Hải chiến Hoàng Sa – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 21 Jan 2022 01:39:36 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Bối cảnh và diễn biến Hải chiến Hoàng Sa 1974 https://biendong.net/2022/01/18/boi-canh-va-dien-bien-hai-chien-hoang-sa-1974/ Tue, 18 Jan 2022 10:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=72938 Ngày 11/01/1974, các sĩ quan Nam Việt Nam nhận được báo cáo về những động thái của Trung Quốc trên hai hòn đảo của Nam Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn phái hai tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 và Trần Khánh Dư HQ-4 tới thám sát.

HQ- 16 tới đảo Hữu Nhật (Robert Island) vào 16/1 và nhận thấy đảo này đã bị “ngư dân” Trung Quốc, từ hai thuyền đang neo tại bãi ven đảo, chiếm đóng. Chỉ huy tàu HQ – 16 lệnh cho những người Trung Quốc rời đảo và bắn thị uy để họ hiểu ý định của ông. Sau đó họ bắn và phá hủy các lá cờ Trung Quốc và một khu vực chế biến cá mà những “người đánh cá” triển khai 6 ngày trước đó. HQ – 4 tới Hoàng Sa ngày 17/1 và phái một đơn vị đặc nhiệm SEAL của Nam Việt Nam lên đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh (Money Island) gần đó để nhổ những cờ Trung Quốc. Ngày 18/1, hai tàu chiến của Nam Việt Nam đuổi một tàu đánh cá bằng lưới rà của Trung Quốc, buộc con tàu bị phá hủy nặng nề này phải rời vùng biển. Sau đó các tàu khu trục Trần Bình Trọng HQ-5 và tàu quét mìn Nhật Tảo HQ-10 tới Hoàng Sa.

Sài Gòn nghĩ rằng đã chặn được nỗ lực trong suốt 6 tháng liền của Bắc Kinh nhằm chiếm nửa phía tây của Hoàng Sa. Những “ngư dân” có vũ trang của Trung Quốc trước đó hầu như đã đẩy được các ngư dân Nam Việt Nam ra khỏi vùng biển Hoàng Sa, và ít nhất có hai tàu đánh cá Trung Quốc đã bị phát hiện đang hoạt động tại vùng nước mà Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng biến động gần nhất này của Trung Quốc lại là khởi đầu của một giai đoạn mới trong nỗ lực nhằm chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Lần này, những “ngư dân” Trung Quốc là thành viên của lực lượng Dân quân biển – một lực lượng bán vũ trang của Hải quân Trung Quốc.

Hai chiếc tàu cá gần đảo Hữu Nhật báo cáo về Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải Trung Quốc. Ngày 16/1, Bộ Tư lệnh Hạm đội ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam tháp tùng lực lượng dân quân biển tới hiện trường, về mặt công khai là để bảo vệ ngư dân Trung Quốc, nhưng chủ yếu là để tập trung binh lực. Trung Quốc cũng hạ lệnh triển khai hai tàu quét ngư lôi. Bắc Kinh quyết định giải quyết tranh chấp tại Hoàng Sa bằng vũ lực nếu thời cơ cho phép.

Quần đảo Hoàng Sa gồm 130 đảo san hô, mỏm đá ngầm và bãi cát nằm rải rác trên 5.800 dặm vuông trên Biển Đông, cách gần đều cảng Đà Nẵng của Việt Nam (200 hải lý) và đảo Hải Nam của Trung Quốc (162 hải lý). Diện tích của toàn quần đảo (chỉ tính mặt đất) là khoảng 3 dặm vuông. Hầu hết các đảo hợp thành Nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) về phía đông bắc và Nhóm đảo Lưỡi liềm (Crescent Group) về phía tây, cách nhau khoảng 39 hải lý. Đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm An Vĩnh là lớn nhất trong các đảo thuộc Hoàng Sa, có diện tích khoảng 530 mẫu Anh.

Cho dù những tuyên bố chủ quyền của cả Việt Nam và Trung Quốc đều có từ các triều đại phong kiến xa xưa, gốc rễ của sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam gắn với những năm 1930 và các tham vọng của thực dân Pháp. Nước Pháp, cường quốc đô hộ Việt Nam từ 1858, đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ 1932 nhưng từ đầu không quan tâm đến việc chiếm giữ các đảo này trên thực tế. Điều này thay đổi vào năm 1937 khi cuộc chiến của Nhật Bản với Trung Quốc – vốn bắt đầu từ năm 1931 với việc Nhật chiếm Mãn Châu Lý – leo thang khi Nhật tiến quân sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Người Pháp lo Trung Quốc hay Nhật sẽ chiếm các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) nên đã đặt một trại lính gồm khoảng 100 lính Pháp và Việt tại đảo Phú Lâm vào năm 1938 như một khu đệm để mở rộng chu vi phòng thủ cho các thuộc địa Đông Dương của Pháp.

Nhà cầm quyền Anh ủng hộ bước đi này của Pháp vì nó mở rộng phạm vi phòng thủ của thuộc địa Malaya của Anh. Cả hai cường quốc châu Âu này cho rằng cuộc chiến tranh của Nhật chống Trung Quốc chỉ là bước đi ban đầu của kế hoạch chiếm các thuộc địa của châu Âu ở Đông Nam Á. Nhưng thay vì răn đe hành động của Nhật trên Biển Đông, việc đồn trú tại Hoàng Sa của Pháp lại khiêu khích Nhật. Nhật cho một đơn vị nhỏ lính thủy đánh bộ đổ bộ lên đảo Phú Lâm chỉ một tháng sau khi Pháp cho quân đồn trú. Quân đồn trú trên đảo đầu hàng, không nố súng chống lại. Nhật sáp nhập Trường Sa và Hoàng Sa vào năm 1941, tuyên bố chúng thuộc Đài Loan, đảo đang bị Nhật chiếm đóng lúc đó.

Sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật ngày 6 và 9/8/1945, Tokyo bắt đầu rút quân khỏi các quần đảo này. Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite) hai tháng sau đó, và đặt một đồn trên đảo Phú Lâm vào tháng Giêng 1946. Pháp sau đó do không đẩy được quân Quốc dân Đảng ra khỏi Nhóm đảo An Vĩnh bằng một cuộc biểu dương lực lượng hải quân đành tuyên bố chủ quyền đối với Nhóm đảo Lưỡi liềm và đổ bộ một trung đội lê dương lên đảo Hoàng Sa (Pattle) để ngăn quân Quốc dân Đảng chiếm đóng đảo này.

Chính phủ Quốc dân Đảng lặp lại yêu sách đối với toàn bộ Biển Đông năm 1947, xuất bản một bản đồ đưa các yêu sách lãnh thổ vào khuôn khổ một “đường chín đoạn” dọc vành ngoài của Biển Đông. Năm 1949, quân Trung Cộng đẩy chính quyền Quốc dân Đảng ra Đài Loan. Nhật Bản từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông tại Hội nghị hòa bình San Francisco 1951, nhưng không giao quyền kiểm soát của mình cho bất cứ một bên có yêu sách cụ thể nào khác, đẩy vấn đề sở hữu các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) rơi vào tình trạng không được giải quyết. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng họ thừa kế các yêu sách đối với Biển Đông từ chính phủ Quốc dân Đảng.

