm trong ý đồ gặm nhấm Biển Đông từ vài chục năm trước.

Tại sao Trung Quốc lại sử dụng vũ lực để đánh chiếm Đá Gạc Ma và các thực thể thuộc Trường Sa vào năm 1988 được các chuyên gia phân tích nhiều. Có thể nói một thủ đoạn mở rộng xâm lấn của Bắc Kinh ở Biển Đông là tìm thời điểm khó khăn của đối phương để ra tay. Lúc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 đã vậy (tranh thủ lúc chính quyền Sài Gòn gặp khó khăn để tấn công); đối với Gạc Ma và các thực thể ở Trường Sa cũng thế.

Trung Quốc lựa chọn thời điểm năm 1988 vì đây là thời điểm mà Việt Nam đang cực kỳ khó khăn cả trong và ngoài nước. Gần 10 năm xung đột biên giới kéo dài, Việt Nam đã hao tổn không nhỏ nhân lực, vật lực. 1988 được coi là năm đỉnh điểm khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội bắt đầu từ năm 1987. Ngoài nước, Hà Nội bị bao vây cấm vận và bị cô lập trên trường quốc tế. Hậu thuẫn lớn nhất của Việt Nam lúc bấy giờ là Liên Xô – cũng đang bế tắc trong khủng hoảng. Một số nguồn tin cho biết Trung Quốc “bằng con đường nào đó” biết được nếu họ có hành động quân sự ở Trường Sa thì Liên Xô cũng không can thiệp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam khó có thể chống đỡ khi Trung Quốc tấn công vũ lực đánh chiếm các thực thể ở Trường Sa. Chính vì thế, Trung Quốc ra tay đánh chiếm Đá Gạc Ma, bắn chìm tàu, giết hại 64 chiến sĩ Việt Nam.

Qua việc Trung Quốc gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Đá Gạc Ma và đánh chiếm thêm 5 thực thể khác thuộc Trường Sa năm 1988 và Đá Vành Khăn năm 1995, cộng đồng quốc tế có thể rút ra được bài học rằng, không được mơ hồ về ý đồ, dã tâm của Trung Quốc trên Biển Đông – một mưu đồ lâu dài và có tầm nhìn có lẽ còn vượt ra khỏi Biển Đông, hướng ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

25 năm sau khi đánh chiếm các thực thể ở Trường Sa, từ năm 2014 Trung Quốc đẩy mạnh việc nạo vét, bồi đắp mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng thành các đảo nhân tạo. Vào tháng 6/2014, Bộ Ngoại giao Philippines lần đầu tiên thông báo với toàn thế giới rằng Trung Quốc đang ráo riết cải tạo các thực thể ở Trường Sa, thông qua các bức ảnh chụp từ vệ tinh mà các tập đoàn viễn thông quốc tế cung cấp. Tháng 2/2015, thời báo Wall Street của Mỹ tiếp tục đăng tải thông tin về việc Trung Quốc đang xây dựng đảo nhân tạo trên nền tảng các thực thể mà họ đánh chiếm năm 1988 và năm 1995. Bảy thực thể này có sự thay đổi lớn đến đáng kinh ngạc, cụ thể là khi so sánh với hiện trạng vào tháng 2/2014, diện tích Đá Gạc Ma đã tăng lên đến 200 lần, Đá Chữ Thập tăng lên 10 lần. Một sân bay quân sự đã bắt đầu rõ hình hài. Sự thay đổi chóng mặt này khiến cả thế giới phải bất ngờ.

Điều nguy hiểm là Trung Quốc đã xây dựng đường băng, cầu cảng lớn và bố trí tên lửa cùng nhiều trang thiết bị quân sự hiện đại trên 7 cấu trúc mà họ chiếm đóng, biến chúng thành các đồn điền quân sự để phục vụ tham vọng khống chế, độc chiếm Biển Đông. Trước phản ứng của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc lại tuyên bố rằng việc cải tạo các thực thể tại Trường Sa là hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế, bởi họ có chủ quyền đối với các thực thể này.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị ngang nhiên tuyên bố rằng “Chúng tôi cải tạo Gạc Ma, Chữ Thập và các đảo khác giống như lát gạch trong sân nhà mình”. Đó là một tuyên bố hết sức sai lầm, quay lưng lại với luật pháp quốc tế. Và tất nhiên, sẽ không một quốc gia, một tổ chức quốc tế nào chấp nhận lý luận không có cơ sở đó của Trung Quốc. Hơn cả thế, những tuyên bố của Trung Quốc đã khiến cộng đồng quốc tế và khu vực đánh mất hoàn toàn niềm tin vào những cam kết mà Trung Quốc đã thoả thuận, bao gồm Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông DOC mà các nước ASEAN và Trung Quốc ký năm 2002.