Mặc dù vậy Nam Việt Nam đã chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi liềm từ năm 1954 và đặt một lực lượng đồn trú nhỏ trên ba hòn đảo. Trung Cộng giành quyền kiểm soát nhóm đảo An Vĩnh và đảo Phú Lâm vào năm 1956. Ngư dân Trung quốc đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan) năm 1959 nhưng phía Nam Việt Nam đã đuổi họ đi.

Khi Chiến tranh Việt Nam leo thang, Sài Gòn, tin tưởng vào sự hỗ trợ của Hải quân Mỹ, đã rút các đơn vị đồn trú của mình. Tới năm 1967, sự hiện diện của Nam Việt Nam tại quần đảo chỉ còn một trạm khí tượng. Trung Quốc tỏ ra chấp nhận nguyên trạng.

Hai biến chuyển trong tình hình những năm 1970 đã thay đổi bàn cờ Biển Đông: các báo cáo về trữ lượng dầu tại thềm lục địa vùng này xuất hiện vào giữa năm 1972, và Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Các lãnh đạo châu Á đột nhiên nhận thấy tranh chấp Biển Đông không chỉ là một vấn đề chính trị và hành chính, mà còn là vấn đề phát triển kinh tế. Nhóm thân cận với Mao tính toán rằng những phần thưởng về kinh tế lớn hơn những rủi ro xảy ra xung đột quân sự. Vả lại, những rủi ro đang giảm xuống.

Mao nhận thấy một chính phủ Mỹ đang rút chân khỏi Nam Việt Nam sẽ thiếu ý chí dấn vào một cuộc xung đột khác, lại đang mong được Trung Quốc hỗ trợ chống lại một Liên Xô đang ngày càng thách thức hơn. Nguyên thủ Trung Quốc kết luận rằng chế độ Sài Gòn khó có khả năng được Mỹ hỗ trợ, và sự tồn tại của nó cũng đang được tính bằng ngày. Nhóm thân cận với Mao cũng hiểu rằng Bắc Việt Nam vẫn còn cần viện trợ của Trung Quốc trong nỗ lực chiến thắng Nam Việt Nam, đồng thời đồng minh khác của Hà Nội là Liên Xô không có lực lượng trên địa bàn này để cản trở Trung Quốc hành động đối với các đảo (trên Biển Đông). Mao ra lệnh tiến hành một loạt những bước đi nhằm ép Nam Việt Nam từ bỏ Hoàng Sa.

Không biết các ý định của Bắc Kinh, Sài Gòn tuyên bố quyền kiểm soát về hành chính tại nhóm đảo Lưỡi liềm vào tháng 8/1973 và một tháng sau cho phép thực thi các hợp đồng thăm dò dầu khí tại các vùng nước quanh nhóm đảo này. Cuộc đột nhập đầu tiên của đội tàu đánh cá của Trung Quốc xảy ra vào cuối tháng 7. Một số “ngư dân” có vũ trang, và ít nhất một tàu trong số này là loại bọc thép, nhưng chúng rút ngay mỗi khi các đơn vị Hải quân Nam Việt Nam tới. Sài Gòn triển khai các đơn vị đồn trú có quân số khoảng một trung đội trên ba hòn đảo thuộc nhóm đảo này.

Tháng 10/1974, các tàu đánh cá lưới rà số 402 và 407 của Trung Quốc đưa thủy thủ đoàn đổ bộ lên đảo Quang Hòa, thiết lập một trạm cung cấp, hầm hào, và cắm cờ Trung Quốc khắp trên đảo. Nam Việt Nam bắt giữ một số tàu đánh cá Trung Quốc vào tháng 11 cùng thủy thủ đoàn của chúng. Các thủy thủ Trung Cộng bị đưa về Đà Nẵng nơi họ phải thú tội trên truyền hình về các hành động phạm pháp và các tội ác đối với nhân dân Việt Nam trước khi được thả. Nhưng những vụ tàu đánh cá Trung Quốc tấn công dân chài Việt Nam tiếp tục diễn ra. Cùng kỳ, Mao ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc chuẩn bị hành động quân sự để hỗ trợ các ngư dân Trung Quốc.

Ngày 10/01/1974, một nhóm ngư dân Trung Quốc tiến hành đánh bắt cá tại đảo Hữu Nhật thuộc nhóm đảo Lưỡi liềm. Nhóm này đã bị các dân chài Việt Nam phát hiện 3 ngày trước, nhưng họ không thông tin được cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cho tới khi về tới Đà Nẵng hôm 11/01/1974. Cùng ngày, Bắc Kinh ra tuyên bố nhắc lại chủ quyền không thể tranh cãi của nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như bãi ngầm Macclesfield, một đảo san hô vòng cách quần đảo Hoàng Sa 70 hải lý về phía Đông.

Nhận thấy những ý đồ của Bắc Kinh, Sài Gòn cử các tàu khu trục HQ-16, HQ-4, HQ-5, và tàu quét thủy lôi HQ-10 chở đội đặc nhiệm SEAL đến đảo Hữu Nhật. Hai trong số các tàu khu trục trên là thủy phi cơ đời Thế chiến II được cải tiến, tháo bỏ các thiết bị hỗ trợ thủy phi cơ, còn chiếc thứ ba là tàu khu trục hộ tống được cải tiến. Tất cả chúng ở trong tình trạng kém, thường xuyên xảy ra các vấn đề về kỹ thuật và vũ khí, khiến tốc độ và hỏa lực đều bị hạn chế.

Đến nơi vào ngày 16/1, các tàu chiến của Nam Việt Nam đã nhanh chóng đuổi các ngư dân Trung Quốc đi. Tàu đánh cá (TQ) số 407 báo cáo sự việc HQ-16 tới lên Bộ chỉ huy dân quân biển tại Du Lâm trên đảo Hải Nam ngay sáng 16. Điện báo này về tới Bắc Kinh vài giờ sau.

Chiều tối hôm đó, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc phái hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt mang số hiệu 271 và 274 đón một đại đội dân quân biển gồm bốn trung đội (mỗi trung đội 10 người) từ đảo Phú Lâm đưa sang Nhóm đảo Lưỡi liềm. Bắc Kinh cố gắng tăng viện cho quân của họ, nhưng giống như đối phương, tàu chiến của Trung Quốc cũng ở trong tình trạng tồi tệ.

Cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc – một cuộc thanh trừng chống các ảnh hưởng phi chủ nghĩa xã hội và các đối thủ của Mao – đã làm hư hoại gần như hoàn toàn các xưởng đóng tàu của nước này. Hơn 2 triệu nhà khoa học, kỹ sư, nhà giáo, công nhân lành nghề, cán bộ hành chính bị tù đày hoặc giết chết, gồm cả những người đã đóng và bảo dưỡng tàu bè của nước này cũng như mạng lưới đường sắt chuyển vật tư tới các xưởng đóng tàu.