Từ việc sử dụng vũ lực đánh chiếm Đá Gạc Ma, Chữ Thập và 4 thực thể khác thuộc Trường Sa năm 1988 của Trung Quốc hay việc chiếm đóng Đá Vành Khăn năm 1995 đên việc cải tạo các thực thể này, biến chúng thành các căn cứ quân sự trên biển của Trung Quốc là hoàn toàn vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) do vậy nó không thể mang lại danh nghĩa về chủ quyền cho Bắc Kinh. Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng đã kết luận việc Trung Quốc tiến hành nạo vét, bồi đắp, mở rộng 7 thực thể mà họ chiếm đóng đã phá hoại môi trường biển và bất hợp pháp.

Sau khi được cải tạo và quân sự hoá trong một thập kỷ qua, Gạc Ma, Chữ Thập, Vành Khăn và các thực thể khác thuộc Trường Sa mà Trung Quốc chiếm đóng ngày nay được Trung Quốc sử dụng làm bến đỗ và nơi xuất phát của các tàu chiến, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển của Trung Quốc trong chiến thuật vùng xám mà Bắc Kinh đang ráo riết triển khai nhằm vào các nước láng giềng ven Biển Đông, mở rộng hành động xâm lấn xuống phía Nam Biển Đông.

Nhìn lại việc Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma, các thực thể khác năm 1988 và Đá Vành Khăn năm 1995 cũng như việc Bắc Kinh cải tạo, xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hoá các thực thể này trong những năm qua có thể thấy rõ các thực thể này đã nằm trong mưu đồ thống trị, thôn tính Biển Đông lâu dài của Trung Quốc. Trận hải chiến Gạc Ma mà Hải quân Trung Quốc gây ra cách đây 37 năm chỉ là sự khởi đầu cho việc thực hiện tham vọng bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Giới chuyên gia nhận định việc Trung Quốc chiếm đóng 7 thực thể ở Trường Sa và đang sử dụng các thực thể này như các tiền đồn quân sự gây đe doạ nghiêm trọng tự do và an toàn hàng hải, hàng không trên tuyến đường biển huyết mạch của thế giới ở Biển Đông, tạo ra những thách thức lớn đối với hoà bình ổn định trong khu vực, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cộng đồng quốc tế. Việc giải quyết những thách thức này là trách nhiệm không chỉ của các nước ven Biển Đông mà cũng là trách nhiệm của cả cộng đồng quốc tế, trong đó có các nước lớn và có lợi ích chiến lược ở khu vực./.

Trần Duy Hải

Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia

]]>
Bài học giữ nước nhìn từ sự kiện TQ đánh chiếm đá Gạc Ma năm 1988 https://biendong.net/2024/03/14/bai-hoc-giu-nuoc-nhin-tu-su-kien-tq-danh-chiem-da-gac-ma-nam-1988/ Thu, 14 Mar 2024 01:29:09 +0000 https://biendong.net/?p=124131 Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã để lại cho các thế hệ người Việt Nam vô số bài học sâu sắc và quý báu trong sự nghiệp bảo vệ sự trường tồn của quốc gia và dân tộc.

Trong đó, có cả những bài học về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước cần được đúc rút cẩn thận để thế hệ người Việt hiện nay tiếp tục bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Biển Đông ngày một hiệu quả hơn, vững chắc hơn trước một Trung Quốc với tham vọng trở thành “siêu cường” mà muốn “độc chiếm Biển Đông” hòng “khuynh đảo” các đại dương và buộc cả thế giới phải “thần phục” “trật tự mới” do họ lăm le dẫn dắt. Nhìn lại sự kiện 36 năm trước đây, Trung Quốc đánh chiếm đá Gạc Ma nằm trên vùng biển Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam vẫn cho thấy những bài học còn nguyên giá trị, mỗi người Việt Nam yêu nước không thể không “khắc cốt ghi tâm”.  