Kết quả là tàu chiến tốt nhất của Hải quân Trung Quốc, các khu trục hạm loại Type 065 đã không thể khởi hành. Còn chiếc 271 vừa xuất xưởng và chưa hoàn tất việc chạy thử trên biển, và chiếc 274 với động cơ diesel ở tình trạng kém, không thể đạt tốc độ 18 hải lý/giờ. Vậy mà chúng vẫn nhanh hơn, được trang bị tốt hơn các tàu của hải quân Nam Việt Nam. Hai chiếc tiêm kích Thẩm Dương J-6, bản copy của MIG – 19 do Liên Xô sản xuất, yểm hộ đường không cho các tàu săn ngầm, nhưng không có năng lực hoạt động tầm xa đủ để trực chiến trên đầu các tàu khi chúng nhập cuộc sáng 17/1.

Vào rạng sáng 18/1, hai tàu Trung Quốc đã đưa được một trung đội dân quân biển lên đảo Duy Mộng, một trung đội khác lên đảo Quang Hòa tây, và hai trung đội lên đảo Quang Hòa. Các trung đội này lập tức tiến hành đào hầm hào và đặt mìn và bẫy phía trước trận địa của họ. Hai tàu rà thủy lôi loại Type 10 đóng ở Quảng Châu, mang số hiệu 389 và 396, được lệnh tăng cường cho các tàu săn ngầm loại Kronstadt mang số hiệu 271 và 274. Chúng cũng đến nơi vào cuối buổi sáng hôm đó.

Hai chiếc tàu chiến khác có thể hoạt động được lúc đó của Trung Quốc là hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam được điều từ Sán Đầu, cách đó khoảng 476 hải lý. Chúng tiến về Hoàng Sa với tốc độ tối đa, được tiếp dầu ở Trạm Giang, phía nam Hồng Kông, và tại Du Lâm. Các tàu chiến này được lệnh hỗ trợ các thuyền đánh cá của dân quân biển với điều lệnh chiến đấu “không gây sự; không bắn trước; nhưng nếu lâm chiến, phải thắng”.

Vào sáng sớm 19/1, hạm trưởng chia tàu của Trung Quốc thành hai nhóm: tốp đầu gồm 4 chiếc do các tàu săn ngầm Kronstadt dẫn đầu, và tốp sau gồm các tàu săn ngầm lớp Hải Nam vừa tới. Hạm trưởng được lệnh đáp trả mọi thách thức đối với các tàu đánh cá của dân quân biển và hỗ trợ các ngư dân trên các đảo nếu cần.

Hải quân Nam Việt Nam cũng chia thành hai tốp. Tốp đầu bao gồm các tàu khu trục HQ-4 và HQ-5. Tốp này chạy vòng quanh các đảo Quang Ảnh (Money) và Hải Sâm (Antelope) từ phía nam và tiếp cận đảo Quang Hòa. Tốp thứ hai gồm các tàu quét mìn HQ-10 và tàu khu trục HQ – 16, băng qua vùng đầm phá tại Nhóm đảo Lưỡi liềm từ phía tây bắc.

Hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt của Trung Quốc chiếm vị trí để theo dõi các tàu HQ-4 và HQ-5, trong khi các tàu quét mìn loại Type 10 bám theo các tàu HQ-10 và HQ-16. Hạm trưởng HQ – 16 dự cảm trận đánh sắp xảy ra – đã tăng tốc vượt lên các tàu quét mìn Trung Quốc, và 14 lính đặc nhiệm của Nam Việt Nam được đưa lên hai thuyền cao su để giành lại đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây. HQ-16 đâm mạnh và làm hỏng nặng tàu quét mìn 389; thủy thủ trên chiếc 389 bắn vào cầu tàu và ụ súng phía trước của HQ-16, giết hoặc làm bị thương hầu hết thủy thủ Nam Việt Nam trên đó. Cuộc giao chiến sau đó đã diễn ra theo như ý đồ của Trung Quốc.

Các lính đặc nhiệm, từng dự kiến có hải quân yểm hộ, nay phải một mình đối đầu với các tàu Trung Quốc. Họ lên bờ giữa ban ngày, đối địch với một lực lượng kẻ thù đông, cố thủ trong chiến hào trên cả hai đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây, nên nhanh chóng bị đẩy lùi. Họ cố trở lại các thuyền cao su dưới làn đạn kẻ thù, trong khi các tàu hải quân Nam Việt Nam dàn hàng ngang tiến thẳng vào đội hình địch, bắn vào buồng hoa tiêu của địch và tìm cách xoay chuyển thế trận thành một cuộc chiến của pháo tầm xa. Không may cho lực lượng Nam Việt Nam, họ không có được tốc độ, do đó các tàu cơ động hơn của Trung Quốc có thể quyết định khoảng cách giao tranh. Hạm trưởng Trung Quốc ra lệnh: “Tăng tốc tiến lên, đánh cận chiến, thọc mạnh”. Biết rằng các tàu của mình trang bị kém và sẽ bị áp đảo trong một cuộc đấu súng tầm xa, hạm trưởng Trung Quốc quyết định dùng chiến thuật “giáp lá cà”. Sau 10 phút giao tranh, chiến trường đã thu hẹp từ phạm vi 2, 3 hải lý xuống còn vài trăm mét.

Các tàu săn ngầm lớp Kronstadt bắn cấp tập vào HQ-4, trong khi các tàu quét mìn Type 10 tập trung hỏa lực pháo 37mm vào chiếc HQ-16, nhằm vào buồng hoa tiêu, trung tâm thông tin và các radar. Bị bắn hỏng nặng, chiếc HQ-16 phải thoái lui. Các tàu quét mìn chuyển sang bắn vào HQ-10, nhằm vào kho đạn ở đuôi tàu, gây một tiếng nổ khiến phần động cơ phía trước con tàu này tê liệt.

Các tàu quét mìn chỉ cách HQ-10 có khoảng mười thước, khiến các nòng pháo còn lại của chiếc tàu Nam Việt Nam này không thể bắn vào những con tàu thấp và nhỏ hơn của đối phương đang tiếp cận sát thân tàu. Súng bộ binh của thủy thủ Trung Cộng quét dọc ngang sàn tàu và buồng hoa tiêu, sát hại thuyền trưởng và hầu hết thủy thủ điều khiển tàu.

Chiếc HQ-16 bị hư hại cố tiếp ứng cho HQ-10 nhưng bị đẩy ra xa bởi hỏa lực của quân Trung Quốc. Nó phải rút về phía đông nam, trong khi HQ-4 và HQ-5 rút về phía nam. Hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam của Trung Quốc tới nơi khoảng trưa 19/1, bắn tiếp vào chiếc HQ-10 khiến nó chìm vào lúc 1h chiều.

Cùng lúc, Bắc Kinh lo ngại Sài Gòn sẽ tăng cường quân cho các đồn còn lại trên các đảo, gồm khoảng 2 đại đội bộ binh trên các đảo Hữu Nhật, Hoàng Sa (Pattle), và Quang Ảnh, và các lính đặc nhiệm còn sống sót. Hạm đội Nam Hải pha trộn một đội hình chắp vá gồm tất cả những đơn vị nào còn có thể lên đường: một tàu khu trục, năm tàu phóng lôi, và tám tàu tuần tra loại nhỏ. Được tổ chức thành ba đội tàu đổ bộ và vận tải, các tàu này chở 500 lính thuộc 3 đại đội bộ binh, một đại đội dân quân và một nhóm trinh sát vũ trang.