Từ những tính toán và bước đi của Trung Quốc trong việc đánh chiếm đá Gạc Ma năm 1988…

Như đã biết, sau khi đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa tháng 01/1974, ngày 14/3/1988, Trung Quốc tiếp tục đánh chiếm đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma thuộc chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa. Trong trận chiến này, mặc dù lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, quyết tử đến cùng để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, kẻ thù thì hung hãn, vũ khí trang bị đầy mình và dã tâm đánh chiếm bằng được, nên phía ta chỉ giữ được đá Cô Lin và Len Đao, còn Gạc Ma rơi vào tay quân Trung Quốc, bị chiếm đóng bất hợp pháp từ đó đến nay và biến thành căn cứ quân sự nhằm thực hiện các bước đi tiếp theo của chúng ở Biển Đông. Việc Trung Quốc quyết tâm đánh chiếm các thực thể Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma ở Trường Sa là sự tính toán kỹ lưỡng, chờ đợi thời cơ và lợi dụng các yếu tố thuận lợi cả về khách quan và chủ quan.

Về khách quan, Bắc Kinh đã nghiên cứu xem xét toàn diện bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, tương quan lực lượng giữa các nước lớn vào giai đoạn những năm cuối thập kỷ 1980, cũng như tình hình “sức khỏe” của Việt Nam để “ra tay”. Đó là:

Thứ nhất, cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai “siêu cường” Xô – Mỹ đang đi đến hồi kết. Cả Liên Xô lẫn Mỹ đều có nhu cầu giảm căng thẳng quan hệ song phương để tập trung vào giải quyết các vấn đề nội bộ của mỗi nước. Về phía Mỹ, sức mạnh của nước này đã suy giảm đi nhiều do sự cạnh tranh ngày càng tăng của đồng minh Nhật Bản và Tây Âu trong lĩnh vực kinh tế, cũng như do phải hao tiền, tốn của trong cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt trở lại với Liên Xô vào nửa đầu thập niên 80. Cuộc đua tranh này chỉ giảm nhiệt khi vào năm 1985, Gorbachev – người có lập trường hòa giải với Mỹ và chủ trương kết thúc Chiến tranh Lạnh, được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Còn về phía Liên Xô, sau gần 10 năm “sa lầy tai hại” do đưa quân vào Afghanistan từ năm 1979 và đối mặt với các khó khăn chồng chất trong quan hệ với phương Tây và Trung Quốc, Moskva phải tiến hành cải tổ cả về kinh tế lẫn chính trị, giành ưu tiên cao nhất cho công cuộc cải tổ nên không muốn quan hệ với Mỹ và Trung Quốc trở nên căng thẳng. Vì thế, Gorbachev chủ trương cắt giảm triển khai quân đội ra bên ngoài lãnh thổ, rút bớt sự ủng hộ đối với Việt Nam, đàm phán với Trung Quốc về biên giới lãnh thổ… Bối cảnh tình hình như trên đã cho phép Trung Quốc xem xét, đánh giá khả năng không có sự can thiệp của các nước lớn bên ngoài, bao gồm cả Liên Xô và Mỹ, khi họ đánh chiếm Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Trên thực tế, đúng như phán đoán của Bắc Kinh, khi họ tiến hành đánh chiếm các đảo, đá ở Trường Sa năm 1988, Mỹ chẳng những không có phản ứng gì là điều dễ hiểu, mà ngay cả lực lượng của Hải quân Liên Xô đang “đồn trú” ở quân cảng Cam Ranh của Việt Nam cũng “án binh bất động”, không có bất kỳ động thái nào để “chia lửa” với Việt Nam như trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc của Việt Nam năm 1979, dù rằng Hiệp ước hợp tác và hữu nghị Xô – Việt được ký năm 1978, có giá trị 25 năm, đến lúc đó vẫn còn hiệu lực.

Thứ hai, Trung Quốc đã xem xét rất kỹ những “điểm nóng” nổi lên ở khu vực để lựa chọn thời điểm hành động ở Trường Sa mà không gây sự chú ý của dư luận quốc tế, nhằm bảo toàn hình ảnh và uy tín rằng, Trung Quốc là nước “yêu chuộng hòa bình, chỉ phòng thủ và tự vệ, không bành trướng”. Thực tế vào thời điểm đó, Việt Nam đã từng bước rút quân khỏi Campuchia kể từ năm 1986, quan hệ Việt Nam – ASEAN nhờ đó có sự cải thiện dần song chưa phải đã triệt tiêu hết căng thẳng; các cuộc đàm phán giải quyết vấn đề Campuchia đang được đẩy mạnh, các bên chuẩn bị cho việc tổ chức cuộc gặp không chính thức Jakarta (JIM) lần thứ nhất vào tháng 7/1988 và lần thứ hai vào tháng 02/1989, nhưng Việt Nam vẫn đang trong tình trạng bị bao vây, cô lập do nhiều nước vẫn chưa hiểu hết thiện chí của Việt Nam trong việc đưa quân sang giúp đỡ, cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng. Vì thế, dư luận quốc tế lúc đó chủ yếu, tập trung quan tâm nhất là các biện pháp giải quyết vấn đề Campuchia ra sao, rất ít quan tâm các vấn đề khác. Nhận diện ra bối cảnh “tranh tối tranh sáng” đó, Trung Quốc đã nhanh chóng đánh chiếm các thực thể ở Trường Sa mà việc làm trắng trợn đó vẫn thoát được “búa rìu” của dư luận khu vực, quốc tế. Quả nhiên, nhiều nước trong khu vực mặc dù bị Trung Quốc xâm phạm trái phép chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông, nhưng đều “im hơi lặng tiếng”, không hề có phản ứng nào khi Bắc Kinh đánh chiếm Gạc Ma của Việt Nam ở thời điểm đó.

Thứ ba, Bắc Kinh lợi dụng lúc Việt Nam đang ở tình thế vô cùng khó khăn để hành sự. Theo đó, Việt Nam vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì lại phải căng mình chống Khmer Đỏ đánh phá biên giới Tây Nam và Trung Quốc xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc. Chiến tranh đã đẩy nền kinh tế Việt Nam rơi vào kiệt quệ, trong khi nguồn viện trợ, giúp đỡ từ Liên Xô cũng không còn vì nước này đang bên bờ vực khủng hoảng, tất cả mọi nguồn lực cho xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước, Việt Nam đều phải tự lực cánh sinh. Năm 1988, Việt Nam tuy đã có sự khởi sắc sau hai năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi xướng, song vẫn phải đối mặt rất lớn với nhiều khó khăn về kinh tế – xã hội. Trong khi ở bên ngoài, cả Mỹ, phương Tây, Trung Quốc và ASEAN cùng bao vây, cô lập Việt Nam về ngoại giao và kinh tế vì vấn đề Campuchia. Ngoài ra, các vấn đề như thuyền nhân di tản, cải cách công thương nghiệp đối với Hoa kiều cuối thập kỷ 70 cũng phần nào làm suy giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ngoài ra còn phải kể đến yếu tố thời tiết tự nhiên. Những tháng đầu năm hàng năm là quãng thời gian thời tiết ở Biển Đông rất tốt, hầu như không có mưa bão, “trời yên biển lặng”, rất thuận lợi cho hoạt động quân sự. Vì thế, cũng như sự kiện đánh chiếm Hoàng Sa tháng 01/1974, Trung Quốc đã khai thác triệt để yếu tố này để khởi binh ở Trường Sa, đảm bảo giành được thắng lợi.

Về chủ quan, Trung Quốc dựa vào sự gia tăng sức mạnh bản thân sau 10 năm cải cách và những nhu cầu ‘bất khả kháng” trong giải quyết mâu thuẫn nội bộ để mở rộng tham vọng chủ quyền bằng hành động quân sự.