Đội tàu này triển khai thành đội hình thuận cho xuất phát. Tốp đầu gồm bốn chiếc tàu tuần tra và các tàu lưới rà của dân quân biển mang số hiệu 402 và 407, mang theo một đại đội bộ binh 100 lính. Tốp hai gồm một đại đội bộ binh và đội trinh sát thủy – bộ được rải ra trên bốn chiếc tàu tuần tra và chiếc tàu quét mìn 389. Chiếc tàu khu trục Nam Ninh, vốn là một tàu hộ tống của Nhật trước đây, trở thành thê đội ba, chở một đại đội bộ binh và được bổ nhiệm làm soái hạm của chiến dịch này.

Tốp đi đầu tiến công đảo Hữu Nhật, bắn pháo vào những người giữ đảo để đẩy họ khỏi bờ biển, rồi đổ bộ lính bộ binh bằng các thuyền cao su và xuống ba lá. Hữu Nhật thất thủ sau 10 phút. Thê đội 2 tiến đánh đảo Hoàng Sa (Pattle), đẩy 30 lính giữ đảo về phía giữa đảo nơi họ đầu hàng sau một giờ giao tranh. Trong trận đánh trên đảo này, Trung Quốc bắt được viên thiếu tá Nam Việt Nam chỉ huy lực lượng đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa và viên cố vấn được phái tới từ Đại sứ quán Mỹ. Các lính đặc nhiệm trên đảo Quang Ảnh bỏ vị trí trước khi Hải quân Trung Quốc tiến công, trốn thoát được vài ngày trước khi bị bắt.

Cho đến cuối chiều 20/1, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc. Hơn 100 lính Nam Việt Nam bị giết hoặc bị thương, và 48 lính Nam Việt Nam và một sĩ quan liên lạc người Mỹ bị bắt, so với 18 lính Trung Quốc bị chết, 67 người khác bị thương.

Đây là một thắng lợi lớn của Hải quân Trung Quốc: một tàu phá thủy lôi của Nam Việt Nam bị chìm, ba tàu khu trục bị hư hỏng nặng, so với hai tàu săn ngầm, một tàu quét thủy lôi và một tàu đánh cá của Trung Quốc bị hư hỏng nặng.

T.P

]]>
TQ chiếm mới các thực thể ở Biển Đông: Bài học lịch sử và quy luật rút ra https://biendong.net/2021/12/28/tq-chiem-moi-cac-thuc-the-o-bien-dong-bai-hoc-lich-su-va-quy-luat-rut-ra-2/ Tue, 28 Dec 2021 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=71602 Bài viết phân tích Hải chiến Hoàng Sa (1974), cuộc tấn công ở Trường Sa (1988), sự kiện Đá Vành Khăn (1995) và sự kiện Bãi cạn Scarborough (2012) để tìm ra những quy luật nhất định. Đây sẽ là cơ sở để phán đoán thời điểm Trung Quốc hành động chiếm mới các thực thể ở Biển Đông để từ đó Việt Nam ra các đối sách tương ứng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia.

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng chủ động và lấn lướt ở Biển Đông, không loại trừ khả năng nước này sẽ chiếm mới các thực thể tại đây khi có các điều kiện thuận lợi. Bài viết phân tích tình hình vào thời điểm nổ ra Hải chiến Hoàng Sa (1974), cuộc tấn công ở Trường Sa (1988), sự kiện Đá Vành Khăn (1995) và sự kiện Bãi cạn Scarborough (2012) để rút ra các điều kiện đã thúc đẩy Trung Quốc tấn công giành quyền kiểm soát thực tế đối với các thực thể ở Biển Đông trong quá khứ. Theo đó, Trung Quốc đã khởi sự khi không có sự can thiệp của các chủ thể bên ngoài và sự chú ý của dư luận quốc tế, thấy được khả năng tận dụng điều kiện thời tiết, chớp thời cơ so sánh lực lượng đang có lợi cho Trung Quốc trong bối cảnh chính trị nội bộ bất ổn và tạo cớ biện minh cho hành động của mình.

Trong tranh chấp ở Biển Đông, Trung Quốc là chủ thể có các hoạt động hung hăng và gây hấn nhiều nhất. Điều này đã làm dấy lên nhiều lo ngại cho các nước yêu sách khác ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam, rằng Trung Quốc có thể tiếp tục chiếm thêm các thực thể ở vùng biển này để củng cố thêm sức mạnh và vị thế lấn át các bên tranh chấp còn lại của Trung Quốc. Những lo ngại này là có cơ sở vì Trung Quốc hiện đã có khả năng (có sức mạnh hải quân vượt trội hơn hẳn các nước yêu sách khác) và ý đồ (được các chuyên gia nhận định là tham vọng kiểm soát Biển Đông) để chiếm mới các thực thể ở Biển Đông, chỉ cần cơ hội thuận lợi, thời điểm thích hợp để hành động. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các vụ việc Trung Quốc chiếm các thực thể ở Biển Đông như Hải chiến Hoàng Sa (1974), cuộc tấn công ở Trường Sa (1988), sự kiện Đá Vành Khăn (1995) và sự kiện Bãi cạn Scarborough (2012), có thể tìm ra những quy luật nhất định về tập hợp các điều kiện tạo cơ hội thuận lợi cho Trung Quốc khởi sự. Đây sẽ là cơ sở để phán đoán thời điểm Trung Quốc hành động chiếm mới các thực thể ở Biển Đông để từ đó Việt Nam ra các đối sách tương ứng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mình.

Hải chiến Hoàng Sa (1974)

Trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, Trung Quốc đã đụng độ với Hải quân Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Giao tranh giữa hai bên diễn ra quyết liệt và sau cùng quân của VNCH đã rút lui, Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ đó đến nay. Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc có động thái chiếm thực thể ở quần đảo Hoàng Sa. Trước đó, năm 1956, Trung Quốc đã chiếm nhóm đảo An Vĩnh (phía Đông Hoàng Sa) (quân đội Đài Loan cũng đã chiếm đảo Ba Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa vào tháng 10 cùng năm). Đến năm 1959, quân đội VNCH khi đang chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây Hoàng Sa đã phát hiện và bắt giữ một số lính Trung Quốc đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa để nhằm đánh chiếm nốt nhóm Lưỡi Liềm. Đến những năm 1970-1971, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã cho xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự bí mật ở nhóm An Vĩnh mà nước này đã chiếm đóng.

Vào thời điểm Trung Quốc tiến hành Hải chiến Hoàng Sa, có những điều kiện đã tạo cơ hội thuận lợi cho nước này để khởi sự như sau:

1. Hai siêu cường Mỹ và Liên Xô không can thiệp: Cuộc chiến này diễn ra trong bối cảnh quan hệ Mỹ – Liên Xô bước vào thời kỳ hòa dịu sau Khủng hoảng Tên lửa Cuba 1962. Ở giai đoạn này, Mỹ và Liên Xô tăng cường đối thoại và đàm phán giải trừ quân bị, giảm đối đầu với nhau và tập trung hơn vào việc giải quyết các khó khăn nội bộ. Về phía Mỹ, thất bại trong Chiến tranh Việt Nam và các bất ổn chính trị bên trong do vụ bê bối Watergate gây ra khiến nước này buộc phải giảm can dự vào Đông Dương, dần bỏ rơi chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam: Tháng 06/1973, Quốc hội Mỹ ban hành đạo luật Case-Church cấm Chính phủ tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi Lưỡng viện Quốc hội chấp thuận; Sau Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ cũng cắt giảm hỗ trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn từ 1.4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ năm 1973 và 700 triệu năm 1974. Về phía Liên Xô, nước này cũng đang phải vất vả đối phó với những rạn nứt nghiêm trọng trong nội bộ khối xã hội chủ nghĩa với những biểu hiện tiêu biểu như phân liệt Xô – Trung hay sự kiện “Mùa xuân Praha” năm 1978. Thập kỷ 70 cũng là giai đoạn chứng kiến cái bắt tay giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm chống lại Liên Xô, để từ đó hình thành nên tam giác Mỹ – Xô – Trung.

Trên thực tế, sự không can thiệp của Mỹ đã được Trung Quốc bảo đảm bằng cách thỏa thuận trực tiếp với Mỹ trong Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972: Mỹ có thể ném bom miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc sẽ không can thiệp, đổi lại thì Mỹ có thể làm ngơ trước việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông năm 1974.[4] Nếu không có sự làm ngơ của Mỹ, có thể nói rằng Trung Quốc sẽ khó tiến hành Hải chiến Hoàng Sa bởi trước đó, trong suốt thời kỳ 1959-1973, xung quanh quần đảo này đều có hải quân Mỹ hoạt động thường xuyên. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chủ động xây dựng hình ảnh “sử dụng vũ lực vì mục đích tự vệ” trên thực tế để giảm nguy cơ can thiệp của Mỹ và Liên Xô: Ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc (PLAN) không được nổ súng trước, tiến hành các hoạt động khiêu khích như thả neo tại đảo Hữu Nhật, nhanh chân chiếm giữ và cắm cờ của mình tại các đảo như Duy Mộng, Quang Hòa rồi khi quân của VNCH đến thì nổ súng cảnh báo không cho đối phương tiếp cận đảo… Từ đó buộc VNCH phải nổ súng tấn công phía Trung Quốc trước để giành lại đảo.

2. Trung Quốc có thời cơ để tiến đánh trước khi thời tiết chuyển biến xấu: Trung Quốc đã xem xét kỹ tình hình thời tiết nhằm đảm bảo thành công cho hải chiến với VNCH bởi đây là trận đánh xa bờ đầu tiên của PLAN với một đối thủ bên ngoài. Trung Quốc đã chủ động có những dấu hiệu khiêu khích VNCH trước để tranh thủ hành sự trước khi bão Đông Bắc sóng cồn (tốc độ gió giật 40 hải lý/giờ) nổi lên, nếu muộn hơn thì việc xuất quân sẽ không thuận lợi.

3. VNCH đang rơi vào tình thế cô độc, bất lợi: Trước khi tiến hành Hải chiến Hoàng Sa 1974, Trung Quốc đã thấy được tình cảnh của VNCH lúc đó: Bị đồng minh Mỹ bỏ rơi, lại cần tập trung lực lượng chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở đất liền với nhiều hạn chế về quân sự. Khi cuộc hải chiến diễn ra, mặc cho Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần thông báo tình hình và kêu gọi yểm trợ của phía Mỹ với Đại sứ quán Mỹ, Mỹ đã không có động thái hỗ trợ nào. Hạm đội 7 của Mỹ, lúc đó đang ở Philippines, đã nhận được nghiêm lệnh là không được có bất kỳ hành động can thiệp nào vào Hải chiến Hoàng Sa. Hải đoàn 77 của hải quân Mỹ ở ngoài khơi Việt Nam, gần với đảo Hải Nam (Trung Quốc) và Hoàng Sa cũng đã làm ngơ, dù hải đoàn này có các tàu sân bay và chiến hạm yểm trợ đủ sức kiểm soát không phận, hải phận và hoạt động của các tàu ngầm trong Vịnh Bắc Bộ.[8] Bản thân VNCH tuy vẫn đang chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây Hoàng Sa nhưng đã phải rút dần các lực lượng đồn trú tại đây để dồn về đất liền chiến đấu với VNDCCH. Trang bị quân sự của VNCH thì còn yếu kém, cũ kỹ, thiếu nhiên liệu, gây cản trở cho việc phối hợp giữa các lực lượng khi chiến đấu trên thực địa.

4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) dành ưu tiên cao hơn cho mục tiêu thống nhất đất nước: Sau khi Hiệp định Paris năm 1973 được ký kết, Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị chia cắt với chính quyền VNDCCH ở miền Bắc và chính quyền VNCH ở miền Nam. Vào thời điểm đó, VNDCCH – được chính đồng minh phe xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc viện trợ trong chiến tranh, đang dồn sức chuẩn bị cho giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước; trong khi đó phía VNCH cũng đang tập trung lực lượng để chống VNCH. Vì thế, đối với VNDCCH, việc thống nhất đất nước trở nên cấp bách hơn việc giành quyền kiểm soát thực tế đối với quần đảo Hoàng Sa.

5. Trung Quốc có lợi thế về khoảng cách địa lý: Do đã chiếm đóng được nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông quần đảo Hoàng Sa nên Trung Quốc có thể dễ dàng lấy An Vĩnh làm điểm tựa để tiến công sang phía Tây Hoàng Sa. Bên cạnh đó, đảo Hải Nam của Trung Quốc cũng gần Hoàng Sa hơn so với Việt Nam, nhờ đó có thể điều quân tiếp viện từ Hải Nam đến chiến trận ở Hoàng Sa một cách nhanh chóng. Ngày 16/01/1974, Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc đã ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam chở lực lượng dân quân biển ra Hoàng Sa để tập trung binh lực. Trong cuộc đấu pháo ở đảo Quang Hòa với VNCH, Trung Quốc cũng đã nắm ưu thế áp đảo nhờ lực lượng tăng viện (yểm trợ không quân) triển khai từ đảo Hải Nam.

6. Bất ổn chính trị nội bộ gây sức ép khiến Trung Quốc phải đẩy áp lực dư luận trong nước ra bên ngoài: Vào thời điểm đó, cuộc khủng hoảng dầu lửa do các nước Trung Đông phát động năm 1973 đã khiến Trung Quốc gặp khó khăn và phải tìm đến dầu khí xa bờ. Bắt đầu từ tháng 12/1973, Trung Quốc đã cho khoan giếng dầu trên đảo Phú Lâm (đảo lớn nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa). Ngoài ra, Cách mạng Văn hóa do Chủ tịch Mao Trạch Đông phát động đã gây ra những hậu quả nặng nề cho nước này, cũng như làm trầm trọng thêm mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ. Hải quân Trung Quốc trong giai đoạn này cũng trong tình trạng suy yếu nặng nề. Thập kỷ 70 cũng là giai đoạn nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình chuẩn bị lên thay Mao Trạch Đông để tiếp quản mọi việc và tập trung xây dựng thế lực của mình trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình cũng phải tiếp quản cả chiến dịch Hoàng Sa đang dang dở của Mao Trạch Đông mà trước đó Trung Quốc đã chiếm được phía Đông Hoàng Sa vào năm 1956. Bối cảnh nội bộ rắc rối như trên đòi hỏi Trung Quốc phải tìm nguồn dầu khí mới và hướng sự chú ý của dư luận trong nước ra bên ngoài thông qua kích động chủ nghĩa dân tộc và lòng yêu nước bằng chiến tranh.