Tháng 12/1978, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ III (Khoá XI), đã vạch ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế – xã hội ở Trung Quốc. Đến năm 1988, mức tăng bình quân hàng năm của tổng sản phẩm quốc dân là 9,6%, xuất nhập khẩu tăng gấp 4 lần, thu nhập bình quân hàng năm của nông dân tăng 11,8%, của cư dân thành thị tăng 6,5%; tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 1.401,5 tỷ Nhân dân tệ, thu nhập quốc dân là 1.177 tỷ Nhân dân tệ (tăng 20 lần so với năm 1949). Sản lượng công nghiệp từ năm 1978 đến năm 1990 tăng trung bình hàng năm là 12,6%. Tuy nhiên, từ 1984 – 1991, khi công cuộc cải cách, mở cửa bước vào giai đoạn quyết định thì các cuộc đấu đá nội bộ diễn ra quyết liệt giữa hai phe bảo thủ và cải cách trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để giải quyết áp lực chính trị nội bộ này, cải thiện uy tín và tính chính danh của Đảng cầm quyền trong lòng người dân, ngoài việc tiếp tục duy trì và nâng cao thành tựu đã có, Trung Quốc rất cần có một “dấu son” nhằm giải tỏa khát vọng của người dân trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ, và sự lựa chọn phù hợp nhất lúc đó là cuộc tấn công lấn chiếm ở Trường Sa.

… đến bài học kinh nghiệm cần quan tâm trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay và tương lai

Và thế là những gì đã diễn ra trên vùng biển Trường Sa của Việt Nam đã diễn ra theo tính toán của Bắc Kinh. Sự kiện đẫm máu do Trung Quốc gây ra cách đây 36 năm đã để lại “vết nhơ” khó rửa trong quan hệ hai nước. Đồng thời, cảnh tỉnh các thế hệ người Việt Nam các bài học sâu sắc sau đây:

Một là, dù quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nay đã có sự phục hồi hữu nghị, phát triển theo chiều thuận và thậm chí có lúc còn “thăng hoa” nữa, Trung Quốc được coi là đối tác ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Tuy nhiên, không người Việt Nam nào được phép quên đi ý đồ của Bắc Kinh đối với Biển Đông, bởi lịch sử những cuộc xâm chiếm ở vùng biển này của họ đã nhắc nhở chúng ta phải luôn nhớ. Năm 1974, Trung Quốc thừa cơ “đục nước béo cò” để đưa quân đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đây là bước đi đầu tiên họ thể hiện sức mạnh trên biển trước Việt Nam và các nước Đông Nam Á và cũng là bước đi đầu tiên trong ý đồ “vươn ra biển khơi” mà họ đã nghiền ngẫm, nung nấu từ thời Tôn Trung Sơn trước đây. Tiếp đó năm 1988, Trung Quốc tiếp tục tấn công một loạt đảo, đá ở Trường Sa và chiếm giữ các thực thể, trong đó có đá Gạc Ma từ đó đến nay. Không chỉ có vậy, năm 1995, Trung Quốc còn đánh chiếm bãi cạn Vành Khăn do Philippines quản lý. Đảo quốc này vô cùng phẫn nộ, uất ức nhưng hiềm nỗi do tiềm lực quân sự quá yếu nên đành “khoanh tay đứng nhìn” một phần lãnh thổ rơi vào tay ngoại bang. Thế rồi tháng 6/2012, họ lại gây sự ở bãi cạn Scarborough cũng của Philippines và thừa cơ giành quyền kiểm soát thực tế bãi cạn này.

Như vậy, từ chỗ không kiểm soát bất cứ thực thể nào ở Trường Sa, sau khi “ra tay” chớp nhoáng, biến mọi sự thành chuyện đã rồi, thì đến nay, Trung Quốc đã chiếm giữ trái phép 7 thực thể của Việt Nam tại Trường Sa và bồi lấp chúng thành các đảo nhân tạo, biến nơi đây thành các căn cứ quân sự trên Biển Đông. Việc Trung Quốc đang kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và các thực thể ở Trường Sa mang bản chất là dùng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia khác, không hề được pháp luật quốc tế thừa nhận. Nhưng ỷ thế là “kẻ mạnh” hơn người, Trung Quốc giả như “mù màu” về sự tôn trọng luật pháp quốc tế. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là liệu nước này có lặp lại các hành động xấu xa như đã từng làm trong quá khứ hay không?