7. Đài Loan gián tiếp giúp đỡ Trung Quốc: Trước khi khởi sự, Trung Quốc đã đạt thỏa thuận ngầm trong đó Đài Loan đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong cuộc chiến, bởi dù đối đầu nhau gay gắt, Trung Quốc và Đài Loan đều đồng thuận rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của người Trung Quốc; đồng thời sự làm ngơ của Mỹ cũng tác động đến thái độ của Đài Loan. Trên thực tế, tàu ngầm của Trung Quốc đã được phép đi qua eo biển Đài Loan (con đường ngắn nhất dẫn đến Hoàng Sa) mặc dù trước đó Đài Loan luôn phản đối và Mỹ cũng dùng Hạm đội 7 để ngăn cản Trung Quốc đi qua đây.

Cuộc tấn công ở Trường Sa (1988)

Cuộc tấn công ở Trường Sa do Trung Quốc phát động nổ ra năm 1988. Ngày 14/03/1988, Trung Quốc đã tấn công vũ trang vào ba bãi đá không có quân đội Việt Nam đồn trú và đang xây dựng công trình là đá Cô Lin, đá Len Đao và đá Gạc Ma, sau đó hạ cờ Việt Nam cắm ở đá Gạc Ma. Trước đó, các tàu vận tải của Việt Nam được lệnh đưa công binh và các chiến sĩ ra quần đảo Trường Sa để xây dựng cụm đảo chìm Gạc Ma. Khi các chiến sĩ đang chuyển vật liệu lên đá Gạc Ma thì Trung Quốc đã điều tàu đến ngăn cản, xả súng vào phía ta. Cuộc chiến kết thúc với kết quả là Trung Quốc chiếm đóng được đá Gạc Ma.

Trong cuộc tấn công ở Trường Sa, có thể rút ra một vài điều đáng chú ý về các tính toán của Trung Quốc trước khi khởi sự như sau:

1. Mỹ và Liên Xô nhiều khả năng không can thiệp: Chiến tranh Lạnh lúc đó đang đi đến hồi kết. Hai siêu cường đều có nhu cầu làm giảm căng thẳng trong quan hệ song phương và tập trung vào giải quyết các vấn đề nội bộ. Về phía Mỹ, sức mạnh của nước này đã suy giảm đi nhiều do sức cạnh tranh ngày càng tăng của đồng minh Nhật Bản và Tây Âu trong lĩnh vực kinh tế, cũng như do Mỹ đã đẩy mạnh chạy đua vũ trang trở lại với Liên Xô vào nửa đầu thập niên 80. Cuộc chạy đua này chỉ có dấu hiệu giảm xuống khi vào năm 1985, Gorbachev, một người có lập trường hòa giải với Mỹ và chủ trương kết thúc Chiến tranh Lạnh, được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Về phía Liên Xô, sau gần 10 năm sa lầy ở Afghanistan sau khi đưa quân vào đây năm 1979, Liên Xô đang phải tiến hành cải tổ cả về kinh tế lẫn chính trị, đối mặt với các khó khăn trong quan hệ với phương Tây, và đang muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Nhà lãnh đạo Liên Xô lúc đó, ông Gorbachev, đang dành ưu tiên rất lớn cho công cuộc cải tổ đất nước nên không muốn quan hệ với Mỹ và Trung Quốc trở nên căng thẳng. Trong chính sách đối ngoại nói chung, Gorbachev cắt giảm triển khai quân đội ở bên ngoài lãnh thổ, đánh dấu sự suy giảm nghiêm trọng trong sự ủng hộ của Liên Xô đối với Việt Nam. Vào năm 1988, cả Việt Nam lẫn Liên Xô đều đang trong quá trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc do Việt Nam đang cần phá thế bị bao vây, cô lập, còn Liên Xô cũng cần có môi trường hòa bình, ổn định xung quanh để tập trung vào cải tổ kinh tế và chính trị nội bộ (Liên Xô có tới khoảng 7,000 km biên giới chung với Trung Quốc). Trên thực tế, hải quân Liên Xô ở Cam Ranh vào thời điểm diễn ra cuộc tấn công ở Trường Sa đã không có động thái can dự nào.

2. Dư luận quốc tế đang chú ý vào vấn đề Campuchia: Phía Việt Nam đã bắt đầu rút quân khỏi Campuchia từ năm 1986, quan hệ Việt Nam – ASEAN nhờ đó bắt đầu được cải thiện dần. Điều dư luận quốc tế rất quan tâm lúc đó là các biện pháp giải quyết vấn đề. Tiến đánh Trường Sa năm 1988 là thời điểm thích hợp cho Trung Quốc vì Việt Nam chưa hoàn thành việc rút quân (trên thực tế đã rút hết hoàn toàn vào năm 1989) và vẫn đang trong tình trạng bị bao vây, cô lập. Tranh thủ khi quan hệ Việt Nam – ASEAN chưa giảm căng thẳng hẳn, Trung Quốc có thể hành động ở Trường Sa nhằm phòng ngừa trước sự phản đối của các nước trong khu vực.

3. Việt Nam đang ở tình thế khó khăn cả trong lẫn ngoài: Ở trong nước, Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề về kinh tế – xã hội dù đã cải thiện ít nhiều sau hai năm thực hiện công cuộc Đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI. Ở bên ngoài, cả Mỹ, phương Tây, Trung Quốc và ASEAN cùng bao vây, cô lập Việt Nam về ngoại giao và kinh tế vì vấn đề Campuchia. Ngoài ra, các vấn đề như thuyền nhân, cải cách công thương nghiệp đối với Hoa kiều cuối thập kỷ 70 cũng làm suy giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

4. Bất ổn chính trị nội bộ gây sức ép khiến Trung Quốc phải đẩy áp lực dư luận trong nước ra bên ngoài: Từ năm 1984 đến năm 1991, công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc bước vào giai đoạn quyết định với các cuộc đấu đá nội bộ diễn ra quyết liệt giữa hai phe bảo thủ và cải cách trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để cải thiện uy tín và tính chính danh cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong lòng người dân, Trung Quốc cần thành công trong một cuộc chiến về lãnh thổ chủ quyền, và lựa chọn lúc đó là cuộc tấn công ở Trường Sa.

Sự kiện đá Vành Khăn (1995)

Trước khi xảy ra sự kiện, Philippines là quốc gia kiểm soát thực tế đá này. Giữa năm 1994, Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống ra-đa cảnh báo sớm ở bãi Chữ Thập và một số công trình ở trên dải đá ngầm Vành Khăn. Xung đột giữa Philippines và Trung Quốc xảy ra khi vào tháng 02/1995, Philippines phát hiện Trung Quốc đang cho xây dựng một hệ thống trú phòng trên một hệ thống cột trụ vững chắc và bố trí 8 tàu hải quân xung quanh đá Vành Khăn,[20] nên đã ra lệnh cho các lực lượng vũ trang giám sát đá này. Những căng thẳng ngoại giao và quân sự sau đó giữa Philippines và Trung Quốc xung quanh đá Vành Khăn đã gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài từ năm 1995 đến 1998. Hiện tại, Trung Quốc đã xây dựng xong một đường băng và cho thử nghiệm máy bay tại đá Vành Khăn.