Câu trả lời không khó, bởi hiện nay, Trung Quốc một mặt đang “mua chuộc” các nước ASEAN bằng các dự án kinh tế thuộc “Vành đai và con đường” trị giá hàng tỉ USD để “chia rẽ” các nước này. Đồng tiền của họ đang khiến nhiều quốc gia ASEAN “mờ mắt” mà có sự cách biệt nhau về quan điểm. Một cuộc thăm dò gần đây của Viện nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore đã cho thấy, 7 trong số 10 nước ASEAN “thích” Trung Quốc hơn. Mặt khác, Bắc Kinh còn ra sức tuyên truyền, “tô vẽ” mập mờ về tình hình “ổn định” ở Biển Đông và đưa ra mốc thời gian sẽ hoàn thành đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong 3 năm tới. Đây chẳng qua là một trong các thủ đoạn ngoại giao của họ nhằm lấy lòng và đánh lừa các nước trong khu vực, đồng thời ngăn cản các quốc gia bên ngoài can dự vào Biển Đông. Ông Antonio Carpio, cựu thẩm phán Toà án tối cao Philippines, một trong những tác giả quan trọng của phiên toà thế kỷ – Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông năm 2016, đã cảnh báo rằng: “Trung Quốc sẽ không ngưng việc bồi lấp các đảo nhân tạo và sẽ tiếp tục bồi lấp Scarborough, trước khi các bên ký kết COC”. Cảnh báo của ông Carpio rõ ràng trùng hợp với những gì đã chỉ ra về hành động và việc làm của Trung Quốc từ năm 1974 đến nay, Bắc Kinh luôn tìm mọi cách để tạo lợi thế, kể cả bằng biện pháp quân sự, khiến “gạo chuyển thành cơm”. Thậm chí, với các hành động gây hấn trên Biển Đông gần đây của họ với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, thì mục tiêu xuyên suốt của Bắc Kinh vẫn là nhằm biến các vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp với các nước, cưỡng ép các quốc gia trong khu vực từ bỏ hợp tác khai thác với các quốc gia khác để “hợp tác khai thác chung” theo cách thức của Trung Quốc, thực hiện cái gọi là “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác”. Nước nào không tỉnh táo, cảnh giác thì lại rơi vào thủ đoạn đầy gian manh và xảo trá của Bắc Kinh mà thôi.

Hai là, không chỉ có vậy, Việt Nam cần phải chủ động và có tầm nhìn chiến lược hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo vệ vững chắc các thực thể đang thuộc quyền nắm giữ và quản lý ở Biển Đông, Trường Sa. Bởi lịch sử cũng lại cho thấy: Năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa. Khi đó, mới chỉ có 5 đảo là Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa Lớn là có quân Việt Nam Cộng hòa chốt giữ, riêng đá An Bang mới kịp đặt bia chủ quyền chứ chưa có người. Ngay trước khi tiếp quản, các nhà lãnh đạo Việt Nam với bài học Hoàng Sa năm 1974, đã nhận định, nếu không tiếp quản nhanh và kịp thời thì nước khác sẽ thừa cơ “nước đục thả câu”, nhảy vào chiếm mất. Đúng như dự đoán, ngày 25/4/1975, Hải quân Việt Nam tiếp quản Sơn Ca, ngày 27/4 làm chủ Nam Yết và Sinh Tồn, ngày 28/4 tiếp quản Trường Sa Lớn và An Bang, thì sáng 29/4/1975, xuất hiện một số “tàu lạ” đã lởn vởn tiếp cận các đảo, đá này, nhưng nhìn thấy cờ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên đó, nên chúng đành bỏ đi.