Có thể rút ra một số điểm cơ bản trong tính toán của Trung Quốc khi khởi sự trong sự kiện đá Vành Khăn như sau:

1. Các nước lớn đều thờ ơ với vấn đề Biển Đông: Sự kiện nổ ra vào thời điểm Mỹ và Nga giảm hiện diện quân sự ở khu vực. Ngày 24/11/1992, theo đề nghị của Thượng Nghị viện Philippines, Mỹ rút khỏi căn cứ quân sự ở Vịnh Subic, một trong những cảng nước sâu tốt nhất ở Viễn Đông. Trước đó, Mỹ cũng đóng cửa căn cứ không quân Clark ở nước này. Về phía Liên Xô, vào tháng 12/1991, Liên Xô tan rã, nước Nga kế thừa vẫn còn yếu kém, quan tâm đến các cải cách nội bộ hơn là duy trì ảnh hưởng của họ ở bên ngoài. Chi tiêu quốc phòng của Nga thời kỳ này không bằng 10% tổng chi tiêu quốc phòng của Mỹ. Ngoài lực lượng vũ khí chiến lược hùng hậu chủ yếu dùng để răn đe và phòng thủ, Nga không có khả năng triển khai các lực lượng quân sự thông thường ở bên ngoài lãnh thổ như Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Vì vậy, Nga đã rút các lực lượng hải quân của mình khỏi Vịnh Cam Ranh của Việt Nam vào năm 2001.

Bên cạnh đó, Nhật Bản và Ấn Độ vẫn còn nhiều mối bận tâm khác sát sườn hơn vấn đề Biển Đông. Nhật Bản có lợi ích chiến lược trong việc duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông với 75% nhu cầu năng lượng của Nhật Bản nhập khẩu từ Trung Đông phải đi qua Biển Đông. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Nhật ở Đông Nam Á chủ yếu vẫn duy trì trong lĩnh vực kinh tế. Theo Hiến pháp, Lực lượng Phòng vệ của Nhật Bản cũng không có quyền tiến hành chiến tranh và triển khai các hoạt động quân sự biên ngoài lãnh thổ. Nhật Bản lại lệ thuộc vào Mỹ để đảm bảo an ninh cho mình và còn cần chú trọng tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư thuộc biển Hoa Đông với Trung Quốc hơn vấn đề Biển Đông. Ấn Độ thì chủ yếu vẫn quan tâm đến Nam Á; và việc Trung Quốc có thể chuyển giao công nghệ tên lửa cho Pakistan (Ấn Độ và Pakistan có tranh chấp biên giới lãnh thổ xung quanh vùng Kashmir).

2. ASEAN phản ứng còn dè chừng trong vấn đề Biển Đông: ASEAN thời điểm đó không có cách tiếp cận thống nhất về mối đe dọa Trung Quốc, chưa tập hợp được đầy đủ 10 nước Đông Nam Á và có vai trò, vị thế như hiện nay. Lần đầu tiên ASEAN chính thức đưa ra phản ứng chung của cả khối về vấn đề Biển Đông là vào tháng 07/1992 tại Manila, Philippines khi Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN ra tuyên bố chung kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực. Tuyên bố này được đưa ra như là phản ứng của ASEAN trước sự hung hăng và xu hướng đối đầu ngày càng gia tăng trong hành xử của Trung Quốc tại Biển Đông thời điểm đó. Tuy nhiên, ASEAN lúc này mới chỉ có 6 thành viên (gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Brunei), trong đó Việt Nam – một bên yêu sách quan trọng trong vấn đề Biển Đông – chưa gia nhập khối. Khi sự kiện đá Vành Khăn diễn ra, Philippines đã phải nỗ lực đấu tranh để ASEAN có thể ra các tuyên bố mạnh mẽ về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tháng 03/1995 và sau đó là ra “Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN về các diễn biến gần đây ở Biển Đông” (18/03/1995), bày tỏ quan ngại và kêu gọi các bên kiềm chế, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình. Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tháng 07/1995 cũng nhắc lại tuyên bố này. Mặc dù vậy, ASEAN đã không đề cập đích danh Trung Quốc trong Thông cáo chung.

3. Trung Quốc lợi dụng yếu tố thời tiết: Nhân lúc có bão trên biển, khi hải quân Philippines buộc phải rời đá Vành Khăn tránh bão vào năm 1994, Trung Quốc đã tiếp cận và chiếm đóng đá này. Sau khi trở lại, hải quân Philippines đã bất ngờ trước sự hiện diện của Trung Quốc tại đây và bị đặt vào tình thế “sự đã rồi” hết sức bị động.

4. Philippines lơ là cảnh giác với Trung Quốc: Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn trong bối cảnh Philippines có quan điểm khá tích cực về nước này. Tuy hai bên có tranh chấp ở bãi cạn Scarborough nhưng Trung Quốc không có lịch sử đối đầu quân sự với Philippines. Trong suốt những năm 70, Philippines theo đuổi chính sách hòa hoãn và ưu tiên phát triển quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Vì vậy, quan hệ Trung Quốc – Philippines phát triển tương đối độc lập với quan hệ Mỹ – Philippines trong thập kỷ 1970 và 1980. Trước năm 1995, tranh chấp biển đảo không phải là vấn đề chính trong quan hệ Trung Quốc – Philippines. Dù phần nào e ngại về các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Philippines cũng không nhận định Trung Quốc là mối đe dọa trước mắt (imminent threat). Hầu hết các chính trị gia, quan chức chính phủ và học giả Philippines đều có nhìn nhận tích cực về Trung Quốc trên cơ sở lịch sử bang giao hữu hảo và quan hệ kinh tế ngày càng phát triển giữa hai nước. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng đưa ra các đảm bảo chính trị giải quyết tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa hai nước bằng các biện pháp hòa bình, “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Bởi vậy, Philippines đã thực sự bất ngờ trước việc Trung Quốc hành động chiếm đá Vành Khăn.

5. Philippines đang ở tình thế bất lợi: Philippines là bên bị động và yếu thế hơn Trung Quốc (cả về kinh tế và quân sự). Quân đội Philippines lúc đó vẫn còn yếu kém và không có sự trợ giúp đáng kể của các cường quốc khác. Philippines hoàn toàn lệ thuộc vào ô bảo hộ an ninh của Mỹ (theo Hiệp ước Phòng thủ Tương hỗ Mỹ – Philippines năm 1951), nên nước này không tập trung đầu tư phát triển quốc phòng trong nước để đối phó với các mối đe dọa bên ngoài. Thay vào đó, quân đội của Philippines được sử dụng để đối phó với các lực lượng nổi dậy và các phong trào ly khai trong nước. Do đó, hải quân và không quân hầu như không có điều kiện để phát triển. Bên cạnh đó, sau lệnh thiết quân luật của Tổng thống Marcos, vai trò của quân đội Philippines bị chính trị hóa: Quân đội trở thành lực lượng bảo vệ chế độ, nghe mệnh lệnh của Chính phủ. Vì vậy, sau khi các lực lượng của Mỹ rút khỏi Philippines đầu những năm 1990, chính quyền Philippines đứng trước nhiệm vụ cấp bách là hiện đại hóa và tăng cường các lực lượng vũ trang nhưng gặp khó khăn do: (i) Khả năng kinh tế yếu kém; (ii) Quân đội Philippines mất uy tín trong nhân dân; (iii) Quốc hội và nhân dân Philippines không nhận thức rõ các mối đe dọa từ bên ngoài sau khi Mỹ rút quân đội khỏi nước này.