Những năm 1980, Trung Quốc đã liên tục cho tàu cá giả dạng xuống do thám Trường Sa và các bãi cạn trong thềm lục địa phía Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Ban Biên giới Chính phủ khi đó đã kiến nghị với lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần khẩn trương xây dựng các nhà giàn cao chân trên các bãi cạn nằm trong thềm lục địa phía Nam như Ba Kè, Tư Chính, Vũng Mây, Huyền Trân… nếu không, Trung Quốc sẽ đánh chiếm. Chủ trương này nhanh chóng được chấp nhận và triển khai ngay. Vào thời điểm đó, mặc dù gặp muôn vàn khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn tận dụng tối đa mọi khả năng có thể để củng cố phòng thủ, tăng cường các điểm đóng quân chốt giữ Trường Sa và các bãi cạn nằm trong thềm lục địa phía Nam. Tuy nhiên, do tiềm lực có hạn, trong khi Trung Quốc đã bắt đầu lăm le nhòm ngó. Đầu năm 1988, Bắc Kinh điều quân chiếm đóng bất hợp pháp một số bãi cạn ở Trường Sa mà ta chưa có điều kiện đưa quân ra chốt giữ. Ngày 31/1/1988, Trung Quốc chiếm Chữ Thập, ngày 18/2 chiếm Châu Viên, ngày 26/2 chiếm Ga Ven, ngày 28/2 chiếm Tư Nghĩa và ngày 23/3 chiếm Xu Bi. Trong lúc này, Việt Nam gấp rút triển khai đóng giữ đá Tiên Nữ ngày 26/1, đá Lát ngày 5/2, đá Lớn ngày 6/2, đá Đông ngày 18/2, đá Tốc Tan ngày 27/2, đá Núi Le ngày 2/3, bước đầu ngăn chặn hành vi bành trướng, chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Quốc. Việt Nam cũng đã dự kiến tình huống Trung Quốc sẽ tìm cách chiếm Gạc Ma để chặn đường tiếp tế của ta cho các đơn vị đóng quân ở Trường Sa, do đó đã hạ quyết tâm và lên kế hoạch đóng giữ, củng cố Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Khi chúng ta đưa 3 tàu vận tải chở lực lượng công binh ra phòng thủ Gạc Ma thì 3 khu trục hạm Trung Quốc được trang bị đầy đủ vũ khí hạng nặng cũng tìm cách tiếp cận, ngăn cản hoạt động của ta. Chiến sự nổ ra ngày 14/3/1988 bởi sự khiêu khích, nổ súng trước của lính Trung Quốc và trong cuộc chiến không cân sức này, 64 chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh, Gạc Ma thất thủ.

Điểm lại sự kiện trên để thấy rằng, nếu không có tầm nhìn, quyết tâm và hành động khẩn trương phòng thủ Trường Sa và các bãi cạn ở thềm lục địa phía Nam trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thì chúng ta có thể đã mất nhiều hơn. Đây là minh chứng hùng hồn về tính chủ động, quyết tâm giữ nước của lớp cha anh đi trước, cũng là kinh nghiệm quí báu trong việc sớm xây dựng các kế hoạch, chiến lược để củng cố, giữ gìn, bảo vệ vững chắc các thực thể thuộc chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông khi ý đồ giành quyền kiểm soát trên vùng biển này của Trung Quốc ngày càng lấn lướt và quyết đoán hơn.