6. Nhà lãnh đạo hạt nhân của Trung Quốc tìm cách củng cố quyền lực qua vấn đề chủ quyền lãnh thổ: Để củng cố quyền lực của mình, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Giang Trạch Dân nỗ lực giành sự ủng hộ của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) và các phe phái bảo thủ trong chính quyền bằng cách theo đuổi chính sách cứng rắn hơn đối với các vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ như vấn đề Biển Đông, Đài Loan (bởi như vậy sẽ kích động tinh thần dân tộc và yêu nước trong nhân dân). Chính sách này của Giang Trạch Dân thể hiện rõ nét không chỉ qua sự kiện đá Vành Khăn (bắt đầu từ năm 1995), mà còn qua Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 3 (1996) (PLA đặc biệt ủng hộ việc phóng tên lửa trong thời gian diễn ra bầu cử lãnh đạo Đài Loan tháng 03/1996).

Sự kiện bãi cạn Scarborough (2012)

Đụng độ Trung Quốc – Philippiness ở bãi cạn Scarborough là cuộc đối đầu trên Biển Đông kéo dài nhất trong hai thập kỷ qua (diễn ra trong gần 3 tháng). Trước khi vụ việc này diễn ra, các vụ đụng độ tương tự tại bãi cạn cũng đã xảy ra vào những năm 90 và đầu thập niên 2000 giữa Trung Quốc và Philippines. Hải quân Philippines từng bắt giữ các ngư dân Trung Quốc đi tàu vào bãi cạn này. Hai nước cũng không duy trì sự hiện diện thường trực của mình tại bãi cạn. Ngày 08/04/2012, Philippines phát hiện một số tàu cá Trung Quốc đánh bắt trái phép cá tại bãi cạn nên chuẩn bị bắt giữ và bị các tàu của Trung Quốc ngăn cản. Tháng 06/2012, Philippines rút các tàu của mình khỏi bãi cạn do ảnh hưởng xấu của cơn bão Gutchol, tuyên bố rằng đây là thỏa thuận cùng rút tàu của cả Philippines và Trung Quốc, nhưng phía Trung Quốc phủ nhận. Sau đó Trung Quốc đã điều thêm tàu đến bãi cạn và kiểm soát thực tế bãi cạn từ đó đến nay.

Trong vụ đụng độ tại bãi cạn Scarborough, có thể rút ra một số điều về các tính toán chuẩn bị khởi sự của Trung Quốc như sau:

1. Mỹ dưới Chính quyền Obama chần chừ, mập mờ đối với vấn đề Biển Đông của Philippines: Trong khi cam kết tôn trọng Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951 ký với Philippines, Mỹ không nêu rõ bãi cạn Scarborough có nằm trong phạm vi bảo vệ của Mỹ hay không. Thêm vào đó, Mỹ tuy tăng cường hỗ trợ quân sự và ngoại giao cho Philippines do lo ngại hành xử cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông nhưng vẫn duy trì lập trường trung lập đối với các yêu sách về chủ quyền của các bên, trong đó có Philippines.

2. Trung Quốc lợi dụng yếu tố thời tiết: Nhân lúc có bão Gutchol trên biển, Trung Quốc đã cùng với Philippines thỏa thuận rằng hai bên đồng thời rút quân, nhưng trên thực tế đã không rời đi và ngăn các lực lượng của Philippines quay lại. Theo hình ảnh từ máy bay trinh sát của Philippines, tàu cá và tàu chính phủ của Trung Quốc đã hiện diện xung quanh đầm phá của bãi cạn Scarborough (dù Trung Quốc đã tuyên bố rút toàn bộ tàu). Phía Trung Quốc cũng đã xây dựng một rào chắn tại lối vào nhỏ hẹp của bãi cạn, cử các tàu chấp pháp canh gác để ngăn tàu Philippines trở lại đây.

3. Trung Quốc có sức mạnh kinh tế – quân sự hàng đầu châu Á: Trung Quốc khi đó đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới từ năm 2010 và là quốc gia có lực lượng hải quân hùng mạnh nhất châu Á. Kể từ năm 2009, Trung Quốc đã xây dựng một lực lượng hải quân lớn mạnh để hậu thuẫn cho các tuyên bố chủ quyền của mình. So với thời điểm diễn ra sự kiện đá Vành Khăn, có thể nói là sức mạnh kinh tế và hải quân của Trung Quốc đã hoàn toàn khác xa.

4. Về tương quan lực lượng, Philippines yếu thế hơn Trung Quốc: Về quân sự, cũng giống thời kỳ sự kiện đá Vành Khăn, lực lượng hải quân của Philippines thuộc hàng yếu kém nhất trong khu vực; lực lượng không quân không đủ năng lực tuần tra và giám sát vùng lãnh hải rộng lớn của nước này. Về chính trị, chỉ sau vài tháng nhậm chức Tổng thống năm 2010, ông Benigno Aquino III đã thách thức Trung Quốc ở Biển Đông với các động thái như chuyển trọng tâm của Lực lượng Vũ trang Philippines từ tập trung vào an ninh nội địa sang phòng vệ bên ngoài, vận động sự ủng hộ ngoại giao và quân sự từ Mỹ để đối trọng lại Trung Quốc). Chính sách cứng rắn với Trung Quốc của Philippines đã dẫn đến tình trạng xấu đi nghiêm trọng trong quan hệ Trung Quốc – Philippines. Tuy vậy, đối với Trung Quốc, chính sách cứng rắn của Philippines chưa có tính răn đe cao bởi với lực lượng quân sự yếu kém, Philippines cuối cùng sẽ tìm cách tránh đối đầu quân sự trực tiếp với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp.

5. Trung Quốc tìm được kẽ hở để bất nhất trong lời nói và hành động, tìm cớ biện minh cho hành động của mình: Trung Quốc đã tích cực hành động theo hướng tỏ ra là “tự vệ” trong vụ việc này nhằm chứng tỏ với cộng đồng quốc tế rằng Trung Quốc không phải là một nước lớn bắt nạt các nước vừa và nhỏ, từ đó tránh phản ứng gay gắt của dư luận thế giới và không tạo ra phản ứng lớn từ các cường quốc. Trên thực tế, Trung Quốc đã tìm cách khiêu khích Philippines để không là bên tấn công trước, sử dụng lực lượng dân sự trong hành pháp hàng hải, không dùng hải quân. Các tàu của Trung Quốc hầu hết đều không trang bị vũ khí (hàm ý “dùng để khẳng định sự hiện diện, không dùng để chiến đấu).[37] Về việc điều tàu đến bãi cạn Scarborough, Trung Quốc cũng tuyên bố đó là hành động “đưa tàu đến hỗ trợ người dân rút đi trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt”.

T.P

]]>