Ba là, những hành động Trung Quốc xâm chiếm biển, đảo của Việt Nam còn cho thấy, Bắc Kinh luôn nhằm vào những thời điểm Việt Nam gặp khó khăn nhất để ra tay. Vì vậy, bài học muôn thuở ở đây là phải xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, sao cho Trung Quốc không muốn, không dám và không có cơ hội để nhòm ngó, xâm chiếm chủ quyền biển, đảo của ta. Có rất nhiều việc phải làm đối với vấn đề này, trong đó cần nhất là phải phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp quốc gia, bao gồm quốc phòng, an ninh, kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp lý… và sự tập trung thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng Hải quân nhân dân làm nòng cốt thì mới có thể bảo đảm được khả năng bảo vệ chủ quyền, duy trì hòa bình, ổn định lâu dài trên biển. Tiếp theo là phải xây dựng sự đoàn kết, thống nhất và đồng thuận trong bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc ở Biển Đông. Lịch sử dân tộc ta nhiều lần chứng minh, khi nội bộ đoàn kết, lòng dân hòa thuận thì biên cương ổn định, bờ cõi yên bình. Nhưng khi trên dưới bất hòa, lòng dân ly tán, ắt ngoại bang sẽ nhòm ngó, xâm lăng. Suy ra, trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, “biển có yên thì bờ mới ấm”, có bảo vệ được bình yên biển, đảo thì trong nước mới ổn định, phát triển. Ngược lại, “trong bờ có ấm, ngoài biển mới yên”, đất nước có ổn định, phát triển mới tạo ra thế và lực để bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Bốn là, nhìn vào cái cách Trung Quốc xem xét chiến lược, chính sách Biển Đông của các nước lớn, nhất là Mỹ và Liên Xô (sau này là Nga), và bối cảnh tình hình mọi mặt trước khi khởi sự đánh chiếm các thực thể ở Biển Đông còn cho thấy, yếu tố khách quan luôn là điều kiện mà Bắc Kinh phải “nhìn ngược ngó xuôi” đầu tiên. Ngày nay, không chỉ có Mỹ, Nga mà còn có nhiều nước lớn khác trong và ngoài khu vực có lợi ích ở Biển Đông, bên cạnh đó, còn có ASEAN, tổ chức đóng vai trò chủ chốt tại khu vực đang nổi lên như là “chìa khóa” trong các “toan tính” của Trung Quốc với Biển Đông. Hẳn nhiên, điều mà Trung Quốc quan tâm là liệu ASEAN có thống nhất thành một khối, tạo thành sức mạnh tập thể kiềm chế tham vọng của Trung Quốc không; quan điểm về Biển Đông của ASEAN ra sao, có phản đối Trung Quốc mạnh mẽ không; quan điểm của từng thành viên ASEAN như thế nào, giữa họ có sự bất đồng nào để Trung Quốc có thể gây chia rẽ ASEAN dễ dàng hơn… Bài học “nhỡn tiền” đặt ra là Việt Nam cần phải có chính sách ngoại giao cực kỳ khôn khéo và thông minh, phù hợp với từng nước để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước, góp thêm sức mạnh trong các biện pháp, đối sách giải quyết vấn đề chủ quyền của Việt Nam, buộc Trung Quốc phải “dè chừng” trong các hoạt động trái phép ở Biển Đông.

Năm là, yếu tố “thiên thời” cũng là điều cần được quan tâm chú ý nhiều hơn cho dù thời tiết nóng, lạnh hay dông, bão trên biển là thuộc về tự nhiên, con người không thể quyết định được. Tuy nhiên, Trung Quốc đã tận dụng triệt để yếu tố thuận lợi của tự nhiên để góp phần gây bất ngờ và đánh lừa đối phương, giúp họ đánh chiếm thành công các thực thể ở Biển Đông trong các trường hợp như Hoàng Sa (01/1974), Gạc Ma (3/1988), Vành Khăn (02/1995), Scarborough (6/2012). Rõ ràng các sự kiện thường xảy ra từ tháng 01 đến tháng 3 hàng năm hoặc sau đó một vài tháng. Ngay cả việc Trung Quốc đưa tàu thăm dò, khảo sát vào hoạt động trái phép trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam diễn ra trong các năm 2014, 2019, 2023 và gần đây nhất là đưa tàu Hải cảnh lớn nhất hoạt động trong khu vực bãi Tư Chính của Việt Nam (20/2/2024), cũng đều diễn ra trong khoảng thời gian trên. Vậy không có lý do gì để các lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam lại lơ là, mất cảnh giác với các hoạt động trên biển của Trung Quốc trong những khoảng thời gian đó. Nhìn lại sự kiện Gạc Ma 36 năm trước đây, sự hy sinh cao cả của 64 cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam để bảo vệ chủ quyền đất nước trên đá Gạc Ma, đã dựng lên một “vòng tròn bất tử” về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Suốt từng ấy năm qua đi, sóng biển có thể xóa nhòa mọi dấu tích nhưng không thể xóa được ký ức bi tráng về các anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma. Tấm gương anh dũng, quả cảm của các anh mãi mãi trường tồn với dân tộc này, nước non này cùng Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu. Đó là một phần lịch sử không thể nào quên và không được phép quên, là những bài học kinh nghiệm quí báu, là niềm tự hào để các thế hệ người Việt Nam tiếp theo tiếp tục nắm chắc tay súng, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

]]>